TRI THỨC VÀ NỀN KT TRI THỨC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Tri thức và nền KT tri thức":

Đặc trưng của nền kinh tế tri thức và khái quát

ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KHÁI QUÁT

Đặc trƣng chủ yếu của nền kinh tế tri thức : Thứ nhất, Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế hậu công nghiệp; Thứ hai, Công nghệ cao, ICT được ứng dụng rộng rãi và đóng vai trò đặc biệt quan trọng; Thứ ba, Nền kinh tế tri thức chuyển dịch cơ cấu theo hướng gia tăng nhanh các ngành có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; Thứ tư, Tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là lực lượng sản xuất trực tiếp và quyết định; Thứ năm, Có cấu trúc mạng lưới toàn cầu; Thứ sáu, Tốc độ biến đổi rất nhanh của công nghệ và nhanh chóng ứng dụng trong các ngành sản xuất; Thứ bẩy, Đầu tư mạo hiểm có xu hướng gia tăng mạnh trong nền kinh tế tri thức; Thứ tám, Đặc tính, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức thay đổi căn bản
Xem thêm

1 Đọc thêm

XUẤT KHẨU TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC, TIỂU LUẬN

XUẤT KHẨU TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC, TIỂU LUẬN

- 4. Vốn sản xuất, trên 70% là vốn về con người.Do bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức, lao động chủ yếu làlao động trí óc nên tại các nước phát triển, lao động phổ thông cũngnhư hình thức sản xuất truyền thống bị giảm thiểu và trở nên thiếu hụtPage 8đối với việc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng cũng như các mặt hàngcần sử dụng lao động phổ thôngĐiều này dẫn tới việc xuất hiện xu hướng xuất khẩu tư bản độcquyền sang các nước đang phát triển để tận dụng nguồn nhân công,nguyên liệu giá rẻ ở những nước nàyCùng với đó, sau năm 80, tình hình chính trị cũng như chấtlượng lao động của các nước đang phát triển cũng dần được cải thiện,tạo niềm tin cho những nhà tư bản độc quyền đầu tư vốn vào sản xuấtCuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 cũng mang đến hệquả các nhà tư bản độc quyền bị mất lòng tin vào việc đầu tư tại cácnước tư bản phát triển mà chuyển qua đầu tư vào những nước có nềnkinh tế phát triển nhanh hơn nhằm đem lại lợi nhuận lớn hơn so vớiđầu tư vào các nước phát triển.Điểm đến của các nhà tư bản độc quyền trong giai đoạn này cóthể kể tới là Trung Quốc, Việt Nam, Braxin, Ấn Độ, v.v..Trong báo cáo trên, IIF đã dự báo dòng vốn tư nhân đổ vào cácthị trường đang nổi sẽ tăng lên 1,118 nghìn tỷ USD trong năm 2013,tăng 3,5% so với con số ước tính khoảng 1,108 nghìn tỷ USD của năm2012. Theo IIF, các điều kiện tiền tệ ở các nền kinh tế phát triển vẫnkhá dễ dàng. Kết hợp với các điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng ởcác nền kinh tế đang nổi sẽ tạo nên một xu hướng tăng trưởng đáng kểcho dòng chảy của nguồn vốn trong năm 2012 và xu hướng này sẽ còntiếp tục trong suốt năm 2013, cũng như trong năm 2014, với lượng
Xem thêm

26 Đọc thêm

NỀN KINH TẾ TRI THỨC XU THẾ MỚI CỦA XÃ HỘI THẾ KỈ XXI VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA VIỆT NAM

NỀN KINH TẾ TRI THỨC XU THẾ MỚI CỦA XÃ HỘI THẾ KỈ XXI VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA VIỆT NAM

1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập kỉ 80 đến nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,... nền kinh tế thế giới đang biến đổi một cách sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động. Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ.
Chỉ trong một thời gian ngắn mà những khái niệm như “kinh tế thông tin”, “kinh tế tri thức” tưởng như xa lạ với chúng ta đã nhanh chóng trở thành hiện thực trên phạm vi toàn cầu, và đối với nước ta đòi hỏi hội nhập vào nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu đó đã trở thành điều không thể cưỡng lại. Kinh tế tri thức chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế đang phát triển tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đón bắt và tận dụng cơ hội. Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra thách thức lớn hơn bao giờ hết đối với các nước phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là khoảng cách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”.
Là một nền kinh tế mới đang trong quá trình định hình, kinh tế tri thức trở thành đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và hoạch định chính sách trong và ngoài nước. Nhiều vấn đề xoay quanh được đặt ra như: Nền kinh tế tri thức thực chất là nền kinh tế như thế nào? Những đặc trưng của nó là gì? Việt Nam đã tiếp cận nền kinh tế tri thức ra sao? Để có thể tạo dựng hoặc tiến sâu hơn vào nền kinh tế tri thức, phát triển kinh tế tri thức nước ta phải làm những gì?... Những câu hỏi này thực sự là những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng và cấp thiết, cần được luận giải thấu đáo, nhất là trong khi nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa và từng bước phát triển kinh tế tri thức. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu và làm rõ phần nào những nội dung nêu trên, em quyết định chọn đề tài: “Nền kinh tế tri thứcxu thế mới của xã hội thế kỉ XXI và khả năng tiếp cận của Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này, em mong muốn hệ thống hoá bước đầu những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tri thức, rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về phát triển kinh tế tri thức đồng thời góp phần đưa ra quan điểm đánh giá về tình hình tiếp cận kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu
Vì đây là một đề tài rộng nên khoá luận này chỉ giới hạn trong khuôn khổ mục đích nghiên cứu nêu trên. Trong từng vấn đề cụ thể, khoá luận cũng không thể đề cập tất cả mọi khía cạnh mà chỉ tập trung vào những khía cạnh mà em đánh giá là quan trọng hơn cả.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: liệt kê, thống kê, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgic và lịch sử với tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về sự xuất hiện và những nghiên cứu chung về kinh tế tri thức
Chương II: Tình hình tiếp cận nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
Chương III: Quan điểm và giải pháp phát triển nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
Trong quá trình thực hiện khoá luận, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ quý báu và tạo điều kiện thuận lợi từ các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế Ngoại Thương đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Duy Liên.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
Sinh viên
Phạm Thục Quyên
Xem thêm

90 Đọc thêm

DẠY HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC MỚI

DẠY HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC MỚI

Khái niệm: Xã hội tri thức là một hình thái xã hội Kinh tế, trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định đối với nền kinh tế hiện đại và các quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất của nó, cũng như đối với các nguyên tắc tổ chức của xã hội.
Đặc điểm của xã hội tri thức:
Tri thức là yếu tố then chốt của lực lượng kiến tạo xã hội hiện đại, của lực lượng sản xuất và tăng trưởng KT.
Thông tin và tri thức tăng lên một cách nhanh chóng kéo theo sự lạc hậu nhanh của tri thức, công nghệ cũ.
Sự trao đổi thông tin và tri thức được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin, được toàn cầu hoá.
Xem thêm

192 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN I

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN I

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã mang lại những thành tựu vĩ đại và những thành tựu ấy đã tạo điều kiện để từng bước hình thành một nền kinh tế mới: kinh tế tri thức (Knowledge Economy). Muốn phát triển nền kinh tế tri thức thì cần thông qua giáo dục đào tạo, vì giáo dục đào tạo mới có thể tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực mà trước hết là nguồn lực của con người cho sự phát triển kinh tế xã hội, giúp người lao động nâng cao trình độ học vấn ứng dụng và sáng tạo khoa học công nghệ tốt hơn. Từ đó, yêu cầu về đào tạo con người có tri thức được đặt lên trên vai của hệ thống giáo dục.
Xem thêm

118 Đọc thêm

 KINH TẾ TRI THỨC

KINH TẾ TRI THỨC

Kịnh tế tri thức, vận dụng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

19 Đọc thêm

LỒNG GHÉP GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ TRONG GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC THCS

LỒNG GHÉP GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ TRONG GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC THCS

Môn Hóa học cung cấp cho học sinh những tri thức Hóa học phổ thông cơ bản,
hoàn chỉnh, đầy đủ về các chất, sự biến đổi chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học với môi trường và con người. Những tri thức này rất quan trọng giúp học sinh nhận thức một cách khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển nhận thức, năng lực hành động, hình thành nhân cách người học một cách toàn diện: có tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo, năng động, sáng tạo, tự tin...
Giảng dạy bộ môn Hóa học ở Trường THCS có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học. Môn học này cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phần làm nền tảng cho việc xã hội hóa giáo dục, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, kĩ năng vận dụng các tri thức..., chuẩn bị cho học sinh học lên và đi vào cuộc sống lao động.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

TIỂU LUẬN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

Bài tiểu luận Khảo Cổ HọcĐề tài: Qúa trình hình thành và phát triển của khảo cổ học Việt NamPHẦN MỞ ĐẦUKhảo cổ học là môn học cơ sở của ngành lịch sử cung cấp cho sinh viên nhữngkiến thức cơ bản về nguồn gốc và sự tiến hóa văn hóa nhân loại qua các thời đại từđá cũ đến giai đoạn hình thành nhà nước. Đặc thù của khoa học khảo cổ là phụcdựng lại đời sống của con người trong quá khứ thông qua việc nghiên cứu sử liệuvật thật trong bối cảnh tự nhiên và văn hóa. Từ những nghiên cứu này, Lịch sửnhân loại được trình bày trước hết qua cách thức tiếp cận từ những di tích, di vậtthực “mắt thấy, tai nghe” sẽ giúp sinh viên hình dung rõ hơn về cuộc sống của dântộc và nhân loại từ khởi đầu cho tới thời cận đại. Môn học chú trọng tới việc cậpnhật tri thức và những diễn giải mới về nguồn gốc và sự tiến hóa nhân loại nhằmlàm nổi bật luận điểm về tính thống nhất và sự phát triển đa dạng của văn hóangười cũng như nhấn mạnh vai trò của các di sản vật thể và phi vật thể trong đờisống nhân loại hiện nay.Bên cạnh việc cung cấp tri thức cụ thể về giai đoạn văn hóa, từng nền văn hóa,từng di tích, di vật, môn học còn giúp sinh viên làm quen với một ngành khoa học,những phương pháp và cách thức tiếp cận, nghiên cứu vấn đề, kể cả nhữngphương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại và mối quan hệ của khoa họckhảo cổ với các khoa học xã hội, nhân văn và kỹ thuật khác. Trong môn học nàythông qua một số phần cụ thể, công việc của một nhà khảo cổ từ điền dã đếnnghiên cứu hậu khai quật cũng sẽ được giới thiệu nhằm mục đích cho thấy đây làmột ngành khoa học luôn cố gắng đạt tới kết quả khái quát và khách quan cao nhấttrong diễn giải quá khứ.Từ việc xác định tầm quan trọng của khảo cổ học bài tiểu luận của tôi xin điểmlại và nét về quá trình hình thành và phát triển của khảo cổ học việc nam để thấyrõ bối cảnh ra đời và bước phát triển của khảo cổ học trong tiến trình lịch sử.Dosự hiểu biết còn hạn chế nên Bài tiểu luận “Qúa trình hình thành và phát triểncủa khảo cổ học Việt Nam” còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp củagiáo viên.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Tiểu luận: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC

TIỂU LUẬN: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO MỘT CHIẾN LƯỢC KINH TẾ DỰA VÀO TRI THỨC
Thế giới đã bước sang năm 2002 , loài người đang đi những bước đi vững chắc của mình trong công cuộc làm chủ thế giới .Những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật , những phát minh , những thành tựu trong mọi lĩnh vực không ngừng gia tăng và ngày càng được áp dụng nhiều trong thục tiễn. Đất cước chúng ta cùng tồn tại trong một thế giới không ngừng biến đổi vận động ấy.Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự biến đổi diễn ra sâu sắc mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử .Tính đến nay đất nước đã trải qua hai thập liên của nền kinh tế tri thức ,các công nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được những thành tựu kì diệu mà trước đâu vài thập liên con người chưa dự báo được và cũng ít dãm mơ ước tới . Đặc biệt là trong thập liên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như công nghệ web, internet , thực tế ảo , thương mại điện tử ...Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học : công nghệ gen , nhân bản vô tính ... đang tác động mạnh mẽ ,sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con gnười vào thời đại tri thức . Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhưng vấn đề của nền kih tế tri thức luôn luôn đặt ra những thách thức cho các nhà nghiên cứu khoa học .Nước ta so với thế giới vẫn là một nước nghèo vì thế mà nền kinh tế tri thức vẫn còn gặp phải những mặt yêú kém và hạn chế . Chính vì vậy mà chúng ta phải nghiên cứu nền kinh tế tri thức tìm hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức , phù hợp với điều kiện ,hoàn cảnh đất nước ,phù hợp với khu vực ,với thế giới và thời đại.Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta phải phân tích nền kinh tế tri thức giữa thời cơ và thách thức đối với đất nước ta hiện nay .Trong tổng thể các mối liên hệ ,trong sự phát triển vận động không ngừng của nền kinh tế tri thức cần phải sử dụng quan điểm lịch sử cụ thể , quan điểm rút ra từ hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng triết học Mac-lênin vào quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức giữa thời cơ và thách thức của nước ta hiện nay. Với sự hiểu biết hạn hẹp ,trong bài viết này Em chỉ xin chỉ ra những điều kiện ảnh hưởng đến nền kinh tế tri thức và nền kinh tế tri thức nước ta phát triển như thế nào dưới tác động trong nhưng điều kiên lịch sử cụ thể. PHẦN II- NỘI DUNG CHÍNH. CHƯƠNG I – CƠ SỞ NGHIÊN CỨU. I. Cơ sở lí luận. 1)Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật. Nội dung nguyên lý: Mọi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên, xã hội, tư duy đều nằm trong mối liên hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau ràng buộc nương tựa, qui định lẫn nhau làm tiền đề điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của nhau. Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra giữa các yếu tố, các mặt khác của qú trình của mỗi sự vật hiện tượng. Mối liên hệ trước đây là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới biểu hiện trong quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy. Mối quan hệ của sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng và
Xem thêm

14 Đọc thêm

CHIẾU LẬP HỌC NÓI LÊN HOÀI BÃO GÌ CỦA VUA QUANG TRUNG ?

CHIẾU LẬP HỌC NÓI LÊN HOÀI BÃO GÌ CỦA VUA QUANG TRUNG ?

Chiếu lập học nêu lên hoài bão muốn có một nền giáo dục quốc dân phát triển Chiếu lập học nói lên hoài bão gì của vua Quang Trung ? Trả lời: Chiếu lập học nêu lên hoài bão muốn có một nền giáo dục quốc dân phát triển để đào tạo được nhiều nhân tài, tri thức để xây dựng đất nước hùng mạnh.

1 Đọc thêm

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY TỰ HỌC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM VẬT LÍ THPT

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY TỰ HỌC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM VẬT LÍ THPT

phẩm của dạy học còn gồm giá trị và sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên ( GV )nữa. Thành tố này có chức năng quản lí là chính trong quá trình dạy học.5. về phương diện tâm sinh lí và sư phạm, dạy học gắn liền với sự phát triểncon người và xã hội. Nó là hình thức phổ biến của sự phát triển của cá nhân và cộngđồng. Mỗi cá nhân trong bất kì xã hội nào cũng đều đồng thời phát triển dưới hai hìnhthức :1/ Hình thức cá biệt, đặc thù, của riêng người đó, do gen và môi trường hoạtđộng cá nhân của người đó qui định.2/ Hình thức phổ biến, chung cho cả thế hệ hoặc vài thế hệ người thuộc cộngđồng nhất định - tức là dạy học của cộng đồng đó. Như vậy, ngoài hình thức cá biệt, cánhân nào cũng phát triển dưới một hình thức nữa, có tính chất phổ biến, đó là dạy học.Nhờ chức năng tạo dạng cho sự phát triển cá nhân, thông qua phát triển nhân tố conngười có định hướng mà dạy học cũng có chức năng hình thức như vậy đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội nói chung.Dạy học có chức năng phát triển người, song điều đó không có nghĩa nó lànguyên nhân của sự phát triển, không phải nó đẻ ra trí tuệ, tình cảm, hoạt động và giátrị ở cá nhân. Chức năng đó có tính hình thức ( tạo dạng - formating ) : định hướng, tạođiều kiện, làm bộc lộ các tiềm năng. Sự phát triển cá nhân và dạy học có quan hệ phụthuộc chặt chẽ trong thời đại hiện nay, kỉ nguyên bước vào xã hội học tập, nền kinh tếtri thức. Mặc dù vậy, giữa chúng không phải quan hệ nhân quả. Dạy học muốn trở thànhnguyên nhân thực sự của tiến trình và thành tựu phát triển ở cá nhân nào đó, thì trướchết nó phải giúp cá nhân chuyển học vấn của mình thành khả năng và nhu cầu học độclập, thành giá trị bên trong, thành hoạt động và ý chí tự giáo dục. Dạy học bắt buộc phảithông qua học tập mới thực hiện được chức năng phát triển. Có thể có chuyện dạy họcmà không có sự phát triển nào cả. Điều đó do 2 lẽ :1/ Nếu bản thân trẻ không học, nhất là không có hoạt động học tập;2/ Bản thân phương thức dạy học không có tính phát triển.Thí dụ, nếu dạy học trẻ Bảng cửu chương từ 5 tuổi cho đến khi nó 40 tuổi, thì dù
Xem thêm

60 Đọc thêm

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

1.Tính cấp thiết của đề tàiTừ những năm 90 của thế kỷ 20, ở các nước phát triển, nền kinh tế bắt đầu có sự chuyển dịch nhanh, từ nền kinh tế công – nông sang nền kinh tế tri thức. Lý thuyết về quản trị con người cũng dần dần được thay thế bằng lý thuyết quản trị tri thức. Tuy mới ra đời chỉ hơn 10 năm nhưng Quản trị tri thức đang trở thành xu hướng toàn cầu. Vị trí của ngành quản trị non trẻ này đã và đang được khẳng định bởi sự thành công của nhiều Tập đoàn hàng đầu thế giới trong việc ứng dụng. Dựa trên nền tảng triết lý quản trị tri thức, những giá trị vật chất và tinh thần, chỉ số lợi nhuận và thị phần của những công ty áp dụng đã khiến thế giới doanh nghiệp ngưỡng mộ. Tiêu biểu cho những bước tiến thần kỳ đó là các tổ chức hàng đầu như: IBM, Coca – Cola, Microsoft, Google hay Yahoo. Ở Châu Á, chúng ta cũng được chứng kiến những bước nhạy vọt đầy mạnh mẽ với một phương thức quản trị tương tự trên phạm vi quốc gia như Singapor, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Malaysia. Ngày nay, Quản trị tri thức đã trở thành một xu hướng tất yếu và phổ biến ở các nước phát triển trong các loại hình kinh doanh của xã hội từ kinh tế, chính trị, giáo dục, quốc phòng,… Các doanh nghiệp nếu muốn phát triển nhanh và bền vững có thể lấy quản trị tri thức làm chiến lược lâu dài. Quản trị tri thức được thực hiện sẽ giúp cho các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, có tính kế thừa và có thể truyền dạy trong tất cả các lĩnh vực: quản trị kinh doanh, quản trị hệ thống thông tin, khoa học thông tin và thư viện…v.v Việt Nam – một đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ cũng đã nhận thức được tầm quan trọng và chiến lược của quản trị tri thức. Các đề tài về Quản trị tri thức cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các đề tài này lại chủ yếu xoay quanh Quản trị tri thức trong doanh nghiệp mà chưa đề cập tới quản trị tri thức trong các trường Đại học. Dựa trên những kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và thực tế nhận thức được, nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học chúng em quyết định chọn đề tài Đẩy mạnh quản trị tri thức tại các Trường đại học – Nghiên cứu tình huống tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm đề tài cho nghiên cứu khoa học của mình.
Xem thêm

85 Đọc thêm

QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Khoá luận tốt nghiệpvực III lại tăng lên khá mạnh từ 61% lên 69,5%GDP. Sự chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế của Nhật Bản đã tác động tới xu hướng và tiến trình cải cách cơ cấu kinh tế củacác quốc gia trong khu vực bởi Nhật Bản là một cường quốc kinh tế của khu vực và thếgiới. Trong những năm qua Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư hàng đầu, là bạnhàng và cũng là nhà cung cấp ODA lớn cho Đông Nam á. Điều này cho thấy mức độtác động của những điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế Nhật Bản tới ASEAN là khôngnhỏ.3.1.1 Hợp tác làm gia tăng nhu cầu đầu tư ra bên ngoài qua đó khai thác lợi thếkhoa học và nguồn vốnNgay từ những năm 80 của thế kỷ trước nền kinh tế Nhật đã bước vào giaiđoạn chín muồi của một nền kinh tế công nghiệp hoá. Các ngành tiêu biểu cho nềnkinh tế công nghiệp phát triển đã đạt được trình độ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, cùngvới sự phát triển đó đặt ra hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội làm cho chi phí sản xuấtsản phẩm ngày càng tăng dẫn đến giảm lợi thế so sánh trong cạnh tranh. Trong khi đócông nghệ mới và sự phát triển của khoa học đã và đang mở ra những lĩnh vực vàngành kinh doanh mới phù hợp với điều kiện của xã hội phát triển. Nền kinh tế Nhậtchuyển từ nền công nghiệp chín muồi sang nền kinh tế tri thức. Trong quá trìnhchuyển đổi đó một mặt Nhật Bản phải tập trung đầu tư nghiên cứu công nghệ mớinhằm xây dựng các ngành công nghiệp mới, mặt khác các công ty Nhật phải đẩynhanh quá trình chuyển giao công nghệ kỹ thuật và quản lý thông qua đầu tư trực tiếptrong những ngành đòi hỏi nhiều lao động và nguyên liệu. Đây là cơ hội gia tăng thuhút vốn đầu tư và tạo lập, phát triển những ngành công nghiệp như sắt, thép, ô tô, ximăng, hoá chất đối với những nước đang phát triển và đang trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam.Trên thực tế Nhật là một trong những quốc gia hàng đầu trong thực hiện đầu tưra nước ngoài. Quá trình bành trướng kinh tế thông qua FDI của Nhật được thực hiệnngay từ những năm 1950, song quy mô và tốc độ tăng mạnh là thời kỳ những năm1970, 1980 và đặc biệt là từ năm 1985 lại đây. Quá trình đồng yên tăng giá cùng với
Xem thêm

20 Đọc thêm

CHỦ ĐỀ PHÂN TÍCH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NHÂN VIỆT NAM MARKETING MANAGEMENT

CHỦ ĐỀ PHÂN TÍCH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NHÂN VIỆT NAM MARKETING MANAGEMENT

rằng người Việt thông minh, sáng tạo, nhưng nhiều khi các sáng tạo đó mang nặngtính chất manh mún, đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.Vậy thì gốc vấn đề là ở đâu ? Trước hết, một số không ít doanh nhân có trình độhọc vấn hạn chế, kỹ năng kinh doanh thấp. Theo kết quả cuộc điều tra của MPDF vàdoanh nhân nữ nói trên cho thấy chỉ có khoảng 25% nữ chủ doanh nhân có trình độ đạihọc hoặc là trên đại học, trong khi có tới 32.5% chưa học tới phổ thông trung học. Từnhững thống kế về doanh nhân nữ ta có thể suy ra tỷ lệ tương tự đối với nam doanhnhân. Đó là lỗ hổng rất lớn, hạn chế khả năng và tầm nhìn của doanh nhân trong thếgiới kinh doanh hiện đại ngày nay và do đó giảm hiệu quả và tính sáng tạo của doanhnghiệp. Lý giải ở góc độ khác, Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi đạo Khổng và phầnnào nữa là đạo Phật. Khổng giáo vốn trọng lễ nghi, thứ bậc, hình thức. Phật giáokhuyến khích an nhiên, tự tại, đơn giản. Nhiều người cho rằng cả hai trào lưu tư tưởngnày đều phản tự do. Quan niệm như vậy là cực đoan, nhưng cũng phải thừa nhận rằng,hai luồng tư tưởng này đều không mấy khuyến khích những con người năng động,sáng tạo, đổi mới, sẵn sàng chiến đấu, vươn lên trong môi trường cạnh tranh tự dokhốc liệt.Ngày nay chúng ta thường nghe quá nhiều đến những lý thuyết trong quản trịdoanh nghiệp: quản trị sản xuất, quản trị nhân sự, quản trị chiến lược, quản trịmarketing,… Rồi rằng doanh nghiệp cần phải “nhắm vào thị trường, hướng tới kháchhàng”, phải đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất, giá cạnh tranh nhất, phải xâydựng một đội ngũ công nhân lành nghề, đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiêntiến. Và giờ đây hình như đó đang là đích trong tư duy chiến lược của các nhà doanhnhân Việt.Cần phải có cái nhìn toàn cục hơn, trong bối cảnh một “thế giới phẳng”, mộtchiến lược “đại dương xanh” và một nền “kinh tế tri thức” thì ta “giật mình” nhận thấyrằng: tập đoàn Nike, Reebook không có một nhà máy nào cả, Nokia đa phần sản phẩmMade in China, … Cả một tòa nhà khổng lồ của Nike ở giữa trung tâm New York chỉquản lý 3 mảng chính: Hệ thống nghiên cứu và Phát triển (R&D); Hệ thống phân phối
Xem thêm

10 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN VÀ KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN VÀ KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Những biến đổi sâu sắc mang tính cách mạng của nền kinh tế thế giới khoảng vài thập niên trở lại đây do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại được đánh dấu bởi sự ra đời của một nền kinh tế mới nền kinh tế tri thức. Mặc dù còn rất non trẻ, nhưng nền kinh tế này đã sớm chứng tỏ ưu thế vượt trội và tiềm năng phát triển to lớn của nó. Tuy nhiên, về phương diện lý luận, kinh tế tri thức vẫn đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu, trước hết là đối với các nhà nghiên cứu kinh tế và chính trị học trên thế giới. Bài viết này giới hạn ở một số suy nghĩ bước đầu dưới góc độ phương pháp luận về một vấn đề mà các nhà nghiên cứu đang quan tâm bản chất của thông tin.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Đề Tài: Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

ĐỀ TÀI: CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦUTrong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực để phục vụ cho những lợi ích sống còn của mình, con người ngày càng khám phá ra bí mật của thế giới ấy, càng nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của nó, cũng như tìm ra cách vận dụng những quy luật đó vào các lĩnh vực hoạt động của mình, trước hết là sản xuất ra của cải vật chất, lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của đời sống xã hội. Bằng những tri thức kinh nghiệm và những tri thức lý luận tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới, con người đã sáng tạo ra những công cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo. Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài người với tự nhiên, là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử.Trong xã hội hiện đại, nguyên nhân hàng đầu của tăng năng suất lao động, của sự đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng là do con người đã áp dụng đã áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất. Điều đó được thể hiện trước hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cường chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất.Tất cả các quả trình đó có sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua những cơ chế của chúng và cùng một hướng phát triển đã làm cho các qui trình sản xuất trở nên nhịp nhàng, tự động hoá và đạt hiệu quả cao. Song rõ ràng đó không phải là qui trình vận động một cách tự phát, được khẳng định một lần cho xong, mà là các quá trình luôn được vận động, thông qua sự can thiệp và tính năng động, tích cực của chủ thể.Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh tế tri thức đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lượng sản xuất xã hội. Đối với những nước đang phát triển “con đường công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về mặt kinh tế. Bởi vì khoảng cách giữa các nước giàu nghèo chính là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức. Trong bối cảnh đó các nước “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công nghệ, giáo dụcđào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, khả năng sử dụng tri thức, mới có thể rút ngắn được khoảng cách với các nước tiên tiến. Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng.
Xem thêm

20 Đọc thêm

CÂU HỎI TRI THỨC

CÂU HỎI TRI THỨC

6dơi phát ra âm thanh từ bộ phận nào của cơ thể?Cổ họngThánh địa Mỹ Sơn gắn với kinh đô cổ nào tronglịch sử ?Trà KiệuThuyết Chính danh do ai đề xuất?Khổng TửSông ĐàNgời pháp gọi con sông gì ở Miền Bắc là consông Đen?Quốc kỳ nào có in hình đảo?Sông Nil bắt nguồn từ hồ gì?Hitle đợc mệnh danh là ngời có bàn tay gì?Cho biết tên thiên tài hội hoạ Trung Quốc và là danhnhân văn hoá thế giới?Trục của TráI Đất hợp với mặt phẳng xich đạo mộtgóc bao nhiêu độ?Khi tăng nhiệt độ từ 0-4 độ thì thể tích của nuớc sẽthay đổi thế nào?Cuốn: Nguyên lý toán học của triết học tựnhiên-Tác phẩm được xem là đặt nền móngcho cơ học nói riêng và vật lý nói chung?
Xem thêm

5 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CÁC CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ KINH TẾ TRI THỨC VÀ VẤN ĐỀ ĐẨY MẠNH CÔNG CNH HĐH Ở VIỆT NAM LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ PHÁT TRIỂN Ở TP THÁI NGUYÊN

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CÁC CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ KINH TẾ TRI THỨC VÀ VẤN ĐỀ ĐẨY MẠNH CÔNG CNH HĐH Ở VIỆT NAM LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ PHÁT TRIỂN Ở TP THÁI NGUYÊN

LỜI NÓI ĐẦU

Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học.... Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính... đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nước nghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu. Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới.
Góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế, tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức, tìm hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực,với thế giới và thời đại trong tổng thể các mối liên hệ, trong sự phát triển vận động không ngừng của nền kinh tế tri thức. Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Kinh tế tri thức và vấn đề đẩy mạnh công CNHHĐH ở Việt nam và vấn đề đổi mới của ngành giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Xem thêm

21 Đọc thêm

ĐIỀU TRA TRI THỨC SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở XÃ LỆ VIỄN H SƠN ĐỘNG T BẮC GIANG

ĐIỀU TRA TRI THỨC SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở XÃ LỆ VIỄN H SƠN ĐỘNG T BẮC GIANG

Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã lệ viễn h sơn động t bắc giang
Xem thêm

66 Đọc thêm