ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Địa vị pháp lí của các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước":

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THẾ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT

Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất Bài tập học kỳ Luật Hành chính
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hành chính
Các cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước. Việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, chức năng, địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ giúp chúng ta phân biệt chúng với các cơ quan Nhà nước khác và để thấy được vì sao cơ quan hành chính Nhà nước lại là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước. Do đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích khái niêm, đặc điểm của các cơ quan hành chính Nhà nước. Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất”.

NỘI DUNG

I – KHÁI NIỆM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1. Định nghĩa

Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổchức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước

2.1. Đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước.

Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, các biện pháp cưỡng chế nhà nước và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng. Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện A kí hợp đồng xây mới trụ sở ủy ban nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch ủy ban nhân dân là người kí kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng.

Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, ….

Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện quyền lực theo nguyên tắc: Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phối hợp giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giống như cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; có quyền thực hiện các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế; có quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm…

Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008.

2.2. Đặc điểm đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước. (hoạt động chấp hànhđiều hành). Hoạt động chấp hànhđiều hành được hiểu là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và áp dụng luật vào thực tế đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.Đây là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan nhà nước.Các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hoàn thành chức năng cơ bản của mình.Ví dụ: Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm ông Trần Quốc Vương vào chức viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động này nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của hệ thống tư pháp nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tốt hơn…

Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở và tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, sau đó là các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp.Giữa các cơ quan hành chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng cơ quan hành chính cấp trên.Ví dụ: Bộ và cơ quan ngang bộ phải chịu sự quản lý của Chính phủ. Chính phủ lãnh đạo công tác của bộ và cơ quan ngang bộ, quy định về cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp thực hiện của bộ và cơ quan ngang bộ.

Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Chính phủ có thẩm quyền chung đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong nước. Ủy ban nhân dân các cấp chỉcó thẩm quyền trong phạm viđịa phương mà mình quản lý. Ví dụ: Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà mình quản lý, nếu ra ngoài phạm vi của mình quản lý thì quyết định đó không còn hiệu lực.

Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra. Ví dụ: Quốc hội trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ tướng chính phủ, phê chuẩn đề nghị của thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra… Mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực.

Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo, các bệnh viện trực thuộc Bộ y tế; các tổng công ty, công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công thương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải…Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, bảo đảm công bằng, vì lợi ích chung của xã hội.

II – CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THỂ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT

1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước

Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan chức năng khác nhau và cơ quan chức năng của cơ quan hành chính nhà nước được xác định là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành điều hành).Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý thường xuyên trên mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý của nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về xã hội…. thông qua các hình thức được pháp luật quy định.

Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính khác nhau. Đó có thể là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc cũng có thể là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn có chức năng quản lý hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong một phạm vi rất hẹp khi cần thiết, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng công tố và kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… và việc thực hiện hoạt động đó nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước.

Các cán bộ nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, liên tục trong nhiệm kì công tác của họ. Nhưng hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà họ đang công tác, không thể có chuyện cán bộ có quyền độc lập, vượt quá thẩm quyền pháp luật quy định cho cơ quan họ đang công tác.

Một số cá nhân và tổ chức cũng được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng họ chỉ được trao quyền ấy trong một số trường hợp cụ thể, như cơ trưởng máy bay khi đang bay, thuyền trưởng tàu, thuyền đang hoạt động trên biển…

2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất

Các quan hệ thuộc phạm vi quản lí hành chính được chia thành 3 nhóm cơ bản sau:

+ Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

+ Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình.

+ Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.

Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhóm quan hệ thứ nhất.Bởi lẽ đây là nhóm quan hệ khá phong phú, diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó, cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.Ví dụ: Trong khi Quốc hộicơ quan quyền lực nhà nước cao nhất họp một năm hai kì (Luật tổ chức Quốc hội 2001) để ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, luật và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thì Chính phủcơ quan hành chính nhà nước cao nhất họp thường kì mỗi tháng một lần (Luật tổ chức Chỉnh phủ 2001) để giải quyết những vấn đề phát sinh đang xảy ra hàng ngày trong thực tiễn đời sống xã hội. Đó là những hoạt động quản lí của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (như Chính phủ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (như Chính phủ với Bộ công an) hay với cơ quan chuyên môn trực thuộc của nó; của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương đó (như Ủy ban nhân dân quận Đống Đa với Trường Học Viện hành chính); của cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc (như Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật Hà Nội); của cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội, kinh tế; và hoạt động quản lí của cơ quan hành chính với công dân người nước ngoài, người không quốc tịch (như giữa cơ quan có thẩm giải quyết khiếu nại với người khiếu nại)....Các hoạt động quản lí nhà nước nêu trên luôn diễn ra hàng ngày hàng giờ, để đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên để xây dựng đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Hơn nữa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân) có sự thống nhất c
hặt chẽ với nhau, lại được trao trong tay quyền hành pháp nên đương nhiên là chủ thể quản lí hành chính thường xuyên nhất.

Đối với nhóm quan hệ thứ 2, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình ví dụ như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức...Hoạt động này chỉ tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình.

Nhóm quan hệ thứ 3 cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong một số trường hợp pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan nhà nước khác, hay các tổ chức cá nhân...nhưng đây không phải là hoạt động quản lí hành chính nhà nước thường xuyên mà chỉ khi được pháp luật quy định. Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo ( Điều 39 Luật xử lí vi phạm hành chính).

3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn

Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước.

Ở Việt Nam hiện nay gồm có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ).

+ Ủy ban nhân dân các cấp:

+ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là cấp tỉnh)

+ UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (hiện nay có 48 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 quận, 46 thị xã và 556 huyện – gọi chung là cấp huyện)

+ UBND xã, phường, thị trấn (hiện nay có 1366 phường, 625 thị trấn, 9121 xã gọi chung là cấp xã)

Bên cạnh đó, để giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình còn có một đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước.

4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước

Các hình thức quản lí hành chính nhà nước bao gồm:
Hình thức mang tính chất pháp lí: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý.

Hình thức không mang tính pháp lý: áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật.

Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có quyền năng thực hiện tất cả các hình thức quản lý trên. Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành chứa những quy định mang tính khái quát cao. Trong khi hoạt động quản lí hành chính nhà nước bao hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, rất rộng lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ cụ thể hóa thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: Chính phủ được ban hành nghị quyết (như nghị quyết Nghị quyết số 13NQCP của Chính phủ : Về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường), nghị định (Nghị định 1292013NĐCP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế); bộ trưởng được ban hành thông tư (Thông tư 092013TTBTC của Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của quản lí thị trường); ủy ban nhân dân được ban hành quyết định, chỉ thị (Quyết định số 212011QĐUBND của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai).

Về hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: chủ tịch ủy ban nhân dân được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về hoạt động khác mang tính chất pháp lý: áp dụng các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật; đăng kí những sự kiện nhất định; lập và cấp một số giấy tờ nhất định. Ví dụ: ủy ban nhân dân xã cấp giấy đăng kí khai sinh, giấy đăng kí kết hôn,...

Về áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp: đảm bảo sự kết hợp đúng đắn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách trong hoạt động của Chính phủ, ủy ban nhân dân; chuẩn bị và tiến hành các phiên họp của Chính phủ,...

Về thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật: chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành nghị định, làm báo cáo, công tác lưu trữ hồ sơ,...Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) không ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, không thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý.

Cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát tuy cũng thực hiện các hình thức trên nhưng không nhiều như cơ quan hành chính nhà nước và chủ yếu để thực hiện chức năng chính của các cơ quan đó (xét xử, kiểm sát). Chẳng hạn, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất hạn chế, chỉ được quy định cho Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và văn bản do các chủ thể này ban hành cũng rất hạn chế, thường là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

KẾT LUẬN

Tóm lại, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước, là chủ thể quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lí hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, về cơ cấu tổ chức, xác định mục tiêu, về đội ngũ cán bộ, công chức…, các cơ quan này còn có những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lí. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tích cực đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải cách cơ cấu tổ chức của các cơ quan này, đồng thời mỗi người dân cũng có ý thức tham gia hoạt động quản lý ở địa phương một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài..
Xem thêm

13 Đọc thêm

BÀI TẬP NHÓM LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT: NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

BÀI TẬP NHÓM LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT: NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Bài tập nhóm Lý luận Nhà nước và pháp luật

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ TÀI

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động dựa trên những nguyên tắc, điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật nhằm vận hành quyền lực nhà nước hay thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của nhà nước. Theo đó, những những nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên lý có tính nền tảng chỉ đạo toàn bộ quá trình thiết lập, hoạt động của từng loại cơ quan nhà nước cũng như của tổ chức bộ máy nhà nước.

Hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) rất phong phú và nhiều loại, trong đó những nguyên tắc cơ bản có tính bao quát đối với toàn thể bộ máy nhà nước thường được ghi nhận trong hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước. Ở các nước XHCN nguyên tắc cơ bản đó bao gồm: nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của nhân dân vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc bình đẳng đoàn kết giữa các dân tộc. Trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN.

Hiện nay, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về nguyên tắc này. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nguyên tắc này là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bất kì sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Loại ý kiến thứ hai cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung “một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỉ luật cao. Ngoài ra, còn có loại ý kiến thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên. Như vậy, có thể thấy đa số các tác giả cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ. Đây là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo tâp trung thống nhất của cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương, giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới và địa phương trong quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nước. Đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của nhân viên các cơ quan nhà nước và nâng cao ý thức kỷ luật, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước.

Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: Đây là nguyên tắc hiến vị vì nó được quy định trong Hiến pháp. Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992 “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Không những ở nước ta, các nước XHCN cũng ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và cũng xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN nói chung và bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nói riêng, vì vậy, với bài tập nhóm tháng thứ hai này, nhóm B2 lớp 3417 chúng em quyết định chọn đề tài: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Liên hệ với Việt Nam với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN.

NỘI DUNG CHÍNH

Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện dựa trên ba mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy; cơ chế hoạt động và chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề khen thưởng và kỉ luật.

Về mặt tổ chức, quyền lực nhà nước tập trung nhất vào nhân dân vì nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực ấy được nhân dân thực hiện một cách trực tiếp, hoặc thông qua bộ máy nhà nước mà cơ quan cao nhất thực hiện quyền lực nhà nước là Quốc hội do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm và báo cáo trước quốc hội. Đến lượt mình, các hệ thống cơ quan nhà nước khác đều trực thuộc hoặc chịu sự chỉ đạo của một trung tâm cơ quan cao nhất của hệ thống mình. Ở các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân chủ được áp dụng trong lĩnh vực tổ chức bộ máy đều xuất phát từ nguyên lý: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống cơ quan khác. Ở trung ương, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mọi cơ quan khác đều bắt nguồn từ Quốc hội, phải báo cáo, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ở địa phương, các Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mọi cơ quan khác đều chịu trách nhiệm trước HĐND và chịu sự giám sát của HĐND. Tính tập trung là biểu hiện quan trọng của bộ máy nhà nước nhưng sự tập trung đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở của chế độ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra trước giám sát của nhân dân. Nguyên tắc này thể hiện ở chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước nói chung, giữa trung ương và với địa phương, giữa các bộ phận trong mỗi cơ quan nhà nước và trên bình diện chung nhất là giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân

Ở Việt Nam, Hiến pháp 1992 có quy định rõ ở Điều 2: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”; Điều 6:” Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”; Và Điều 8: “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.”

Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với chế độ bầu cử, nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, HĐND các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ. Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm. Điều này cũng được quy định rõ tại Điều 7 Hiến pháp 1992.

Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân. Ở địa phương, những vấn đề quan trọng của địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định. Trên cơ sở quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lí của địa phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới). Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể từng địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các quy định của trung ương (và cấp trên).

Về mặt hoạt động, nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở việc phân định rõ ràng chức năng, thẩm quyền và mối quan hệ công tác giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp trên và các cơ quan nhà nước ở địa phương, cấp dưới nhằm bảo đảm sự hoạt động thống nhất, thông suốt của bộ máy nhà nước. Cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng nhất, về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên. Trong phạm vi thẩm quyền các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan cấp dưới tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề cụ thể của địa phương và cấp mình. Các cơ quan nhà nước trung ương, cấp trên có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan địa phương, cấp dưới, thậm chí có thể đình chỉ, huỷ bỏ quyết định của các cơ quan địa phương, cấp dưới của mình nếu những quyết định đó trái với luật định, nhưng đồng thời cơ quan trung ương, cấp trên cũng phải tạo điều kiện cho các cơ quan địa phương, cấp dưới phát huy quyền làm chủ, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề, gớp phần vào sự nghiệp chung của đất nước.

Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyên bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình. Những vấn đề cá nhân có quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp do HĐND cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp.

Nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng trong tổ chức và hoạt động trong các cơ quan nhà nước khác nhau. Có thể phác hoạ hình thức thể hiện nguyên tắc này trong từng loại cơ quan nhà nước như sau:

Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các đại biểu dân cử có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Các văn bản của Quốc hội và HĐND các cấp có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan cùng cấp và dưới cấp. Tất cả những vấn đề thuộc quyền hạn của Quốc hội và HĐND các cấp đều được thảo luận một cách dân chủ, công khai trong các kì họp và quyết định theo đa số (trừ một số vấn đề đặc biệt được quyết định khi có ít nhất 23 tổng số đại biểu biểu quyết tán thành).

Đối với cơ quan hành chính nhà nước, nguyên tắc này thể hiện: Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm (đối với Thủ tướng), phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ) theo đề nghị của Thủ tướng (sau khi đã được tập thể Chính phủ quyết định). Chính phủ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định để thi hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số 8 nhóm vấn đề quan trọng, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì sẽ thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết. Thủ tướng có quyền quyết định cá nhân những vấn đề khác (Điều 20, Luật tổ chức Chính phủ nắm 2001). Uỷ ban nhân các cấp do HĐND cùng cấp bầu ra. Người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên có quyền phê chuẩn nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp về việc bầu UBND; có quyền điều hành hoạt động, miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp. UBND thảo luận 6 nhóm vấn đề quan trọng. Chủ tịch UBND quyết định những vấn đề còn lại thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND. Đối với các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ làm việc theo chế độ Thủ trưởng, bảo đảm tính dân chủ. Bộ trưởng có quyền quyết định các công việc thuộc phạm vi quản lý của bộ và chịu trách nhiệm về những quyết định đó, Bộ trưởng chịu trách nhiệm về những công việc do Bộ trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm liên đới về những công việc đã phân cấp cho chính quyền địa phương nhưng do Bộ không thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên và hoạt động theo chế độ Thủ trưởng. Tập trung dân chủ không phải là cơ quan cấp trên làm thay hoặc “lấn sân” cơ quan cấp dưới, đồng thời cũng không phải là việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho cơ quan cấp trên.

Trong tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện rất đa dạng như chánh toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Chánh toà án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước HĐND cùng cấp, trả lời chất vấn của HĐND. Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Toà án các cấp. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Toà án quân sự cấp quân khu, khu vực. Việc xét xử ở Toà án có Hội thẩm tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Thẩm phán với Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang hang với Thẩm phán. Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, toà án xét xử công khai (trừ một số trường hợp đặc biệt). Toà án đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Toà án đảm bảo cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử…

Đối với viện kiểm sát nhân dân (KSND), nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện mang tính đặc thù. Viện trưởng viện KSND tối cao do quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm, chịu sự giám sát của quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước quốc hội. Viện trưởng viện KSND địa phương do viện trưởng viện KSND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chịu sự giám sát của HĐND cùng cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. Viện kiểm sát do viện trưởng lãnh đạo, viện trưởng viện KSND các địa phương, viện trưởng viện Kiểm sát Quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng viện KSND tối cao. Viện KSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của viện KSND cấp dưới.

Để áp dụng có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN cần chú trọng xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề kịp thời, đúng đắn, khách quan và khoa học. Các chủ trương, quyết định của cấp trên phải được thông báo kịp thời cho cấp dưới, để cấp dưới nắm được đúng tinh thần chỉ đạo của cấp trên, từ đó chủ động giải quyết các vấn đề đúng pháp luật và đáp ứng đúng yêu cầu của cấp trên. Các hoạt động của cấp dưới phải báo cáo kịp thời và đầy đủ cho cấp trên để cấp trên nắm được và có sự chỉ đạo đối với cấp dưới. Đồng thời phải đảm bảo chế độ kỷ luật nghiêm minh trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước cấp trên phải thực hiện kiểm tra và xử lí các vi phạm một cách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích và khen thưởng kịp thời các đơn vị cá nhân có nhiều sáng kiến, thành tích. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ cũng có nghĩa là phải kiên quyết đấu tranh với thói tập trung quan liêu, bệnh vô tổ chức, vô chính phủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chủ yếu như trên nhưng khi thực hiện trong các cơ quan nhà nước khác nhau, trong các ngành và lĩnh vực khác nhau thì nó lại mang tính chất và đặc điểm khác nhau. Thí dụ: việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các cơ quan văn hóa – sản xuất có những đặc điểm riêng so với việc thực hiện những nguyên tắc này trong các cơ quan an ninh, quốc phòng. Hơn nữa, khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải xuất phát từ tình hình và nhiệm vụ của từng giai đoạn tuỳ theo thái độ, tình hình kinh tế sản xuất mà vận dụng cho thích hợp. Chẳng hạn như khi đất nước đã chuyển sang thời kì xây dựng trong hoà bình thì không thể xây dựng nguyên tắc tập trung dân chủ như trong thời kì chiến tranh. Nguyên tắc tập trung dân chủ cần được bổ sung những nội dung mới phù hợp với cuộc sống luôn biến đổi, năng động.

Đối với Việt Nam, thực trạng áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ đã đạt được những thành tựu, đáng chú ý nhất là trong việc đổi mới tư duy nhận thức về nội dung và yêu cầu của tập trung dân chủ trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập như: chưa phân định rõ chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, của cá nhân trong chỉ đạo điều hành; tập trung dân chủ trong quan hệ giữa các cấp cơ quan chưa rõ ràng, nhất là yếu tố tập trung chưa được đảm bảo làm cho trật tự, kỉ cương lỏng lẻo, nảy sinh tình trạng “trên bảo dưới không nghe”; tư tưởng về tập trung bao cấp trong cán bộ công chức còn khá nặng nề, nhất là các cấp chính quyền địa phương làm cho bộ máy trì trệ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa các bộ, ngành còn chồng chéo, tập trung còn thiếu đồng bộ trong khi dân chủ chưa thực sự được phát huy.

Giải pháp:

Thiết lập các hình thức cụ thể về trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân.
Giảm cấp phó để tập trung quyền lực vào người đứng đầu, đồng thời để xác định rành mạch hơn thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu.
Kiên trì khẳng định vị trí vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

KẾT LUẬN

Có thể nói dân chủ là bản chất của nhà nước XHCN. Có bảo đảm dân chủ mới có thể phát huy trí tuệ và sức mạnh của tập thể, phát huy tính chủ động và sức sáng tạo của nhân dân. Tuy nhiên nếu quá đề cao yếu tố dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, vô chính phủ… Do vậy, dân chủ phái gắn liền với tập trung. Trong quản lý nhà nước, quản lý sản xuất đỏi hỏi phải có sự tập trung quyền lực, có tập trung mới quản lý được sản xuất, mới thiết lập được trật tự xã hội. Tuy nhiên nếu quá tập trung sẽ dẫn tới tập trung quan liêu, lạm quyền, độc đoán, vì vậy tập trung phải đi liền với dân chủ. Như vậy, tập trung dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất không thể tách rời. Vấn đề quan trọng của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỉ lệ kết hợp tối ưu hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một hoạt động thường xuyên trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn

XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn
Xem thêm

46 Đọc thêm

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCThạc sỹ. Nguyễn Duy LongTrường Chính trị Trần Phú Hà TĩnhK4. Đại Nài. TP Hà TĩnhĐT: 039.885053NR: 039.858575; DĐ: 0913029682E-mail: longlawyer2004@yahoo.comTỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCI. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCII. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚCI. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC1. Khái niệm về tổ chức lao động khoa học.2. Tổ chức lao động khoa học.3. Mục đích.4. Ý nghĩa1. Khái niệm về tổ chức lao độngLà một quá trình do con người thực hiện các biện pháp lao động cụ thể thông qua các công cụ lao động tác động lênđối tượng lao động nhằm đạt đước mục đích của quá trình lao động.2. Tổ chức lao động khoa họcLà quá trình con người thực hiện các biện pháp lao động một cách hợp lý, đảm bảo tính khoa học, áp dụng nhữngthành tựu khoa học tiên tiến nhất để đạt được mục đích lao động, không gây lãng phí về thời gian, sức lực và tiếtkiệm được của cải vật chất cho xã hội.3. Mục đíchĐạt hiệu quả tối ưu về kinh tế;Đạt hiệu quả tối ưu về xã hội;Đạt hiệu quả tối ưu về tâm sinh lý;Đạt hiệu quả tối ưu về kỹ thuật.4. Ý nghĩa+ Tạo điều kiện để cán bộ, công chức phát huy tối đa khả năng và trình độ chuyên môn, nâng cao năng suất laođọng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.+ Giảm tối đa biên chế và các bộ phận thừa, khắc phục được tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, góp
Xem thêm

2 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

(LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM(LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM(LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM(LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG) THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGƯỜI CÓ TÀI NĂNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Xem thêm

25 Đọc thêm

(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

(LUẬN ÁN TIẾN SĨ) PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam(Luận án tiến sĩ) Pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Xem thêm

172 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TẾ TỈNH VĨNH PHÚC

Giám sát hành chính (hay còn gọi là giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước) bao gồm giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp và giám sát xã hội (giám sát của các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan báo chí v.v...). Mục đích của giám sát hành chính là phát hiện các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, ngăn ngừa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạc, thực hiện mục tiêu quản lý hành chính nhà nước, góp phần hỗ trợ cho hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp. Với vai trò quan trọng đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có ý nghĩa hết sức to lớn và cần thiết.
Xem thêm

130 Đọc thêm

VỀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG

VỀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG

MỤC LỤC
PHẦN A: SƠ LƯỢC VỀ SÁCH CỦA TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG “VỀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC”. TẠI SAO PHẢI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC. 1
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC. 2
1. Lý luận về đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước. 2
2. Lý luận về bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. 4
II: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ HIỆU QỦA THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC. 5
1. Bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thi hành một chính sách cụ thể 5
2. Bộ chỉ số hiệu quả quản trị của chính quyền (GEI) 5
3. Bộ tiêu chí của OECD đánh giá hiệu quả hoạt động của chính phủ. 6
4. Bộ chỉ số nhà nước pháp quyền 8
5. Thưc tiễn và kinh nghiệm đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính ở một số nước cụ thể. 10
III. THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 13
1. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. 13
2. Thực trạng hoạt động đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. 14
3. Thực trạng các công cụ đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. 17
IV. KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 21
1. Những yêu cầu về nội dung bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. 21
2. Đề xuất bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước 23
3. Đề xuất quy trình và điều kiện áp dụng bộ chỉ số 24
V. TẠI SAO PHẢI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC. 25
PHẦN B: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ PAPI CHỈ SỐ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ, HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM. KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG MÔ HÌNH TẠI VIỆT NAM. 30
I. Mô hình chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) 30
1. Giới thiệu 30
2. Phương thức đánh giá 31
3. Nội dung đánh giá 31
II. Khó khăn khi áp dụng mô hình chỉ số PAPI tại Việt Nam 35
1. Đánh giá sơ bộ về khó khăn khi áp dụng 35
2. Kết luận. 39
PHẦN C: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ PCI CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM. KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG MÔ HÌNH TẠI VIỆT NAM. 42
I. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 42
1. Khái quát chung về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI. 42
2. Quá trình áp dụng nghiên cứu tại Việt Nam. 43
3. Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. 44
4. Ý nghĩa của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 53
II. Khó khăn khi áp dụng chỉ số năng lực cạnh trạnh PCI 58
1. Quá trình Nghiên cứu và điều tra 58
2. Các doanh nghiệp tham gia trả lời phỏng vấn 59
3. Chưa sử dụng hiệu quả chỉ số năng lực cạnh tranh PCI 60
PHẦN D: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ PAR INDEX CHỈ SỐ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM. 61
I. Mục đích, Yêu cầu 62
1. Mục đích 62
2. Yêu cầu 62
II. Cấu trúc PAR INDEX. 62
1. PAR INDEX cấp Bộ 62
2. PAR INDEX cấp Tỉnh 63
III. Đối tượng và phương pháp đánh giá, xác định chỉ số cải cách hành chính 64
1. Đối tượng 64
2. Phương pháp đánh giá, xác định 64
3. Nội dung của PAR INDEX 64
4. Kết quả PAR INDEX 2015 65
IV. Kết luận 66


PHẦN A:
SƠ LƯỢC VỀ SÁCH CỦA TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG
“VỀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC”.
TẠI SAO PHẢI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
Đánh giá hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả thi hành nói riêng của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động quan trọng, thiết yếu trong công tác chỉ đạo, điều hành của bộ máy nhà nước.Các hoạt động cải cách, đổi mới theo đường lối của Đảng, cũng như các hoạt động chỉ đạo điều hành thường nhật, thường niên sẽ không thể hiệu quả, sát với thực tiễn nếu như việc đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng không khách quan, chính xác và đầy đủ. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới, cải cách, quản lí và chỉ đạo, điều hành của chính nền hành chính nhà nước thì việc đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của CQHCNN là tất yếu. Để việc đánh giá này được khách quan toàn diện, có sức thuyết phục, làm cơ sở cho hoạt động quản lí, điều hành của nhà nước, phục vụ các chương trình cải cách đổi mới thì các chủ thể được trang bị các bộ tiêu chí và bộ chỉ số đánh giá được thiết kế một cách khoa học.
Và cho đến nay, những bộ tiêu chí và bộ chỉ số đánh giá đó được khái quát lại và cung cấp những lý luận về đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của CQHCNN trong cuốn sách “về bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước” của tác giả Nguyễn Văn Cương (chủ biên).Về nội dung của sách bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước gồm có 4 chương:
Chương 1: những vấn đề lý luận về bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước.
Chương 2: kinh nghiệm quốc tế trong việc đánh giá hiệu qủa thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước.
Chương 3: thực trạng việc xây dựng và áp dụng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 4: kiến nghị xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
Bốn chương sẽ được tóm tắt những nội dung chủ yếu dưới đây.
Xem thêm

66 Đọc thêm

4 ĐỀ TRẮC NGHIỆM THI CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

4 ĐỀ TRẮC NGHIỆM THI CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Đề số 1
Câu 1. Tài chính công ở nước ta không có vai trò nào dưới đây?
a. Thực hiện công bằng xã hội.
b. Bảo đảm kỷ luật tài khóa tổng thể.
c. Tài chính công góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển có hiệu quả và ổn định.
d. Tài chính công bảo đảm cho hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Câu 2. Nội dung nào dưới đây không phải là nguyên tắc của quản lý tài chính công ở nước ta?
a. Nguyên tắc hiệu quả.
b. Nguyên tắc phân phối theo lao động.
c. Nguyên tắc thống nhất.
d. Nguyên tắc công khai, minh bạch.
Câu 3. Chính phủ nước CHXHCN VN không có nhiệm vụ, quyền hạn nào dưới đây?
a. Quyết định những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
b. Đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện những quyết định của Chính phủ;
c. Thống nhất công tác đối ngoại.
d. Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ.
Câu 4. Nội dung nào dưới đây là đặc điểm đặc thù của nhà nước pháp quyền VN?
a. Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá.
b. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
c. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
d. Thực hiện tinh giản biên chế trong cơ quan nhà nước.
Câu 5. Tổ chức nào dưới đây thuộc bộ máy hành chính nhà nước?
a. Văn phòng Quốc hội.
b. Toà án Nhân dân Tối cao.
c. Bộ Giáo dục và Đào tạo.
d. Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Câu 6. Nội dung nào dưới đây không phải là đặc điểm của cơ quan nhà nước ta?
a. Là một tổ chức công quyền có tính độc lập tương đối với các cơ quan nhà nước khác.
b. Có hình thức và phương pháp hoạt động do của pháp luật qui định.
c. Thực hiện phân cấp trong quản lý nhà nước.
d. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian, thời gian hiệu lực và đối tượng chịu tác động
Câu 7. Đặc điểm nào dưới đây không phải của văn bản quản lý nhà nước?
a. Được ban hành đúng thẩm quyền theo qui định của pháp luật.
b. Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau.
c. Văn bản phải được tuyên truyền, phổ biến.
d. Văn bản quản lý nhà nước phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ban hành.
Câu 8. Hãy chọn phương án đúng với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
a. Quyết định, chỉ thị.
b. Thông tư, chỉ thị.
c. Thông tư.
Xem thêm

10 Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC VĂN THƯ VÀ TÀI LIỆU LƯU TRỮ

VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC VĂN THƯ VÀ TÀI LIỆU LƯU TRỮ

được hình thành như một điều tất yếu. Tuy mỗi cơ quan, tổ chức có chức năng,nhiệm vụ riêng nhưng đều có một đặc điểm chung là trong quá trình hoạt động đềusản sinh những giấy tờ liên quan và những văn bản, tài liệu có giá trị đều được lưugiữ lại để tra cứu, sử dụng khi cần thiết. Bởi đây là những bản gốc, bản chính, làcăn cứ xác nhận sự việc đã xảy ra và có giá trị pháp lý rất cao. Việc soạn thảo, banhành văn bản đã quan trọng, việc lưu trữ, bảo quản an toàn và phát huy giá trị củatài liệu lưu trữ còn quan trọng hơn nhiều. Do đó, trong hoạt động quản lý công tácvăn thư, lưu trữ được xem là "huyết mạch" của mỗi cơ quan, tổ chức.Đối với các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các cơ quan hànhchính nhà nước ở Việt Nam nói riêng, công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ, có vai tròvô cùng quan trọng hoạt động quản lý trên mọi lĩnh vực của các cơ quan. Chính vìthế, ngay từ những ngày đầu nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh, Chủ tịch
Xem thêm

15 Đọc thêm

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND XÃ LIÊN TRUNG

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND XÃ LIÊN TRUNG

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do viết báo cáo 1
2. Đối tượng, phạm vi 1
3. Mục tiêu 2
4. Nhiệm vụ 2
5. Phương pháp tìm hiểu 2
6. Bố cục 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1. TÌM HIỂU VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ LIÊN TRUNG 3
1.1 Khái quát chung 3
1.1.1 Địa vị pháp lý 3
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của xã Liên Trung 3
1.1.3 Vị trí, chức năng 5
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động 5
1.2 Hệ thống văn bản 6
1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn 7
1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy 8
1.5 Đội ngũ nhân sự 13
1.6 Cơ sở vật chất, tài chính 13
1.6 Bộ phận tiếp nhận và trả lời kết quả thủ tục hành chính 14
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND XÃ LIÊN TRUNG 18
2.1 Cơ sở khoa học về giải quyết thủ tục hành chính 18
2.1.1 Cơ sở lí luận 18
2.1.2 Cơ sở pháp lí 28
2.2 Thực trạng 28
2.2.1 Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động giải quyết TTHC 28
2.2.2 Tình hình, kết quả công khai TTHC theo quy định của pháp luật 28
2.2.3 Thực trạng rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính 29
2.2.4 Tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính 30
2.2.5 Bố trí cán bộ, công chức bộ phận “một cửa” chuyên trách 31
2.2.6 Tiếp nhận và xử lí phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính 31
2.2.7 Công tác truyền thông, hỗ trợ hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính 32
2.2.8 Kết quả thực tế 32
2.2.9 Đánh giá 33
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND XÃ LIÊN TRUNG 36
3.1 Giải pháp 36
3.2 Kiến nghị, đề xuất 36
Xem thêm

43 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: MÔN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ CÔNG

TIỂU LUẬN: MÔN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ CÔNG

Để tác động tới các quan hệ xã hội, hành vi của các đối tượng bị quản lý, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau. Việc sử dụng các biện pháp mang tính thuyết phục hay cưỡng chế tuỳ thuộc vào bản chất, tính xã hội của Nhà nước. Trong các kiểu nhà nước như: chủ nô, phong kiến, tư sản để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, các nhà nước đó chủ yếu sử dụng các biện pháp cưỡng chế, biện pháp thuyết phục đặt xuống hàng thứ yếu.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mọi hoạt động của bộ máy nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân, không vì bất kỳ mục đích tự thân nào, do đó, biện pháp thuyết phục là biện pháp chủ yếu được sử dụng nhằm thực hiện những nhiệm vụ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. ở nước ta, pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân
Xem thêm

42 Đọc thêm

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA UBND HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA UBND HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang vận hành là nền kinh tế thì trường theo định hướng XHCN cà nó có sự điều tiết của nhà nước. Để khắc phục những hạn chế mà thị trường gây ra phải có sự quản lý của nhà nước.song không chỉ có nền kinh tế mới cần cớ sự quản lý của nhà nước mà trong bất cứ hoàn cảnh nào thì vai trò của nhà nhà nước rất quan trọng. Một bộ máy nhà nước thực sự hoạt động có hiểu quả khi nó đảm bảo tính tối ưu, tính linh hoạt.Trên thực tế thì bộ máy quản lý nhà nước ở nước ta hết sức cồng kềnh, hoạt động trì trệ, chậm chạp nên hiệu quả quản lý không cao. Do đó Đảng và nhà nước ta đã,đang và sẽ tiến hành cải cách đồng bộ nền hành chính nhà nước.UBND huyện là một cơ cấu tổ cức chính quyền ở địa phương. Trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước trong những năm gần đây, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan này đã được xây dựng một cách văn bản thể hiện trong Hiến pháp 1992, luật tổ chức HĐND UBND năm 1994 và một số văn bản dưới luật khác.Đồng thời, Trong một tổ chức, cơ cấu bộ máy quản lý được tạo lập nhằm để thực hiện các kế hoạch, chiến lược,mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra.Vì vậy việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của cơ quan nhà nước mà hợp lý, phù hợp với quy mô hoạt động của tổ chức thì nó góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các mục tiêu chiến lược cơ bản của tổ chức. Xong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý tổ chức không phải là một việc làm đơn giản, nó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng về mục tiêu,chiến lược, điều kiện cụ thể của tổ chức, môi trường xung quanh tổ chức…có vậy mới có thể tạo ra được một cơ cấu tổ chức vận hành tốt và hiệu quả.Nhưng trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND thời gian qua hiệu quả hoạt động chưa cao, vẫn còn nhiều vưỡng mắc nên cần phải có sự nghiên cứu và đề ra các biện pháp hoàn thiện.Cũng như các đơn vị hành chính khác, bên cạnh những kết quả đạt được UBND huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng còn mắc phải một số hạn chế mà nguyên nhân chủ yếu là do bộ máy quản lý tổ chức. Vì vậy em đã chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý của UBND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng” Làm đối tượng nghiên cứu của mình góp một phần nhỏ vào quá trình hoạt động của bộ máy quản lý của UBND huyện được linh hoạt hơn, hiệu quả hơn.Đề tài được chia làm 3 chương:Chương I. Lý luận chung về bộ máy quản lý tổ chức.Chương II. Thực trạng bộ máy quản lý của UBND huyện Trùng Khánhtỉnh Cao Bằng.Chương III. Biện pháp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý của UBND huyện Trùng Khánhtỉnh Cao Bằng.
Xem thêm

51 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

Thông qua việc khảo sát mức độ hài lòng của người dân, khảo sát thủ tục hành chính công cấp quận chúng ta không những xác định được mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công, mà còn đánh giá được mức độ cung ứng dịch vụ công của bộ máy hành chính nhà nước cấp quận, để từ đó gợi ý các giải pháp có thể áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động phục vụ nhân dân của cơ quan hành chính nhà nước.

160 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

Nguyên tắc tập trung dân chủ Bài tập cá nhân Luật Hành chính
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Hành chính
Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, nguyên tắc tập trung – dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất và là cơ sở để thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Điều đó được thể hiện rõ nhất theo quy định tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001): “ Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Cụ thể, vừa phải đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ; vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.


Trong quản lý hành chính nhà nước, tập trung nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực nhà nước vào chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo việc thực hiện chính sách và pháp luật một cách thống nhất. Dân chủ nhằm hướng tới việc mở rộng quyền cho các đối tượng quản lý với mục đích phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lí, phát huy khả năng tiềm tàng của đối tượng quản lí trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật. Trong quản lí hành chính nhà nước, cần đảm bảo phối hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ cả hai yếu tố này. Nếu chỉ lãnh đạo một cách tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện cho các hành vi lạm quyền, hách dịch, quan liêu, tham nhũng phát triển. nếu không có sự lãnh đạo tập trung thống nhất thì sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, vô chính phủ.


Trong quản lí hành chính nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở:

Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp: Cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, sát nhập hoặc giải thể các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp: Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho chính phủ quyền hành pháp. Ở địa phương, các ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và thực hiện hoạt động quản lí hành chính ở địa phương. Các cơ quan khác trong bộ máy hành chính nhà nước như bộ, cơ quan ngang bộ đều do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập, thay đổi hay bãi bỏ. Trong hoạt động, cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời có trách nhiệm báo cáo hoạt động với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Sự phụ thuộc đó nhằm đảm bảo hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời đảm bảo tập trung quyền lực vào hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước –cơ quan do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Trong thực hiện hiến pháp, pháp luật yếu tố dân chủ được thể hiện rõ nét thông qua việc cơ quan quyền lực nhà nước trao quyền chủ động, sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời không can thiệp vào hoạt động, mà tạo điều kiện thuận lợi, cần thiết để các cơ quan hành chính hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ quản lí của mình trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương:

Sự phục tùng này đảm bảo cho cấp trên và trung ương tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương trên cả phương diện tổ chức và hoạt động. Nếu thiếu sự phục tùng trên sẽ dẫn đến sự buông lỏng lãnh đạo, quản lí tập trung của trung ương và cấp trên, làm nảy sinh tình trạng tùy tiện, vô chính phủ. Đồng thời cấp trên, trung ương cũng cần tôn trọng ý kiến cấp dưới, địa phương về công tác tổ chức, hoạt động và các vấn đề khác trong quản lý hành chính nhà nước; tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc phân cấp quản lí: Là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được hiệu quả trong quản lí hành chính nhà nước. Trong việc phân cấp quản lí, có sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp. trong phạm vi thẩm quyền được giao, mỗi cấp quản lí được tiến hành những hoạt động nhất định nhàm phát huy tính năng động sáng tạo của mình. Phân cấp quản lí là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ, tuy nhiên việc phân cấp phải đảm bảo: Trung ương có quyền quyết định những vấn đề có ý nghĩa then chốt, chiến lược nhằm đảm bảo sự phát triển của toàn xã hội và đảm bảo sự quản lí tập trung, thống nhất trong cả nước; Trung ương thực hiện giao quyền cho các địa phương, các đơn vị cơ sở nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lí, thúc đẩy sản xuất phát triển phục vụ đời sống, trên cơ sở đó hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên việc phân cấp quản lý cần phải thực hiện cụ thể, hợp lí trên cơ sở những quy định của pháp luật.

Hướng về cơ sở: Trong bộ máy hành chính nhà nước, các đơn vị cơ sở là nơi tạo ra của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì thế việc tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lí tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa –xã hội trực thuộc. Nhà nước quan tâm, hướng dẫn, cung cấp những trang thiết bị cần thiết, giúp đỡ về vật chất, tinh thần nhằm tạo những điều kiện tốt nhất để các đơn vị này hoạt đông hiệu quả. Đồng thời, nhà nước có các chính sách, biện pháp quản lí thống nhất và chặt chẽ tổ chức, hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở. Có như vậy mới thúc đẩy hoạt động của các đơn vị cơ sở phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.

Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: Sự phụ thuộc này thể hiện cả ở hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định cụ thể. Ở địa phương, cơ quan hành chính phụ thuộc vào cơ quan quyền lực cùng cấp đồng thời phụ thuộc vào cơ quan hành chính ở cấp trên trực tiếp. Theo luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) thì ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và phải được chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn và ủy ban nhân dân có trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và ủy ban nhân dân cấp trên. Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với hội đồng nhân dân tỉnh và Chính phủ. Mối quan hệ như trên tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy dân chủ, phát huy thế mạnh vốn có của địa phương để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, giúp cấp trên có thể tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động của cấp dưới một cách thống nhất. Nguyên tắc này đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước với lợi ích địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG VÀ MÔN TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG VÀ MÔN TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
(Gửi tặng các bạn trong nhóm)
I. Môn Quản lý học đại cương
Vấn đề 1. Khái niệm quản lý, Các yếu tố cấu thành của hoạt động quản lý.
Vấn đề 2: Tư tưởng Đức trị của Khổng Tử
Vấn đề 3. Thuyết quản lý theo khoa học của Taylor
Vấn đề 4: Lập kế hoạch. Vai trò của việc lập kế hoạch
Vấn đề 5: Quyết định quản lý. Đặc điểm, vai trò của Quyết định quản lý
Vấn đề 6: Thông tin quản lý. Yêu cầu đối với thông tin quản lý
II. Môn Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Vấn đề 1: Mô hình bộ máy quan liêu thư lại theo Max Weber
Vấn đề 2: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Chính phủ.
Vấn đề 3: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của UBND.
Vấn đề 4: Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vấn đề 5. Những nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
Xem thêm

22 Đọc thêm

EM HÃY TRÌNH BÀY VÀ VẼ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN THỜI LÊ SƠ.

EM HÃY TRÌNH BÀY VÀ VẼ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN THỜI LÊ SƠ.

◦ Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Thánh Tôg hoàn chỉnh và chặt chẽ nhất so với trước .Triều đình có đầy đủ các bộ ,tự ,các khoa và các cơ quan chuyên môn. Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền thời Lê sơ:  Nhận xét ◦ Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Thánh Tôg hoàn chỉnh và chặt chẽ nhất so với trước .Triều đình có đầy đủ các bộ ,tự ,các khoa và các cơ quan chuyên môn. Hệ thống thanh tra giám sát giám sát được tăg cường từ triểu đình đến địa phương ◦ Các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền cấp xã được tổ chức chặt chẽ .
Xem thêm

1 Đọc thêm

CẢI CÁCH TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 2015

CẢI CÁCH TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 2015

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhằm xây dựng một nền hành chính vững mạnh, dân chủ, trong sách, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức và năng lực đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Phấn đấu xây dựng cơ bản đến năm 2015 hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu phát triển và quản lý kinh tế trên thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đề tài cải cách tổ chức bộ máy hành chính cấp huyện là một đề tài khá mới mẻ, phong phú và có tính ứng dụng cao. Mang lại cho đối tượng nghiên cứu sự thích thú, ham mê, tinh thần trách nhiệm hơn với đề tài này.
Nhận thấy sự cần thiết của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác hành chính của huyện Phú Xuyên. Cũng như sự mới mẻ, phong phú và số lượng hạn chế của các đề tài nghiên cứu về vấn đề này tôi đã mạnh dạn quyết định chọn nội dung cải cách bộ máy hành chính làm đề tài nghiên cứu với tên gọi: “Cải cách bộ máy hành chính ở Ủy ban nhân dân huyện Phú Xuyên giai đoạn 20112015”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 đối tượng nghiên cứu
Công tác cải cách hành chính ở UBND huyện Phú Xuyên
2.2 phạm vi nghiên cứu
Thời gian: 2011 – 2015
Không gian : Tại văn phòng Nội vụ huyện Phú Xuyên – tp Hà Nội.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu về cải cách hành chính nhà nước cấp huyện nhằm chỉ ra những mặt đã đạt được trong giai đoạn vừa qua cũng như những thiếu sót, những điểm chưa hợp lý trong công tác hành chính ở các cấp hành chính của nước ta hiện nay. Cụ thể là đơn vị hành chính cấp huyện, đối tượng mà ta đang đi nghiên cứu. Từ đó đưa ra những nhận định đúng đắn cho việc cải cách hành chính trong giai đoạn tới. Việc nghiên cứu về cải cách hành chính cấp huyện này lần cần đạt được những mục tiêu sau:
Bốn mục tiêu cơ bản của cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay cần đạt được là:
Cải cách thể chế hành chính. Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đảm bảo tổ chức và thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức.
Cải cách, đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bô công chức: Đổi mới
công tác quản lý công chức, cải cách chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ , đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức các cán bộ công chức.
Cải cách tài chính công. Đổi mới cơ chế quản lý và phân cấp quản lý tài chính công, ngân sách nhà nước phải đảm bảo tính thống nhất ,giư vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, phát huy tính chủ động , sang tạo của địa phương và các ngành các cấp trong điều hành tài chính công
Cải cách tổ chức bộ máy hành chính. Điều chỉnh các chức năng nhiệm vụ của chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý hành chính trong giai đoạn hiện nay. Từng bước điều chỉnh các chức năng nhiệm vụ của chính quyền trung ương và địa phương để chánh chồng chéo về chức năng nhiệm vụ , chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp làm những công viêc về dịch vụ không cần thiết do cở quan nhà nước đảm nhận.
4. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về công tác cải cách bộ máy hành chính tại UBND huyện Phú Xuyên nói riêng tính tới thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố, cũng như chưa có nhà nghiên cứu nào khai thác đề tài này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp: quan sát;
Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp số liệu;
+ Nghiên cứu tài liệu, tư liệu tham khảo;
+ Nguồn tin từ mạng Internet;
+ Thông tin từ báo cáo định kỳ của UBND huyện Phú Xuyên.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu góp phần chuẩn hóa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác hành chính ở UBND huyện Phú Xuyên.
Kết quả đạt được của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác cải cách hành chính tại UBND huyện Phú Xuyên.
7. Cấu trúc của đề tài
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Một số vấn đề chung về cải cách bộ máy hành chính nhà nước.
Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy hành chính của UBND huyện Phú Xuyên.
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất cho việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính của UBND huyện Phú Xuyên.
Kết luận
Xem thêm

71 Đọc thêm

Hệ thống cơ quan hành chính Việt Nam

HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

MỤC LỤCLời mở đầuI. KHÁI NIỆM VÀ ÐẶC ÐIỂM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước2. Ðặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước2.1 Ðặc điểm chung.2.2. Ðặc điểm đặc thù.II. HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC1. Các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp trung ương.1.1. Chính phủ61.2. Bộ, cơ quan ngang Bộ.2. Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.2.1. Ủy ban nhân dân (UBND)2.2. Các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc UBND3. Các đơn vị cơ sở trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước.III. SO SÁNH HỆ THỐNG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC.IV. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA.1. Cải cách thể chế hành chính2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.4. Cải cách hành chính công.Kết luậnTÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem thêm

33 Đọc thêm

tiểu luận cao học : Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CAO HỌC : ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài
Bộ máy nhà nước Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động và phạm vi tác động khác nhau. Hệ thống tổ chức đó hoạt động như một chỉnh thể thống nhất nhằm tổ chức và quản lý có hiệu quả mọi mặt đời sống xã hội, theo đường lối của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân, bảo đảm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trong bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ có một vị trí quan trọng. Đây là cơ quan hành chính, có chức năng quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật, thi hành các biện pháp cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân… Giúp Chính phủ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
Nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, vừa qua, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương.
Việc tìm hiểu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính phủ không chỉ giúp tổ chức và công dân thấy được vị trí của cơ quan đó trong cơ cấu tổng thể bộ máy nhà nước mà còn có những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc và giao dịch với các cơ quan nhà nước. Đồng thời cũng góp phần giúp công dân thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ thuộc Chính phủ.
Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về Chính phủ cũng như cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong bộ máy nhà nước ta hiện nay là một vấn đề mang tính thời sự cấp bách, cơ bản lâu dài. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn thời sự của vấn đề, người nghiên cứu đã chọn vấn đề “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của tiểu luận môn “Quyền lực chính trị và cầm quyền”.
Xem thêm

41 Đọc thêm