TÁI HẤP THU Ở ỐNG GÓP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "tái hấp thu ở ống góp":

SINH LÝ BÀI TIẾT NƯỚC TIỂU

SINH LÝ BÀI TIẾT NƯỚC TIỂU

BÀI 12. SINH LÝ BÀI TIẾT NƯỚC TIỂU

Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Trình bày được quá trình lọc ở cầu thận.
2. Trình bày được hiện tượng tái hấp thu và bài tiết ở từng phần ống thận.
3. Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến sự tạo thành nước tiểu.
3. Nêu được nguyên tắc, ýư nghĩa của một số phương pháp thăm dò chức năng thận.

Thận có nhiều chức năng quan trọng. Thận tham gia điều hoà hằng tính nội môi bằng cách điều hoà thể tích và thành phần dịch ngoại bào và điều hoà thăng bằng acid – base thông qua chức năng bài tiết nước tiểu. Thận còn có vai trò nội tiết vì bài tiết hormon renin tham gia điều hoà huyết áp và sản xuất erythropoietin có tác dụng làm tuỷ xương tăng sản xuất hồng cầu khi oxy mô giảm. Thận còn tham gia vào quá trình chuyển hoá vitamin D3 và chuyển hoá glucose từ các nguồn không phải hydrat carbon trong trường hợp bị đói ăn lâu ngày và bị nhiễm acid hô hấp mạn tính.
Quá trình bài tiết nước tiểu bao gồm: Lọc, tái hấp thu, bài tiết và bài xuất (hình 12.2).
1. CẤU TRÚC CHỨC NĂNG CỦA THẬN
1.1. Đơn vị thận (nephron). Người bình thường có hai thận nằm ở phía sau trên khoang bụng. Mỗi thận nặng khoảng 150 gam và có khoảng 1 triệu đơn vị chức năng của thận là nephron . Chỉ cần 25% số nephron hoạt động bình thường cũng đảm bảo được chức năng của thận. Mỗi nephron gồm cầu thận và các ống thận (hình 12.1).

Hình 12.1. Sơ đồ các thành phần của nephron.


Hình 12.2. Quá trình tạo nước tiểu
1.1.1. Cầu thận (hình 12.3) gồm:
Bọc Bowman là một túi lõm trong có búi mạch. Bọc Bowman thông với ống lượn gần.
Búi mạch gồm các mao mạch (khoảng 20 40) xuất phát từ tiểu động mạch đến cầu thận và ra khỏi bọc Bowman bằng tiểu động mạch đi. Tiểu động mạch đi có đường kính nhỏ hơn của tiểu động mạch đến. Biểu mô cầu thận dẹt, dày khoảng 4 micromét (1 m = 106 m).

1.1.2. Các ống thận gồm:
Ống lượn gần là đoạn tiếp nối với bọc Bowman, có một đoạn cong và một đoạn thẳng (part recta).
Quai Henle là phần tiếp theo ống lượn gần. Nhánh xuống của quai Henle mảnh, đoạn đầu nhánh lên mảnh và đoạn cuối dày.
Ống lượn xa tiếp nối quai Henle
Ống góp.
Chiều dài một nephron là 35 – 50 mm. Tổng chiều dài của toàn bộ nephron của hai thận có thể lên tới 70 100 km và tổng diện tích mặt trong là 5 – 8 m2.
Người ta chia nephron thành 2 loại:
Nephron vỏ: Có cầu thận nằm ở phần vỏ thận, có quai Henle ngắn và cắm vào phần ngoài của tuỷ thận. Khoảng 85% số nephron là nephron loại này.
Nephron cận tuỷ: Có cầu thận nằm ở nơi phần vỏ tiếp giáp với phần tuỷ thận, có quai Henle dài và cắm sâu vào vùng tuỷ thận. Các nephron này rất quan trọng đối với việc cô đặc nước tiểu nhờ hệ thống nhân nồng độ ngược dòng.
1.2. Mạch máu thận (hình 12.2). Động mạch thận ngắn và xuất phát từ động mạch chủ, chia nhánh dần và nhánh nhỏ nhất chia thành các tiểu động mạch đến. Thận có hai mạng mao mạch nối tiếp. Mạng thứ nhất nằm giữa tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi (tức là búi mạch nằm trong bọc Bowman). Mạng thứ hai xuất phát từ tiểu động mạch đi, tạo thành mạng mao mạch bao quanh các ống thận. Mạng thứ nhất có áp suất cao có ảnh hưởng lên sự cấp máu cho vùng vỏ và quyết định áp suất lọc. Mạng thứ hai có chức năng dinh dưỡng và trao đổi chất. Ở người lớn bình thường, áp suất máu trong tiểu động mạch đến vào khoảng 100 mmHg, trong mao mạch cầu thận là 60 mmHg, trong mao mạch quanh ống thận chỉ còn 13 mmHg.
Mỗi tiểu động mạch đến tạo thành một búi mao mạch nằm trong bọc Bowman. Nội mạc mao mạch là nội mạc có cửa sổ và có màng đáy không hoàn toàn, do đó mao mạch có sức cản yếu (dễ cho huyết tương đi qua) và có tác dụng như một màng sàng lọc (giữ lại các protein và huyết cầu). Các mao mạch trong bọc Bowman hợp lại và tạo thành tiểu động mạch đi. Sau khi ra khỏi bọc Bowman một đoạn ngắn, các tiểu động mạch đi lại phân chia và tạo thành các mao mạch bao quanh nhiều đoạn của các ống thận. Các mao mạch quanh ống thận xuất phát từ tiểu động mạch đi của nephron vỏ nối thông với mao mạch của nephron khác nhau, tạo thành một mạng lưới mao mạch có chức năng hấp thu nước và các chất hoà tan khuếch tán từ các ống thận. Các mao mạch thận có tính thấm cao (hơn mao mạch cơ xương tới 50 lần) nên sự trao đổi chất ở thận xảy ra rất nhanh. Các tiểu động mạch đi của các nephron tuỷ tạo thành các mạch thẳng (vasa recta) chạy theo quai Henle vào tuỷ thận rồi lại quay lại vùng cầu thận. Trên đường đi, các mạch này tạo nhiều mạng mao mạch bao quanh quai Henle. Tĩnh mạch thận được tạo thành từ các mao mạch quanh ống thận, ra khỏi thận ở rốn thận và đổ vào tĩnh mạch chủ. Giữa các tĩnh mạch có nhiều chỗ nối thông nhau.
1.3. Cấp máu cho thận.
Mỗi phút có khoảng 1200 ml máu tới thận (420 ml100 gam môphút). Lúc nghỉ ngơi, lưu lượng máu thận chiếm khoảng 20% lưu lượng tim. Khi vận động, lượng máu tới thận giảm do mạch thận co lại và máu tới cơ vân tăng. Ngoài việc cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho thận, máu tới thận còn cần thiết để đảm bảo quá trình lọc nhằm đào thải các sản phẩm chuyển hoá. Thận tiêu thụ nhiều oxy chỉ sau tim (xấp xỉ 6 ml100 gam phút). Mức tiêu thụ oxy của thận thay đổi tỷ lệ thuận với lưu lượng máu thận, liên quan chặt chẽ với sự hấp thu tích cực natri, đào thải hydro. Lưu lượng máu thận giảm làm giảm phân số lọc dẫn đến giảm lượng natriclorua (NaCl) được lọc và được tái hấp thu. Mức độ tiêu thụ oxy của thận chủ yếu phụ thuộc vào tái hấp thu natri ở ống thận nên khi máu tới thận giảm thì nhu cầu oxy cũng bị giảm theo. Lượng máu đến vùng vỏ và đến vùng tuỷ khác nhau. Phần tuỷ chiếm 20 – 25% trọng lượng thận còn vùng vỏ chỉ nhận khoảng 8 % lượng máu tới thận.
1.4. Bộ máy cận cầu thận. Các ống lượn xa của mỗi nephron đi qua góc giữa tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi. Tại nơi tiếp xúc với thành mạch, các tế bào biểu mô của ống lượn xa biến đổi cấu trúc, dày hơn ở chỗ khác, tạo thành macula densa. Các tế bào của macula densa có chức năng bài tiết về phía động mạch đến. Ngoài ra, ở chỗ tiếp xúc với macula densa, các tế bào cơ trơn ở thành tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi lại nở to và chứa các hạt renin ở dạng chưa hoạt động. Các tế bào này được gọi là tế bào cận cầu thận. Macula densa và các tế bào cận cầu thận tạo thành bộ máy cận cầu thận. Đây là các tế bào được biệt hoá, vừa có chức năng nhận cảm vừa có chức năng bài tiết các chất vào máu động mạch đến và đi khỏi cầu thận (hình 12.4).


Hình 12.4. Cấu trúc bộ máy cận cầu thận.

1.5. Thần kinh chi phối thận. Hệ thần kinh giao cảm có các tận cùng chi phối lớp cơ của mạch máu thận nên tham gia điều hoà lưu lượng tuần hoàn thận. Ở thận không có sợi phó giao cảm.
2. LỌC Ở CẦU THẬN
2.1. Màng lọc ở cầu thận (hình 12.3). Dịch từ trong lòng mạch đi vào trong bọc Bowman phải qua màng lọc gồm ba lớp: (1) Lớp tế bào nội mô mao mạch; trên tế bào này có những lỗ thủng (fenestra) có đường kính là 160 ; (2) Màng đáy, là một mạng lưới sợi collagen và proteoglycan, có các lỗ nhỏ đường kính 110 , tích điện âm và (3) lớp tế bào biểu mô (lá trong) của bao Bowman là một lớp tế bào biểu mô có chân, giữa các tua nhỏ có các khe nhỏ có đường kính khoảng 70 75 . Màng lọc là một màng có tính thấm chọn lọc rất cao. Những chất có đường kính < 70 (trọng lượng phân tử  15.000 Dalton) đi qua được màng; những chất có đường kính và có trọng lượng phân tử lớn hơn 80.000 Dalton như globulin không đi qua được màng. Các phân tử có kích thước trung gian mà mang điện tích âm (ví dụ, albumin) khó đi qua màng hơn là các phân tử không mang điện tích. Các chất gắn với protein không qua được màng. Các chất bám vào màng sẽ bị thực bào.
2.2. Áp suất lọc. Nước tiểu trong bọc Bowman (được gọi là nước tiểu đầu) có thành phần các chất hoà tan giống như của huyết tương, trừ các chất hoà tan có phân tử lượng lớn. Nước tiểu đầu được hình thành nhờ quá trình lọc huyết tương ở tiểu cầu thận. Quá trình lọc là quá trình thụ động, phụ thuộc vào các áp suất. Cụ thể là:
2.1.1. Các áp suất trong mạch máu:
Áp suất thuỷ tĩnh (PH) có tác dụng đẩy nước và các chất hoà tan ra khỏi mạch. Bình thường, PH là 60 mm Hg ở đầu vào.
Áp suất keo của huyết tương (PK) có tác dụng giữ các chất hoà tan và nước. PK là 28 mmHg (ở đầu vào) và 34 mmHg (ở đầu ra), trung bình là 32 mmHg.
2.2.2. Các áp suất trong bọc Bowman: Áp suất keo của bọc (PKB) có tác dụng kéo nước vào bọc, áp suất thuỷ tĩnh của bọc (PB) có tác dụng cản nước và các chất hoà tan đi vào bọc. Bình thường, PKB bằng 0 (protein không qua được mao mạch để vào bọc Bowman); PB bằng 18 mmHg.
Như vậy, quá trình lọc phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa các yếu tố có tác dụng đẩy nước ra khỏi mạch máu (PH), yếu tố kéo nước vào bọc Bowman (PKB) và các yếu tố giữ nước lại trong mạch (PK), yếu tố cản nước vào bọc Bowman (PB). Sự chênh lệch về áp suất này tạo thành áp suất lọc ( Filtration Pressure PL):
PL = PH – (PK + PB)
Thay các trị số cụ thể vào công thức trên, ta có:
PL = 60 – (32 + 18) = 60 – 50 = 10 mmHg
Như vậy để lọc được thì PL=10 mmHg, nếu PL<10 mmHg thì sẽ gây thiểu niệu, PL=0 thì vô niệu.
2.3. Các chỉ số đánh giá chức năng lọc của thận
2.3.1. Hệ số lọc (Filtration coeficient, KL) của cầu thận phụ thuộc vào diện tích của mao mạch và tính thấm của màng lọc. Hệ số lọc được biểu thị bằng mlphútmmHg. Tổng diện tích mao mạch thận vào khoảng 1,6 m2, trong đó 2 – 3% có vai trò lọc; như vậy diện tích lọc là 320 – 480 cm2. Trị số bình thường là 12,5 mlphút mmHg, cao hơn ở mao mạch cơ vân 50 – 100 lần.
2.3.2. Lưu lượng lọc cầu thận (Glomerular Filtration Rate, GFR) là số ml dịch lọc được tạo thành trong một phút; được tính bằng tích của hệ số lọc nhân với áp lực lọc của cầu thận. Mỗi ngày có khoảng 180 lít dịch được lọc ở cầu thận, lớn hơn nhiều so với lượng dịch được lọc ở các mao mạch vòng đại tuần hoàn (20 lítngày). Bình thường, người lớn có diện tích thân thể khoảng 1,7 m2 có GFR = 12,5 x 10 = 125 mlphút.
2.3.3. Phân số lọc của cầu thận (Filtration fraction, FF) là tỷ số % giữa lưu lượng dịch lọc (ml) và lượng huyết tương qua thận (ml) trong một phút. Bình thường, tỷ số này bằng 1921% tức là trong một phút có khoảng 20% lượng huyết tương qua thận được lọc vào bọc Bowman.
FF = 125 ml650 ml = 19% hoặc 15
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình lọc.
Mọi nguyên nhân làm thay đổi một hoặc nhiều áp suất dẫn đến thay đổi áp suất lọc sẽ dẫn đến làm thay đổi lượng nước tiểu đầu.
2.4.1. Lưu lượng máu thận. Lưu lượng máu tới thận tăng làm tăng áp suất mao mạch cầu thận do đó làm tăng phân số lọc. Nếu lưu lượng máu qua thận bình thường thì có khoảng 20% huyết tương được lọc khiến cho nồng độ protein huyết tương trong tiểu động mạch đi tăng và cản trở sự lọc. Lượng máu qua thận tăng sẽ bù cho lượng huyết tương được lọc nên nồng độ protein và áp suất keo không thay đổi mấy. Như vậy, ngay cả khi áp suất mao mạch cầu thận không đổi thì lưu lượng máu qua thận tăng làm lưu lượng lọc tăng. Lưu lượng máu thận phụ thuộc huyết áp động mạch vòng đại tuần hoàn, có nghĩa là phụ thuộc vào thể tích máu toàn thân, vào hoạt động của tim. Nếu mất máu hoặc suy tuần hoàn, huyết áp toàn thân thấp thì huyết áp động mạch thận cũng thấp làm áp suất lọc giảm, thận lọc ít (thiểu niệu) hoặc vô niệu nếu áp suất lọc bằng 0. Ngược lại, huyết áp tăng cao thì lượng nước tiểu cũng tăng (lợi tiểu do huyết áp).
2.4.2. Áp suất keo của huyết tương. Áp suất keo trong huyết tương giảm làm áp suất lọc tăng. Nồng độ protein trong máu giảm quá thấp gây phù (phù dinh dưỡng).
2.4.3. Ảnh hưởng của co tiểu động mạch đến. Co tiểu động mạch đến làm giảm lượng máu đến thận và làm giảm áp suất trong mao mạch cầu thận nên làm giảm lưu lượng lọc. Giãn tiểu động mạch đến gây tác dụng ngược lại
2.4.4. Ảnh hưởng của co tiểu động mạch đi. Co tiểu động mạch đi cản trở máu ra khỏi mao mạch nên làm tăng áp suất mao mạch cầu thận. Nếu co nhẹ thì làm tăng áp suất lọc. Nếu co mạnh, huyết tương bị giữ lại một thời gian dài trong cầu thận do vậy huyết tương được lọc nhiều và không được bù nên áp suất keo tăng, kết quả là lưu lượng lọc giảm mặc dù áp suất trong mao mạch thận vẫn cao.
2.4.5. Ngoài ra, lưu lượng máu tới thận chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
2.4.5.1. Cơ chế tự điều hoà huyết áp tại thận. Cơ chế tự điều hoà này chỉ xảy ra ở thận khi huyết áp trung bình trong động mạch thấp hơn 70 mmHg nhằm tự điều hoà phân số lọc. Cơ chế này xảy ra ở bộ máy (phức hợp) cạnh cầu thận nên vẫn còn ở thận bị cắt bỏ dây thần kinh, ở thận cô lập, thận được ghép, ở người bị cắt bỏ tuỷ thượng thận. Khi lưu lượng lọc giảm thấp, sự tái hấp thu natri và clo ở quai Henle tăng, làm nồng độ các ion này ở macula densa giảm. Các tế bào macula densa phát tín hiệu làm giãn tiểu động mạch đến, máu đến cầu thận nhiều, lưu lượng lọc tăng lên. Cơ chế này cũng giúp cho điều hòa lưu lượng máu thận. Đồng thời, do natri và clo ở macula densa giảm, các tế bào cạnh cầu thận giải phóng renin. Renin xúc tác quá trình tạo angiotensin II là chất có tác dụng làm co tiểu động mạch đi, kết quả cũng làm tăng áp suất mao mạch thận và tăng lưu lượng lọc. Giãn tiểu động mạch đến và co tiểu động mạch đi xảy ra đồng thời, góp phần duy trì lưu lượng lọc ở mức không đổi trong phạm vi huyết áp động mạch 75 – 160 mmHg.
2.4.5.2. Thần kinh giao cảm. Thần kinh giao cảm chi phối tiểu động mạch đến, tiểu động mạch đi và một phần của ống thận. Kích thích nhẹ giao cảm thận không gây tác dụng vì cơ chế tự điều hòa mạnh hơn kích thích thần kinh. Kích thích rất mạnh giao cảm thận làm co rất mạnh các tiểu động mạch đến và lưu lượng lọc có thể bằng 0. Nếu kích thích vẫn kéo dài thì lưu lượng lọc dần dần trở về mức bình thường do lượng noradrenalin được sợi giao cảm bài tiết giảm, do tác dụng của các hormon và do sự thay đổi nồng độ các ion trong thận.
2.4.5.3. Hormon
Các hormon gây co mạch do đó làm giảm máu tới thận và giảm lưu lượng lọc cầu thận: Adrenalin, noradrenalin, angiotensin II, adenosin. Khi bị mất máu, các hormon này làm giảm lượng máu tới thận nhằm giữ lại nước cho cơ thể. Noradrenalin làm co mạnh cả tiểu động mạch đi và tiểu động mạch đến. Kích thích hệ giao cảm làm giải phóng noradrenalin và angiotensin II, gây co mạch. Với nồng độ thấp, angiotensin II chủ yếu gây co tiểu động mạch đi còn với nồng độ cao thì làm co cả tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi.
Các hormon gây giãn mạch do đó làm tăng máu tới thận và tăng lưu lượng lọc cầu thận: Các prostaglandin PGE2 và prostacyclin (PGI2) có tác dụng tăng lưu lượng máu do làm giãn tiểu động mạch đi và tiểu động mạch đến. Các chất này chỉ hoạt động trong trường hợp bất thường.
2.4.5.3. Cân bằng chức năng cầu thận – ống thận. Ở thận có cơ chế nội tại đảm bảo cho sự tái hấp thu chất (chủ yếu là natri) ở ống thận được điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi lưu lượng lọc cầu thận nhằm đảm bảo thể tích dịch ngoại bào. Khi thể tích dịch giảm, ống lượn gần tăng tái hấp thu natri và nước.
2.5. Kết quả của quá trình lọc ở cầu thận. Dịch lọc từ huyết tương vào trong bọc Bowman được gọi là nước tiểu đầu. Trong nước tiểu đầu không có các chất có phân tử lượng trên 80.000, không có các thành phần hữu hình của máu. Dịch lọc đẳng trương so với huyết tương và có pH bằng pH của huyết tương. Các protein phân tử lượng thấp có thể đi qua màng lọc, nhưng rất ít (chỉ bằng 1240 lượng protein huyết tương). Do có sự chênh lệch về nồng độ protein giữa huyết tương và dịch lọc (chênh lệch điện tích âm) nên trong dịch lọc sẽ có nồng độ ion clo và bicarbonat (HCO3 ) cao hơn 5% so với huyết tương để giữ cân bằng về điện tích (cân bằng Donnan). Các thành phần hoà tan khác trong huyết tương và dịch lọc có nồng độ ngang nhau. Bình thường, lượng dịch được lọc trong một ngày trung bình là 170 – 180 lít.
3.TÁI HẤP THU VÀ BÀI TIẾT Ở ỐNG THẬN
3.1. Tái hấp thu và bài tiết ở ống lượn gần
Trong 24 giờ có khoảng 170 –180 lít huyết tương được lọc nhưng chỉ có 1,2 đến 1,5 lít nước tiểu được thải. Như vậy, hơn 99% lượng nước và các chất đã được tái hấp thu ở các ống thận. Có những chất được tái hấp thu hoàn toàn, có những chất được tái hấp thu một phần, có những chất không được tái hấp thu. Quá trình tái hấp thu diễn ra trên toàn bộ chiều dài của ống thận. Tại ống lượn gần, 7085% natri, clo, bicarbonat, nước; hầu như toàn bộ ion kali, mono acid phosphat (HPO42) và các acid amin trong nước tiểu đầu được tái hấp thu.
3.1.1. Tái hấp thu ion natri. Natri được tái hấp thu ở ống lượn gần bằng cơ chế phức tạp, vừa tích cực, vừa thụ động. Thoạt tiên, ở đỉnh tế bào, natri được vận chuyển theo cơ chế đồng vận chuyển (khuếch tán được thuận hoá) cùng với glucose hoặc acid amin vào trong tế bào ống lượn gần. Sau đó, natri được vận chuyển qua màng đáy vào khoảng kẽ nhờ bơm Na+ K+ ATPase (vận chuyển tích cực). Nhờ vậy, nồng độ natri trong tế bào thấp và natri trong lòng ống lại đi vào trong tế bào nhờ cơ chế thụ động. Dòng ion này được duy trì nhờ mức chênh lệch điện hoá cao của natri giữa lòng ống và tế bào và chính sự chênh lệch này huy động các “chất mang” đưa ion hydro vào lòng ống và vận chuyển glucose và acid amin vào tế bào. Khoảng 67% natri được tái hấp thu ở ống luợn gần là theo cơ chế này. Số natri còn lại được tái hấp thu thụ động qua khoảng kẽ giữa các tế bào ống lượn gần và vào khoảng kẽ do khuếch tán theo bậc thang điện hoá và đi theo nước.
3.1.2. Tái hấp thu glucose: Glucose chỉ đuợc tái hấp thu ở ống lượn gần. Khi nồng độ glucose máu thấp hơn 1,8 gamlít, glucose được tái hấp thu hoàn toàn theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát ở ống lượn gần (đồng vận chuyển với natri nhờ chất mang) và có giới hạn. Mức glucose máu 1,8 gamlít được gọi là “ngưỡng glucose của thận”. Nồng độ glucose máu tăng thì thận tăng tái hấp thu nhưng khả năng này (Tm: Transit maxima) cũng có giới hạn nên khi nồng độ glucose máu cao hơn ngưỡng glucose của thận thì glucose không được tái hấp thu hoàn toàn và một phần glucose sẽ bị đào thải qua nước tiểu.
3.1.3. Tái hấp thu protein và acid amin: Protein phân tử lượng nhỏ và acid amin được tái hấp thu hoàn toàn ở ống lượn gần theo cơ chế vận chuyển tích cực. Protein được chuyển vào trong tế bào ống thận theo cơ chế ẩm bào. Các protein trong túi bị các enzym thuỷ phân thành acid amin. Các acid amin này được vận chuyển qua màng đáy vào dịch gian bào theo cơ chế khuếch tán có chất mang. Các acid amin tự do trong lòng ống lượn được vận chuyển tích cực nhờ protein mang đặc hiệu qua màng. Mỗi ngày, thận tái hấp thu tới 30 g protein.
3.1.4. Tái hấp thu ion bicarbonat (hình 12.5)

Gian bào Tế bào Lòng ống

Na+
HCO3

Na+
HCO3 H+

H2O + CO2 CA H2CO3
NaHCO3
Na+ HCO3

H2CO3

CO2 H2O
Hình 12.5. Sự tái hấp thu ion bicarbonat (HCO3)
Trong 24 giờ có 4000 mEq ion bicarbonat bị lọc theo dịch lọc nhưng chỉ có 1 2 mEq ion này bị thải ra ngoài và có tới 99,9% bicarbonat được tái hấp thu. Ion bicarbonat được tái hấp thu chủ yếu ở ống lượn gần, một phần ở ống lượn xa theo cơ chế vận chuyển tích cực, có liên quan chặt chẽ với enzym carbonic anhydrase (CA). Một phần ion bicarbonat được tái hấp thu theo cơ chế khuếch tán thụ động.
Trong lòng ống lượn gần xảy ra phản ứng:
HCO3 + H+  H2CO3  CO2 + H2O.
CO2 khuếch tán vào trong tế bào ống lượn gần và kết hợp với nước, tạo thành H2CO3 dưới tác dụng của carbonic anhydrase, H2CO3 phân ly thành ion hydro (H+) và ion bicarbonat (HCO3).
CO2 + H2O CA H2CO3 HCO3 + H+.
Ion hydro được vận chuyển tích cực vào lòng ống lượn còn ion bicarbonat được chuyển vào dịch gian bào cùng với natri. Như vậy, ion bicarbonat được tái hấp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực thông qua sự khuếch tán của CO2 được tạo thành từ ion bicarbonat ở lòng ống.
3.1.5. Tái hấp thu kali, clo và một số ion khác: Ion kali được tái hấp thu hoàn toàn ở ống lượn gần theo cơ chế vận chuyển tích cực. Ion clo được tái hấp thu theo bậc thang điện tích. Một số gốc sulphat, phosphat, nitrat... được tái hấp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực.
3.1.6. Tái hấp thu urê: Nước được tái hấp thu làm cho nồng độ urê trong ống lượn gần trở nên cao hơn nồng độ urê trong dịch gian bào. Vì vậy, urê khuếch tán (tới 5060%) vào dịch kẽ, rồi vào máu theo bậc thang nồng độ.
3.1.7. Tái hấp thu nước: Tái hấp thu nước là hậu quả của tái hấp thu các chất có lực thẩm thấu cao: Natri, kali, clo, bicarbonat... để duy trì cân bằng áp lực thẩm thấu. 75 – 89% nước do cầu thận lọc được tái hấp thu ở ống lượn gần. Sự tái hấp thu nước ở ống lượn gần không làm thay đổi áp suất thẩm thấu. Nước tiểu đi khỏi ống lượn gần là đẳng trương với huyết tương.
3.1.8. Bài tiết creatinin. Creatinin được lọc ở cầu thận và không được tái hấp thu. Hơn nữa, tế bào ống lượn gần còn bài tiết creatinin nên nồng độ chất này cao trong nước tiểu.
3.2. Trao đổi chất ở quai Henle
Quai Henle gồm nhánh xuống và nhánh lên có cấu tạo khác nhau. Nhánh xuống và phần đầu nhánh lên mỏng; phần cuối nhánh lên dày. Nhánh xuống cho nước và urê qua, nhưng lại không cho natri thấm qua. Nhánh lên quai Henle tái hấp thu ion natri (phần đầu tái hấp thu thụ động, phần cuối tái hấp thu tích cực) mà không tái hấp thu nước do đó làm dịch gian bào quanh quai Henle rất ưu trương, nhất là vùng chóp quai Henle. Nhánh xuống đi vào vùng có áp lực thẩm thấu cao, nên nước được tái hấp thu thụ động từ lòng ống vào dịch kẽ rồi vào mạch máu. Vai trò của urê ở đây là làm tăng độ thẩm thấu ở nhánh xuống của quai Henle nên làm tăng tái hấp thu nước và làm tăng nồng độ NaCl ở trong lòng quai.
Do hiện tượng trên, nước tiểu đi vào quai Henle là đẳng trương, nhưng càng đi xuống quai Henle thì càng ưu trương và ở chóp quai là ưu trương nhất. Chính sự ưu trương này làm cho natri được tăng tái hấp thu ở nhánh lên. Do natri được tái hấp thu ở nhánh lên nên độ ưu trương của nước tiểu giảm dần, trở nên đẳng trương, rồi trở thành nhược trương khi đến phần cuối của nhánh lên. Đến đầu ống lượn xa nước tiểu rất nhược trương. Khả năng tái hấp thu của quai Henle rất lớn: Tái hấp thu tới 25% natri và 15% nước. Người ta gọi hiện tượng này là hiện tượng “ nhân nồng độ ngược dòng”.
15 – 20% natri được tái hấp thu tích cực ở đoạn dày của quai Henle. Lượng nước được tái hấp thu ở quai Henle chỉ vào khoảng 15% lượng nước đã được lọc.
3.3. Tái hấp thu và bài tiết ở ống lượn xa
Ở ống lượn xa có sự tái hấp thu một số chất từ dịch lọc vào máu và bài tiết một số chất vào nước tiểu để được đào thải ra ngoài. Tái hấp thu và bài tiết ở ống lượn xa phụ thuộc vào nhu cầu của cơ thể.
3.3.1. Tái hấp thu ion natri: Tái hấp thu natri ở ống lượn xa theo cơ chế vận chuyển tích cực, chịu tác dụng của aldosteron. Aldosteron làm tăng tái hấp thu natri đồng thời làm tăng bài tiết ion kali. Cơ chế tác dụng của aldosteron là làm hoạt hoá hệ gen dẫn đến tăng tổng hợp protein ở tế bào ống lượn xa. Protein được tổng hợp là protein mang và protein enzym tham gia vào sự vận chuyển tích cực ion natri và ion kali ở ống lượn xa. Khoảng 5% natri được tái hấp thu ở ống lượn xa.
3.3.2. Tái hấp thu ion bicarbonat: Ion bicarbonat được tái hấp thu theo cơ chế như ở ống lượn gần. Ở ống lượn xa, tái hấp thu bicarbonat quan hệ chặt chẽ với sự đào thải ion hydro.
3.3.3. Tái hấp thu nước: Nước tiểu đến ống lượn xa là dịch nhược trương. Trung bình cứ một phút có 20 ml nước tiểu qua ống lượn xa; trong đó chỉ cần 2ml đã đủ để hoà tan các chất có trong nước tiểu. Số còn lại 18ml không tham gia vào hoà tan vật chất. Phần nước này (được gọi là nước không tham gia thẩm thấu”) sẽ được tái hấp thu chủ yếu ở ống lượn xa và một phần ở ống góp. Nước ở ống lượn xa được tái hấp thu theo cơ chế chủ động nhờ tác dụng của hormon chống lợi niệu (Antidiuretic Hormone ADH). ADH làm tăng tái hấp thu nước ở ống lượn xa và phần đầu ống góp. Cơ chế tác dụng của ADH là thông qua AMP vòng, hoạt hoá enzym hyaluronidase trong phản ứng thuỷ phân acid hyaluronic để mở rộng lỗ màng trong quá trình vận chuyển nước. Nhờ cơ chế tái hấp thu nước nên nước tiểu được cô đặc lại khi qua ống lượn xa và ống góp.
3.3.4. Bài tiết ion hydro (hình 12.6).
Trong lúc pH máu là 7,36 7,40 thì pH niệu là 4,5 6,0 nghĩa là nước tiểu acid hơn rất nhiều so với máu. Sở dĩ như vậy là vì ống thận đã bài tiết một lượng ion hydro vào lòng ống. Quá trình này xảy ra như sau: Quá trình chuyển hoá tế bào tạo ra nhiều CO2. CO2 khuếch tán vào máu rồi vào tế bào ống lượn. Trong tế bào xảy ra phản ứng

Ion hydro được vận chuyển qua màng tế bào vào lòng ống lượn, còn natri được tái hấp thu đồng thời vào máu. Trong ống lượn ion hydro kết hợp với ion mono acid phosphat, với ammoni, với các gốc acid hữu cơ yếu hoặc với các gốc khác để được thải ra ngoài. Ion hydro còn kết hợp với ion bicarbonat để tạo ra H2CO3 và H2CO3 lại phân ly thành CO2 và H2O. CO2 được vận chuyển vào trong tế bào để tạo ra ion bicarbonat rồi được hấp thu vào máu.
Xem thêm

16 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ VITAMIN D, MẬT ĐỘ XƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ VITAMIN D, MẬT ĐỘ XƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ

+ Giảm tiết calcitriol qua yếu tố tăng trưởng nhuyên bào sợi (FGF-23).+ Kích tích trực tiếp tăng tiết PTH.- Vai trò của toan máu: Toan máu cũng tham gia vào quá trình gây cươngcận giáp. Toan máu lam thuận lợi hơn tăng phosphor máu, giảm calci máu vàtổng hopwjcalcitriol bị ảnh hưởng.1.1.8. Một số các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ vitamin D và MĐX củabệnh nhân bị STM1.1.8.1. Bệnh nhân bị STM cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố thông thườngảnh hưởng tới MDX:- Tuổi:Từ 35 đến 40 tuổi sự mất xương sinh lý bắt đầu xảy ra nam.Giai đoạn mãn kinh, sự mất xương tăng lên nhanh 1 đến 3% mỗi năm và kéodài 5 đến 10 năm sau khi ngừng hoạt động kinh nguyệt. Tuy nhiên ngay cảđàn ông cũng xảy ra quá trình mất xương từ độ tuổi từ 50 tuổi trở lên. Tuổicàng cao mất độ xương càng giảm. người già sự cân bằng giữa quá trình tạoxương bị phá vỡ, chức năng tạo cốt bào bị suy giảm do vậy dẫn đến tình trạng8mất xương.Mặt khác người già trên 70 tuổi vi thiếu calci do giảm hấp thucalci ruột giảm tái hấp thu calci ống thận, giảm tổng hợp vitamin D tại davà sự sai lạc tổng hợp 1-25 dihydroxy cholecalciferol (do giảm hoạt động của1α-hydroxylase tại thận) dẫn đến cường cận giáp, sự dư thừa hormone PTHlàm tăng hủy xương và tái tạo xương dẫn đến thiếu năng xương (đặc biệtxương đặc) làm tăng nguy cơ gãy xương.- Yếu tố vận động: Sự giảm vận động người lớn tuổi cũng là yếu tố nguycơ gây loãng xương. Khi cơ thể hoạt động, vận động của cơ kích tích sự tạoxương và tăng khối lượng xư ơng. Giảm vận động dẫn đến sự mất xương nhanh.- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của bộxương. Chế độ ăn không đầy đủ calci sẽ ảnh hưởng đến sự đặt được đỉnh cao
Xem thêm

50 Đọc thêm

BÀI GIẢNG ĐÁI THÁO NHẠT

BÀI GIẢNG ĐÁI THÁO NHẠT

ĐÁI THÁO NHẠT1ĐỊNH NGHĨAĐái tháo nhạt: rối loạn cân bằng nước do mất qua thận không phải do thẩm thấu.Diabetes insipidus: tiểu nhiều (diabetes), nước tiểu loãng, nhược trương, nhạt vàkhông vị (insipid).2ĐỊNH NGHĨADo giảm phóng thích ADH (ĐTN trung ương hoặc TK) hoặc do thận đáp ứng kém với ADH(ĐTN thận).Thiếu ADH  mất khả năng tái hấp thu nước ống thận  tiểu nhiều, nước tiểu có tỉ trọngthấp và uống nhiều.30 - 50% trường hợp ĐTN không rõ nguyên nhân.3SINH LÝ•
Xem thêm

44 Đọc thêm

Đề cương sinh lý 1 hay nhất

ĐỀ CƯƠNG SINH LÝ 1 HAY NHẤT

1. Đề cương sinh lí 1 2014 Câu 1.1. Quá trình khuếch tán qua chất mang? Ứng dụng giải thích trường hợp xuất hiện glucose niệu khi nồng độ glucose máu tăng vượt quá ngưỡng glucose ở thận ( đái tháo đường ) ? Quá trình khuếch tán qua chất mang: là sự khuếch tán có vai trò của chất mang (thường là các protein màng). Quá trình diễn ra như sau: Chất cần vận chuyển đi đến gần màng sẽ liên kết với các phân tử chất mang tương ứng. Liên kết được tạo thành bằng sự tạo ra các liên kết đồng hóa trị giữa cơ chất và chất mang. Chất mang sẽ thay đổi cấu trúc bậc 4 hay phức hợp chất mang – cơ chất sẽ quay 1800 , liên kết giữa chất mang và cơ chất bị phá hủy đồng thời giải phóng cơ chất ra phía bên kia của màng. Tốc độ vận chuyển cơ chất tỉ lệ với nồng độ của nó, tuy vậy khi nồng độ cơ chất quá cao, số lượng chất mang không đủ, tốc độ vân chuyển lại phụ thuộc vào mật độ chất màng trên màng tế bào. Tốc độ vận chuyển còn phụ thuộc vào tốc độ tạo thành liên kết, tốc độ vận chuyển phức chất và phá hủy liên kết ở bên kia của màng. Ngoài ra còn phụ thuộc vào sự có mặt của một số chất có trong bào tương và gian bào, hormon insulin làm tăng tốc độ vận chuyển của glucose lên 10 đến 20 lần. (đồ thị) Một số chất được vận chuyển theo hình thức này như glucose, mannose, galactose… và phần lớn các axit amin. Sự xuất hiện glucose trong bệnh đái tháo đường: một trong các hình thức vận chuyển chủ yếu của glucose là khuếch tán qua chất mang. Bình thường, lượng glucose trong máu từ 0.81.2 gl. Glucose có trong nước tiểu đầu và tại màng các tế bào ống lượn gần ở thận có nhiều các protein mang vận chuyển glucose, khi nồng độ glucose trong máu thấp hơn 1.8gl thì glucose sẽ được tái hấp thu hoàn toàn tại đây. Vì hình thức vận chuyển này phụ thuộc vào số lượng chất mang trên bề mặt màng và thời gian vận chuyển cơ chất (thời gian tạo liên kết, thời gian để protein thay đổi hình dáng, thời gian để phân ly phức hợp cơ chấtchất mang) nên khi nồng độ glucose quá cao thì số lượng chất mang không còn đủ để có thể vận chuyển kịp. Nồng độ glucose 1.8gl được gọi là ngưỡng vận chuyển glucose tối đa của thận. Vì vậy khi nồng độ glucose vượt quá 1.8 gl, thận không thể tái hấp thu hết glucose và glucose sẽ theo nước tiểu ra ngoài. 1 THT
Xem thêm

38 Đọc thêm

hoa sinh than va nuoc tieu

HOA SINH THAN VA NUOC TIEU

CHỨC NĂNG BÀI TIẾT• Xảy ra ở Nephron (khoảng 2 triệu nephron2thận) > siêu lọc và tái hấp thu• Sự lọc diễn ra ở màng cầu thận (cho nước vàcác chất trong máu qua dễ dàng, nhưngProtein . 70000 dal không qua được)• Sự tái hấp thu xảy ra ở ống thận (mức độ táihấp thu các chất là khác nhau)Thận tham gia quá trình thoái hóa gluxit, lipitcung cấp năng lượng cho thận hoạt động• Đối với gluxit chủ yếu là đường phân, cònpentose không chiếm ưu thế• Đối với lipit: lecithin được khử phosphat nhờglycerophosphatase• Thận có nhiều enzyme khử amin tạo ra cácketonic acid. Thể ketonic được thoái hóa hoàntoàn, giải phóng NH3 dưới dạng NH4+(ure)
Xem thêm

16 Đọc thêm

HỆ TIẾT NIỆU ĐH Y KHOA VINH VMU

HỆ TIẾT NIỆU ĐH Y KHOA VINH VMU

Hệ tiết niệu là hệ thống giúp cho cơ thể trong việc thải ra bên ngoài những chất lỏng dư thừa và các chất hòa tan từ sự lưu thông máu. Các chất lỏng này tập trung ở thận, sẽ có một số chất được tái hấp thu ở đây, còn lại sẽ được lọc và chuyển xuống bọng đái để sẵn sàng đưa ra ngoài.

65 Đọc thêm

SINH LÝ THẬN 2

SINH LÝ THẬN 2

Thuốc lợi tiểuThuốc lợi tiểu là loại thuốc làm tăng hình thành nước tiểu ởthận, kết quả làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, có tác dụng làm giảm phù(là trạng thái một mô, bộ phận nào đó bị ứ đọng dịch). Có 4 nhómthuốc lợi tiểu chính, chúng ta đi vào từng nhóm cụ thể.1/ Lợi tiểu ức chế men CAIon bicarbonat HCO3- được tái hấp thu ống lượn gần nhờ tácdụng của enzym CA (Carbonic anhydrase). Loại thuốc này ức chếenzym CA làm giảm tái hấp thu ion HCO3- nên tăng đào thải ion nàylàm một phần nước bị đào thải theo. Nói chung, tác dụng lợi tiểucủa thuốc không được cao nên người ta ít dùng.2/ Lợi tiểu quai (quai Hê-len)Thuốc lợi tiểu quai ức chế mạnh mẽ quá trình đồng vậnchuyển Na+, K+, Cl- nhành lên quai Hê-len. Từ đó làm giảm táihấp thu Na+, K+, Cl- dẫn đến tăng thải 3 ions này đến các ống thậnphía sau, do đó nước cũng bị hút theo. Kết quả là lượng nước tiểutăng lên. Ví dụ: furosemid3/ Lợi tiểu kháng AldosteronỞ ống lượn xa, hormon Aldosteron có tác dụng giữ ion Na+ vànước lại nên khi thuốc ức chế Aldosteron, nhiều Na+ và nước bị đẩyvào ống góp làm tăng lượng nước tiểu. Ngoài ra dưới tác động củaAldosteron, ion Na+ được tái hấp thu về lại máu đồng thời ion K+ bịđào thải nên khi Aldosteron bị ức chế, K+ sẽ không bị đào thải theonước tiểu mà được giữ lại trong máu. Ví dụ: spirolacton4/ Lợi tiểu thiazid
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bình luận các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở

BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở

Bình luận các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

Đề bài: Bình luận các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở? Nêu một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

LỜI MỞ ĐẦU

Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên nhà nước không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất mà giao quyền chiếm hữu và sử dụng đất cho người dân. Mặc dù không được nhà nước giao quyền sở hữu đất đai nhưng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng đất, người sử dụng đất đã đầu tư, cải tạo làm tăng giá trị của đất đai. Đó chính là thành quả lao động, kết quả đầu tư của người sử dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Do đó khi nhà nước thu hồi đất cần phải tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất. Đặc biệt đối với thu hồi đất ở thì việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó liên quan trực tiếp tới nơi sinh sống của người sử dụng đất. Trong phạm vi bài tập này em xin được “Bình luận các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở? Nêu một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định về vấn đề này.”

NỘI DUNG

I – Khái quát chung

1. Một số khái niệm

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai 2003. 1

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. 2

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.3

Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bố trí chỗ ở mới ổn định cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở.

2. Cơ sở pháp lí về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở.

Luật đất đai năm 2003 (từ Điều 38 đến Điều 45);
Nghị định của Chính phủ số 1812004NĐCP ngày 29102004 về thi hành Luật đất đai.
Nghị định của Chính phủ số 1972004NĐCP ngày 03122004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Nghị định của Chính phủ số 842007NĐCP ngày 25052007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Nghị định của Chính phủ số 692009NĐCP ngày 13082009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thông tư của Bộ tài nguyên và môi trường số 142009TTBTNMT ngày 01102009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.

II – Các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Những quy định chung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở.

Về đối tượng áp dụng: quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở được áp dụng với tất cả các chủ thể sử dụng đất bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nhằm mục đích xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư, xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê bị Nhà nước thu hồi đất.

Phạm vi áp dụng quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được áp dụng với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế.

Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đó là: Quyền sử dụng đất bị thu hồi phải được công nhận là tài sản của người sử dụng đất và thuộc loại được phép giao dịch trên thị trường. Và phải có các căn cứ pháp lý để chứng minh tính hợp pháp và tính hợp lệ của quyền sử dụng đất gồm:

+ Đối với hộ gia đình, cá nhân phải có:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai;
Quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định được UBND cấp xã xác định là đất không có tranh chấp và có một trong các loại giấy tờ sau:
• Giấy tờ về quyền sử dụng đất được cấp trước ngày 15101993 do thực hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
• Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính;
• Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
• Giấy tờ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở trước ngày 15101993 được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15101993;
• Giấy tờ về thanh lí, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở;
• Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ trên mà trong các giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của hai bên nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện chuyển giao quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

+ Điều kiện đối với tổ chức:

Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
Đất nhận chuyển nhượng hợp pháp từ người sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.

Các nguyên tắc của việc bồi thường:
Theo quy định tại Điều 14 nghị định 692009NĐCP thì

Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất mà có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện để được bồi thường thì UBND cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ;

Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi do Nhà nước quy định;
Bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi, nếu không có đất để thực hiện tái định cư thì người sử dụng đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua nhà hoặc thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước ở khu vực đô thị và được giao đất ở với khu vực nông thôn.
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả nhà nước.

2. Các quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở

Theo quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 15 nghị định 1972004NĐCP thì:

Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế ở địa phương.

Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi.

Trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định của địa phương, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn; nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất còn lại thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn.

Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết cho mua, thuê nhà ở hoặc giao đất ở mới; người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền sử dụng đất theo quy định.

Đối với trường hợp bồi thường về đất ở với những người đang đồng quyền sử dụng đất: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo diện tích đất thuộc quyền sử dụng; nếu không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất. UBND cấp tỉnh hướng dẫn việc phân chia tiền bồi thường đất ở của nhà chung cư cho các đối tượng đồng quyền sử dụng tại địa phương mình.

3. Các quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở

Quy định về hỗ trợ di chuyển chỗ ở:

Theo quy định tại Điều 18 nghị định 692009NĐCP thì: Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ kinh phí để di chuyển. Người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà. Mức hỗ trợ cụ thể do UBND cấp tỉnh quy định.

Hỗ trợ tái định cư:

Theo quy định tại Điều 19 nghị định 692009NĐCP thì:

Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó.

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung trừ trường hợp đã được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư.

UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương quy định về suất tái định cư tối thiểu và mức hỗ trợ cụ thể.

4. Các quy định về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

Khi nhà nước thu hồi đất ở phải đảm bảo lập và thực hiện thu tái định cư. Căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tếxã hội của địa phương, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt UBMD cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện dự án tái định cư để đảm bảo phục vụ tái định cư cho người có đất bị thu hồi phải di chuyển chỗ ở.

Theo quy định tại Điều 18 thông tư 142009TTBTNMT thì hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư).

2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

4. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để bố trí tái định cư.

Cơ quan (tổ chức) được UBND cấp tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho từng hộ gia đình bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai phương án này tại trụ sở của đơn vị, tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi và tại nơi tái định cư trong thời gian 20 ngày trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư; nội dung thông báo gồm:

a) Địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư;

b) Dự kiến bố trí các hộ vào tái định cư.

Ưu tiên tái định cư tại chỗ cho người bị thu hồi đất tại nơi có dự án tái định cư, ưu tiên vị trí thuận lợi cho các hộ sớm thực hiện giải phóng mặt bằng, hộ có vị trí thuận lợi tại nơi ở cũ, hộ gia đình chính sách. Và phải tạo điều kiện cho các hộ vào khu tái định cư được xem cụ thể khu tái định cư và thảo luận công khai về dự kiến bố trí.

Điều kiện bắt buộc đối với khu tái định cư

Khu tái định cư phải xây dựng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng.
Khu tái định cư phải được sử dụng chung cho nhiều dự án.
Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.

Vấn đề nhà ở, đất ở tái định cư: Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Nhà ở, đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư.

III – Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Ưu điểm

Kể từ khi Luật đất đai năm 2003 ra đời quy định về việc thu hồi đất trong đó có đất ở, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể, chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và thu hồi đất ở nói riêng. Điều này đã tạo cơ sở pháp lý để việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được diễn ra nhanh chóng, đúng pháp luật, góp phần giải quyết những vấn đề vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất.

Các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi đất, tạo điều kiện tốt nhất cho người bị thu hồi đất ở có thể tạo lập nơi ở mới, ổn định cuộc sống như bên cạnh việc được nhận bồi thường, người bị thu hồi đất ở còn được bố trí tái định cư và được hưởng các khoản hỗ trợ.

Pháp luật cũng đã đa dạng hóa các hình thức bồi thường (bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bằng tiền), hỗ trợ (hỗ trợ di chuyển chỗ ở, hỗ trợ tái định cư), các mức diện tích đất ở, nhà ở trong khu tái định cư phù hợp với hoàn cảnh thực tế của người bị thu hồi đất.

Đối với việc xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở, pháp luật đã quy định là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm thu hồi. Trong trường hợp thu hồi đất mà việc xác định giá đất bồi thường chưa hợp lí thì UBND cấp tỉnh căn cứ giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường để xác định giá bồi thường. Quy định này đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất ở được bồi thường sát với giá thị trường, đồng thời nó cũng phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương.

Về mức hỗ trợ di chuyển chỗ ở, tái định cư cho người bị thu hồi đất ở Nhà nước không quy định mức tiền cụ thể như trước đây mà giao cho UBND cấp tỉnh quy định cho phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Pháp luật cũng chú ý đến những đối tượng bị thu hồi đất ở mà không thuộc đối tượng được bồi thường bằng việc tạo điều kiện cho họ được mua, thuê nhà ở hoặc giao đất ở mới.

2. Hạn chế

Mặc dù có nhiều ưu điểm tuy nhiên những quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở không tránh khỏi những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tế:

Bất cập lớn nhất đó chính là việc xác định giá bồi thường. Theo quy định của pháp luật thì giá bồi thường dựa trên giá đất do Nhà nước xác định theo nguyên tắc sát với giá thị trường. Đây là một quy định mang tính định tính mà không mang tính định lượng, nó hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan có thẩm quyền xác định giá đất. Trường hợp có sự chênh lệnh quá lớn giữa giá đất do Nhà nước xác định với giá thị trường thì UBND tỉnh có thể điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên thì giá đất trên thị trường luôn biến động không ngừng gây khó khăn cho việc xác định giá bồi thường phù hợp. Mặt khác UBND tỉnh vừa là cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất vừa có thẩm quyền xác định giá bồi thường nên sẽ không đảm bảo tính khách quan. Và thực tế cho thấy giá bồi thường trong phần lớn các trường hợp đều thấp hơn nhiều so với giá trị trên thị trường. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người bị thu hồi đất vì vậy mà không nhận được sự đồng thuận của người dân dẫn đến tình trạng người bị thu hồi đất ở bất hợp tác, khiếu kiện kéo dài gây ảnh hưởng đến công tác giải phóng mặt bằng.

Thứ hai, pháp luật có quy định nhiều hình thức bồi thường khác nhau khi thu hồi đất ở trong đó có hình thức bồi thường bằng giao đất ở mới. Tuy nhiên diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương. Như vậy đối với những trường hợp người bị thu hồi đất ở mà diện tích đất bị thu hồi lớn hơn hạn mức giao đất ở tại địa phương thì sẽ được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích vượt quá đó. Mà như đã phân tích ở trên thì mức giá bồi thường thường thấp hơn nhiều so với giá thực tế do đó mà người bị thu hồi đất sẽ phải chịu thiệt trong trường hợp này.

Thứ ba, về mức hỗ trợ cụ thể khi Nhà nước thu hồi đất ở sẽ do UBND tỉnh quyết định do đó UBND sẽ phải quy định nhiều mức hỗ trợ cụ thể trên địa bàn. Đối với mức hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở mà tự lo được chỗ ở mới được tính bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung. Tuy nhiên do mức hỗ trợ tái định cư thấp, việc tính toán suất đầu tư bằng tiền theo từng dự án gặp khó khăn, không đồng bộ, không nhất quán vì vậy mà việc xác định mức hỗ trợ cũng gặp nhiều khó khăn.

Thứ tư, pháp luật mới chỉ quy định hai mức hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở đó là hỗ trợ di chuyển chỗ ở và hỗ trợ tái định cư mà chưa tính đến việc hỗ trợ trong trường hợp do phải di chuyển chỗ ở mà ảnh hưởng đến đời sống của người bị thu hồi đất ở. Bởi như chúng ta đã biết thì nhà ở có một vai trò quan trọng, gắn liền với đời sống của người dân. Việc phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất sẽ có những tác động không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt của người bị thu hồi đất như việc phải thay đổi chỗ làm, thay đổi trường học…

Thứ năm, đối với các quy định về tái định cư: Mặc dù đã có quy định về điều kiện bắt buộc đối với khu tái định cư nhưng trên thực tế thực hiện lại không đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật như việc chất lượng nhà tái định cư thấp, thiếu thốn cơ sở hạ tầng, yếu kém trong công tác quản lý tại khu tái định cư. Một số dự án chưa có khu tái định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân.

IV – Giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở cần phải thực hiện một số giải pháp:

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở theo hướng:
• Quy định việc tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường trên thực tế thay vì theo thời điểm có quyết định thu hồi đất như hiện nay.
• Quy định giá bồi thường được xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất.
• Quy định về việc thành lập cơ quan chuyên trách với chức năng theo dõi, cung cấp thông tin về giá đất, xác định giá đất làm căn cứ để xác định giá bồi thường.
• Bổ sung quy định về hỗ trợ trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người bị thu hồi đất.
• Quy định hình thức xử lý đối với những cơ quan có thẩm quyền cố tình làm sai quy định của pháp luật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất ở.
Về phía những nhà lập pháp cần phải đứng trên phương diện người bị thu hồi đất ở để xây dựng các quy định của pháp luật sao cho đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư.

Việc xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở phải xuất phát từ tình hình thực tế, tránh đưa ra các quy định mang tính lý thuyết, không khả thi.

KẾT LUẬN

Qua những phân tích ở trên có thể thấy rằng các quy định của pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và thu hồi đất ở nói riêng đã khá hoàn thiện và phát huy được vai trò trong thực tiễn thực hiện. Trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiếp tục hoàn thiện những quy định này để có thể khắc phục những bất cập còn tồn tại, bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi đất cũng như tạo điều kiện cho việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi.
Xem thêm

13 Đọc thêm

GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA ĐH Y DƯỢC TP HCM

GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA ĐH Y DƯỢC TP HCM

Tiêu hóa ruột non••••Cấu tạo giải phẫu của ruột nonHoạt động cơ học của ruột nonHoạt động bài tiết của ruột nonSự hấp thu các chất ruột non1919Tiêu hóa ruột nonCấu tạo giải phẫu• Tá tràng dài 22 – 25cm (thành: thanh mạc, cơ trơn, lớp dướiniêm mạc, lớp niêm mạc)• Hổng tràng và hồi tràng: 5 - 6m, cuộn lại 14 – 16 quai ruột.Niêm mạc hỗng tràng có nhiều nhung maoTế bào tiếtchất nhầyTuyến ruột20

36 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ: HẤP THU VITAMIN

CHUYÊN ĐỀ: HẤP THU VITAMIN

A. MỞ ĐẦUNhững kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng đã chỉ ra trong thức ăn có chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipit, các vitamin, các chất khoáng và nước. Sự thiếu một trong các chất này có thể gây ra nhiều bệnh tật thậm chí chết người ví dụ như bệnh scobut do thiếu VITAMIN C đã lấy đi sinh mạng 100 trong số 160 thủy thủ theo Vasco de Gam tìm đường sang phương Đông, viêm da PELLAGRA hay gặp ở các vùng ăn toàn ngô do thiếu vitamin PP, bệnh tê phù do thiếu vitamin B1, còi xương, suy dinh dưỡng ...Để đảm bảo hấp thu đầy đủ và cân đối các loại vitamin, chúng ta cần có hiểu biết về đặc điểm, cơ chế hấp thu các loại Vitamin và các yếu tố ảnh hưởng hấp thu vitamin. Xuất phát từ tính cấp thiết trên, em thực hiện đề tài “ Hấp thu Vitamin”
Xem thêm

28 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DUNG MÔI TỚI KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG VÀ HẤP THU QUA DA CỦA IBUPROFEN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DUNG MÔI TỚI KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG VÀ HẤP THU QUA DA CỦA IBUPROFEN

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi tới khả năng giải phóng và hấp thu qua da của ibuprofen
Xem thêm

68 Đọc thêm

CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ RAU QUẢ SAU THU HOẠCH

CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ RAU QUẢ SAU THU HOẠCH

Rau quả đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng con nguời. Rau quả không chỉ cung cấp cho con người những chất dinh duỡng cần thiết mà còn giúp cho quá trình tiêu hóa các chất dinh duỡng khác một cách dễ dàng.
Rau quả còn quan trọng ở chỗ nó cung cấp chất xơ. Mặc dù chất xơ không tiêu hóa hấp thu được, không cung cấp năng lượng, nhưng nó tạo ra khối lượng chất thải lớn trong ruột, làm tăng nhu động ruột, chống táo bón. Đây là điều rất quan trọng trong việc tránh hấp thu có hại cho cơ thể.
Ngoài ra, chất xơ còn thúc đẩy sự hấp thu của cơ thể đối với 3 nhóm thức ăn là đạm, béo, đường.
Ăn nhiều rau, quả còn giúp cơ thể tránh được:
Các bệnh về tim mạch, đột quỵ, ổn định huyết áp.
Ngăn ngừa một số bệnh ung thư.
Xem thêm

29 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH tái ĐỊNH cư tại THỊ xã MƯỜNG LAY, TỈNH điện BIÊN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH TÁI ĐỊNH CƯ TẠI THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Họ
c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Tái định cư là một chính sách của Nhà nước nhằm giúp người dân bị
Nhà nước thu hồi hết đất ở nhanh chóng an cư lập nghiệp. Theo quy định
pháp luật, các khu tái định cư tập trung phải đảm bảo điều kiện tốt hơn hoặc ít
nhất cũng phải bằng nơi ở cũ.
Trong nhiều năm qua, việc triển khai nhiều dự án thuỷ điện đòi hỏi việc
phải xây dựng các hồ chứa nước, đập thuỷ điện, có tác động lớn đến đất sản
xuất và ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Nhiều vùng trong lòng hồ,
người dân phải di dời và tái định cư trên những địa bàn mới, thiếu đất canh
tác, thiếu nguồn nước để sản xuất và sinh hoạt. Việc di dời, tái định cư trong
các công trình thuỷ điện sẽ dẫn đến những thay đổi lớn về tập quán canh tác,
nguồn sinh kế và lối sống. Việc di chuyển, tái định cư trong các dự án thuỷ
điện cũng rất khác với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền xuôi, do đó rất
cần có những chính sách và biện pháp đặc biệt trong công tác di dân, tái định
cư nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên, con người, “bảo đảm
cho người dân có cuộc sống, nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” như chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đã xác định. Tuy nhiên, việc triển
khai xây dựng các công trình xây dựng đã và đang làm thay đổi tình hình kinh
tế, văn hóa và đời sống xã hội của người dân sinh sống ở những vùng chịu
ảnh hưởng. Công tác đền bù và tái định cư tuy được Chính phủ quan
tâm đầu tư nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó vấn đề
đảm bảo đời sống kinh tế, an sinh xã hội nơi ở mới thật sự chưa được quan
tâm đúng mức và chưa được thực hiện một cách hoàn chỉnh và bền vững.
Việc khôi phục sinh kế đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảm thiểu nguy
cơ rủi ro cho những người phải tái định cư bắt buộc. Bởi vì, đây là những
người bị tước đi những tài sản, lối sống, tập quán sản xuất vốn có của mình ...
Xem thêm

140 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DUNG MÔI, TÁ DƯỢC VÀ HYDROXYPROPYL BÊTA CYCLODEXTRIN TỚI KHẢ NĂNG GIAI PHÓNG VÀ HẤP THU QUA DA CỦA PIROXICAM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DUNG MÔI, TÁ DƯỢC VÀ HYDROXYPROPYL BÊTA CYCLODEXTRIN TỚI KHẢ NĂNG GIAI PHÓNG VÀ HẤP THU QUA DA CỦA PIROXICAM

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi, tá dược và hydroxypropyl bêta cyclodextrin tới khả năng giai phóng và hấp thu qua da của piroxicam
Xem thêm

80 Đọc thêm

Thiết bị trao đổi nhiệt dàn bay hơi kiểu tưới

THIẾT BỊ TRAO ĐỔI NHIỆT DÀN BAY HƠI KIỂU TƯỚI

Slide đầy đủ về dàn bay hơi kiểu tưới.
Nguyên lí làm việc:

Nước lạnh ở thể lỏng sau khi đi qua ống góp đi từ dưới lên trên trong óng xoắn nằm ngang sẽ nhận nhiệt của chất lỏng cần làm lạnh được tưới từ trên máng tưới xuống bên ngoài ống. Môi chất lạnh sẽ sôi bên trong các ống biến thành hơi rồi qua các ống góp trên và đi ra ngoài. Chất lỏng cần làm lạnh sau khi nhả nhiệt độ chảy vào máng hứng rồi đưa ra ngoài.
Môi chất lạnh tham gia vào quá trình trao đổi nhiệt là R22 (CHClF2)
Trong quá trình làm việc R22 đi bên trong và nước đi bên ngoài.

Lí do:
Vì khi R22 bay hơi và nhận nhiệt nếu đi bên ngoài thì sẽ nhận cả nhiệt của môi trường. Nên trao đổi nhiệt không hiệt quả và nếu nước đi bên trong sẽ gây tắc bẩn ống dẫn đến khó trong việc vệ sinh ống vì ống sử dụng là ống xoắn. Ngoài ra còn làm tắc, đóng băng, vỡ ống.
Khi xảy ra đóng băng ít nguy hiểm hơn trường hợp nước chuyển động bên trong ống. Đối với bình môi chất sôi trong ống khối lượng môi chất giảm 2 3 lần so với sôi ngoài ống. Điều này rất có ý nghĩa đối với hệ thống frêôn vì giá thành frêôn cao hơn NH3 nhiều.
Hướng chuyển động của môi chất là từ dưới lên. Còn nước đi từ trên xuống.

Lí do:
Vì trao đổi nhiệt tốt hơn. R22 sẽ điền đầy các ống khi đi từ trên xuống. Cùng với đo nước sẽ được tưới từ trên xuống và hứng bằng máng hứng. Nếu làm ngược lại sẽ cần thêm bơm đẩy. R22 và nước chuyển động ngược chiều nhau sẽ giúp khả năng trao đổi nhiệt được tốt hơn.
Ưu điểm:
Do cấu tạo dạng dàn ống nên công suất của nó có thể thiết kế đạt rất lớn mà không bị hạn chế vì bất cứ lý do gì.
So với các thiết bị ngưng tụ kiểu khác, dàn ngưng tụ bay hơi ít tiêu tốn nước hơn, vì nước sử dụng theo kiểu tuần hoàn.
Các dàn ống kích cỡ nhỏ nên làm việc an toàn.
Dễ dàng chế tạo, vận hành và sửa chữa.

Nhược điểm:
Do năng suất lạnh riêng bé nên suất tiêu hao vật liệu khá lớn.
Các cụm ống trao đổi nhiệt thường xuyên tiếp xúc với nước và không khí, đó là môi trường ăn mòn mạnh, nên chóng bị hỏng. Do đó bắt buộc phải nhúng kẽm nóng để chống ăn mòn.
Công dụng của thiết bị bay hơi làm lạnh chất lỏng kiểu tưới là:
Dùng môi chất lạnh để làm lạnh chất lỏng cần làm lạnh phục vụ cho công nghiệp và bảo quản. Làm lạnh nước, làm lạnh dịch bia trong công nghiệp bia, làm lạnh váng sữa trong công nghiệp sữa...
Xem thêm

21 Đọc thêm

BÀI GIẢNG DƯỢC LÝ ĐẠI CƯƠNG DƯỢC ĐỘNG HỌC

BÀI GIẢNG DƯỢC LÝ ĐẠI CƯƠNG DƯỢC ĐỘNG HỌC

Đặc điểm:- Thời gian lưu ngắn (2-10s)  hấp thu gần như không- Viên ngậm &amp; viên đặt dưới lưỡi cho hấp thu- Dạng D ưa lipid: khuếch tán đơn thuần- Hệ mao mạch dưới lưỡi phong phú:• D hấp thu nhanh• Vào thẳng vòng tuần hoàn chung, không bị chuyển hóalần đầu qua gan.• Điều trị đau thắt ngực (nitroglycerin, nifedipin – Adalat)…• Yêu cầu D: Tan/nước Không gây kích ứng niêm mạc Không có mùi khó chịu2. Hấp thu qua niêm mạc dạ dày- Thực quản: thuốc qua nhanh (k có ý nghĩa)- Đặc điểm:• Không có hệ nhung mao, khe hở giữa các TB biểu môrất hẹp• Chủ yếu niêm mạc tiết• Hệ thống mao mạch hạn chế• pH dịch vị thấp (1-3) phù hợp thuốc bản chất acid yếu
Xem thêm

42 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG LA GIAI ĐOẠN 2003 2013

QUÁ TRÌNH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG LA GIAI ĐOẠN 2003 2013

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác tổ chức di dân tái định cư trên địa bàn huyện đã được đề cập tới trong một số tác phẩm sách báo và công trình nghiên cứu khoa học.
Khoá luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung, Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2006), với đề tài Đánh giá bước đầu mô hình tái định cư thuỷ điện Sơn La bản Nà Nhụng, xã Mường Chùm, huyện Mường La đã trình bày nhưng nét tổng quan về công trình Thuỷ điện Sơn La, các nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó, đề cập đến quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện di dân tái định cư ở bản Nà Nhụng mô hình điểm về di dân tái định cư đầu tiên trên địa bàn huyện Mường La. Tuy nhiên, tác giả tập trung khai thác vấn đề dưới góc nhìn địa lý và những tác động của yếu tố kinh tế, xã hội tại một đơn vị hành chính nhất định (một bản) trên địa bàn huyện Mường La chứ chưa đi sâu nghiên cứu quá trình di dân tái định cư dưới góc nhìn lịch sử trên phạm vi toàn huyện.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của khoa học địa lý Nghiên cứu tình hình sản xuất và mức sống dân cư của các hộ gia đình ở một số khu tái định cư Thuỷ điện Sơn La của đồng tác giả Thạc sỹ Đào Thị Bích Ngọc và Thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng Nhung (2010), Trường Đại học Tây Bắc đã nghiên cứu thực trạng về mức sống của các hộ gia đình tại một số khu tái định cư Thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Sơn La. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp phù hợp để ổn định đời sống nhân dân tại các khu tái định cư. Tuy nhiên, đề tài cũng chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu và đánh giá về mức sống các hộ gia đình tại một số khu tái định cư tiêu biểu trên địa bàn tỉnh (7 khu) chứ chưa đi sâu nghiên cứu việc quy hoạch tất cả các khu, điểm tái định cư, quá trình tổ chức di dân, việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân di cư. Luận án tiến sỹ giáo dục học Nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới của dân di cư vùng thuỷ điện Sơn La (2012), của tiến sỹ Nguyễn Văn Hồng (Đại học Tây Bắc) đã nghiên cứu, khảo sát thực tiễn về vấn đề thích ứng của dân di cư vùng Thuỷ điện Sơn La. Luận án phân tích các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến sự thích ứng môi trường sống và sản xuất tại nơi ở mới của dân di cư vùng thuỷ điện Sơn La. Đề xuất những kiến nghị giúp dân di cư sớm thích nghi với điều kiện sống mới. Tác giả chỉ mới tập trung đi sâu khai thác yếu tố xã hội (diễn biến tâm lý) của dân di cư Thuỷ điện Sơn La chứ chưa nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện quá trình di dân tái định cư trên địa bàn tỉnh Sơn La nói chung, trên địa bàn huyện Mường La nói riêng.
Năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ban Dân vận Trung ương đã xuất bản Báo cáo chuyên đề công tác vận động, tuyên truyền và những bài học kinh nghiệm trong cuộc di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La (2003 2010), nhóm tác giả đã nghiên cứu các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác di dân tái định cư Thủy điện Sơn La; quá trình chỉ đạo của tỉnh Sơn La với các đơn vị cơ sở để tuyên truyền, vận động, giúp đỡ nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước di dân đến tái định cư nơi mới và những bài học kinh nghiệm thực tiễn rút ra trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác di dân tái định cư trên địa bàn tỉnh Sơn La sau chặng đường 6 năm thực hiện (2003 2010) nhiệm vụ di dân tái định cư. Tuy nhiên, báo cáo mới chú trọng nghiên cứu các chủ trương, chỉ đạo chung của Trung ương, của tỉnh và những kết quả bước đầu, chung nhất về công tác di dân chứ chưa nghiên cứu một cách cụ thể từng đơn vị cũng như chưa đề cập các biện pháp để giải quyết công tác tái định cư, ổn định đời sống của đồng bào.
Xem thêm

119 Đọc thêm

PTH TIET NIEU Y2M

PTH TIET NIEU Y2M

Ph«i thai hächÖ tiÕtniÖuMục tiêu:1. Xác định đợc nguồn gốc của thận, các đờng dẫnnớc tiểu và các tuyến phụ thuộc niệu đạo.2. Mô tả đợc sự phát triển bình thờng của các cơquan thuộc hệ tiết niệu.3. Nêu đợc những đặc điểm hoạt động của thận trớc và sau khi trẻ ra đời.4. Giải thích đợc sự phát sinh những dị tật bẩm sinhthờng gặp hệ tiết niệu.1. Sự phát triển của Thận và niệu quản Phát sinh từ 2 dải trung bì trung gian (dải sinhthận). Mỗi dải sẽ lần lợt tạo ra: Tiền thận, trung thận = thểWolff (Von) &amp; hậu thận.1.1. Tiền thận- Tuần 3, dải sinh thận phân đốt đốt thận (7 đôi) túi ống tiền thận ngang.- Đầu kín lõm vào hình đàihoa có 2 lá bọc lấy cuộnmao mạch tiểu cầu thận.
Xem thêm

24 Đọc thêm

THUYẾT-MINH-SỬ-DỤNG-LÒ-ĐỐT-BÃ-MÍA-10TH

THUYẾT-MINH-SỬ-DỤNG-LÒ-ĐỐT-BÃ-MÍA-10TH

Lò hơi LB 10/13 là loại lò hơi ống nước tuần hoàn tự nhiên. Kết cấu chính của cụm sinh hơi gồm có:
- Balông trên (balông hơi) có đường kính ngoài 1032mm, dài 8244mm và chiều dày 16mm được bố trí theo chiều dọc của lò;
- Balông dưới (balông nước) có đường kính ngoài 1032mm, dài 3841mm và chiều dày 16mm được bố trí phía dưới cách balông hơi 2750mm cũng theo chiều dọc của lò;
- Các ống góp gồm 01 ống góp trước, 01 ống góp sau, 02 ống góp dài bên (phải + trái) và 02 ống góp ngắn bên (phải + trái) có đường kính ngoài 219mm và chiều dày 8mm;
- Dàn ống sinh hơi (gồm có 4 dàn ống bức xạ và 1 chùm ống đối lưu) có đường kính ngoài 51mm và chiều dày 3mm;
- Hệ thống ống nước xuống và ống lấy hơi gồm các ống có đường kính ngoài 76mm và chiều dày 4mm.

Balông trên và balông dưới liên kết với nhau bằng chùm ống đối lưu. Các ống góp được bố trí quanh buồng đốt và liên kết với balông bằng dàn ống bức xạ và các ống nước xuống.

Bã mía được đưa vào buồng đốt qua 02 họng bã có hệ thống gió thổi bã cao áp và lưỡi gang điều chỉnh. Nhiên liệu được đốt cháy trong buồng đốt chủ yếu ở dạng lơ lửng và một phần cháy trên ghi. Nhiệt lượng toả ra trong buồng đốt được truyền bằng bức xạ cho các dàn ống vách của buồng đốt. Tiếp đó dòng sản phẩm cháy đi qua dàn ống feston (bố trí ở phần trên của buồng đốt) vào buồng cháy kiệt. Tại đây phần nhiên liệu chưa cháy hết (nếu có) được cháy kiệt và sản phẩm cháy truyền nhiệt chủ yếu bằng đối lưu cho dàn ống feston và các dàn ống vách của buồng cháy kiệt. Sau đó khói nóng đi vào chùm ống đối lưu, thực hiện quá trình trao đổi nhiệt đối lưu cho chùm ống và đi ngoặt xuống dưới vào bộ hâm nước và bộ sấy không khí được bố trí phía dưới balông nước. Khói nóng chuyển động qua bộ hâm nước để tận dụng nhiệt thừa trong khói lò hâm nước cấp vào lò hơi. Tiếp đó, khói lò đi trong các ống của bộ sấy không khí và tiếp tục truyền nhiệt để sấy lượng không khí sẽ được đưa vào gầm ghi. Cuối cùng, khói lò được dẫn qua bộ khử bụi được cấu tạo dạng cyclon chùm và được quạt hút đưa ra ngoài qua ống khói.

Toàn bộ cụm sinh hơi được đỡ trên cụm khung lò. Hệ thống cầu thang và sàn thao tác cho phép thực hiện các thao tác tại mọi vị trí cần thiết.

Tường lò được kết cấu bằng các lớp gạch sa-mốt và gạch đỏ ngăn chặn sự thất thoát nhiệt ra ngoài môi trường để đảm bảo nhiệt thế buồng đốt và hiệu suất của lò, cũng như điều kiện làm việc của công nhân vận hành quanh lò.

Không khí cần thiết cho sự cháy được cấp vào lò bằng quạt gió. Từ quạt gió không khí theo kênh gió lạnh đi vào bộ sấy không khí, tận dụng nhiệt lượng của khói lò để nâng nhiệt độ lên. Sau đó không khí nóng được đưa qua kênh gió nóng vào buồng đốt để đốt nhiên liệu.

Tro sau khi cháy được thải xuống gầm ghi qua hệ thống ghi lạt và được cào ra ngoài qua các của dưới gầm ghi.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ HẤP THU NƯỚC VÀ MUỐI KHOÁNG Ở RỄ

SỰ HẤP THU NƯỚC VÀ MUỐI KHOÁNG Ở RỄ

Nội dung bài họcI – RỄ LÀ CƠ QUAN HẤP THỤNƯỚC VÀ ION KHOÁNGII – CƠ CHẾ HẤP THỤ NƯỚC VÀ IONKHOÁNG RỄ CÂYIII – ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TÁCNHÂN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI QUÁTRÌNH HẤP THU NƯỚC VÀ IONKHOÁNG RỄ CÂYNước và muối khoángcó vai trò gì đối với tếbào?Thực vật hấp thụ nướcvà muối khoáng bằngcách nào?I. Rễ là cơ quan hấpthụ nước và ionkhoángNhững đặc điểm nào củahệ rễ giúp tăng khả nănghút nước và ion khoáng?

22 Đọc thêm