LLSX, QHSX VÀ QUY LUẬT SX PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "LLSX, QHSX và quy luật SX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX":

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hay quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX). Sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước như thế nào?

33 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

phát triển đó là do sự phát triển của LLSX. Do đó, quy luật sự phù hợp giữa QHSXvới tính chấttrình độ của LLSX có tính phổ biến trong lĩnh vực xã hội.Lý luận của chủ nghĩa Mác cũng chỉ rõ qua trình lịch sử - tự nhiên của sự pháttriển xã họi chẳng những diễn ra theo con đờng phát triển tuần tự, mà còn bao hàmcả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, hoặc một số hình thái KT-XH nhấtđịnh. Nhng không phải là nôn nóng đốt cháy giai đoạn mà cần thiết phải có giaiđoạn quá độ hợp lý đối với các nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội từ nền tảng nền sảnxuất nhỏ lẻ, lạc hậu.Sau khi đã phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lợng sản xuất, cũng nh chỉ rõ vai trò của quy luật đối với sự vận độngvà phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Ta đi tìm hiểu và phân tích cơ cấu nềnkinh tế xã hội nớc ta trong thời kỳ đổi mới đã và đang đợc điều chỉnh nh thế nào?Sự chuyển dịch Cơ cấu nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ đổi mớiViệc xây dựng QHSX phù hợp với tính chấttrình độ phát triển của LLSXluôn luôn là yêu cầu tất yếu đặt ra cho mọi chế độ xã hội. Đối với nớc ta cũng vậy.Chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ t bản từ điểm xuất phát thấpkém cả về LLSX và QHSX nên việc xây dựng từng bớc QHSX mới để thúc đẩyLLSX phát triển ngày càng quan trọng.Trớc đây do nhận thức sai lầm về mô hình xã hội chủ nghĩa, do cách làm duy ýchí, nóng vội chủ quan và muốn đốt cháy giai đoạn và coi sở hữu toàn dân là mụcđích nên chúng ta đã mau chóng thiết lập chế độ công hữu về t liệu sản xuất. Từ đódẫn đến việc chỉ chú trọng phát triển nền kinh tế với hai thành phần chủ yếu là kinhtế quốc doanh và kinh tế tập thể. Trong khi đó các thành phần kinh tế khác đều bịcoi là phi xã hội chủ nghĩa, bị kìm hãm và xoá bỏ. Tình trạng này đã làm nảy sinhnhững mâu thuẫn với LLSX còn thấp kém lạc hậu kìm hãm sự phát triển của nềnkinh tế.Từ thực tiễn đời sống, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã rút ra một bàihọc là không thể nóng vội trong việc giải quyết vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể. Đại hội cho rằng việc cảitạo xã hội chủ nghĩa phải là một nhiệm vụ thờng xuyên liên tục trong suốt thời kì
Xem thêm

18 Đọc thêm

 1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSX

1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSX

Bộ môn: Mác-LêninMôn học: Nguyên lý 1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSXGVHD: Ths.Lê Thị NgaNhóm sinh viên thực hiện:Nhóm 1NỘI DUNGI. KHÁI NIỆM LLSX & QHSX1.LỰC LƯỢNG SẢN XUẤTa) Khái niệmb) Kết cấuc) Đặc điểm2. QUAN HỆ SẢN XUẤTa) Khái niệmb) Kết cấuc) Đặc điểmII. NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT QUAN HỆ SX PHÙHỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSXIII.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬNGVHD: Ths. Lê Thị NgaI. KHÁI NIỆM LLSX & QHSX
Xem thêm

30 Đọc thêm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bài tập học kỳ Mác Lênin
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .

Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam từ đó tạo nên tính đa dạng của nền kinh tế nhiền thành phần. Thực tế cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần là hai hình thức sở hữu trong giai đoạn xưa kia. Vì vậy nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc .

NỘI DUNG

I SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT. 1 Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

a. Phương thức sản xuất là gì?

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuẩt ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

b.Lực lượng sản xuất là gì?

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự nhiên hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người.

Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đó khác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thì chúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượng con người. Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người là chủ thể.

Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người. Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất.

Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó.

Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.

Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân. Chính vậy mà Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội”.

Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc. Trước đây do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọi sức mạnh của nhân tố con người. Đành rằng năng lực và kinh nghiệm sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng tích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

c. Quan hệ sản xuất là gì?

Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người.

Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.

Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt:

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)

+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý).

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định

quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra.

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà Đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất. Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.

Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế xã hội mới.

Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái kinh tế xã hội sang hình thái kinh tế xã hội khác hoàn toàn là một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (CSCN) trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét: Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi... phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.

2 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

a. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.

Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1859 C.Mác viết Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ... Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm phù hợp được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ phù hợp này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.

Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự yên tính giữa các mặt.

Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.

Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đâylà nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.

Từ những lý luận đó đi đến thực tại nước ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nước ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trước lên đến nay nền văn minh đất nước. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhưng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu được, tức là sự vận động.

Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.

b. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự chủ động không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.

+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.

II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1 Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia:

Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt cũng như hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Songtrong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:

Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.

Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.

Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.

Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đang ta đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất̉, trên thực tế Đ ảng và Nhà nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hê san xuât cả tầm vi mô và vĩ mô thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lưc lương san xuât. Điều đó đã có một tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta.

2 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cường điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bước đi có tính qui luật trên con đường tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên.

Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức kinh tế xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Mới đây các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đưa nước Việt Nam tiến lên không, trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không nhưng khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).

Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính trị, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền X ô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

3 Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phương thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải được xem xét từ tư duy triết học. Trước khi đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất.

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá hiện đại hoá trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì dân giàu nước mạnh công bằng văn minhhãy còn phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

KẾT LUẬN

Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay và tương lai.

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.

Chúng ta đều biết rằng từ trước tới nay công nghiệp hoá hiện đại hoá là khuynh hướng tất yếu của tất cả các nước. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá như là: “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ’’.

Trước những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của các thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song về mặt nhận thức chúng ta đã đặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở vị trí gần như đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa. Trong lựa chọn bước đi đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, và không coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách đơn giản là quá trìng xây dựng một nền sản xuất được khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo thị trường, có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời , chúng luôn tác động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển . Bởi lẽ “Nếu công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo lên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới , thì việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.
Xem thêm

18 Đọc thêm

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

14Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụcủa các Ban giáo dục chính trị, đã viết: "Hoặc là tất cả những thành tựu vềmặt chính trị của chính quyền Xô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm chonhững thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện naychưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theoquy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chấttrình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất".3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng quanhệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấttrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nayPhát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất trong nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN được Đảng ta xác định: Mục đích củanền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất,phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của CNXH, nâng caođời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với xây dựngquan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối.Đa dạng hoá sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sởhữu của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và sở hữu hỗn hợp. Trong các loạihình sở hữu đó, sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sở hữu nhà nước cùngvới sở hữu tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân.Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã khẳng địnhlà: “Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi đểgiải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụngkhoa học, công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực chophát triển. Phát triển nhanh, hài hoà các thành phần kinh tế và các loại hìnhdoanh nghiệp. Phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế
Xem thêm

23 Đọc thêm

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

công cụ lao động của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càngđược khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước vềcông nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợpquy luật, gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp quy luật, cũng như cơcấu một xã hội hợp giai cấp cùng với thời cơ lớn thì cũng có rất nhiều thách thứcphải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, vìdân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Nhưng điều đó còn ở phía trướcmà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về quy luật21quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giaiđoạn hiên nay của nước ta.Thực tế từ trước đến nay đã chứng minh rằng công nghiệp hoá – hiện đại hoálà khuynh hướng phát triển tất yếu của các nước. Đối với nước ta từ một nền kinh tếtiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, nhanh chóng đạt tới trình độ mộtnước phát triển tất yếu phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá toàn diện và sâusắc. Đại hội đã biểu lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định “xây dựng nước ra thànhmột nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp,quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,đời sống vật chất và tinh thần phải được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắcdân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”. Theo quan niệm của các nhà sánglập chủ nghĩa Mác thì lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mốiquan hệ khách quan phổ biến: một mặt con người phải quan hệ với tự nhiên nhằmbiến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này được biểu hiển ở lực lượng sản xuất. Lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập nhau biện chứng của một thểthống nhất không thể tách rời. Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái cấu thành củatoàn bộ lịch sử của nhân loại thì quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở kinh tế củaxã hội, là cơ sở hiện thực của hoạt động sản xuất tinh thần và những thiết chế tươngứng trong xã hội.
Xem thêm

41 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Xã hội luôn vận động, phát triển và chi phối bởi nhiều quy luật, nhưng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bản nhất. Nó là cơ sở, phương pháp luận khoa học, trong việc tiếp cận nghiên cứu các lĩnh vực của đời sống xã hội.

31 Đọc thêm

VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI NƯỚC TA HIỆN NAY

VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI NƯỚC TA HIỆN NAY

quyền lợi vừa là nghĩa vụ, phân phối theo lao động còn mang dấu vết “phápquyền tư sản”. Kết thúc giai đoạn thấp, xã hội cộng sản bước lên giai đo ạn cao,giai đoạn mà sự phụ thuộc có tính chất nô dịch của họ vào s ự phân công laođộng không còn nữa, cùng với sự phụ thuộc là sự đối lập gi ữa lao động trí óc v ớilao động chân tay , khi mà lao động không những là phương ti ện để sinh s ống màbản thân nó còn là nhu cầu bậc nhất, cùng với sự phát tri ển toàn di ện c ủa các cánhân, năng xuất của họ ngày một tăng lên và tất cả các nguồn m ới có th ể vượthẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của các quyền tư sản.Tóm lại mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng s ản xuất và quan h ệ s ảnxuất vạch ra quy luật khách quan của sự phát tri ển xã h ội nh ư m ột quá trình l ịchsử tự nhiên. Trong đó sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người cónhững quan hệ nhất định, tất yếu không tuỳ thuộc vào ý muốn của h ọ. Nhữngquan hệ sản xuất phù hợp với một trình độ phát tri ển nh ất đ ịnh của l ực l ượngsản xuất vật chất. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tếcủa xã hội tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên m ột ki ến trúc th ượngtầng pháp lý và chính trị tương ứng với cơ sở thực tại đó có nh ững hình thái ýthức xã hội. Phương thức sản xuất chính trị và tinh thần nói chung không ph ải ýthức con người quyết định sự tồn tại, trái lại chính sự tồn tại xã h ội quy ết đ ịnh ýthức của họ. Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vậtchất của xã hội sẽ gây mâu thuẫn với những quan h ệ s ản xu ất hi ện có, hay đâychỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sở hữu, trong đó từ tr ước tới nay cáclực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình th ức phát tri ển c ủa l ựclượng sản xuất, khi đó bắt đầu thời đại của cuộc cách mạng xã hội.2. Biểu hiện của mối quan hệ từ năm 1954 - 1975 ở Việt NamNăm 1954 sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, Đảng ta đã th ực hi ện chủtrương đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Mặc dùchủ trương đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội đã được xác định từ đầu th ế10
Xem thêm

Đọc thêm

Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, liên hệ với Việt Nam.

QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT, TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM.

Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn là yêu cầu tất yếu đặt ra cho mọi chế độ xã hội. Đối với nước ta do điểm xuất phát định hướng lên chủ nghĩa xã hội còn thấp cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dovậy việc xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất và xã hội phát triển lại càng quan trọng, xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới trở thành một trong những vấn đề cơ bản được trình bày trong các văn kiện của đại hội VIII. Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội. Trọng tâm của tiến trình này trong giai đoạn hiện nay là tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển lực lượng. Song song với nó là quá trình xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.Với vấn đề hiện nay của đất nước, phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp đã và đang là một vấn đề xuyên suốt trong tất cả các chính sách kinh tế xã hội của đất nước. Trước đây trong một thời gian dài nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng. Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng đó là chúng ta không nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, áp dụng một hình thức sở hữu xã hội ở trình độ cao trong khi lực lượng sản xuất vẫn còn lạc hậu.Việc xem xét lại quá khứ và nhìn nhận thực tế hiện nay chúng ta nhận định rằng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một điều quan trọng nhất trong mọi thời đạI. Chính vì thế, trên thế giới và ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Như ngay trong dự thảo đạI hội IX đã nói mối quan hệ này là nền tảng để xây dựng đất nước. Vì thế mà phải phát triển khoa học kỹ thuật và xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường gồm nhiều thành phần khác nhau.Với tầm quan trọng của vấn đề này, em xin đưa ra một số nhận định của mình trong bài tiểu luận này. Em mong rằng mình sẽ đóng góp một số ý kiến nhỏ để khẳng định mối quan hệ này và sử dụng nó để xem xét tình hình cụ thể của nước ta. Với kiến thức nhỏ bé nên em không tránh khỏi những sai sót. Em xin cám ơn các thầy cô giáo đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận để em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

26 Đọc thêm

Đề cương ôn tập môn triết học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC

Câu 1:Khái niệm hinh thái kinh tế xã hội?Tại sao nói sự phát triển của các hình thái KTXH là 1 quá trình lịch sử tự nhiên?
KN Hinh thái KTXH là 1 phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử ,dung để chỉ XH ở trong giai đoạn lịch sử nhất định,với 1 kiểu QHSX đặc trưng cho XH đó phù hợp với 1 trình độ nhất định của LLSX và với 1 kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những QHSX ấy.
Sự phát triển của các hình thái KTXH là 1 quá trình lịch sử tự nhiên vì :
Lịch sử phát triển xã hội qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao tương ứng với mỗi giai đoạn ấy là một hình thái kinh tế xã hội.
Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử đều do tác động của các quy luật khách quan đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
+ Các quy luật khách quan của xã hội là:
Quy luật và sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của LLSX.
Quy luật CSHT quyết định KTTT.
Các quy luật xã hội khác. Đấu tranh giai cấp, chính do tác động của quy luật khách quan đó mà các hình thái xã hội vận động phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao trong lịch sử không phụ thuộc vào ý chí nguyện vọng chủ quan của con người.
Quá trình phát triển khách quan của xã hội có nguồn gốc sâu xa của sự phát triển LLSX. Do đó xét đến cùng LLSX quyết định quá trình vận động và phát triển của hình thái kinh tế xã hội như quá trình lịch sử tự nhiên.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Đề cương ôn tập môn triết học 15 câu

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC 15 CÂU

Phần 1: Triết học.
Câu 1: Hình thái KTXH là gì? Tại sao nói sự phát triển của hình thái KTXH là 1 quá trình lịch sử tự nhiên?
TL: Hình thái KTXH là 1 phạm trù của chủ nghĩ duy vật lich sử dùng để chỉ XH ở trong giai đoạn lịch sử nhất định với 1 kiểu QHSX đặc trưng cho XH đó phù hợp với 1 trình độ nhất định của LLSX và với 1 KTTT tương ứng được XD trên những QHSX ấy.
Sự phát triển của hình thái KTXH là 1 quá trình lịch sử tự nhiên vì: lịch sử phát triển XH trải qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, tương ứng với mỗi giai đoạn ấy là 1 hình thái KTXH. Sự vận động thay thế nhau của các hình thái KTXH trong lịch sử đều do các tác động của các quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của XH. Các quy luật khách quan của XH:
Quy luật sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX.
Quy luật CSHT quyết định KTTT.
Các quy luật XH khác : đấu tranh giai cấp,…
Chính do tác động của các quy luật khách qua đó làm cho các hình thái KTXH vận động phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao trong lịch sử. Sự phát triển đó, ko phụ thược vào ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người, như Max nói: “ Con người có thể rút ngắn cơn đau đẻ nhưng ko thể thay đổi được quy luật phát triển của những hình thái KTXH”.
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động và phát triển của XH là do sự phát triển của LLSX. Do đó xét cho đến cùng LLSX quyết định sự vận động và phát triển của các hình thái KTXH như quá trình lịch sử tự nhiên.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với việc phân tích quá trình phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI VIỆC PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM

Vào giữa những năm 80 kinh tế –xã hội n¬ước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng , chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và đông Âu chao đảo. Nhưng chính lúc ấy Đảng ta đã quyết định đư¬ờng lối đổi mới, chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị tr¬ường có sự quản lý của nhà nư¬ớc theo định h¬ướng XNCN hôi nhập và mở cửa với bên ngoài . Có thể nói với những quyết sách của Đảng ta trong thời kỳ này thể hiện sự năng động về tư¬ duy lý luận gắn liền với sự mẫn cảm về thực tế cùng bản lĩnh chính trị vững vàng . Đó là khẳng định tính tất yếu của sự đổi mới ở nư¬ớc ta : Đổi mới để phát triển, đổi mới để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, để vư¬ợt qua những cản trở kìm hãm mô hình cũ –mô hình quan liêu bao cấp...
Thực tế tình hình công cuộc đổi mới ở n¬ước ta cho thấy chúng ta đã thu đ¬ược rất nhiều thành tựu đáng chú ý : Từ một n¬ước nghèo đói phải nhập gạo thì giờ đây chúng ta đã trở thành một trong ba nư¬ớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới cùng với Mỹ và Thái Lan. Quan hệ quốc tế ngày càng đ¬ược mở rộng trên cơ sở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” vì vậy chúng ta đã tham gia vào các tổ chức quốc tế nh¬ư ASEAN, AFTA...và sắp tới Việt Nam sẽ tham gia vào tổ chức WTOTổ chức th¬ương mại thế giới . Với những b¬ước tiến mới như vậy không thể không khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam trong tình hình hiện nay đang dần đi vào thế ổn định. Không chỉ có ngành kinh tế mà trong những ngành khoa học cơ bản cũng đang đ¬ược quan tâm đầu tư¬ và phát triển . Để đạt đ¬ược những thành tựu như¬ vậy ngoài sự nỗ lực gồng mình trong xu thế hội nhập với thế giới để không trở thành “kẻ bị đào thải” thì một trong những điều quan trọng nhất là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta . Đảng và nhà n¬ước đã kiên trì đ¬ường lối lãnh đạo quán triệt tư¬ t¬ởng chủ nghĩa MacLênin coi đó là nền tảng tư¬ t¬ưởng và kim chỉ nang cho mọi lý luận khoa học, xã hội.
Tuy nhiên chúng ta xây dựng CNXH trong điều kiện toàn cầu hoá do CNTB chi phối nên bên cạnh tiếp thu những nền văn minh của nhân loại chúng ta cần nghiên cứu chọn lọc có phát triển để phù hợp với lối sống của ng¬ười dân Việt Nam. Trong quá trình xây dựng CNXH phải giải phóng sức sản xuất, phải xoá bỏ mọi trở ngại kìm hãm để đem lại lực đẩy cho nền kinh tế tạo ra mức tăng tr¬ưởng ngày càng cao trong lĩnh vực này góp phần thực hiện công bằng xã hội . Có thể nói đổi mới đã đem lại cho chúng ta cơ sở để nhận thức một cách đúng đắn hơn mối quan hệ biện chứng giữa lực l¬ượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trên cơ sở vấn đề đổi mới đất n¬ước và thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nư¬ớc ta trong giai đoạn hiện nay đồng thời tầm quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng MacLênin ở Việt Nam mà trong bài tiểu luận này em xin làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa lực l¬ượng sản xuất và quan hệ sản xuất và ảnh h¬ưởng của nó đến việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở n¬ước ta hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

QUAN HỆ SẢN XUẤT

QUAN HỆ SẢN XUẤT

  Quan hệ sản xuất là mối liên hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội).  Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất và mối quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của quá trình đó.QUAN HỆ SẢN XUẤTNgười NgườiPHƯƠNG THỨC SẢN XUẤTLỰC LƯỢNG SẢN XUẤTNgười Tự nhiênTrong mỗi phương thức sản xuất khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì lực lượng sản xuất phát triển. Nếu không phù hợp thì ìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.        Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất của Đảng ta trong giai đọan đổi mới đất nước hiện nay.  Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở 
Xem thêm

21 Đọc thêm

CAU HOI DAP AN NHUNG NGUYEN LY CO BAN CUA CHUNGHIA MACLENIN

CAU HOI DAP AN NHUNG NGUYEN LY CO BAN CUA CHUNGHIA MACLENIN

trở thành vật cản của sự phát triển đó thì xẩy ra mâu thuẫn giữa chúng với nhau. Trong xã hội cóđối kháng giai cấp, do lợi ích giai cấp, giai cấp thống trị bằng mọi cách để bảo vệ, duy trì quan hệsản xuất đang mang lại lợi ích cho mình, nên giai cấp đó dùng mọi biện pháp, trong đó có biệnpháp sử dụng bộ máy nhà nước để trấn áp những giai cấp mới đại diện cho lực lượng sản xuấttiên tiến hơn. Xây dựng quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục pháttriển, là giải quyết mâu thuẫn trên; xác lập phương thức sản xuất mới, thúc đẩy xã hội phát triểnlà mục đích của đấu tranh giai cấp. Muốn thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất thì phải thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh ấy sẽ dẫnđến cách mạng xã hội để xoá bỏ giai cấp đại diện cho quanhệ sản xuất đang thống trị. Vai trò củađấu tranh giai cấp đối với sự vận động và phát triển của xã hội do tính chất, trình độ phát triển củađấu tranh giai cấp quy định. Có cuộc cách mạng xã hội chỉ thay thế hình thức áp bức, bóc lột, caitrị; có cuộc cách mạng giải phóng giai cấp bị bóc lột, cai trị khi đồng thời giải phóng cả giai cấpbóc lột, cai trị, do đó giải phóng toàn xã hội khỏi bóc lột, cai trị.Có thể nói, các cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp đều xuất phát từ lợi íchkinh tế, nhằm giải quyết vấn đề kinh tế và từ vấn đề này giải quyết những vấn đề khác để thúcđẩy xã hội phát triển. Bởi vậy, đấu tranh giai cấp là phương pháp cơ bản, là đầu tàu của lịch sử,là đòn bẩy để thay đổi hình thái kinh tế-xã hội, là động lực để thúc đẩy sự phát triển các mặt khácnhau của đời sống xã hội.25 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊCâu hỏi 2. Phân tích hàng hoá và hai thuộc tớnh của hàng hoỏ. í nghĩa thực tiễn của vấnđề này đối với Việt Nam hiện nay?Đáp. Cõu trả lời gồm ba ý lớn1) Phân tích hàng hoá. Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả món nhu cầu nào đó củacon người thông qua trao đổi, mua-bán. Khái niệm trên cho ta thấy a) Hàng hoá phải là sản phẩmcủa lao động, cũn những sản phẩm khụng do lao động tạo ra, dù rất cần thiết cho con người đềukhông phải là hàng hoá. b) Sản phẩm của lao động nhất thiết phải qua trao đổi mua bán. c) Hànghoá phải có tính hữu dụng, được con người dùng.2) Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.a) Giá trị sử dụng của hàng hoá do công dụng và thuộc tính tự nhiên của nó quy định. Công dụngđó nhằm thoả món một nhu cầu nào đó của con người, có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân;
Xem thêm

29 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa họcPhân tích khái niệm thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH liên hệ làm rõ sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam

TIỂU LUẬN MÔN MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌCPHÂN TÍCH KHÁI NIỆM THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CNTB LÊN CNXH LIÊN HỆ LÀM RÕ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

A. Phân tích khái niệm thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
1. Khái niệm
Quá độ là khái niệm triết học, dùng để chỉ sự chuyển biến, chuyển đổi về chất từ sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử.
Theo quan điểm của chủ nghĩa MácLê nin, thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện sự chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mớixã hội XHCN.
Quá độ lên CNXH là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ sự chuyển biến có tính chất cách mạng từ các yếu tố, các tiền đề còn mang tính chất TBCN từng bước trở thành các yếu tố, các tiền đề XHCN, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH được hiểu là sự chuyển biến, biến đổi diễn ra trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Theo đó, các sự vật, hiện tượng, quá trình sẽ được biến đổi từ chỗ còn mang tính chất TBCN từng bước trở thành những sự vật, hiện tượng, quá trình mang tính chất XHCN, dưới sự tác động của nhà nước, của giai cấp công nhân.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH được tính từ khi giai cấp công nhân dành được chính quyền cho đến khi xây dựng xong cơ sở vật chấtkỹ thuật và những quan hệ xã hội căn bản của CNXH.
2. Các hình thức quá độ
Trên cơ sở kế thừa quan niệm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăng ghen và qua phân tích,đánh giá tình hình cách mạng thế giới, Lê nin đã đưa ra 3 hình thức quá độ lên CNXH, đó là:
Thứ nhất, quá độ lên CNXH từ các quốc gia TBCN phát triển cao. Trên thực tế, hình thức này chưa diễn ra.
Thứ hai, quá độ lên CNXH từ các quốc gia có trình độ TBCN trung bình hoặc thấp. Ở các quốc gia có trình độ TBCN trung bình, hình thức quá độ lên CNXH đã diễn ra ở thế kỷ XX. Ở các quốc gia có trình độ TBCN phát triển thấp, hình thức quá độ lên CNXH đã, đang diễn ra và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Thứ 3, quá độ lên CNXH từ các quốc gia tiền TBCN
Tất cả các hình thức quá độ này đều phải trải qua một cuộc cách mạng có ý thức của giai cấp công nhân. Trong quá trình quá độ, các quốc gia, dân tộc có thể rút ngắn các bước đi và rút ngắn thời gian thực hiện nhiệm vụ nhưng tuyệt đối không thể bỏ qua các bước đi, các nhiệm vụ lịch sử cần thiết.
3. Tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
+ Là thời kỳ cách mạng phải trải qua những khó khăn vô cùng to lớn (nền kinh tế lạc hậu, chiến tranh, nội chiến và sự phản kích quyết liệt của kẻ thù, những sai lầm, vấp váp, thất bại tạm thời do thiếu kinh nghiệm, yêu cầu lớn lao của nhiệm vụ xây dựng CNXH và cải thiện đời sống nhân dân...). Song, do phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử, nên là khó khăn trong sự trưởng thành, khó khăn có thể và phải vượt qua.
+ Là thời kỳ đấu tranh giai cấp quyết liệt và có những đột biến cách mạng long trời, lở đất. Đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp để xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Là thời kỳ mà nhân dân lao động dần xác lập địa vị làm chủ, từ văn hóa cũ, con người cũ sang văn hóa mới, con người mới XHCN. Là thời kỳ mà những nhân tố của xã hội mới và tàn tích của xã hội cũ tồn tại đan xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau, từng bước hình thành những đặc trưng của CNXH.
+ Thời kỳ quá độ lên CNXH biểu hiện rõ nét nhất tính đặc thù dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc khi bước vào thời kỳ quá độ có xuất phát điểm về trình độ phát triển khác nhau, điều kiện lịch sử, nền văn hóa không giống nhau...Vì vậy, mỗi quốc gia, dân tộc sẽ lựa chọn bước đi, hình thức, nhịp độ, con đường phát triển riêng biệt phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của quốc gia, dân tộc mình. Do đó, đòi hỏi các Đảng cộng sản của các nước phải vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các quy luật, nguyên lý chung...sao cho phù hợp với quốc gia mình.
4. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT học NHẬN THỨC và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA về QUY LUẬT QUAN hệ sản XUẤT lực LƯỢNG sản XUẤT TRONG CÔNG CUỘC đổi mới HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NHẬN THỨC VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Quá trình thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa, đễn xã hội cộng sản tương lai, là do sự tác động của các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát tiển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến cơ bản nhất.

25 Đọc thêm

Làm rõ nghệ thuật chiến lược của Đảng ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Rút ra ý nghĩa thực tiễn trong tình hình hiện nay Liên hệ trách nhiệm sinh viên

LÀM RÕ NGHỆ THUẬT CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA QUA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ RÚT RA Ý NGHĨA THỰC TIỄN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY LIÊN HỆ TRÁCH NHIỆM SINH VIÊN

Xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Và kết quả của những cuộc chiến tranh ấy chính là nền độc lập dân tộc, là xã hội chủ nghĩa với tính chất công bằng, dân chủ, văn minh hôm nay. Để đạt được kết quả này toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đổ rất nhiều mồ hôi, xương máu và nước mắt. Và một trong những yếu tố đạt được thắng lợi trong các cuộc đấu tranh đó là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta vận dụng những phương thức đấu tranh cách mạng một cách hợp lý, nâng cao phương thức đó lên một trình độ nghệ thuật mới phù hợp với quy luật của chiến tranh cách mạng.
Xem thêm

12 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT & KT CHÍNH TRỊ & CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HỆ LIÊN THÔNG

Môn Triết Học
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? ý nghĩa của định nghĩa?
Câu 2: Hãy trình bày nguồn gốc và bản chất của ý thức? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 3 : Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Cho ví dụ? ý nghĩa của quy luật?
Câu 4. Phân tích nội dung quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại? ý nghĩa của quy luật?
Câu 5. Thực tiễn là gi? Hãy phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? ý nghĩa của vấn đề này?
Câu 6; Trình bày các khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 7: Trình bày khái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự vận dụng quy luật này của Đảng ta trong đường lối đổi mới?
Câu 8: Hình thái kinh tế – Xã hội là gì? Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hộilà một quá trình lịch sử tự nhiên? Vânh dụng vấn đề này trong quá trình xây dưng CNXH ở nước ta?
Câu 9: Hãy trình bày định nghĩa giai cấo của LêNin, các đặc trưng của giai cấp. Tại sao nói đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển… thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta ntn?
Câu 10: Trình bày nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, chức năng của nhà nước. Liên hệ với nhà nước XHCN.
Câu 11: Tình bày quan điểm CN Mác-LêNin về bản chất con người.
Câu 12: Trình bày mối quan hệ giưa quần chúng nhân dân và lãnh tụ, vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển lịch sử.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Cùng chủ đề