SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SX VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Sự phù hợp của quan hệ SX và sự phát triển của LLSX":

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bài tập học kỳ Mác Lênin
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .

Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam từ đó tạo nên tính đa dạng của nền kinh tế nhiền thành phần. Thực tế cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần là hai hình thức sở hữu trong giai đoạn xưa kia. Vì vậy nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc .

NỘI DUNG

I SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT. 1 Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

a. Phương thức sản xuất là gì?

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuẩt ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

b.Lực lượng sản xuất là gì?

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự nhiên hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người.

Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đó khác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thì chúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượng con người. Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người là chủ thể.

Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người. Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất.

Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó.

Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.

Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân. Chính vậy mà Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội”.

Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc. Trước đây do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọi sức mạnh của nhân tố con người. Đành rằng năng lực và kinh nghiệm sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng tích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

c. Quan hệ sản xuất là gì?

Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người.

Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.

Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt:

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)

+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý).

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định

quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra.

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà Đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất. Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.

Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế xã hội mới.

Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái kinh tế xã hội sang hình thái kinh tế xã hội khác hoàn toàn là một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (CSCN) trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét: Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi... phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.

2 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

a. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.

Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1859 C.Mác viết Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ... Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm phù hợp được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ phù hợp này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.

Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự yên tính giữa các mặt.

Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.

Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đâylà nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.

Từ những lý luận đó đi đến thực tại nước ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nước ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trước lên đến nay nền văn minh đất nước. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhưng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu được, tức là sự vận động.

Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.

b. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự chủ động không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.

+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.

II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1 Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia:

Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt cũng như hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Songtrong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:

Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.

Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.

Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.

Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đang ta đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất̉, trên thực tế Đ ảng và Nhà nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hê san xuât cả tầm vi mô và vĩ mô thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lưc lương san xuât. Điều đó đã có một tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta.

2 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cường điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bước đi có tính qui luật trên con đường tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên.

Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức kinh tế xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Mới đây các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đưa nước Việt Nam tiến lên không, trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không nhưng khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).

Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính trị, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền X ô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

3 Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phương thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải được xem xét từ tư duy triết học. Trước khi đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất.

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá hiện đại hoá trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì dân giàu nước mạnh công bằng văn minhhãy còn phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

KẾT LUẬN

Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay và tương lai.

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.

Chúng ta đều biết rằng từ trước tới nay công nghiệp hoá hiện đại hoá là khuynh hướng tất yếu của tất cả các nước. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá như là: “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ’’.

Trước những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của các thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song về mặt nhận thức chúng ta đã đặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở vị trí gần như đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa. Trong lựa chọn bước đi đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, và không coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách đơn giản là quá trìng xây dựng một nền sản xuất được khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo thị trường, có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời , chúng luôn tác động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển . Bởi lẽ “Nếu công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo lên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới , thì việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.
Xem thêm

18 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hay quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX). Sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước như thế nào?

33 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

xuất. Sự phát triển LLSX trong giai đoạn này không chỉ giới hạn ở việc tăng mộtcách đáng kể số lợng thuần tuý với các công cụ đã có mà chủ yếu là ở việc tạo ranhững công cụ hoàn toàn mới không sử dụng cơ bắp con ngời. Do đó con ngời đãchuyển một phần công việc năng nhọc cho máy móc có điều kiện để phát huy cácnăng lực khác của mình.ở nớc ta từ trớc tới nay nền kinh tế chủ yếu là dựa vào ngành nông nghiệp, nh ng chỉ là ngành nông nghiệp nhỏ lẻ nên trình độ khoa học kỹ thuật còn kém pháttriển. Hiện nay chúng ta đang ở trong tình trạng kế thừa những LLSX vừa nhỏ bévừa lạc hậu so với trình độ chung của thế giới, hơn nữa trong một thời gian khá dài,những lực lợng ấy bị kìm hãm do nguyên nhân chủ quan cũng nh khách quan. Bởivậy Đại hội lần thứ VI của Đảng đặt ra nhiệm vụ là phải "Giải phóng mọi năng lựcsản xuất hiện có. Khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất n ớc, sử dụng có hiệuquả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ LLSX. Mặt khác chúng ta đang ởtrong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật đangchứng kiến những biến đổi cách mạng trong công nghệ. Chính điều này đòi hỏichúng ta lựa chọn một mặt tận dụng cái hiện có mặt khác nhanh chóng tiếp thu cáimới do thời đại tạo ra nhằm dùng chúng để phát triển các nguồn lực từ bên trong.Nếu phân tích một cách khách quan thì rõ ràng LLSX của ta đang ứng với cả ba giaiđoạn phát triển của LLSX trong nền văn minh loài ngời. Thực tế hiện nay trongnhiều ngành sản xuất công cụ thủ công vẫn đang là chủ yếu, lao động nặng đangchiếm tỉ lệ cao, đến nay vẫn cha hoàn thành quá trình cơ khí hoá và thực tế cha biếtkhi nào mới kết thúc. Cần khẳng định một vấn đề có tính quy luật là trong lịch sửbao giờ cũng có sự đan xen của trình độ phát triển khác nhau trong từng yếu tố cấuthành LLSX. Mặt khác, thấy đợc vai trò quan trọng của lao động tri thức trong nềnkinh tế hiện đại chúng ta cần có những chính sách cụ thể nhằm đào tạo và thu hútnhững lao động có trình độ.Mặc dù nền kinh tế còn trong tình trạng lạc hậu nhng chúng ta vẫn đang dầndần đi lên đẩy nhanh tốc độ và tiếp cận với những khoa học tiên tiến, đặc biệt đối tợng lao động thấp kém đang bị loại dần, thay vào đấy là những đối t ợng lao độngvới trình độ tay nghề cao. Chính vì lẽ đó mà sẽ không có câu trả lời đơn thuần vềviệc chỉ nên phát triển loại t liệu sản xuất nào, công cụ gì và đối tợng lao động nàolà chính, bởi vì yếu tố nào cũng tác động trực tiếp đến nền kinh tế.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, liên hệ với Việt Nam.

QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT, TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM.

Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn là yêu cầu tất yếu đặt ra cho mọi chế độ xã hội. Đối với nước ta do điểm xuất phát định hướng lên chủ nghĩa xã hội còn thấp cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dovậy việc xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất và xã hội phát triển lại càng quan trọng, xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới trở thành một trong những vấn đề cơ bản được trình bày trong các văn kiện của đại hội VIII. Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội. Trọng tâm của tiến trình này trong giai đoạn hiện nay là tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển lực lượng. Song song với nó là quá trình xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.Với vấn đề hiện nay của đất nước, phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp đã và đang là một vấn đề xuyên suốt trong tất cả các chính sách kinh tế xã hội của đất nước. Trước đây trong một thời gian dài nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng. Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng đó là chúng ta không nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, áp dụng một hình thức sở hữu xã hội ở trình độ cao trong khi lực lượng sản xuất vẫn còn lạc hậu.Việc xem xét lại quá khứ và nhìn nhận thực tế hiện nay chúng ta nhận định rằng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một điều quan trọng nhất trong mọi thời đạI. Chính vì thế, trên thế giới và ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Như ngay trong dự thảo đạI hội IX đã nói mối quan hệ này là nền tảng để xây dựng đất nước. Vì thế mà phải phát triển khoa học kỹ thuật và xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường gồm nhiều thành phần khác nhau.Với tầm quan trọng của vấn đề này, em xin đưa ra một số nhận định của mình trong bài tiểu luận này. Em mong rằng mình sẽ đóng góp một số ý kiến nhỏ để khẳng định mối quan hệ này và sử dụng nó để xem xét tình hình cụ thể của nước ta. Với kiến thức nhỏ bé nên em không tránh khỏi những sai sót. Em xin cám ơn các thầy cô giáo đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận để em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với việc phân tích quá trình phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI VIỆC PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM

Vào giữa những năm 80 kinh tế –xã hội n¬ước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng , chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và đông Âu chao đảo. Nhưng chính lúc ấy Đảng ta đã quyết định đư¬ờng lối đổi mới, chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị tr¬ường có sự quản lý của nhà nư¬ớc theo định h¬ướng XNCN hôi nhập và mở cửa với bên ngoài . Có thể nói với những quyết sách của Đảng ta trong thời kỳ này thể hiện sự năng động về tư¬ duy lý luận gắn liền với sự mẫn cảm về thực tế cùng bản lĩnh chính trị vững vàng . Đó là khẳng định tính tất yếu của sự đổi mới ở nư¬ớc ta : Đổi mới để phát triển, đổi mới để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, để vư¬ợt qua những cản trở kìm hãm mô hình cũ –mô hình quan liêu bao cấp...
Thực tế tình hình công cuộc đổi mới ở n¬ước ta cho thấy chúng ta đã thu đ¬ược rất nhiều thành tựu đáng chú ý : Từ một n¬ước nghèo đói phải nhập gạo thì giờ đây chúng ta đã trở thành một trong ba nư¬ớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới cùng với Mỹ và Thái Lan. Quan hệ quốc tế ngày càng đ¬ược mở rộng trên cơ sở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” vì vậy chúng ta đã tham gia vào các tổ chức quốc tế nh¬ư ASEAN, AFTA...và sắp tới Việt Nam sẽ tham gia vào tổ chức WTOTổ chức th¬ương mại thế giới . Với những b¬ước tiến mới như vậy không thể không khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam trong tình hình hiện nay đang dần đi vào thế ổn định. Không chỉ có ngành kinh tế mà trong những ngành khoa học cơ bản cũng đang đ¬ược quan tâm đầu tư¬ và phát triển . Để đạt đ¬ược những thành tựu như¬ vậy ngoài sự nỗ lực gồng mình trong xu thế hội nhập với thế giới để không trở thành “kẻ bị đào thải” thì một trong những điều quan trọng nhất là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta . Đảng và nhà n¬ước đã kiên trì đ¬ường lối lãnh đạo quán triệt tư¬ t¬ởng chủ nghĩa MacLênin coi đó là nền tảng tư¬ t¬ưởng và kim chỉ nang cho mọi lý luận khoa học, xã hội.
Tuy nhiên chúng ta xây dựng CNXH trong điều kiện toàn cầu hoá do CNTB chi phối nên bên cạnh tiếp thu những nền văn minh của nhân loại chúng ta cần nghiên cứu chọn lọc có phát triển để phù hợp với lối sống của ng¬ười dân Việt Nam. Trong quá trình xây dựng CNXH phải giải phóng sức sản xuất, phải xoá bỏ mọi trở ngại kìm hãm để đem lại lực đẩy cho nền kinh tế tạo ra mức tăng tr¬ưởng ngày càng cao trong lĩnh vực này góp phần thực hiện công bằng xã hội . Có thể nói đổi mới đã đem lại cho chúng ta cơ sở để nhận thức một cách đúng đắn hơn mối quan hệ biện chứng giữa lực l¬ượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trên cơ sở vấn đề đổi mới đất n¬ước và thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nư¬ớc ta trong giai đoạn hiện nay đồng thời tầm quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng MacLênin ở Việt Nam mà trong bài tiểu luận này em xin làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa lực l¬ượng sản xuất và quan hệ sản xuất và ảnh h¬ưởng của nó đến việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở n¬ước ta hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, đưa đấtnước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Chúng ta đã có những biểu hiện nóngvội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóngbiến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh; mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng ta vừa chủ quannóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, hai mặt đó cùng tồn tại và cản trở bước tiến của cáchmạng. Sự nhận thức sai quy luật chứng tỏ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vậndụng quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; thành kiến không đúng nhữngquy luật của sản xuất hàng hóa; coi nhẹ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được Đảng ta đềra tại Đại hội VI. Có thể nói, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng,bởi lẽ phát triển kinh tế nhiều thành phần lúc này được coi là một tất yếu Thời kỳtrước đổi mới, nước ta đang tồn tại nhiều loại trình độ lực lượng sản xuất khác nhau.Để đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì đòi hỏi phải có nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế.Thời kì này nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế tập trung,bao cấp. Kinh tế tập trung, bao cấp được đặc trưng bằng việc nhà nước quản lý nềnkinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chitiết áp đặt từ trên xuống dưới; các doanh nghiệp làm ăn lỗ thì nhà nươc bù, lãi thìnhà nước thu; các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về vật chất và pháplý dối với các quyết định của mình; quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ chỉ là hìnhthức quan hệ hiện vật là chủ yếu.nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấpphát -giao nộp"; bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian hoat đông kém13hiệu quả sinh ra quan liệu phong cách cửa quyền nhưng lai dược hưởng quyền lợicao hơn người lao động... Chế độ bao cấp đã trở thành vật cản lớn trên con đườngphát triển của nước ta kéo nước ta, kinh tế khủng hoảng, trì trệ. Lúc này, một tình
Xem thêm

41 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ tái cơ cấu NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn TỈNH THANH hóa HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

Công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước theo hướng phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng ở nước ta đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần phải giải quyết. Chính vì vậy, để đáp ứng những đòi hỏi nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, và cụ thể hóa quan điểm của Đảng về: Phát triển mạnh mẽ LLSX, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa chú trọng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững.
Xem thêm

95 Đọc thêm

Đề cương ôn tập có lời giải môn KINH tế CHÍNH TRỊ

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÓ LỜI GIẢI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Câu 1 : Khái niệm hình thái kinh tế xã hội ? Tại sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên?
a) Khái niệm hình thái kinh tế xã hội:
Hình thái kinh tế xã hội là : một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Theo khái niệm trên thì kết cấu của hình thái kinh tế xã hội bao gồm:lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
b) Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một qui luật lịch sử tự nhiên vì :
Lịch sử phát triển xã hội qua nhiều giai đoạn từ thấp tới cao tương ứng với mỗi giai đoạn ấy là một hình thái kinh tế xã hội
Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử đều do tác động của các qui luật khách quan đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
Các qui luật khách quan của xã hội là :
Qui luật và sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của LLSX
Qui luật CSHT quyết định KTTT
Các qui luật xã hội khác: đấu tranh giai cấp, chính do tác động của qui luật khách quan đó mà các hình thái xã hội vận động phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao trong lịch sử không phụ thuộc vào ý chí nguyện vọng chủ quan của con người
Quá trình phát triển khách quan của xã hội có nguồn gốc sâu xa của sự phát triển LLSX. Do đó xét đến cùng LLSX quyết định quá trình vận động và phát triền của hình thái kinh tế xã hội như quá trình lịch sử tự nhiên.
Xem thêm

16 Đọc thêm

81CAU HOI MAC LENIN

81CAU HOI MAC LENIN

quan vào bộ não người; là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan.1) Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan bởi hình ảnh ấy tuy bị thế giớikhách quan quy định cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện; nhưng thế giới ấy không còn ynguyên như nó vốn có, mà đã bị cái chủ quan của con người cải biến thông qua tâm tư,tình cảm, nguyện vọng, nhu cầu v.v. Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyểnvào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Có thể nói, ý thức phản ánhhiện thực, còn ngôn ngữ thì diễn đạt hiện thực và nói lên tư tưởng. Các tư tưởng đó đượctín hiệu hoá trong một dạng cụ thể của vật chất- là ngôn ngữ- cái mà con người có thể cảmgiác được. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và tồn tại được.2) Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, thể hiện ở chỗ, ý thức phản ánh thế giới cóchọn lọc- tùy thuộc vào mục đích của chủ thể nhận thức. Sự phản ánh đó nhằm nắm bắtbản chất, quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng; khả năng vượt trước (dựbáo) của ý thức tạo nên sự lường trước những tình huống sẽ gây tác động tốt, xấu lên kếtquả của hoạt động mà con người đang hướng tới. Có được dự báo đó, con người điềuchỉnh chương trình của mình sao cho phù hợp với dự kiến xu hướng phát triển của sự vật,hiện tượng; xây dựng các mô hình lý tưởng, đề ra phương pháp thực hiện phù hợp nhằmđạt kết quả tối ưu. Như vậy, ý thức không chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo rathế giới khách quan.3) Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ýthức gắn liền với hoạt động thực tiễn; chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinhhọc, mà chủ yếu còn của các quy luật xã hội; do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiệnsinh hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiệnthực theo nhu cầu của bản thân và thực tiễn xã hội. Ở các thời đại khác nhau, thậm chí ởcùng một thời đại, sự phản ánh (ý thức) về cùng một sự vật, hiện tượng có sự khác nhautheo các điều kiện vật chất và tinh thần mà chủ thể nhận thức phụ thuộc.4) Có thể nói quá trình ý thức gồm các giai đoạn.a) Trao đổi thông tin hai chiều giữa chủ thể với khách thể phản ánh; định hướng và chọnlọc các thông tin cần thiết.b) Mô hình hoá đối tượng trong tư duy ở dạng hình ảnh tinh thần, tức là sáng tạo lại khách
Xem thêm

163 Đọc thêm

Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của lý luận đối với thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó trong quá trình đổi mới kinh tế ở việt nam hiện nay

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó thì thực tiễn quyết định lý luận, tuy nhiên lý luận cũng có sự tác động mạnh mẽ trở lại thực tiễn: nếu lý luận đúng đắn thì nó sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển của thực tiễn; trong trường hợp ngược lại, nếu lý luận lạc hậu, sai lầm, không khoa học thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức và vận dụng đúng quan điểm triết học Mác Lênin về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt là vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong những năm trước đổi mới, nhất là giai đoạn 19751986, đã có lúc chúng ta đề ra những chủ trương, đường lối không thực sự xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế, do vậy những chủ trương này đã tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Trước thực trạng nền sản xuất trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn,… Đảng ta đã chủ động khắc phục những sai lầm về mặt lý luận, đồng thời đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Có thể khẳng định rằng, chủ trương đổi mới nói chung, đổi mới về kinh tế nói riêng chính là một lý luận khoa học xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Do vậy, lý luận này đã có những tác động rất tích cực đối với thực tiễn nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to lớn, nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, nền sản xuất có bước phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nhận thức để giải quyết, đặc biệt là trong quan hệ sản xuất vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không phù hợp đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất; tình trạng yếu kém và ẩn chứa nhiều tiêu cực của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; nguy cơ bị lệ thuộc về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,… Tình hình đó đòi hỏi chúng ta cần phải chú trọng việc tổng kết thực tiễn, nhất là những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trên lĩnh vực kinh tế.
Xem thêm

87 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAMY

TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAMY

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là do sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. Trong đó phải kể đến lực lượng sản xuất là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế xã hội được triết học Mác xem là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành phương thức sản xuất, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận động của quan hệ sản xuất, thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội. Với vai trò trên, việc làm sáng tỏ nội dung của lực lượng sản xuất được xem là vấn đề quan trọng có tính cấp thiết, đặc biệt là đối với những người học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội, do vậy việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề tất yếu và cần thiết. Việc xây dựng đó phải gắn liền với quá trình phát triển lực lượng sản xuất trong mối quan hệ với quan hệ sản xuất, đó là “Quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Với những nhận định đúng đắn, Đảng ta đã xác định phải gắn liền quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX(2001) đã đề ra đường lối kinh tế của nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”.
Trước những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng, phát triển hoàn thiện lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và phát huy có hiệu quả vai trò của lực lượng sản xuất. Việc triển khai đề tài “Vai trò của lực lượng sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” là một yêu cầu cấp thiết và mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc.
Xem thêm

20 Đọc thêm

TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA SACOMBANK

TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA SACOMBANK

Tình hình huy động vốn của SacombankCNTTPGD Nam Kỳ Khởi Nghĩa giai đoạn 20132015
Quản lý, thực hiên chỉ tiêu kinh doanh: Nghiên cứu tình hình thị trưởng, đối thủ để phân tích, phân khúc khách hàng, nhu cầu thị hiếu nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh phù hợp. Chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc thực hiện kế hoạch kinh doanh được giao, chất lượng hồ sơ cấp tín dụng và chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Quản lý trạng thái ngoại hối, phản hồi các thông tin và báo cáo kết quả kinh doanh tại PGD cho Ban lãnh đạo.
Cúng ứng sản phẩm dịch vụ và quản lý mối quan hệ với khách hàng: xây dựng, thực hiện kế hoạch tiếp thị khách hàng; quản lý và hộ trợ kênh phân phối nhằm thực hiện kế hoạch tiếp thị, thực hiện các chương trình, sự kiện quản cáo cho sản phẩm dịch vụ Ngân hàng. Hướng dẫn, giới thiệu, tư vấn khách hàng về SPDV, về giải pháp tài chính phù hợp, thu thập tổng hợp và phản hồi ý kiến nhằm cải tiến và phát triển các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng. Thực hiện công tác chăm sóc khách hàng nhằm duy trì, phát triển mối quan hệ với khách hàng trong công tác kinh doanh; chịu trách nhiệm tiếp nhận, sử lý và phản hồi thông tin về các ý kiến đóng góp, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tiểu luận Tìm hiểu các chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU CÁC CHẾ ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

Bộ luật dân sự Việt Nam được kỳ họp quốc hội khoá IX thông qua ngày 28101995, công bố ngày 9111995 và có hiệu lực thi hành ngày 171996. Pháp luật dân sự là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự, môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Trên cơ sở thừa kế và phát triển pháp luật dân sự Việt Nam có từ trước đến nay, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, BLDS có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật nước nhà, tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, quyền con người về dân sự. Đó là thành quả trí tuệ của nhân dân ta trong nhiều năm xây dựng và hoàn thiện một cách có hệ thống những quy định pháp lý cơ bản về các quan hệ dân sự. Việc ban hành BLDS là một yếu tố khách quan nhằm thiết lập một trật tự pháp lý trong lĩnh vực dân sự, tạo điều kiện cho các quan hệ dân sự phát triển trong cuộc sống, thống nhất pháp điểm hoá và các quy định của pháp luật dân sự trong nhiều văn bản.BLDS góp phần đảm bảo cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, giữ gìn và pháp huy truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái, thuần phòng mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Từ sau cách mạng tháng tám và đặc biệt là trong giai đoạn cả nước tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ dân sự phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng cụ thể. Các văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ này thường có hình thức pháp luật cao, có nhiều nội dung phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo đường lối đổi mới. Nhiều quy định đã thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự: kinh tế là tự nguyện, bình đẳng, hợp tác tương trợ giúp đỡ lẫn nhau phù hợp với thông lệ quốc tế.Tuy nhiên, so với nhu cầu của các giao lưu dân sự trong xã hội cho thấy còn không ít những vấn đề có ý nghĩa cơ bản trong các quan hệ dân sự chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ như: Các quan hệ về sở hữu tài sản, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự…Bên cạnh đó, do sự chuyển đổi cơ chế quản lý mới, nhiều quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành về dân sự không còn phù hợp. Đó là vấn đề gây ra không ít khó khăn cho việc bảo vệ các quyền dân sự và lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân cũng như các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật dân sự, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể, gây khó khăn cho các cơ quan xét xử trong việc giải quyết kịp thời đúng đắn các chủ tranh chấp đó. Đây là một tồn tại đã kéo dài nhiều năm, tạo ra một tình hình không bình thường, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.Trước tình hình thực tế đó, Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thanà của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.Đảm bảo cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, thuần phòng, mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong những cơ sở vật chất quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm cuộc sống, an cư lạc nghiệp của các cá nhân, cộng đồng chế định về quyền sở hữu giữ vai trò trọng tâm trong các chế định dân sự. Trong mọi xã hội, phương thức chiếm hữu cơ sở vật chất và chế độ sở hữu là điểm đặc trưng có ý nghĩa quyết định. Qua thực tiễn những năm thực hiện đường lối đổi mới về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức của chúng ta về chế độ sở hữu, vai trò của các chế độ sở hữu và hình thức sở hữu tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không còn giản đơn như trước đây. Ngoài việc tiếp tục khẳng định vai trò chỉ đạo, nền tảng của sở hữu toàn dân, Nhà nước ta còn khuyến khích, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội theo chủ trương đường lối của Đảng.Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc áp dụng các chế định pháp luật về quyền sở hữu vẫn đang gặp khó khăn, các tranh chấp về quyền sở hữu diễn ra rất phức tạp. Việc giải quyết liên quan đến rất nhiều các chế định pháp lý khác, đặc biệt là các chế định về thừa kế. Đây là vấn đề bức xúc mà việc giải quyết cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Do đó, việc Tìm hiểu các chế định về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự có ý nghĩa quan trọng, cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể cho các cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu, góp phần quan trọng vào việc đưa pháp luật vào đời sống, phát triển nền kinh tế xã hội.
Xem thêm

16 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG HỎI ĐÁP CHI TIẾT PHẦN PHÁP LUẬT - MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

ĐỀ CƯƠNG HỎI ĐÁP CHI TIẾT PHẦN PHÁP LUẬT - MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Cùng với nhà nước, pháp luật có nguồn gốc từ sự hình thành và phát triển của chế độ tư hữu, khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, có sự xung đột, đối kháng về lợi ích giai cấp. Trong điều kiện đó, những quy phạm xã hội thể hiện ý chí chung của cộng đồng thị tộc, bộ lạc dùng để điều chỉnh hành vi, cách xử sự của các thành viên trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ trở nên không phù hợp với tính chất của các mối quan hệ xã hội mới. Nhu cầu cần có một hệ thống quy tắc xử sự mới mang tính cưỡng chế mạnh nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phù hợp trước hết với ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời duy trì trật tự công cộng đã dẫn đến việc nhà nước xây dựng pháp luật, thiết lập nên những quy phạm pháp luật làm công cụ quản lý, điều hành xã hội.
Xem thêm

68 Đọc thêm

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề thừa kế được biết đến không chỉ với vai trò là một trong những chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia,mà còn là việc duy trì tài sản giữa các thế hệ trong mỗi gia đình và là hình thức pháp lý giúp Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với ý nghĩa như vậy thế nên trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào thì vấn đề thừa kế cũng chiếm vị trí quan trọng và góp phần phản ánh chế độ của quốc gia đó.
Việt Nam ta không nằm ngoài xu hướng đó, trong tiến trình hộ nhập nền kinh tế ngày càng sâu rộng, các quan hệ dân sự ngày càng phức tạp hơn, đồng thời các chế định để điều chỉnh các quan hệ này cũng trở lên cụ thể và đa dạng hơn không chỉ có một quốc gia tham gia vào một mới quan hệ nào đó, mà còn nhiều sự quan tâm và tham gia của các quốc gia khác. Do vậy, quan hệ về thừa kế ngày càng tỏ ra không đơn giản, các quan hệ này không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật của một quốc gia mà còn liên quian đến pháp luật của nhiều quốc gia khác. Đó là những quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến nay pháp luật về thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội Xã hội chủ Nghĩa (XHCN), theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước. quyền thừa kế nói chung và quyền thừa kế theo pháp luật nói riêng của công dân Việt Nam có sự biến đổi theo hương ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ và được mở rộng tương ứng với quan điểm, cách nhìn nhận đúng dắn hơn đối với mối quan hệ giữa người có tài sản và người thừa kế. Song song đó, các hình thức sở hữu cũng được thừa nhận như một quy luật tất yếu trong nến kinh tế nhiều thành phần định hướng Xã hội Chủ Nghĩa ở nước ta, hình thức sở hữu tư nhân cũng chiếm vị trí quan trọng, tạo thêm cho sự phát triển quyền thừa kế của công dân Việt Nam.
Và để phù hợp với thông lệ quốc tế, hội nhập nề kinh tế quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng cụ thể hóa vần đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài. Cũng với những thuận lợi đạt được thì việc áp dụng những quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài trong thực tiễn cũng như việc giải quyết các tranh chấp còn nhiều khó khăn, vướng mắc, các quy định của pháp luật xoay quanh vấn đề này vẫn chưa thật sự đồng bộ và thống nhất. Chính vì thế mà người viết quyết định chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp của mình. Qua đó người viết mong có thể tìm hiểu sâu hơn các kiến thức về thừa kế, góp phần hoàn thiện các chế định về thừa kế, cụ thế là thừa kế theo pháp luật để chúng phù hợp với thực tiền đời sống xà hội và thông lệ quốc tế.
Xem thêm

55 Đọc thêm

MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Ba là: Những nớc cha trải qua giai đoạn t bản chủ nghĩa của sự pháttriển lịch sử.Nớc ta thuộc loại nớc thứ ba. Do toàn bộ những điều kiện khách quanvà nhân tố chủ quan quy định, nớc ta đi theo con đờng xã hội chủ nghĩa là mộttất yếu lịch sử.Để nhận dạng con đờng đi lên của nớc ta, trớc hết cần phân tích đầyđủ và chính xác điểm xuất phát từ đó nớc ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đểxác định con đờng đi lên của mình, cụ thể trong điều kiện hiện nay chính làthực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc thì điều kiện cầnthiết là phải xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nớc, xuất phát từđặc điểm lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất của nớc ta để lựa chọn đúnghình thức kinh tế cho hiệu quả, xác định rõ những bớc đi cụ thể theo mục tiêuđã chọn. Nghị quyết Trung ơng 5 về văn hoá và Nghị quyết Trung ơng 6 (lần1) khoá VIII về kinh tế gần đây đã khẳng định cần phải đẩy mạnh việc pháthuy nội lực của nền kinh tế, tăng cờng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thịtrờng tiêu thụ, mạnh dạn hội nhập vào thị trờng khu vực và thế giới. Đó chínhlà những nghị quyết sát thực với cuộc sống, đã khuyến khích quan hệ sản xuấtphát triển trên cơ sở phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất ở nớc ta hiệnnay.Theo C.Mác, chủ nghĩa xã hội với t cách là một xã hội ở giai đoạn thấpcủa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, vẫn còn là thời kỳquá độ lên chủ nghĩa cộng sản.ở nớc ta hơn 15 năm qua, tuy đã trải qua nền kinh tế thị trờng có sựquản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, nhng trình độ lực lợngsản xuất, năng lực tổ chức quản lý còn rất thấp; mặt khác quá độ lên chủ nghĩaxã hội ở nớc ta không phải là từ chủ nghĩa t bản mà là từng bớc quá độ lên chủnghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa t bản với tính cách là một chế độ xã hội. Vì thế,cần phải nhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo các quy luật khách quan,trong đó quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ củalực lợng sản xuất là quy luật cơ bản nhất nhằm cải tạo các thành phần kinh tế,
Xem thêm

18 Đọc thêm

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

BÁO CÁO LÍ LUẬN ĐỀ TÀI TÍNH PHÙ HỢP CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

I.Khái niệm của “ Tính phù hợp với các điều kiện xã hội”:Hiệu quả của hệ thống pháp luật không thể đánh giá thông qua việc nó ghi nhận “càng nhiều càng tốt” những ước muốn hướng thiện của nhà lập pháp. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp luật phù hợp với đời sống xã hội trong phạm vi điều chỉnh của nó. Một mặt, nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị. Mặt khác nó phải phù hợp với các yếu tố khác như lịch sử, đạo đức, tập quán, phong tục, tâm lý dân tộc, trình độ dân trí của quốc gia, đồng thời phải có tính khả thi.Ví dụ: Trong phần thừa kế của Bộ Luật Dân Sự có quy định về việc thừa kế theo di chúc mà những chủ thể pháp luật quy định mà nội dung di chúc để lại không phù hợp thì lúc này luật sẽ điều chỉnh lại sau cho có sự phù hợp hài hòa giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật này ( Điều 669_ Bộ Luật Dân Sự 2005 ).
Xem thêm

18 Đọc thêm

Chính sách đối ngoại của cộng hòa liêng bang đức và quan hệ đức việt từ 1990 đến nay

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA CỘNG HÒA LIÊNG BANG ĐỨC VÀ QUAN HỆ ĐỨC VIỆT TỪ 1990 ĐẾN NAY

2. Mục đích và nội dung nghiên cứu2.1. Mục đíchNghiên cứu đường lối đối ngoại của CHLB Đức từ 1990 đến nay có những khác biệt gì so với giai đoạn trước.Nghiên cứu quan hệ Đức – Việt từ 1990 đến nay sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nước trong lịch sử phát triển một cách liên tục.Từ đó, chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn nữa trong tương lai.2.2 Nhiệm vụViệc nghiên cứu quan hệ hai nước trong giai đoạn này góp phần tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, đồng thời giúp chúng ta nhận thức được cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ này.Hiểu rõ những điểm khác biệt trong chính sách đối ngoại của CHLB Đức từ 1990 đến nay.Tiểu luận tập trung vào những thành tựu chủ yếu trong quan Đức – Việt trên các lĩnh vực chính trị ngoại giao, kinh tế, văn hóa giáo dục và một số quan hệ khác.Trên cơ sở những thành tựu trong quá trình phát triển quan hệ hai nước, vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay.Từ đó rút ra những bài học trong quan hệ hai nước, đồng thời nêu lên triển vọng về quan hệ hai nước trong tương lai.3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.Đối tượng nghiên cứu ở đây chính là Chính sách đối ngoại của Cộng hoà Liên bang Đức và quan hệ Đức Việt từ 1990 đến nay chủ yếu trên lĩnh vực chính trị ngoại giao.Chính sách đối ngoại của CHLB Đức từ 1990 đến nay diễn ra trên nhiều mặt, nhiều khu vực nhưng tiểu luận chỉ đề cập một số vấn đề.4. Phương pháp nghiên cứu.Chính sách đối ngoại của Cộng hoà Liên bang Đức và quan hệ Đức Việt từ 1990 đến nay vừa là một vấn đề lịch sử, vừa là một vấn đề quan trọng .Bởi vậy, khi nghiên cứu đề tài này cần sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic để nghiên cứu những sự kiện và hiện tượng lịch sử.Ngoài ra, còncó một số phương pháp khác: định lượng, thống kê, so sánh… để giải quyết các vấn đề của tiểu luận.
Xem thêm

36 Đọc thêm

Cùng chủ đề