CON NGƯỜI VÀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KT TRI THỨC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Con người và nhân tố con người trong sự phát triển nền KT tri thức":

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

32 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Quốc gia nào có chiến lượcđúng đắn trong việc phát huy nguồn nhân lực con người, chuẩn bị được nguồnnhân lực chất lượng cao dựa trên nền tảng tri thức hiện đại thì nền kinh tế củaquốc gia đó sẽ tăng mạnh mẽ, có năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàncầu và phát triển bền vững.Sinh thời, Bác Hồ từng nhấn mạnh rằng: cán bộ nếu chỉ có phẩm chấtđạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, mà thiếu tri thức, kiến thức khoahọc, tức có đức mà không có tài, thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên tòasen, không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích chođời. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại đối với hoạt động của mỗingười và đương nhiên ảnh hưởng nhất định đối với tổ chức, cơ quan. Nănglực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thànhtựu khoa học để sáng chế ra kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Khả năng đó thểhiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo trình độ chuyên môn nghiệpvụ... Yêu cầu nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa caocủa đội ngũ lao động. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vàngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: nguồn laođộng dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù sáng tạo,có nền văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệlà nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.Trong các nguồn lực phát triển kinh tế thì nguồn nhân lực luôn luônđóng vai trò quyết định. Vai trò quyết định được thể hiện như sau:Thứ nhất, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng caolà nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xãhội. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và
Xem thêm

18 Đọc thêm

CON NGƯỜI và PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI TRONG sự NGHIỆP đổi mới

CON NGƯỜI VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

Triết học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao giờ cũng gắn với con người, coi con người là đối tượng trung tâm nghiên cứu của triết học.Ngày nay, lý luận Mác xít về con người đã và đang trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để Đảng ta xác định ra những quan điểm, giải pháp để phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp cách mạng nước ta, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

27 Đọc thêm

TIEU LUAN MOI QUAN HE GIUA PT KT XH VOI PHAT TRIEN GD

TIEU LUAN MOI QUAN HE GIUA PT KT XH VOI PHAT TRIEN GD

1.1. Khái niệm về phát triển kinh tế xã hội Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh tế xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng. Tiến bộ xã hội là sự phát triển con người một cách toàn diện, phát triển các quan hệ xã hội công bằng và dân chủ. Tiến bộ xã hội thể hiện ở các mặt: Sự công bằng xã hội: ở mức sống con người tăng lên; sự phân hoá giàu nghèo ít, chênh lệch về trình độ phát triển giữa các khu vực nhỏ đi Tiến bộ xã hội được thể hiện tập trung ở sự phát triển nhân tố con người. Liên hợp Quốc dùng chỉ số HDI làm tiêu chí đánh giá tiến bộ và sự phát triển của mỗi quốc gia:  Tuổi thọ bình quân.  Thành tựu giáo dục: trình độ học vấn của người dân và số năm đi học bình quan của người dân tính từ tuổi đi học.  Mức thu nhập bình quân đầu người.
Xem thêm

17 Đọc thêm

thạc sĩ triết học PHÁT HUY NGUỒN lực CON NGƯỜI ở TỈNH KONTUM HIỆN NAY

THẠC SĨ TRIẾT HỌC PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở TỈNH KONTUM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản, quyết định của lực lượng sản xuất và của quá trình phát triển phát triển kinh tế xã hội. Khác với các nguồn lực khác, nguồn lực con người là nguồn lực đặc biệt của quá trình sản xuất; trong quá trình sản xuất các nguồn lực khác không có khả năng sáng tạo và tái sinh; trái lại, nguồn lực con người nếu được đào tạo, bồi dưỡng phát huy một cách hợp lý thì khả năng sáng tạo và tái sinh là vô tận. Khả năng sáng tạo và tái sinh của nguồn lực con người là nguồn cội của mọi sự phát triển của xã hội.
Lịch sử phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: nguồn lực con người là lâu bền nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội và sự nghiệp tiến bộ của nhân loại. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó nhân tố đóng vai trò quyết định dẫn đến sự ra đời của kinh tế tri thức, chính là nguồn lực con người. Trước đây các nhân tố sản xuất truyền thống như số lượng đất đai, vốn được coi là quan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay đổi thứ tự ưu tiên. Chính nguồn lực con người mới được xem là nguồn lực quan trọng nhất. Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Xem thêm

97 Đọc thêm

Tìm hiểu bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

TÌM HIỂU BÀI CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI

I. Đọc, tìm hiểu chung về văn bản 1. Đọc - chú thích a) Đọc. b) Chú thích (SGK) 2. Tác giả - tác phẩm a) Tác giả Vũ Khoan: Nhà hoạt động chính trị, đã từng làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ thương mại, hiện là Phó thủ tướng chính phủ. b) Tác phẩm - Xuất xứ: Bài viết đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, được in vào tập Một góc nhìn của tri thức, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002. - Bài viết ra đời trong thời điểm những năm đàu của thế kỉ XXI, thời điểm quan trọng trên con đường phát triển và hội nhập thế giới. c) Phương thức diễn đạt Nghị luận bình luận về một vấn đề tư tưởng trong đời sống xã hội. Bố cục gồm 3 phần - Mở bài (từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”): nêu luận điểm chính. - Thân bài (tiếp theo đến “kinh doanh và hội nhập”): Bình luận và phân tích luận điểm bằng hệ thống luận cứ (3 luận cứ) - Kết bài(còn lại): Khẳng định lại nhiệm vụ của lớp trẻ Việt Nam. II. Đọc - hiểu văn bản Luận điểm: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới. Hệ thống luận cứ: - Luận cứ 1: Vai trò của con người trong hành trang bước vào thế kỉ mới. - Luận cứ 2: Nhiệm vụ của con người Việt Nam trước mục tiêu của đất nước. - Luận cứ 3: Những điểm mạnh và yếu của con người Việt Nam cần nhận thức rõ. 1. Vai trò của con người trong hành trang vào thế kỷ mới. - Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là chuẩn bị bản thân con người. - Đây là một luận cứ quan trọng, mở đầu cho hệ thống luận cứ, có ý nghĩa đặt vấn đề - mở ra hướng lập luận toàn bài. Lý lẽ: Con người là động lực phát triển của lịch sử. - Ngày nay nền kinh tế tri thức phát triển, vai trò con người càng nổi trội. - Nêu ra một cách chính xác, logic, chặt chẽ, khách quan. Vấn đề được nêu ra rất có ý nghĩa thực tiễn. Trong thế kỷ trước, nước ta đã đạt những thành quả rất vững chắc. Chúng ta đang bước sang thế kỷ mới với nhiệm vụ cơ bản là trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Việc chuẩn bị hành trang (tri thức, khoa học, công nghệ, tư tưởng, lối sống…) là vô cùng cần thiết. 2. Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu - nhiệm vụ nặng nề của đất nước. - Bối cảnh của thế giới: Khoa học công nghệ phát triển cùng với việc hội nhập sâu rộng. - Mục tiên, nhiệm vụ của đất nước: + Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. + Tiếp cận nền kinh tế tri thức. + Thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Từ việc gắn vai trò trách nhiệm của con người Việt Nam với thực tế lịch sử, kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới để dẫn dắt tới vấn đề cơ bản mà tác giả cần bàn luận: “những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam”. 3. Cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam. - Điểm mạnh: + Thông minh, nhạy bén + Cần cù, sáng tạo, tỉ mỉ. + Đoàn kết, đùm bọc trong chống giặc ngoại xâm. + Thích ứng nhanh - Yếu: + Thiếu kiến thức cơ bản, kém năng lực thực hành, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương. + Đố kị trong làm ăn, cuộc sống đời thường. + Hạn chế trong thói quen nếp nghĩ, kì thị trong kinh doanh, quen bao cấp, thói khôn vặt, ít giữ chữ tín. Tác giả đã nêu phân tích cụ thể thấu đáo, nêu song song hai mặt và luôn đối chiếu với yêu cầu xây dựng và phát triển của đất nước hiện nay chứ không chỉ nhìn trong lịch sử. Trình tự lập luận: - Tính hệ thống chặt chẽ, có tính định hướng của các luận cứ. - Kết thúc hệ thống luận cứ bằng cách khẳng định lại luận điểm đã nêu ở phần mở đầu: + Lấy đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ điểm yếu. + Phải làm cho lớp trẻ, chủ nhan của đất nước nhận rõ điều đó. Làm quen với những thói quen tốt ngay từ nhưungx việc làm nhỏ nhặt nhất. Thái độ của tác giả: Tôn trọng sự thực, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, không thiên lệch. Tác dụng: Giúp mọi người tránhđược tâm lý ngộ nhận tự đề cao quá mức, tự thoả mãn, không có ý thứ học hỏi cản trở sự có hại đối với sự phát triển của đất nước trong bối cảnh hiện nay. III. Tổng kết Về nội dung: - Nhận thức được vai trò vô cùng to lớn của con người trong hành tran vào thế kỷ mới, những mục tiên và nhiệm vụ quan trọng của đất nước ta khi bước vào thể kỷ mới. Qua bài viết, nhận thức được những mặt mạnh cũng như mặt hạn chế của con người Việt Nam để từ đó có ý thức rèn luyện, tu dưỡng để trở thành một người công dân tốt.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TƯƠNG LAI

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Nguồn nhân lực con người với tiềm năng tri thức là lợi thế cạnh tranh của các công ty, ngành và nền kinh tế. Sau khi gia nhập tổ chức WTO,Việt Namnhưmột con rồng châu Á đang vươn mình với nhiều lợi thế như tốc độ kinh tế cao, nguồn nhân lực dồi dào trong đó có đến 50% lao động trẻ dưới 30 tuổi.. Tuy nhiên, “nguồn nhân lực Việt Nam tuy thừa mà vẫn thiếu thừa lượng, thiếu chất”.Nổi cộm lên là vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay đang thiếu hụt trầm trọng. Nguồn nhân lực chất lượng cao(NNLCLC) là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình đẩy mạnh CNHHĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở VN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quốc gia nào có chiến lược đúng đắn trong việc phát huy nguồn lực con người, chuẩn bị đựơc NNLCLC dựa trên nền tảng tri thức hiện đại thì nền kinh tế của quốc qia đó sẽ gia tăng mạnh mẽ năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu và phát triển bền vững. Xã hội nào có nhiều lao động có trình độ cao thì xã hội đó càng thêm văn minh.Chọn phân tích đề tài này,em muốn làm rõ hơn được các vấn đề lý luận và thực tiễn của nguồn nhân lực chất lượng cao được phân tích theo hệ thống các yếu tố cấu thành, đặc điểm (số lượng, chất lượng), lợi thế, thách thức, xu hướng phát triển và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện và năng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao …thông qua các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp thu thập các tài liệu về NNLCLC…Hy vọng qua đề tài này chúng ta có thể hiểu sâu hơn các vấn đề về nguồn nhân lực chất lượng cao.  Kết cấu của đề tài:Phần 1:cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao,cơ hội,thách thức và xu hướng phát triểnPhần 2:Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ phát triển kinh tếPhần 3:Xu hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương laiĐây là toàn bộ nội dung của đề tài em đã chọn tìm hiểu, chắc chắn bài viết còn nhiều khiếm khuyết và sai sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của Thầy giáo để em hoàn thiện hơn đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

39 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC ÁP DỤNG VÀO CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC ÁP DỤNG VÀO CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nhân tố con người và việc phát huy vai trò năng động chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đang có những vấn đề bức xúc trước đòi hỏi của sự phát triển và hội nhập. Một trong những vấn đề bức xúc đó là việc tìm tòi và vận dụng một triết lý thích hợp cho nền giáo dục mới, vừa phát huy được kinh nghiệm truyền thống của dân tộc, vừa mang tính hiện đại để sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã có hàng ngàn năm theo Nho học. Mặc dù, quan điểm giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo có những hạn chế nhất định, song vẫn có mặt tích cực. Do vậy, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người là cần thiết vì một số nội dung cơ bản của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người Chúng ta có thể kế thừa trong sự nghiệp “trồng người” ở Việt Nam hiện nay Một trong số những vấn đề nên được quan tâm nghiên cứu đó là triết lý giáo dục của Khổng Tử và vận dụng một số quan điểm giáo dục của ông vào công tác giáo dục ở nước ta hiện nay. Trong bài tiểu luận nhỏ này xin phép được trình bày quan điểm giáo dục của Khổng tử và một số đề xuất về việc áp dụng vào công tác giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Luận văn: Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ sinh ngành sinh giáo dục thể chất trường cao đẳng tuyên quang

LUẬN VĂN: LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY 100M CHO NỮ SINH NGÀNH SINH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG CAO ĐẲNG TUYÊN QUANG

Luận văn: Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ sinh ngành sinh giáo dục thể chất trường cao đẳng tuyên quang
Con người cần phải có sự phát triển toàn diện cả về trí tuệ lẫn thể chất để có thể chiếm lĩnh được tri thức từ đó đưa nền kinh tế nước nhà vươn lên hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế
Giáo dục là một trong những bộ phận quan trọng góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển toàn diện con người. Phát triển thể lực, nâng cao sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân đã được các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể thực hiện từ rất sớm. Trên cơ sở có được sức khỏe tốt sẽ giúp tạo nên một đội ngũ lao động dồi dào đủ tiêu chuẩn về trí tuệ lẫn thể lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xuất phát từ tiễn trên, với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc cải thiện thể lực cho nữ sinh viên của trường cũng như là góp phần vào việc giáo dục con người phát triển toàn diện để cho những thế hệ sinh viên ra trường đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về thể lực cũng như trí tuệ mà xã hội hiện đại đang cần. Những yêu cầu từ lý luận cũng như thực tiễn nêu trên chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu ứng dụng bài tập nâng cao thể lực cho nữ sinh viên khoa Mầm non khóa học 2013 – 2016 trường Cao dẳng Tuyên Quang”
Xem thêm

31 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930

Đổi mới phương pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh giá là một yêu cầu của toàn cầu hiện nay. Đối với nước ta, đổi mới phương pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh giá là nhằm phát triển con người mới toàn diện, có tri thức, có học vấn, có năng lực tư duy hành động, có khả năng tiếp thu được những tinh hoa của các nước trên thế giới để xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Vì vậy, Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng đã nêu rõ: “Để đáp ứng yêu cầu con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cần tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục và đào tạo… đổi mới phương pháp và phát huy sáng tạo và năng lực đào tạo của người học coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét học vẹt học chay…”.
Xem thêm

17 Đọc thêm

tiểu luận cao học tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌNH TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

MỞ ĐẦU

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, hoạt động xuất bản được coi là nhân tố hàng đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển của trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia. Hoạt động xuất bản chính là đầu mối để phổ biến rộng rãi các tri thức khoa học về mọi mặt đời sống xã hội mà con người đã tích lũy được trong quá trình phát triển của mình. Ngày nay, công nghệ thông tin đã giúp cho việc trao đổi thông tin của con người đơn giản đi rất nhiều. Chính khoa học công nghệ đã giúp con người tiến lại sát gần nhau, xóa nhòa đi những khoảng cách về không gian, thời gian.
Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, việc bảo vệ quyền tác giả nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung đang là một vấn đề ngày càng trở nên nóng bỏng. Đứng trước yêu cầu đó và thực tế phát triển kinh tế xã hội của nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đang được Nhà nước ta quan tâm. Đặc biệt khi năm 2004 Việt Nam ra nhập công ước Berne về Bảo hộ quyền tác giả và sau đó năm 2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong đó quyền sở hữu trí tuệ là một bộ phận quan trọng trong các nội dung được đem ra đàm phán.
Bên cạnh đó, hiện nay tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang tiếp tục gia tăng gây ra những hậu quả xấu đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy để khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền hiện nay cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả.
Xem thêm

21 Đọc thêm

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

1.Tính cấp thiết của đề tàiTừ những năm 90 của thế kỷ 20, ở các nước phát triển, nền kinh tế bắt đầu có sự chuyển dịch nhanh, từ nền kinh tế công – nông sang nền kinh tế tri thức. Lý thuyết về quản trị con người cũng dần dần được thay thế bằng lý thuyết quản trị tri thức. Tuy mới ra đời chỉ hơn 10 năm nhưng Quản trị tri thức đang trở thành xu hướng toàn cầu. Vị trí của ngành quản trị non trẻ này đã và đang được khẳng định bởi sự thành công của nhiều Tập đoàn hàng đầu thế giới trong việc ứng dụng. Dựa trên nền tảng triết lý quản trị tri thức, những giá trị vật chất và tinh thần, chỉ số lợi nhuận và thị phần của những công ty áp dụng đã khiến thế giới doanh nghiệp ngưỡng mộ. Tiêu biểu cho những bước tiến thần kỳ đó là các tổ chức hàng đầu như: IBM, Coca – Cola, Microsoft, Google hay Yahoo. Ở Châu Á, chúng ta cũng được chứng kiến những bước nhạy vọt đầy mạnh mẽ với một phương thức quản trị tương tự trên phạm vi quốc gia như Singapor, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Malaysia. Ngày nay, Quản trị tri thức đã trở thành một xu hướng tất yếu và phổ biến ở các nước phát triển trong các loại hình kinh doanh của xã hội từ kinh tế, chính trị, giáo dục, quốc phòng,… Các doanh nghiệp nếu muốn phát triển nhanh và bền vững có thể lấy quản trị tri thức làm chiến lược lâu dài. Quản trị tri thức được thực hiện sẽ giúp cho các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, có tính kế thừa và có thể truyền dạy trong tất cả các lĩnh vực: quản trị kinh doanh, quản trị hệ thống thông tin, khoa học thông tin và thư viện…v.v Việt Nam – một đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ cũng đã nhận thức được tầm quan trọng và chiến lược của quản trị tri thức. Các đề tài về Quản trị tri thức cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các đề tài này lại chủ yếu xoay quanh Quản trị tri thức trong doanh nghiệp mà chưa đề cập tới quản trị tri thức trong các trường Đại học. Dựa trên những kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và thực tế nhận thức được, nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học chúng em quyết định chọn đề tài Đẩy mạnh quản trị tri thức tại các Trường đại học – Nghiên cứu tình huống tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm đề tài cho nghiên cứu khoa học của mình.
Xem thêm

85 Đọc thêm

ĐƯỜNG LỐI : NGUỒN NHÂN LỰC, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

ĐƯỜNG LỐI : NGUỒN NHÂN LỰC, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LỜI MỞ ĐẦU Việc phát triển nguồn lực con người là nhân tố quan trọng, là động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội; mặt khác, đây cũng là nhân tố tạo bước đột phá trong sự nghiệp CNH, HĐH sản xuất xã hội. CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định Con người và nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khẳng định lại và tiếp tục phát triển thêm, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) yêu cầu Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất nguồn lực của Nhà nước. Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội. 1. Thực trạng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH1.1. Điểm mạnh ( ưu thế ) nguồn nhân lực nước ta hiện nay Dân số Việt Nam, 19212013NămDân số (triệu người)Tỷ lệ phát triển (%)192115,584192617,1001,86193117,7020,69194322,1503,06196030,1723,93197041,0633,24197952,7422,16198964,4122,10199976,5971,51200986,0251,06201288,7731,06201390Nguồn: Tổng cục Thống kê, Số liệu Thống kê Việt Nam, 19301980; Số liệu CHXHCN Việt Nam, 19761989; Tổng điều tra dân số và nhà ở 19792009; Niên giám Thống kê 2013. Tỷ trọng dân số < 15 tuổi, 1564 tuổi, 60+, 65+ và chỉ số già hóa, 19892012 Đơn vị tính: Phần trăm 198919992009201020112012Tỷ trọng dân số < 15 tuổi39,233,124,524,724,023,9Tỷ trọng dân số 1564 tuổi56,161,169,168,569,069,0Tỷ trọng dân số 60+7,18,08,79,49,910,2Tỷ trọng dân số 65+4,75,86,46,87,07,1Chỉ số già hoá18,224,335,537,941,142,7Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009; Điều tra biến động DSKHHGĐ 20012012. Bắt đầu từ năm 2007, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “ dân số vàngˮ kéo dài từ 30 đến 40 năm. Đây là cơ hội sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, việc làm trong tương lai. Nguồn nhân lực qua đào tạo của Việt Nam đang tăng dần qua các năm. Điều đó có được là do sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Việt Nam những năm gần đây đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc. Năm 20032004 tổng số sinh viên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007 2008 tăng lên 1.603.484
Xem thêm

12 Đọc thêm

Đề Tài: Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

ĐỀ TÀI: CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦUTrong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực để phục vụ cho những lợi ích sống còn của mình, con người ngày càng khám phá ra bí mật của thế giới ấy, càng nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của nó, cũng như tìm ra cách vận dụng những quy luật đó vào các lĩnh vực hoạt động của mình, trước hết là sản xuất ra của cải vật chất, lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của đời sống xã hội. Bằng những tri thức kinh nghiệm và những tri thức lý luận tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới, con người đã sáng tạo ra những công cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo. Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài người với tự nhiên, là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử.Trong xã hội hiện đại, nguyên nhân hàng đầu của tăng năng suất lao động, của sự đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng là do con người đã áp dụng đã áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất. Điều đó được thể hiện trước hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cường chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất.Tất cả các quả trình đó có sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua những cơ chế của chúng và cùng một hướng phát triển đã làm cho các qui trình sản xuất trở nên nhịp nhàng, tự động hoá và đạt hiệu quả cao. Song rõ ràng đó không phải là qui trình vận động một cách tự phát, được khẳng định một lần cho xong, mà là các quá trình luôn được vận động, thông qua sự can thiệp và tính năng động, tích cực của chủ thể.Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh tế tri thức đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lượng sản xuất xã hội. Đối với những nước đang phát triển “con đường công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về mặt kinh tế. Bởi vì khoảng cách giữa các nước giàu nghèo chính là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức. Trong bối cảnh đó các nước “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công nghệ, giáo dụcđào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, khả năng sử dụng tri thức, mới có thể rút ngắn được khoảng cách với các nước tiên tiến. Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng.
Xem thêm

20 Đọc thêm

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHÂN SỰ TRƯỜNG THPT YÊN HÒA – CẦU GIẤY – HÀ NỘI

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NHÂN SỰ TRƯỜNG THPT YÊN HÒA – CẦU GIẤY – HÀ NỘI

Như chúng ta đã biết nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hay tổ chức. Do đó việc khai thác tốt nguồn lực này để phục vụ phát triển doanh nghiệp và xã hội là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý các tổ chức và doanh nghiệp. Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh, và quan niệm rằng con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển. Các kỹ thuật quản lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức.Quản lí nhân sự là sự khai thác và sử dụng nguồn nhân lực của một tổ chức hay một công ty một cách hợp lý và hiệu quả. Quản lí nhân sự theo dõi hướng dẫn, điều chỉnh kiểm tra sự trao đổi chất giữa con người và các yếu tố vật chất của tự nhiên trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người nhằm duy trì, bảo vệ, sử dụng và phát triển tiềm năng vô hạn của con người.Quản lí nhân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng và ngày càng được các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và phân tích, xem đây là một chức năng cốt lõi (Essential management function) và quan trọng nhất của tiến trình quản lý.Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, do đó đặc trưng nổi bật là tính cạnh tranh. Các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng buộc phải cải thiện tổ chức, trong đó yếu tố con người là quyết định. Việc tìm đúng người phù hợp để giao đúng việc, hay đúng cương vị đang là vấn đề đáng quan tâm đối với mọi hình thức tổ chức hiện nay.Trong giáo dục, quản lí nhân sự có một vai trò đặc biệt quan trọng, thông qua quản lí nhân sự, nhà quản lý giáo dục của cơ sở giáo dục sẽ nắm bắt rõ tình hình của đơn vị, qua đó sẽ có những phương án để qui hoạch đội ngũ, đào tạo bồi dưỡng và phát triển nhân sự cho đơn vị mình.Với những kiến thức đã được lĩnh hội qua học phần Quản lí nhân sự do Giảng viên Nguyễn Xuân Hùng – Học viện Quản lý giáo dục giảng dạy; ở phần bài làm này em xin được phân tích thực trạng nhân sự của trường THPT Yên Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội; để qua đó thể hiện những tri thức mà cá nhân đã lĩnh hội được từ học phần Quản lí nhân sự.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Khách sạn duyên champa

KHÁCH SẠN DUYÊN CHAMPA

Trong thời đại phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá ngày nay, khi mà đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về đời sống của con người ngày càng nâng cao, việc thưởng thức cuộc sống không còn đơn giản như trước nữa. Ví dụ trước kia nhu cầu ăn no mặc ấm là yếu tố quan trọng còn bây giờ là việc ăn no mặc đẹp, một cuộc sống đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần.
Nhu cầu của con người trong thời đại ngày nay không chỉ là: hôm nay ăn gì, uống gì, mà là cuối tuần nay chúng ta sẽ đi nghỉ ở đâu. Vì vậy những buổi thăm quan dã ngoại, gặp gỡ bạn bè, nghỉ ngơi,. . . ngày càng nhiều. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, nhu cầu về công trình phục vụ cho việc nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, thư giãn,… ngày càng cao. Trong đó công trình khách sạn là một trong những công trình đáp ứng phần nào nhu cầu của con người hiện nay.
Cái duyên đưa tôi biết về văn hóa Champa từ một chuyến du lịch đến Phan Thiết với gia đình vừa ngưỡng mộ, vừa vui sướng khi được xem thấy tận mắt tháp Champa uy nghiêm hùng vĩ, con người Champa nồng hậu hiếu khách, những điệu múa độc đáo, đặc sắc của các Apsara vũ công Cham, được nghe thấy tiếng kèn Saranai réo rắt với năm nốt âm thanh tượng trưng cho năm ngũ quan con người hòa vào tiếng trống Basanung, Ginăng rộn ràng. Mà theo quan niệm của người Cham kèn Saranai, trống Basanung, Ginăng là tượng trưng cho con người và một vũ trụ thu nhỏ (trời, đất) hoàn chỉnh. Được tận tay chạm vào những vò bình gốm đặc trưng cho văn hóa mỹ nghệ này. Mà từ trước tới giờ sách báo không thể diễn tả hết.
“Văn hóa là sự mở mang trí óc và tâm hồn” (Jawaharlal Nehru) được hình thành, phát triển xoay quanh cuộc sống con người, do con người tạo ra cùng với sự phát triển của xã hội. Văn hóa khai sáng và đưa con người hướng tới tương lai.
Đất nước ta có một nền văn hóa phong phú và đa dạng. Một văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó là sự kết hợp các sắc màu văn hóa của hơn 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ hình chữ S Việt Nam. Nhưng mỗi dân tộc lại có một sắc thái văn hóa riêng biệt không bị hòa lẫn, mỗi dân tộc là một loài hoa trong vườn hoa đa sắc màu văn hóa Việt. Sự khác biệt đó từ những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, xã hội và những nhân tố khác hình thành các vùng văn hóa khác nhau, những đặc thù riêng và sắc màu riêng từng dân tộc.
Champa một loài hoa trong vườn hoa văn hóa Việt, một nền văn hóa chiếm vị trí quan trọng, góp một sắc màu đa dạng, độc đáo. Theo suốt chiều dài lịch sử văn hóa Cham ghi lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa từ lâu đời và có ảnh hưởng rất lớn. Văn hóa Champa đã phát triển một nền văn minh rực rỡ, bậc nhất Đông Nam Á suốt gần 15 thế kỷ, có bề dày trên 5000 năm (từ thuở người Champa cổ nền văn minh đồ đá, qua nền văn minh Sa Huỳnh đồ sắt cho đến ngày nay).
kiến trúc, điêu khắc, nghề gốm, múa, thổ cẩm,... độc đáo và đặc sắc. Còn riêng bản thân tôi thì chứa nhiều cung bậc cảm xúc khó tả sau chuyến du lịch cùng nhiều ý tưởng.
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển hiện đại, thì những nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc nói chung và văn hóa Champa nói riêng cũng phần nào đó bị mai một, pha trộn không còn như xưa. Sắc màu truyền thống có phần biến đổi theo thời gian để phù hợp với thời đại.
Xem thêm

82 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt mà thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm tham gia vào đời sống sản xuất và hoạt động. Giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người và chỉ có trong đời sống con người. Trải qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, giáo dục đã khẳng định vai trò ưu việt của mình với việc hoàn thiện nhân cách con người.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ thì giáo dục càng cần thiết hơn bao giờ hết. Đó là phương tiện hữu hiệu nhất tạo nên nguồn lực con người, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Giáo dục là yếu tố truyền thống mà điểm khởi đầu và kết thúc đều là con người. Thực tế cho thấy, không có con người trừu tượng, phi lịch sử mà chỉ có con người hiện thực, chịu sự tác động của nhiều yếu tố: gia đình và xã hội, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Trong đó, yếu tố truyền thống đóng vai trò cơ sở, nền tảng hình thành những yếu tố hiện đại.
Quá trình hình thành phát triển giáo dục nhân loại, có rất nhiều nhà giáo dục tài ba lỗi lạc với những quan điểm đã trở thành chân lý thời đại. Khổng Tử là một trong những nhà giáo dục vĩ đại ấy. Thời Xuân thu Chiến quốc (770221 trước công nguyên) là thời kỳ “bách gia tranh minh”. Nhiều vấn đề cơ bản về tự nhiên, xã hội, nhân sinh được “bách gia chư tử” bàn luận và đấu tranh kịch liệt để tranh giành ảnh hưởng với nhau nhưng không một học phái nào đề cao đúng mức và đạt được thành tựu vầ mặt giáo dục bằng Khổng Tử. Một đời Khổng Tử đề cao việc học và chính ông cũng là tấm gương học tập không mệt mỏi. Ồng cho rằng phàm là con người ai ai cũng phải học, vua phải học để làm vua, quan phải học để làm quan, dân phải học để làm dân. Quan điểm giáo dục của Khổng Tử hướng người ta vươn tới cái “nhân, lễ, trí, dũng”. Để đạt được lý tưởng cao đẹp này, mỗi chúng ta phải được giáo dục, có giáo dục và tự giáo dục. Nghĩa là “dạy và học là việc suốt đời”(Lễ Kí – Học kí biên). Đây là đóng góp hết sức căn bản của Khổng Tử , ngay cả trong thời đại ngày nay, khi mà cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, hướng nhân loại vào kỷ nguyên tin học, kỷ nguyên khoa học kỹ thuật, khi mà việc học tập thường xuyên, suốt đời đã trở thành hiện thực.
Tư tưởng đạo Khổng, một bộ phận của Nho giáo truyền thống, có sức sống dai dẳng và ảnh hưởng không nhỏ đến con người, xã hội Việt Nam. Khổng học là một học thuyết chính trị xã hội luôn lấy đức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc. Với rất nhiều giáo lý phù hợp với xã hội Việt Nam, Khổng học từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam tiếp nhận và đề cao, đặc biệt trong quản lý đất nước, đào tạo con người .
Thời gian vừa qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người, bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế đáng lo ngại. Chẳng hạn, sự tụt hậu về tri thức, khoa học công nghệ; đặc biệt là sự tha hóa đạo đức, lối sống… Nếu đặt nền giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm thì không thể nhắm mắt làm ngơ trước sự tụt hậu ngày càng xa của nền giáo dục Việt Nam so với các nước xung quanh và so với yêu cầu phát triển của xã hội. Nền giáo dục, đào tạo nước ta còn đang đứng trước nhiều khó khăn và yếu kém, đó là: “…chất lượng giáo dục còn thấp; nội dung phương pháp dạy và học còn lạc hậu; các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục còn nhiều; cơ cấu giáo dục và đào tạo còn mất cân đối…” (Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX ). Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân từ việc chúng ta quá đề cao và hướng theo các giá trị hiện đại, mà bỏ quên hay kế thừa chưa hiệu quả các giá trị truyền thống, cũng như các tinh hóa văn hóa nhân loại, trong đó có tư tưởng giáo dục của Khổng Tử.
Mặc dù nhiều nội dung học tập và tu dưỡng của Khổng Tử không còn phù hợp với thời đại ngày nay nhưng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử vẫn còn những giá trị thiết thực, có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta hiện nay. Nếu chúng ta biết kế thừa có chọn lọc những nhân tố có giá trị trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử thì sẽ có được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong sự nghiệp đào tạo con người hiện nay.
Vì vậy, hướng tới mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ đổi mới: công nghiệp hóa hiện đại hóa, xem xét mối quan hệ giữa quan niệm giáo dục của Khổng Tử với sự nghiệp giáo dục đào tạo con người ở Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết.
Do tính cấp thiết của đề tài, do tính giới hạn của thời gian cũng như là sự vô cùng trong nội dung nghiên cứu về giáo dục nên trong đề tài này em chỉ tập trung vào thời kỳ phát triển của triết học cổ đại Trung Quốc mà trọng tâm nghiên cứu là quan niệm của Khổng Tử về giáo dục, từ đó đi vào nghiên cứu những ảnh hưởng của nó trong tình hình thực tiễn nước ta hiện nay. Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đào tạo con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
Xem thêm

45 Đọc thêm

Thuật cai trị trong tư tưởng hàn phi tử và việc vận dụng trong quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay

THUẬT CAI TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG HÀN PHI TỬ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
HỌC THUYẾT PHÁP TRỊ CỦA TRUNG QUỐC RA ĐỜI ĐÃ TRÊN 2000 NĂM, MẶC DÙ CÓ NHIỀU HẠN CHẾ DO LỊCH SỬ, DO BẢN CHẤT GIAI CẤP NHƯNG VẪN TOÁT LÊN ĐƯỢC NHỮNG GIÁ TRỊ THỰC TIỄN MÀ NGÀY NAY VẪN ÁP DỤNG VÀ PHÁT HUY ĐƯỢC TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN. HỌC THUYẾT PHÁP TRỊ BÊN CẠNH VIỆC NÊU RA VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VÀ VỊ THẾ CỦA NGƯỜI ĐÚNG ĐẦU NHÀ NƯỚC CÒN CÓ MỘT THÀNH TỐ HẾT SỨC CƠ BẢN LÀ ĐƯA RA NHỮNG PHƯƠNG PHÁP, CÁCH THỨC ĐỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, ĐÓ LÀ THUẬT CAI TRỊ. TRONG SỰ VẬN HÀNH CỦA NHÀ NƯỚC DÙ LÀ CHIẾM HỮU NÔ LỆ, PHONG KIẾN, TƯ BẢN CHỦ NGHĨA HAY XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÌ NHỮNG NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NHÀ NƯỚC ĐỀU CẦN CÓ SỰ QUẢN LÝ, ĐẶC BIỆT LÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CON NGƯỜI, ĐÓ ĐƯỢC XEM NHƯ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC.
NGÀY NAY, TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP CỦA THẾ GIỚI, VIỆT NAM ĐANG CHUYỂN MÌNH ĐỂ HOÀ CHUNG VÀO XU THẾ ĐÓ, VÌ VẬY ĐÒI HỎI PHẢI CÓ MỘT NỀN CHÍNH TRỊ KHOA HỌC, HIỆN ĐẠI. NỀN CHÍNH TRỊ ĐÓ PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG BỞI NHỮNG CON NGƯỜI CÓ TRI THỨC, CÓ TÀI NĂNG NHƯ THẾ NÀO THÌ TẤT CẢ PHẢI ĐƯỢC VẬN HÀNH DƯỚI SỰ QUẢN LÝ TỪ CAO ĐẾN THẤP. TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN NHƯ Ở NƯỚC TA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH LÀ NHỮNG NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ ĐÓ, NÊN CẦN VÀ RẤT CẦN THIẾT TRONG QUẢN LÝ PHẢI CÓ MỘT NGHỆ THUẬT QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGƯỜI HIỆN ĐẠI. TA CÓ THỂ TÌM THẤY RẤT NHIỀU KINH NGHIỆM PHONG PHÚ VÀ BỔ ÍCH, CŨNG NHƯ HOÀN TOÀN CÓ THỂ ÁP DỤNG MỘT CÁCH LINH HOẠT NGHỆ THUẬT QUẢN LÝ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG VỀ THUẬT CAI TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ. HƠN NỮA, TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ CŨNG LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ. CHÍNH VÌ LÝ DO ĐÓ MÀ EM CHỌN ĐỀ TÀI: THUẬT CAI TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG HÀN PHI TỬ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Xem thêm

36 Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH TÂN ĐÔNG PHƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH TÂN ĐÔNG PHƯƠNG

1.Tính cấp thiết của đề tài.Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển, nguồn nhân lực đều được thừa nhận là một yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố có tính quyết định đến sự thành bại, uy thế, địa vị, khả năng phát triển bền vững của tổ chức, của doanh nghiệp. Do đó các quốc gia đều đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đề ra các chính sách, chiến lược phát triển con người phục vụ yêu cầu của hiện tại và tương lai.Một công ty, hay một tổ chức nào đó dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên phong phú với hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, kèm theo các công thức khoa học kỹ thuật thần kỳ đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích nếu không biết quản trị nguồn nhân lực.Trong các nguồn lực có thể khai thác như: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quan trọng nhất. Con người là quyết định nhất, bởi lẽ các nguồn lực khác chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy. Chúng ta biết rằng điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò rất lớn trong sự phát triển của một quốc gia, song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể bất động. Chúng chỉ trở thành nhân tố khởi động và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt còn nguồn lực con người thì ngược lại, nó càng ngày càng được nâng cao. Nhưng để có thể khai thác được tiềm năng to lớn này, cần phải có những phương thức quản lý và điều kiện vật chất hỗ trợ phù hợp. Đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn để tìm ra những phương pháp quản lý hữu hiệu, nhằm khai thác được các tiềm năng đang được ẩn dấu trong con người lao động lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết.Ngày nay, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế đã kéo theo biết bao thay đổi trong xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nguồn nhân lực. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yếu tố con người càng quan trọng. Lao động chân tay dần nhường chỗ cho lao động trí óc. Nhận thức được vấn đề này, hầu hết các doanh nghiệp có xu hướng đặt con người cho mọi trung tâm chiến lược, tạo ra lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tương lai và đó là con đường duy nhất để tồn tại và phát triển.Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và đang đứng trước xu hướng hội nhập toàn cầu. Để hoàn thành được nhiệm vụ đó, cần phải có một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, bởi vì con người là nhân tố quyết định sự thành bại trong mọi hoạt động, quyết định phát triển kinh tế xã hội và sản xuất kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực thành công là nền tảng bền vững cho thành công của mọi hoạt động trong tổ chức.Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Tân Đông Phương, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực tại công ty TNHH Tân Đông Phương” làm khóa luận tốt nghiệp.
Xem thêm

99 Đọc thêm

Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn

KHOA HỌC MÀ KHÔNG CÓ LƯƠNG TÂM CHỈ LÀ SỰ TÀN RỤI CỦA TÂM HỒN

Khoa học ở thế kỉ XVI có nghĩa là tri thức thuộc mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực văn chương, triết học. Người học nhiều, biết rộng mà không có lương tâm hướng dẫn tư tưởng, hành động sẽ sa dần đến chỗ băng hoại tâm hồn. Dàn bài I. Mở bài - Nhân loại như một con người sống mãi và càng ngày càng mở rộng tri thức, nhất là tri thức khoa học, đời sống. Khoa học đã giúp cho loài người đến trình độ văn minh như ngày nay. Đó là điều khẳng định. - Nhưng ngay từ thế kỉ XVI, một nhà văn, nhà tư tưởng nhân văn nghĩa đã lên tiếng cảnh giác:" Khoa học mà không có lương tâm chi là sự tàn rụi của tâm hồn" (Rabelais) - Ta hãy bình luận câu nói trên. II. Thân Bài 1.Giải thích a) Khoa học ở thế kỉ XVI có nghĩa là tri thức thuộc mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực văn chương, triết học. Người học nhiều, biết rộng mà không có lương tâm hướng dẫn tư tưởng, hành động sẽ sa dần đến chỗ băng hoại tâm hồn. b) Khoa học (thực nghiệm) ngày nay là môn học có hệ thống nhằm khám phá ra những định luật, giải thích các hiện tượng, sự vật, là cơ sở của những sáng chế kĩ thuật. c) Đạo đức là nền gốc của khoa học vì đạo đức hướng những phát minh học vào mục đích tốt đẹp, phục vụ đời sống con người. Nêu không có ý nghĩa đạo đức soi rọi, khoa học sẽ trở thành phương tiện thoả mãn những tham  vọng ích kỉ, đen tối của một số người và cuối cùng có thể đấy nhân loại đến chỗ tàn rụi, diệt vong. 2. Bình a) Nêu hiểu theo nghĩa thứ nhất, giá trị câu nói của Rabelais được khẳng định Những kẻ có học thức mà thiếu ý thức đạo đức trưởng thành trở nên kiêu ngạo ích kỉ, tham lam, hành động sai lệch, đưa đến sự sa đoạ về tinh thần. Họ có thể sử dụng học thức của mình để thoả mãn những dục vọng thấp hèn. Trần Ích Tắc trong vương tộc nhà Trần, học cao hiểu rộng, nhưng phản bội đất nước, phản lại dòng họ chi vì tham lam ngôi vị An Nam quốc vương mà giặc hứa sẽ ban cho. b) Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai, câu nói càng có giá trị. Khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ, sẽ dần dần giải phóng sức lao động của con người. Nhưng một số chủ nhân của các tư bản lợi dụng kĩ thuật, cơ khí để bóc lột sức lao động của công nhân một cách tinh vi. Trong một số nhà máy, thợ thuyền biến thành một loại máy móc khô cằn trong dây truyền sản xuất. Ngồi giữa máy móc, lúc nào cũng tính toán lợi nhuận, con người ngày càng trở nên ích kỉ, thậm chí khô cạn lòng nhân ái vốn là một nhân tố chủ yếu của đạo đức con người. Từ giữa thế kỉ XX, những phát minh về nguyên tử, hạt nhân, thay vì nâng cao đời sống vật chất cho loài người, lại dẫn đến việc chế tạo những loại vũ khí giết người hàng loạt. Thật đúng như lời cảnh cáo của Rabelais: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn". 3. Luận a)  Nhân loại cũng đã nhận rõ những hiểm hoạ của khoa học không có lương tâm. Cho nên, trước tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, nhất là việc ứng dụng khoa học vào lĩnh vực chiến tranh, các nhà tư tưởng, những đoàn thể yêu chuộng hoà bình, những tổ chức quốc tế đấu tranh bảo vệ con người trên hành tinh của chúng ta đã kêu gọi lương tâm con người, nhất là các trung tâm quyền lực hãy cố gắng ngăn chặn sự phát triển khoa học theo hướng xấu Gandhi - nhà tư tưởng lớn - đã từng kêu gọi nhân loại hãy đấu tranh vì hoà bình của chinh loài người. b)   Con người đang dần dần chinh phục thiên nhiên. Ngày nay, những phi thuyền không gian đổ bộ lên mặt trăng, sao hoả và những hành tinh khác để tìm cách làm chủ vũ trụ, toàn là nhờ ở khoa học . Nhưng điều quan trọng nhất là con người phải luôn luôn soi sáng tâm hồn mình, đừng sủ dụng khoa học như một công cụ giúp nhân loại thoát khỏi nạn nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh. Khoa học có lương tâm được phát triển không ngừng sẽ giúp con người đạt tới một cuộc sống tốt đẹp về vật chất lần tinh thần. III. Kết bài Lịch sử phát triển của loài người ghi nhận sự tiến bộ không ngừng của tri thức con người, nhất là sự tiến bộ vượt bậc của khoa học từ mấy thế kỉ nay. Nhưng trong lĩnh vực đạo đức con người dường như giẫm chân một chỗ, tiến về trí mà không tiến về tâm. Cân khắc phục sự mất quân bình này để khoa học luôn luôn là một nhất quán trọng cho sự phát triển nền văn minh vật chất lẫn tinh thần của nhân loại. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề