CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT.DOC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Các điều kiện đảm bảo tính khả thi của văn bản pháp luật.doc":

NHỮNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI CỦA VĂN BẢNQUY PHẠM PHÁP LUẬT

NHỮNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI CỦA VĂN BẢNQUY PHẠM PHÁP LUẬT

PHẦN MỞ ĐẦUHằng năm, các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương ban hànhhàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động thuộc nhiềulĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhìn chung, việc ban hành văn bản tuân thủtheo đúng quy định thống nhất. Nhiều văn bản trước khi được ban hành côngkhai, rộng rãi, cơ quan chức năng tiến hành thủ tục lấy ý kiến đóng góp củangười dân; áp dụng thử nghiệm trên phạm vi hẹp; rà soát, điều chỉnh, bổ sungvăn bản trước khi ban hành chính thức. Tuy vậy, vẫn còn tình trạng văn bản quyphạm pháp luật ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực chồng chéo, mâu thuẫn,chậm triển khai thi hành. Không ít bộ luật, pháp lệnh ra đời khá lâu, nhưngkhông thi hành được, do không mang tính khả thi, không có khả năng áp dụngđược trong thực tiễn.Xuất phát từ những hạn chế của thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài:“Những tiêu chí đánh giá và giải pháp để đảm bảo tính khả thi của văn bảnquy phạm pháp luật” làm tiểu luận nghiên cứu của mình.1I. TÍNH KHẢ THI CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luậtTheo quy định tại điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008:“Văn bản quy phạm pháp luậtvăn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặcphối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy địnhtrong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lựcbắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xãhội.”2. Khái niệm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật
Xem thêm

12 Đọc thêm

Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xét xử các vụ án hành chính ở Việt Nam

BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN



Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong hoạt động xét xử hành chính của Tòa án là việc Tòa án trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình tiến hành xem xét và phán quyết tính hợp pháp (hay bất hợp pháp) đối với các hành vi công quyền (quyết định hành chính, hành vi hành chính được ban hành, thực hiện trong quá trình quản lý hành chính nhà nước) theo quy định của pháp luật tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Hoạt động xét xử hành chính tại Tòa án ở Việt Nam thời gian qua đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy vậy, trong hoạt động tố tụng, vẫn còn có những bất cập như: hệ thống văn bản pháp luật nội dung chồng chéo, hệ thống văn bản tố tụng lại thiếu hụt các quy định pháp luật quan trọng, hệ thống các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp các quyết định hành chính, hành vi hành chính chưa thống nhất, tập trung… làm cho bản án được tuyên bị hạn chế tính thuyết phục.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong hoạt động xét xử hành chính của Tòa án cần thực hiện các nhóm giải pháp sau: 1) Hoàn thiện pháp luật nội dung hành chính, trong đó có các vấn đề liên quan đến Luật đất đai, Luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về thi hành án; 2) Hoàn thiện tổ chức xét xử hành chính; 3) Hoàn thiện nhân tố con người trong xét xử hành chính; 4) Hoàn thiện cơ chế về các biện pháp bảo đảm quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động xét xử hành chính của Tòa án, cụ thể là khắc phục các hạn chế về tố tụng và đảm bảo thi hành các phán quyết của Tòa án, xác định rõ trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hành chính.
Xem thêm

166 Đọc thêm

ĐỒ ÁN THỦY CÔNG (THIẾT KẾ ĐẬP ĐẤT VÀ TÍNH TOÁN CÔNG TRÌNH )

ĐỒ ÁN THỦY CÔNG (THIẾT KẾ ĐẬP ĐẤT VÀ TÍNH TOÁN CÔNG TRÌNH )

Đồ án Thủy Công được xây dựng và tính toán trên cơ sở kiến thức từ giáo trình Thủy Công, Thủy Lực, đảm bảo tính chính xác, kỹ thuật

Xử lí các số liệu địa chất, đánh giá điều kiện xây dựng công trình
Đề xuất phương án móng nông khả thi trên nền đất tự nhiên hoặc gia cố và chọn một phương án thiết kế
Thiết kế phương án móng đã chọn.

34 Đọc thêm

BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT HÀNH CHÍNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC

BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT HÀNH CHÍNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC

Bài tập cá nhân Luật Hành chính - Quản lý hành chính NhànướcKhái niệmQuản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hànhchính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước uỷquyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổchức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước.Quản lý hành chính nhà nước (nói tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý nhànước chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít nhất một bêncó thẩm quyền hành chính nhà nước.Vì vậy, quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệthống cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, các Bộ và các cơ quan chính quyềnđịa phương các cấp, ngoại trừ các tổ chức trực thuộc nhà nước mà không nằm trongcơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp.Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước+ Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mangtính điều hành.- Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền lậppháp và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào quy trình lập pháp và tư pháp. Tínhchấp hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện ở sự thực hiệntrên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lậppháp- cơ quan dân cử.- Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ là đểđảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thựctế thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổchức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.- Để đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu. Trong đó,quản lý hành chính nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn bản của cơquan dân cử đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà thực hiện
Xem thêm

4 Đọc thêm

Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán

TRONG TRƯỜNG HỢP PHÁP LUẬT KHÔNG QUY ĐỊNH VÀ CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN THÌ CÓ THỂ ÁP DỤNG TẬP QUÁN

Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán
Đề bài: Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005 qui định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán”. Hãy chỉ ra những nguyên nhân, điều kiện áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp dân sự của các chủ thể. Nhận xét của bản thân về việc pháp luật cho phép áp dụng tập quán.

Bài làm:

Luật Dân sự điều chỉnh các quan hệ đa dạng, phức tạp về nhiều phương diện: chủ thể, khách thể, nội dung; hơn nữa những quan hệ này không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và khoa học kĩ thuật nói riêng. Hoạt động áp dụng pháp luật sẽ thực sự hiệu quả nếu có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, bao quát được toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống hàng ngày thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự. Tuy nhiên trên thực tế điều này rất khó thực hiện. Chính vì vậy, để khắc phục hiện tượng này, Bộ Luật Dân sự (BLDS) đã đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật (Điều 3 – BLDS 2005).

Tập quán được hiểu một cách chung nhất là thói quen trong ứng xử của cộng đồng hay những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong cộng đồng dân cư, được lưu truyền chủ yếu theo phương thức truyền miệng, được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế phi nhà nước. Như vậy, áp dụng tập quán là sử dựng các xử sự được cộng đồng địa phương, dân tộc thừa nhận như là chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó”. Điều 3 BLDS 2005 quy định: Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán” . Có nhiều nguyên nhân và điều kiện của việc áp dụng tập quán vào giải quyết các tranh chấp dân sự, cụ thể như sau:

1. Nguyên nhân:

Thứ nhất, do thực tiễn đời sống dân sự phong phú, sống động, rộng lớn mà pháp luật dân sự không thể bao quát hết. Khi ban hành các văn bản pháp luât, nhà lập pháp không thể “dư liệu” hết được các quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật. Việc này tạo “lỗ hổng” trong pháp luật dân sự. Hơn nữa các quy định của pháp luật tồn tại dưới dạng tĩnh tương đối (chỉ thay đổi khi bị sửa đổi) những các quan hệ xã hội lại biến đổi không ngừng dẫn đến những trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội đang tồn tại. Bên cạnh đó nguyên tắc pháp chế trong lĩnh vực dân sự đòi hỏi cơ quan nhà nước không thể từ chối giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của người dân với lý do không có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội được yêu cầu, Xuất phát từ hiện tượng này, BLDS đã đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán trong giải quyết các tranh chấp dân sự

Thứ hai, tập quán xuất hiện và tồn tại trong cuộc sống con người trên mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn phát triển. Giá trị của tập quán là ở tính quy phạm, nó đảm bảo cho hành vi của cá nhân, cộng đồng được vận hành theo một trình tự nhất định. Tập quán xã hội mang tính phổ biến ràng buộc chung đối với nhiều người và chi phối lối sống cũng như hoạt động xã hội của từng cá nhân. Vậy nên việc áp dụng tập quán còn tránh được sự phức tạp.

2. Điều kiện:

Thứ nhất, quan hệ xã hội phá sinh tranh chấp cần giải quyết thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự.

Thứ hai, chỉ áp dụng tập quán nếu quan hệ pháp luật đó chưa được pháp luật quy định hoặc không có thoả thuận. Chẳng hạn ở miền núi bà con dân tộc có tập quán xác nhân quyền sở hữu của người dầu tiên phát hiện tổ ong trong rừng bằng cách đánh dấu bằng cành lá có thể được áp dụng mặc dủ căn cứ xác lập quyền sở hữu này không được BLDS quy định

Thứ ba, nguyên tắc đó không được trái với các nguyên tắc được quy định trong BLDS, trước hết là các nguyên tắc cơ bản được quy định tại các Điều 2, 4, 5, 6, 8, 9 và 11, trong đó đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng đạo đức truyền thống tốt đẹp (Điều 4)

Thứ tư, tập quán đó đã trở thành thông dụng, được đông đảo mọi người sinh sống trên cùng địa bàn hoặc cùng hành nghề trên cùng một lĩnh vực thừa nhận.

3. Nhận xét của bản thân về việc pháp luật cho phép sử dụng tập quán:

Từ quy định tại điều 3 BLDS 2005, có thể khẳng định tập quán chính thức được thừa nhận tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội như các quy tắc do nhà nước đặt ra. Tập quán ở đây không chỉ điều chỉnh hành vi hiện thực mà còn cả hành vi mang tính siêu thực của đời sống tâm linh tín ngưỡng. Vì vậy, việc pháp luật thừa nhận cho phép áp dụng tập quán đã góp phần rất lớn vào việc tạo nên pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật vì nó thường được nhân dân tự giác thực hiện, là yếu tố góp phần thúc đẩy việc xác lập các hành vi hợp pháp tích cực. Hơn nữa, việc này còn góp phần khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, khắc phục lỗ hổng của pháp luật thành văn, đảm bảo tính hợp lý, tiến bộ vì lợi ích của nhân dân

Tuy nhiên do tập quán tồn tại ở dạng bất thành văn nên thường được hiểu một cách ước lệ, nó có tính tản mạn, địa phương, khó bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện một cách thống nhất trong phạm vi rộng. Không những thế, so với pháp luật, phạm vi tác động, tính bắt buộc và các biện pháp bảo đảm cũng như khả năng linh hoạt trong điều chỉnh của tập quán thấp hơn, và tập quán thường có tính bảo thủ, khó thay đổi, tồn tại chủ yếu thông qua truyền miệng hoặc dưới dạng mô thức hành vi mẫu cứng nhắc, không cụ thể về nội dung nên quá trình áp dụng thường thụ động và dẫn đến sự tuỳ tiện.

Tóm lại, để tập quán pháp luật phát huy hiệu quả cao khi tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó có những giải pháp quan trọng như: Tập hợp tập quán theo các tiêu chí cụ thể, hoàn thiên pháp luật quy định về tập quán theo nguyên tắc hài hoà, phù hợp, tránh xu hướng coi nhẹ cũng như quá đề cao vai trò của tập quán; phát huy vai trò của cá nhân, tổ chức có uy tín trong việc áp dụng tập quán, xây dựng các quy phạm pháp luật định nghĩa về tập quán…
Xem thêm

4 Đọc thêm

Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lý luận Nhà nước và pháp luật
Bài tập học kỳ Lý luận Nhà nước và pháp luật 8 điểm

Trong đời sống xã hội, pháp luật có một vai trò, vị trí vô cùng quan trọng và mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Pháp luật là một trong những phương tiện có hiệu quả nhất để quản lí xã hội. Tuy nhiên pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò to lớn của nó khi nó được áp dụng vào đời sống và được cụ thể hóa bằng những hành động của con người, đó chính là áp dụng pháp luật. Vấn đề dặt ra đối với nhà nước là không phải cứ ban hành ra nhiều văn bản luật mà quan trọng hơn là phải áp dụng pháp luật đó trong cuộc sống . Chính từ ý nghĩa quan trọng của vấn đề này nên em đã lựa chọn đề tài: “Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay” để làm rõ hơn vấn đề hoạt động áp dụng pháp luật ở nước ta.


NỘI DUNG

I. Lí luận chung về áp dụng pháp luật

Trong khoa học pháp lý, áp dụng pháp luật được coi là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, do vậy, trước khi tìm hiểu khái niệm áp dụng pháp luật, chúng ta cùng xem xét khái niệm thực hiện pháp luật.

1.Khái niệm thực hiện pháp luật

“Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình”.

Căn cứ vào tính chất pháp lí người ta chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức chính là: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, và áp dụng pháp luật.

2. Áp dụng pháp luật

2.1: Khái niệm áp dụng pháp luật

Trong bốn hình thực hiện pháp luật đã nêu thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền. Do đó ta có thể định nghĩa về áp dụng pháp luật như sau :

“Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy dịnh của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể”

Từ định nghĩa trên ta thấy áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau :

Một là, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước.

Hai là, áp dụng pháp luật phải tuân theo những hìnhh thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Ba là, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh mạng tính cá biệt,cụ thể đối với những quan hệ xã hội nhất đị

Bốn là, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo

2.2:Các trường hợp cần áp dụng pháp luật

Khi xem xét về mặt lí luận ta có thể thấy, hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong một số trường hợp sau :

Thứ nhất, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt .

Ví dụ: Quan hệ pháp lí giữa một người với công ty chỉ phát sinh khi giám đốc công ty đó ký hợp đồng với họ.

Thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền .

Thứ ba khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước .Có thể áp dụng pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật nhưng cũng có thể không vi phạm pháp luật.

Thứ tư khi cần áp dụng các hình thức khhen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật

Thứ năm khi cần điều tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong một số lĩnh vực.

Thứ sáu khi cần xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế nào đó theo quy định của pháp luật.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay.

Trong thực tế hoạt động áp dụng pháp luật chịu sự quy định, ảnh hưởng của nhiều yếu tố thuộc cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng pháp lý. Và sau đây là những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật

1.Hoạt động xây dựng pháp luật

Trước hết, hoạt động áp dụng pháp luật có liên quan rất chặt chẽ với hoạt động xây dựng pháp luật . Để thực hiện và áp dụng pháp luật có hiệu quả trước hết phải có pháp luật tốt. Nói cụ thể hơn là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh , đồng bộ , sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tếxã hội, phù hợp với những điều kiện kinh tế , chính trị,văn hóa xã hội, tâm lí, tổ chức ...mà trong đó pháp luật sẽ tác động, đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của đất nước ở mỗi thời kì phát triển . Sau khi đã ban hành pháp luật, vấn đề quan trọng có ảnh hưởng tới việc thực hiện , áp dụng pháp luật là tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân để mọi người nắm được các quy định của pháp luật, từ đó họ có ý tức tự giác tuân theo pháp luật.

2.Trình độ văn hóa pháp lí của cán bộ và nhân dân

Hoạt động áp dụng pháp luật không những có liên quan chặt chẽ đến hoạt động xây dựng pháp luật mà sự hoàn thiện của hoạt động áp dụng pháp luật còn đòi hỏi trình độ pháp lí của cán bộ, nhân dân trong xã hội.Vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân , tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật để từ đó họ có những hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác và đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực , vi phạm pháp luật trong xã hội

3.Công tác tổ chức và cán bộ của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật vốn là hoạt động do các cơ quan hoặc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành như cơ quan hành chính, tòa án, viện kiểm sát, công an...Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động áp dụng pháp luật nên chủ thể bị áp dụng có thể được hưởng lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự thủ tục... của chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật. Chính vì vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần được tổ chức một cách khoa học,có sự phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của mỗi cơ quan, mỗi bộ phận để tránh hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn cản trở nhau trong công việc của các cơ quan này. Sự không thống nhất, không phân định rõ ràng phạm vi, lĩnh vực hoạt động hoặc thẩm quyền của các cơ quan dễ dẫn đến có những vụ việc thì nhiều cơ quan tranh nhau giải quyết nhưng lại có những vụ việc thì đùn đẩy không cơ quan nào nhận trách nhiệm giải quyết. Trong tổ chức và hoạt động của các
cơ quan áp dụng pháp luật phải đảm bảo tính năng động , chủ động, sáng tạo , sự độc lập của mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ phận đồng thời đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, giữa các bộ phận cùng tham gia áp dụng pháp luật cũng như sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan áp dụng pháp luật với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc với các tổ chức xã hội .

Đặc biệt, hoạt động hiệu quả của các cơ quan áp dụng pháp luật còn thể hiện ở sự thông thạo các công việc mà họ đảm nhận và thực hiện chúng với tinh thân trách nhiệm cao, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, trì trệ, giấy tờ hình thức hoặc thờ ơ lãnh đạm đối với số phận, tính mạng con người, với tài sản của Nhà nước và của nhân dân .Thực tế cho thấy sự quan liêu, chậm trễ, thiếu tinh thần trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc một số cán bộ có chức có quyền trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân dẫn đến nhiều vụ việc đơn giản lại trở nên phức tạp, nhiều sự oan ức bất bình trong nhân dân không giải quyết được gây ra hậu quả không thể lường trước .

4.Văn bản áp dụng pháp luật

Khi nói tới hoạt động áp dụng pháp luật thì chúng ta không thể không nhắc tới các văn bản áp dụng pháp luật bởi tính hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, sự tác động của các văn bản áp dụng pháp luật. Quá trình áp dụng pháp luật phải thông qua một số giai đoạn nhất định, các giai đoạn đó được thực hiện nhờ sự trợ giúp của các văn bản áp dụng pháp luật. Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lí cá biệt, mang tính quyền lực do các chủ thể có thẩm quyền ban hành trên cơ sơ sở pháp luật theo trình tự thủ tục luật định nhằm điều chỉnh cá biệt đối với cáctổ chức, các nhân cụ thể trong những trường hợp cụ thể như bản án, quyết định, sự xác nhận của cơ quan nhà nước... Do vậy trong tất cả các trường hợp các văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng lúc, đúng đối tượng và phù hợp với một số yêu cầu sau: văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp, nghĩa là nó được ban hành đúng thẩm quyền hoặc nhà chức trách chỉ được ban hành một số văn bản áp dụng pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành có cơ sở thực tế, nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy.

5.Ý thức pháp luật cuả người áp dụng pháp luật, người bị áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật và chủ thể bị áp dụng pháp luật.

Ý thức pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động áp dụng pháp luật. Tất cả các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật, người ápdụng pháp luật và người bị áp dụng pháp luật đều cần có ý thức pháp luật để điều chỉnh hành vi của mình và hành vi của các chủ thể khác phù hợp với mục đích, yêu cầu của pháp luật.

Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luât và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp với các hành vi pháp lí thực tiễn. Khi ra các quyết định nhất là các văn bản áp dụng pháp luật cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền phải căn cứ vào quy địnhcủa pháp luật chứ không thể căn cứ vào những động cơ các nhân, cục bộ vì hoạt động này liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể đặc biệt là đối với chủ thể bị áp dụng pháp luật. Do đó các quyết định áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, trình tự thủ tục do pháp luật quy định, tổ chức thi hành quyết định đó trên thực tế. Nói chung áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có ý thức pháp luật cao nếu không có ý thức pháp luật cao thì chủ thể bị áp dụng pháp luật sẽ rất khó để nhận thấy rằng ý thức pháp luật đã có tác động tích cực đến quá trình thực hiện nghiệp vụ của chủ thể tiến hành.

Ý thức pháp luật của cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật càng cao thì hoạt động áp dụng pháp luật của họ càng đúng đắn và hiệu quả. Chủ thể áp dụng pháp luật nhân danh quyền lực nhà nước nên hoạt động áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc với chủ thể bị áp dụng vì thế hoạt động này không chỉ thể hiện ý thức của người trực tiếp áp dụng pháp luật mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, thay đổi thái độ tình cảm pháp luật của người bị áp dụng. Nếu họ thực hiện những hành vi sai trái thì vô tình sẽ dẫn đến thái độ coi thường pháp luật của người dân và nguy hiểm hơn là có thể làm cho nhân dân không còn niềm tin vào pháp luật và chế độ nữa. Ngược lại nếu những người áp dụng pháp luật có ý thức pháp luật cao thì nhân dân sẽ có niềm tin vào pháp luật, thấy được giá trị của việc tôn trọng pháp luật và thực hiệ chính xác, tuân theo pháp luật và vận động nười khác làm theo pháp luật.

Ý thức pháp luật và hành vi của cán bộ công chức nhà nước có ảnh hưởng sâu rộng , trực tiếp đến nhiều cá nhân khác nhất là hoạt động pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp bởi một trong những thẩm quyền quan trọng của họ là có thể ban hành những nghị quyết làm pháp sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một hay nhiều quyền hạn hay nhiệm vụ pháp lí, có thể đưa lại lợi ích hoặc thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần cho các tổ chức, cá nhân khác. Do đó đối với cán bộ trong hoạt động tư pháp thì ý thức pháo luật càng cần được chú trọng. Hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật cần phải hiểu nội dung của quy phạm, xác định rõ các đặc trưng pháp lí của sự vụ có liên quan để ban hành văn bản áp dụng pháp luật chính xác, hợp pháp. Mọi sai sót trong quá trình cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ hoặc cá biệt hóa chế tài pháp luật đều có nguy cơ phá vỡ tính đúng đắn của quá trình áp dụng pháp luật. Vì vậy, chỉ có thể đem lại hiệu quả tốt nhất cho hoạt động áp dụng pháp luật khi ý thức của các cá nhân có thẩm quyền được bảo đảm. Nâng cao trình độ văn hóa pháp lí, ý thức pháp luật, hình thành bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng… là những đòi hỏi cần thiết đới với những người áp dụng pháp luật trên thực tế.

Không những thế ý thức pháp luật còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong các trường hợp các quy phạm pháp luật hiện hành bị lạc hậu, không đáo ứng được một cách đầy đủ, chính xác những đòi hỏi của sự phát triển của xã hội hoặc trong những trường hợp cần giải quyết vụ việc không có pháp luật điều chỉnh cần áp dụng pháp luật tương tự. Trong những trường hợp đó người trực tiếp áp dụng pháp luật sẽ căn cứ vào ý thức pháp luật, các nguyên tắc và niềm tin nội tâm của mình để giải quyết vụ việc theo những cách khác nhau để phù hợp. Thực tế cho thấy không ít trường hợp do mục đích động cơ cá nhân hoặc những nguyên nhân khác nhau mà người có thẩm quyền áp dụng pháp luật đã cụ thể hóa mục đíct trái hẳn hoặc không phù hợp với mục đích xã hội. Do vậy cần có những hoạt động kiểm tra, giám sát thật chặt chẽ quá trình áp dụng pháp luật đồng thời phải có biện pháp xử lí nghiêm minh những người cố ý áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp với mục đích xã hội.

6.Những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật

Hoạt động áp dụng pháp luật còn chịu ảnh hưởng của những điều kiện đảm bảo cần thiết về vật chất kỹ thuật. Nhiều văn bản pháp luật, nhiều quy định của pháp luật muốn được thực hiện trong thực tế đòi hỏi phải có một chi phí rất lớn về sức người và trang bị vật chất kỹ thuật. Vì thế kinh phí hoạt động cho hoạt động áp dụng pháp luật là một trong diều kện cần thiết quan trọng để việc áp dụng pháp luật có hiệu quả. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của người trực tiếp áp dụng pháp luật và gia đình họ, giúp họ giảm bớt những khó khăn về vật chất để họ có thể tận tam dồn hết thời gian , sức lc, trí tuệ cho công việc , không bị mua chuộc về vật chất, giữ thái độ vô tư khách quan.

Hoạt động áp dụng pháp luật cũng phải luôn tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tất cả các công đoạn, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện vi phạm pháp luật, những hành vi áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp.

Ngoài những yếu tố trên thì hoạt động áp dụng pháp luật còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác như chất lượng hệ thống pháp luật, chất lượng của quy phạm pháp luật...

Trên đây chỉ là một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt đông áp dụng pháp luật mà em muốn nói đến và từ đó giúp ta có những biện pháp đúng đắn để hoạt động áp dụng có hiệu quả hơn, tốt đẹp hơn.

KẾT LUẬN

Như vậy hoạt động áp dụng pháp luật là một vấn đề phức tạp được tiền hành bởi các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền và chịu ảnh hưởng của yếu tố khác nhau. Để hoạt động áp dụng pháp luật đạt được hiệu quả tốt nhất chúng ta cần có những biện pháp thiết thực.
Xem thêm

11 Đọc thêm

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng Bài tập lớn Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam
Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống các tổ chức chính trị xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc và giữa các tổ chức xã hội. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, khái niệm hệ thống chính trị có những nội hàm đặc thù nên được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam), và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống.

Đổi mới tư duy về hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta – lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam. Trong thời kì đổi mới thì nhiệm vụ trên lại càng trở nên cần thiết, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Là một sinh viên Luật, em nhận thấy mình có trách nhiệm phải tìm hiểu về chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng” cho bài tập lớn bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.

NỘI DUNG

1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ “ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN”

Khái niệm “Nhà nước pháp quyền”

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có từ rất sớm ở Hy Lạp. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Đến thế kỷ XVIII, các nhà dân chủ tư sản tiếp tục hoàn thiện, nâng lên thành học thuyết về nhà nước pháp quyền. So với nhà nước chuyên chế phong kiến đây là nhà nước tiến bộ, nhân đạo có giá trị của nền văn minh nhân loại. Trong lịch sử thế giới đã tồn tại nhiều hình thức nhà nước pháp quyền, dựa trên nguyên tắc chung, ở nhiều nước khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau, xuất phát từ những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nhất định.

Lí thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Ví dụ trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ). Như vậy chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ.

Nhà nước pháp quyền là hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước pháp trị ở chỗ Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân. Nhà nước pháp quyền chính là sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp quyền.

Vấn đề “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam

Sự ra đời của khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam

Trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về “Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa” bằng văn bản. Cho đến trước đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mặc dù trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.

Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến bởi đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 29111991.

Sau đó, bắt đầu từ Hội nghị gữa nhiệm kì khóa VII (11994), Đảng ta đã dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”.

Đồng thời, trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 1972007, đồng chí Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Như lời Luật sư Lê Công Định “học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam”.


Bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

Điều 2 Hiến pháp nước ta hiện nay xác định “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” ( “Hiến pháp Việt Nam, năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178).

Bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân được thể hiện bằng những đặc trưng sau:

Một là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do nhân dân, mà nóng cốt là liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo để thực hiện quyền lực của nhân dân. Đó chính là tính chất giai cấp của Nhà nước ta.
Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhà những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Đồng thời, nhân dân có quyền giám sát, yêu cầu các đại biểu và cơ quan trả lời những vấn đề của nhân dân đặt ra trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm quyền lợi của nhân dân.

Hai là, Nhà nươc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam vừa là bản chất, vừa là truyền thống, vừa là nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước ta. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tốc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 1992 khẳng định:
“ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tốc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các giai cấp, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phts huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình…”
Các dân tộc có quyền lựa chọn những đại biểu ưu tú của dân tốc mình tham gia vào cơ quan nhà nước các cấp.

Ba là, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Khi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thì quan hệ giữa Nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã họi, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ trước Nhà nước. Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân: quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước.

Bốn là, tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Dân chủ hóa đời sống xã hội và hoạt động của Nhà nước là đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ
bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Thực chất của dân chủ XHCN là thu hút những người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng Nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của Nhà nước.

Những đặc điểm mang tính bản chất nêu trên của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và được pháp luật chế định một cách chặt chẽ.

2. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

Tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Phần này em sẽ tập trung phân tích tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền (hay nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) ở Việt Nam. Nói cách khác, chính là phân tích lí do vì sao Đảng lại chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Cụ thể như sau:

Tính tất yếu lịch sử:

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử
xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới.

Tính tất yếu khách quan:

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, tính tất yếu khách quan còn bắt nguồn từ xu thế pháp quyền trên thế giới (đã được phân tích ở phần 1.1 ). Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng được một nhà nước pháp quyền theo xu thế chung của thế giới nhưng vẫn phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của Việt Nam.

Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.


Quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Thuật ngữ “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu ở văn kiện hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1994), đánh dấu mốc quan trọng trong tư duy lí luận của Đảng.

Đại hội VIII (1996) tiếp tục đặt vấn đề xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “ Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Các Hội nghị TW lần thứ 3, 7, 8 (khóa VIII) đã cụ thể hóa những quan điểm trên.

Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là tính hoa, sản phẩm trí tuệ của nển văn minh nhân loại.
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trọng việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ cháp hành Hiến pháp và pháp luật.”

Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta như sau:

Một là, đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhà nước.

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa cac
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thường trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.


Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng

Đại hội X chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện cac quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”
Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong những năm tới cần làm tốt các việc sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 362008, các văn bản quy phạm pháp luật trước khi được ban hành cần được thẩm định nghiêm túc và khách quan. Một trong những nội dung quan trọng phải được thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Ban hành văn bản pháp luật là “Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện”. Quy định nêu trên là hợp lý và cần thiết để những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Sẽ là vô nghĩa và gây ra những tốn kém không cần thiết cả về thời gian và tiền bạc khi một văn bản quy phạm pháp luật được dự thảo, hội thảo, nghiên cứu, ban hành nhưng xa rời thực tế hoặc tạo ra những tác động ngược và các đối tượng thực thi không thể thi hành. Quy định của pháp luật và ý nghĩa của việc đảm bảo tính khả thi của văn bản là đã rõ và về mặt lý thuyết không có ai phản đối. Tiếc thay, hiện nay đã và đang xuất hiện khá nhiều văn bản không có tính khả thi hoặc tính khả thi rất thấp.

Trước hết phải kể đến một số nghị định của Chính phủ, bao gồm cả những văn bản đã được ban hành và những văn bản đang là dự thảo. Xuất hiện nhiều quy định xa rời thực tế hơn cả là Nghị định số 342010NĐCP ngày 242010 của Chính phủ (NĐ 34) “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”. Trong nghị định này, ít nhất cũng có ba điều xa thực tế, đó là: quy định xử phạt vi phạm Luật Giao thông đối với người đi bộ; quy định xử phạt những người hành nghề xe ôm không đeo biển hiệu và không có trang phục do cấp tỉnh quy định để phân biệt với những người tham gia giao thông khác; quy định xử phạt với những lái xe vận chuyển container không có bằng FC.

Từ ví dụ trên có thể thấy: Văn bản sẽ có tính khả thi cao khi các quy định của văn bản không chỉ có tính cưỡng chế với người dân mà người dân cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, “hợp lòng dân” và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người. Các quy định “hợp lòng dân” là các quy định mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định.

Muốn có các quy định có tính khả thi cao, người soạn thảo cần có bước tiến hành đánh giá, nghiên cứu về thực tế cuộc sống và cần phải có ước tính các điều kiện để bảo đảm tính khả thi của từng quy định. Khi đặt ra các quy định liên quan đến quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến người dân, cơ quan soạn thảo cần chú ý tham khảo thêm ý kiến của họ. Bên cạnh các yêu cầu nêu trên, cơ quan ban hành văn bản còn phải xác định thế nào là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản? Đôi khi, cần phân tích trong từng quy phạm để có thể thấy được rõ ràng, chính xác ai là người được coi là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của văn bản. Khi xây dựng văn bản và dự thảo từng quy định quan trọng của văn bản nếu người soạn thảo đánh giá được tác động kinh tế xã hội cũng như dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản (khía cạnh tích cực, tiêu cực) thì văn bản khi được áp dụng, chắc chắn sẽ có tính khả thi cao. Việc dự kiến nguồn lực bảo đảm tổng thể các yếu tố về thi hành gồm các vấn đề về tài chính, con người, bộ máy. Ví dụ: đưa ra chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi cho nông dân nghèo, cần phải tính đến phát sinh hệ thống cơ quan tín dụng, các nhân viên tín dụng, bộ máy địa phương, hoạt động của các trung tâm khuyến nông… và cả việc Nhà nước sẽ có chính sách ưu đãi và chi phí. Để có được những báo cáo hiệu quả, đòi hỏi có sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Việc tổng hợp các báo cáo, số liệu nghiên cứu từ các cơ quan có liên quan sẽ giúp ích rất nhiều cho người soạn thảo và cũng giúp ích cho cả các cơ quan có thẩm quyền xem xét về nội dung dự thảo văn bản (thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản). Đối với người soạn thảo, nghị quyết của hội đồng nhân dân hay một quyết định của ủy ban nhân dân, nếu như có sự nghiên cứu nghiêm túc và đưa ra một báo cáo đánh giá với đầy đủ những nội dung và phương pháp nêu trên, họ sẽ có nhiều khả năng trình trước cơ quan có thẩm quyền một dự thảo đầy tính thuyết phục và bởi vậy mà khả năng thông qua được sẽ cao hơn, chắc chắn hơn.

Hai là, đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt đông của Quốc hội.
Để thực hiện việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Đảng chỉ rõ công việc cần phải thực hiện bao gồm:

+ Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội.

+ Tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội.

+ Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh.

+ Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết đinh các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội.

Cụ thể vấn đề này, vào ngày 2832011, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khoá XII (2007 2011).
Nhiều đại biểu quan tâm tới vấn đề hiệu lực, hiệu quả và hạn chế của hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn; sự phối hợp của các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát; việc xem xét, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) cho rằng, để nâng cao chất lượng hoạt động, cần xác định rõ hơn vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của các đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu tán thành chủ trương tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách.

Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) cũng cho rằng, địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác giữa đoàn đại biểu Quốc hội với cấp ủy và chính quyền địa phương cũng chưa rõ, thiếu cụ thể nên chất lượng hoạt động giữa các đoàn còn chưa thực sự đồng đều.

Tổ chức, bộ máy và phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội cũng là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm góp ý. Các đại biểu Danh Út, Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) đề nghị cần xem xét điều chỉnh theo hướng tăng cường các cơ quan trực thuộc Quốc hội, như thành lập Ủy ban Dân nguyện trực thuộc Quốc hội, nâng cấp Viện nghiên cứu lập pháp thành một cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộc Quốc hội để thêm kênh cung cấp nguồn thông tin chính thống cho đại biểu.

Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) cho rằng Quốc hội cần tăng cường tính chuyên nghiệp, tính liên tục và tính kế thừa. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, cần phát huy vai trò của từng đại biểu, đoàn đại biểu, các ủy ban và toàn thể Quốc hội. Đại biểu Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định) cũng đề nghị, để đảm bảo tính chủ động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban.

Theo đại biểu Lê Thị Dung (An Giang), tính phản biện, đa chiều trong các báo cáo thẩm tra phải cao hơn, tránh tuyệt đối tình trạng nể nang; cải tiến hơn nữa trong chất vấn và trả lời chất vấn.
Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) nhận xét, chất lượng nhiều dự thảo chưa tốt, chuẩn bị chưa kỹ càng; chưa thấy sự tham gia của các nhà khoa học để tạo kênh thông tin cần thiết cho các đại biểu; theo dõi giải quyết kiến nghị của cử tri còn hạn chế.

Tuy vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho rằng, muốn nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mỗi đại biểu Quốc hội cần tự vấn, mình đã làm được gì, chưa làm được gì cho công việc chung? Muốn có luật tốt phải có sự chuẩn bị, đầu tư tốt, không nên đề cập đến vai trò của các nhà khoa học bởi đây là việc của chính các đại biểu Quốc hội. Đại biểu cho rằng nên quan tâm đến chất lượng luật hơn là số lượng.

Đại biểu Ngô Minh Hồng và đại biểu Trần Du Lịch (Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Thị Loan (Hà Nội) kiến nghị cần nêu vai trò chủ động của Quốc hội trong một số vấn đề như quyết định và giám sát chi tiêu ngân sách; xây dựng luật, pháp lệnh.

Ba là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ.
Theo đó, chúng ta cần phải:

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại.

+ Luật hóa cơ cấu tổ chức của Chính phủ; tổ chức Bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm hiệu lực, tinh gọn và hợp lý.

Trước Đại hội X, Chính phủ có 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng, 20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và hơn 10 cơ quan trực thuộc Chính phủ (trên 40 thành phần). Nếu so với thời kỳ bao cấp thì bộ máy của Chính phủ được tinh gọn hơn (nhưng chỉ tinh gọn hơn một chút) và nếu so sánh với các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Việt Nam có lẽ được xếp vào một trong số ít quốc gia có bộ máy cồng kềnh và nhiều bộ nhất. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định chủ trương xây dựng “Bộ đa năng”, “Bộ đa lĩnh vực”, “Bộ đa ngành” và giảm bớt các cơ quan trực thuộc Chính phủ, giao về cho bộ quản lý theo tính chất chuyên môn nhưng trên thực tế Chính phủ hiện nay (Chính phủ được thành lập sau Đại hội IX của Đảng) lại tăng thêm 4 bộ nâng tổng số bộ, cơ quan ngang bộ lên đến 26 chứ không giảm về cơ cấu như nghị quyết Đảng với phương hướng cải cách bộ máy nhà nước.

Đại hội X đã chủ trương: tinh gọn và cơ cấu lại bộ máy nhà nước. Tinh gọn bộ máy nhà nước thì trước hết phải tinh gọn bộ máy Chính phủ vì Chính phủ là đầu tàu, là bộ não chỉ huy nền hành chính quốc gia chứ không phải là trung tâm thực hành quản lý hành chính, không phải là cơ quan trực tiếp điều hành quản lý hành chính, cơ quan giải quyết sự vụ hành chính.

Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm mạnh các đầu mối phù hợp với yêu cầu đổi mới chức
năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp theo hướng giảm mạnh cấp phó, bỏ cấp trung gian; chuyển các bộ phận phục vụ sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với thực hiện có hiệu quả thanh tra, kiểm tra của cấp trên. Tăng cường quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, về tổ chức, nhân sự và tài chính của các đơn vị dịch vụ công cộng. Nghiên cứu để áp dụng cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chính quyền cấp dưới. Tách hoạt động hành chính với hoạt đông động sự nghiệp, các hoạt động công quyền với các hoạt động dịch vụ. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ công vụ trong các cơ quan nhà nước.

+ Nghiên cứu việc thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính.

+ Thực hiện phân cấp mạnh, hợp lí cho chính quyền địa phương, giao quyền chủ động hơn nữa cho các địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương.

Bốn là, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp.

+ Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người.

+ Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra.

+ Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Năm là, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

+ Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.

+ Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân.

+ Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.

Sáu là, đổi mới tổ chức, bộ máy hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức.

+ Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức.

Ban hành và thực hiện Luật về công chức, chức vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

+ Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức.

+ Có cơ chế đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những người không xứng đang, kém phẩm chấ và năng lực. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nwcs, hành vi của các công chức. Trừng trị nghiêm khắc theo pháp luậ những hành vi phạm pháp, phạm tội, bất cứ ở cương vị, chức vụ nào.

+ Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

+ Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham những, lãng phí. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta.


Nhận xết về kết quả thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng
Có thể tổng kết công tác thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta qua bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chiều 293 bế mạc Kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa XII. Cụ thể:

Tích cực: Quốc hội đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chủ tịch nước với tư cách là một định chế trong tổ chức quyền lực nhà nước, đã có nhiều đóng góp tích cực vào hoạt động đối nội, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, điều hành quản lý đất nước, quản lý xã hội một cách năng động, quyết liệt, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Các cơ quan tư pháp đã từng bước đổi mới theo lộ trình cải cách tư pháp và có nhiều tiến bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát hoạt động tư pháp. Những kết quả đó đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước.

Hạn chế: Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn những yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của việc quyết định và điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, một số văn bản còn thiếu thống nhất, tính khả thi chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng chưa tốt; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; cải cách tư pháp còn chậm.

KẾT LUẬN

Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống chính trị đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói hệ thống chính trị chung, đường lối đổi mới hệ và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng là sáng tạo, đúng đắn, phù hợp thực tiễn, bắt đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết điểm, nhược diểm của hệ thống chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm nên thành tực to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật

VẤN ĐỀ THẨM ĐỊNH THẨM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật Bài tập học kỳ môn Xây dựng văn bản pháp luật
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật
Vấn đề thẩm định thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Trong quá trình soạn thảo để ban hành ra một văn bản quy phạm pháp luật sẽ có những trường hợp mắc lỗi trong văn bản, những lỗi đó dù nhỏ nhưng cũng có thể gây ra hậu quả khó lường trong thực tiễn áp dụng. Do đó, để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót đó, đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định việc thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật. Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một trong những thủ tục quan trọng của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bởi là một khâu quan trọng nên trách nhiệm của những chủ thể thực hiện công việc thẩm tra, thẩm định càng trở nên quan trọng hơn nữa.

NỘI DUNG

1, Khái quát chung về thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thẩm tra và thẩm định là những hoạt động tương tự nhau về chuyên môn nhưng có một số điểm khác biệt. Mọi dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều được thẩm định nhưng riêng đối với các dự án văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn được thẩm tra bởi các cơ quan chuyên trách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Về phạm vi, thẩm tra và thẩm định đều xem xét tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo, bên cạnh đó thẩm định còn xem xét về sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, kĩ thuật soạn thảo văn bản; thẩm tra còn xem xét về tính chính trị, tính hợp lí và tính khả thi của dự thảo.

Nguyên tắc thẩm tra, thẩm định là bảo đảm tính khách quan và khoa học; tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn thẩm định dự án, dự thảo; bảo đảm sự phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ tư pháp, phối giữa Bộ tư pháp với cơ quan liên quan; bảo đảm sự trao đổi, thảo luận tập thể trong đơn vị được giao thẩm định dự án, dự thảo.

2, Trách nhiệm của các chủ thể trong việc thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

2.1 Bộ tư pháp

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, dự thảo nghị định, dự thảo quyết định.

Trong việc thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Bộ tư pháp có trách nhiệm:

 Tổ chức thẩm định dự án, dự thảo đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng của báo cáo thẩm định.

 Tổ chức nghiên cứu các nội dung liên quan đến dự án, dự thảo;

 Tổ chức các hội thảo về nội dung của văn bản được thẩm định trước khi nhận hồ sơ thẩm định;

 Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức có liên quan,các chuyên gia, các nhà khoa học;

 Tham gia với các cơ quan chủ trì soạn thảo khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo;

 Tham gia các hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập trong quá trình soạn thảo dự án, dự thảo;

 Đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cở đại diện phối hợp thẩm định;

 Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo và cung cấp thông tin tìa liệu có liên quan đến dự án, dự thảo;

 Mời đại diện các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học có liên quan tham gia hoạt động thẩm định.

Cụ thể trong quá trình triển khai thẩm định của Bộ tư pháp, các chủ thể có trách nhiệm như sau:

Đối với Bộ trưởng Bộ tư pháp phụ trách chung về công tác thẩm định dự án, dự thảo.

Đối với Thứ trưởng thường trực phụ trách chung công tác thẩm định khi Bộ trưởng vắng mặt, giải quyết công việc liên quan đến công tác thẩm định được phân công cho Thứ trưởng khác phụ trách khi Thứ trưởng đó vắng mặt. Các thứ trưởng giúp Bộ trưởng trực tiếp phụ trách công tác thẩm định dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực theo sự phân công của Bộ trưởng. Đối với dự án, dự thảo quan trọng, phức tạp, Thứ trưởng phụ trách có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng và xin ý kiến chỉ đạo về ý kiến thẩm định.

Đối với các đơn vị thuộc Bộ: Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo và dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ tư pháp. Trong trường hợp dự thảo quyết định, dự thảo thông tư có nội dung phức tạp, Vụ trưởng vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có thể yêu cầu các đơn vị phối hợp thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Trường hợp các đơn vị khác được giao chủ trì tổ chức thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ tư pháp thì trình tự, thủ tục thẩm định được áp dụng theo các quy định của Nghị định số 242009NĐCP. Trong quá trình thẩm định dự thảo quyết định, thông tư, đơn vị chủ trì thẩm định có thể tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định. Trong trường hợp vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật được phân công chủ trì soạn thảo quyết định, thông tư thì Bộ trưởng quyết định đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định.

Đối với thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định: Trong việc thẩm định dự án, dự thảo được phân công Thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức có trách nhiệm:

+ Phân công một lãnh đạo đơn vị phụ trách việc tổ chức thẩm định dự án, dự thảo;

+ Đề nghị các đơn vị liên quan phối hợp thẩm định khi xét thấy cần thiết;

+ Đề xuất việc yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo trước khi thẩm định;

+ Đề nghị cơ quan soạn thảo cung cấ thông tin và tài liệu có liên quan đến dự an, dự thảo được thẩm định;

+ Đề xuất việc tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo trong những trường hợp cần thiết;

+ Tổ chức hoặc đề xuất lãnh đạo tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định với sự tham gia của cơ quan chủ trì soạn thảo và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lí.

2.2 Pháp chế bộ, ngành

Tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

• Trong việc thẩm định dự thảo thông tư, tổ chức pháp chế có trách nhiệm sau đây:

 Thẩm định dự án, dự thảo đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng của báo cáo thẩm định.

 Tổ chức nghiên cứu các nội dung liên quan đến dự thảo;

 Tham gia cùng đơn vịchur trì soạn thảo khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo;

 Yêu cầu đơn vị chủ trì thuyết trình về dự thảo;

 Đề nghị đơn vị chủ trì soạn thảo cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến dự thảo;

 Phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo trong quá trình soạn thảo thông tư;

 Đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phân công các đơn vị khác phối hợp thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học trong những trường hợp dự thảo có nội dung phức tạp.

• Đơn vị chủ trì soạn thảo thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm:

 Mời đại diện tổ chức pháp chế tham gia các hoạt động soạn thảo dự thảo;

 Gửi đầy đủ hồ sơ thẩm định đến tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến dự thảo thông tư theo yêu cầu của tổ chức pháp chế;

 Thuyết trình về dự thảo thông tư khi có yêu cầu của tổ chức pháp chế;

 Phối hợp với tổ chức pháp chế nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lí dự thảo trên cơ sở ý kiến thẩm định;

 Giải trình bằng văn bản về việc tiếp thu, không tiếp thu ý kiến thẩm định và báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, đồng thời gửi bản giải trình đến tổ chức pháp chế.

• Các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

 Cử đại diện có trình độ chuyên môn có trình độ phù hợp phối hợp thẩm định theo đề nghị của tổ chức pháp chế;

 Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc thẩm định theo yêu cầu của tổ chức pháp chế.

2.3 Cơ quan chủ trì soạn thảo

Để hoạt động soạn thảo được đảm bảo chất lượng, hiệu quả cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đối với công tác thẩm định như sau:

 Gửi đầy đủ hồ sơ thẩm định theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và cung cấp các tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo theo yêu cầu của cơ quan thẩm định.

 Trong trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề có liên quan đến nội dung của dự thảo, dự án theo yêu cầu của cơ quan thẩm định.

 Cử đại diện có trình độ chuyên môn phù hợp tham gia Hội đồng thẩm định và các cuộc họp thẩm định theo đề nghị của Bộ tư pháp.

 Mời đại diện Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ soạn thảo dự án, dự thảo.

 Phối hợp với Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lí dự án, dự thảo trên cơ sở ý kiến thẩm định để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

 Tiếp thu và giải trình ý kiến thẩm định, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định gửi dự thảo đã được chỉnh lí và văn bản tiếp thu giải trình đến Bộ tư pháp và Văn phòng Chính phủ, đăng tải dự thảo đã được chỉnh lí trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định trên trang Thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan mình.

2.4 Hội đồng thẩm định

Bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định trong những trường hợp sau đây:

 Thẩm định dự án Luật, pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và dự thảo Nghị định có nội dung phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực.

 Thẩm định dự thảo do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo.

Hội đồng thẩm định gồm Chủ tịch hội đồng thẩm định, Thư kí Hội đồng và các thành viên khác là đại diện Bộ tư pháp, Văn phòng Chính phủ và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học. Tổng số thành viên của Hội đồng thẩm định ít nhất là 9 người. Đối với trường hợp thẩm định dự án, dự thảo của Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo thì đại diện Bộ tư pháp không quá 13 tổng số thành viên. Nếu thẩm định dự án, dự thảo liên quan đến nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, không do Bộ tư pháp soạn thảo thì đại diện Bộ tư pháp không quá 12 tổng số thành viên.

Cuộc họp Hội đồng thẩm định diễn ra dưới sự chủ trì của Chủ tịch hội đồng thẩm định và sự tham gia của ít nhất 12 tổng số thành viên Hội đồng thẩm định. Thành viên Hội đồng thẩm định không thể tham gia cuộc họp phải gửi Chủ tịch Hội đồng thẩm định ý kiến thẩm định của mình bằng văn bản.

2.5 Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

“Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra” (khoản 1 Điều 32 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008)

Các cơ quan thẩm tra này có trách nhiệm yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo về những vấn đề thuộc nội dung của dự án; tự mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan thẩm tra yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

3, Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể

Việc thẩm tra, thẩm định có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho việc phát hiện ra những kẽ hở của Luật được nhanh chóng để khắc phục, hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho những người làm luật có trách nhiệm cao hơn nữa đối với văn bản mà mình soạn thảo ra, là động lực để người soạn thảo làm việc có hiệu quả hơn.

Trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể giúp cho Nhà nước phát huy tốt hơn nữa việc quản lí hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sắp được thông qua, đảm bảo văn bản đó được soạn thảo có hiệu quả.

4, Một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả việc đảm bảo trách nhiệm thẩm tra, thẩm định của các chủ thể được thực hiện tốt hơn

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của chủ thể trong công tác thẩm tra, thẩm định.

Thứ hai, đảm bảo những chủ thể tiến hành thẩm tra, thẩm định là những người có nhân cách tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tầm nhìn sâu rộng trên lĩnh vực tiến hành thẩm định.

Thứ ba, tạo điều kiện tốt nhất cho việc thẩm tra, thẩm định cả về mặt vật chất và tinh thần.

Thứ tư, luôn kiểm tra gắt gao quá trình thẩm tra, thẩm định để quá trình này được tiến hành đúng trình tự.

KẾT LUẬN

Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trong quá trình xây dựng văn bản.Để công tác thẩm tra, thẩm định đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo phát huy tốt sự quản lí của Nhà nước thì việc quy định trách nhiệm cho các chủ thể thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định nhiệm vụ rất quan trọng, có thể coi gần như là trọng tâm của việc xây dựng văn bản pháp luật.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cũng là lúc nhiều vấn đề mới trong xã hội phát sinh và cần được giải quyết. Một công cụ quan trọng để Nhà nước tiến hành hoạt động quản lí, kiểm tra, giám sát của mình đối với xã hội chính là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân. Để có một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế thì phải trải qua rất nhiều giai đoạn trong đó không thể không kể đến hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một giai đoạn nhỏ nằm trong giai đoạn soạn thảo văn bản pháp luật nhưng có những ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động xây dựng văn bản pháp luật sau đây nhóm em xin lựa chọn đề tài số 2 làm bài tập nhóm của mình: “Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”.

NỘI DUNG

I. Một số vấn đề chung.

1. Khái niệm VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.

2. Khái quát quy trình xây dựng VBQPPL

Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua những bước sau:

a, Lập chương trình kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Chủ thể sáng kiến có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu Quốc hội, HĐND. Cơ sở đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản, các chủ thể đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản pháp luật dựa vào 3 cơ sở sau:

Cơ sở thực tiễn: là thực trạng đời sống kinh tếxã hội của đất nước, dựa vào đó các chủ thể tìm ra các nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tiễn để đưa ra đề nghị.

Cơ sở pháp lí: là những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người đề xuất sáng kiến phải dựa trên cơ sở những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để đưa ra sáng kiến

Cơ sở chính trị: Người đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản dựa vào những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng để thể chế hóa thành quy định của pháp luật đảm bảo sự tác động của pháp luật đúng định hướng của Đảng.

Nội dung của chương trình kế hoạch xây dựng VB QPPL, gồm: Tên danh mục VBQP được ban hành; Cơ quan chủ trì soạn thảo; Dự kiến thời gian hoàn thành; Dự kiến nguồn kinh phí.

b, Soạn thảo VB QPPL

Trước tiên phải thành lập ban soạn thảo. Thành phần ban soạn thảo gồm trưởng ban là lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo và tổ biên tập gồm những người am hiểu về chuyên môn, nhà pháp lí, nhà pháp lí, nhà khoa học,… Nhiệm vụ của ban soạn thảo: Khảo sát và đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan đến nội dung dự thảo để thu thập thông tin. Nghiên cứu những thông tin thực tiễn đã thu thập được; chủ trương, chính sách của Đảng để chế hóa cho phù hợp; quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; Các tài liệu có liên quan. Sau đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp; Đánh giá dự báo tác động của văn bản; Xây dựng đề cương cho dự thảo văn bản từ sơ bộ đến chi tiết; Soạn thảo văn bản.

c, Lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo

Cơ quan thực hiện chính là cơ quan chủ trì soạn thảo,lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước có liên quan; cá nhân, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; Tổ chức xã hội, trong đó Mặt trận tổ quốc Việt Nam là bắt buộc. Cơ quan thực thực có thể lấy ý kiến bằng các phương thức như tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc họp, hội thảo về chuyên môn; thông qua văn bản; Đăng tải trên Internet. Kết quả thu được sẽ đóng góp cho dự thảo, trên cơ sở đó cơ quan chủ trì sẽ tổng hợp ý kiến và chỉnh sửa dự thảo.

d, Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm tra, thẩm định dự thảo là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pháp pháp luật.

e, Trình dự thảo VBQPPL

Sau khi dự thảo đã được hoàn thiện, đã có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dư thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo. Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng dự thảo.

f, Thông qua, kí, ban hành văn bản QPPL.

VB QPPL đã được thông qua cần được ban hành bằng cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau để nhân dân và những đối tượng có liên quan biết và thực hiện. Việc công bố văn banrQPPL là cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, do đó cần được chú ý thực hiện trên thực tế.

3. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo

Đây là một bước nằm trong quá trình soạn thảo VBQPPL đòi hỏi các nhà làm luật phải có được những nhận định, đánh giá ban đầu khi soạn dự thảo. Mặc dù, khi lập chương trình kế hoạch xây dựng VBQPPL các nhà làm luật đã phải dựa trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, tuy nhiên khi đi vào cụ thể chi tiết các quy phạm lại phải được đánh giá kiểm tra lần nữa để đảm bảo sự hiệu quả, tính hợp pháp hợp lí của văn bản QPPL.

II. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL.

1. Vai trò của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật.

Thứ nhất, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản. Việc dự báo những tác động tích cực hay tiêu cực của dự thảo văn bản là rất cần thiết bởi vì tùy vào từng thời điểm xã hội, tình hình kinh tế, giáo dục mà xem xét có nên hay không ban hành văn bản qui phạm pháp luật và khi nó ra đời thì có những mặt nào đáp ứng được, mặt nào còn có vướn mắc. Ví dụ như cần có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo ban hành Luật Dân số để quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, phân bố dân số, lồng ghép dân số trong phát triển, biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Qua đó, chúng ta xem xét trên thực tế có giải quyết được tình trạng mật độ tình trạng của dân cư trên các thành phố lớn hay không, hay chất lượng đời sống dân cư có được ổn định không.... Nếu không có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản thì việc ban hành những văn bản không cần thiết sẽ dẫn đến sự lãng phí công sức, tiền bạc,... mà đôi khi những bất cập của xã hội thì chưa được giải quyết triệt để.

Thứ hai, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục trước và sau khi ban hành.

Không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối đối với hiệu quả của VBQPPL, cho dù đã cố gắng hết sức để nghiên cứu, tìm ra những phương án tối ưu nhất song ít nhiều có những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi. Để văn bản quy phạm pháp luật ban hành có hiệu quả thì trước hết phải chú trọng tới việc dự liệu những phương án giải quyết các vấn đề trước và sau khi VBQPPL được ban hành. Trong đó có những vấn đề cần giải quyết, phương hướng giải quyết, cơ quan thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các vấn đề khác như đội ngũ cán bộ, kinh phí thực hiện,… Việc hoạch định ra những dự liệu này không chỉ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật mà còn phải dựa trên những nhu cầu khách quan và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Có như vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật ra đời, văn bản quy phạm pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, có tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống. Ngoài ra, đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phải nêu lên được những tác động kinh tế xã hội, nội dung, chính sách cơ bản của văn bản,… Cùng với đó, phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập và thực hiện chương trình bằng cách quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm đối với các cơ quan tham gia xem xét dự kiến chương trình; với cơ quan đề nghị xây dựng văn bản thì cần phải có trách nhiệm giải trình và bảo vệ dự kiến chương trình do mình đề xuất.

Thứ ba, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL là cơ sở để so sánh, đánh giá tác động của VBQPPL đối với xã hội trước và sau khi ban hành.

Đây là yếu tố quan trọng mà các nhà làm luật phải cố gắng đạt được khi tiến hành soạn thảo VBQPPL bởi vì điều người dân quan tâm không phải là việc quá trình các nhà làm luật soạn thảo VBQPPL như thế nào, họ đã làm những gì để tạo nên một VBQPPL mà quan trọng đối với họ là việc sau khi VBQPPL ra đời nó đem lại những lợi ích gì cho xã hội, khắc phục được vẫn đề gì so với trước đó. Cụ thể, các nhà làm luật phải nhìn nhận, so sánh khả năng VBQPPL sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực gì đến những mặt cụ thể nào.

II. Ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác động vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài nên cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL có ý nghĩa trong việc hoàn thiện VBQPPL trước khi ban hành. Bởi như đã nói, VBQPPL là loại văn bản được sử dụng trong một thời gian dài, đối tượng điều chỉnh là các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một VBQPPL hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và công đoạn. Việc đánh giá tác động của dự thảo văn bản trước khi văn bản đó được ban hành sẽ hạn chế những sai sót, hạn chế của văn bản.

Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL còn nâng cao tính chủ động, bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của văn bản sau khi được ban hành đưa vào thực tiễn sử dụng.

Việc xây dựng, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật cần rất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội. Vì vậy, một dự thảo văn bản có tính khoa học và chính xác càng cao sẽ hạn chế tối đa được việc sửa đổi, hủy bỏ sau khi ban hành. Việc này sẽ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác xây dựng và ban hành văn bản qu Trong quá trình soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ban hành ra nó theo dõi và đánh giá những kết quả đạt được đối với quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá tác động của dự thảo là hoạt động nhằm đưa ra những mặt lợi, mặt hại của dự thảo khi được áp dựng trên thực tế. Việc đánh giá tác động của dự thảo giúp cơ quan nhà nước có được cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, khách quan về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Mặt khác, các cơ quan có thể phát hiện ra những điểm chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến văn bản quy ph ạm đang được theo dõi, đánh giá. Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thể lập được những chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới với những nội dung phù hợp thực tiễn và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

KẾT LUẬN

Trên đây là phần phân tích về vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động này đối với việc xây dựng và hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, có hiệu quả khi thực thi trên thực tế. Các cơ quan có thẩm quyền nên tiến hành hoạt động này một cách cẩn trọng, tỉ mỉ và trách nhiệm để tránh tình trạng chưa đánh giá đúng cũng như những điểm thiếu xót trong văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ tốt hoạt động quản lí nhà nước.
Xem thêm

7 Đọc thêm

TRONG VĂN BẢN THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000, VẤN ĐỀ BAO BÌ NI LÔNG ĐÃ ĐƯỢC TÁC GIẢ TRÌNH BÀY NHƯ THẾ NÀO

TRONG VĂN BẢN THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000, VẤN ĐỀ BAO BÌ NI LÔNG ĐÃ ĐƯỢC TÁC GIẢ TRÌNH BÀY NHƯ THẾ NÀO

Hành động kêu gọi "Một ngày không dùng bao bì ni lông" sẽ khiến mọi người nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ sự trong sạch của môi trường. Làm điều đó cũng vì chính cuộc sống của chúng ta. Từ hàng triệu năm nay, loài người đã xuất hiện trên Trái Đất. Chúng ta được đất nuôi dưỡng, được hít thở bầu không khí trong lành,... Có thể nói, con người đã được hưởng lợi rất nhiều từ thiên nhiên, môi trường. Tuy nhiên, nhiều người không ý thức được rằng: rất nhiều những vật dụng phế thải của chúng ta đang dần dần huỷ hoại tự nhiên, đầu độc và làm ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta. Hãy hảo vệ ngôi nhà chung, bảo vệ Trái Đất thân yêu - lời kêu gọi đó đã được cả thế giới hưởng ứng, và ngày 22 tháng 4 hàng năm đã trở thành Ngày Trái Đất. Văn bản này được soạn thảo nhân dịp Việt Nam tham gia chương trình nói trên. Thông tin về ngày Trái Đất đã được thu hẹp, thể hiện tập trung trong chủ đề: "Một ngày không sử dụng bao bì ni lông". Văn bản này gồm ba phần: trình bày nguyên nhân ra đời của thông điệp Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000; phân tích tác hại và đưa ra những giải pháp cho vấn đề sử dụng bao bì ni lông; và kết lại bằng lời kêu gọi mọi người hãy quan tâm hành động vì môi trường bằng việc làm cụ thể: "Một ngày không dùng bao bì ni lông". Trọng tâm thông điệp của văn bản này là phần thứ hai. Ở phần này, các nguyên nhân khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đến môi trường được đưa ra phân tích, làm cơ sở đề xuất những giải pháp khả thi. Nguyên nhân chính khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đến môi trường là "tính không phân huỷ của plaxtíc". Xung quanh đặc tính của loại rác thải này là hàng loạt các khả năng nguy hại đến môi trường mà văn bản đã chỉ ra. Thêm nữa, trực tiếp hoặc gián tiếp ni lông có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người (nguyên nhân của những căn bệnh hiểm nghèo: ngộ độc, ung thư, dị tật bẩm sinh...). Như vậy, vấn đề "chúng ta cần phải làm” để giảm thiểu các khả năng nguy hại do sử dụng bao bì ni lông trở nên bức thiết. Bốn giải pháp mà văn bản đưa ra đã căn cứ trên tình hình thực tế, từ bản chất khoa học của vấn đề vừa thuyết minh, nên tỏ ra thuyết phục và có tính khả thi cao. Từ "vì vậy" có vai trò rất quan trọng trong lập luận của toàn văn bản, góp phần đảm bảo tính liên kết chặt chẽ giữa các đoạn. Những giải pháp cụ thể ở đây (tuy chưa giải quyết được tận gốc song đó là vấn đề nan giải đối với cả thế giới chứ không chỉ riêng chúng ta) nhằm hạn chế việc dùng bao bì ni lông. Tính khả thi của các giải pháp này là điều kiện để văn bản đưa ra lời kêu gọi ở phần thứ ba. Nội dung kêu gọi giản dị, không "đao to búa lớn" nhưng thiết thực, và vì thế, có hiệu quả tác động rõ rệt. Hành động kêu gọi "Một ngày không dùng bao bì ni lông" sẽ khiến mọi người nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ sự trong sạch của môi trường. Làm điều đó cũng vì chính cuộc sống của chúng ta. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

BÀI TẬP NHÓM XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT: THẨM ĐỊNH VĂN BẢN PHÁP QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật bài tập nhóm xây dựng văn bản pháp luật

A. MỞ ĐẦU

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp. Như vậy, để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cần phải có đầy đủ các khâu đoạn trong đó có việc thẩm định. Thực chất của công tác thẩm định là khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để hiểu hơn về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động này nhóm chúng em chọn đề tài: “Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Cho ví dụ minh họa” .

B. NỘI DUNG

I. Thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

1. Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản pháp luật.

Hiện nay thuật ngữ thẩm định có nhiều cách hiểu khác nhau. Với cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng”. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra cách hiểu:

“Thẩm định có ý nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện ... Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ, thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ...”.

Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc loại, tính chất của văn bản. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái có thể có trong dự thảo.

Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 052007QĐTTG ngày 1012007 của Thủ tướng Chính phủ: Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật.

Như vậy, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động thuộc quy trình xây dựng văn bản. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành, nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn.

2. Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Hoạt động thẩm định có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản.

Trước hết, hoạt động thẩm định là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật, đóng vai trò đi trước, là phương thức mang tính chất phòng ngừa và đạt hiệu quả rất cao. Hoạt động thẩm định góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành.

Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu chất lượng của Báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý cũng như đối tượng điều chỉnh.

Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất có trọng tâm đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất cơ bản trung thực khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng chỉ dẫn và cung cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo cũng như chủ thể soạn thảo. Trong qúa trình thẩm định cơ quan thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiểu quan điểm trái chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để xem xét ban hành văn bản.

Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để Báo cáo thẩm định có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.

Trên thực tế nếu Báo cáo thẩm định thực sự khách quan có căn cứ khoa học hợp lý văn bản được ban hành sẽ có hiệu lực và hiệu quả cao. Bên cạnh đó thẩm định còn là cơ hội để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức. Có thể người có kiến thức luật nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về đối tượng điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại. Qua đó, có thể nâng cao chất lượng xây dựng văn bản.

II. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, song Báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện.

Báo cáo thẩm định là văn bản giúp Hội đồng thẩm định ghi chép và tổng kết lại kết quả của quá trình thẩm định. Báo cáo thẩm định được xây dựng khoa học thì mới phản ánh được chính xác và đầy đủ tất cả những vấn đề của hoạt động thẩm định. Nếu hoạt động thẩm định tốt mà báo cáo thẩm định không tốt thì nhiệm vụ thẩm định để xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật cũng không đạt được kết quả cao.

Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định được pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định. Đối với cơ quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban hành văn bản và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp. Dưới góc độ pháp lý quy định như vậy rất chặt chẽ, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tham mưu, tư vấn của hoạt động thẩm định trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định còn được thể hiện thông qua chất lượng của Báo cáo thẩm định. Chất lượng của Báo cáo thẩm định phải thể hiện được cả giá trị tham mưu, tư vấn cả về mặt pháp lý và giá trị thực tế, nếu không hoạt động thẩm định chỉ được coi là hoạt động mang tính hình thức, làm cho đúng thủ tục chứ không có vị trí quan trọng. Trong khi đó trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính khả thi là một tiêu chí không bắt buộc thẩm định, làm giảm giá trị tham mưu về khả năng thực thi đối với báo cáo thẩm định.

III.Ví dụ về hoạt động thẩm định và báo cáo thẩm định dự thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

1. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động.

Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Dự thảo BLLĐ mới sẽ gồm 17 chương với 276 điều (BLLĐ hiện hành có 198 điều), tại mỗi chương, dự thảo quy định từng vấn đề thành các mục riêng rất cụ thể, chi tiết, trong đó có riêng một điều (Điều 5) giải thích một số thuật ngữ nhằm làm rõ thêm những vấn đề trước đây đang còn nhiều cách hiểu khác nhau.

Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động lao động do Bộ tư pháp tiến hành.

Ngày 06 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1165QĐBTP về việc thành lập Hội đồng thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định bao gồm 11 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp do đồng chí Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Hội đồng đã tiến hành thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định và tập trung vào các vấn đề sau: sự cần thiết ban hành Bộ luật; phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự án Bộ luật; sự phù hợp của dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính khả thi của dự án Bộ luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề khác có liên quan đến dự án Bộ luật.

2. Báo cáo thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động.

Trên cơ sở hoạt động thẩm định dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi được tiến hành bắt đầu từ ngày 08072011 thì ngày 11 7 2011 Hội đồng thẩm định đã trình Báo cáo số 111 BCHĐTĐ về việc thẩm định dự án Bộ luật lao động sửa đổi.

Báo gồm một số nội dung sau: I. Về sự cần thiết ban hành Bộ luật Lao động; II. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụngIII. Về sự phù hợp của nội dung dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của dự án Bộ luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; IV. Về tính khả khi của dự án Bộ luật; V. Về các vấn có ý kiến còn khác nhau; VI. Về nội dung của dự án Bộ luật; IX. Nhận xét chung; VII. Về hồ sơ và trình tự soạn thảo

3.Ý nghĩa của hoạt động dự thảo Bộ luật lao động và ý nghĩa của báo cáo thẩm định.

Hoạt động thẩm định đã xem xét, đánh giá dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi trên nhiều mặt khác nhau, việc thẩm định sẽ giúp tìm ra những điểm hợp lí và không hợp lí, những vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận, phương hướng giải quyết. Qua đó sẽ tư vấn giúp những nhà lập pháp xây dựng được một Bộ luật lao động tiến bộ, chặt chẽ và khoa học, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật lao động hiện hành, đồng thời theo kịp và dự liệu được các tình huống sẽ xảy ra trong thực tế liên quan đến những vấn đề mà Bộ luật lao động điều chỉnh. Cũng từ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí khoa học, đúng đắn, thúc đẩy đất nước phát triển. Mặt khác hoạt động thẩm định còn tạo ra cơ chế giám sát giữa các cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan thanh tra, giám sát, các cơ quan có liên quan....

Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định đã ghi chép, tổng kết đầy đủ, chính xác hoạt động thẩm định dự thảo văn Bộ luật lao động sửa đổi.

Báo cáo thẩm định cũng là cơ sở để trình lên Chính phủ, Bộ lao động thương binh và xã hội về hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định, qua đó góp phần xây dựng được Bộ luật lao động mới tốt hơn.

C. KẾT LUẬN

Thẩm định là hoạt dộng đánh giá, góp phần hoàn thiện nội dung cũng như hình thức dự thảo văn bản pháp luật. Chất lượng thẩm định dự thảo văn bản pháp luật có ý nghĩa đối với công tác xây dựng văn bản pháp luật, đặc biệt là chất lượng xây dựng văn bản. Ngược lại, nếu thẩm định không chính xác, hời hợt có thể làm mất giá trị, ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Tuy nhiên, trong công tác thẩm định dự thảo văn bản pháp luật hiện nay còn tồn tại những hạnchế nhất định như: nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chất lượng thẩm định đôi khi không đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thẩm định chưa khoa học, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định chưa chặt chẽ…
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN

ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN

LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN 10
1.1. Khái quát chung về quyền con người 10
1.1.1. Khái niệm 10
1.1.2. Ghi nhận quyền con người trong văn bản pháp lý của một số quốc gia 12
1.2. Khái quát về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Điều kiện khởi kiện 15
1.3. Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện 17
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 24
2.1. Quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự 24
2.2. Về phạm vi khởi kiện 26
2.3. Các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 28
2.3.1. Điều kiện về chủ thể 28
2.3.2. Về tư cách pháp lý 29
2.3.3. Điều kiện về thời hạn khởi kiện 31
2.3.4. Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự Thái Lan và Đức 32
CHƯƠNG 3: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 36
3.1. Các quy định nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện 36
3.1.1. Các quy định nhằm hỗ trợ đương sự khi khởi kiện 36
3.1.2. Các quy định về đảm bảo quyền khởi kiện sau khi nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện 40
3.2. Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng 43
3.2.1. Quy định về sự độc lập, khách quan của Tòa án – Đảm bảo cần thiết của việc thực thi quyền khởi kiện 43
3.2.2. Quy định về sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát – Điều kiện cần thiết để quyền khởi kiện không bị xâm phạm 44
3.2.3. Quy định về thủ tục thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án 45
KẾT LUẬN CHUNG 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Xem thêm

53 Đọc thêm

Về tính tương đương của các văn bản pháp luật do các Quốc gia Thành viên ban hành liên quan tới quy định về nhãn mác, trình bày và quảng cáo hàng hóa thực phẩm

VỀ TÍNH TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT DO CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN BAN HÀNH LIÊN QUAN TỚI QUY ĐỊNH VỀ NHÃN MÁC, TRÌNH BÀY VÀ QUẢNG CÁO HÀNG HÓA THỰC PHẨM

(2) Vì thế, tính tương đương của các văn bản pháp luật này có thể đóng góp cho sự vận hành thông suốt của thị trường nội bộ.
(3) Mục đích của Chỉ thị này cần là tạo điều kiện để các quy định của Cộng đồng Châu Âu có cùng chung đặc điểm có thể áp dụng theo chiều ngang đối với tất cả các hàng hóa thực phẩm có trên thị trường

27 Đọc thêm

BC kiem diem chi dao, dieu hanh 2011 2016 (đã sửa

BC KIEM DIEM CHI DAO, DIEU HANH 2011 2016 (ĐÃ SỬA

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND THÀNH PHỐ
1. Đánh giá chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện nhiệm vụ của mình theo Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. UBND thành phố Hòa Bình hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, nâng cao dân trí làm trọng tâm.
a) Số lượng văn bản đã ban hành theo từng lĩnh vực
Trong nhiệm kỳ qua, UBND thành phố đã trình Hội đồng nhân dân thành phố xem xét ban hành 69 Nghị quyết; trực tiếp ban hành 27.175 các loại văn bản, trong đó: 18.160 quyết định; 38 chỉ thị; 1018 báo cáo; 888 thông báo; 7071 công văn (tính đến ngày 24022016). Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục quy định, đảm bảo tính pháp lý, thống nhất trong chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Soạn bài: Thông tin về ngày trái đất năm 2000

SOẠN BÀI: THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000 I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về vấn đề nêu trong văn bản: Từ hàng triệu năm nay, loài người đã xuất hiện trên Trái Đất. Chúng ta được đất nuôi dưỡng, được hít thở bầu không khí trong lành,... Có thể nói, con người đã được hưởng lợi rất nhiều từ thiên nhiên, môi trường. Tuy nhiên, nhiều người không ý thức được rằng: rất nhiều những vật dụng phế thải của chúng ta đang dần dần huỷ hoại tự nhiên, đầu độc và làm ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta. Hãy bảo vệ ngôi nhà chung, bảo vệ Trái Đất thân yêu - lời kêu gọi đó đã được cả thế giới hưởng ứng, và ngày 22 tháng 4 hàng năm đã trở thành Ngày Trái Đất. Văn bản này được soạn thảo nhân dịp Việt Nam tham gia chương trình nói trên. Thông tin về ngày Trái Đất đã được thu hẹp, thể hiện tập trung trong chủ đề: "Một ngày không sử dụng bao bì ni lông". 2. Về cấu trúc và giá trị nội dung của văn bản: a) Văn bản này gồm ba phần: phần thứ nhất (từ đầu đến... "chủ đề Một ngày không sử dụng bao bì ni lông"), trình bày nguyên nhân ra đời của thông điệp Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000; phần thứ hai (từ "Như chúng ta đã biết..." đến "... ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường"), phân tích tác hại và đưa ra những giải pháp cho vấn đề sử dụng bao bì ni lông; phần thứ ba (từ "Mọi người hãy..." cho đến hết), kêu gọi mọi người hãy quan tâm hành động vì môi trường bằng việc làm cụ thể: "Một ngày không dùng bao bì ni lông". b) Trọng tâm thông điệp của văn bản này là phần thứ hai. ở phần này, các nguyên nhân khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đến môi trường được đưa ra phân tích, làm cơ sở đề xuất những giải pháp khả thi. Nguyên nhân chính khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đến môi trường là "tính không phân huỷ của pla-xtích". Xung quanh đặc tính của loại rác thải này là hàng loạt các khả năng nguy hại đến môi trường mà văn bản đã chỉ ra. Thêm nữa, trực tiếp hoặc gián tiếp ni lông có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người (nguyên nhân của những căn bệnh hiểm nghèo: ngộ độc, ung thư, dị tật bẩm sinh,...). Như vậy, vấn đề "chúng ta cần phải" làm để giảm thiểu các khả năng nguy hại do sử dụng bao bì ni lông trở nên bức thiết. Bốn giải pháp mà văn bản đưa ra đã căn cứ trên tình hình thực tế, từ bản chất khoa học của vấn đề vừa thuyết minh, nên tỏ ra thuyết phục và có tính khả thi cao. Từ "vì vậy" có vai trò rất quan trọng trong lập luận của toàn văn bản, góp phần đảm bảo tính liên kết chặt chẽ giữa các đoạn. Những giải pháp cụ thể ở đây (tuy chưa giải quyết được tận gốc song đó là vấn đề nan giải đối với cả thế giới chứ không chỉ riêng chúng ta) nhằm hạn chế việc dùng bao bì ni lông. Tính khả thi của các giải pháp này là điều kiện để văn bản đưa ra lời kêu gọi ở phần thứ ba. c) Nội dung kêu gọi giản dị, không "đao to búa lớn" nhưng thiết thực, và vì thế, có hiệu quả tác động rõ rệt. Hành động kêu gọi "Một ngày không dùng bao bì ni lông" sẽ khiến mọi người nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ sự trong sạch của môi trường. Làm điều đó cũng vì chính cuộc sống của chúng ta. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Cách đọc: Bằng sự kết hợp khéo léo giữa các kiến thức khoa học và thực tiễn, tác giả đã chỉ ra tác hại nghiêm trọng của việc sử dụng bao bì ni lông. Do đó khi đọc cần làm rõ từng câu, từng ý. Một số từ ngữ cần đọc nhấn giọng để thể hiện nổi bật chủ đề được nêu trong văn bản.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI TIỂU PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

BÀI TIỂU PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ TÀI
Trình bày so sánh các kiểu pháp luật trong lịch sử.
BÀI LÀM
1.CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
A,Pháp luật
Pháp luật là hệ thông các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng các quan hệ xã hội phát triển theo ý chí của nhà nước.
Các chức năng của pháp luật là:
+ Chức năng điều chỉnh
+ Chức năng bảo vệ
+ Chức năng giáo dục
Pháp luật có 3 thuộc tính căn bản:
+ Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận.
+ Pháp luật có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với mọi cá nhân, tổ chức khi cá nhân, tổ chức ở đó ở vào điều kiện, hoàn cảnh, tình huống mà pháp luật đã dữ liệu (trù liệu, trù tính) từ trước (tính bắt buộc chung của pháp luật)
+ Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế
Pháp luật mang bản chất giai cấp và mang bản chất xã hội.
2.CÁC KIỂU PHÁP LUẬT TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI.
A,Khái niệm.
Kiểu pháp luật là hình thái pháp luật được xác định bởi tập hợp các dấu hiệu, đặc
trưng cơ bản của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp, điều kiện tồn tại và phát triển
của pháp luật trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.

Chủ nghĩa Mác Lênin xem xét lịch sử xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế một hình thái kinh tế xã hội khác. Mỗi một hình thái kinh tế xã hội là một kiểu lịch sử của xã hội được thiết lập trên cơ sở của một phương thức sản xuất.
Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng. Bản chất, nội dung của pháp luật suy cho cùng là do cơ sở kinh tế quyết định, vì vậy để phân loại các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử cần dựa vào hai tiêu chuẩn:
+ Dựa trên cơ sở kinh
Xem thêm

8 Đọc thêm

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHIẾM KHUYẾT

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết Bài tập học kỳ Xây dựng văn bản pháp luật
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật
MỞ ĐẦU

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu quản lí xã hội bằng pháp luật ngày càng cao thì yêu cầu với các văn bản pháp luật được ban hành phải hoàn thiện là điều tất yếu. Hiện nay văn bản pháp luật khi được áp dụng trên thực tế gặp không ít khó khăn khách quan và chủ quan dẫn tới những bất hợp pháp và bất hợp lý đã nảy sinh. Do đó đi cùng việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội là một hệ thống các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết. Việc xử lí các văn bản pháp luật khiếm khuyết càng trở nên quan trọng và cần thiết.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trên cơ sở kiến thức tiếp nhận từ thầy cô, giáo trình và tài liệu tham khảo, với bài tập học kì môn Xây dựng văn bản pháp luật, em xin chọn đề tài “Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết” với mong muốn được hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này. Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em.

NỘI DUNG CHÍNH

I. Lý luận chung về văn bản pháp luật khiếm khuyết

1. Văn bản pháp luật khiếm khuyết:

VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí và được nhà nước đảm bảo thực hiện. VBPL khiếm khuyết được hiểu là văn bản pháp luật “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu.

Xử lí VBPL khiếm khuyết là hoạt động của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong việc ra phán quyết đối với những văn bản pháp luật khiếm khuyết. Các hình thức xử lí VBPL khiếm khuyết bao gồm: biện pháp hủy bỏ, biện pháp bãi bỏ, đình chỉ thi hành, tạm đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung.



2. Những khiếm khuyết của VBPL:

Trên cơ sở những yêu cầu về chất lượng của VBPL (yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi… của VBPL), có thể xác định VBPL khiếm khuyết là văn bản có một trong những biểu hiện sau đây:

Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về chính trị: đó là các VBPL ( chủ yếu là các VBQPPL) có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của đảng. Các VBPL có nội dung không phù hợp với ý chí và lợi ích chính đáng của nhân dân cũng bị coi là khiếm khuyết về chính trị.

Các VBPL không đáp ứng yêu cầu về pháp lí bao gồm:

+ VBPL vi phạm thẩm quyền ban hành: VBPL vi phạm thẩm quyền bao gồm vi phạm thẩm quyền về nội dung và vi phạm thẩm quyền về hình thức.

+ VBPL có nội dung trái với quy định của pháp luật: là những văn bản có nội dung là những quy phạm hoặc những mệnh lệnh không đúng với pháp luật hiện hành.

+ VBPL có nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia.

+Văn bản pháp luật có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban hành.

VBPL không đáp ứng được yêu cầu về khoa học bao gồm:

+ VBPL có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận động của đời sống xã hội.

+ VBPL có sự khiếm khuyết về kĩ thuật pháp lí.

II. Các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết:

Dựa vào tính chất, mức độ khiếm khuyết của VBPL và bản chất của mỗi biện pháp xử lí, chủ thể có thẩm quyền lựa chọn một trong các biện pháp dưới đây để xử lí VBPL khiếm khuyết:

1. Biện pháp hủy bỏ:

Hủy bỏ là ra quyết định làm mất hiệu lực cả về trước của một văn bản pháp lí kể từ khi văn bản đó được ban hành. Hủy bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm phủ nhận hoàn toàn hiệu lực pháp lí của VBPL kể từ thời điểm văn bản đó được ban hành.

Hủy bỏ là biện pháp xử lí được áp dụng với toàn bộ hoặc một phần VBPL bao gồm cả VBQPPL, VBADPL và VBHC có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành.

VBPL bị hủy bỏ sẽ hết hiệu lực pháp luật kể từ khi văn bản đó được quy định là có hiệu lực pháp lí . Điều đó có nghĩa là nhà nước hoàn toàn không thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản bị hủy bỏ ở mọi thời điểm, cho dù trên thực tế trước khi bị hủy bỏ nó đã từng được coi là có hiệu lực và có thể đã được thi hành.

Hủy bỏ VBPL là một biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã được pháp luật quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhìn chung các quy định này khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong vấn đề quy định về trách nhiệm của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ còn có một số điểm chưa hợp lí đó là: việc quy định trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ chỉ được xác định với VBADPL. Nếu VBPL bị hủy bỏ là VBQPPL và văn bản hành chính thì pháp luật không quy định về trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn chủa chủ thể ban hành, đây là một điểm bất hợp lí. Trên thực tế khi một văn bản QPPL sai trái được áp dụng vào cuộc sống nó sẽ gây ảnh hưởng xấu trên diện rộng và có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn là một VBADPL chính vì vậy tôi cho rằng cần quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với cả VBQPPL và văn bản hành chính.

2. Biện pháp bãi bỏ:

Bãi bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm chấm dứt hiệu lực pháp lí của một VBPL đang được thi hành trên thực tế kể từ thời điểm văn bản đó bị bãi bỏ. Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản là các VBQPPL có một trong các dấu hiệu khiếm khuyết.

Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc tình hình kinh tế xã hội thay đổi.( khoản 2 điều 29 nghị định Chính phủ 402010NĐCP)
Văn bản pháp luật bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản xử lí nó có hiệu lực pháp luật. Như vậy pháp luật vẫn thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản pháp luật bị bãi bỏ trước khi văn bản xử lí văn bản đó có hiệu lực pháp lí. Do vậy VBPL bị bãi bỏ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL sai trái đó.

Các quy định của pháp luật về bãi bỏ VBPL khiếm khuyết được quy định trong nhiều văn bản pháp luật tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào quy định một cách đầy đủ và rõ ràng và phân biệt giữa biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ VBPL. Chính vì tình trạng pháp luật quy định chung chung dẫn tới các cơ quan nhà nước khi xử lí VBPL tùy nghi lựa chọn một trong hai biện pháp này thậm chí còn sử dụng chưa nhất quán.Mặc dù tại điều 29 nghị dịnh Chính phủ số 402010NĐCP đã có sự tách riêng giữa biện pháp bãi bỏ và hủy bỏ VBPL nhưng mới chỉ nêu được sự khác nhau về trường hợp áp dụng mà thôi. Chính vì vậy tôi mong rằng sẽ sớm có những quy định cụ thể và chi tiết hơn về biện pháp bãi bỏ VBPL để phân biệt với biện pháp hủy bỏ VBPL.

3. Biện pháp thay thế:

Thay thế VBPL là dùng một văn bản pháp luật mới thay thế cho một VBPL cũ không còn phù hợp.Biện pháp thay thế được áp dụng với VBPL có dấu hiệu khiếm khuyết( không có vi phạm pháp luật). Thay thế được áp dụng trong trường hợp nội dung của VBPL không còn phù hợp với thực tiễn, không phù hợp với đường lối của Đảng.

VBPL bị thay thế hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản mới được ban hành hết hiệu lực.
Thay thế là biện pháp xử lí VBPL được sử dụng khá phổ biến hiện nay tuy nhiên pháp luật chưa có một quy định riêng nào về biện pháp này, mà chỉ được quy định cùng các biện pháp khác tại điều 9 luật ban hành VBQPPL 2008.

4. Biện pháp đình chỉ thi hành

Đình chỉ thi hành VBPL là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định dừng thực hiện, làm mất hiệu lực của VBPL một cách tạm thời.

Đình chỉ việc thi hành (một phần hoặc toàn bộ văn bản) áp dụng đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Quyết định đình chỉ việc thi hành VBQPPL phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Khác với các hình thức xử lý khác, đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản không làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bảnquy định bị đình chỉ, mà chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. Đây như là một “biện pháp khẩn cấp tạm thời” để làm nhưng hiệu lực pháp lý của các quy định trái pháp luật. Sau khi đình chỉ việc thi hành văn bản, tuỳ theo tính chất, mức độ sai trái của văn bản, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp xử lý đối với văn bản trái pháp luật.

Như vậy, đối với VBQPPL của UBND thì người có thẩm quyền đình chỉ cũng đồng thời là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý văn bản trái pháp luật; còn đối với VBQPPL của HĐND thì người có thẩm quyền đình chỉ (Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND) không có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật, mà phải trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Thủ tướng Chính phủ), trình HĐND cùng cấp (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Chủ tịch UBND) ra quyết định xử lý.

5. Biện pháp tạm đình chỉ thi hành:

Tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lí được áp dụng đối với các VBADPL trong một số trường hợp nhất định.

Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm đình chỉ bao gồm:

Trường hợp thứ nhất:Chủ thể không có thẩm quyền xử lí VBADPL nhưng có cơ sở cho rằng VBPL đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên quyết định tạm dừng thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí.

Trường hợp thứ hai: khi có cơ sở cho rằng việc thi hành VBPL có thể gây cản trở hoạt động công quyền thì chủ thể có thẩm quyền quyết định việc tạm dừng thi hành văn bản trong thời gian nhất định để hoạt động công quyền được diễn ra thuận lợi.

VBPL bị tạm đình chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền.

VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp thứ nhất hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ; tiếp thục có hiệu lực khi cấp trên có thẩm quyền tuyên bố không bãi bỏ, hủy bỏ văn bản đó.
VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp hai sẽ tiếp tục có hiệu lực khi người ra quyết định tạm đình chỉ ra văn bản bãi bỏ việc tạm đình chỉ.
Nhận thấy biện pháp ‘tạm đình chỉ thi hành’ chỉ là một phần của biện ‘pháp đình chỉ thi hành’ vì vậy việc tách riêng hai biện pháp là không hợp lí, nên hợp nhất hai biện pháp để việc áp dụng vào xử lí VBPL thuận tiện hơn.

6. Biện pháp sửa đổi, bổ sung:

Sửa đổi VBPL là việc ra văn bản để làm thay đổi một phần nội dung VBPL hiện hành trong khi vẫn giữ nghuyên những nội dung khác. Bổ sung VBPL là việc ra văn bản để thêm vào nội dung VBPL những quy định mới trong khi vẫn giữ nguyên nội dung vốn có của VBPL đó.

Sửa đổi bổ sung là biện pháp được áp dụng với các VBPL( bao gồm VBQPPL, VBADPL và văn bản hành chính) khi tính chất và mức độ khiếm khuyết của văn bản rất nhỏ. Biện pháp sửa đổi được áp dụng với VBADPL trong trường hợp tại thời điểm ban hành thì văn bản đó đúng thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, có nội dung phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, với tình hình kinh tế xã hội địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và cần phải có quy định khác thay các nội dung không còn phù hợp đó. Biện pháp bổ sung được áp dụng trong trường hợp VBQPPL phù hợp với VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, tuy nhiên, nội dung của văn bản chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa toàn diện... nên cần thiết phải có quy định thêm để cho việc quy định trong VBQPPL được rõ ràng, toàn diện hơn, hiệu quả thi hành cao hơn.

Sau khi sửa đổi thì văn bản bị sửa đổi vẫn tiếp tục có hiệu lực, chỉ có những điều, khoản bị sửa đổi là hết hiệu lực và được thay bằng các quy định mới của văn bản sửa đổi. Thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản sửa đổi phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Một văn bản có thể sửa đổi nhiều VBPL khác nhau.

Khác với hình thức “sửa đổi” là thay một số quy định cũ bằng quy định mới do không còn phù hợp, thì hình thức “bổ sung” không làm mất đi bất cứ quy định nào của văn bản bị bổ sung, mà thêm vào một số quy định cho toàn diện hơn. Chính vì vậy bổ sung không làm mất hiệu lực của VBPL được bổ sung, nhưng nó làm phát sinh hiệu lực của phần bổ sung.

Biện pháp sửa đổi, bổ sung VBPL là một hình thức được áp dụng phổ biến, đây là cách thức được sử dụng chủ yếu cho các VBPL có chứa các QPPL ở dạng điều khoản và có phạm vi tác động rộng. Tuy nhiên trong quy định của pháp luật, khái niệm “sửa đổi” và “bổ sung” thường hay đi liền với nhau, tuy nhiên cần phân biệt khi nào thì dùng khái niệm nào, khi nào có thể dùng cả 2 khái niệm (trường hợp chỉ “sửa đổi”, “bổ sung” hoặc vừa “sửa đổi”, vừa “bổ sung”). Hiện nay pháp luật đã quy định tại luật BHVBQPPL năm 2008 cho phép sử dụng một văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều VBPL khác nhau. Đây là một điểm mới đáng mừng, giúp cho việc sửa đổi, bổ sung VBPL đỡ mất thời gian hơn, giảm kinh phí và những thủ tục không cần thiết.


KẾT LUẬN

Có thể nói, các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã góp phần rất lớn vào công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết đôi khi còn có những hạn chế. Hy vọng rằng trong thời gian tới pháp luật sẽ quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa, để các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết có thể phát huy tốt hơn vai trò và ý nghĩa của mình hướng tới một hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn.
Xem thêm

10 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ LÍ GIẢI CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU ĐÓ

PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ LÍ GIẢI CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU ĐÓ

III. Thực trạng việc đáp ứng các yêu cầu về mặt nội dung của văn bản pháp luậthiện nay.Nhìn chung, hiện nay các văn bản ngày càng hoàn thiện về mặt thể thức, nộidung, văn phong ngôn ngữ cũng như tính pháp lí. Đặc biệt, trong quá trình soạn thảovăn bản các văn bản đã phần nào đảm bảo được yêu cầu về mặt nội dung của văn bảnnhư: văn bản pháp luật đó đã phản ánh đúng đắn các chủ trương chính sách của Đảngvà nhà nước; kịp thời truyền đạt các thông tin quản lí từ cấp trên đến cấp khác; đa sốcác văn bản pháp luật cũng đạt được các yêu cầu về nội dung như: ban hành một cáchhợp pháp, đáp ứng nguyện vọng và ý chí của nhân dân lao động, mang tính khả thi.Các loại văn bản pháp luật phong phú và được xác định đối tượng chính xác về nộidung, tính chất của mỗi loại. Nhờ đó, việc sử dụng chúng tương đối thuận lợi và ngàycàng có hiệu quả hơn. Trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, có nhiều VBPL cóchất lượng, hiệu lực cao đã góp phần đáng kể tích cực trong việc triển khai thực hiệncác đường lối của Đảng, pháp luật và nhà nước trên thực tế, thúc đẩy sự phát triển củađất nước. Tuy nhiên, văn bản pháp luật vẫn còn tồn tại một số khiếm khuyết với tínhchất và mức độ khác nhau:Một số điểm còn tồn tại cần khắc phục đối với yêu cầu về mặt nội dung của văn bảnpháp luật.- Các văn bản pháp luật được soạn thảo còn thiếu sự thống nhất trên nhiều phương diệnnhư về tên loại văn bản và chức năng thực tế của chúng trong quản lí nhà nước.- Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan còn chưa được xác định rõràng , thống nhất, còn chồng chéo thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. Do vậy,dẫn đến tình trạng hàng loạt văn bản mâu thuẫn nhau về mặt nội dung, gây khó khănlớn trong việc thực hiện trên thực tế, thậm chí trong một số trường hợp nó còn trởthành rào cản, làm chậm quá trình phát triển của xã hội.. Có khi văn bản tổng quát đãhết hiệu lực thi hành hoặc đã thay thế bởi một văn bản khác từ lâu, nhưng những vănbản phát sinh từ văn bản đó vẫn được tiếp tục sử dụng trong thực tiễn. Điều này, đãlàm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong quan hệ pháp lý rất khó khắc phục .
Xem thêm

16 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH MỚI VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ, CHỨNG KHOÁN VÀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

CHÍNH SÁCH MỚI VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ, CHỨNG KHOÁN VÀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

VnDoc.com - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíChính sách mới về Sở hữu trí tuệ – Chứng khoán – VPHCTrong tháng 8/2015, nhiều chính sách mới nổi bật trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ – Chứngkhoán – Vi phạm hành chính bắt đầu có hiệu lực. Cụ thể như sau:1. Hướng dẫn xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp trên InternetTheo Thông tư 11/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hànhchính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hành vi trên mạng Interner bị kết luận xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp khi:- Hành vi bị xem xét đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 Nghịđịnh 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và hành vi đó xảy ra trên mạng Internet nhưng nhằm vào người tiêudùng hoặc người dùng tin ở Việt Nam.Chủ sở hữu tên miền quốc gia thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi nêu trên cũng bị coi làhành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.Các hành vi bị kết luận là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nêu trên bị xử phạt theo quy địnhtại Điều 10, 11 và 12 Nghị định 99/2013/NĐ-CP.Thông tư 11/2015/TT-BKHCN có hiệu lực từ ngày 11/8/2015 và thay thế Thông tư37/2011/TT-BKHCN.2. Sửa đổi quy định xử phạt khi gây lãng phí của côngNgày 16/6/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định 192/2013/NĐ-CP. Theo đó:Không chỉ đối với điện, nước (theo quy định cũ) mà việc sử dụng kinh phí ngân sách nhà nướckhác (thông tin liên lạc, sách báo, hội thảo, tiếp khách…) vượt định mức quy định cũng bị phạtcảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1 – 2 triệu đồng.Nghị định còn bổ sung một số quy định xử phạt mới: Phạt từ 20 – 30 triệu đồng khi sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước sai mục đích,tôn chỉ, quy chế hoạt động, cơ chế tài chính của quỹ do cấp có thẩm quyền ban hành. Phạt từ 50 – 60 triệu đồng khi gây lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư không đúng tiêu chuẩn,quy chuẩn, vượt định mức, đơn giá theo quy định của pháp luật. Hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong khai thác,sử dụng tài nguyên.
Xem thêm

2 Đọc thêm

tiểu luận cao học Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đối với xã hội nước ta hiện nay (1)

TIỂU LUẬN CAO HỌC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI XÃ HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY (1)

Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, Pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, nhất là vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quan hệ xã hội quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, thiếu tính khả thi; văn bản quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành còn “nợ đọng”; Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Do vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật hành chính trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” với hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Song, trong phạm vi của một đề tài tiểu luận, em chỉ dừng lại xem xét, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước, từ đó đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện hoạt động này.
Xem thêm

23 Đọc thêm