QUẢNG CÁO TRÊN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG - CÓ PHẢI NÉM TIỀN QUA CỬA SỔ?

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Quảng cáo trên phương tiện giao thông công cộng - có phải ném tiền qua cửa sổ?":

HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG VÀ BẾN TẦU BẾN CẢNG BẾN XE NHÀ GA KHÔNG KHÓI THUỐC LÁ

HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG VÀ BẾN TẦU BẾN CẢNG BẾN XE NHÀ GA KHÔNG KHÓI THUỐC LÁ

- Đối với cán bộ, nhân viên ngành giao thông vận tải được làm việctrong môi trường không khói thuốc sẽ có sức khỏe tốt hơn, giảmđược chi tiêu cho điều trị các căn bệnh liên quan đến sử dụng thuốclá cho bản thân và gia đình họ.- Môi trường không khói thuốc tạo điều kiện thuận lợi cho nhữngngười hút thuốc tăng quyết tâm bỏ thuốc, bỏ được thuốc lá haygiảm số lượng điếu hút.- Môi trường không khói thuốc góp phần tạo ra nếp sống văn minhtại nơi làm việc của cán bộ nhân viên ngành giao thông vận tải.Những người không hút thuốc là những người chiếm đa sốtrong cộng đồng. Họ có quyền được hít thở một bầu không khítrong lành không bị ô nhiễm bởi khói thuốc lá. Đây là một trongnhững nội dung của “Quyền được hưởng tiêu chuẩn sức khỏecao nhất” được quy định trong Hiệp ước về quyền kinh tế, xãhội, văn hóa và trong Công ước Khung về Kiểm soát thuốc láII. HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG PHƯƠNG TIỆN GTCC, BẾN TÀU,BẾN XE, NHÀ GA, BẾN CẢNG KHÔNG KHÓI THUỐC LÁ1. Khái niệmPhương tiện giao thông công cộng không khói thuốc là phươngtiện mà tại đó không có hiện tượng hút thuốc, quảng cáo, tiếp thị, mua,bán, các sản phẩm thuốc láPhương tiện giao thông công cộng bao gồm xe buýt, taxi, xechạy đường dài, tàu hỏa, tàu thủy, tàu điện, tàu bay và các phương tiệnvận chuyển hành khách công cộng khác.Bến tàu, bến xe, nhà ga bến cảng không khói thuốc là nơi khôngcó hiện tượng hút thuốc, kinh doanh, quảng cáo, tiếp thị các sản phẩmthuốc lá trong toàn bộ khu vực “trong nhà” của các địa điểm này.Phương tiện giao thông công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toànbao gồm: Ô tô, tàu bay, tàu điện.
Xem thêm

60 Đọc thêm

QUẢN LÍ VÀ VẬN HÀNH MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG CÔNG CỘNG

QUẢN LÍ VÀ VẬN HÀNH MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG CÔNG CỘNG

18-21/05/2015GIỚI THIỆUHiện nay, phát triển GTCC là ưu tiên của tất cả các thành phố ở Việt Nam do tốc độ phát triển đô thị nhanh chóng. Vì thế, chínhquyền mong muốn nghiên cứu kỹ các công cụ và phương pháp quy hoạch đô thị, quản lý và vận hành mạng lưới GTCC để đápứng nhu cầu của người sử dụng hiện nay và trong tương lai, cũng như đảm bảo chất lượng dịch vụ. Mục tiêu trước mắt là nângcao hiệu quả quản lý mạng lưới GTCC hiện hữu và sau đó là đảm bảo thành công của các tuyến GTCC có sức chở lớn đang đượcxây dựng (tàu điện ngầm, xe buýt nhanh chạy trên làn đường dành riêng, xe điện).Giao thông ở các thành phố lớn của Việt Nam có đặc điểm như sau: xe hai bánh gắn máy chiếm đa số (hơn 80% thị phần giaothông ở Hà Nội và TP.HCM), xe ô tô cá nhân đang gia tăng nhanh chóng và xe buýt là phương tiện GTCC duy nhất thay thế choxe cá nhân. Phương thức khai thác các tuyến xe buýt cũng khác nhau giữa các thành phố: nhiều đơn vị khai thác ở TP.HCM, trongkhi đó Hà Nội gần như chỉ có một đơn vị khai thác. Hiện nay, việc quản lý và khai thác mạng lưới vận tải hành khách công cộnglà trung tâm của các suy nghĩ, một mặt là về khía cạnh quan hệ giữa chủ đầu tư và đơn vị khai thác, mặt khác là về khía cạnhkỹ thuật (đặc biệt là hệ thống vé tàu điện ngầm và vé xe buýt) khi trong thời gian sắp tới các tuyến tàu điện ngầm sẽ đi vào hoạtđộng. Ở TP.HCM, tất cả các chủ thể trong lĩnh vực giao thông đều thống nhất với nhau về sự cần thiết phải hình thành cơ quan tổchức giao thông có thẩm quyền đối với tất cả phương thức giao thông trong tương lai. Các vấn đề cần xem xét là nhiệm vụ, thẩmquyền, địa vị pháp lý, phương thức tài chính và lãnh đạo đối với cơ quan tổ chức giao thông.Theo phương hướng đó, AFD, CEFEB và PADDI đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải TP.HCM tổ chức khóa tập huấn về quảnlý và vận hành mạng lưới GTCC với sự hỗ trợ tài chính của quỹ PPIAF. Khóa tập huấn này được 3 chuyên gia đến từ các chủthể chính trong lĩnh vực GTCC hướng dẫn: Cơ quan tổ chức và quản lý giao thông - Đơn vị khai thác mạng lưới - Nhà tài trợ: ÔngBernard Rivalta đại diện cho SYTRAL, Ông Laurent Senigout đại diện cho Keolis và Ông Arnaud Dauphin đại diện AFD. Khóa họccũng có sự tham gia của đại diện các cơ quan chuyên môn và tài chính trong lĩnh vực giao thông đến từ các địa phương của ViệtNam: TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Khánh Hòa và Hải Phòng (Sở Giao thông vận tải, Trung tâm quản lý và điều hành vậntải hành khách công cộng (Trung tâm QLĐH VTHKCC), Ban quản lý đường sắt đô thị, đơn vị khai thác, Sở Tài chính, Quỹ đầu tưphát triển đô thị). Tài liệu này ghi lại nội dung các bài thuyết trình và trao đổi trong khóa học liên quan đến tình hình GTCC ở HàNội và TP.HCM, khuôn khổ thể chế và các công cụ tài chính cho các mạng lưới GTCC trên thế giới; quy hoạch, quản lý, vận hànhvà cấu trúc mạng lưới GTCC ở Lyon. Các bài trình bày lý thuyết được minh họa bằng kinh nghiệm của Lyon.
Xem thêm

64 Đọc thêm

ÔN CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG

ÔN CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG

DẠO CHƠI TRONG NHÓMI. Nội dung- Quan sát : tranh mẹ dắt bé đi trên vỉa hè- Chơi theo nhóm:+ Nhặt lá, xâu hạt, ghép hình, bóng.II. Mục đích yêu cầu1. Kiến thức:- Trẻ biết mẹ và bé trong tranh đi đúng phần đường của mình2. Kĩ năng:- Phát triển chú ý có chủ định- Phát triển tư duy, ngôn ngữ cho trẻ3. Giáo dục:- Trẻ hứng thú trong giờ họcIII. Chuẩn bị- Tranh vẽ mẹ dắt bé đi trên vỉa hè- Đồ chơi cho trẻIV. Hướng dẫnHOẠT ĐỘNG CỦA CÔ* Trò chuyện chủ đề- Con hãy kể cho cô nghe những phương tiện giaothông đường bộ, đường sắt ?- Đường thủy, đường hàng không có những phươngtiện nào ?- Khi đi ô tô các con nhớ không được thò đầu rangoài cửa sổ để tránh tai nạn nhé.- Cô cho trẻ dạo chơi quanh lớp, sau đó quan sáttranh.* Quan sát :– Hỏi trẻ:+ Tranh vẽ gì ?
Xem thêm

25 Đọc thêm

HÃY VIẾT MỘT BÀI VĂN NGẮN (KHÔNG QUÁ 600 TỪ) TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TUỔI TRẺ HỌC ĐƯỜNG VỀ GÓP PHẦN GIẢM THIỂU TAI NẠN GIAO THÔNG

HÃY VIẾT MỘT BÀI VĂN NGẮN (KHÔNG QUÁ 600 TỪ) TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TUỔI TRẺ HỌC ĐƯỜNG VỀ GÓP PHẦN GIẢM THIỂU TAI NẠN GIAO THÔNG

Nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông. Đây chính là vấn đề cấp thiết nhất mà chúng ta cần phải làm ngay và nó cũng là vấn đế tiên quyết nhất trong kế sách giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.       Thực tế cho thấy, những năm gần đây, vấn đề giao thông, đặc biệt ở các đô thị lớn của cả nước, càng trở nên phức tạp. Hạ tầng giao thông không theo kịp với sự phát triển của kinh tế - xã hội đã dẫn đến sự ách tắc giao thông và đặc biệt đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng mà nhắc đến con số người chết và bị tàn tật do tai nạn giao thông gây ra, ai cũng thấy bàng hoàng. Vì thế, vấn đề an toàn giao thông đã trở nên cấp bách. Mọi thành phần trong xã hội hầu như tham gia giao thông trong đó có tuổi trẻ học đường. Vậy tuổi trẻ học đường sẽ ứng xử như thế nào về vấn đề này?       Văn hóa, xét cho cùng là giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, thể hiện mối quan hệ, lối ứng xử, biểu hiện văn minh giữa con người với con người. Văn hóa giao thông là biểu hiện lối ứng xử “đẹp” giữa những người tham gia giao thông trong cộng đồng xã hội. Giao thông trở nên rối loạn nếu không có cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ, hoặc khi tín hiệu đèn không còn do mất điện. Va quệt nhau một tý, không thấy lời xin lỗi nhau mà chỉ chực văng tục, gườm nhau.. Tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, tham gia giao thông không đúng luật lệ và cả việc thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng vẫn diễn ra, đặc biệt ở các đô thị lớn, các bến tàu, xe, nơi sinh hoạt đông người.       Biết bao lần người ta nói đến việc nhân viên xe buýt hành hung khách. Báo Pháp luật đưa tin Ngày 14-3, Công an huyện Cái Bè cho biết đang điều tra làm rõ vụ một nhân viên xe buýt Nhật Long Cư đã hành hung một hành khách trọng thương chỉ vì 1.000 đồng. Đó chỉ hành vi côn đồ, vô giáo dục. Nào là xe tải nặng “đánh võng’’ như xiếc trên xa lộ. Nào là người khỏe mạnh giành đường với người khuyết tật. Chàng thanh niên sang trọng, cô gái xinh đẹp cứ dửng dưng án ngữ ở đầu xe cứu thương, xe tang dù phía sau họ, còi báo động xin đường inh ỏi... và nhiều hình ảnh khác đã làm nhói lòng những ai yêu cái đẹp trong đời sống con người! Và, những tai nạn giao thông, từ những cuộc đi “bão” mà người ta dùng chỉ những loại người bất hão ưa trò tốc độ một cách vô lí đã làm mất đi những công dân lương thiện đang tham gia giao thông.       Hiện nay, một tình trạng xảy ra khá phổ biến là người vi phạm khi bị xử phạt dễ dàng chấp nhận việc nộp phạt, thậm chí chuẩn bị tư tường và tiền nộp phạt để đi cho thật nhanh. Điều này cho thây biện pháp xử lí hành chính hiện nay và hình thức xử phạt chưa đủ mạnh tay để răn de vi phạm. Phương tiện đi lại, thời gian và công ăn việc làm rất quan trọng đối với mọi người, vì vậy chúng ta cần nhấm vào điểm này để buộc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông luôn “thường trực ý thức" mỗi khi tham gia giao thông.      Đáng buồn hơn, những người đi xe máy, xe đạp và đi bộ này luôn tồn tại tâm lí các phương tiện giao thông lớn phải “sợ” và “nhường” xe nhỏ hơn và nếu xảy ra tai nạn, lỗi luôn thuộc về các phương tiện lớn hơn. Nhìn toàn cảnh bức tranh giao thông đường bộ những tháng gần đây  chúng ta cũng phải ngán ngẩm lắc đầu và sợ hãi chứ chưa kể đến người nước ngoài. Vì vậy, vấn đề là phải thượng tôn pháp luật và ý thức của con người. Tuổi trẻ học đường - đối tượng có học vấn, được trang bị kiến thức và văn hóa trong đó có văn hóa giao thông. Ý thức đầu tiên là đi đúng luật quy định, đội nón bảo hiểm, không lạng lách, gương mẫu và tuyên truyền mọi người cùng ý thức về một hình ảnh có văn hóa trong giao thông Việt Nam. Đề cao lòng tự tôn dân tộc từ những việc nhỏ trong đó có văn hóa giao thông.       Nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông. Đây chính là vấn đề cấp thiết nhất mà chúng ta cần phải làm ngay và nó cũng là vấn đế tiên quyết nhất trong “kế sách” giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.       Vậy, chúng ta phải làm như thế nào để thức tỉnh ý thức, tinh thần trách nhiệm của người dân khi tham gia giao thông? Điều này liên quan đến mặt. nhận thức của con người về hành động của họ để nhận ra phải - trái, đúng - sai. Nhận thức này được hình thành trên cơ sở nền tảng giáo dục mà đặc biệt là giáo dục cộng đồng, mà tuổi trẻ học đường cần phải góp phần thay đổi ý thức của người dân trong văn hóa giao thông. Trích: loigiaihay.com  
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐÁP ÁN BÀI DỰ THI VÌ AN TOÀN GIAO THÔNG THỦ ĐÔ 2017 - 2018

ĐÁP ÁN BÀI DỰ THI VÌ AN TOÀN GIAO THÔNG THỦ ĐÔ 2017 - 2018

Họ và tên: …………………….Ngày sinh:…………………….Đơn vị:……………………….Số điện thoại:………………..Email:………………………..Cuộc thi viết Vì An toàn giao thông Thủ đônăm 2017Cuộc thi Vì an toàn giao thông thủ đô 2017 nhằm nâng cao nhận thức của các cơquan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp vận tải và người dân về ý thức chấp hànhpháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông; góp phần giảm ùn tắc giaothông và tai nạn giao thông; tăng cường trật tự, văn minh đô thị.GIẢM ÙN TẮC GIAO THÔNG BỀN VỮNGQuy hoạch phải có tầm nhìn xaKTĐT - Tình trạng ùn tắc giao thông (UTGT) ở Hà Nội nói riêng và tại các đôthị lớn của cả nước nói chung đều có quá trình phát sinh, phát triển.Trước tiên, do tốc độ đô thị hóa nhanh với lượng dân cư đổ dồn về các đô thị lớnkhiến hạ tầng giao thông đô thị quá tải. Tiếp đến, việc hoạch định chính sách đầutư cho giao thông từ đường sá, điểm đỗ, quy hoạch hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếunguồn vốn và chưa có tầm nhìn xa, khiến UTGT trở thành vấn nạn.Mặc dù Chính phủ và lãnh đạo các địa phương đều đề ra rất nhiều giải pháp,nhưng xem ra vẫn còn ở mức "cấp cứu" hay "chữa cháy". Vấn đề chống UTGThiện nay rất cần một đề án tổng thể dài hạn, trong đó, phải có tầm nhìn xa vàgiải pháp đồng bộ và ưu tiên từng giải pháp trong quá trình triển khai mới mongkéo giảm UTGT bền vững.Việc đô thị hóa nhanh, lượng dân cư dồn về lớn khiến hạ tầng giao thông quá tải.Tập trung nguồn lực phát triển giao thông công cộngUTGT liên tục xảy ra bởi hạ tầng giao thông luôn quá tải phương tiện cá nhân.Rất nhiều người đặt câu hỏi vì sao Hà Nội không phát triển vận tải công cộng,
Xem thêm

12 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH GIAO THÔNG CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2030 (TT)

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH GIAO THÔNG CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2030 (TT)

lại chính của người dân trong Thành phố.Một số khái niệm ( thuật ngữ )- Đô thị: Là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủyếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị,hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương,3bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã;thị trấn. [19]- Đường đô thị: là đường bộ trong đô thị bao gồm phố, đường ô tô thôngthường và các đường chuyên dụng khác. [2]- Giao thông: theo định nghĩa rộng có thể hiểu là sự thông tin, liên hệ,liên lạc bằng mọi hình thức. Theo nghĩa hẹp có thể hiểu hình thức liên hệ ởđây là bằng phương tiện vận chuyển con người và hàng hóa đi lại trên tuyếnđường. [5]- Giao thông đô thị: Là tập hợp công trình, các phương tiện, các conđường đảm bảo sự liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong thành phố vớinhau và giữa thành phố với các khu vực bên ngoài thành phố. Hay còn nóimột các khác đó là sự tương tác giữa các đối tượng vận động như người, xecộ và các cấu trúc tĩnh tại ( đường, đường phố ) và các công trình giao thôngnhư bến, bãi ... [16]- Giao thông đối ngoại: giao thông đối ngoại có thể hiểu một cách đơngiản là sự liên hệ giữa đô thị với bên ngoài, bao gồm đô thị với đô thị khác,với các khu công nghiệp, các khu nghỉ ngơi của các vùng phụ cận và giữa đôthị với các vùng trong cả nước. [16]- Giao thông đối nội: Là hệ thống giao thông bên trong đô thị, còn gọi làgiao thông nội thị có nhiệm vụ đảm bảo sự liên hệ thuận tiện giữa các khu vực
Xem thêm

20 Đọc thêm

SOLUTIONS TO ENVIRONMENTAL PROBLEMS

SOLUTIONS TO ENVIRONMENTAL PROBLEMS

hàng giấy khác nên được bỏ đi một cách hợp lý trong một thùng rác. Các sản phẩm làmsạch bằng sợi đã gia công trở nên phổ biến không bao giờ nên bỏ đi trong nhà vệ sinh.Tránh sử dụng rác thải. Giữ chất rắn rắn chất rắn.Điều này tiết kiệm điện và nước.Sử dụng số lượng tối thiểu chất tẩy rửa và / hoặc thuốc tẩy khi bạn giặt quần áo hoặc cácmón ăn.Giải pháp cho vấn đề ô nhiễm không khí:Khuyến khích mọi người di chuyển bằng phương tiện giao thông công cộng để giảmthiểu và tắc nghẽn giao thông, do đó giảm mật độ bụi và các lượng khí thải khác từ sự đốtcháy nhiên liệu xăng dầu trong không khí,Tạo ra những khu vực cây xanh rộng lớn của thành phố, thiết lập các cây xanh kết nối cáckhu vực khác nhau của thành phố, đặc biệt là các khu vực và đường phố có nhiều phươngtiện giao thông.Trách nhiệm của con người đối với môi trường:Chúng ta đều nhận thức được những vấn đề môi trường hiện tại đang gây ra: hiệu ứngnhà kính, sự cố tràn dầu trong nhà máy vedan, cháy rừng. Nhiều loài trở nên nguy cấphoặc cạn kiệt. Nếu chúng ta không hành động nhanh hơn trong việc bảo vệ môi trườngcủa chúng ta và bắt đầu thúc đẩy việc bảo vệ khí hậu của chúng ta, chúng ta có thể bị đedọa thậm chí những hậu quả tồi tệ hơn trong tương lai. Không nước uống, không sử dụngđiện tử, không khí để thở ...Đó là lý do chúng tôi chịu trách nhiệm về hành động của chúng tôi: không xả rác, khôngcó nước thải, tắt điện khi đi ra ngoài, tắt nước khi sử dụng, ... cách dễ dàng làm giảm môitrường.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Bình luận khoa học bộ luật hình sự các tội về an toàn giao thông

BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ CÁC TỘI VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG

Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28121989, ngày 1281991, ngày 22121992 và ngày 1051997.
Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ thể hiện một cách toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, mà còn là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt. Do đó việc hiểu và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm và hình phạt là một vấn đề rất quan trọng. Ngày 17 tháng 2 năm 2000, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 042000CTTTg về việc tổ chức thi hành Bộ luật hình sự đã nhấn mạnh: Công tác phổ biến, tuyên truyền Bộ luật hình sự phải được tiến hành sâu rộng trong cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang và trong nhân dân, làm cho mọi người năm được nội dung cơ bản của Bộ luật, nhất là những nội dung mới được sửa đổi bổ sung để nghiêm chỉnh chấp hành.
Với ý nghĩa trên, tiếp theo cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm (Tập VI) Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản tiếp cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm (Tập VII) Các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông” 1 của tác giả Đinh Văn Quế Thạc sỹ Luật học, Phó chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, người đã nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và cho công bố nhiều tác phẩm bình luận khoa học về Bộ luật hình sự và cũng là người trực tiếp tham gia xét xử nhiều vụ án về các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông.
Dựa vào các quy định của chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999, so sánh với các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, đối chiếu với thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm quy định về an toàn giao thông, tác giả đã giải thích một cách khoa học về các các tội phạm này, đồng thời tác giả cũng nêu ra một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự ở nước ta.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
NHA XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỞ ĐẦU

Trong những năm vừa qua, mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm giảm bớt các vụ tai nạn giao thông, nhưng tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông vẫn chưa thuyên giảm, nhiều vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm chết nhiều người, làm hư hỏng tài sản có giá trị hàng trăm triệu đồng. Vấn đề an toàn giao thông vẫn là vấn đề nóng bỏng trong tình hình hiện nay. Cuộc vận động lập lại trật tự an toàn giao thông đang là một trong những nhiệm trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, của tất cả các ngành các cấp.
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, nhưng chủ yếu là do ý thức của những người tham gia giao thông, một phần do không hiểu biết về các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông, một phần do người tham gia giao thông biết nhưng cố tình vi phạm. Việc xử lý các hành vi vi phạm chưa nghiêm, nhiều vụ tai nạn giao thông lẽ ra người có hành vi vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ bị xử phạt hành chính hoặc tuy có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng lại được áp dụng hình phạt quá nhẹ, thậm chí cho hưởng án treo không đúng, không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Ngược lại cũng không ít trường hợp tai nạn xảy ra lỗi hoàn toàn của nạn nhân, nhưng do không đánh giá đúng các tình tiết của vụ án nên đã truy cứu trách nhiệm hình sự người gây tai nạn mà họ không có lỗi.
Các quy định của pháp luật về an toàn giao thông ở nước ta tương đối nhiều, nhưng chưa đồng bộ, chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh, có lĩnh vực đã có luật như Luật giao thông đường bộ, Luật hàng không dân dụng, nhưng có lĩnh vực mới chỉ có Nghị định như Nghị định số 39CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt, Nghị định số 40CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ. Do yêu cầu của tình hình nên các văn bản pháp luật về an toàn giao thông, nhất là an toàn giao thông đường bộ, luôn được bổ sung, sửa chữa nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của việc xử lý các hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông. Ngày 2752004 tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội lại thông qua Luật giao thông đường thuỷ nội địa thay thế cho Nghị định số 40CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ là một bước phát triển mới về công tác lập pháp, nhằm đáp ứng yêu cầu hạn chế tới mức tối thiểu những thiệt hại về người và tài sản do các hoạt động giao thông đường thuỷ gây ra. Tuy nhiên, Luật này có hiệu lực từ ngày 112005, nên các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường thuỷ nội địa xảy ra trước ngày 112005 theo hướng không có lợi cho người phạm tội so với Luật giao thông đường thuỷ nội địa thì phải căn cứ vào Nghị định 40CP để xác định.
Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ có 4 Điều quy định các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông vận tải, đó là các Điều 186, 187, 188 và 189 tương ứng với bốn tội danh. Nay Bộ luật hình sự 1999 có 17 Điều tương ứng với 17 tội danh khác nhau quy định các hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông về từng lĩnh vực riêng như: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không. Các tình tiết là yếu tố định tội và yếu tố định khung hình phạt có nhiều điểm mới, nhưng lại chưa được giải thích hướng dẫn cụ thể, nên thực tiễn áp dụng gặp không ít trường hợp có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông.
Với ý nghĩa trên, qua nghiên cứu và qua thực tiễn xét xử , chúng tôi sẽ phân tích các dấu hiệu của các tội xâm phạm an toàn giao thông quy định tại chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999, giúp bạn đọc, nhất là các cán bộ làm công tác pháp lý tham khảo.

PHẦN THỨ NHẤT
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA CÁC TỘI
XÂM PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

Các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông được quy định tại chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999 gồm các tội vi phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không.
So với chương VIII Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông quy định tại Chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm sửa đổi, bổ sung sau:
Chương VIII Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ có 4 Điều (186, 187, 188, 189) quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông, nay chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999 có 17 Điều (202, 203, 204, 205, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220) quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông, với 17 tội danh tương ứng.
Hầu hết các tội phạm quy định tại chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999 đều là tội phậm được tách từ các tội đã được quy định tại 4 điều luật của chương VIII Bộ luật hình sự năm 1985, riêng tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông là tội phạm mới. Đối với tội tổ chức đua xe trái phép và tội đua xe trái phép quy định tại Điều 206 và Điều 207 Bộ luật hình sự, có ý kiến cho rằng đó là tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông. Tuy nhiên, căn cứ vào hành vi phạm tội thì hành vi tổ chức đua xe trái phép và hành vi đua xe trái phép trước đây bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng. Do đó hai tội phạm này không phải là tội xâm phạm các quy định về an toàn giao thông, mà là các tội xâm phạm trật tự công cộng.
Về cấu tạo, các tội phạm quy định tại chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhiều khung hình phạt hơn so với các tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải ở chương VIII Bộ luật hình sự năm 1985.
Các yếu tố định tội ở một số tội danh cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng phi hình sự hoá một số hành vi hoặc quy định các tình tiết làm ranh giới để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi chưa tới mức là tội phạm. Ví dụ: Người có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông vân tải trước đây quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định gây thiệt hại đến sức khoẻ của người khác, thì nay Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “... gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác” mới phải chị trách nhiệm hình sự.
Hầu hết các tội phạm đều được bổ sung nhiều tình tiết là yếu tố định khung hình phạt.
Hình phạt bổ sung đối với từng tội phạm, nếu thấy là cần thiết được quy định ngay trong cùng một điều luật.

PHẦN THỨ HAI
CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ

1. TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Định Nghĩa: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác.
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là tội phạm được tách từ tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985.
So với Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung như:
Quy định cụ thể hành vi phạm tội là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chứ không phải vi phạm về an toàn giao thông vận tải chung chung như Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985;
Sửa đổi tình tiết gây thiệt hại đến sức khoẻ thành “gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ”;
Bổ sung tình tiết “không có giấy phép lái xe”, ngoài tình tiết không có bằng lái xe;
Bổ sung tình tiết “Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông” và tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” là yếu tố định khung hình phạt;
Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội; tăng hình phạt cải tạo không giam giữ lên tới ba năm.
Hình phạt bổ sung được quy định trong cùng điều luật.

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM
1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm
Tuy không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng chỉ những người điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ mới là chủ thể của tội phạm này.
Khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý: Người điều khiển phương tiện giao thông cũng là người tham gia giao thông, nhưng người tham gia giao thông thì có thể không phải là người điều khiển phương tiện giao thông. Đây cũng là dấu hiệu phân biệt tội phạm này với các tội vi phạm an toàn giao thông khác.
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này là tội phạm được thực hiện do vô ý và không có trường hợp nào là tội đặc biệt nghiêm trọng.
2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm này là trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Đối tượng tác động của tội phạm này là phương tiện giao thông đường bộ bao gồm: xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Hiện nay, các quy định về trật tự an toàn giao thông được quy định tại Luật giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 20012. Đây cũng là căn cứ để xác định hành vi điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ đã vi phạm hay chưa vi phạm.
Trước khi có Luật giao thông đường bộ khi xử lý hành vi vi phạm các quyết định hình phạt về an toàn giao thông đường bộ được căn cứ vào Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị (Ban hành kèm theo Nghị định 36CP ngày 2951995 của Chính phủ).
3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm
a. Hành vi khách quan
Người phạm tội này đã có hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Để xác định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, trước hết phải xác định phương tiện giao thông đường bộ bao gồm những loại nào.
Trước đây, Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải, nên phạm vi xác định hành vi vi phạm rộng hơn, kể cả người không điều khiển phương tiện giao thông cũng vi phạm, nay tội phạm này chỉ quy định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nên phạm vi xác định hành vi vi phạm có hẹp hơn.
Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ các quy định an toàn giao thông đường bộ. Ví dụ: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải ( khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ ).
Như vậy, việc xác định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không chỉ căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự mà phải căn cứ vào các quy định tại Luật giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.
Để kịp thời đáp ứng tình hình xét xử các vụ tai nạn giao thông đường bộ đối với hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra Nghị quyết số 022003NQHĐTP ngày 1742003, nhưng cũng chỉ hướng dẫn trường hợp gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác; gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra.
b. Hậu quả
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì chưa cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 của điều luật.
Thiệt hại cho tính mạng là làm người khác bị chết;
Thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ hoặc tài sản của người khác coi là làm cho người khác bị thương nặng hoặc làm cho tài sản của người khác bị mất mát hư hỏng nặng.
Hiện nay theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 022003NQHĐTP ngày 1742003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 022003 NQHĐTP) thì được coi là gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ hoặc tài sản của người khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
Khi xác định thiệt hại tài sản cho người khác cần chú ý:
Chỉ những tài sản do hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trực tiếp gây ra, còn những thiệt hại gián tiếp không tính là thiệt hại để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như: Do bị thương nên phải chi phí cho việc điều trị và các khoản chi phí khác (mất thu nhập, làm chân giả, tay giả, mắt giả...). Mặt dù các thiệt hại này người phạm tội vẫn phải bồi thường nhưng không tính để xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội.

Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản mà người phạm tội gây ra là thiệt hại đối với người khác, nên không tính thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho chính mình. Ví dụ: Do phóng nhanh, vượt ẩu, nên Trần Văn Q đã gây tai nạn làm Vũ Khắc B bị thương có tỷ lệ thương tật 25%, còn Q cũng bị thương có tỷ lệ thương tật 35%. Trong trường hợp này, thiệt hại về sức khoẻ do hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Q gây ra đối với người khác chỉ có 25%, chứ không phải 60% (25%+35%).

Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

c. Các dấu hiệu khách quan khác

Ngoài hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đối với tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, nhà làm luật quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu băt buộc của cấu thành tội phạm như: Phương tiện giao thông; địa điểm (nơi vi phạm là công trình giao thông đường bộ)... Việc xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan trọng, là dấu hiệu để phân biệt giữa tội phạm này với các tội vi phạm an toàn giao thông khác.

Theo quy định của Luật giao thông đường bộ thì đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ. Còn phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng. Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.
Đối với phương tiện giao thông đường bộ, nói chung không khó xác định. Tuy nhiên, đối với Xe máy chuyên dùng, việc xác định có phải là phương tiện tham gia giao thông hay không, có nhiều trường hợp phức tạp. Ví dụ: Một chiếc máy ủi đang thi công trên một đoạn đường thì chiếc máy ủi này có tham gia giao thông không hay chỉ là phương tiện thi công bình thường ? Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu chiếc máy ủi này đang thi công thì không coi là tham gia giao thông, nhưng nếu chiếc máy ủi này di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác hoặc từ nơi tập kết xe máy đến công trường thì được coi là tham gia giao thông.
Ngoài ra còn có những dấu hiệu khách quan khác như: Đường bộ, công trình đường bộ, đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ, phần đường xe chạy, làn đường, khổ giới hạn của đường bộ, đường phố, dải phân cách, đường cao tốc . v.v... Các yếu tố này cũng rất quan trọng khi xác định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Theo luật giao thông đường bộ thì:

Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ.
Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường, hệ thống thoát nước, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, dải phân cách và công trình, thiết bị phụ trợ khác.
Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng.
Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đường để bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ công trình đường bộ.
Phần đường xe chạy là phần của đường bộ được sử dụng cho các phương tiện giao thông qua lại.
Làn đường là một phần của phần đường xe chạy được chia theo chiều dọc của đường, có bề rộng đủ cho xe chạy an toàn.
Khổ giới hạn của đường bộ là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, hầm trên đường bộ để các xe kể cả hàng hoá xếp trên xe đi qua được an toàn.
Đường phố là đường bộ trong đô thị gồm lòng đường và hè phố.
Dải phân cách là bộ phận của đường để phân chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt hoặc để phân chia phần đường của xe cơ giới và xe thô sơ. Dải phân cách gồm loại cố định và loại di động.
Đường cao tốc là đường chỉ dành cho xe cơ giới chạy với tốc độ cao, có dải phân cách chia đường cho xe chạy theo hai chiều ngược nhau riêng biệt và không giao cắt cùng mức với đường khác.

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thực hiện hành vi là do vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả).

Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Hiện nay trên một số sách báo có đề cấp đến hình thức “lối hỗn hợp” và thường lấy hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ làm ví dụ cho trường hợp lỗi hỗn hợp như: Cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả. Ví dụ: Một lái xe cố ý vượt đèn đỏ nên đã gây tai nạn làm chét người. Trong trường hợp này, người lái xe đã cố ý về hành vi (cố ý vượt đến đỏ), nhưng không mong muốn cho hậu quả xảy ra cũng không bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Một số trường hợp khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, các Toà án cũng nhận định rằng người bị hại cũng có lỗi và coi trường hợp người bị hại có lỗi cũng là lỗi hỗn hợp ( cả hai bên đều có lỗi).

Cả hai trường hợp trên, nếu cho rằng đó là hình thức lỗi hỗn hợp, theo chúng tôi là không thoả đáng.

Trường hợp thứ nhất, người phạm tội cố ý về hành vi (cố ý vượt đèn đỏ) không có nghĩa là người phạm tội đã nhận thức rõ hành vi vượt đèn đỏ là nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước được hậu quả chết người xẩy ra hoặc có thể xẩy ra, mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra, mà trường hợp này người phạm tội chỉ có ý thức cho rằng dù có vượt đèn đỏ nhưng tin rằng hậu quả chết người sẽ không xẩy ra. Trường hợp này người phạm tội vẫn vô ý nhưng là vô ý vì quá tự tin. Vô ý hay cố ý là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và đối với hậu quả chứ không chỉ đối với hậu quả.

Trường hợp thứ hai người bị hại cũng có lỗi, nói theo cách nói của dân gian thì được, nhưng về khoa học pháp lý thì trường hợp này người bị hại cũng có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông, nên nếu nói họ có lỗi là lỗi đối với người phạm tội chứ không phải lỗi pháp lý, cũng không thể nói cả hai đều có lỗi mà chỉ có thể nói cả hai đều có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông và trường hợp này cũng không thể coi là “lỗi hỗn hợp”.

Người phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có thể vì động cơ khác nhau nhưng không có mục đích vì lỗi của người phạm tội là do vô ý nên không thể có mục đích.

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

1. Phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không có các tình tiết định khung hình phạt

Đây là trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự, là cấu thành cơ bản của tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, người phạm tội có thể bị phạt phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đén ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

So với tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985, thì khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, vì khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định hình phạt tiền là hình phạt nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ mà Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định và nếu so sánh giữa Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 thì Điều 202 là điều luật nhẹ hơn. Tuy nhiên, về hình phạt cải tạo không giam giữ thì khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 năng hơn khoản 1 Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985. Vì vậy, hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 172000 mà sau 0 giờ 00 ngày 172000 mới xử lý thì áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, nếu áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì không được quá hai năm.
Xem thêm

304 Đọc thêm

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUS TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUS TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020

KDTH Duy Xuyên : Hợp tác xã dịch vụ vận tải và kinh doanh tổng hợp Duy Xuyên SVTH: Dương Thị Kim Ngọc _33K11
3. Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths.Võ Thị Quỳnh Nga DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Số Km đường nội thị ( không tính Huyện Hoà Vang).........................................20 Bảng 2.2. Các tuyến quốc lộ qua thành phố Đà Nẵng..........................................................21 Bảng 2.3. Số lượng xe có động cơ đốt trong ở Đà Nẵng....................................................23 Bảng 2.4 Các doanh nghiệp kinh doanh VTHKCC bằng xe buýt tại Thành phố Đà Nẵng. 25 Bảng 2.5 . Bảng số lượng xe buýt qua các năm...................................................................28 Bảng2.6. Niên hạn sử dụng xe buýt trên các tuyến đến ngày 10 tháng 1 năm 2011...........29 Bảng2.7. Tổng hợp điểm dừng tại địa bàn Thành phố Đà Nẵng trên các tuyến................32 Bảng 2.8 Giá vé xe buýt các tuyến......................................................................................34 Bảng 2.9. Số lượng hành khách tham gia dịch vụ xe buýt qua các năm.............................36 Bảng 2.10. Khối lượng sửa chữa, lắp đặt bổ sung trụ, biển báo xe buýt.............................41 SVTH: Dương Thị Kim Ngọc _33K11
4. Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths.Võ Thị Quỳnh Nga LỜI MỞ ĐẦU  Tính cấp thiết của đề tài Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thì đô thị hoá là 1 xu hướng tất yếu khách quan. Một trong những đặc trưng và thách thức lớn nhất của đô thị hoá là giải quyết vấn đề giao thông đô thị, vấn đề này luôn được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Thực tế cho thấy đến nay không phải quốc gia nào cũng thành công. Hiện nay ở các đô thị lớn cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế là quá trinh gia tăng nhanh dân số, nhu cầu đi lại dẫn đến sự gia tăng không ngừng phương tiện cá nhân cả về số lượng và chủng loại, bên cạnh sự yếu kém của hạ tầng giao thông, gây ra những hậu quả nghiêm trọng mang tính toàn cầu như: tình trạng ách tắc và tai nạn giao thông, sự khó khăn trong đi lại, ô nhiễm môi trường. Do đó nhiều thành phố hiện nay phải trả giá và gánh chịu những tổn thất lớn do khủng hoảng về giao thông đô thị. Nếu giải quyết tốt vấn đề giao thông đô thị thì nó trở thành tiền đề và là động lực to lớn cho quá trình phát triển. Ngược lại nó sẽ trở thành lực cản lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đô thị đó nói riêng và toàn quốc nói chung. Giao thông vận tải hành khách công cộng là một trong những giải pháp hữu hiệu giải quyết tốt vấn đề trên nếu như nó thực sự đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng về mặt chất lượng dịch vụ, tiện nghi, tốc độ và thuận tiện . Và đối với Việt Nam nguồn vốn đầu tư hạn hẹp thì Giao thông vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tiền đề để phát triển hệ thống giao thông vận tải hành khách công cộng hiện đại, đó là những bước đi đầu tiên trên con đường xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại và phát triển bền vững. Thành phố Đà nẵng là 1 trung tâm kinh tế chính trị của khu vực miền trung Tây Nguyên. Hăng năm, dân số ở Đà Nẵng không ngừng tăng lên cùng với quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế của đất nước nên nó cũng không tránh khỏi những khó khăn về giao thông vận tải. Việc lựa chọn loại hình giao thông công cộng bằng xe buýt đang là giải pháp trước mắt và lâu dài của đô thị. Thực tế Đà nẵng nói riêng và cả nước nói chung vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt vẫn chưa được quan tâm đúng mức và thực sự chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người đân. Do vậy vấn đề cấp bách nhất hiện nay là cần có 1 sự quan tâm đúng mức và chú trọng của các cơ quan có chức năng trong thành phố để có một chiến lược SVTH: Dương Thị Kim Ngọc _33K11 1
5. Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Ths.Võ Thị Quỳnh Nga tổng thể phát triển giao thông vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt Đó là lý do mà em đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020” để góp phần nào đó vào phát triển giao thông ở Thành phố Đà Nẵng .  Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng . Đưa ra những giải pháp để góp phần cải thiện và nâng cao công tác quản lý nhà nước về Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Đà Nẵng.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Đà Nẵng. Phạm vi nghiên cứu là trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Về thời gian, các giải pháp đề xuất trong đề tài được thực hiện trong giai đoạn hiện nay đến 2020  Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu các tài liệu sẵn có (sách tham khảo, báo, tạp chí, các Văn bản quy phạm pháp luật). Thu thập thực tế tại địa bàn Thành phố Đà Nẵng . Phương pháp phân tích, tổng hợp các số liệu thống kê.  Kết cấu đề tài Gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về v
Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng xe bus tại thành phố Đà Nẵng đến năm 2020Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vận tải hành khách công cộng bằng xe bus tại thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
Xem thêm

77 Đọc thêm

THỰC TRẠNG CÔNG tác GIÁM ĐỊNH và bồi THƯỜNG tổn THẤT TRONG NGHIỆP vụ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại MIC hà nội ( 2009 – 2013)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI MIC HÀ NỘI ( 2009 – 2013)

1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm vật chất xe cơ giới. Thế kỉ 21, với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Khi đó vấn đề giao thông luôn là vấn đề quang trọng và được ưu tiên đặt lên hàng đầu. Giao thông vận tải luôn là ngành kinh tế kỹ thuật có vị trí then chốt, là huyết mạch và có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các ngành khác. Có nhiều hình thức vận chuyển như đường thuỷ, đường sắt, đường bộ, đường hàng không. Nhưng ở Việt Nam, xe cơ giới là phương tiện chủ yếu, chiếm vai trò quan trọng việc vận chuyển bằng đường bộ do những ưu thế riêng như: Tính linh động cao, hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp. Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa phải. Tiền vốn đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của người dân Việt Nam. Việc sử dụng các phương tiện xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn các phương tiện khác…Với ưu thế trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang tăng lên một cách nhanh chóng. Theo Bộ Giao thông vận tải, tính đến hết tháng 72012 tổng số phương tiện cơ giới đăng ký lưu hành là 37.191.126 chiếc (trong đó ôtô là 1.950.964 chiếc và môtô là 35.240.162 chiếc)Sự phát triển của xe cơ giới luôn gắn với sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Nếu hạ tầng giao thông chưa phát triển mà số lượng phương tiện giao thông lại tăng lên quá nhanh thì sự không đồng bộ này sẽ là một trong những nguyên nhân khiến cho tai nạn giao thông gia tăng đáng kể. Trong khi đó tốc độ phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta hiện nay không đáp ứng được nhu cầu tham gia giao thông. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho số vụ tai nạn giao thông ở Việt Nam khá cao. Bên cạnh đó, ý thức cũng như sự hiểu biết và tôn trọng luật an toàn giao thông của một số chủ phương tiện kém (phóng nhanh, vượt ẩu, chở quá tải, lạng lách đánh võng hay vượt đèn đỏ …) làm cho rủi ro tai nạn giao thông ngày càng tăng. Ngoài ra, còn phải kể đến nguyên nhân của tình trạng gia tăng tai nạn giao thông ở nước ta là do các phương tiện giao thông đường bộ yếu kém, hỏng hóc, không đảm bảo chất lượng. Bảng số liệu thống kê dưới đây cho thấy tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở nước ta trong 10 năm qua.
Xem thêm

66 Đọc thêm

Tư vấn quảng cáo mặt hàng dược phẩm

TƯ VẤN QUẢNG CÁO MẶT HÀNG DƯỢC PHẨM

Tư vấn quảng cáo mặt hàng dược phẩm Bài tập học kì Pháp luật Quảng cáo và hội trợ triển lãm
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Pháp luật quảng cáo hội chợ triển lãm
Bài tập số 5: Công ty dược phẩm PARAGON (Ấn Độ) muốn tìm hiểu thị trường dược phẩm và tiến hành chiến dịch quảng cáo đầu tiên tại Việt Nam với sản phẩm thuốc ONNO có đặc điểm sau:

Loại sản phẩm: Thuốc tân dược
Tên sản phẩm: ONNO
Thành phần: chứa hoạt chất Z và một số tá dược
Công dụng: điều trị chứng đau đầu do thời tiết, stress, cảm cúm...
Dạng đóng gói: Viên nén 250mg, 10 viênvỉ, 10 vỉhộp
Liều dùng: chỉ sử dụng cho người lớn, uống không quá 2 lầnngày, mỗi lần không quá 20 viên
Chống chỉ định: đối với bệnh nhân dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Giá bán: 5 USDhộp


Công ty PARAGON muốn thuê luật sư để tư vấn về các vấn đề pháp lý sau đây:

1. Sản phẩm ONNO có được phép quảng cáo ở Việt Nam hay không? Để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Công ty PARAGON cần chú ý những vấn đề pháp lý gì và phải tiến hành thủ tục gì?

2. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm ONNO được phép quảng cáo trên những phương tiện quảng cáo nào ở Việt Nam?

Anh (chị) hãy đóng vai trò là Luật sư để tư vấn bằng văn bản cho Công ty PARAGON trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.

Công ty Luật X

Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2013

BẢN TƯ VẤN

Về việc: Tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan đến chiến dịch quảng cáo sản phẩm thuốc ONNO của Công ty dược phẩm PARAGON

Kính gửi: Công ty dược phẩm PARAGON

Tôi là Luật sư Đào Lê Giang Linh thuộc Công ty luật X, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Được sự chỉ định của Công ty luật X, tôi sẽ là người tư vấn về các vấn đề quý công ty đã yêu cầu tư vấn.

Tại lần gặp mặt trước vào ngày XY2013, quý công ty đã yêu cầu công ty chúng tôi tư vấn các vấn đề sau:

1. Sản phẩm thuốc ONNO có được phép quảng cáo ở Việt Nam hay không? Để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Công ty PARAGON cần chú ý những vấn đề pháp lý gì và phải tiến hành những thủ tục gì?

2. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm ONNO được hép quảng cáo trên những phương tiện nào ở Việt Nam?

Thay mặt công ty, tôi xin tư vấn các vấn đề trên cho quý công ty như sau:

1. Sản phẩm thuốc ONNO không được phép quảng cáo ở Việt Nam, vì lí do sau:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 20 Luật quảng cáo 2012 quy định về quảng cáo thuốc: “a) Quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật về y tế; phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt;”.

Theo quy định này, quảng cáo cho sản phẩm ONNO của quý công ty cần phải đáp ứng các điều kiện:

Thứ nhất, quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật y tế. Căn cứ pháp lý hiện nay quy định về lĩnh vực quảng cáo thuốc của pháp luật y tế là:

+ Luật Dược 2005, Chương 7 về Thông tin, quảng cáo thuốc;

+ Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc;

+ Thông tư 422010TTBYT ban hành Danh mục hoạt chất thuốc và dược liệu được đăng ký quảng cáo trên phát thanh, truyền hình;

+ Ngoài ra còn có một số văn bản khác: Thông tư 082009TTBYT ban hành Danh mục thuốc không kê đơn, Thông tư liên tịch số 012004TTLTBVHTTBYT hướng dẫn hoạt động quảng cáo trong lĩnh vực y tế...

Thứ hai, sản phẩm thuốc ONNO phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt.

Căn cứ vào thông tin mà quý công ty cung cấp, công ty đang muốn tìm hiểu thị trường dược phẩm và tiến hành chiến dịch quảng cáo đâì tiên tại Việt Nam với sản phẩm thuốc ONNO, nhưng công ty chưa có giấy phép lưu hành tại Việt Nam và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt cho sản phẩm thuốc ONNO. Như vậy, công ty chưa đáp ứng được các điều kiện cần thiết để được quảng cáo sản phẩm này tại Việt Nam.

2. Các vấn đề pháp lý cần lưu ý và các thủ tục phải tiến hành để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam

2.1. Các vấn đề pháp lý cần lưu ý

(i) Các loại thuốc được quảng cáo

Để được quảng cáo, sản phẩm thuốc ONNO không chỉ cần phải đáp ứng điều kiện thuộc Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành hoặc có hoạt chất thuộc Danh mục hoạt chất được quảng cáo trên truyền thanh, truyền hình mà còn phải đáp ứng yêu cầu là có số đăng ký lưu hành đang còn hiệu lực.

Căn cứ pháp lý: Điều 19 Thông tư 132009TTBYT; Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư 082009TTBYT. Tuy nhiên, quý công ty cần lưu ý thêm Danh mục hoạt chất thuốc và dược liệu được đăng ký quảng cáo trên truyền thanh, truyền hình ban hành kèm Thông tư 422010TTBYT.

(ii) Đăng ký, lưu hành thuốc

Để quảng cáo được sản phẩm thuốc ONNO trên thị trường Việt Nam, trước tiên sản phẩm ONNO phải được pháp luật Việt Nam cấp phép lưu hành.

Dựa vào thông tin quý công ty cung cấp, trường hợp đăng ký cho sản phẩm ONNO thuộc trường hợp đăng ký thuốc generic (hóa dược) lần đầu tại Việt Nam.

Căn cứ pháp lý: Chương 3 (từ Điều 35 đến Điều 38) Luật Dược 2005, Thông tư 222009TTBYT quy định việc đăng ký thuốc.

(iii) Thông tin, quảng cáo thuốc

Thông tin, quảng cáo sản phẩm ONNO muốn được lưu hành và quảng cáo trước tiên phải đáp ứng được các điều kiện chung sau:

1. Chỉ Công ty PARAGON được đăng ký hồ sơ thông tin, quảng cáo thuốc do mình đăng ký. Trường hợp quý công ty muốn uỷ quyền cho đơn vị khác đăng ký hồ sơ thông tin, quảng cáo thì phải có văn bản uỷ quyền. Đơn vị được uỷ quyền phải là đơn vị có tư cách pháp nhân hợp pháp.

2. Thuốc đã được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam được thông tin, quảng cáo theo quy định tại Thông tư 132009TTBYT. Thuốc chưa được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam nhưng đã được phép lưu hành ở nước khác chỉ được thông tin cho cán bộ y tế thông qua hội thảo giới thiệu thuốc.

3. Nội dung thông tin, quảng cáo thuốc phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, chính xác, trung thực, rõ ràng và không được gây hiểu lầm.

4. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thông tin, quảng cáo là tiếng Việt, trừ trường hợp từ ngữ đã được quốc tế hoá hoặc thương hiệu, từ ngữ không thay thế được bằng tiếng Việt.

5. Cỡ chữ bé nhất trong thông tin, quảng cáo phải đủ lớn để có thể nhìn thấy trong điều kiện bình thường nhưng không được bé hơn cỡ chữ tương đương cỡ 11 VnTime.

6. Đơn vị thông tin, quảng cáo thuốc phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính pháp lý những thông tin đã cung cấp trong các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc của mình.

Căn cứ pháp lý: Chương 7 (từ Điều 51 đến Điều 53) Luật Dược 2005, Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc; Quyết định số 180QĐQLD ngày 1462011 ban hành Sổ tay hướng dẫn thông tin, quảng cáo thuốc.

(iiii) Nội dung quảng cáo thuốc

Nội dung quảng cáo thuốc phải phù hợp với tờ hướng dẫn thuốc đã được Bộ Y tế (Cục Quản lý dược) phê duyệt, chuyên luận về sản phẩm thuốc ONNO đã được ghi trong Dược thư quốc gia hoặc trong các tài liệu về thuốc đã được quốc tế công nhận. Nội dung quảng cáo thuốc phải có đủ các thông tin sau:

• Tên thuốc: là tên trong quyết định cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam;

• Thành phần hoạt chất: thuộc 2 Danh mục đã liệt kê ở mục (i); ngoài ra, sản phẩm thuốc của công ty là sản phẩm thuốc tân dược, do vậy phải dùng tên theo danh pháp quốc tế;

• Chỉ định: không được đưa vào các chỉ định được quy định tại Điều 35 Thông tư 132009TTBYT.

• Cách dùng;

• Liều dùng;

• Chống chỉ định và hay hoặc những khuyến cáo cho các đối tượng đặc biệt (như trẻ em, phụ nữ mang thai,....);

• Tác dụng phụ và phản ứng có hại;

• Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc. Có thể thêm tên, địa chỉ nhà phân phối.

• Lời dặn: “Đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng”

• Cuối trang đầu của tài liệu quảng cáo phải có số Giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc của Cục Quản lý dược và ngày tháng in tài liệu.

Lưu ý: Đối vớ những tài liệu gồm nhiều trang phải đánh số trang, ở trang đầu phải ghi rõ tài liệu này có bao nhiều trang, phần thông tin chi tiết về sản phẩm xem ở trang nào.

Căn cứ pháp lý: Điều 21 Thông tư 132009TTBYT

2.2. Thủ tục tiến hành

Thủ tục thứ 1: Xin cấp Giấy phép lưu hành thuốc ONNO trên lãnh thổ Việt Nam.

Thủ tục thứ 2: Xin cấp phép quảng cáo thuốc.

Hai thủ tục này quý công ty xem chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo.

3. Các phương tiện quảng cáo mà sản phẩm ONNO được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật Việt Nam

Theo quy định tại Điều 20 Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc về các hình thức quảng cáo thuốc bao gồm:

“1. Quảng cáo trên sách, báo, tạp chí, tờ rơi, áp phích.

2. Quảng cáo trên bảng, biển, pano, băng rôn, vật thể phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động khác.

3. Quảng cáo trên phương tiện phát thanh, truyền hình.

4. Quảng cáo trên báo điện tử, website của doanh nghiệp, website của đơn vị làm dịch vụ quảng cáo.

5. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin quảng cáo khác.”

Căn cứ theo các hình thức quảng cáo thuốc có thể sử dụng nêu trên, sản phẩm ONNO được phép quảng cáo trên những phương tiện quảng cáo sau:

1. Báo chí.

2. Trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác.

3. Các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác.

4. Bảng quảng cáo, băngrôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo.

5. Phương tiện giao thông.

6. Hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao.

7. Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo.

8. Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật.
Xem thêm

9 Đọc thêm

2017 08 17 PRESENTATION

2017 08 17 PRESENTATION

Yếu tố ảnh hưởng thiết kế phươngtiện giao thông công cộngMật độ dân cưTheo O’Sullivan, đa số người dân chỉ đi tới trạm dừngcủa phương tiện giao thông công công trong khoảngcách tương ứng tối đa 10’ đi bộ.Thời gian giữa các xe trong cùng 1 tuyến: thời gian nàygiảm thì thời gian chờ xe ở các trạm dừng giảm.Khoảng cách giữa các trạm dừng: khoảng cách càng ngắnthì người dùng phải di chuyển ít nhưng thời gian ngồitrên xe kéo dài ra vì xe phải dừng nhiều lần.98/16/2017TRANSPORTATIONPOLICYCHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNGPhát triển theo định hướnggiao thông công cộngNguồn: http://www.greenwheels.org/blog?page=16 (2012)Nguồn Amsterdam from Westerkerk TowerBy Rose Robinson,http://www.flickr.com/photos/rosedavies/3497485559/in/photostream/10
Xem thêm

16 Đọc thêm

Giảm 50% đái tháo đường nhờ đi xe đạp

GIẢM 50% ĐÁI THÁO ĐƯỜNG NHỜ ĐI XE ĐẠP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các chuyên gia Cao đẳng y khoa London Anh (UCL) thực hiện nghiên cứu ở 20.458 người, phát hiện thấy những người thói quen vận động hàng ngày có tác dụng tích cực, làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Ví dụ, về béo phì, thừa cân, những người hàng ngày đi làm bằng các phương tiện giao thông công cộng giảm được 15%, đi bộ giảm được 20% và đi xe đạp giảm 20%.   Những người thói quen vận động hàng ngày có tác dụng tích cực, làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường (Ảnh minh họa) Đối với nguy cơ mắc ĐTĐ, nhóm đi bộ giảm được tới 40%, đi xe đạp giảm được 50% rủi ro mắc bệnh ĐTĐ. TS. Mindell, người chủ trì nghiên cứu cho hay, không nhất thiết phải chạy bộ nhưng nếu duy trì cuộc sống vận động mỗi ngày, hạn chế cuộc sống tĩnh tại nằm nhiều, ngồi nhiều sẽ có tác dụng tích cực làm giảm cân, máu lưu thông tốt sẽ giảm được nhiều bệnh, trong đó có bệnh ĐTĐ. Và quan trọng hơn đi bộ, đi xe đạp mang tính môi trường thân thiện, đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện miễn là mọi người có lòng kiên trì và duy trì đều đặn
Xem thêm

1 Đọc thêm

CHIẾN LƯỢC QUẢNG CÁO CHO NHÃN HIỆU OMO TẠI THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN

CHIẾN LƯỢC QUẢNG CÁO CHO NHÃN HIỆU OMO TẠI THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN

1. Phân tích chuẩn bịd. Thói quen sử dụng phương tiện quảng cáo của ĐTNT- Sử dụng nhiều- Sử dụng ítIII. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TRUYỀN TẢI1. Phân tích chuẩn bịe. Đối thủ cạnh tranh- Công chúng nhận tin mục tiêu:Người tiêu dùng có thu nhập cao- Thông điệp truyền thông:“Trắng siêu tốc – Giặt dứt điểm”- Phương tiện truyền thông:Truyền hìnhIII. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TRUYỀN TẢI2. Đánh giá và lựa chọn các phương tiện quảng cáoPTQC chínhTruyền hình địa phương- Quảng cáo ngoài trờiPTQC hỗ trợ- Đài địa phươngIII. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TRUYỀN TẢI
Xem thêm

22 Đọc thêm

CÁCH THOÁT NẠN KHI CÓ ĐỘNG ĐẤT Ở NHẬT BẢN

CÁCH THOÁT NẠN KHI CÓ ĐỘNG ĐẤT Ở NHẬT BẢN

Con người hay có phản ứng bỏ chạy với các mối nguy hiểm. Khi gặp động đất cũng vậy,nhiều người sẽ cố gắng chạy thoát ra ngoài thay vì ở bên trong nhà. Bạn nên biết rằng,bạn không thể chạy thoát khỏi động đất !Trong những trận động đất lớn, kính, biển báo, tường và các đồ vật khác sẽ đổ vỡ và rơivãi lung tung. Nó làm bạn hoảng loạn.Tuy nhiên, nếu đang ở trong nhà cao tầng, hãy bình tĩnh núp dưới bàn và ở lại, đừng cốchạy ra ngoài, vì nhà cao tầng ở Nhật rất khó đổ (vì được xây dựng theo những nguyêntắc chống động đất rất khắt khe). Nếu chạy ra ngoài sẽ nguy hiểm hơn nhiều vì bạn cóthể bị các vật đổ vỡ va đập hay đè lên người.3. Tìm chỗ trú bên ngoàiNếu đang ở ngoài đường, nơi công cộng nào đó mà gặp phải động đất, hãy chú ý đếnnhững đồ vật rơi vỡ, như biển báo, cửa sổ, cục điều hòa, dây điện, đèn tín hiệu,… vànhanh chóng tìm một nơi ẩn nấp an toàn, tốt nhất là trong một tòa nhà nào đó, né tránhnhững thứ có thể gây nguy hiểm ở xung quanh.Nếu đang đeo ba lô, túi xách, hãy lấy nó che đầu và chạy tìm chỗ trú.Trong trường hợp số 2, nếu bạn đang ở trong những ngôi nhà xập xệ, cũ, có nguy cơ đổsập bất cứ lúc nào, cũng nên cân nhắc đến việc chạy ra ngoài. Tuy nhiên, hãy nhớ luônmang theo vật chắn, đỡ như cái bàn hay mũ bảo hiểm, chạy ra ngoài, xem xét xungquanh và tìm chỗ trú nào đó an toàn hơn.Lưu ý hãy chuẩn bị một ba lô khẩn cấp đựng những nhu yếu phẩm cần thiết, để khichạy ra ngoài trốn thoát mà không có ai giúp đỡ, ta vẫn có thể sống sót.4. Mở cửa phòng lối thoát
Xem thêm

9 Đọc thêm

Luận văn: Cải thiện nâng cao chất lượng vận tải công cộng trên tuyến xe bus số 09 Bờ Hồ - Cầu Giấy – Bờ Hồ

LUẬN VĂN: CẢI THIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VẬN TẢI CÔNG CỘNG TRÊN TUYẾN XE BUS SỐ 09 BỜ HỒ - CẦU GIẤY – BỜ HỒ

Chương I. Tổng quan chung về vận tải hành khách công cộng.
1.1. Tổng quan chung về vận tải hành khách công cộng và vận tải bằng xe buýt trong đô thị.
1.1.1 Khái niệm về VTHKCC
VTHKCC là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải đô thị. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về VTHKCC nhưng có 2 khái niệm được dùng phổ biến là:
Theo tính chất xã hội của đối tượng phục vụ thì VTHKCC là loại hình vận tải phục vụ chung cho xã hội mang tính công cộng trong đô thị, bất luận nhu cầu đi lại thuộc nhu cầu gì (nhu cầu thường xuyên, nhu cầu ổn định, nhu cầu phục vụ cao). Với quan niệm này thì VTHKCC bao gồm cả vận tải hệ thống vận tải Taxi, xe lam, xe ôm...
Theo tính chất phục vụ của vận tải (không theo đối tượng phục vụ) thì VTHKCC là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo tuyến và hướng ổn định trong từng thời kì nhất định.
Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng được khối lượng nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và tuyến ổn định trong thời kỳ xác định. (Theo định nghĩa trong GTVT )
Theo “ Quy định tạm thời về vận chuyển hành khách công cộng trong thành phố” của Bộ GTVT thì:” VTHKCC là tập hợp các phương thức, phương tiện vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố ở cụ ly nhỏ hơn 50km và có sức chứa lớn hơn 8 hành khách( không kể lái xe)”.
1.1.2. Đặc điểm và phân loại VTHKCC.
Phương tiện vận tải hành khách công cộng có đặc điểm là sức chứa lớn, chuyên chở được nhiều hành khách, phục vụ đông đảo nhân dân thành phố, diện tích chiếm dụng đường rất nhỏ so với các loại phương tiện khác (tính cho một hành khách). Vì vậy, các phương tiện vận tải hành khách công cộng luôn giữ vững vai trò chủ yếu trong việc phục vụ hành khách của thành phố
Xem thêm

85 Đọc thêm

QUẢN LÝ DỰ ÁN LẮP ĐẶT MÀN HÌNH QUẢNG CÁO

QUẢN LÝ DỰ ÁN LẮP ĐẶT MÀN HÌNH QUẢNG CÁO

Công nghệ thông tin phát triển, các nhà làm dịch vụ quảng cáo, marketing, cũng như các chủ doanh nghiệp luôn có nhiều sự lựa chọn trong việc tìm kiếm phương thức nhằm triển khai các chiến lược quảng bá thương hiệu, quảng bá dịch vụ, sản phẩm của mình. Rất nhiều các công cụ quảng cáo truyền thống đã dần được thay thế bằng các hình thức quảng bá hiện đại như trên internet, trên mobie,...để tiết kiệm chi phí, để tăng độ phủ cũng như thiết lập các quan hệ tương tác đa chiều.Tuy vậy, đối với phương thức quảng cáo ngoài trời không thể có giải pháp nào thay thế hoàn hảo và tuyệt đối. Những biển quảng cáo khổ lớn nơi công cộng; những bảng quảng cáo cho hệ thống các cữa hàng, showroom, nhà hàng; những trang trí quảng cáo cho hội chợ, hội thảo,...vẫn luôn là hình thức quảng bá rất cần thiết và rất hữu hiệu.Kết hợp với sự phát triển của Công nghệ thông tin, công ty chúng tôi chuyên cung cấp và lắp đặt bảng cáo hiện đại, là màn hình quảng cáo ngoài trời có độ phân giải cao.
Xem thêm

31 Đọc thêm

MARKETING QUỐC TẾ 5 4 CÁC CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG

MARKETING QUỐC TẾ 5 4 CÁC CHIẾN LƯỢC TRUYỀN THÔNG

Xúc tiến bán: các khuyến khích ngắn hạn nhằm khuyến khích việc muamột sản phẩm hay dịch vụ.Bán hàng cá nhân: Tiếp xúc cá nhân được thực hiện bởi lực lượng bánhàng của công ty nhằm bán hàng hoặc xây dựng mối quan hệ kháchhàng.11Nguyễn Xuân Quang5.4.3. Các công cụ truyền thôngQuan hệ công chúng (PR) xây dựng mối quan hệ tốt với các dạng côngchúng của công ty thông qua các ấn phẩm có lợi cho công ty, xây dựnghình ảnh doanh nghiệp tốt đẹp, và xử lý hoặc loại bỏ những lời đồn, câuchuyện hoặc sự kiện không có lợi cho công ty.Marketing trực tiếp: các liên kết trực tiếp với các khách hàng mục tiêunhằm đạt được phản hồi ngay lập tức và khai thác mối quan hệ kháchhàng lâu dài.12Nguyễn Xuân Quang5.4.3.1. Nhóm các phương tiện quảng cáo
Xem thêm

28 Đọc thêm

GIÁO ÁN TẠO HINH CHỦ ĐIỂM GIAO THÔNG (ĐẠT GIẢI NHẤT THI THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

GIÁO ÁN TẠO HINH CHỦ ĐIỂM GIAO THÔNG (ĐẠT GIẢI NHẤT THI THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

1.Kiến thức:- Trẻ biết cách tạo hình các phương tiện giao thông bằng các nguyên vật liệu khácnhư ( vỏ hộp nhựa, vỏ hộp bằng giấy, qua kem, ống hút, hộp sữa, mo cau, bèo tây...)- Trẻ biết ô tô, xe máy, xe đạp là phương tiện giao thông đường bộ; tàu hỏa là phươngtiện giao thông đường sắt; tàu thủy, thuyền buồm, bè... là phương tiện giao thôngđường thủy; máy bay, khinh khí cầu là phương tiện giao thông đường hàng không.2. Kĩ năng- Trẻ biết sử dụng một số kĩ năng tạo hình( gắn đính, lắp ráp, xé dán, cắt dán, tô màu)để phối hợp các nguyên vật liệu khác nhau tạo thành sản phẩm phương tiện giao thôngcó màu sắc, kích thước hợp lý.- Kỹ năng tự phục vụ: Trẻ biết tự lấy, cất đồ dùng đúng nơi quy định. Sắp xếp đồ dùnggọn gàng, ngăn nắp.3. Thái độ- Trẻ hào hứng, tích cực tham gia vào hoạt động.- Trẻ yêu thích sản phẩm của mình và của bạn- Cất đồ dùng gọn gàng sau khi hoàn thành sản phẩm, tiết kiệm đồ dùng, giữ gìn vệsinh trong giờ học.II. Chuẩn bị:1. Địa điểm, đội hình:* Địa điểm: Trong lớp học.* Đội hình: Trẻ ngồi theo nhóm, ngồi tự do...2. Môi trường nhóm lớp: Lớp được trang trí theo chủ đề “Phương tiện và qui địnhgiao thông ”.3. Đồ dùng:a. Đồ dùng của cô:- Giáo án điện tử, máy tính, máy chiếu, loa, nhạc các bài hát trong chủ đề: “ Bài họcgiao thông”; “Lý kéo chài”...- Mô hình: Chiếc tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, máy bay được làm từ các nguyên liệu để chotrẻ quan sát.- Mô hình chiếc thuyền được làm bằng gỗ
Xem thêm

5 Đọc thêm

AN TOÀN CHUYỂN ĐỘNG XE KHÁCH GIƯỜNG NĂM 2 TẦNG Ở VIỆT NAM

AN TOÀN CHUYỂN ĐỘNG XE KHÁCH GIƯỜNG NĂM 2 TẦNG Ở VIỆT NAM

THĐẶT VẤN ĐỀiao thông tiếp cận đƣợc hiểu là một hệ thống giao thông hoàn chỉnh, thuận lợi và an toàn khôngchỉ cho ngƣời bình thƣờng mà còn cho ngƣời khuyết tật, ngƣời cao tuổi và ngƣời có khó khăn kháctrong hệ vận động của cơ thể có thể tham gia giao thông.Xu hƣớng chung của các nƣớc trên trên thế giới và khu vực là phát triển hệ thống giao thôngkhông rào cản, bảo đảm khai thác an toàn, bền vững và hiệu quả.Việc loại bỏ các rào cản để ngƣời khuyết tật hòa nhập với cộng đồng đang ngày càng đƣợc ảngvà hà nƣớc quan tâm trong đó có nhiệm vụ xây dựng môi trƣờng giao thông tiếp cận.hƣ vậy, môi trƣờng giao thông tiếp cận là khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ mọi lĩnh vực từ xâydựng đƣờng, hè phố đến việc cải tạo, chế tạo mới các phƣơng tiện giao thông công cộng để ngƣờitàn tật có điều kiện tiếp cận an toàn và tham gia giao thông thuận lợi.Quốc hội, hính phủ, Bộ giao thông vận tải và các cơ quan quản lý nhà nƣớc đã ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật, văn bản điều hành để các cơ quan, dơn vị thực hiện, tạo thuận lợi chongƣời khuyết tật khi tham gia giao thông. Tuy vậy, cho đến nay, việc thực thi các văn bản quy phạmđó chƣa đƣợc chú trọng.- Tìm hiểu về các hình thức giao thông tiếp cận đang sử dụng trên thế giới.- hảo sát hạ tầng kỹ thuật mạng lƣới giao thông công cộng và khả năng áp dụng giao thông tiếpcận tại các thành phố lớn.- hảo sát, đánh giá các loại thiết bị lên xuống dành cho ngƣời khuyết tật lắp trên xe khách, xebuýt đáp ứng tiêu chuẩn về giao thông tiếp cận.1. Khảo sát các loại thiết bị dành cho ngƣời khuyết tật lắp trên xe khách xe buýt đang ápdụng trên thế giớiể ngƣời khuyết tật có thể thuận lợi khi tham gia giao thông, xe buýt thành phố có gắn thêm cơcấu nâng hạ để trợ giúp ngƣời khuyết tật. goài ra họ cũng đã sử dụng loại xe du lịch cá nhân cógắn cơ cấu trợ giúp ngƣời khuyết tật để ngƣời khuyết tật có thể tự điều khiển phƣơng tiện...
Xem thêm

81 Đọc thêm