GIÁO TRÌNH SINH LÝ HỌC TẾ BÀO - SINH LÝ HỌC CÂN BẰNG NƯỚC VÀ CÁC CHẤT ĐIỆN GIẢI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Giáo trình sinh lý học tế bào - SINH LÝ HỌC CÂN BẰNG NƯỚC VÀ CÁC CHẤT ĐIỆN GIẢI":

SINH LÝ NỘI TIẾT SINH LÝ HỌC

SINH LÝ NỘI TIẾT SINH LÝ HỌC

Nguyên nhân gây bệnh là do các tế bào bài tiết GH tăng cường hoạt động hoặc do ucủa tế bào ưa acid. Kết quả là hormon GH được bài tiết quá mức. Tuy nhiên bệnhkhổng lồ chỉ xuất hiện khi tình trạng này xảy ra vào lúc còn trẻ (trước tuổi trưởngthành).Biểu hiện của bệnh là tình trạng phát triển nhanh và quá mức của tất cả các mô trongcơ thể bao gồm cả xương và các phủ tạng làm cho người đó to cao quá mức bìnhthường nên được gọi là người khổng lồ.Những người khổng lồ thường bị tăng đường huyết và khoảng 10% có thể bị bệnh đáitháo đường.Hầu hết các bệnh nhân khổng lồ thường chết khi còn trẻ trong tình trạng suy tuyến yêntoàn bộ vì phần lớn nguyên nhân gây khổng lồ là do u tế bào bài tiết GH, khối u nàycàng phát triển thì càng chèn ép vào các tế bào bài tiết các hormon khác của tuyến yên.Tuy nhiên nếu được chẩn đoán kịp thời, bệnh nhân có thể được ngăn chặn bằng viphẫu thuật bóc tách khối u hoặc tia xạ.2483.4.3 Bệnh to đầu ngónNếu u tế bào ưa acid xảy ra vào sau tuổi trưởng thành nghĩa là xảy ra khi các sụn ở đầuxương đã được cốt hoá thì bệnh nhân sẽ không có biểu hiện khổng lồ nhưng các mômềm vẫn phát triển và các xương đặc biệt xương dẹt và xương nhỏ có thể dày lên.Bệnh nhân bị bệnh này sẽ có hình ảnh đầu to, hàm nhô ra, trán nhô ra, mũi to, môi dày,lưỡi to và dày, bàn tay to, bàn chân to, phủ tạng to, đôi khi có cả sự biến dạng cột sốnglàm lưng gù.3.4.4. Bệnh đái tháo nhạtTổn thương vùng dưới đồi hoặc thuỳ sau tuyến yên sẽ làm giảm lượng bài tiết ADH.Triệu chứng chính của bệnh là đái nhiều nhưng nồng độ các chất điện giải trong nướctiểu lại rất thấp nên bệnh được gọi là bệnh đái tháo nhạt.4. TUYẾN GIÁP
Xem thêm

50 Đọc thêm

SINH LÝ TẾ BÀO SINH LÝ HỌC

SINH LÝ TẾ BÀO SINH LÝ HỌC

hình thức vận chuyển rất quan trọng ở ống lượn gần của thận. Trong trường hợp nàyion Na+ đi từ lòng ống vào tế bào ống, còn ion H + lại đi từ trong tế bào ống vào dịch ởlòng ống, kết qủa là vừa thải được ion H + sinh ra trong qúa trình chuyển hóa, vừa giữđược ion Na+ cần cho cơ thể.Một cơ chế đồng vận chuyển ngược chiều nữa là sự trao đổi giữa một bên màng là ionCa2+ hoặc ion Na+ và bên kia màng là ion Mg2+ hoặc ion K+. Ngoài ra còn có sự traođổi các ion âm giữa một bên màng là ion Cl- và bên kia là ion HCO3- hoặc sulfat.3. VẬN CHUYỂN QUA MỘT LỚP TẾ BÀOỞ nhiều nơi trong cơ thể, vận chuyển chất không chỉ đơn giản là vận chuyển qua mộtmàng tế bào, mà là vận chuyển qua một lớp tế bào. Ví dụ vận chuyển qua một lớp tếbào biểu mô, như sự vận chuyển các chất qua lớp tế bào biểu mô ruột, tế bào biểu môống thận, tế bào biểu mô của tuyến ngoại tiết, tế bào biểu mô túi mật...Cơ chế cơ bản của sự vận chuyển vật chất qua một lớp tế bào bao gồm hai quá trình là:(1) Vận chuyển tích cực chất qua màng tế bào vào trong tế bào. (2) Khuếch tán đơnthuần hoặc khuếch tán được thuận hóa qua màng ở phía bên kia của tế bào để ra dịchkẽ. Phía bên nào của màng tế bào là vận chuyển tích cực và phía bên nào là khuếch tántùy thuộc từng cơ quan.Sau đây là thí dụ minh họa sự vận chuyển Na + và nước qua lớp tế bào biểu mô ở ruộtnon hoặc ở ống thận (hình 3.6). Lớp tế bào biểu mô lòng ống có đặc điểm là khe giữacác tế bào rất sát nhau, đến mức bịt kín ở bờ lòng ống, nhưng ở bờ đáy thì những khenày lại mở rộng ra, tạo thành những kênh dẫn chỉ cho dịch kẽ đi theo một chiều từlòng ống đến màng đáy, rồi vào dịch kẽ ở mô liên kết. Ở phía lòng ống, màng tế bàocó tính thấm cao với ion Na + và nước, do đó hai chất này thấm qua màng một cách dễdàng theo cơ chế khuếch tán đơn thuần để vào trong tế bào. Sau khi đã ở trong tế bào,ion Na+ đi ra dịch kẽ giữa các tế bào qua bờ bên và đi ra dịch ngoại bào qua bờ đáytheo cơ chế vận chuyển tích cực. Do nồng độ ion Na + tăng lên ở dịch kẽ, dịch ngoạibào và cao hơn nồng độ Na+ ở trong tế bào, đã tạo ra lực thẩm thấu hút nước ra khỏi tếbào. Cùng vận chuyển với ion Na+, ion Cl- cũng được vận chuyển thụ động theo Na+ đểtrung hòa điện. Glucose hoặc acid amin cũng được vận chuyển từ lòng ống vào tế bào
Xem thêm

16 Đọc thêm

GIÁO TRÌNH TẾ BÀO HỌC

GIÁO TRÌNH TẾ BÀO HỌC

phân tích ở trên tạo nên sự đa dạng của ADN.Hình thái ADN trong tế bào cũng rất đa dạng. Có loại ADN sợi đơn thẳng, sợi đơndạng vòng, sợi kép thẳng, sợi kép dạng vòng ...Kích thước ADN cũng rất đa dạng, từ vài trăm cặp bazơ đến hàng triệu cặp bazơ.* Cấu trúc không gian ADN dạng B (theo Watson - Crick). Kết hợp nhiều côngtrình nghiên cứu về ADN trước đó, đặc biệt là nghiên cứu của Sachgaff cùng nhữngnghiên cứu của mình, năm 1953, Watson và Crick đã công bố mô hình cấu trúc khônggian của ADN.Mặc dù đến nay người ta đă phát hiện thêm nhiều dạng cấu trúc khác của ADN,cũng như xác định được cấu trúc thực của ADN có khác so với mô hình lý thuyết củaWatson - Crick, nhưng sự ra đời mô hình của Watson - Crick đã trở thành bước ngoặttrong sinh học, báo hiệu sự ra đời của sinh học phân tử.Cấu trúc không gian của ADN, theo Watson - Crick, có những đặc điểm cơ bảnsau:- Hai chuỗi polynucleotide đối song, xoắn theo chiều phải.- Khung dizoxiriboza và H3PO4 nằm ngoài bề mặt phân tử.- Các bazơ nitơ hướng vào phía trong chuỗi xoắn. Mặt phẳng các bazơnitơ song song với nhau và thẳng góc với trục phân tử. Hai bazơ nitơ của hai chuỗi liênkết với nhau bằng liên kết hydro theo nguyên tắc bổ sung (A = T, G ≡ C). Hai cặp bazơnitơ gần nhau xếp lệch góc 36oC.Đường kính chuỗi xoắn 2 nm. Mặt phẳng hai cặp bazơ nitơ liền nhau cách nhau0,34 nm. Mỗi vòng xoắn có 10 cặp bazơ nitơ với chiều dài 3,4nm. Kích thước trên là theotính toán của Watson - Crick, là kích thước gốc. Gần đây, qua xác định bằng thựcnghiệm, người ta thấy ADN dạng B (dạng của Watson - Crick) có trung bình 10,5 cặpbazơ nitơ trên một vòng xoắn và chiều dài vòng xoắn là 3,6nm (thay vì 10 cặp và 3,4nmở mô hình Watson - Crick).Các dạng cấu trúc của ADNĐặc tính
Xem thêm

166 Đọc thêm

KHÁI QUÁT CÔNG NGHỆ ĐÚC

KHÁI QUÁT CÔNG NGHỆ ĐÚC

Nội dung tài liệu:
Đúc( Casting Molding )
I. Đúc áp lực ( casting )
1. Khái quát về phương pháp đúc
2. Định nghĩa và lịch sử của phương pháp đúc.
2.1 Khái quát về công đoạn sử dụng phương pháp đúc, máy đúc
2.2 Đặc trưng của vật đúc
3. Hợ p kim Nhôm sử dụ ng trong phương pháp đúc
3.1 Phân loại và thành phầ n hóa học của Hợp kim nhôm sử dụng trong phương pháp đúc
3.2 Các tính chất và các đặc trưng của hợp kim sử dụng trong phương pháp đúc
II. Đúc ( molding )
1. Khái lượ c về gia công đúc
1.1 Nguyên lý gia công đúc
1.2 Các phưng pháp đúc
2. Khuôn đúc
2.1 Thiết kế sản phẩm và khuôn đúc
3. Chất lư ợng của vật đúc
3.1 Độ chính xác kích thước của sản phẩm đúc
3.2 Tính chất cơ học của sản phẩm đúc
3.3 Xử lý gia nhiệt và hút ẩm cho sản phẩm đúc
3.4 Phế phẩm đúc
Xem thêm

36 Đọc thêm

SKKN: RÈN LUYỆN TƯ DUY GIẢI TOÁN HÌNH HỌC KHÔNG GIAN CHO HỌC SINH THÔNG QUA MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÌNH HỌC PHẲNG VÀ HÌNH HỌC KHÔNG GIAN

SKKN: RÈN LUYỆN TƯ DUY GIẢI TOÁN HÌNH HỌC KHÔNG GIAN CHO HỌC SINH THÔNG QUA MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÌNH HỌC PHẲNG VÀ HÌNH HỌC KHÔNG GIAN

những phần đơn giản hơn mà có thể giải nó trong các bài toán phẳng.Đó là một việclàm đúng đắn,nhờ nó làm cho quá trình nhận thức,rèn luyện năng lực lập luận, sựsáng tạo,tính linh hoạt khả năng liên tưởng từ hình học phẳng sang hình học khônggian của học sinh.Trong mối liên hệ giữa hình học phẳng và hình học không gian,với cơ sở làmặt phẳng là một bộ phận của không gian ta chú trọng tách các bộ phận phẳng rakhỏi không gian bằng các hình vẽ (các phần được tách ra thường là thiết diện,giaotuyến….) nhằm giúp học sinh liên tưởng đến các bài toán hình học phẳng để từ đógiải quyết được bài toán ban đầu.Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy học sinh rất e ngại học môn hình họckhông gian vì các em nghĩ rằng nó rất trừu tượng, thiếu tính thực tế khách quan.Chính vì thế mà có rất nhiều học sinh học yếu môn học này, về phần giáo viên củnggặp không ít khó khăn khi truyền đạt nội dung kiến thức. Qua nhiều năm giảng dạymôn học này tôi cũng đúc kết được một số kinh nghiệm nhằm giúp các em tiếp thukiến thức được tốt hơn, từ đó mà chất lượng giảng dạy cũng như học tập của học sinhngày được nâng lên.Để giải bài tập hình học không gian một cách thành thạo thì một trong yếu tốquan trọng là biết kết hợp các kiến thức của hình học không gian và hình học phẳng,phải tìm ra mối liên hệ của chúng sự tương tự giữa HHP và HHKG, giúp học sinh ghinhớ lâu các kiến thức hình học, vận dụng tốt các kiến thức đã học .Vì vậy để giúp học sinh học tốt môn hình học lớp 11 tôi đã chọn đề tài :“ Rèn luyện tư duy giải toán Hình học không gian cho học sinh thông qua mốiliên hệ giữa hình học phẳng và hình học không gian"2.Mục đích nghiên cứu:Tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với học sinh , tạo hứng thú học tập chohọc sinh,từ đó củng cố các kiến thức đã học ở THCS. Nhằm giúp học sinh thấy đượcmối liên quan của HHP và HHKG . Từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinhGV: Đào Chí Thanh – THPT chuyên Vĩnh Phúc
Xem thêm

10 Đọc thêm

SINH LÝ NƠRON SINH LÝ HỌC

SINH LÝ NƠRON SINH LÝ HỌC

BÀI 15. SINH LÝ NƠRON

Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Trình bày được đặc điểm cấu trúc chức năng của nơron.
2. Trình bày được các biểu hiện điện của nơron.
3. Trình bày được đặc điểm dẫn truyền xung động trên sợi trục và qua synap.

Nơron (tế bào thần kinh) là đơn vị cấu trúc (không liên tục mà tiếp xúc với nơron khác), là đơn vị chức năng (phát, truyền và nhận xung động), đơn vị dinh dưỡng (phần nào bị tách rời khỏi nơron thì thoái hoá) và là đơn vị bệnh lý (cái chết của một nơron không kéo theo cái chết của các nơron khác) của hệ thần kinh. Hệ thống thần kinh của người có hơn 2.1010 nơron. Nơron có hình thái rất đa dạng và khác nhau về kích thước. Nơron có những phần chính là thân, sợi trục và sợi gai (hình 15.1)

Hình 15.1. Sơ đồ cấu trúc nơron

1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – CHỨC NĂNG CỦA NƠRON
1.1. Cấu trúc của nơron.
1.1.1. Thân nơron có hình dáng kích thước rất khác nhau. Ngoài nhân và các bào quan (lưới nội bào có hạt, ty thể, bộ máy Golgi … ), trong thân nơron còn có các xơ thần kinh và các ông siêu vi, các chất vùi (giọt lipid, hạt glycogen, sắc tố). Thân chứa nhiều ARN (tạo thành các thể Nissl), tập hợp các thân nơron tạo nên chất xám của hệ thần kinh. Trên màng của thân có các protein cảm thụ đặc hiệu (receptor) với chất truyền đạt thần kinh tương ứng.
1.1.2. Sợi trục. Mỗi nơron chỉ có một sợi trục xuất phát từ thân nơron dài từ vài micromét đến vài chục centimét. Sợi trục có thể có nhánh ngang đi tới tế bào thần kinh, tế bào cơ hoặc tế bào tuyến. Đầu tận cùng sợi trục chia nhánh nhỏ dần và tận cùng bằng các cúc tận cùng. Trong cúc tận cùng có các bọc nhỏ chứa chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Trong sợi trục không có lưới nội bào có hạt và ribosom nhưng có nhiều xơ thần kinh, ống siêu vi, ty thể, lưới nội bào trơn. Có hai loại sợi trục là sợi không myelin và sợi có myelin. Các tế bào Schwann bao bọc quanh sợi trục, cuộn thành nhiều lớp tạo thành vỏ Schwann. Giữa các lớp cuộn có chứa chất lipoprotein là myelin. Lớp này có tính cách điện. Bao myelin không liên tục, bị đứt quãng ở eo Ranvier (cách nhau 1 – 1,5 milimét trên sợi trục). Sợi có myelin có trong chất trắng của các trung tâm thần kinh và ở các dây thần kinh ngoại biên. Có một số sợi không có chất myelin; các sợi này là các sợi không có myelin hay sợi xám.
1.1.3. Sợi gai. Sợi gai (đuôi gai) là các tua bào tương ngắn, phân nhánh ở gần thân và lan ra xung quanh thân nơron. Trừ nơron của hạch gai chỉ có một sợi gai, các nơron có nhiều sợi gai.
1.1.4. Synap. Synap là chỗ tiếp nối giữa sợi trục của một nơron với một tế bào thần kinh khác hoặc với một tế bào đáp ứng khác (cơ, tuyến). Synap gồm màng trước synap (màng của các cúc tận cùng của sợi trục), khe synap rộng khoảng 10 – 40 nanomét và màng sau synap (màng của tế bào thần kinh, tế bào cơ hoặc tế bào tuyến). Tận cùng trước synap có nhiều hình dạng khác nhau nhưng phần lớn giống như những cúc hình tròn hoặc hình trứng nên được gọi là cúc tận cùng. Bên trong các cúc tận cùng có các bọc nhỏ và ty thể. Các bọc nhỏ chứa chất truyền đạt thần kinh là những chất khi được giải phóng vào khe synap sẽ kích thích hoặc ức chế nơron sau synap tùy theo receptor có trên màng sau synap. Các ty thể sản xuất ATP cần cho quá trình tổng hợp chất truyền đạt thần kinh.
1.2. Các chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Hiện nay, người ta xác định được khoảng hơn 40 chất hoá học được coi là chất truyền đạt ở synap. Các chất này được chia thành hai nhóm: Nhóm có phân tử nhỏ và nhóm có phân tử lớn.
1.2.1. Nhóm có phân tử nhỏ là những chất có tác dụng lên receptor tương ứng trong thời gian cực ngắn, gây ra các đáp ứng cấp của hệ thần kinh (dẫn truyền tín hiệu cảm giác và dẫn truyền tín hiệu vận động). Hầu hết các chất này được tổng hợp ở cytosol của cúc tận cùng rồi được hấp thu theo cơ chế tích cực vào các bọc nhỏ. Mỗi loại nơron chỉ tổng hợp và giải phóng một chất dẫn truyền có phân tử nhỏ. Phần lớn các chất này ảnh hưởng lên các kênh ion (làm tăng hoặc giảm hoạt động kênh), chỉ có một vài chất là tác động lên enzym. Các chất điển hình trong nhóm này là acetylcholin, noradrenalin, dopamin, gamma amino butyric acid (GABA), serotonin, glycin.
Acetylcholin được sản xuất ở các nơron trong nhiều vùng của vỏ não, một số nhân nền não, nơron trước hạch của hệ thần kinh tự chủ, nơron sau hạch của hệ phó giao cảm … Acetylcholin có tác dụng kích thích nơron sau, trừ ở tận cùng phó giao cảm là có tác dụng ức chế.
Noradrenalin được tổng hợp ở các nơron trong não và vùng dưới đồi. Noradrenalin của sợi sau hạch giao cảm hoạt hóa các receptor ở một số nơi và ức chế receptor ở một số nơi khác.
Dopamin được các nơron của chất đen và các nhân nền giải phóng, có tác dụng gây ức chế (ưu phân cực màng sau synap) nếu gắn với receptor D2.
GABA được bài tiết ở các cúc tận cùng trong tủy sống, tiểu não, nhân nền và ở nhiều vùng của vỏ não, có tác dụng ức chế.
Serotonin do các nhân ở não giữa và một số vùng khác của não, sừng sau tủy sống và vùng dưới đồi sản xuất. Serotonin có tác dụng ức chế đường dẫn truyền cảm giác đau ở tủy sống, có vai trò trong hoạt động cảm xúc và giấc ngủ.
Glycin có tác dụng làm mở kênh clo nên gây ức chế.
Sau khi hòa màng với màng trước synap và giải phóng chất truyền đạt, các bọc nhỏ trở thành một phần của màng trước synap. Sau vài giây đến vài phút, phần màng này lại lõm vào trong rồi khép kín lại để trở thành bọc mới. Bọc mới vẫn có các protein vận chuyển cần thiết để đưa các phân tử mới được tổng hợp vào bên trong bọc.
1.2.2. Nhóm có phân tử lớn gồm các chất có bản chất là peptid nên còn được gọi là các peptid thần kinh. Các chất này có tác dụng chậm. Các peptid thần kinh là một phần của những phân tử protein lớn do ribosom trong thân nơron tổng hợp. Các phân tử protein này được vận chuyển ngay vào mạng lưới nội bào. Mạng lưới nội bào và bộ máy Golgi phân cắt chúng thành những mảnh nhỏ hơn, tạo thành các peptid não hoặc thành các tiền chất của chúng. Sau đấy, bộ máy Golgi đưa các chất này vào các bọc chứa và các bọc này lại được đưa ra bào tương rồi được vận chuyển tới đầu sợi trục với tốc độ vài centimét ngày. Mỗi loại nơron có thể tổng hợp và giải phóng một hay nhiều peptid não khác nhau. Tại các cúc tận cùng, các peptid não được giải phóng giống như hiện tượng xảy ra với các chất truyền đạt có phân tử nhỏ nhưng các bọc không được tái sử dụng. Lượng peptid não được giải phóng ít hơn nhưng tác dụng của chúng lại mạnh hơn hàng nghìn lần so với chất truyền đạt có phân tử nhỏ. Tốc độ tạo thành các peptid não cũng chậm hơn rất nhiều so với các chất truyền đạt có phân tử nhỏ. Các peptid não thường gây các tác dụng kéo dài như đóng kênh calci, làm thay đổi bộ máy chuyển hoá của tế bào, hoạt hoá hoặc bất hoạt gen và tác dụng lâu dài lên receptor (có thể vài ngày đến vài năm). Chức năng của các peptid còn chưa được biết hết. Một số chất điển hình của nhóm này là endorphin, vasopressin, encephalin, chất P, neurotensin, gastrin ...
1.2.3. Chuyển hoá chất truyền đạt thần kinh. Sau khi đã phát huy tác dụng, các chất truyền đạt trung gian bị khử hoạt nhanh chóng nhờ vậy nơron sau không bị kích thích kéo dài.
Các chất có phân tử nhỏ bị khử hoạt trong vòng vài phần nghìn giây, tùy theo từng chất có thể theo ba con đường:
Khuếch tán khỏi khe synap vào các dịch xung quanh.
Được tái hấp thu tích cực vào cúc tận cùng và được sử dụng lại, thường xảy ra với noradrenalin ở các cúc tận cùng của hệ giao cảm.
Bị enzym đặc hiệu phân giải ngay tại khe synap. Ví dụ, acetylcholin bị acetylcholinesterase (gắn với collagen và glycosaminoglycan lấp đầy khe synap) phân giải thành ion acetat và cholin; một phân tử cholinesterase có thể thủy phân 10 phân tử acetylcholin trong 11000 giây. Noradrenalin bị enzym monoamin oxidase ở các tận cùng thần kinh và catecholOmethyltransferase có ở mọi mô phân giải.
Các chất có phân tử lớn chủ yếu khuếch tán ra các mô xung quanh rồi bị phá hủy trong vài phút cho đến vài giờ nhờ các enzym đặc hiệu hoặc không đặc hiệu.
2. HƯNG PHẤN Ở NƠRON.
2.1. Đặc điểm hưng phấn của nơron. Giống như mọi tế bào sống khác, nơron có tính hưng phấn mà một trong các biểu hiện là sự xuất hiện điện thế hoạt động do sự khử cực màng tế bào. Sự phân cực của màng trong trạng thái nghỉ (điện thế nghỉ) và sự khử cực màng trong trạng thái hưng phấn (điện thế hoạt động) là hậu quả của sự thay đổi tính thấm đối với các ion natri và kali (xem Bài 4. Điện thế màng, điện thế hoạt động). Khi hưng phấn, chuyển hóa của nơron tăng: Nhu cầu oxy tăng, sản xuất nhiều NH3, tăng tạo acetylcholin và glutamin …
So với các tế bào khác, nơron có tính hưng phấn cao hơn rất nhiều tức là ngưỡng kích thích của nơron rất thấp. Các kích thích có thể là từ môi trường bên ngoài (ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, áp suất …), từ bên trong cơ thể (thay đổi áp suất khí trong máu, áp suất lên thành mạch …); thậm chí có những nơron đều đặn tự phát xung động một cách nhịp nhàng (ví dụ, nơron ở trung tâm hô hấp). Nơron có hoạt tính chức năng cao tức là có khả năng đáp ứng với các kích thích nhịp nhàng có tần số cao.
Với một kích thích có cường độ bằng hoặc cao hơn ngưỡng thì điện thế được dẫn truyền đến các vùng khác ngoài điểm kích thích và tại chỗ xuất phát của sợi trục xuất hiện điện thế hoạt động. Điện thế hoạt động được dẫn truyền dọc theo sợi trục tới các nhánh tận cùng rồi tới các cúc tận cùng và gây giải phóng chất truyền đạt thần kinh.
2.2. Sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục nơron
Một khi đã được tạo ra tại một điểm bất kỳ trên màng nơron, điện thế hoạt động sẽ kích thích các điểm lân cận và làm cho nó được lan truyền ra toàn bộ màng. Đây là quy luật “tất cả hoặc không” được áp dụng cho mọi mô có tính hưng phấn. Sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục có những đặc điểm sau:
Xung động chỉ được dẫn truyền trên nơron nguyên vẹn về mặt chức năng.
Trên sợi trục, xung động được dẫn truyền theo cả hai hướng. Hướng đi tới các nhánh tận cùng của sợi trục là hướng thuận, hướng đi tới các đuôi gai của chính nơron ấy là chiều nghịch.
Cường độ kích thích càng lớn thì tần số xung động xuất hiện trên sợi trục càng cao chứ không phải là biên độ xung động tăng. Do đó, mặc dù nơron hưng phấn theo định luật “tất cả hoặc không” nhưng hệ thần kinh vẫn nhận biết được kích thích là mạnh hay yếu.
Trong một bó sợi trục, xung động chỉ được dẫn truyền theo chiều dọc của sợi có xung động, không lan tỏa ra các sợi lân cận. Do đó, thông tin thần kinh được truyền chính xác tới nơi cần phải đến.
Tốc độ dẫn truyền tỷ lệ thuận với đường kính sợi trục (xem bảng 15.1).
Ở sợi không myelin, xung động được dẫn truyền từ điểm hưng phấn sang hai điểm liền kề ở hai bên và cứ thế dọc theo chiều dài của sợi trục (hình 15.2). Tính thấm với ion natri tại điểm bị kích thích tăng lên đột ngột. Tại điểm bị kích thích (có khử cực), dòng điện từ màng hướng vào trong còn ở nơi không bị khử cực thì dòng điện hướng ra ngoài. Khi đi qua nơi màng chưa bị khử cực, dòng điện làm tính thấm với natri tại chỗ ấy tăng, ion natri ồ ạt đi vào và làm khử cực tại nơi ấy. Các dòng điện tại các điểm mới bị khử cực lại gây ra các dòng điện tại chỗ lan sang các điểm lân cận. Như vậy xung động điện được truyền theo cả hai hướng. Tốc độ dẫn truyền trên sợi không myelin tỷ lệ với căn bậc hai của đường kính sợi (khoảng 0,5 métgiây ở những sợi có đường kính rất nhỏ), chậm hơn tốc độ dẫn truyền trên sợi có myelin.

Ở sợi có myelin (hình 15.3). Màng tế bào Schwann chứa chất sphingomyelin bao quanh sợi trục làm nhiều lớp. Sphingomyelin có tính cách điện tốt, ngăn cản sự khuếch tán của các ion. Các tế bào Schwann dài chừng 1 milimét và không liên tục, giữa các tế bào Schwann có khoảng trống không có chất myelin được gọi là eo Ranvier. Tại eo Ranvier, tính thấm của màng với ion cao hơn màng của một số sợi không myelin tới 500 lần. Điện thế hoạt động được truyền nhảy cách từ eo Ranvier này sang eo Ranvier kế tiếp dọc theo chiều dài sợi trục.
Dẫn truyền theo lối nhảy cách có hai ưu điểm. Thứ nhất là có tốc độ dẫn truyền nhanh hơn rất nhiều so với sợi không myelin cùng kích thước. Tốc độ dẫn truyền trên sợi có myelin tỷ lệ thuận với đường kính của sợi, có thể đạt tới 130 métgiây ở các sợi có đường kính lớn. Thứ hai là tiết kiệm được nhiều năng lượng cho nơron vì sự khử cực đòi hỏi năng lượng chỉ xảy ra ở các eo Ranvier, lượng ion qua lại màng ít hơn so với lối dẫn truyền liên tiếp đến hàng trăm lần nên ít tốn năng lượng để tái vận chuyển ion qua màng. Dựa vào sự có bao myelin hay không và tốc độ dẫn truyền trên sợi trục, người ta phân chia các sợi theo bảng dưới đây (bảng15.1).

Bảng 15.1. Phân loại sợi theo tốc độ dẫn truyền
Loại sợi Chức năng Đường kính (m) Tốc độ truyền (métgiây)
A Sợi cảm giác ở suốt cơ, thị giác, sợi vận động cơ vân. 15
(9 – 20) 70 – 120

A Sợi truyền xúc giác (da) 8 30 – 70
A Sợi vận động ở suốt cơ 5 15 45
A Dẫn truyền cảm giác nhiệt và đau “nhanh” (da) 3 5 30
B Sợi trước gạch giao cảm 3 3 15
C Dẫn truyền cảm giác đau “chậm”, sợi sau hạch giao cảm (không có myelin) 1
(0,5 – 2) 0,5 2
3. DẪN TRUYỀN QUA SYNAP (hình 15.4)
3.1. Sự dẫn truyền ở tuyệt đại đa số synap trong hệ thần kinh trung ương là thông qua các chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Các chất truyền đạt được tổng hợp ở các tận cùng thần kinh, được chứa trong các bọc nhỏ ở cúc tận cùng và được giải phóng vào khe synap bởi cơ chế xuất bào (exocytosis) khi điện thế hoạt động lan tới cúc tận cùng.
Chất truyền đạt khuếch tán trong khe synap và tới gắn vào các receptor (thụ thể) đặc hiệu ở màng sau synap. Màng sau synap có các receptor kích thích và receptor ức chế.

Hình 15.4. Sơ đồ cơ chế dẫn truyền qua synap

3.2. Sự giải phóng chất truyền đạt ở cúc tận cùng. Màng cúc tận cùng có nhiều kênh calci đóng mở theo điện thế. Điện thế hoạt động tới cúc tận cùng làm mở các kênh calci ở màng cúc tận cùng, ion calci đi vào trong tế bào. Nồng độ ion calci trong tế bào cao làm các bọc nhỏ gắn vào các vị trí gắn và hòa màng với màng trước synap, chất truyền đạt chứa trong bọc được giải phóng vào khe synap. Chất truyền đạt khuếch tán trong khe synap và tới gắn vào các receptor tương ứng gây hiệu ứng ở đây. Lượng ion calci vào tế bào càng nhiều thì lượng chất truyền đạt được giải phóng càng lớn.
3.3. Tác dụng của chất truyền đạt lên nơron sau synap
Màng của nơron sau synap có chứa các receptor là các protein cảm thụ. Các protein này có hai phần: Phần gắn với chất truyền đạt là phần thò ra ngoài màng phía khe synap và phần protein vào bên trong nơron. Có hai loại protein xuyên vào bên trong nơron: Một là loại kênh được hoạt hóa hóa học còn loại kia là một enzym làm thay đổi chuyển hóa tế bào.
Các kênh được hoạt hóa khi receptor gắn với chất truyền đạt. Có ba loại kênh là kênh natri cho natri vào tế bào, kênh kali cho kali đi ra ngoài tế bào và kênh clo cho ion clo đi vào tế bào. Kênh natri mở gây khử cực và hưng phấn ở nơron; chất truyền đạt làm mở kênh natri được gọi là chất truyền đạt kích thích. Kênh kali và kênh clo mở làm lượng kali đi ra ngoài tăng và lượng clo vào trong tăng, gây ưu phân cực ở màng (mặt trong âm hơn nữa so với mặt ngoài) nên nơron sau bị ức chế; chất truyền đạt làm mở hai kênh này được gọi là chất truyền đạt ức chế. Các chất gây kích thích (ví dụ, acetylcholin, glutamat, noradrenalin …) là các chất khi gắn vào receptor đặc hiệu ở màng sau synap làm mở kênh natri. Các kênh này mở ra làm các ion natri vào tế bào, gây khử cực ở màng sau synap và tạo ra điện thế hoạt động sau synap. Các chất gây ức chế (ví dụ glycin, GABA …) là các chất khi gắn vào receptor đặc hiệu làm đóng các kênh natri, hoặc làm mở kênh kali hoặc kênh clo nên gây ưu phân cực ở màng sau synap và tạo ra điện thế ức chế sau synap, làm cho nơron sau synap khó khử cực, đòi hỏi kích thích phải có cường độ mạnh hơn mới đủ để gây hưng phấn ở nơron này.
Các receptor là enzym bị hoạt hóa gây ra các hiệu ứng khác nhau lên nơron sau synap. Hiệu ứng thứ nhất là hoạt hóa bộ máy chuyển hóa của nơron, tạo ra nhiều AMP vòng và chất này xúc tác các phản ứng trong nơron. Hiệu ứng thứ hai là hoạt hóa hệ gen làm tăng tổng hợp receptor. Hiệu ứng thứ ba là hoạt hóa các protein kinase trong tế bào làm giảm tổng hợp receptor. Những thay đổi trên có thể làm thay đổi tính đáp ứng của nơron trong nhiều phút, nhiều giờ, thậm chí tới hàng năm. Những chất truyền đạt gây ra các hiệu ứng trên còn được gọi là các chất điều hòa (modulator) synap. Có lẽ các chất này có vai trò đối với trí nhớ.
Các xung động theo chiều nghịch về thân tế bào, tới các đuôi gai thì bị tắt, không kích thích được nơron khác vì ở đuôi gai không có chất trung gian truyền đạt thần kinh.
3.4. Chậm synap và mỏi synap
3.4.1. Chậm synap. Quá trình thông tin được truyền qua synap phải qua nhiều bước: Đưa các bọc nhỏ xuống, màng của bọc hòa màng với màng của cúc tận cùng, chất truyền đạt được giải phóng và khuếch tán trong khe synap, chất truyền đạt gắn với receptor ở màng sau synap, các kênh mở ra để các dòng ion đi qua gây khử cực màng sau synap. Tuy mỗi bước rất ngắn nhưng cả quá trình vẫn đòi hỏi một thời gian nhất định bởi vậy tốc độ dẫn truyền qua synap chậm hơn tốc độ dẫn truyền trên sợi trục. Đây là hiện tượng chậm synap.
3.4.2. Mỏi synap. Nếu có nhiều kích thích liên tục, kéo dài qua synap thì lượng chất truyền đạt được sản xuất ra không kịp bù lại lượng đã tiêu hao; khi đó xung động không được dẫn truyền qua synap nữa hoặc được dẫn truyền kém đi rất nhiều. Đó là hiện tượng mỏi synap. Trong lúc có mỏi synap, nếu kích thích vào nơron trước và nơron sau synap thì vẫn thấy có biểu hiện hưng phấn, chứng tỏ nơron không bị mỏi.
3.5. Một số yếu tố ảnh hưởng lên dẫn truyền ở synap
Ion calci: Ion calci làm các bọc nhỏ dễ di chuyển tới màng cúc tận cùng và dễ vỡ nên làm tăng dẫn truyền qua synap. Ion magiê có tác dụng ngược lại.
pH: Nơron rất nhạy cảm với sự thay đổi pH trong dịch kẽ. Nhiễm kiềm làm tăng tính hưng phấn của nơron. Ví dụ, khi pH máu động mạch tăng lên đến 7,8 – 8,0 thì thường xuất hiện co giật do tăng tính hưng phấn nơron; cơn động kinh dễ xuất hiện khi bệnh nhân động kinh tăng thở và bị nhiễm kiềm hô hấp. Ngược lại, nhiễm toan làm giảm tính hưng phấn của nơron. Người bị toan huyết do đái tháo đường, bị urê huyết cao thường bị hôn mê khi pH giảm xuống dưới 7,0.
Thiếu oxy: Chỉ cần thiếu oxy trong vài giây cũng làm cho nơron bị mất tính hưng phấn. Điều này thường xảy ra khi tuần hoàn não bị gián đoạn tạm thời, bệnh nhân bị mất tri giác sau 3 – 5 giây thiếu máu.
Thuốc: Có một số thuốc như cafein, theophyllin, theobromin làm tăng tính hưng phấn do làm giảm ngưỡng kích thích. Có thuốc làm tăng tính hưng phấn do ức chế chất truyền đạt ức chế như strychnin. Phần lớn các thuốc mê làm tăng ngưỡng kích thích do đó làm giảm sự dẫn truyền qua synap ở nhiều nơi. Các thuốc mê tan trong mỡ có thể làm thay đổi tính thấm của màng khiến màng kém đáp ứng. Một số chất tranh chấp với chất truyền đạt trung gian, chiếm các receptor đặc hiệu ở màng sau synap (ví dụ, chất curare chiếm các receptor của acetylcholin ở synap thần kinh – cơ; atropin chiếm các receptor ở hậu hạch phó giao cảm, hexamethionum chiếm các receptor ở hậu hạch giao cảm) và do đó phong bế synap.
3.6. Dẫn truyền điện qua synap. Ở một vài nơi (ví dụ; ở võng mạc, ở hành khứu), dẫn truyền qua synap được thực hiện nhờ sự dẫn điện thụ động phụ thuộc vào trương lực điện. Giữa các tế bào này có nối kết lỏng lẻo, cho phép dòng điện từ tế bào này được truyền sang tế bào khác. Khoảng cách giữa hai tế bào ở chỗ nối kết chỉ là 2 nanomét. Tại chỗ nối kết có các cầu nối được tạo bởi các protein thuộc màng là connexin. Sáu phân tử connexin tạo thành một kênh nước. Kênh ở một tế bào nối với kênh của tế bào kia tạo thành chỗ nối kết lỏng lẻo, cho phép các phân tử nhỏ và các ion đi từ tế bào này sang tế bào kia, làm cho bào tương của chúng liên tục nhau. Khi điện thế hoạt động trên màng một tế bào lan đến chỗ kết nối, dòng điện đi qua chỗ nối để sang tế bào kia. Tại chỗ này, dòng điện có thể đi theo cả hai chiều bởi vậy tế bào có thể được coi như nơron trước hoặc nơron sau hạch. Kiểu kết nối này ít gặp trong hệ thần kinh trung ương nhưng có vai trò quan trọng đối với sự co cơ tim và cơ tạng. Do điện thế hoạt động được lan truyền nhanh từ tế bào này sang tế bào khác trong một tạng nên kiểu nối kết này làm cho mô hoạt động như một hợp bào .
4. HIỆN TƯỢNG CỘNG KÍCH THÍCH SAU SYNAP
Một tế bào thần kinh đồng thời nhận hàng ngàn thông tin kích thích và ức chế. Các thông tin này được tổng hợp lại nhờ quá trình “cộng kích thích”. Cúc tận cùng rất nhỏ và mỗi lần chỉ có một vài bọc giải phóng hoá chất; lượng chất truyền đạt trung gian này không đủ gây hưng phấn ở màng sau synap. Tuy nhiên, thời gian tác dụng lên màng sau synap tương đối dài nên nếu có thêm chất truyền đạt trung gian được giải phóng vào khe synap vào lúc tác dụng lần trước chưa tắt hẳn thì kích thích sau có thể “cộng” với kích thích trước và đủ để gây tác dụng.
4.1. Cộng kích thích theo không gian. Nếu chỉ có một cúc tận cùng giải phóng chất truyền đạt thì hầu như không bao giờ gây được hưng phấn ở nơron sau vì lượng này chỉ đủ để gây ra một điện thế kích thích không quá 0,5 – 1mV trong khi cần phải 10 – 20 mV mới đạt tới ngưỡng kích thích. Tuy nhiên, thường có nhiều cúc tận cùng bị kích thích đồng thời và thậm chí khi các cúc tận cùng này giải phóng chất truyền đạt trên một vùng rộng của màng sau synap thì tác dụng của các cúc có thể được “cộng” lại, đủ để gây ra hưng phấn ở màng sau synap. Sở dĩ được như vậy là do điện thế được phân bố đồng đều trên màng nơron và tính dẫn điện của nơron rất tốt nên sự thay đổi điện thế ở một điểm trên thân nơron sẽ dẫn đến một sự thay đổi điện thế gần đúng như thế ở bất kỳ điểm nào khác trong tế bào. Do vậy, khi có nhiều kích thích đồng thời xảy ra tại các điểm khác nhau trên một diện lớn của cùng một màng sau synap thì các điện thế riêng lẻ được “cộng” lại và nếu đủ lớn, đạt tới ngưỡng kích thích thì gây ra điện thế hoạt động ở đoạn phát sinh sợi trục. Các đuôi gai cũng có vai trò quan trọng trong hiện tượng cộng kích thích trong không gian vì chúng tỏa rộng nên nhận được nhiều tín hiệu ở xung quanh thân nơron; hơn nữa, phần lớn các tận cùng trước synap tiếp xúc với đuôi gai nên phần lớn kích thích tới nơron là được truyền qua các đuôi gai.
4.2. Cộng kích thích theo thời gian. Chất truyền đạt do một cúc tận cùng giải phóng chỉ có tác dụng lên kênh ion trong khoảng 1 miligiây trong khi điện thế kích thích sau synap lại dài tới 15 miligiây nên trong thời gian đó, nếu có một lần mở thứ hai trên kênh này thì điện thế sau synap sẽ tăng thêm một mức. Vì vậy, tần số kích thích càng cao thì hiệu ứng lên điện thế sau synap càng lớn. Nếu các điện thế kích thích sau synap xuất hiện liên tiếp nhau và đủ nhanh ở cùng một cúc tận cùng thì chúng có thể được “cộng” lại để làm nơron sau synap hưng phấn. Đây là hiện tượng cộng kích thích theo thời gian.
5. HIỆN TƯỢNG ỨC CHẾ TRƯỚC SYNAP
Nơi phát sinh điện thế hoạt động là chỗ xuất phát của sợi trục. Ngưỡng để tạo ra điện thế hoạt động ở nơi này là vào khoảng – 65 mV.
Trong trường hợp có một điện thế kích thích và một điện thế ức chế tác động đồng thời lên cùng một nơron thì hai điện thế này triệt tiêu nhau hoàn toàn hoặc một phần. Nếu một nơron đang bị kích thích lại nhận một tín hiệu ức chế từ một nơron khác tới thì điện thế sau synap của nó có thể bị giảm xuống thấp hơn ngưỡng kích thích và hưng phấn của nó bị dập tắt. Mức độ hưng phấn hay ức chế của nơron là tổng đại số của các điện thế kích thích và điện thế ức chế tới nó trong cùng một thời điểm. Tổng các điện thế kích thích và ức chế lên nơron trong một thời điểm là điện thế tổng. Nếu điện thế tổng ở màng sau synap đủ lớn để làm khử cực chỗ xuất phát của sợi trục thì điện thế hoạt động xuất hiện. Nhiều khi điện thế kích thích lên màng sau vẫn gây được hưng phấn mặc dù chưa đạt đến ngưỡng kích thích bình thường. Trong trường hợp này, điện thế của màng gần ngưỡng kích thích hơn lúc bình thường nên tín hiệu từ một nguồn khác tới dễ gây hưng phấn hơn. Hiện tượng này được gọi là sự thuận hóa hay sự thích nghi của nơron. Các tín hiệu trong hệ thần kinh thường gây thuận hóa ở một nhóm lớn nơron giúp cơ thể đáp ứng nhanh và dễ dàng đối với các tín hiệu từ một nguồn thứ hai đi tới.
Lượng chất truyền đạt trung gian được giải phóng bị giảm nếu có ức chế trước synap. Chất GABA là chất truyền đạt điển hình có tác dụng ức chế này. Nơron chứa GABA tiếp xúc với nơron khác qua synap trục – trục. GABA làm giảm lượng ion calci đi vào cúc tận cùng của nơron trước synap trong lúc đang có dẫn truyền. Trong ức chế trước synap, tính hưng phấn của nơron sau synap không bị giảm. Như vậy, ức chế trước synap chỉ ức chế một kích thích nhất định chứ không ảnh hưởng lên kích thích từ các synap khác tới.
Màng sau synap cũng có thể bị ức chế bởi GABA. Có nhiều loại receptor với GABA ở màng sau synap. Receptor GABAA gắn với GABA làm mở kênh clo nên làm giảm điện thế hoạt động khiến calci vào tế bào ít đi dẫn đến lượng chất truyền đạt được giải phóng ít đi. Receptor GABAB gắn với GABA hoạt hoá protein G; protein này mở kênh kali nên gây ưu phân cực ở màng sau synap hoặc ức chế kênh calci.
Tổng điện thế ức chế sau synap làm tăng phân cực nên làm tăng ngưỡng, cản trở khử cực ở chỗ này. Bởi vậy, trái với ức chế trước synap, ức chế sau synap làm giảm tác dụng của mọi kích thích tới nơron.
Sự dẫn truyền xung động ở synap thần kinh cơ và ở các synap trong hệ thần kinh tự chủ được mô tả kỹ hơn trong các Bài 18 và 20.
6. DẪN TRUYỀN XUNG ĐỘNG TRONG MỘT HỆ THỐNG NƠRON
Hệ thần kinh trung ương được tạo nên từ vô vàn đám nơron riêng biệt, từ một vài cho đến rất nhiều nơron. Mỗi đám hay tập hợp nơron có những đặc điểm tổ chức riêng khiến chúng xử lý thông tin theo cách riêng và làm cho hệ thần kinh thực hiện được các chức năng rất đa dạng của mình. Dưới đây là các nguyên lý hoạt động chung của các tập hợp nơron.
6.1. Truyền tiếp tín hiệu trong một tập hợp thần kinh.
Trong một tập hợp nơron có những “sợi vào” và những “sợi ra”. Mỗi sợi lại có hàng trăm hàng nghìn nhánh; mỗi nhánh lại chia thành hàng nghìn tận cùng tạo synap với các đuôi gai, sợi trục, thân của nơron khác. Các đuôi gai của một nơron cũng chia nhánh tỏa ra một vùng rộng xung quanh thân. Vùng chịu kích thích của một nơron được gọi là trường chịu kích thích của nơron đó. Các nơron càng ở xa thì càng nhận được ít tận cùng đi tới nó. Phải có nhiều cúc tận cùng đồng thời giải phóng hoặc giải phóng nhanh liên tiếp chất truyền đạt mới gây hưng phấn lên nơron sau nên những nơron ở xa cũng nhận kích thích song chưa đủ mức tới ngưỡng để hưng phấn. Tuy chưa hưng phấn nhưng các nơron này có điện thế màng gần ngưỡng kích thích hơn trước và trở nên dễ bị kích thích (hiện tượng thuận hóa của nơron). Từ điều này, chúng ta thấy một sợi vào có vùng bị kích thích (còn gọi là vùng tới ngưỡng) và vùng dễ bị kích thích (vùng được thuận hóa hay vùng dưới ngưỡng). Với sợi của nơron ức chế cũng có trường ức chế, vùng ức chế tương tự như các vùng của nơron kích thích.
6.2. Truyền theo cách phân kỳ. Hiện tượng phân kỳ là hiện tượng tín hiệu thần kinh đi tới gây ra hưng phấn một số lượng nơron lớn hơn rất nhiều so với số sợi đi tới (hình 15.6. A, B)
Phân kỳ khuếch đại. Trên đường dẫn truyền, cứ qua mỗi chặng thì số nơron bị kích thích lại nhiều lên. Ví dụ điển hình là truyền tín hiệu của bó tháp, một tế bào tháp trên vỏ não có thể kích thích tới 10.000 sợi cơ vân.
Phân kỳ thành nhiều đường hơn. Từ tập hợp nơron, tín hiệu được truyền ra theo hai hướng riêng rẽ. Ví dụ, thông tin cảm giác trong tủy sống đi theo hai đường, một đường lên tiểu não, một đường tới phần thấp của não và vỏ não (hình 15.6).
6.3. Truyền theo cách hội tụ. Các tín hiệu thần kinh từ nhiều nguồn chỉ tới kích thích một nơron (hình 15.6. C,D).
Các nhánh tận của một nơron tận cùng trên một nơron khác. Nhờ đó, có nhiều tận cùng kích thích đồng thời lên nơron để gây hưng phấn theo “cộng kích thích trong không gian”.




Các nhánh tận của nhiều nguồn khác nhau tận cùng trên một nơron. Ví dụ, nơron trung gian trong tủy sống nhận tín hiệu từ ngoại vi, từ các sợi liên đốt tủy, từ vỏ não, từ não; những tín hiệu từ các nơron trung gian lại hội tụ lên nơron vận động ở sừng trước tủy để chi phối cơ.
Dẫn truyền theo cách hội tụ cho phép cộng kích thích từ nhiều nguồn khác nhau và đáp ứng cuối cùng là hiệu quả của tổng đại số các kích thích các loại. Đây là một trong những phương thức quan trọng của hệ thần kinh trong xử lý thông tin, tạo thành cái gọi là “con đường chung cuối cùng”.
6.4. Kích thích và ức chế đồng thời. Đôi khi, tín hiệu tới một tập hợp nơron gây tín hiệu kích thích đi ra theo một hướng đồng thời gây ra tín hiệu ức chế đi theo hướng khác. Ví dụ, một nhóm nơron ở tủy truyền xung động kích thích gây ra động tác duỗi cẳng chân đồng thời lại phát xung động ức chế các cơ mặt sau đùi để khỏi cản trở động tác duỗi. Đây là sự phân bố thần kinh đối lập. Một mặt, tín hiệu kích thích nơron vận động, mặt khác lại kích thích nơron trung gian và nơron trung gian này ức chế con đường ra thứ hai của mạng. Mạng vừa gây hưng phấn vừa gây ức chế này có vai trò quan trọng, tránh cho nhiều phần của hệ thần kinh phải hoạt động quá mức.

Câu hỏi tự lượng giá
1. Trình bày đặc điểm tính hưng phấn của nơron.
2. Trình bày đặc điểm dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục.
3. Mô tả sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi có myelin và không có myelin.
4. Mô tả sự dẫn truyền xung động qua synap.
5. So sánh đặc điểm của nhóm chất truyền đạt thần kinh có phân tử nhỏ và phân tử lớn.
6. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự dẫn truyền xung động qua synap.
7. Mô tả hiện tượng cộng kích thích theo không gian và cộng kích thích theo thời gian.
8. Mô tả cơ chế kích thích ở màng sau synap.
9. Mô tả cơ chế gây ức chế ở màng sau synap.
10. Giải thích hiện tượng chậm synap và hiện tượng mỏi synap.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Sinh lý và mô phôi

SINH LÝ VÀ MÔ PHÔI

K40 CTUMP
TỔNG HỢP ĐỀ THI HỌC KỲ I LẦN 1
MÔN SINH LÝ VÀ MÔ PHÔI
Phần 1: SINH LÝ
Câu 1: Tính thể tích dịch ngoại bào? Thành phần dịch ngoại bào, nội bào?
Câu 2: Độ dày màng tế bào?
Câu 3: Hormon gây co mạch mạnh nhất? endothelin mạnh nhất, đến ADH, cuối cùng là angiotensin.
Câu 4: Phản xạ “cái gì thê?” thuộc loại ức chế nào?
Câu 5: Thành phần ít nhất của tế bào? Thành phần nhẹ nhất của TB?
Câu 6: Hormon đối kháng với Glucagon?
Câu 7: Tăng đường huyết là tác dụng chính của hormone nào trong các hormone sau: Insulin, GH, Glucagon, cortisol?
Câu 8: Hormon có tác dụng biệt hóa tế bào?
Câu 9: Phương trình Renin – Angidotensin I – Angidotensin II? Ức chế men chuyển ngăn tạo thành chất nào?
Câu 10: Suy vỏ thượng thận gây giảm tiết cortisol kích thích tăng tiết ACTH gây sạm da.
Câu 11: Ảnh hưởng khi tổn thương bó thon? Gây mất cảm giác chi dưới
Câu 12: Lượng nước mất hằng định mỗi ngày?
Câu 13: Trong cấp cứu trụy tim mạch nên dùng loại thuốc nào? adrenaline và noradrenaline (Trong trường hợp cấp cứu người sử dụng thuốc tan trong nước vì tác dụng nhanh hơn thuốc tan trong dầu)
Xem thêm

6 Đọc thêm

NHẬP MÔN SINH LÝ HỌC

NHẬP MÔN SINH LÝ HỌC

Bài 1. Nhập môn sinh lý học

Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Nêu được các đối tượng và phạm vi nghiên cứu của môn sinh lý học.
2. Trình bày được mối liên quan của môn sinh lý học với các ngành khoa học tự nhiên và các chuyên ngành y học khác.
3. Trình bày được phương pháp nghiên cứu và học tập môn Sinh lý học.

Sinh lý học là một ngành của sinh học. Nhiệm vụ của chuyên ngành này là nghiên cứu hoạt động chức năng của cơ thể sống, tìm cách giải thích vai trò của các yếu tố vật lý, hoá học đối với hoạt động chức năng của cơ thể sống của những sinh vật đơn giản nhất có cấu tạo đơn bào như amíp cho đến những sinh vật phức tạp nhất như con người. Mỗi sinh vật có những đặc trưng khác nhau và hoạt động chức năng riêng của mình. Vì vậy, sinh lý học được chia thành nhiều chuyên ngành khác nhau như sinh lý học virus, sinh lý học vi khuẩn, sinh lý học thực vật, sinh lý học động vật, sinh lý học người.
1. đối tượng nghiên cứu của sinh lý học y học
Sinh lý học người chuyên nghiên cứu về chức năng và hoạt động chức năng của từng tế bào, từng cơ quan và hệ thống cơ quan trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và giữa cơ thể với môi trường; nghiên cứu về sự điều hoà chức năng để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và thích ứng của cơ thể với sự biến đổi của môi trường sống.
Sinh lý học y học lại có thêm màu sắc riêng của nó, đó là nghiên cứu về hoạt động chức năng của các tế bào, các cơ quan, hệ thống cơ quan, sự điều hoà chức năng để đảm bảo cho cơ thể tồn tại, phát triển một cách bình thường và thích ứng được với sự biến đổi của môi trường sống. Kết quả nghiên cứu của các nhà sinh lý học sẽ tạo cơ sở cho các nhà bệnh lý học giải thích được và xử lý được những rối loạn hoạt động chức năng của cơ thể trong tình trạng bệnh lý, từ đó có thể đề xuất những biện pháp nhằm đảm bảo và nâng cao sức khoẻ cho con người.
Như vậy đối tượng nghiên cứu và phục vụ của sinh lý y học là cơ thể con người. Nhiệm vụ của các nhà sinh lý học là phải nghiên cứu phát hiện các chức năng của cơ thể từ mức tế bào đến cơ quan, hệ thống cơ quan và toàn bộ cơ thể, nghiên cứu các cơ chế hoạt động và điều hoà hoạt động của chúng, các cơ chế thích ứng của cơ thể với môi trường và đặc biệt cần phải xác định được các thông số, chỉ số biểu hiện hoạt động chức năng của các cơ quan, hệ thống cơ quan và cơ thể, đo lường được chúng trong trạng thái hoạt động bình thường nhằm giúp các nhà bệnh lý học và các nhà lâm sàng học có tiêu chuẩn để so sánh và đánh giá tình trạng bệnh lý.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, để tiến đến kết luận và áp dụng cho con người, nhiều khi các nhà sinh lý học phải nghiên cứu trên các động vật thực nghiệm. Tuỳ chức năng cần nghiên cứu, các nhà sinh lý học thường chọn lựa các động vật có hoạt động chức năng phù hợp với con người. Ví dụ khi nghiên cứu về chức năng tiêu hoádinh dưỡng người ta hay dùng chuột cống vì chuột cống cũng ăn ngũ cốc như người, hoặc khi nghiên cứu về chu kỳ kinh nguyệt người ta dùng khỉ vì khỉ cũng có kinh nguyệt như phụ nữ.

2. Vị trí của môn sinh lý học trong các ngành khoa học tự nhiên và y học
2.1. Vị trí của môn sinh lý học trong các ngành khoa học tự nhiên
Sinh lý học là một ngành của sinh học, nó có liên quan đến các ngành khoa học khác nhau như hoá học, vật lý học, toán học, môi trường học... Những thành tựu nghiên cứu về sinh lý học thường được bắt nguồn từ những thành tựu của các ngành khoa học khác đặc biệt là hoá học và vật lý học. Ngược lại, những kết quả nghiên cứu hoặc yêu cầu của sinh lý học lại có tác dụng thúc đẩy các ngành khoa học khác phát triển. Trong ngành sinh học, sinh lý học y học cũng có mối quan hệ với các chuyên ngành sinh lý khác như sinh lý virus, sinh lý vi khuẩn, sinh lý những động vật ký sinh, sinh lý động vật... Các chuyên ngành sinh lý học này thường có mối quan hệ qua lại, kết quả nghiên cứu của chuyên ngành này có thể tạo tiền đề nghiên cứu cho chuyên ngành kia hoặc ngược lại.
2.2. Vị trí của môn sinh lý học trong y học
Sinh lý học là một ngành khoa học chức năng vì vậy nó có liên quan chặt chẽ với các ngành khoa học hình thái như giải phẫu học, mô học. Trong quá trình tiến hoá của sinh vật, chức năng quyết định cấu trúc. Tuy nhiên để hiểu được chức năng của từng cơ quan, bộ phận trong cơ thể cần có những hiểu biết về hình thái, cấu tạo và mối liên quan về giải phẫu giữa chúng với nhau.
Sinh lý học là môn học có liên quan chặt chẽ với hoá sinh học và lý sinh học. Những hiểu biết về hoá sinh học và lý sinh học sẽ giúp chuyên ngành sinh lý học tìm hiểu được bản chất của các hoạt động sống, hoạt động chức năng và góp phần giải thích các cơ chế của hoạt động chức năng và điều hoà chức năng.
Sinh lý học là môn học cơ sở rất quan trọng của y học. Những kiến thức về sinh lý học trực tiếp phục vụ cho các môn bệnh học và là cơ sở để giải thích và phát hiện các rối loạn chức năng trong tình trạng bệnh lý.
3. Lịch sử phát triển môn sinh lý học
Lịch sử phát triển sinh lý y học song song với lịch sử phát triển của các ngành khoa học tự nhiên và luôn luôn gắn liền với sự thay đổi về quan niệm triết học. Có thể nói lịch sử phát triển của sinh lý học trải qua 3 thời kỳ khác nhau.
3.1. Thời kỳ cổ xưa
Ngay từ thời kỳ cổ xưa con người đứng trước những hiện tượng tự nhiên hoặc những hiện tượng xảy ra của bản thân luôn đặt câu hỏi tại sao? Để giải thích các hiện tượng này người ta thường dựa vào những luận thuyết huyền bí như mọi hoạt động của con người hay sự sống tồn tại được là nhờ có linh hồn. Khi chết, linh hồn siêu thoát khỏi thể xác, con người chỉ chết về mặt thể xác còn linh hồn sẽ tồn tại mãi. Quan niệm này chính là nguồn gốc của tôn giáo.
Để giải thích các hiện tượng của tự nhiên người ta dựa vào thuyết âm dương ngũ hành hoặc vạn vật trong vũ trụ đều do thượng đế sinh ra.
Vào thế kỷ thứ V trước Công Nguyên, Hippocrate là người đầu tiên đưa thuyết hoạt khí để giải thích một số hiện tượng như không khí từ bên ngoài vào phổi rồi vào máu và lưu thông trong máu. Đến thế kỷ thứ II Galien đã phát triển thuyết này để giải thích một số hiện tượng khác.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Sinh lý học GS. TS. Phạm thị Minh Đức, Trường Đại học Y Hà Nội

SINH LÝ HỌC GS. TS. PHẠM THỊ MINH ĐỨC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Dùng cho đào tạo cử nhân điều dưỡng.
Lời nói đầu
Bài 1. Nhập môn sinh lý học và đại cương về cơ thể sống
Bài 2. Trao đổi chất qua màng tế bào
Bài 3. Sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động
Bài 4. Chuyển hóa chất và chuyển hóa năng lượng
Bài 5. Sinh lý điều nhiệt
Bài 6. Sinh lý học máu
Bài 7. Sinh lý các dịch của cơ thể
Bài 8. Sinh lý tuần hoàn
Bài 9. Sinh lý hô hấp
Bài 10. Sinh lý bộ máy tiêu hóa
Bài 11. Sinh lý bài tiết nước tiểu
Bài 12. Sinh lý nội tiết
Bài 13. Sinh lý thần kinh
Bài 14. Sinh lý sinh dục và sinh sản
Tài liệu tham khảo
Xem thêm

268 Đọc thêm

giáo trình logic hoc đại cương trường khxh nv

GIÁO TRÌNH LOGIC HOC ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG KHXH NV

giáo trình logic học đại cương của trường đại học khoa học xã hội và nhân văn tác giả : nguyễn thúy vân .ts. nguyễn anh tuấnHà nội 2007
Bài 1
Nhập môn lôgíc học
1. Đối tượng của lôgíc học
1.1. Đặc thù của lôgíc học như là khoa học
3
Tên gọi “Lôgíc học” có nguồn gốc từ một từ cổ Hy lạp
là “Logos” vốn có hai nghĩa:
Thứ nhất, là từ, lời nói, câu, quy tắc viết;
Thứ hai, là tư tưởng, ý nghĩ, sự suy tư.
Xuất hiện trong triết học cổ đại như là tổng thể thống nhất các tri thức khoa học
về thế giới, ngay từ thời cổ lôgíc học đã được xem là hình thức đặc thù, hình thức duy
lý của triết học để phân biệt với triết học tự nhiên và đạo đức học (triết học xã hội).
Càng phát triển, lôgíc học càng trở thành bộ môn phức tạp. Vì thế, ở những giai
đoạn lịch sử khác nhau các nhà tư tưởng đã đánh giá khác nhau về nó. Một số người
coi lôgíc học là một phương tiện kỹ thuật công cụ thực tiễn của tư tưởng (“bộ công
cụ”). Những người khác lại coi nó là một “nghệ thuật” đặc biệt nghệ thuật suy nghĩ
và lập luận. Những người khác nữa lại thấy nó như là một kiểu “hệ điều chỉnh” tổng
thể các quy tắc, quy định và chuẩn mực của hoạt động trí óc (“bộ quy tắc”). Thậm chí
đã từng có cả ý đồ hình dung nó như “một thứ y khoa” đặc thù phương tiện làm lành
mạnh lý tính.
Lô gích học là một khoa học đặc thù bởi khách thể của nó là tư duy. Đây là
khoa học về tư duy. Tuy nhiên, tư duy lại là khách thể nghiên cứu không chỉ của riêng
một lôgíc học, mà còn của nhiều khoa học khác như : triết học, tâm lý học, sinh lý học
thần kinh cấp cao, điều khiển học, ngôn ngữ học v .v..
Vậy Lô gích học nghiên cứu tư duy khác các ngành khoa học khác cùng nghiên
cứu tư duy ở chỗ nào?
Triết học với bộ phận quan trọng là nhận thức luận nghiên cứu tư duy trong
tổng thể nhằm giải quyết vấn đề triết học cơ bản là quan hệ của tư duy con người với
thế giới xung quanh, tri thức của con người về nó có đáng tin cậy hay không.
Tâm lý học nghiên cứu tư duy như một trong các quá trình tâm lý chẳng hạn
cảm xúc, ý chí, v. v., vạch ra sự tương tác của tư duy với các quá trình ấy, phân tích
các động cơ thúc đẩy hoạt động tư tưởng của con người, làm rõ những nét đặc thù của
tư duy ở trẻ em, người lớn, những người tâm lý bình thường và của cả những người
có các lệch lạc tâm lý.
Xem thêm

199 Đọc thêm

BÁO CÁO TIỂU LUẬN CẤU TẠO TẾ BÀO VÀ ĐẶC TÍNH SINH LÝ, SINH SẢN CỦA NẤM MEN

BÁO CÁO TIỂU LUẬN CẤU TẠO TẾ BÀO VÀ ĐẶC TÍNH SINH LÝ, SINH SẢN CỦA NẤM MEN

cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men. cấu tạo tế bào và đặc tính sinh lý, sinh sản của nấm men

32 Đọc thêm

MÁU VÀ DỊCH CƠ THỂ. ĐH Y DƯỢC TP

MÁU VÀ DỊCH CƠ THỂ. ĐH Y DƯỢC TP

Acid aminSắtPorphyrinproteinHuyết tươngThải qua mậtBilirubingan+ acid glucuronic12Sinh lý học máuSinh học hồng cầuNguyên liệu sản sinh hồng cầu• Protein• Sắt• Vitamin B12, B9...13Sinh lý học máuSinh học hồng cầuQuá trình biệt hóa các dòng tế bào máu

46 Đọc thêm

ĐỀ THI CHUYÊN SINH NGUYỄN TRÃI HẢI DƯƠNG 2016-2017

ĐỀ THI CHUYÊN SINH NGUYỄN TRÃI HẢI DƯƠNG 2016-2017

HẢI DƯƠNGHƯỚNG DẪN CHẤMKỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10THPT CHUYÊN NGUYỄN TRÃINĂM HỌC 2016 - 2017MÔN: SINH HỌCHướng dẫn chấm gồm 03 trangCâu 1 (1,0 điểm)Nội dungĐiểm1. Xác định tỷ lệ mỗi loại kiểu gen ở thế hệ P- Cho các cây có hạt vàng tự thụ phấn, đời F 1 xuất hiện cả hạt vàng và hạt xanh → Hạt vàng (A)là trội hoàn toàn so với hạt xanh (a) và hạt vàng thế hệ P có 2 kiểu gen là AA và Aa. Ở thế hệ P,gọi tỷ lệ kiểu gen AA là: x → Tỷ lệ kiểu gen Aa là: 1 - x.- Khi cho các cây P tự thụ phấn, đời F 1 thu được 1% hạt xanh có kiểu gen aa → Tỷ lệ kiểu gen aaở đời F1 là:1− x4→1− x4= 0,01 → x = 0,960,5
Xem thêm

4 Đọc thêm

13 DE ON TOAN HK 1 CHO HS GIOI

13 DE ON TOAN HK 1 CHO HS GIOI

Ngày nay, được đến trường đi học là niềm hạnh phúc của nhiều bạn, là ước mơ
lớn lao của những bạn không có đủ điều kiện để cắp sách đến trường. Thế nhưng, bên
cạnh đó, có một số bạn có điều kiện thì lại không lo học hành, ham chơi, học qua loa,
đối phó. Đáng buồn thay, hiện tượng đó đã trở nên phổ biến trong học sinh.
Những học sinh lười học, học qua loa, đối phó ất dễ nhận ra qua những biểu
hiện như ngại học, lúc nào cũng lẩn trốn, tìm mọi lý lẽ để biện minh cho việc lười học
của mình, biếng nhác, ham chơi. Họ quan niệm rằng, học cho ba mẹ vui, đến trường
cho có bạn, nên họ không hề chủ động torng việc học. Học không đến nơi đến chốn,
Xem thêm

17 Đọc thêm

VIOLYMPIC TOAN 5 VONG 1 NAM HOC 20162017

VIOLYMPIC TOAN 5 VONG 1 NAM HOC 20162017

Ngày nay, được đến trường đi học là niềm hạnh phúc của nhiều bạn, là ước mơ
lớn lao của những bạn không có đủ điều kiện để cắp sách đến trường. Thế nhưng, bên
cạnh đó, có một số bạn có điều kiện thì lại không lo học hành, ham chơi, học qua loa,
đối phó. Đáng buồn thay, hiện tượng đó đã trở nên phổ biến trong học sinh.
Những học sinh lười học, học qua loa, đối phó ất dễ nhận ra qua những biểu
hiện như ngại học, lúc nào cũng lẩn trốn, tìm mọi lý lẽ để biện minh cho việc lười học
của mình, biếng nhác, ham chơi. Họ quan niệm rằng, học cho ba mẹ vui, đến trường
cho có bạn, nên họ không hề chủ động torng việc học. Học không đến nơi đến chốn,
Xem thêm

8 Đọc thêm

CHUONG 1 DI TRUYEN HOC

CHUONG 1 DI TRUYEN HOC

phát tán đột biến trong quần thể là rất cao, khi đi vào thể đồng hợp lặn thì nó mới biểu hiện thành kiểu hình.Đột biến gen là nguồn nguyên liệu sơ cấp cho tiến hoá và nguồn nguyên liệu chủ yếu trong chọngiống.7. Sự biểu hiện của đột biến genĐột biến gen truyền lại cho thế hệ sau có 3 dạng:Đột biến giao tử: phát sinh trong quá trình giảm phân tạo giao tử ở tế bào sinh dục, qua thụ tinh sẽ đvào hợp tử. Nếu đột biến gen trội sẽ biểu hiện ngay thành kiểu hình, còn đột biến gen lặn chỉ biểu hiện khi đivào trạng thái đồng hợp.Đột biến tiền phôi: xảy ra ở những lần nguyên phân đầu tiên của hợp tử trong giai đoạn từ 2 – 8 tế bào,di truyền qua thế hệ sau bằng sinh sản hữu tínhĐột biến xôma: xảy ra trong nguyên phân của tế bào sinh dưỡng, sẽ được nhân lên trong 1 môi. Sauđột biến, cơ thể tồn tại 2 dòng tế bào: tế bào đột biến và tế bào bình thường. đột biến xôma chỉ nhân lên quasinh sản sinh dưỡng (giâm, chiết, ghép, nuôi cấy mô…)B. PHẦN BÀI TẬPBài 1. Một gen có chiều dài 0,408µm, có A = T = 480 Nu. Gen bị đột biến mất đi 2 liên kết H.a. xác định số lượng từng loại Nu có ở gen chưa đột biếnb. xác định số lượng Nu từng loại gen sau đột biếnBài 2. Một gen có khối lượng 9.105 đvC. Trên mạch thứ nhất có A, T, G, X lần lượt theo tỉ lệ 1:2:3:4a. xác định số lượng Nu từng loại Nu trên gen?b. gen bị đột biến nhưng không làm thay đổi số lượng Nu nhưng tổng số liên kết H bị giảm đi 2 liênkết. xác định loại đột biến gen và số lượng từng loại Nu sau đột biến?Bài 3.Một gen có 3000 đoen phân, gen bị đột biến mất Nu số 4 trên mạch gốc (với cặp Nu 1,2,3 thuộc bộ bamở đầu)a. xác định số axit amin được tổng hợp từ gen trước và sau đột biến?b. cấu trúc protein bị thay đổi như thế nào?Bài 4. Gen dài 0,408µm, trong đó số Nu loại A chiếm 30% tổng số Nu của gen. gen A đột biến thành gen alàm thay đổi tỉ lệ A/G = 1,498 nhưng không làm thay đổi chiều dài của gen. tính số liên kết H của gen aBài 5. Gen B có 390 Guamin và tổng số liên kết H của gen là 1670, bị đột biến thay thế một cặp Nu nàythành 1 cặp Nu khác thành gen b. gen b nhiều hơn gen B một liên kết H. tính số Nu mỗi loại gen bBài 6. Một gen có 4800 liên kết hidro và có tỉ lệ A/G = 1/2, bị đột biến thành alen mới có 4801 liên kết hidro
Xem thêm

39 Đọc thêm

Atlas điện tâm đồ sách dịch

ATLAS ĐIỆN TÂM ĐỒ SÁCH DỊCH

Tính trực quan trong quá trình học tập và nghiên cứu sinh lý học cũng cần thiết không kém so với trong quá trình giảng dạy giải phẫu học và mô học, nhưng thường các sách giáo khoa không đủ lượng tư liệu minh họa.Atlas sinh lý học được soạn thảo tương ứng với yêu cầu của chương trình học tập môn sinh lý học đại cương và sinh lý học người và động vật.Sách rất đắc dụng cho việc tự học của sinh viên để củng cố các kiến thức đã thu nhận đựợc ở giảng đường.Trong “Atlas” cả các quan điểm khoa học sinh lý học kinh điển lẫn các thành tựu khoa học hiện đại đều được sử dụng đầy đủ. đặc biệt có một chương giải thích những vấn đề mang tính thời sự: Sự thích nghi của con người với các điều kiện của môi trường bên ngoài...
Xem thêm

120 Đọc thêm

sinh tế bào cơ bản

SINH TẾ BÀO CƠ BẢN

Tế bào học là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về tế bào - các đặc tính sinh lý, cấu trúc,các bào quan nằm bên trong chúng, sự tương tác với môi trường, vòng đời, sự phân chia và chết. Điều này được thực hiện trên cả 2 cấp độ hiển vi và phân tử. Tế bào học nghiên cứu đầy đủ về sự đa dạng lớn của các tổ chức đơn bào như vi khuẩn và động vật nguyên sinh cũng như chuyên sâu vào tế bào trên các tổ chức đa bào như con người, thực vật.

Hiểu biết về cấu tạo của tế bào và cách tế bào làm việc là nền tảng cho mọi ngành khoa học liên quan đến tế bào. Đánh giá sự giống và khác nhau giữa các loại tế bào là đặc biết quan trọng đối với lĩnh vực tế bào và sinh học phân tử cũng như tới lĩnh vực y sinh chẳng hạn như nghiên cứu về bệnh ung thư và sự phát triển sinh học. Những sự giống và khác nhau căn bản này cung cấp một bức tranh tổng thể, đôi khi cho phép các lí thuyết nghiên cứu được từ 1 loại tế bào có thể suy rộng ra cho các tế bào khác. Bởi thế, nghiên cứu về tế bào học có liên quan gần gũi tới công nghệ gen, hóa sinh, sinh học phân tử, miễn dịch học và sự phát triển sinh học.
Xem thêm

46 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ XÂY DỰNG CHƯƠNG 7 THS ĐỖ THỊ XUÂN LAN

BÀI GIẢNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ XÂY DỰNG CHƯƠNG 7 THS ĐỖ THỊ XUÂN LAN

Chương 7 Mô hình mạng
lưới đ ờư ng
• Bài toán tìm Bài toán tìm đường đi ngắn nhất
Phương pháp thế vị
• Bài toán đường y dâ loa
• Bài toán tìm luồng cực đại
Bài toán tìm đường
đi ng
ắn
n
h
ất
• Ví d
ụ 7.1.
M
ỗi n
gy gy y à
y côn
g t
y xâ
y d

n
g
Vĩnh Th
ạnh c
ần ph
ải v
ận chuy
ển v
ữa
bê tông t
ừ nhà máy s
ản xu
ất bê tông
tươi C

u Long đế
n các công tr các công trường xây
d
ựng n
ằm r
ải rác trong thành ph
ố. Hãy
tìm đườ
n
g
đi n
g
ắn nh
ất t
ừ nhà má
y s
ản
xu
ất (nút 1) đến công trường xây d
ựng
cao
ốc v
ăn phòng Vĩnh C
ửu (nút 6). S
ơ
đồ
m
ạng lưới đường giao thông nh ng giao thông nh
ư
trong hình 7.1 v
ới chi
ều dài các tuy
ến
đường có đơn vị 100m.
Xem thêm

17 Đọc thêm

BẢI GIẢNG SINH LÝ NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT

BẢI GIẢNG SINH LÝ NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT

Sinh lý học là khoa học về sự vận động của các quá trình sống. Đối tượng nghiên cứu của nó là các chức năng, nghĩa là các quá trình hoạt động sống của cơ thể, của các cơ quan, các mô, các tế bào và các cấu trúc tế bào. Để hiểu biết một cách toàn diện và sâu sắc các chức năng, Sinh lý học hướng đến tìm hiểu các tính chất, các biểu hiện, các liên hệ qua lại và sự biến đổi của chúng trong các điều kiên khác nhau của môi trường ngoài, cũng như các trạng thái khác nhau bên trong của cơ thể. Sinh lý học nghiên cứu sự phát triển loài và phát triển cá thể của các chức năng, sự biến đổi và thích nghi của chúng đối với các điều kiện thay đổi thường xuyên của môi trường. Riêng đối với con người, khi nghiên cứu hoạt động sinh lý cần phải đặt trong hoàn cảnh xã hội mà cụ thể là hoạt động lao động xã hội của con người.
Xem thêm

179 Đọc thêm