LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CNH - HĐH ĐẤT NƯỚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước":

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

đảm bảo được an ninh của dân tộc. Do đó, hơn bao giờ hết trí tuệ Việt Namđòi hỏi vận dụng và phát huy cao độ. Một dân tộc thông minh là phải biết sửdụng trí thông minh của mình cũng như của người đúng lúc, đúng chỗ vàđúng thời điểm.Tóm lại, trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quyết định nhất đối với tăngtrưởng kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người lao động là tri thức. Dođó, đòi hỏi trong việc phát huy và sử dụng nguồn lực tri thức cần phải cóquan điểm khách quan và quan điểm phát triển. Bởi vì, phát huy và sử dụngnguồn lực trí tuệ có nghĩa là phát huy năng lực “nội sinh”, những cái “sẵncó”. Cho nên trong quá trình phát triển phải biết kế thừa chọn lọc những mặttích cực, loại bỏ những mặt tiêu cực để phát triển ở trình độ cao hơn phù hợpvới yêu cầu lịch sử. Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết tự thân trí tuệ khôngcó sức mạnh vật chất, nó chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất, nó chỉ trởthành sức mạnh vật chất khi được “vật hóa” nhờ sức mạnh của các phươngtiện vật chất, nhờ sức mạnh của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sức lựccủa con người. Trong quá trình phát triển nếu chúng ta chỉ chú ý khai thácsự sáng tạo của con người mà bỏ qua con người sáng tạo là chúng ta đã hạthấp giá trị của con người. Chính vì vậy, chúng ta phải không ngừng chămlo, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển con người một cách toàn diện, có thếmới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước vànhanh chóng hội nhập nền kinh tế tri thức thế giới.KẾT LUẬNCon người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là con người hoànchỉnh phát triển toàn diện trong hiện thực, đây chính là một bước chuyển biếnvề chất trong nhận thức về con người của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nó là cơsở nghiên cứu những điều kiện, con đường đúng đắn để đi đến giải phóng conngười. Đồng thời là cơ sở để Đảng ta đề ra những chủ trương, chính sách pháthuy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trí tuệ trong nền kinh tế tri thức yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước.
Xem thêm

18 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGUỒN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới, khi các nước đó muốn tiến tới một xã hội hiện đại. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã xác định phải: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Xem thêm

211 Đọc thêm

“Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.

“PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, có thể nói rằng việc nghiên cứu nguồn lực con người luôn diễn ra thường xuyên, trong tất cả các giai đoạn lịch sử, ở hầu khắp các quốc gia. Như vậy, ta có thể thấy nguồn lực con người luôn là một vấn đề có tính thời sự. Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử. Chính vì thế, con người là nhân tố quan trọng đưa đến sự phát triển của xã hội, của đất nước. Bên cạnh đó, con người đó như thế nào lại bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử ấy.
Từ cuối thập kỉ XX, nảy sinh hiện tượng, một số nước Đông Nam Á có tốc độ phát triển kinh tế thần kì gây ra nhiều sự chú ý trong giới nghiên cứu và họ đã cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao những nước như Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông ... lại có sự phát triển đó”. Kết quả của những cuộc nghiên cứu cho thấy, có nhiều nhân tố tạo lên như văn hóa, truyền thống, trình độ dân số, kĩ thuật, công nghệ… song câu trả lời làm giới nghiên cứu ngạc nhiên là sự nhảy vọt về kinh tế ấy là không phải do kĩ thuật, công nghệ mà là… văn hóa truyền thống. Vì vậy, nghiên cứu nguồn lực con người hiện đại cần phải có sự liên hệ với yếu tố truyền thống, con người truyền thống, gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Đối với nước ta, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp, nông nghiệp là chính, tiến lên xây dựng CNXH, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài. Việc khắc phục những tàn dư của xã hội cũ, nền sản xuất cũ như thói quen, tác phong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, tâm lí sợ sệt trong đầu tư sản xuất kinh doanh, cách thức làm việc tùy tiện không khoa học, lối sống gia trưởng còn ăn sâu vào nếp nghĩ của con người Việt Nam hiện nay, nó đang là một sự cản trở lớn đối với sự phát huy nguồn nhân lực trong sự phát triển của xã hội.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành CNH – HĐH để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH và cùng với nó là phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện khoa học – công nghệ trên thế giới đang phát triển như vũ bão và nền kinh tế thị trường thế giới đã phát triển đến trình độ cao. Nước ta đã tham gia và là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự tham gia đó đã mở ra nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức lớn đối với chúng ta. Với những yêu cầu bức thiết đó, hơn lúc nào hết phải xem xét nguồn nhân lực Việt Nam đang bộc lộ những ưu điểm gì, hạn chế nào và cần khắc phục đầu tư như thế nào để xây dựng một chính sách phát triển bền lâu, nâng cao dần chất lượng của người lao động, phát huy được nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Đây cũng chính là nội dung của đề tàì mà chúng tôi đã lựa chọn: “Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề vai trò của nguồn nhân lực trong thời kì xây dựng CNH – HĐH đất nước đang là một vấn đề quan trọng và được nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu. Nhiều công trình đã đạt những giá trị cao. Tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả mở ra phạm vi quá rộng, do vậy vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ.
Qua tìm hiểu, thống kê, chúng tôi thấy các tác giả, các nhà nghiên cứu đi trước đã tìm hiểu về vấn đề này theo những khía cạnh sau:
Hướng thứ nhất: Tìm hiểu vấn đề nguồn nhân lực ở những trường hợp tiêu biểu có giá trị, trên một khía cạnh nào đó của nguồn nhân lực như bàn về chất lượng nguồn nhân lực thông qua các bài viết như “Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng kinh phí nhà nước”, của Phan Thủy Chi trong Nghiên cứu giáo dục số 82001. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hướng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua chương trình du học tại chỗ bằng nguồn hỗ trợ của nước ngoài bằng hai hình thức. Một là, các dự án đào tạo theo chương trình chuẩn quốc tế được thực hiện ngay ở trong nước. Hai là, các suất học bổng, gửi người ra nước ngoài học tập. Tất cả, đều nhằm mục đích chung là có được đội ngũ tri thức được đào tạo bài bản theo tiêu chuẩn quốc tế, trở thành hạt nhân cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
Xem thêm

50 Đọc thêm

CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÔNG NHÂN CÔNG TY THAN HÀ LẦM TỈNH QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP LOẠI SIÊU XUẤT SẮC

CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÔNG NHÂN CÔNG TY THAN HÀ LẦM TỈNH QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP LOẠI SIÊU XUẤT SẮC

1. Tính cấp thiết của đề tàiCông tác giáo dục chính trị, tư tưởng có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước ta nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ đời sống xã hội nói riêng. Hiện nay, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực phản động đã ra sức phủ nhận, bôi nhọ chủ nghĩa Mác Lênin, chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc như: “Chủ nghĩa Mác Lênin đã lỗi thời”, “Chủ nghĩa Mác Lênin đã chết”, “Sự cáo chung của chủ nghĩa Cộng sản”…và Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của sự chống phá đó. Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng các thế lực phản động quốc tế cùng với các phần tử cơ hội bất mãn trong nước đang ra sức đẩy mạnh diễn biến hòa bình trên mặt trận chính trị, tư tưởng với mục đích làm cho quần chúng nhân dân nói chung và giai cấp công nhân nói riêng bị mơ hồ và xa rời về chính trị, tư tưởng. Mặt khác, sau hơn 20 năm đổi mới của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện không ít những vấn đề về chính trị, tư tưởng cần được làm rõ, bổ sung, thống nhất cả về nhận thức và hành động. Như vậy, nhiệm vụ của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng càng phải được đặc biệt quan tâm.Đội ngũ công nhân ngành than Quảng Ninh là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam. Hiện nay, công nhân than Quảng Ninh đang là lực lượng to lớn đóng góp cho sự phát triển của kinh tế xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Công ty than Hà Lầm là một trong những đơn vị lớn đi đầu trong khai thác và sản xuất than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Công ty than Hà Lầm có lịch sử hoạt động lâu đời với đội ngũ công nhân đông đảo vào bậc nhất trên địa bàn tỉnh, sự phát triển của công ty than Hà Lầm có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm chính trị hiện nay là cần phải đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân để họ vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ mới. Muốn làm được điều đó, cần phải nắm vững thực trạng cũng như phải đưa ra những giải pháp khoa học và đồng bộ trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để nâng cao bản lĩnh chính trị cho công nhân công ty than Hà Lầm. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em xin mạnh dạn chọn đề tài “Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân công ty than Hà Lầm tỉnh Quảng Ninh ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.2. Tình hình nghiên cứuVấn đề công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho nhân dân, đặc biệt là giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân, là một trong những nội dung quan trọng trong công tác lý luận và tư tưởng của Đảng ta. Chính vì thế cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các học giả Việt Nam đề cập nhưng tiêu biểu nhất là:Hội đồng Trung ương biên soạn Bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Một số vấn đề Chủ nghĩa Mác Lênin trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996.Trong tài liệu nghiên cứu trên, tập thể tác giả đã khẳng định phải bảo vệ luận điểm của học thuyết Mác Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trước sự phủ định của các thế lực thù địch, đặc biệt là nó rất cấp bách trong bối cảnh Liên Xô và Đông Âu vừa sụp đổ vào năm 1991. Vì vậy công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, chính trị tư tưởng. Tác giả đánh giá cao những nội dung về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong tài liệu này vì đây là cơ sở cho người viết khi đề cập vấn đề giai cấp công nhân trong đề tài.Dương Xuân Ngọc, Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.Đây là một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, sâu sắc của PGS.TS Dương Xuân Ngọc về đề tài giai cấp công nhân. Tác giả đánh giá rất cao phần
Xem thêm

69 Đọc thêm

NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới và đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ là công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã xác định phải: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Xem thêm

47 Đọc thêm

Tuyển tập 150 tiểu luận triết học p1 (Đề 01 đến 10)

TUYỂN TẬP 150 TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC P1 (ĐỀ 01 ĐẾN 10)

DANH SÁCH TIỂU LUẬNĐỀ 01. Bản sắc dân tộc trong nền KT mởĐỀ 02. Đấu tranh giai cấpĐỀ 03. Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCNĐỀ 04. LLSX và các quan hệ SXĐỀ 05. Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH HĐH đất nướcĐỀ 06. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườiĐỀ 07. Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nayĐỀ 08. Lý luận thực tiễn và sự vận dụng của chủ nghĩa Mác về con người vào quá trình đổi mới ở VNĐỀ 09. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VNĐỀ 10. Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN ĐỀ 01. Tiểu luận về bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mởMỤC LỤCA. Đặt vấn đề B . Giải quyết vấn đề Chương I. Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Bản sắc văn hoá dân tộc là gì ? II . Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc . Chương III : Bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.I . Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường II . Phát huy nội lực văn hóa trong quá trình phát triển . III . Toàn cầu hoá và bản sắc văn hoá dân tộc . Chương IV : Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển .I . Một số giải pháp trước mắt để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Biện pháp khắc phục những mặt tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội của đất nước.C. Kết thúc vấn đề A. Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới .......................
Xem thêm

213 Đọc thêm

Lý luận của chủ nghĩa mác – lênin về con người và vai trò của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

TIU LUN TRIT HC18chiến tranh. Tuy nhiên quan niệm và cách làm này cũng bộc lộ những hạn chếnhất định trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiện.Trong xã hội con ngời không chỉ tạo ra các hệ thống và các quá trìnhkhác nhau của xã hội (giai cấp, đảng phía, nhà nớc, sản xuất, văn hoá), mà họcòn làm ngời, chính họ đã in đậm dấu ấn của tiến trình lịch sử. Lịch sử (suyđến cùng) cũng chính là lịch sử phát triển cá nhân của con ngời, dù họ có nhậnthức đợc điều đó hay không. Từ đây cho phép tách ra một bình diện đặc biệttrong việc xem xét "con ngời chủ thể" bình diện " con ngời cá nhân" có nghĩalà nâng nhận thứac lên một trình độ mới - quan niệm "cái cá nhân" là sự thểhiện (hiện thân) một cách cụ thể sinh động của "cái xã hội" khi con ngời trởthành chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng con ngời không chỉ nhận đợc sựtích cực, mà còn cả những tác động tiêu cực của nó trớc con ngời không chỉ cónhững thời cơ và những triển vọng tơi sáng mà còn chứa đựng những tháchthức, nguy cơ, thậm chí là cả những tai hoạ khủng khiếp. (Thất nghiệp, ônhiễm môi trờng, bệnh tật và những tệ nạn xã hội). Vì vậy trong mỗi con ngờiluôn có những "giằng xé" bởi những cực "chủ tớ" giầu nghèo, thiện ác, trong điều keịen này cần xem xét con ngời chủ thể với những phẩm chất nghềnghiệp chuyên môn cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể của họ.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi căn bản và sâu sắctoàn bộ đời sống xã hội, nó đòi hỏi vật chất cao với ngời "chủ thể", ở đây chỉcần sự cần cù, trung thành, nhiệt tình quyết tâm cách mạng cha đủ mà điềuquan trọng hơn là trí tuệ khoa học, ý chí chiến thắng cái nghèo nàn lạc hậu,tính năng động luôn thích ứng với hoàn cảnh, ý thức kỷ luật, bản lĩnh lãnhđạo, nghệ thuật quản lý, kỹ thuật kinh doanhNh vậy trong điều kiện mới cần xem xét đánh giá bồi dỡng "con ngời
Xem thêm

32 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO LỢI ÍCH CỦA NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

TÀI LIỆU THAM KHẢO LỢI ÍCH CỦA NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay đã và đang đặt con người vào vị trí trung tâm vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Trong hệ thống các nhân tố tạo nên động lực phát triển xã hội, lợi ích là nhân tố quyết định và xuyên suốt quá trình chuyển hóa những yêu cầu khách quan thành động cơ, hành vi của con người và của mọi thành viên trong xã hội tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. C.Mác đã coi lợi ích là tính tất yếu của tự nhiên, là nhu cầu cơ bản của con người, là cái liên kết các thành viên trong xã hội với nhau. Việc nhận thức và giải quyết vấn đề lợi ích trong xã hội ta có tác động trực tiếp mạnh mẽ đến con người nói chung và nông dân nói riêng.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh

BIỆN CHỨNG GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc và thời đại, nó trường tồn, bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc ta bởi không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa, tư tưởng “vĩnh cửu” của loài người, trong đó của yếu là chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới.
Trong đó, tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Xem thêm

19 Đọc thêm

NHÂN SINH QUAN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.

NHÂN SINH QUAN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.

Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác – Leenin là tử tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc hạ tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, tromg đó các triết lý Phật giáo đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn khu dân cư Việt Nam, hình thành nhân cách và tư duy con người Việt Nam với những giá trị đạo đức và nhân văn của Phật giáo.
Vậy tại sao, Phật giáo lại có sức sống mãnh liệt mãnh liệt qua thời gian và cho đến nay vẫn là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam? Tìm hiểu về tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con người là một nội dung quan trọng của bài viết này.
Xem thêm

42 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

Sự vận dụng tư tưởng của lênin về bản chất của đảng của đảng ta

SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CỦA ĐẢNG CỦA ĐẢNG TA

CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CỦA ĐẢNG
C.Mác và Ph. Ăngghen là những người đầu tiên xây dựng những lý luận về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân trong những năm nửa đầu của thế kỷ XIX thông qua việc xác định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Hai ông đã luận giải khá rõ nhiều vấn đề về Đảng và xây dựng Đảng như: tính tất yếu, bản chất của Đảng Cộng sản…Sau này, những tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen về Đảng Cộng sản đã được Lênin kế thừa và phát triển phù hợp với điề kiện lịch sử mới (thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của phong trào công nhân quốc tế, thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, lúc này giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng phản động, cản trở sự phát triển của xã hội…), trong đó có việc khẳng định bản chất của Đảng.
Trước khi khẳng định bản chất của Đảng cách mạng, Lênin đã chỉ ra tính tất yếu cho sự ra đời của đảng vô sản kiểu mới, ông khẳng định: “Vì cuộc đấu tranh tự phát của giai cấp vô sản sẽ không trở thành cuộc đấu tranh giai cấp thực sự của giai cấp vô sản, chừng nào nó chưa được một tổ chức mạnh mẽ gồm những người cách mạng lãnh đạo” , điều này xuất phát từ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giai cấp công nhân muốn hoàn thành sứ mệnh này phải tổ chức ra được chính Đảng giữ vai trò tiên phong để lãnh đạo mình, đây là nhiệm vụ cấp bách của giai cấp công nhân “ Nhiệm vụ thực tiễn của chúng ta, nhiệm vụ trước mắt và cấp bách nhất là “ lập ra một tổ chức những người cách mạng có khả năng làm cho cuộc đấu tranh chính trị có được nghị lực, tính triệt để và tính liên tục” . Chính Đảng cộng sản này phải lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. “không thể có một đảng xã hội chủ nghĩa vững mạnh nếu không có lý luận cách mạng để đoàn kết tất cả những người xã hội chủ nghĩa lại, để họ rút ra từ lý luận đó tất cả những tín điều của họ và đem áp dụng lý luận đó vào phương pháp đấu tranh và phương pháp hành động của họ” . Không thể có lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác là lý luận cách mạng duy nhất của giai cấp vô sản. Bởi lẽ, lý luận chủ nghĩa Mác là sự tổng kết kinh nhiệm và tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy tích lũy được trong lịch sử phát triển của các nước, đặc biệt là kinh nhiệm phong trào công nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác đã biến chủ nghĩa xã hội không tưởng thành chủ nhĩa xã hội khoa học. Chỉ có dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, đảng vô sản cách mạng mới thực hiện thành công cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng con người và
Xem thêm

19 Đọc thêm

tiểu luận cao học Hoạt động từ thiện của phật giáo trước những vấn đề xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

TIỂU LUẬN CAO HỌC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

LỜI MỞ ĐẦUTrong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, đất nước đang trên đà hội nhập, chủ nghĩa Mác Lênin là nền tảng tư tưởng, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó Phật giáo đã in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một bộ phận lớn dân cư Việt Nam bởi Phật giáo Việt Nam đã cùng với dân tộc Việt Nam tiếp tục giải quyết cái khổ luân hồi sinh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si… nhưng vấn đề khó khăn hơn đó là giúp cho con người chiến thắng được tham sân si vốn là mặt trái của thị trường, đó là chiến thắng ma lực của đồng tiền, của lợi nhuận, là những cái bẫy đưa con người vào chỗ mất nhân tính mù quáng, làm xã hội phân chia giàu nghèo và băng hoại nền đạo đức nhân bản. Với đạo lý hướng nội, Phật tại tâm của Phật giáo góp phần kìm hãm bớt từ mỗi người những tiêu cực của kinh tế thị trường và chia sẻ những phần lợi nhuận cho những người bất hạnh trên tinh thần “Vô ngã vị tha”, thương người như thể thương thân của dân tộc ta; bởi những gì mà Phật giáo đã mang lại cho cuộc đời này không chỉ trong giáo lý, tư tưởng đề cao lòng từ bi, nhân ái mà còn thông qua những hoạt động từ thiện cao cả của mình để giúp đời.
Xem thêm

44 Đọc thêm

111 câu trắc nghiệm mác lênin

111 CÂU TRẮC NGHIỆM MÁC LÊNIN

1. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 1 NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN Trắc nghiệm phần triết học Mác Lênin 1.Môn khoa học nào sau đây không thuộc Chủ nghĩa Mác Lênin? a. Triết học MácLênin. b. Kinh tế chính trị MácLênin. c. Lịch sử Đảng CộngSản Việt Nam. d. Chủ nghĩa Xã Hội Khoa Học. 2. Chủ nghĩa Mác – Lênin là gì? Chọn câu trả lời sai. a.Chủ nghĩa Mác – Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác, Ăngghen và sự phát triển của V.I. Lênin; b. là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; c. là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bót lột và tiến tới giải phóng con người. d. là học thuyết của Mác,Angghen và Lênin về xây dựng chủ nghĩa cọng sản. 3.Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn câu trả lời đúng. a.Sự củng cố và phát triển của PTSX tư bản Chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp. b.Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị xã hội độc lập. c.Thực tiễn cách mạng cuả giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác. d. Các phán đoán kia đều đúng. 4.Tiền đề lý luận của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn câu trả lời đúng. a. Chủ nghĩa duy vật triết học của Phoiơbắc, Kinh tế học Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. b. Triết học biện chứng của Hêghen, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Pháp. c.Kinh tế học của Anh, Chủ nghĩa xã hội Pháp. Triết học cổ điển Đức d.Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng. 5.Tiền đề khoa học tự nhiên của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn phán đoán sai. a.Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, b.Thuyết tiến hoá của Dacuyn.2. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 2 c. Nguyên tử luận. d. Học thuyết tế bào. 6. Triết học Mác Lênin là gì ? Chọn phán đoán đúng. a. là khoa học của mọi khoa học . b. là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên. c. là khoa học nghiên cứu về con người. d. là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí , vai trò của con người trong thế giới ấy “. 7. Đối tượng của triết học Mác Lênin là gì? Chọn phán đoán đúng. a. Nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể và tìm ra bản chất qui luật cụa nó. b. Nghiên cứu thế giới siêu hình c. Nghiên cứu những quy luật của tinh thần. d. Nghiên cứu những quy luật của giới tự nhiên 8. Triết học có tính giai cấp không? Chọn câu trả lời đúng a.Không có. b. Chỉ có trong xã hội tư bản c. Có tính giai cấp trong mọi trường phái triết học. d. Chỉ có trong một số hệ thống triết học . 9. Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Vấn đề mối quan hệ giữa Trời và Đất b. Vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức c. Vấn đề hiện sinh của con người. d. Các phán đoán kia đều đúng. 10. Chức năng của triết học mácxít là gì? Chọn câu trả lời đúng a. Chức năng làm cầu nối cho các khoa học. b. Chức năng làm sáng tỏ cấu trúc ngôn ngữ. c. Chức năng khoa học của các khoa học. d. Chức năng thế giới quan và phương pháp luận. 11. Chủ nghĩa duy vật triết học bao gồm trường phái nào? Chọn câu trả lời đúng . a. Chủ nghĩa duy vật cổ đại. b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình. c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng. d. Các phán đoán kia đều đúng. 12.Khoa học nào là hạt nhân của thế giới quan? Chọn câu trả lời đúng . a. Toán học b. Triết học. c. Chính trị học. d. Khoa học tự nhiên. 13. Thế giới thống nhất ở cái gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Thống nhất ở Vật chất và Tinh thần . b. Ta cho nó thống nhất thì nó thống nhất . c. Thống nhất ở tính vật chất của nó .3. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 3 d. Thống nhất vì do Thượng đế sinh ra. 14.Nguồn gốc tự nhiên của ý thức? Chọn câu trả lời đúng. a. là sản phẩm của bộ óc động vật. b. là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào bản thân con người. . c. bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc người. d. là quà tặng của thượng đế. 15. Nguồn gốc xã hội của ý thức? Chọn câu trả lời đầy đủ. a. ý thức ra đời nhờ có lao động của con người. b. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ có lao động và ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. c. ý thức ra đời nhờ có ngôn ngữ của con người. d. ý thức ra đời nhờ có những quan hệ xã hội của con người. 16.Bản chất của ý thức? Chọn câu trả lời đúng. a. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; b. ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. c. Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức chịu sự chi phối không chỉ các QL tự nhiên mà còn của các QL xã hội, d. Các phán đoán kia đều đúng. 17.Phán đoán nào là của Chủ nghĩa duy vật biện chứng? Chọn câu trả lời đúng. a. Vật chất và ý thức là hai lĩnh vực riêng biệt không cái nào liên quan đến cái nào. b. Ý thức có trước vật chất và quyết định vật chất. c. Vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức. d. vật chất và ý thức không cái nào quyết định cái nào. 18. Hiểu theo nghĩa chung nhất vận động là gì? Chọn phương án đúng. a.Bao gồm tất cả mọi sự thay đổi b.Moị quá trình diễn ra trong vũ trụ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy. c. Vận động là phương thức tồn tại của vất chất.…là thuộc tính cố hữu của vật chất. d. Các phán đoán kia đều đúng. 19. Theo anh (chị) bệnh chủ quan, duy ý chí biểu hiện như thế nào? a. chỉ căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử để định ra chiến lược và sách lược cách mạng. b. chỉ căn cứ vào quy luật khách quan để định ra chiến lược và sách lược cách mạng c. chỉ căn cứ vào kinh nghiệm của các nước khác để định ra chiến lược và sách lược cách mạng d. chỉ căn cứ vào mong muốn chủ quan để định ra chiến lược và sách lược cách mạng 20. Phép biến chứng duy vật là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến. b. phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức4. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 4 hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng. c. Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. d. Các phán đoán kia đều đúng. 21. “Phép biện chứng duy vật” bao gồm những nguyên lý cơ bản nào? Chọn câu trả lời đúng. a. Nguyên lý về mối liên hệ . b. Nguyên lý về tính hệ thống , cấu trúc c. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,và sự phát triển d. Nguyên lý về sự vận động và sự phát triển . 22. Từ nguyên lý về “mối liên hệ phổ biến” của “Phép biện chứng duy vật” chúng ta rút ra những nguyên tắc phương pháp luận nào cho họat động lý luận và thực tiễn? a. Quan điểm phát triển. b. Quan điểm lịch sử cụ thể. c. Quan điểm tòan diện. d. Quan điểm tòan diện , lịch sử cụ thể. 23. Phán đoán nào về phạm trù Chất là sai. a. Chất là phạm trù triết học… b. Chất chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,… c. Chất là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. d. Chất là bản thân sự vật. 24. Lượng của sự vật là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Là số lượng các sự vật , b. Là phạm trù của số học , c. Là phạm trù của khoa học cụ thể để đo lường sự vật . d. Là phạm trù của triết học, chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật về mặt số lượng, qui mô….. 25. Cách mạng tháng 81945 của VN là
Xem thêm

16 Đọc thêm

hướng dẫn tự học ôn thi môn mác lenin 1

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC ÔN THI MÔN MÁC LENIN 1

Chương mở đầuNHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNINI. Khái lược về chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác Lênin 1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành. Chủ nghĩa Mác Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác Lênin được cấu thành bởi ba bộ phận: Triết học Mác Lênin, Kinh tế chính trị Mác Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.+ Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin. a, Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác. Điều kiện kinh tế xã hội.+ Chủ nghĩa Mác Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ. Các cuộc cách mạng công nghiệp đã đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.+ Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản, tiêu biểu: cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào Hiến chương ở (Anh) từ năm 1835 – 1848; Cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức) năm 1844…+ Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là cần có lý luận khoa học soi đường. Chủ nghĩa Mác ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan đó. Tiền đề lý luận.+ Triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là tư tưởng triết học của G.W.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.+ Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu lớn: A.Xmít và Đ.Ricácđô đã góp phần tích cực vào quá trình hình thành các quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác.+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng với các nhà tư tưởng tiêu biểu: H.XanhXimông, S.Phuriê, R.Ôoen. Chủ nghĩa xã hội không tưởng mang tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản, dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai. Nhưng chủ nghĩa xã hội không tưởng chưa luận chứng được cho vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tiền đề khoa học tự nhiên.+ Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh khoa học về sự không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn các hình thức vận động của vật chất.+ Thuyết tiến hóa đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.+ Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển trong mối liên hệ của chúng. b, Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác. Giai đoạn từ những năm 1842 1843 đến những năm 1847 1948.+ Những tác phẩm tiêu biểu như Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Gia đình thần thánh (1845), Luận cương về Phoiơbắc (1845), Hệ tư tưởng Đức (1845,1846),… đã thể hiện rõ nét việc Mác và Ăngghen kế thừa tinh hoa trong quan điểm duy vật và phép biện chứng của các bậc tiền bối để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật.+ Đến những tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), chủ nghĩa Mác đã được trình bày như một chỉnh thể các quan điểm nền tảng với ba bộ phận lý luận cấu thành của nó. Giai đoạn từ năm 1849 đến năm 1895.Những tác phẩm tiêu biểu như bộ Tư bản đã làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh của giai cấp công nhân; tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875) đã đề cập đến những vấn đề về nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, những giai đoạn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản… c, Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản ngày càng sâu sắc.+ Khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học ra đời đặc biệt trong vật lý học, nhưng một số nhà khoa học tự nhiên do bấp bênh về phương pháp luận triết học duy vật nên rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan. Sự khủng hoảng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của các phong trào cách mạng.+ Thời kỳ này ở nước Nga, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại… đã mang danh đổi mới chủ nghĩa Mác.→ Thực tiễn mới đặt ra yêu cầu phải phân tích, khái quát những thành tựu mới của sự phát triển khoa học tự nhiên nhằm tiếp tục phát triển thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác. Vai trò của V.I.Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm 1893 1907 , với các tác phẩm như: Những “người bạn dân là thế nào” và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao? (1894); Làm gì (1902); Hai sách lược của đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ (1905). Lênin đã phê phán quan điểm sai lầm của các phái duy tâm đang nổi lên trong quan điểm về lịch sử xã hội, đồng thời ông cũng đã phát triển chủ nghĩa Mác về những vấn đề phương pháp cách mạng, nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, vai trò của quần chúng nhân dân…+ Những năm 1907 1917, các tác phẩm tiêu biểu như: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909), Bút ký triết học (19141916)… Lênin không chỉ bảo vệ thành công mà còn phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. Đặc biệt sau cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917, thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân đặt ra những yêu cầu mới, Lênin đã tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng và phát triển chủ nghĩa Mác về nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơ bản của giai cấp vô sản… d, Chủ nghĩa Mác Lê nin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới. Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hướng lớn lao đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp có thể coi là sự kiểm nghiệm vĩ đại đối với tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một kiểu nhà nước kiểu mới nhà nước chuyên chính vô sản (Công xã Pari) được thành lập. Tháng Tám năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên của giai cấp vô sản được xây dựng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác Đảng Bôsêvích Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác Lênin trong lịch sử. Năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922, liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết ra đời. Sau chiến tranh thế giới thứ hai một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời như Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Anbani… Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa khủng hoảng và rơi vào thoái trào, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX. Mặc dù vậy, tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trên phạm vi toàn cầu; quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có. Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước tiến mới”.II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin 1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu. Đối tượng của việc học tập, nghiên cứu môn học là những quan điểm cơ bản, nền tảng và mang tính chân lý bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành nó. Mục đích của việc học tập, nghiên cứu môn học là: + Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin; hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng.+ Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng.+ Vận dụng sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu. Những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin được thể hiện trong những bối cảnh cụ thể khác nhau, nên khi học tập, nghiên cứu cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện, giáo điều. Sự hình thành phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin là một quá trình, nên khi học tập nghiên cứu cần phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác. Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin của Đảng ta trong từng giai đoạn lịch sử. Quá trình học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng xã hội. Quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó. Chương 1CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGI. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng 1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.Ăngghen nói: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các nhà triết học Vấn đề cơ bản của triết học bao gồm hai mặt: Mặt 1 Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt 2 Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Cơ sở để phân biệt CNDV và CNDT là việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học như thế nào:+ CNDT cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Các hình thức của CNDT CNDT chủ quan: họ thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người và khẳng định tất cả mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp của cảm giác. CNDT khách quan: thừa nhận tinh thần khách quan, ý thức khách quan (chúa, thượng đế, ý niệm, tinh thần tuyệt đối) là cái tồn tại trước, quyết định thế giới vật chất. CNDT gần gũi với tôn giáo, nó bắt nguồn từ việc xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá vai trò của thần thánh.+ CNDV cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất vào đầu óc con người.Các hình thức của CNDV CNDV chất phác thô sơ, trực quan, cảm tính CNDV siêu hình CNDV biện chứng Giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học chia quan điểm nhận thức thành hai phái:+ Khả tri luận: bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người+ Bất khả tri luận: bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con người. 2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.Chủ nghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức: Chủ nghĩa duy vật chất phát, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Là hình thức sơ khai của CNDV. Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác là mặc dù thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, song đã lý giải toàn bộ thế giới được sinh thành từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính. Tuy còn hạn chế nhưng họ đã lấy bản thân vật chất của tự nhiên để giải thích về tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào đầu thế kỷ XIX. Đặc điểm lớn nhất là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức về thế giới. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được Lênin bảo vệ và phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị của lịch sử triết học và những thành tựu quan trọng của khoa học tự nhiên thời kỳ đó, nó đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trên cơ sở phản anh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trở thành công cụ vĩ đại cho hoạt động nhân thức khoa học và thực tiễn cách mạng.II. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1. Vật chất.a) Phạm trù vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.CNDT cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần, như là: chí của thượng đế, ý niệm tuyệt đối....CNDV cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là vật chất, là cái tồn tại vĩnh cửu tạo nên mọi sự vật hiện tượng cùng với những thuộc tính của nó. Thời cổ đại các nhà triết học đã đồng nhất vật chất với một số chất tự có, là cơ sở đầu tiên của thế giới: “giới hạn tột cùng”. Chẳng hạn: Trung Quốc cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ; Ở Hy Lạp, Talet cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là nước, Hêracrit quan niệm là Lửa, Đêmôcrit khẳng định là nguyên tử. Nguyên tử là phần tử cực nhỏ, cứng, không thể xâm nhập được. Sự kết hợp hoặc tách rời của nguyên tử mà tạo nên sự đa dạng của thế giới. Và quan niệm này giữ cho đến tận thế kỷ XX). Thế kỷ XVII, XVIII quan niệm của các nhà triết học Tây Âu cận đại: Ph. Bêcơn, R.Đềcáctơ, T.Hôpxơ... không có thay đổi trong quan niệm về vật chất. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với một loạt những phát minh khoa học làm cho con người hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tử. Năm 1895, Rơghen phát hiện ra tia X. Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Năm1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử và đã chứng minh được điện tử là một phần cấu tạo nên nguyên tử. Năm1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử. Những phát minh trên đã bác bỏ quan điểm duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”. Tạo nên cuộc khủng hoảng trong nghiên cứu vật lý. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới và khẳng định vai trò của lực lượng siêu nhiên trong việc tạo ra thế giới. Trước hoàn cảnh đó, Lênin đã tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên và chỉ rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học của chủ nghĩa duy tâm. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa vật chất: Định nghĩaVật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Ở định nghĩa này Lênin đã phân biệt những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất Cần phân biệt khái niệm “vật chất” – phạm trù triết học (khái quát thuộc tính chung nhất, cơ bản nhất và phổ biến nhất) với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành. Thứ hai Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan, tồn tại ngoài ý thức, độc lập không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó. Thứ ba Vật chất, dưới các hình thức cụ thể của nó có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh Ý nghĩa: Một là: bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất là tồn tại khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách của các khoa học chuyên ngành. Từ đó, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng những quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội. Hai là: Lênin đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật; khẳng định con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.Ph. Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất. Nghĩa là, vật chất tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của vật chất là tự thân vận động. Vận động được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất.Ăngghen đã phân chia vận động của vật chất thành 5 hình thức vận động cơ bản: Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện... Vận động hoá học: Sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong quá trình hóa hợp và phân giải Vận động sinh học: Sự biến đổi của các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen… Vận động xã hội: Sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... của đời sống xã hội.Lưu ý: Các hình thức vận động trên khác nhau về chất Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó các hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản. Đặc điểm cơ bản của đứng im tương đối, tạm thời: Hiện tượng đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng lúc. Đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc. Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật hiện tượng ổn định nào đó, còn vận động nói chung, tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi. Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất: Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác. Sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa… Tính chất của không gian và thời gian:+ Tính khách quan: Không gian và thời gian luôn gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách quan thì không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.+ Tính vĩnh cửu và vô tận. Nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả quá khứ lẫn tương lai, cả phía trên lẫn phía dưới, cả đằng trước lẫn đằng sau.+ Không gian luôn có 3 chiều: chiều dài, c
Xem thêm

53 Đọc thêm

NHỮNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TIỂU LUẬN CAO HỌC

NHỮNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TIỂU LUẬN CAO HỌC

MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết nghiên cứu đề tài.
Trong tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, luôn tiềm ẩn những vấn đề khó lường như hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách nhằm xoá bỏ CNXH. Đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ thì nhựng nguyên lý của CNXHKH là một trong những mục tiêu không thể bỏ qua của các thế lực thù địch.
Nội dung xây dựng con người mới XHCN là nội dung quan trọng, trong chủ nghĩa Mác Lênin, đã được các đảng cộng sản và phong trào công nhân thế giới tiếp thu và học tập. Trong đó có chủ tịch Hồ Chí Minh, người nói “muốn xây dựng được CNXH thì trước hết phải có những con người XHCN”. Bác truyền bá, vận dụng, sáng tạo, thành công những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, tiến tới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa cách mạng nước ta đi hết thắng lợi, này đến thắng lợi khác, thực hiện lý tưởng của CNXH và CNCS.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng con người mới XHCN, nhất là đối với nước ta có điểm xuất phát thấp từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu hàng ngàn năm dưới ách thống trị của phong kiến và gần một trăm năm dưới ách nô dịch của đề quốc, thực dân. Đảng và Nhà nước ta đã có nhận thức đúng đắn vấn đề này, nên trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đã đề ra được những chủ trương, đường lối cách mạng đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đất nước, giữa vững độc lập dân tộc, từng bước xây dựng CNXH, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Đối với một sinh viên theo học chuyên ngành CNXH khoa học, nghiên cứu nội dung xây dựng con người mới XHCN là một dung quan trọng trong chương trình học tập và nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của cách mạng. Do vậy đây là nội dung hoàn toàn phù hợp với năng lực của tác giả.
Xem thêm

31 Đọc thêm

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1986 – 2000

1.Lý do cấp thiết của đề tàiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) của Đảng, trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và là sinh viên chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em lựa chọn đề tài Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000”.Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986).
Xem thêm

46 Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những đóng góp to lớn của V.I.Lênin đối với lý luận về nhà nước không chỉ ở việc làm sáng tỏ những quan điểm căn bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, đem lại vũ khí lý luận sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, giành lấy, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như đấu tranh chống lại mọi âm mưu hòng xuyên tạc, bẻ cong và nhằm bác bỏ lý luận mácxít về nhà nước; mà còn thể hiện ở việc đi sâu, phát triển lý luận mácxít về nhà nước trên một số phương diện, phù hợp với trình độ phát triển mới của thực tiễn. Nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về nhà nước đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, bởi lẽ những quan điểm ấy đã được hiện thực hóa, trở thành một thực thể sống động trong thực tiễn đời sống.
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”.
Vì thế việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước luôn được xác định là vấn đề quan trọng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Đặc biệt từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng đã có nhiều nghị quyết đặt vấn đề về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chính thức xác định rõ quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Báo cáo chính trị của hai kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng tiếp theo (Đại hội X năm 2006, Đại hội XI năm 2011).
Bên cạng đó nền kinh tế của chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,...đã có rất nhiều sự thay đổi, từ nội dung, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, cho đến yêu cầu về phẩm chất, năng lực của con người vận hành trong bộ máy nhà nước. Sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức chưa từng có, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra rất nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực, mở ra cơ hội cho các nước chậm phát triển, đồng thời cũng chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp. Trong tình hình đó, nếu không có một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, tranh thủ nắm lấy vận hội, đưa đất nước vượt qua nguy cơ, thách thức thì chủ nghĩa xã hội sẽ không có mà độc lập dân tộc cũng khó được bảo vệ.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu những quan điểm của Lênin về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng nói trên, tôi chọn đề tài “quan điểm của Lênin về xây dựng chính quyền nhà nước. Sự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận.
Xem thêm

28 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

32 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHÍNH TRỊ

Câu 1: vấn đề cơ bản của triết học?
• Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
• Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giũa ý thức và vật chất, giũa con người với giới tự nhiên.
• Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: thứ nhất giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Thứ hai con người có khẩ năng nhận thức được thế giới không?
+ Đi trả lời cho câu hỏi thứ nhất: chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức. Ngược lại các nhà duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất.
+ Trả lời cho câu hỏi thứ 2 là con người có khả năng nhận thức được thế giới ( khả tri luận) và ngược lại trường phái bất khả tri luận cho rằng con người không nhận thức được thế giới. Mặt khác những người theo trường phái nhi nguyên luận cho rằng con người lúc nhận thức được có lúc không nhận thức được thế giới.
• Theo chủ nghĩa Mác – LeeNin cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Cùng chủ đề