MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CNH - HĐH Ở VN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Một số vấn đề thực tiễn và cơ sở lý luận đối với quá trình CNH - HĐH ở VN":

Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của lý luận đối với thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó trong quá trình đổi mới kinh tế ở việt nam hiện nay

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó thì thực tiễn quyết định lý luận, tuy nhiên lý luận cũng có sự tác động mạnh mẽ trở lại thực tiễn: nếu lý luận đúng đắn thì nó sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển của thực tiễn; trong trường hợp ngược lại, nếu lý luận lạc hậu, sai lầm, không khoa học thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức và vận dụng đúng quan điểm triết học Mác Lênin về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt là vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong những năm trước đổi mới, nhất là giai đoạn 19751986, đã có lúc chúng ta đề ra những chủ trương, đường lối không thực sự xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế, do vậy những chủ trương này đã tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Trước thực trạng nền sản xuất trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn,… Đảng ta đã chủ động khắc phục những sai lầm về mặt lý luận, đồng thời đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Có thể khẳng định rằng, chủ trương đổi mới nói chung, đổi mới về kinh tế nói riêng chính là một lý luận khoa học xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Do vậy, lý luận này đã có những tác động rất tích cực đối với thực tiễn nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to lớn, nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, nền sản xuất có bước phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nhận thức để giải quyết, đặc biệt là trong quan hệ sản xuất vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không phù hợp đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất; tình trạng yếu kém và ẩn chứa nhiều tiêu cực của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; nguy cơ bị lệ thuộc về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,… Tình hình đó đòi hỏi chúng ta cần phải chú trọng việc tổng kết thực tiễn, nhất là những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trên lĩnh vực kinh tế.
Xem thêm

87 Đọc thêm

THỰC TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN QUÁN HÀU, HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

THỰC TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN QUÁN HÀU, HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

cơ sở vật chất cần thiết để ứng dụng những thành tựu khoa học mới nhất chế tạonhững sản phẩm công nghệ cao phục vụ đời sống, hình thành một thị trường rộnglớn và năng động thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hóa, tạo điều kiện cho sự pháttriển xã hội nhanh chóng, thì tồn tại những tiêu cực không thể tránh khỏi như: giatăng liên tục số lượng chất thải rắn, chất thải nước và chất thải khí vào môi trường,các loại chất thải này ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân tạikhu vực gây nên ô nhiễm nguồn nước, không khí, tạo điều kiện cho vi khuẩn và cácloại bệnh tật phát triển. Mức phát thải trung bình đô thị VN là 21.500 tấnCTRSH/ngày (năm 2008), dự báo đến năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3lần hiện nay. Tác động tiêu cực của rác thải nói chung là rất rõ ràng nếu như nhữngchất thải này không được quản lý thu gom và xử lý đúng kỹ thuật môi trường. Nếunhư những nhà quản lý nhà khoa học tạo điều kiện giúp đỡ và nâng cao nhận thứccộng đồng, cho các doanh nghiệp và đặc biệt là cho họ tiếp cận với công nghệ xử lývà ứng xử với rác một cách thân thiện thì ngược lại, rác thải sẽ là một trong nhữngtài nguyên quý giá phục vụ lại cho con người. Vấn đề xử lý rác thải nói chung vàrác thải rắn sinh hoạt nói riêng đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng các quốcgia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việt Nam, thực tế việc quản lý và xử lýrác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi: 20%không được thu gom và nằm tại các con đường, khu phố, công viên....; 80% đượcthu gom trong đó 95% được chôn lấp các bãi chôn lấp tập trung, trong khi 82/89bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, 439 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng. Chính vìvậy, vấn đề rác thải đang là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết.Quán Hàu là một thị trấn thuộc huyện Quảng Ninh cách thành phố ĐồngHới 5km về phía Nam. Trong mấy năm trở lại đây, bộ mặt kinh tế xã hội đã có2nhiều bước phát triển, nhiều cơ sở công nghiệp, dịch vụ, thương mại được hìnhthành, bộ mặt đô thị đã có nhiều khởi sắc. Cùng với sự phát triển đó thì dân số khuvực ngày càng gia tăng, sức ép về rác thải sinh hoạt đang là mối quan tâm của
Xem thêm

5 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ CỦA ĐẢNG TA QUA CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

TIỂU LUẬN CAO HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ CỦA ĐẢNG TA QUA CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

MỞ ĐẦU

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp là một bộ phận hợp thành hệ thống tư tưởng kinh tế của Người, bao gồm hệ thống những luận điểm lý luận toàn diện và sâu sắc được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những kinh nghiệm, truyền thống đặc sắc của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nền nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu tiến dần lên nền nông nghiệp hiện đại, khoa học – kỹ thuật tiên tiến, có khả năng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp không những có ý nghĩa thực tiễn to lớn, mà còn là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng đã và đang được Đảng và Nhà nước ta vận dụng để xây dựng phát triển nền kinh tế nông nghiệp nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà nó còn có giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng nông nghiệp của Hồ Chí Minh để xây dựng thành đường lối phát triển kinh tế nói chung, đường lối phát triển nông nghiệp nói riêng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, tôi lưa chọn tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Sự vận dụng tư tưởng đó vào phát triển kinh tế của Việt Nam
Xem thêm

15 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

Họ
c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong sự
phát triển của mỗi quốc gia, việc nâng cao vai trò của lao động trong phát triển kinh
tế luôn là một câu hỏi lớn của các nhà hoạch định chính sách. Việt Nam với xuất
phát điểm là một nước nông nghiệp do đó lao động nông thôn chiếm một phần lớn
trong cơ cấu lao động cả nước, tuy nhiên lao động trong khu vực nông thôn là
những lao động chưa qua đào tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế vì thế năng
suất lao động ở khu vực này rất thấp. Trong quá trình CNH HĐH đất nước, tốc độ
đô thị hóa diễn ra nhanh chóng thì lao động trong khu vực nông thôn sẽ là những
đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Việc nâng cao năng lực cho lao động nông thôn sẽ
giúp cho họ có nhiều việc làm hơn, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của
chính họ và bộ mặt của khu vực nông thôn, khu vực được coi là giá đỡ của nền kinh
tế quốc dân. Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng góp phần giúp cho
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn, đó cũng là cơ sở để áp dụng khoa
học công nghệ trong khu vực nông thôn, từ đó tạo sự bình đẳng hơn giữa nông thôn
và thành thị. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề tam nông và việc đào
tạo nghề cho lao động nông thôn cũng được quan tâm từ lâu. Việc đào tạo nghề có ý
nghĩa thiết thực trong phát triển kinh tế xã hội, đó có thể hiểu là việc trao cho họ
chiếc “cần câu” mà đôi khi việc này còn tốt hơn rất nhiều so với việc cho họ những
“con cá”. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ là bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội của đất nước.
Mặc dù, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến vấn đề giải quyết
công tác đào tạo cho người lao động, nhưng khi được áp dụng vào thực tế thì còn nhiều
điều chưa thực sự phù hợp và không sát với thị trường việc làm đòi hỏi hiện nay. Việc
nghiên cứu hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn có ý nghĩa thiết
thực cả về lý luận và thực tiễn cần trả lời.
Về mặt lý luận giúp làm rõ lý luận và quan điểm về tình hình thực hiện chính
Xem thêm

112 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, cũng như đối với việc nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 1941946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.Vào những năm đất nước bước vào giai đoạn chuẩn bị cho nhiệm vụ thực hiện các kế hoạch dài hạn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung, phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”.Trong Bài nói với cán bộ ở Trung ương về xã tham gia cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật (đăng trên báo Nhân Dân, số 3300, ngày 941963), Người nói: “... Có gì sung sướng bằng được góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển nông nghiệp, nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Với tư tưởng coi trọng nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện phẩm chất một nhà lãnh đạo am hiểu sâu sắc thực tiễn của đất nước mình. “Lấy nông nghiệp làm chính” và “Phải bắt đầu từ nông nghiệp” đã trở thành quy luật trong nhiệm vụ kinh tế xã hội giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đối với những nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta.Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng nông nghiệp của Hồ Chí Minh để xây dựng thành đường lối phát triển kinh tế nói chung, đường lối phát triển nông nghiệp nói riêng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, tôi lưa chọn nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Việc vận dụng tư tưởng đó ở Việt Nam hiện nay để làm rõ hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp không những có ý nghĩa thực tiễn to lớn, mà còn là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng đã và đang được Đảng và Nhà nước ta vận dụng để xây dựng phát triển nền kinh tế nông nghiệp nước ta, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà nó còn có giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc
Xem thêm

25 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế: Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH

1. Tính cấp thiết của đề tàiĐối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nền KTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng lao động xã hội, đóng góp 20,36% GDP( ) của đất nước.Trong quá trình thực hiện CNH HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT, đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân 4 4,5%năm. Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm ngư nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn các vùng quê. Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên cả tinh thần và vật chất. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được thế giới đánh giá cao…Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộ những mặt yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai.Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNT nước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH HĐH với bối cảnh hội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảm bảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH HĐH đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp). Đó đang là những vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiCho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Nam của Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh. Con đường CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành. Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và TS. Phạm Bích Hợp. CNH từ nông nghiệp của TS. Đặng Kim Sơn. Nông nghiệp Nông dân nông thôn là vật cản hay động lực cho tăng tốc CNH của TS. Đặng Kim Sơn Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH HĐH của Nguyễn Văn Tâm. Đổi mới quản lý ở cấp huyện xã đối với nông nghiệp nông thôn của TS. Chu Tiến Quang. Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn thực trạng và định hướng của TS. Chu Tiến Quang.Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn nhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướng XHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàn diện các vấn đề nêu ở trên.Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hành CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ở nước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH (2000) đến nay. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình phát triển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.4. Mục đích nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điều kiện nước ta. Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phát sinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giải pháp để khắc phục.Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnh hơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH HĐH mà Đảng đã đề ra.5. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lần thứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X. Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm của một số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và công trình khoa học đã công bố.Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiện CNH HĐH.Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sát thực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ cho việc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài.6. Những đóng góp mới về khoa học. Hệ thống hoá các tác động tích cực và hệ quả tiêu cực có tính phổ biến của quá trình CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hệ quả tiêu cực trên. Qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu để hạn chế tác động tiêu cực, thúc đẩy quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tăng tốc hơn nhưng vẫn đảm bảo cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đáp ứng được các mục tiêu của CNH HĐH trong bối cảnh hội nhập.7. Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau Mở đầu Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Chương 2. Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 2007. Chương 3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
Xem thêm

119 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PGBANK CN THĂNG LONG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PGBANK CN THĂNG LONG

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong công cuộc đổi mới đất nước, vốn là một yếu tố không thể thiếu, là điều kiện tiên quyết để tiến hành mọi hoạt động. Trong doanh nghiệp, vốn là một trong những yếu tố quyết định tới sự thành công trong quá trình hoạt động. Đối với một ngân hàng - một đơn vị kinh doanh vốn lại càng quan trọng bởi không có vốn, ngân hàng sẽ không thể tồn tại. Nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là huy động từ các tổ chức kinh tế và vốn nhàn rỗi trong dân cư.
Không nằm ngoài quy luật chung đó, Ngân Hàng PGBank nói chung và CN Thăng Long (PGBank) nói riêng đã và đang không ngừng đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường và trở thành một trong những NH hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, PGBank Thăng Long luôn giữ vai trò quan trọng và cũng là một trong những đơn vị hàng đầu trong nước trong việc cung ứng vốn đầu tư phát triển nền kinh tế trong sự nghiệp CNH – HĐH, phục vụ quá trình hội nhập và phát triển.
Xuất phát từ ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn nêu trên, vấn đề “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng PGBank CN Thăng Long” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu thực tập của em..
Xem thêm

41 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HẢ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN HẢ

1. Tính cấp thiết của đề tài Thông tin là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt là đối với xã hội hiện đại. Nhờ có sự phát triển của khoa học công nghệ, thông tin đến với đông đảo cư dân ở mọi vùng, miền một cách kịp thời, nhất là trong thời kỳ đất nước thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, hội nhập quốc tế. Báo chí phải góp phần cung cấp tri thức cho nhân dân, định hướng dư luận xã hội, tăng cường nhất quán về chính trị, tư tưởng của khối đại đoàn kết toàn dân; biểu dương các nhân tố mới; tích cực đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái; giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.Tầm quan trọng của báo chí ngày nay không còn lệ thuộc hoàn toàn vào thang bậc của thời kỳ bao cấp: cấp 1, cấp 2, cấp 3; mà chính sự tín nhiệm của công chúng quyết định vị trí của nó. Báo chí chỉ thực sự hữu ích khi vừa là công cụ trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đồng thời trở thành diễn đàn của quần chúng phục vụ nhu cầu phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy, báo chí có sứ mệnh thoả mãn nhu cầu xã hội về tiếp nhận thông tin, sự tồn tại và phát triển của xã hội lại rất cần đến báo chí. Đó là mối quan hệ qua lại giữa công chúng và báo chí, nó mang ý nghĩa thực tiễn trên nhiều bình diện. Có công trình khoa học đã khẳng định, “Tác động, chi phối hay điều chỉnh đối tượng nào lại càng phải nghiên cứu đối tượng ấy... Hoạt động báo chí truyền thông luôn lấy con người làm đối tượng tác động, đối tượng phản ánh, đối tượng điều chỉnh cho nên lại càng phải nghiên cứu đối tượng ấy”36, tr.199200Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta vừa là mục tiêu của xã hội, vừa là thực tiễn sinh động hằng ngày tác động đến tâm lý, nhu cầu, nhận thức, hành động của quần chúng. Nghiên cứu NCĐK tiếp nhận SPBC của công chúng mang tính thiết thực, có thể làm cơ sở phục vụ cho việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Việc nghiên cứu NCĐK tiếp nhận SPBC của công chúng ở khía cạnh định lượng và định tính có cơ sở khoa học, cụ thể, khách quan,... rất cần thiết đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý nói chung, hoạt động TTĐC nói riêng. Nhiều công trình khoa học chỉ rõ, hiệu quả của TTĐC phụ thuộc vào sự tiếp nhận của công chúng, “việc nghiên cứu nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác động bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng”61, tr.27.CDNT chiếm hơn 70% trong cơ cấu dân số nước ta24 và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đang trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất, họ không còn đơn thuần lao động theo kinh nghiệm mà đã từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Họ từng bước làm quen với tác phong làm việc có tư duy, phản biện, nhận diện vấn đề để thích ứng với cái mới, làm việc chủ động hơn. Họ cũng rất cần tiếp nhận thông tin về tình hình kinh tế chính trị văn hoá xã hội để nâng cao nhận thức trong xu thế hội nhập. Mặt khác, cơ cấu CDNT đang có sự biến đổi, kéo theo đó là nhu cầu tiếp nhận SPBC cũng thay đổi; muốn nâng cao năng lực và hiệu quả tác động đối với nhóm cư dân này đòi hỏi báo chí phải nắm bắt và đáp ứng nhu cầu của họ.Từ thực tiễn cuộc sống, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển lâu dài của nền kinh tế xã hội. Sự biến đổi theo hướng văn minh ở nông thôn và sự trưởng thành về nhiều mặt của CDNT đã, đang và sẽ tác động mạnh đến quá trình ổn định và phát triển đất nước. Để CNH, HĐH thành công, một phần lớn phải do chính CDNT tự nhận thức và tiến hành một cách chủ động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Muốn tiến hành và thực hiện tốt công cuộc xây dựng nền kinh tế vững mạnh, xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh; tất yếu phải coi trọng và phát huy nhân tố con người, đặc biệt là yếu tố tinh thần của CDNT. Việc đánh giá thực trạng NCĐK tiếp nhận SPBC của CDNT góp phần nâng cao dân trí, đồng thời là một bảo đảm quan trọng cho sự nghiệp CNH, HĐH, thúc đẩy nông thôn phát triển bền vững.Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng NCĐK tiếp nhận SPBC của CDNT nhằm nắm bắt những thông tin cần thiết phải được tiến hành thường xuyên. Từ đó giúp các cơ quan TTĐC, các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí có sự bổ sung, điều chỉnh kịp thời, hợp lý, đạt được hiệu quả tuyên truyền cao, tạo điều kiện thuận lợi để CDNT tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình CNH, HĐH. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho CDNT. Về NCĐK tiếp nhận SPBC đã có một số nghiên cứu, nhưng NCĐK tiếp nhận SPBC của CDNT đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở Hải Dương nói riêng chưa có công trình nào đề cập; trong khi đó, cư dân vùng này có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn về NCĐK tiếp nhận SPBC của công chúng luôn luôn vận động, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của cư dân nông thôn Hải Dương”. Luận văn mong muốn góp phần đưa nhận thức về CDNT theo hướng cụ thể hơn; đặc biệt, trên cơ sở nhận diện NCĐK tiếp nhận SPBC. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của báo chí đối với CDNT; góp phần xây dựng nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả.
Xem thêm

116 Đọc thêm

Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây

TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM, THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÀ TÂY

I. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều thập kỉ qua, làn sóng công nghiệp hóa, hiện đại hoá diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia trên thế giới, ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Với nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH trong thời kỳ đổi mới được coi là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, là một tỉnh nằm kề Thủ đô với nhiều tiềm năng phát triển, Hà Tây đã huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và đã trở thành một trong những tỉnh có tốc độ CNH, HĐH cao nhất trong cả nước.
Sau hơn 10 năm đổi mới, kinh tế xã hội của Hà Tây có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được, quá trình CNH, HĐH cũng đặt ra cho tỉnh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết. Trong đó nổi cộm lên là vấn đề việc làm, thu nhập cho lao động nông nghiệp bị mất đất trong quá trình CNH, HĐH đang ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có những chính sách can thiệp hợp lý, nếu không sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Vì vậy, nghiên cứu về “Tác động của CNH, HĐH đến vấn đề việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây” vừa có ý nghĩa thực tế vừa có ý nghĩa lâu dài cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tây nói riêng và của nước ta nói chung.
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá một số lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Phân tích, đánh giá thực trạng CNH, HĐH và tác động của quá trình CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của CNH, HĐH đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là những lao động nông nghiệp chịu sự tác động của quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây. Đồng thời nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Tây: Địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, dân số, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng,…từ đó đưa ra những giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến người lao động.
Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi các đối tượng ở tỉnh Hà Tây khoảng 10 năm trở lại đây và nghiên cứu trong thời gian tới.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu của toàn chuyên đề.
Phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế và các phương pháp tổng hợp, phương pháp logic,… được sử dụng để phân tích, xử lý các số liệu về việc làm, thu nhập của lao động nông nghiệp Hà Tây và các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
V. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về CNH, HĐH và tác động của nó đối với việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng lao động việc làm và đời sống của lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chính để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
Xem thêm

76 Đọc thêm

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn .

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN .

Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới(1986-1996) với đại hội VIII của Đảng, nước ta chính thức bước vào thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Ngành Thống kê có nhiệm vụ thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin thống kê phản ánh thức trạng nền kinh tế xã hội. Với xu hướng phát triển để dự báo ngắn hạn, dài hạn, giúp cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước có căn cứ đánh giá đúng đắn và kịp thời diễn biến về quá trình CNH-HĐH, để có giải pháp điều chỉnh, bổ sung, thúc đẩy có hiệu quả quá trình CNH-HĐH đất nước.

Từ những năm thực hiện đổi mới đến nay, hẹ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội đang được hoàn chỉnh dần cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH là một bộ phận của hệ thống chỉ tiêu nói chung, có nhiệm vụ phản ánh những yêu cầu và nội dung CNH-HĐH trong từng thời kỳ. Đó là sự tác động của CNH và khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động của các ngành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với nước ta.,hiện nay còn là một nước dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dân số sống ở nông thôn là chủ yếu. Do đó, để thực hiện CNH-HĐH đất nước thì CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn chiếm một vị trí rất quan trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặc biệt coi trọng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn , coi đó là nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Chính vì vậy, Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò khoa học công nghệ, đẩy nhanh một bước sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã xây dựng nhiều chỉ tiêu chi tiết, cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực nông nghiệp để phản ánh một cách đúng đắn và chính xác tình hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng hệ thống chỉ tiêu thống kê vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục, đây cũng là lý do khiến em chọn hướng nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn . Chuyên đề của em gồm 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về CNH-HĐH.

Chương II : Một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chỉ tiêu
thống kê.

Chương III: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn .

Để hoàn thành chuyên đề, em trân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác ở Viện Khoa học Thống kê và các thầy cô giáo ở trường. Đặc biệt, em xin cám ơn TS. Nguyễn Xuân Tường và cô Trần Thị Bích là hai người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực tập và trong cả quá trình nghiên cứu để hoàn thành chuyên đề.
Xem thêm

64 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNHI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đã nói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâu thuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nội dung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc ban đầu ’’ 26; 297.
Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích lũy tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’’. Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. CNH, HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sức cần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như Minh Hóa ở Quảng Bình. Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quy luật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng như khả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu những mâu thuẫn đó không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện.
Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vào thực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung và người làm công tác triết học nói riêng.
Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyết mâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa, Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung
Xem thêm

74 Đọc thêm

Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

1. Sự cần thiết của đề tài

Ngay từ khi mới dành được độc lập, Bác Hồ đã đã coi giải phóng phụ nữ là giải phóng được một phần hai sức lao động trong toàn xã hội. Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập, Người đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ, trong đó có quyền bình đẳng về lao động. Kể từ đó phụ nữ được tham gia lao động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay lực lượng lao động nữ trong giới trí thức chiếm tới 48%, trong lao động công nghiệp chiếm tới 53%, và trong lao động nông nghiệp là 60%. Lao động nữ giữ một vị trí cao hơn cả nam giới trong rất nhiều ngành nghề. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới vai trò của phụ nữ càng được phát huy trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm lao động nữ là ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ. Bởi thế họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định. Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản, chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo vệ quyền lợi và quyền bình đẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng.
Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình này, lực lượng lao động nữ không những lớn mạnh cả về số lượng mà cả về chất lượng. Sự chú ý đối với họ ngày càng gia tăng từ các quan điểm nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về giới. Lực lượng lao động Nữ đa số còn trẻ, có sức khỏe, chăm chỉ, cần cù, khéo léo… trong công việc cũng như trong đời sống gia đình, đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển của đất nước. Mặt khác, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, lao động Nữ đang có nhiều điều kiện được học tập, tiếp xúc với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, làm nâng cao năng suất lao động, giúp giải phóng bớt được sức lao động cho phụ nữ. Nhờ đó, lao động nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn để chăm sóc bản thân và gia đình, góp phần vào sự bình ổn của xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của phụ nữ nói chung và nguồn lao động nữ nói riêng. Một bộ phận phụ nữ còn không được học hành cơ bản, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng chuyên môn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức khoa học để làm việc và sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó là tình trạng gia tăng các tệ nạn xã hội như bạo hành phụ nữ, buôn bán phụ nữ, mại dâm, nghiện hút,...và sự bất bình đẳng giữa nam, nữ trong một bộ phận xã hội còn biểu hiện tương đối nặng nề. Từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của lao động nữ. Đồng thời các văn bản, chính sách đối với lao động nữ trước đây đã bộc lộ những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình đất nước trong thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các chính sách đó chủ yếu mới chỉ nhìn nhận từ góc độ bình đẳng giới, chưa bao quát cả ở góc độ phát triển kinh tế xã hội, và có những điểm không còn phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Do vậy, Nhà nước cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho lao động Nữ, khai thác và sử dụng nguồn lao động nữ có hiệu quả, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế, nhằm góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém thông qua việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ để nghiên cứu. Đồng thời mạnh dạn đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ Việt Nam nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã đề cập đến bình đẳng giới, và nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ. Có một số đề tài nghiên cứu về chính sách lao động nữ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện chính sách đối với nguồn lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chích sách đối với lao động Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
Phân tích, làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đánh giá đúng thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ thông qua việc đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém,bất cập trong quá trình thực hiện chính sách
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lao động Nữ đã được triển khai từ trước tới nay và các đối tượng tham gia lao động trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam.
Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với lao động nữ với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách đối với lao động nữ của Việt Nam. Phạm vi về mặt thời gian chủ yếu là từ giai đoạn sau đổi mới kinh tế, đặc biệt là từ khi có Bộ Luật lao động năm 1995 đến nay, trong đó tập trung đánh giá là từ năm 2000 đến nay. Phần kiến nghị, phương hướng giải pháp cho đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh.. để làm rõ nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: nghiên cứu và phân tích tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn, điều tra xã hội học và phân tích thống kê. Kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành đối với nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới, lao động và việc làm ở nước ta hiện nay.
6, Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Góp phần khái quát hoá và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động nữ và chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và làm rõ những hạn chế, bất cập của các chính sách cũng như nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất quan điểm và các giải pháp khắc phục được những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Tên đề tài :
Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xem thêm

107 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY, TỈN

TIỂU LUẬN CAO HỌC PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY, TỈN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn:
Về lý luận, hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế vừa có ý nghĩa kinh tế vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Có thể nói, ý tưởng HTX là một ý tưởng hợp tác kinh tế vĩ đại của các bậc tiền bối. Ý tưởng này đã hình thành một cách tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong hoạt động kinh tế. Những lý luận về kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã đã được Mác, Ăngghen, LêNin nghiên cứu và đi vào hoạt động thực tiễn của nước Nga. Dựa trên cơ sở lý luận đó cùng với việc hiểu được vị trí, vai trò, ý nghĩa của “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế”. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, HTX cũng được đổi mới cả về nội dung, hình thức hoạt động, biểu hiện cụ thể ở việc ban hành Luật HTX (năm 1996). Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới của các HTX nông nghiệp vấp phải rất nhiều khó khăn làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi HTX theo Luật HTX (1996), Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (32002) đã ra Nghị quyết về: Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trong đó nhấn mạnh Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho HTX nông nghiệp phát triển. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI (ngày 26112003) đã thông qua Luật HTX mới (Luật HTX năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 172004).
Về thực tiễn, sau 7 năm hoạt động theo tinh thần của Luật HTX mới 2003, các HTX đã có những bước phát triển nhưng chưa đều, chưa thực sự đi sâu, đi sát vào đời sống của người lao động nhất là các hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) ở các địa phương. Điều đó cho thấy, để phát triển HTX, trong đó có HTXNN, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách.
Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình – được biết đến là một huyện thuần nông và phát triển kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của huyện. Để phát triển nông nghiệp thì một yếu tố giữ vai trò quan trọng đó chính là hoạt động của các HTXNN. Từ khi triển khai thực hiện Luật HTX năm 1996 và năm 2003 đến nay, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy có bước phát triển mới, đã đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân, của hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tếxã hội của địa bàn. Tuy nhiên, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy cũng còn tồn tại một số yếu kém như: Hầu hết các HTXNN kiểu mới đều thiếu vốn, trong lúc các thủ tục để vay vốn còn nhiều bất cập; cơ sở vật chất, kỹ thuật của các HTXNN vừa thiếu, vừa lạc hậu nên gây nhiều khó khăn trong việc mở rộng hoạt động SXKD; thiếu cán bộ có năng lực quản lý, có tâm huyết và khả năng điều hành các hoạt động; phương hướng kinh doanh không ổn định. Vì vậy, hiệu quả kinh tế của HTX còn thấp, thu nhập của người lao động trong các HTX còn thấp, sức hấp dẫn của các HTXNN chưa cao, HTX nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò kinh tếxã hội vốn có của nó…
Như vậy, sự tồn tại của các HTX nông nghiệp kiểu mới là cần thiết nhất là trong quá trình huyện đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Nhưng không phải là sự tồn tại một cách hình thức mà phải thực sự hoạt động có hiệu quả thì người nông dân mới thấy hết được ý nghĩa, vai trò của nó. Vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra đối với huyện Thái Thuy, tỉnh Thái Bình là phải đánh giá đúng tình hình và kết quả hoạt động của các HTX, rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế của các HTX nông nghiệp kiểu mới.
Đề tài “Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, để nhìn lại quá trình hoạt động của HTX DVNN trong những năm qua, rút ra những hạn chế, những bài học thành công. Từ đó, đề ra các giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu, các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của một HTX DVNN. Hướng tới mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm sắp tới của huyện
Xem thêm

20 Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc khách quan và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC, THỰC TIỄN

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc khách quan và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Nội dung nguyên tắc khách quan và những ứng dụng trong đời sống. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu nội dung và sự vận dụng của nguyên tắc trong thời kỳ Cách mạng XHCN và trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Kết cấu của đề tàiPhần I: Lý luận chung về nguyên tắc khách quan1.Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan1.1.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức1.2. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vai trò của ý thức đối với vật chất (Tại sao phải tôn trọng và hành động theo nguyên tắc khách quan)2.Nội dung nguyên tắc khách quan2.1.Trong hoạt động nhận thức2.2.Trong hoạt động thực tiễnPhần II: Vận dụng nguyên tắc khách quan trong hoạt động nhận thức và thực tiễn1.Vận dụng trong hoạt động nhận thức1.1.Góp phần xây dựng năng lực tư duy biện chứng1.2. Căn bệnh chủ quan duy ý chí1.3. Về bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa2. Vận dụng nguyên tắc khách quan trong hoạt động thực tiễn2.1. Trong cách mạng XHCN ở Việt Nam2.2.Trong quá trình CNH – HĐH ở Việt NamKẾT LUẬN
Xem thêm

31 Đọc thêm

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCHCHO ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH NGHỆ AN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCHCHO ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH NGHỆ AN

đặc điểm đó, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhândân và đảm bảo an ninh quốc phòng thì đầu tư XDCB nói chung và đầu tư XDCB từNSNN nói riêng đóng vai trò rất quan trọng. Trong thời gian qua, công tác quản lý chingân sách cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ An vẫn còn một số hạn chế, bất cập như: Đầutư giàn trải, thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả…Trước thực trạng đó để quản lý chi đầu tưXDCB trên địa bàn Tỉnh có hiệu quả vì thế tôi chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý chi ngânsách cho đầu tƣ XDCB của Tỉnh Nghệ An” nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ, chuyênngành Quản lý Kinh tế.22. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn2.1 Mục đích nghiên cứu:Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luậnvà thực tiễn của công tác quản lý chi ngân sách cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ An từ đóđề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nướctrong hoạt động quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Nghệ An nói riêng và hoạt độngquản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Việt Nam nói chung hiện nay.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:Để thực hiện mục tiêu đề ra, luận văn xác định những mục tiêu sau:- Hệ thống hóa lý luận về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB, những vấn đề cầnnghiên cứu giải quyết.- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Tỉnh NghệAn để thấy rõ những thành công và hạn chế trong công tác này, từ đó chỉ ra.- Đề xuất phương hướng và giải pháp có tính thiết thực lý luậnthực tiễn trongquản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ An.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:Hoạt động đầu tư XDCB là một hoạt động phức tạp vì vậy trong khuôn khổ luậnvăn thạc sỹ chỉ tập trung làm rõ một số vấn đề lý luậnthực tiễn trong công tác quản lý
Xem thêm

13 Đọc thêm

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”

ĐỀ TÀI “VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ QUẢNG NINH”

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được triển
khai sâu, rộng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Do đó, đòi hỏi lực lượng lao động được đào tạo cơ bản
theo hướng vừa “hồng”, vừa chuyên. Nghĩa là vừa có phẩm chất chính trị, đạo
đức, vừa có năng lực chuyên môn nghề nghiệp cao, sáng tạo trong mọi hoạt
động thực tiễn. Để đáp ứng yêu cầu trên, cần phải có sự đầu tư cả về qui mô
và chất lượng, trong đó trách nhiệm quan trọng trước hết thuộc về ngành giáo
dục và đào tạo.
Đại hội XI khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo
theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo. Trong đó, đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục
truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng
thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [24, 126]. Như
vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng gắn lý luận với thực tiễn là
yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây là nhiệm vụ quan trọng không chỉ đối với đội
ngũ giảng viên mà cả đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và toàn xã hội.
Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học chính là
thực hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã
hội, với sản xuất và trong từng môn học, rèn luyện năng lực sáng tạo nhằm
nâng cao năng lực thực tiễn của người học. Đây là nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Trong thực tế việc dạy học các môn lý luận Mác - Lênin nói chung và
môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng chưa thực sự tích cực, sáng tạo, trong
việc phát hiện, tìm tòi, vận dụng vào thực tiễn, nên đã làm cho quá trình tiếp
ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
dạ
y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
2
thu tri thức của sinh viên trở nên nặng nề và thụ động. Các kiến thức cơ bản
về lịch sử cũng như về chính trị, kinh tế và xã hội chưa được sinh viên hiểu và
vận dụng một cách có hiệu quả. Nội dung bài giảng của các giảng viên còn
nặng về lý thuyết, ít được lý giải, minh chứng bằng thực tiễn sinh động. Thực
trạng đó đã tác động không nhỏ tới thái độ sinh viên trong việc tiếp cận môn
học. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình giảng dạy cần có sự gắn
kết giữa nội dung của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn sinh động,
qua đó sinh viên sẽ được rèn luyện kỹ năng, được giáo dục thái độ, hành vi
ứng xử trong những tình huống thực tế, những biến đổi lớn lao của sự phát
triển kinh tế - xã hội đất nước.
Mặt khác, với một trường mang tính chất đặc thù cao như trường Cao
đẳng Y tế Quảng Ninh, sinh viên là những người có xu hướng theo chuyên
ngành đào tạo, vì thế, những bài học mang tính chất lý luận với các phương
pháp truyền thống không tạo được tâm lý hứng thú cho sinh viên cả trong quá
trình nghe giảng cũng như tự học, tự nghiên cứu. Điều này đã làm giảm sự
ham muốn nghiên cứu của sinh viên, thậm chí tạo ra tâm lý sợ học môn này,
sinh viên sẽ có những suy nghĩ chống đối học là để thi cho qua.
Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình dạy học, đặc biệt với tư
tưởng Hồ Chí Minh phải có sự gắn kết giữa nội dung (lý luận) của môn học
với thực tiễn đời sống. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề:
“Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học
môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” làm đề
tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành lý luận và phương pháp giảng dạy giáo dục
chính trị là cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo của nhà trường hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đổi mới giáo dục Đại học, Cao đẳng là một trong những chủ đề nóng
ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
dạ
y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
3
hiện nay ở Việt Nam. Trên nhiều diễn đàn, vấn đề đổi mới nội dung, phương
pháp giảng dạy, gắn nội dung dạy học với thực tiễn cuộc sống là vấn đề thu
hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cũng như
chính đội ngũ cán bộ, giảng viên. Tiêu biểu cho
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
Xem thêm

136 Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

Tiểu luận triết học: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.PHẦN I : MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÊN PHẠM TRÙ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I Phạm trù lý luận và phạm trù thực tiễn1.Nhận thức luận của các nhà triết học trước Mác2. Phạm trù thực tiễn và lý luận trong triết học MacLenin2.1 Phạm trù thực tiễn:2.2 Phạm trù lý luận2.3 Vai trò rất to lớn của thực tiễn đối với nhận thứcII Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 1. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn2. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn3. Lý luận và thực tiễn là thống nhất4. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin.5. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn góp phần thúc đẩy sự phát triển của trình độ nhận thứcPHẦN II : VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNGI.Quá trình phát triển kinh tế Việt NamII. Lý luận thực tiễn trong sự phát triển kinh tế xã hội và đổi mới kinh tế hiện nay2.1 Sự phát triển kinh tế xã hội 2.2 Nghiên cứu tham khảo : “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Hội thảo khoa học quốc gia tại trường ĐH KTQD ngày 22092009)III . Phương hướng giải pháp cho thời gian tới1) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các tri thức khoa học mà nhân loại đã đạt được vào điều kiện cụ thể của nước ta2) Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.3) Trong giáo dục, đào tạo phải kết hợp lý luận với thực tiễn, học với hành4) Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Xem thêm

31 Đọc thêm

BÀI GIẢNG HỆ PHÂN TÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ PHÂN TÁN

BÀI GIẢNG HỆ PHÂN TÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ PHÂN TÁN

Như đã được trình bày trong chương trước, HĐH hiện đại thường tập trung vào chức năng máy tính ảo, nhấn mạnh mức dịch vụ hệ thống và vì vậy thuận tiện hơn quan niệm HĐH phân tán như một bộ tích hợp các dịch vụ hệ thống cho phép trình diễn cái nhìn trong suốt tới hệ thống máy tính với tài nguyên và điều khiển phân tán (đặt tại nhiều vị trí địa lý khác nhau). Có thể nói HĐH phân tán là HĐH kết nối chặt về phần mềm trên nền tảng kết nối lỏng về phần cứng. Theo một cách nói khác, HĐH phân tán cung cấp cho người sử dụng cách thức làm việc như với một HĐH tập trung trong điều kiện phân tán cả phần cứng lẫn phần mềm.
Một vấn đề đặt ra cho chính khái niệm HĐH phân tán. Tồn tại nhiều cách hiểu về HĐH phân tán, song có rất hiếm tài liệu cho một định nghĩa chính thức về HĐH phân tán. Trong nhiều ngữ cảnh, người ta còn sử dụng khái niệm "hệ phân tán" thay thế cho khái niệm "HĐH phân tán". Chúng ta chấp nhận định nghĩa được đưa ra trong [8]:
Hệ phân tán là tổ hợp bao gồm các máy tính độc lập với trình diễn hệ thống như một máy tính đơn trước người dùng.
HĐH phân tán được phát triển trên cơ sở một số tiền đề sau đây:
-Thứ nhất, do nhu cầu tăng không ngừng việc chia xẻ tài nguyên và thông tin mà các HĐH đã có từ trước không đáp ứng được.
Trong quá trình triển khai ứng dụng Tin học vào đời sống, các mạng máy tính được phát triển không ngừng, các tài nguyên của các máy tính trong mạng (phần cứng, phần mềm) ngày càng được mở rộng và nâng cấp, giá trị các tài nguyên này càng tăng nhanh dẫn đến sự tăng trưởng vượt bậc nhu cầu chia xẻ tài nguyên và thông tin trong một hệ thống thống nhất. HĐH tập trung và HĐH mạng thuần túy không đáp ứng được nhu cầu đối với sự tăng trưởng đó.
Xem thêm

59 Đọc thêm

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

1. Lý do chọn đề tài
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên lý cơ bản nhất của triết học Mác Lênin. Đây là nguyên lý được thể hiện trong mọi mặt của đời sống, giúp con người tránh khỏi bệnh kinh nghiệm giáo điều, đồng thời có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của thực tiễn cũng như lý luận.
Trong lý luận nhận thức mácxít thì giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó, thực tiễn có vai trò quyết định. V.I.Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”. 30; 230
Về vấn đề lý luận phải liên hệ thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.” 42; 496, đó là thứ lý luận xa rời và không giúp ích gì cho thực tế cuộc sống.
Hồ chí Minh yêu cầu người dạy và người học phải tuân thủ theo những cách thức, phương pháp nhất định trong quá trình giảng dạy và học tập lí luận chính trị.
Lấy triết học Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận của mình, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn vận dụng triệt để nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt, nguyên lý này đã được vận dụng hết sức sáng tạo và linh hoạt trong công tác giáo dục tư tưởng thời kì đổi mới hiện nay.
Học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay có tầm quan trọng hết sức đặc biệt và cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vấn đề này dường như đang bị xem nhẹ, nếu không nói là bị bỏ qua. Trong rất nhiều giờ giảng, giảng viên hầu như chỉ nhắc lại những điều đã có, đã được ghi chép một cách đầy đủ, rõ ràng trong sách vở, tài liệu. Nhiều giờ học trôi qua trong sự nhàm chán, nặng nề bởi giáo viên hầu như chỉ biết có lý thuyết suông. Bài giảng thiếu sức sống, không thuyết phục, không sinh động đang là một hiện tượng khá phổ biến tại các trường, các cơ sở đào tạo hiện nay. Hệ quả tất yếu kéo theo đó là chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, giảng dạy thấp, thậm chí đôi khi còn phản tác dụng và tạo ra tâm lý ức chế, khiên cưỡng, gò ép cho người học. Từ đó, nhiều người dễ cho rằng chính trị dường như là một lĩnh vực khô khan, thiếu sức sống, thiếu sức truyền cảm. Xuất phát từ thực trạng hiện nay các bài giảng của một số giảng viên về cơ bản mang nặng tính lý thuyết, thiếu tính thực tiễn nên nhiều người cho rằng dường như học chính trị chỉ là học một mớ lý thuyết mang tính kinh viện, sáo rỗng, không thực tế. Cũng xuất phát từ quan niệm sai lầm này mà trong thực tế nhiều sinh viên đã đến với các bài học, bài thi các môn chính trị bằng một tâm lý đối phó, chỉ chú trọng học vẹt, học thuộc lòng, học sao cho miễn là qua được các kỳ thi, còn bản chất vấn đề thì hầu như không hiểu hoặc không cần hiểu, niềm đam mê hứng thú hầu như không có. Với những quan niệm và tâm lý xuất phát điểm như vậy thì rõ ràng chất lượng, hiệu quả ở đây có lẽ là vấn đề đáng được báo động.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội” làm luận văn khoa học giáo dục.
Xem thêm

124 Đọc thêm

mÔN GIỚI THIỆU tác PHẨM mác lê NIN những quan điểm, tư tưởng chủ yếu của lênin về đảng và xây dựng đảng vô sản trong tác phẩm “làm gì ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu tác phẩm này đối với chúng

mÔN GIỚI THIỆU tác PHẨM mác lê NIN những quan điểm, tư tưởng chủ yếu của lênin về đảng và xây dựng đảng vô sản trong tác phẩm “làm gì ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu tác phẩm này đối với chúng

MỞ ĐẦU
Lê Nin đã để lại cho nhân loại di sản rất đa dạng và bao qúát nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng Đảng. Trong điều kiện mới Lênin đã kế thừa và phát triển lý luận khoa học của học thuyết Mác Ăngghen về xây dựng chính đảng vô sản của giai cấp công nhân. Ông đã có rất nhiều bài viết về vấn đề này nhằm khái quát lên những nguyên tắc, tư tưởng, cách tố chức về xây dựng một đảng vô sản như thế nào, trong đó tác phấm “Làm gì?” Lênin viết vào tháng 2 năm 1902 được coi là một tác phẩm rất quan trọng về vấn đề này.
Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử của thế giới và nước Nga thời kỳ đó. Nhằm mục đích chống lại và đánh bại khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa của “phái kinh tế” ở Nga, đồng thời cũng để chống chủ nghĩa cơ hội quốc tế, đặt cơ sở tư tưởng cho việc thành lập một chính đảng tập trung, thống nhất của giai cấp công nhân, Lênin đã tập hợp các bài viết trong báo “Tia lửa” với nhan đề “Bắt đầu từ đâu” thanh tác phấm “Làm gì?” nhằm định hướng, hướng dẫn cho những người dân chủ xã hội Nga những cách thức, phương pháp cách mạng phù hợp. Với tác phẩm “Làm gì?” này, Lênin đã phê phán kịch liệt quan điếm theo đuôi phong trào tự phát công nhân của “phái kinh tế” và khẳng định nguyên lý Đảng là lực lượng lãnh đạo tố chức phong trào công nhân; Lênin chứng minh nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác: Đảng vô sản là sự kết hợp phong trào công nhân và với chủ nghĩa xã hội khoa học; đã chỉ ra vai trò quan trọng của lý luận cách mạng đối với phong trào tự phát công nhân và đối với mọi tổ chức của Đảng; Lênin đưa ra quan điếm Đảng là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, lực lượng thống nhất chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Lênin còn chứng minh sự cần thiết phải cải tạo toàn bộ công tác Đảng, vạch rõ nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội, trước hết là ở chỗ sùng bái tính tự phát của phong trào công nhân và hạ thấp vai trò, tác dụng của lý luận cách mạng đối với phong trào công nhân.
Trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta đang trên con đường đổi mới và xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thực hiện phát triến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang có rất nhiều vấn đề của thực tiễn cuộc sống đặt ra đòi hỏi lý luận phải trả lời, để trả lời những vấn đề đó thì những nhà nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và những người làm công tác xây dựng Đảng nói riêng cần tích cực học tập, nghiên cứu các tác phấm kinh điếm mácxít một cách nghiêm túc hơn.
Là cán bộ trực tiếp công tác quản lý tại cơ sở, bản thân em nhận thấy tầm quan trọng của việc đọc, nghiên cứu, tìm hiếu những nội dung lý luận cơ bản của Lênin về đảng, xây dựng đảng vô sản nói chung và việc đọc, nghiên cứu tác phẩm “Làm gì?” của Lênin nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng vì nó giúp chúng ta có những cơ sở lý luận khoa học đế quán triệt sâu sắc hơn nữa những quan điếm về xây dựng đảng của Đảng ta, từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác của mình; đồng thời giúp chúng ta có cơ sở khoa học đế phê phán những quan điếm cơ hội, xét lại trên lĩnh vực xây dựng đảng hiện nay ở trong nước và phong trào cộng sản quốc tế. Nhưng do sự hạn chế về năng lực bản thân, chưa đọc đi, đọc lại và đọc có hệ thống tất cả các tác phấm của Lênin cũng như chưa đọc được nhiều lần, đọc một cách nhuần nhuyễn, hiểu sâu, cặn kẽ tác phẩm “Làm gì?”, trên cơ sở tiếp thu bài giảng của Thầy giáo, một số tài liệu tham khảo em xin trình bày những hiểu biết khái quát, ban đầu một số nội dung cơ bản về “Những quan điểm, tư tưởng chủ yếu của Lênin về đảng và xây dựng đảng vô sản trong tác phẩm “Làm gì?”. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu tác phẩm này đối với chúng ta hiện nay ”
Xem thêm

Đọc thêm