MÂU THUẪN VÀ VẤN ĐỀ XD NỀN KT ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mâu thuẫn và vấn đề XD nền KT độc lập, tự chủ":

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật chính là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Hiểu được nguyên lý này, chúng ta mới có thể vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế một cách đúng đắn và hợp lý.
Trong số các vấn đề về vận dụng mối liên hệ phổ biến vào thực tế ở nước ta hiện nay, phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một đề tài cấp thiết bởi trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang đi theo xu hướng mở cửa hội nhập và Việt Nam không phải ngoại lệ, tuy nhiên nếu trước tiên không xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì nước ta sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong quá trình hội nhập. Nhận thức rõ tính đúng đắn, cấp thiết của việc đặt ra vấn đề này, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
 Hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
 Hiểu rõ khái niệm “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
 Vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến để phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp.
Các nhiệm vụ, mục đích này sẽ lần lượt được giải quyết và đạt tới trong từng phần của bài tiểu luận.
Xem thêm

16 Đọc thêm

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Chương IITƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘCGv: Lý Kim CươngI. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1. Vấn đề dân tộc thuộc địa. a. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc: độc lập dân tộc  CNXHChính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. b. Độc lập dân tộc, nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc về quyền độc lập tự do của dân tộc  xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam: hoàn toàn độc lập. Mục tiêu độc lập dân tộc được Hồ Chí Minh tuyên truyền, khơi dậy, xây dựng thành ý chí của toàn dân tộc. Đó là ý chí: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người luôn động viên nhân dân đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để bảo vệ cho được quyền thiêng liêng ấy (xem: Chính cương vắn tắt; Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…) Theo Hồ Chí Minh, độc lập tự do phải bao gồm các quyền sau: + Quyền bình đẳng và dân chủ giữa các dân tộc (xem Yêu sách của nhân dân An Nam, Tuyên ngôn độc lập). + Phải độc lập thực sự – độc lập hoàn toàn trên tất cả các mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ). + Độc lập phải gắn với nền hòa bình chân chính (hòa bình trong độc lập tự do). + Độc lập tự do phải gắn với ấm no, hạnh phúc, bình đẳng của mỗi người dân. Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (HCM, Toàn tập, t4, tr 56). Độc lập tự do chỉ có được bằng nỗ lực đấu tranh của bản thân các dân tộc.c. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước Luận điểm này là một trong những sáng tạo của Hồ Chí Minh khi tiếp thu chủ nghĩa MácLê nin và vận dụng vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Đặc điểm xã hội Việt Nam: + Kinh tế lạc hậu  phân hóa giai cấp không triệt để  xung đột giai cấp bị giảm thiểu. + VN là nước thuộc địa ==> mâu thuẫn giữa toàn dân tộc và đế quốc xâm lược rất gay gắt.  các giai cấp có thể đoàn kết thành một khối để chống đế quốc xâm lược. ==> Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở Việt Nam nói riêng cũng như các nước phương Đông nói chung. Do đó, những người Cộng sản phải biết phát huy chủ nghĩa yêu nước, nắm lấy ngọn cờ dân tộc để đoàn kết toàn dân xung quanh giai cấp vô sản nhằm đấu tranh thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng.2. Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp a. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhauThể hiện trong các quan điểm: Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nông. Khẳng dịnh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân (thông qua Đảng CS) Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc vấn đề giai cấp: b. ĐLDT gắn liền với CNXH. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách bóc lột”  Người lựa chọn con đường giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh giải phóng dân tộc đồng thời đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong đó, giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ được thực hiện từng bước, hợp lý, phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể của cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. c. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấpĐộc lập dân tộc là mục tiêu hàng đầu, là tiền đề để tiến lên CNXH.CNXH là điều kiện bảo đảm cho ĐLDT được triệt để, bền vững. d. Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, đồng thời là một chiến sĩ quốc tế. Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự kết hợp đó thể hiện qua các luận điểm: + Đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời đấu tranh cho độc lập của dân tộc khác. + Mở rộng đoàn kết quốc tế nhưng luôn nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết, bình đẳng giũa các dân tộc. + Thực hiện nghĩa vụ quốc tế với tinh thần “Giúp bạn là tự giúp mình”.II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộca. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa Mâu thuẫn chủ yếu ở xã hội thuộc địa?  Tính chất của cách mạng thuộc địa? Đối tượng của cách mạng thuộc địa? b. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”2. CMGPDT nuốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sảnGiải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn của Hồ Chí Minh:Nghiên cứu lý luận về cách mạng tư sản và lý luận của chủ nghĩa MácLênin  Hồ Chí Minh kết luận: Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất (Đường cách mệnh, HCM Toàn tập, t2, tr 268)Khảo sát thực tiễn: + Thực tiễn xã hội Việt Nam: Các phong trào yêu nước, chống Pháp thất bại chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản ở Việt Nam. Xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản? Để giải quyết cả hai mâu thuẫn trên, chỉ có thể bằng cách mạng vô sản.+ Thực tiễn thế giới Đặc điểm xu thế thời đại  Yêu cầu: Muốn thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, các thuộc địa phải đoàn kết với nhau và đoàn kết với cách mạng vô sản thế giới. Nghiên cứu xã hội tư bản phương Tây  Hồ Chí Minh kết luận: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng không đến nơi, vì nó chỉ thay hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác, và ở đó côngnông vẫn cứ cực khổ. Nghiên cứu xã hội Liên Xô  Hồ Chí Minh kết luận: Cách mạng Nga là cách mạng thành công đến nơi, vì ở đó dân chúng được tự do, hạnh phúc, bình đẳng thực sự.Giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Tại sao?3.Trong thời đại mới, cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo a. Cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng lãnh đạo “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu và theo chủ nghĩa ấy… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t2, tr 267268).  Chức năng, nhiệm vụ của Đảng lãnh đạo:+ Ra đường lối  định hướng, hướng dẫn quần chúng làm cách mạng.+ Tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng trong nước và quốc tế. Cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo (Đảng Cộng sản). Đảng đó lấy chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng  đường lối đúng  tập hợp tối đa lực lượng cách mạng  cách mạng thành công. => Hồ Chí Minh nỗ lực xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam.4. Lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc Hồ Chí Minh xác định lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân tộc. Đó là một lực lượng rộng lớn, bao gồm mọi giai cấp, tầng lớp (Xem Sách lược vắn tắt).+ Lực lượng cách mạng gồm những ai?+ <=> Lực lượng nòng cốt?+ Giai cấp lãnh đạo? Tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng cách mạng toàn dân tộc còn được thể hiện trong các quan điểm về xây dựng Đảng và nhà nước (Đảng và nhà nước phải “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”), trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh (tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện…)5. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành tích cực, chủ động và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc a. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo, vì: Cách mạng giải phóng dân tộc có vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới: + Cách mạng thuộc địa là một trong những cái cánh của cách mạng thế giới + Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở thuộc địa + HCM ví chủ nghĩa đế quốc như là con đỉa có hai vòi… Muốn giành thắng lợi, cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động, sáng tạo không ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của bên ngoài.b. Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc Đó là quan hệ bình đẳng, hỗ trợ nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước và khi đó, nó tác động tích cực tới cách mạng vô sản thế giới:Hồ Chí Minh: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh…, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t1, tr 36).6. CMGPDT phải được tiến hành bằng con đường bạo lực cách mạnga. Tính tất yếu của bạo lực trong chiến tranh giải phóng dân tộc Tại sao phải dùng bạo lực cách mạng? Do bản chất của chủ nghĩa thực dân, đế quốc là bạo lực phản cách mạng. Phương thức bất bạo lực đã từng thất bại ở Việt Nam. Nội dung bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh? Bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu chuộng hòa bình: Ta chỉ sử dụng bạo lực cách mạng khi hòa bình và độc lập dân tộc bị xâm phạm mà không thể giải quyết được bằng con đường hòa bình, đàm phán. Hồ Chí Minh không tuyện đối hóa đấu tranh quân sự, trái lại, bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn kết hợp nhiều hình thức đấu tranh nhằm hạn chế sự đổ máu cho cả đôi bên.b. Hình thái của bạo lực cách mạng trong chiến tranh cách mạng Việt Nam Khởi nghĩa toàn dân Chiến tranh nhân dân Kháng chiến toàn dân, toàn diện Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chínhKẾT LUẬN1. Với nhiều luận điểm sáng tạo, đặc sắc, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa MácLênin về cách mạng thuộc địa. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho thắng lợi của CMGPDT Việt Nam giành thắng lợi.CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN1. Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Để thực hiện luận điểm: kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, chúng ta phải làm gì?2. Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.3. Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh rằng, luận điểm: cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Xem thêm

4 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUẢN LÝ VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NƯỚC TA VỀ VẤN ĐỀ NÀY

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUẢN LÝ VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NƯỚC TA VỀ VẤN ĐỀ NÀY

tác xã – mua và bán – lập chung cũng được”.Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về hợp tác xã trước khi dân tộc giành dượcđộc lập. Đó là tầm nhìn chiến lược. Luôn luôn nghĩ về quyền lợi của nước,của dân, Người sớm ý thức tìm phương cách tổ chức nhân dân để họ tự giáccải thiện điều kiện lao động, cải thiện đời sống của chính họ và đấu tranhchống sự bóc lột của giai cấp thống trị. Bàn về hợp tác xã, Người đã trang bịcho quần chúng nhân dân cả lý luận và vũ khí để họ chuẩn bị tiến hành cách7mạng giải phóng dân tộc và dần tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hợp tác xã càngphát triển rộng rãi thì cách mạng càng đông lực lượng và càng bền vững vềmọi phương diện. Chuẩn bị xây dựng hợp tác xã cũng là một yếu tố quantrọng để xây dựng một nền kinh tế tự chủ. Nghiên cứu những tinh hoa mà nềnvăn minh nhân loại đã đạt được, hiểu rõ bản chất và những lợi ích do chúngđem lại, vận dụng chúng có chọn lọc vào con đường cách mạng của nướcmình, trực tiếp giúp cho dân mình cải tạo xã và cải thiện chính bản thân họ đểvươn tới cuộc sống mới, đó là nét đặc sắc, độc đáo trong tư tưởng và hànhđộng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Ngoài thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cònthừa nhận sự tồn tại khách quan, tất yếu, lâu dài của các thành phần kinh tếkhác. Người chỉ rõ: “Đối với người làm nghề thủ công và lao động rieng lẻkhác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướngdẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xãsản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”. Còn “Đối với những nhà tư sản côngthương. Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cảikhác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kếdân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nướckhuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức côngtư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”.
Xem thêm

37 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐÃ GẶP PHẢI NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI GÌ VỀ VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐÃ GẶP PHẢI NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI GÌ VỀ VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

TIERU LUẬN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐÃ GẶP PHẢI NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI GÌ VỀ VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là một trong những vẫn đề thời sự đối với hầu hết các nước. Xu hướng toàn cầu hoá được thể hiện rõ ở sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới về thương mại và về tài chính.Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hoá các nước giàu luôn có những lợi thế về lực lượng vật chất và kinh nghiệm quản lý. Còn các nước nghèo có nền kinh tế yếu kém dễ bị thua thiệt, thường phải trả giá đắt trong quá trình hội nhập.Là một nước nghèo trên thế giới, sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn.Đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được những cơ hội và thách thức mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể khước từ hội nhập. Chỉ có hội nhập mới giúp Việt Nam khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển kinh tế.Chính vì vậy mà đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề ra đường lối chiến lược: “Thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại”. Đến đại hội đảng VIII, nghị quyết TW4 đã đề ra nhiệm vụ: “giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập với khu vực và thế giới”.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Luận văn: Công nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 – 2013

LUẬN VĂN: CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1997 – 2013

Luận văn: Công nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 – 2013 Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp là ngành sản xuất giữ vai trò rất quan trọng. Ngành công nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phẩm phục vụ cho đời sống xã hội. Công nghiệp không những cung cấp hầu hết các máy móc, công cụ, tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội. Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, giải quyết các vấn đề xã hội và góp phần củng cố an ninh quốc phòng. Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng các sản phẩm của công nghiệp. Vì vậy, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì phát triển công nghiệp là một xu hướng tất yếu. Phát triển công nghiệp được coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Nhận thức rõ vai trò to lớn của công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong đường lối đổi mới của Đảng đã rất coi trọng vấn đề phát triển công nghiệp với phương hướng mục tiêu rõ rệt được đề ra trong. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp”. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển rõ rệt và đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội và kém phát triển, hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực, trong đó công nghiệp là ngành kinh tế đóng góp một vai trò quan trọng.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trên con đường đổi mới, Hà Nam không chỉ được biết đến là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh và
Xem thêm

116 Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XVIII

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XVIII

Thế kỷ X với sự xuất hiện của quốc gia Đại Việt là mốc son đánh dấu nền độc lập, tự chủ của dân tộc sau hơn 1000 năm dưới cai trị của phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên, từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, với mưu đồ bá chủ, dã tâm bành trướng; các triều đại phong kiến phương Bắc vẫn không ngừng tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Biết bao chiến tích oai hùng trước những triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, còn vang dậy trong lòng nhân dân Việt Nam và đi vào lịch sử nhân loại như những chiến công hiển hách nhất, sẽ mãi còn“lưu danh thiên cổ”.
Xem thêm

37 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP KIỂM ĐỊNH VIỆT NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP KIỂM ĐỊNH VIỆT NAM

1.Tính cấp thiết của chuyên đề.
Vốn là một trong những yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là tiền đề để các doanh nghiệp phát triển và tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Trong đó, vốn lưu động là bộ phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trước đây, đối với các doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, chế độ cấp phát vốn và giao nộp sản phẩm theo chỉ tiêu đã làm vô hiệu hóa tác dụng vai trò của vốn. Từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế, cùng với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý, cắt giảm nguồn ngân sách nhà nước, chuyển giao quyền tự chủ, nguồn vốn cho các doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Từ đó, các doanh nghiệp trở thành các đơn vị kinh tế độc lập, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở lên gay gắt. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là sự sống còn của các doanh nghiệp khi tìm chỗ đứng trên thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Giải Pháp Kiểm Định Việt Nam, em đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH Giải Pháp Kiểm Định Việt Nam"
Xem thêm

59 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN LUẬT TÀI CHÍNH

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN LUẬT TÀI CHÍNH

chi ngân sách nhà nước ở cấp mình, nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng,nhiệm vụ được PL quy định.Sự cần thiết của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước– Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tạo ra nguồn lực tài chính mang tính độclập tương đối cho mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các CN, NV của mình;đồng thời còn là động lực khuyến khích mỗi cấp chính quyền và dân cư ở địaphương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát triển địa phương.– Phân cấp quản lý NS tạo cho mỗi cấp chính quyền địa phương sự chủ động trongviệc tạo lập và sử dụng các nguồn lực TC cho các hoạt động QLNN được phâncấp.– P/cấp QL ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt gánh nặng TC cho CQTW, theo đóNSTW chỉ tập trung các nguồn lực TC để giải quyết các nhu cầu chi tiêu mang tínhhuyết mạch của cả QGTrong quá trình PT KTTT, các hoạt động KT – XH ngày càng đa dạng và phức tạp,CQĐP không thể QL mọi hoạt động một cách tập trung theo khuôn mẫu, cũng nhưkhông thể giải quyết được các vấn đề phát sinh tại mỗi địa phương. Chính vì vậy,xu hướng chung của các nước là ngày càng phân cấp nhiều hơn cho CQĐP trongQLHC NN, đặc biệt là lĩnh vực tài chính – NS .2.2. Nội dung chế độ phân cấp quản lý ngân sách nhà nướcPhân cấp quản lý ngân sách nhà nước thường được xem xét trên ba nội dung cơbản như sau:– Pcấpvề T/quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu – chingân sách nhà nước.– Phân cấp về vật chất – là sự phân chia giữa các cấp NS về các khoản thu và NVchi, cũng như các quy tắc về chuyển giao NS từ cấp trên xuống cấp dưới và ngượclại.
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty tnhh bắc thành

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH BẮC THÀNH

Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ta hiện nay, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có quyền tổ chức và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách độc lập tự chủ theo qui định của pháp luật. Họ phải tự hạch toán và đảm bảo doanh nghiệp mình hoạt động có lợi nhuận, và phát triển lợi nhuận đó, từ đó nâng cao lợi ích của doanh nghiệp, của người lao động. Đối với nhân viên, tiền lương là khoản thù lao của mình sẽ nhận được sau thời gian làm việc tại công ty. Còn đối với công ty đây là một phần chi phí bỏ ra để có thể tồn tại và phát triển được. Một công ty sẽ hoạt động và có kết quả tốt khi kết hợp hài hoà hai vấn đề này.
Do vậy, việc hạch toán tiền lương là một trong những công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp. Hạch toán chính xác chi phí về lao động có ý nghĩa cơ sở, căn cứ để xác định nhu cầu về số lượng, thời gian lao động và xác định kết quả lao động. Qua đó nhà quản trị quản lý được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm.
Xem thêm

45 Đọc thêm

QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI MÂU THUẪN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VỚI MÂU THUẪN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

MỤC LỤC
I. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 4
1. Quan điểm của chủ nhĩa duy vật về mâu thuẫn 4
2. Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển 7
II. Quy luật mâu thuẫn với hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại 8
1. Khái quát tình hình hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay 8
2. Những biểu hiện mâu thuẫn trong hệ thống ngân hàng 9
3. Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam sau khi có sự chuyển hóa của các mặt đối lập 17


I. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
1. Quan điểm của chủ nhĩa duy vật về mâu thuẫn
Nhận thức duy vật biện chứng về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác là nhận thức đúng đắn nhất, nó đã phát triển thành một quy luật Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt các mặt đối lập. quy luật thống nhất và đâu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của phép biện chứng. Theo V.I.Lenin, “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó còn đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đôi lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển. Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động. phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượngtrong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong.Mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau. Những mặt này đối lập với nhau nhưng lại liên hệ ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tượng khách quan mà còn là một hiện tượng phổ biến. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Không có sự vật hay hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và không có giai đoạn nào trong sự phát triển của sự vật, hiện tượng lại không có mấu thuẫn.
Mâu thuẫn này mất đi, mâu thuẫn khác lại hình thành. Theo Ph.Ăngghen,ngay hình thức đơn giản nhất của vật chất vận động cơ học, đã là một mâu thuẫn. Sở dĩ sự di động một cách máy móc và đơn giản ấy có thể thực hiện được chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa là ở nơi này, lại vừa ở nơi khác, vừa là ở trong một chỗ duy nhất, lại vừa không ở chỗ đó. Tất nhiên sự tồn tại của vật chất ở những hình thức vận động cao hơn lại càng bao hàm mâu thuẫn. Trong lĩnh vực tư duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng khiếu nhận thức vô tận ở bên trong con người với sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp giữa các thê hệ, sự nối tiếp đó rút ra với chúng ta, thực tế cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận.
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó. Do đó, cần phải phân biệt rằng bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. trong cùng một thời điểm, mỗi sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại nhiều mặt đối lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ phủ định và chuyển hóa lẫn nhau ( sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật), có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn thống nhất, được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứng cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định ràng buộc lân nhau, mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tôn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào. Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo nên. Ví dụ: Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trường là điều kiện cho sự tổn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nền kinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhưng nó lại hết sức quan trọng. Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể tổn tại với ý nghĩa là chính nó.
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hóa giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh chuyển hóa lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hóa, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến hành độc lập. Sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hóa tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Vì vậy, Lênin khẳng đỊnhsự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Xem thêm

17 Đọc thêm

NỘI DUNG ôn tập LỊCH sử 6

NỘI DUNG ÔN TẬP LỊCH SỬ 6

NỘI DUNG ÔN TẬP LỊCH SỬ 6 (HKII)1) Nguyên nhân làm bùng nổ các cuộc đấu tranh giành độc lập tự chủ của dân tộc ta từ thế kỉ IX? Do những chính sách cai trị bóc lột tàn bạo của các triều đại phong kiến phương Bắc.2) Một số cuộc đấu tranh giành độc lập tiêu biểu của dân tộc ta như:a) Cuộc khởi nghĩa bắt đầu ở Mê Linh,, dưới sữ lãnh đạo của Hai Bà Trưng và sự tham gia của nhiều nữ tướng.b) Năm 248, bùng nổ cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh bà được nhân dân loan truyền là thiên tướng giáng trần.c) Phùng Hưng là một hào trưởng địa phương giàu lòng yêu nước thương dân, ông được nhân dân tôn là Bố Cái đại vương.d) Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí liên kết với nhiều anh hung hào kiệt, nghĩa quân nhanh chóng làm chủ nhiều quận, huyện của nhà Lương, lập nên nước Vạn Xuân.e) Năm 938, Ngô Quyền tổ chức chống quân Nam Hán trên song Bạch Đằng.g) Năm 930931, Dương Đình Nghệ tổ chức đánh quân Nam Hán tiếp tục công cuộc tự chủ của họ Khúc.h) Khúc Thừa Dụ mở đầu cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ năm 905, Khúc Hạo tiếp tục đấu tranh giành quyền tự chủ năm 907.
Xem thêm

3 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI TRUNG ĐÔ

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI TRUNG ĐÔ

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như những tế bào của nền kinh tế mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần gạch ngói Trung Đô nói riêng thì sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố (nguồn vốn, nguồn nhân lực,…). Trong đó sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự hoạt động tài chính của chính bản thân doanh nghiệp hay nói cách khác là phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp mình. Với cơ chế của nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp được quyền tự chủ và độc lập về tài chính trong sự phát triển của doanh nghiệp mình, nó đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải có biện pháp hợp lý trong việc sử dựng nguồn nhân lực, nguồn vốn …của mình một cách hiệu quả nhất. Tất cả những yếu tố này quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty Cổ phần gạch ngói Trung Đô phải đương đầu với những thách thức, khó khăn trong hoạt động kinh doanh.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty, xuất phát từ tình hình thực tế của công ty, em xin trình bày bản báo cáo tổng hợp về sự ra đời, sự phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty như sau:
Xem thêm

31 Đọc thêm

XUẤT BẢN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

XUẤT BẢN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

B:CƠ SỞ LÝ LUẬN

“Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của một nền văn hóa,của một dân tộc. Đây là vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trên toàn thế giới. Hiện nay xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế và các nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, cộng với sự bùng nổ thông tin truyền thông đáng là nguy cơ đồng dạng hóa các nền văn hóa. Đó là nguy cơ trước mắt, vì sự đồng dạng hóa ấy dễ theo mô hình văn hóa của những nước có ưu thế lớn về mặt thông tin.
“Sự đồng hóa” mới này không những tai hại cho mỗi nền văn hóa riêng biệt, mà còn nguy hại cho cả nhân loại vì nó làm nghèo đi sự nảy nở các giá trị văn hóa đa dạng phong phú của loài người.
Sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc chẳng những giúp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mà còn rất cần thiết cho sự bảo vệ độc lập và tự do của mỗi dân tộc.
Nhìn lại quá khứ, dân tộc Việt Nam ta có lúc hàng thế kỉ hay hàng thập kỉ bị mất độc lập, nhưng nhờ tổ tiên ta ,nhờ các thế hệ cha anh chúng ta giữ được bản sắc văn hóa nên không những không hề bị đồng hóa mà còn bền bỉ nuôi dưỡng tinh thần quật khởi và cuối cùng đã dành lại được độc lập và củng cố độc lập của đất nước.
Hơn thế nữa bản sắc văn hóa là một sự giàu có, một động lực thúc đẩy mọi khả năng phát triển của loài người. Bởi vì nó kích thích mỗi dân tộc tự nuôi dưỡng bằng quá khứ, bằng truyền thống của mình đồng thời tiếp nhận những tinh hoa của các dân tộc khác phù hợp với đặc tính riêng của mình để thúc đẩy quá trình sáng tạo của bản thân mỗi dân tộc.
Tất cả nền văn hóa đều góp phần vào di sản chung của nhân loại nên bản sắc văn hóa dân tộc và sự đa dạng về văn hóa là gắn bó biện chứng với nhau.Văn hóa là đối thoại trao đổi kinh nghiệm. Sống trong cô đơn thì bất cứ nền văn hóa nào cũng sẽ tàn lụi. Nhưng trước mắt cần nhấn mạnh rằng cả cộng đồng nhân loại phải có nhiệm vụ giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
“Có thân phải giữ lấy thân
Có hồn dân tộc trăm phần phải lo”.
Đó là lời của nhà thơ Huy cận về vấn đề văn hóa được trích trong “suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”(nxb chính trị quốc gia).
Xem thêm

46 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN VÀ TÔI LUYỆN TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG CÁC THẾ KỈ PHONG KIẾN ĐỘC LẬP

PHÁT TRIỂN VÀ TÔI LUYỆN TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG CÁC THẾ KỈ PHONG KIẾN ĐỘC LẬP

Thế kỉ X, đất nước trở lại độc lập, tự chủ với lãnh thổ, tiếng nói. Thế kỉ X, đất nước trở lại độc lập, tự chủ với lãnh thổ, tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngưỡng riêng, cổ truyền. Đó đâu phải là một hiện tượng ngẫu nhiên.Nhưng, cuộc sống mới không còn đơn giản như ở thời xa xưa, “buộc nút dây mà làm chính sự”. Hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của các triều đại phương Bắc, đất nước hầu như bị chững lại trong cảnh nô lệ, lạc hậu, đói nghèo. Vươn lên về mọi mặt trong xây dựng đất nước vừa là yêu cầu bức thiết vừa là nghĩa vụ, là sự thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, cha anh. Nhưng, không phải chỉ như vậy, các triều đại phương Bắc vẫn chưa từ bỏ mưu đồ xâm chiếm các nước phương Nam. Nhiệm vụ giữ nước vẫn được đặt ra thường xuyên.Tình hình còn khó khăn, phức tạp hơn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trong quá trình phân hoá của chế độ phong kiến.Truyền thống yêu nước Việt Nam trong hơn 9 thế kỉ tiếp sau đã được tôi luyện và phát triển trong bối cảnh nói trên.Những cuộc kháng chiến thắng lợi không chỉ làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc với hàng loạt chiến công oanh liệt mà còn khắc sâu thêm tình yêu Tổ quốc trong lòng người dân Việt Nam ở miền xuôi cũng như miền núi.Sự nghiệp xây dựng và phát triển một nền kinh tế tự chủ và một nền văn hoá vừa gắn liền với truyền thống của tổ tiên thời xa xưa, vừa đổi mới ngang tầm thời đại, đòi hỏi con người không chỉ ở lao động và trí tuệ, tài năng thông thường mà còn ở sự thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm vươn lên, góp phần vào sự nghiệp giữ nước.Truyền thống yêu nước được tôi luyện và phát huy ngày càng cao. Nhưng, Việt Nam là một nước đa dân tộc. Sự nghiệp dựng nước và giữ nước không chỉ dành riêng cho một tộc người, một địa phương hay một nhóm người, một giai cấp nào mà là sự nghiệp của tất cả các tộc người sống trên đất Việt Nam. Chính vì vậy, truyền thống yêu nước Việt Nam luôn luôn gắn chặt với ý thức đoàn kết, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trên đất Việt Nam, đoàn kết tất cả các tộc người trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, trên bước đường phát triển của chế độ phong kiến, không ít kẻ trong giai cấp thống trị vì quyền lợi của giai cấp mình, vì sự giàu sang phú quý của bản thân mình mà đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của nhân dân hoặc phản bội Tổ quốc hoặc đẩy nhân dân lao động vào cảnh chiến tranh, đói nghèo, khổ cực, tối tăm.Trong lúc đó, nhân dân ngày càng hiểu rằng nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc gắn liền với cuộc sống hằng ngày của họ. Truyền thống yêu nước là sản phẩm hàng nghìn năm lao động và đấu tranh của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đâu phải vì một lợi ích nào đó mà quên lãng. Lòng yêu nước của họ thật giản dị và trong sáng, song không phải vì thế mà họ không hiểu gì về giai cấp thống trị. Truyền thống yêu nước dần dần mang thêm yếu tố nhân dân, vì dân và thương dân. Nếu như Trần Hưng Đạo khẳng định “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” là "thượng sách để giữ nước” và Nguyễn Trãi : “Nhớ thuở Lam Sơn đọc võ kinh ; Bấy giờ chí đã ở dân lành” thì người dân lao động cũng hiểu “Mến người có nhân là dân ; chở thuyền, lật thuyền cũng là dân”.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 VĂN 8

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 VĂN 8

- Nêu luận điểm khái quát: Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy lòngtự hào dân tộc.2. Thân bài: (4 điểm)Chứng minh nguyên lí nhân nghĩa là nguyên lí cơ bản làm nền tảng; cốtlõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là: Yên dân và trừ bạo.- Yên dân là làm cho dân được hưởng thái bình, hạnh phúc; muốn yên dânthì phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn.- Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện tư tưởng tiến bộ, tích cực, nhânquyền dân tộc.- Nhân nghĩa gắn liền với tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm bảovệ độc lập chủ quyền dân tộc.Gia sư Thành Đượcwww.daythem.edu.vn+ Lịch sử dân tộc có nền văn hiến lâu đời.+ Có lãnh thổ rõ ràng.+ Có phong tục tập quán riêng.+ Có chế độ chủ quyền riêng song song tồn tại với các triều đạiTrung Quốc.- Sức mạnh Đại Việt là sức mạnh nhân nghĩa, sức mạnh của độc lập dântộc, sức mạnh của chính nghĩa.3. Kết bài: (1 điểm)- Khẳng định Nước Đại Việt ta là bản tuyên ngôn độc lập, tự chủ dân tộc,là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc.- Suy nghĩ của bản thân.Hướng dẫn cho điểm:Điểm 5-6: Bài làm đầy đủ các yêu cầu, trình bày rõ ràng, mạch lạc, nắm
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÀI LIỆU THUYẾT TRÌNH VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

TÀI LIỆU THUYẾT TRÌNH VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

 Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước-nhân nghĩa-đoànkết của dân tộc; đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tinvào con người:- Phải có lòng khoan dung, độ lượng, thương yêu, tin tưởng con người.-Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì hạnh phúc của nhândân là nguyên tắc tối cao.- Luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thực hiện đại đoàn kết vớiphương châm “nước lấy dân làm gốc”.2. Về đoàn kết quốc tế:A.Nguyên tắc : Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích có lý, có tình:- “Có lý”: Là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải xuất phát từ lợi ích chung của cáchmạng thế giới.-“Có tình”: là sự tôn trọng lẫn nhau, thông cảm, chia sẻ, trên tinh thần tình cảm của những người cùng chung lý tưởng, cùngchung mục tiêu đấu tranh, cùng hành động vì lợi ích chung.Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường :trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”; “muốnngười ta giúp cho thì trước hết mình phải tự mình giúp lấy mình đã”; và Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánhsinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
Xem thêm

10 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban đầu ’’ 26; 297.
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích lũy tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH, HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa, Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung
Xem thêm

74 Đọc thêm

tiểu luận cao học QUAN điểm của ĐẢNG, NHÀ nước TA về PHÁT TRIỂN văn HOÁ TRONG GIAI đoạn mới

tiểu luận cao học QUAN điểm của ĐẢNG, NHÀ nước TA về PHÁT TRIỂN văn HOÁ TRONG GIAI đoạn mới

NỘI DUNG

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI


1. Quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá trong giai đoạn mới
1.1 Phương hướng chung về phát triển văn hóa
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” .
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” .
Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” .
Về phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa hiện nay, chúng ta cần nhấn mạnh hai điểm sau:
Thứ nhất, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chúng ta phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đây là thời kỳ hoà bình và xây dựng đất nước nhưng không phải là thời kỳ nghỉ ngơi, hưởng lạc mà là thời kỳ mở ra một cuộc chiến đấu mới chống lại nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước phát triển giàu mạnh. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, chủ nghĩa yêu nước, sự thông minh và giàu năng lực sáng tạo của nhân dân, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường là cơ sở tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh của dân tộc trong quá trình đấu tranh gian khổ, vất vả, đầy thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, giáo dục truyền thống yêu nước, bổ sung những nội dung mới vào khái niệm yêu nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng cách mạng và tiến bộ của thời đại; giáo dục tinh thần tự hào, tự tin dân tộc, tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn; bồi dưỡng quyết tâm chính trị, xây dựng ý chí và bản lĩnh của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu mới này là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Sau 1986 nước ta đã chuyển mô hình kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thể hiện sự đổi mới về tư duy và ngày càng hoàn thiện cả về lí luận cũng như thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây cũng là một quá trình về sự nhận thức đúng hơn các quy luật khách quan, chuyển từ một nền kinh tế mang nặng tính chất hiện vật sang nền kinh tế hàng hoá với nhiều thành phần, khôi phục các thị trường để từ đó các quy luật thị trường phát huy tác dụng điều tiết hành vi các tác nhân trong nền kinh tế thay cho phương pháp quản lí bằng các công cụ kế hoạch hoá trực tiếp mang tính pháp lệnh, xoá bỏ bao cấp tràn lan của nhà nước để các doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trong sản xuất kinh doanh. Nhà nướcthực hiện quản lí nền kinh tế thông qua pháp luật và điều tiết thông qua các chính sách và các công cụ kinh tế vỉ mô Chuyển sang nền kinh tế thị trường là chuyển sang nền kinh tế năng động, có cơ chế điều chỉnh linh hoạt hơn, thúc đẩy sự phân phối, sử dụng các nguồn lực và các tác nhân của nền kinh tế hoạt độmg hiệu quả Mặt khác sự chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề còn mới trong lịch sử kinh tế nước ta. Nên việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường là sự cần thiết.
Xem thêm

23 Đọc thêm

BÀI TUYÊN TRUYỀN NGÀY 22 12

BÀI TUYÊN TRUYỀN NGÀY 22 12

Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của toàn xã hội và sức mạnh tổng hợp củanền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.Bốn là, hình thành thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Thế trận quốc phòng toàndân, thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc được triển khai rộng khắp, chặt chẽ và liên hoàn;thế trận lòng dân được củng cố.Năm là, lực lượng vũ trang mà nòng cốt là Quân đội nhân dân có chất lượng tổng hợp và sứcmạnh chiến đấu ngày càng cao, phát huy được vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Trong quá trình đổi mới, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang đã được nâng lên mộtbước, đã kịp thời ngăn chặn, làm thất bại các vụ gây rối, bạo loạn chính trị, vô hiệu hóa hoạtđộng của các đối tượng phản động trong và ngoài nước; giữ vững ổn định chính trị, trật tự antoàn xã hội đồng thời trực tiếp tham gia có hiệu quả vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xãhội, xây dựng đất nước.III. XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINHNHUỆ, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI; XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNGMẠNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG THỜI KỲ MỚITrong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.Vai trò siêu cường của Mỹ suy giảm và xu thế hình thành thế giới đa cực ngày càng rõ sẽ tácđộng lớn đến tình hình chính trị và kinh tế thế giới.Nước ta sau nhiều năm liên tục đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, gần đây nhịp độ tăng trưởngkinh tế có chậm lại, nhưng tình hình chính trị của nước ta ổn định, vai trò, vị thế của nước ta trêntrường quốc tế được nâng cao. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nước ta cũng đứng trước nhữngmặt không thuận, trong đó các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị gia tăng các hoạtđộng chống phá Đảng và Nhà nước ta, đẩy mạnh thực hiện “âm mưu diễn biến hòa bình”, bạoloạn, lật đổ; lợi dụng những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền… để lái nước ta đichệch hướng xã hội chủ nghĩa.Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệĐảng, Nhà nước và nhân dân, đòi hỏi các lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nói riêngphải tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựngQuân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm
Xem thêm

19 Đọc thêm