MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG VÀ VẬN DỤNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN KTTT Ở NƯỚC TA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng cho sự phát triển KTTT ở nước ta":

Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lư¬u Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay.

TỪ NHAN ĐỀ VÀ Ý NGHĨA VỞ KỊCH: “TÔI VÀ CHÚNG TA” CỦA TÁC GIẢ LƯ¬U QUANG VŨ, HÃY VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN NÊU SUY NGHĨ CỦA EM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ TRONG CUỘC SỐNG NGÀY NAY.

Đề bài: Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lư¬u Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay. Dàn ý phần thân bài: +Trình bày những hiểu biết khái quát về nhan đề và ý nghĩa vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ. Vở kịch phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt để thay đổi tổ chức, lề lối hoạt động sản xuất ở xí nghiệp Thắng Lợi. Một bên là tư tưởng bảo thủ khư khư giữ lấy nguyên tắc, quy chế cứng nhắc, lạc hậu với một bên là tinh thần giám nghĩ giám làm, khát khao đổi mới vì lợi ích của tập thể. Qua nhan đề, cùng với xung đột của hai phía, tác giả khẳng định không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung. Cái ta được hình thành từ nhiều cái tôi cụ thể. Cái tôi vì tập thể, vì cái chung, cái tôi phải được hoà trong cái ta nhưng cần có tiếng nói riêng và đúng đắn theo những quan điểm tiến bộ của thời đại. + Trình bày những hiểu biết về cái TÔI và cái TA. Tôi là số ít, là một cá nhân với những suy nghĩ và cuộc sống riêng. Ta vừa là số ít vừa là số nhiều nhưng được hiểu ở đây là chỉ số nhiều, chỉ tập thể của nhiều cái tôi cùng tham gia. Giữa Tôi và Ta phải có mối quan hệ nhất định: trong tôi có ta, trong ta có tôi. Có tập thể khi có nhiều cá nhân cùng tham gia, trong tập thể có tiếng nói cá nhân. Một tập thể mạnh khi có nhiều cá nhân xuất sắc, một tổ chức ổn định thì đời sống cá nhân cũng ổn định, vững vàng… + Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống hiện nay: Trong nhiều tổ chức, nhiều tập thể vẫn có những cá nhân hết lòng cống hiến sức khoẻ, năng lực, tâm huyết để dựng xây cơ quan, đơn vị mình công tác. Họ có thể là những lãnh đạo của cơ quan, họ cũng có thể là các nhân viên, bảo vệ, là các bạn cán bộ lớp, các thành viên trong lớp… Đơn vị đó vì vậy mà không ngừng lớn mạnh góp thêm vào việc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, phong trào của nhà trường… (Dẫn chứng minh hoạ, có thể trong các văn bản đã học) Nhưng trước những biến động và đổi thay không ngừng của nền kinh tế thị trường, nhu cầu cuộc sống cá nhân ngày một khác đã trở thành khá phổ biến những quan niệm cho rằng tr¬ước hết phải vì cuộc sống của chính mình, vì lợi ích của riệng mình. Vì vậy trước tập thể nhiều cá nhân đã không đóng góp hết mình và dựa dẫm ỉ lại vào số đông theo suy nghĩ “Nước nổi thì bèo nổi”. Họ tìm cách để thu vào túi mình những nguồn lợi lớn nhất để ổn định cuộc sống gia đình và hưởng thụ, họ thờ ơ trước những thay đổi của đơn vị mình, thờ ơ trước những khó khăn của mọi người xung quanh. Họ không giám đấu tranh trước những cái sai, cái xấu, bàng quan và vô ưu vì sợ liên luỵ đến mình, ảnh hưởng đến danh tiếng, chức sắc, thu nhập… Có thể nói mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay có phần xấu đi, dường như mọi người chỉ còn làm việc theo trách nhiệm và làm vừa đủ, vừa đúng thậm chí chưa hoàn thành công việc của mình…(Dẫn chứng ở tập thể lớp, ở địa phương hoặc ở một cơ quan đơn vị mà em biết). + Trước hiện trạng đó mỗi cá nhân chúng ta cần phải làm gì? Xác định lại quan điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần trách nhiệm của mỗi người trong tổ chức, đơn vị mình công tác và sinh hoạt. Tập thể phải bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân, bênh vực cá nhân, động viên, khích lệ họ v¬ợt lên mọi hoàn cảnh để có nhiều đóng góp vì lợi ích chung… + Liên hệ mở rộng đến những quan điểm của người xưa: “Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể còn được hiểu rộng ra là sự hợp tác và hữu nghị không chỉ trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế. Trong cơ chế hoà nhập ngày nay cá nhân nói riêng, đơn vị, cơ quan, tỉnh thành, quốc gia cần kịp thời nắm bắt cơ hội hoà nhập nhưng trong sự hoà nhập đó không có sự hoà tan, trong cái riêng có những cái chung và ngược lại. Tất cả vì tinh thần đoàn kết, hoà bình cùng phát triển và tiến bộ… (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra
của cải vật chất mà trình độ phát triển của nó được biểu hiện chính bởi
phương thức sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con người
mới xuất hiện trên hành tinh đã trải qua năm phương thức sản xuất. Đó là:
Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ
nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa .Tư duy nhận thức của con người không dừng
lại ở một chỗ mà theothời gian ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát
triển trong sản xuất. Lịch sử phát triển của sản xuất trong xã hội loài người là
lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Phương thức sản
xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sản xuất đạt
đến một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất tương ứng với nó.
Phương thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là động lực thúc đẩy và
quy đinh mọi mặt của đời sống xã hội. Không thể thúc đẩy sự tăng trưởng của
nền kinh tế nếu không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có những biện
pháp tối ưu tác động nhằm hoàn thiện phương thức sản xuất mà cụ thể chính
là hoàn thiện mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản
xuất đã được Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng
định rằng lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và
ngược lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Xã hội ngày càng phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất là không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển
và là một trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và
tiến bộ xã hội. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi
mới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Chúng ta đã có
những bài học đắt giá, đó là sự sai lầm khi xây dựng nhiều yếu tố của quan hệ
sản xuất vượt trước so với lực lượng sản xuất mà chúng ta hiện có. Đó là việc
chỉ cho phép các hình thức sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể tồn tại, trong
khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng mạnh mẽ đối với lực
lượng sản xuất thì lại bị ngăn cấm, không được phép phát triển. Việc đó đã
dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, người lao động không làm việc hết
mình, xã hội không phát triển. Vậy phải giải quyết vấn đề này như thế nào ?
Việc vận dụng đúng đắn qui luật trên vào công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết. Và đây cũng chính là lí do và sự bức thiết để em lựa chọn đề tài: Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TỪ ĐÓ RÚT RA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN THÂN VỚI GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG, XÃ HỘI

Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung
• I. Các khái niệm
• II. Mối quan hệ biện chứng
• III. Ý nghĩa phương pháp luận
• IV. Liên hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội
Kết luận.

Tài liệu tham khảo:
• Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin, Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2014
• Wikipedia “Cái chung và cái riêng”





LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của tri thức, đòi hỏi mỗi con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực; tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức lao động, ý thức cộng đồng, bảo vệ tài nguyên, môi trường… để đáp ứng yêu cầu của sự biến đổi khoa hoc công nghệ cũng như sự biến đổi ngày càng nhanh của xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay, con người và nguồn nhân lực được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Chúng ta phải khẳng định rằng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời những con người ấy phải có tri thức, có đạo đức.
Đặt mỗi cá nhân vào mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội ta lại càng thấy tầm quan trọng giữa mối liên hệ chung – riêng. Theo quan điểm triết học Mác – Lê nin: “Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại.Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác.”
Để tìm hiểu một cách rõ ràng hơn về mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất cũng như áp dụng vào cuộc sống nhóm 7 chúng em chon đề tài “ Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội.”



NỘI DUNG
I. Các khái niệm.
Thế giới vật chất xung quanh con người tồn tại bằng muôn vàn các sự vật, hiện tượng rất khác nhau về màu sắc, trạng thái, tính chất, hình dáng, kích thước,… nhưng đồng thời giữa chúng cũng có rất nhiều những đặc điểm, thuộc tính chung giống nhau.
+ Cái riêng là phạm trù triết học dung dể chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: ngôi nhà, cái bàn, hiện tượng ô nhiễm môi trường, quá trình nghiên cứu thị trường của một công ti.
Sự tồn tại cá thể của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong các cấu trúc sự vật khác. Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dung để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ tồn tại ở một kết cấu vật chất nhất định và không lặp lại ở kết cấu vật chất khác. Tính cách của một người, vân tay, nền văn hóa của một dân tộc,… là những cái đơn nhất. Như vậy, cái đơn nhất không phải là một sự vật, một hiện tượng đơn lẻ mà nó tồn tại trong cái riêng. Nó chỉ là đặc trưng của cái riêng.
+ Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Ví dụ : Cái chung của người Việt Nam là có một lòng lồng nàn yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Cái chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư của công nhân làm thuê.
+ Cái đơn nhất là một phạm trù triết học chỉ những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một sự vật mà không lặp lại ở sự vật khác.
Ví dụ: Đều là cây nhưng sao mỗi loại cây lại có những đặc điểm khác nhau. Chẳng hạn đều là hoa hồng nhưng tại sao hồng nhung lại có mùi hương quyến rũ, hoa hồng vàng lại nhẹ nhàng, hồng xanh kiêu sa. Đó chính là đặc điểm riêng – “cái đơn nhất” của nó.
) Phân biệt giữa cái chung bản chất và cái chung không bản chất:
+ Cái chung không bản chất là cái chung thường do sự ngẫu hợp mà có.
Chẳng hạn cái chung bản chất với phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật là vật chất luôn vận động. Như vậy, tính lặp lại là đặc trưng của của cái chung. Tính chất này cho thấy những mặt, những mối liên hệ cơ bản chi phối nhiều quá trình vật chất khác nhau. Nó cho ta một cách nhìn sự vật trong mối liên hệ qua lại, gắn liền với nhau.
Ví dụ : Cuộc cách mạng là cái chung, đó là sự thay đổi từ cái này sang cái khác tiến bộ hơn. Nhưng trong các cuộc cách mạng thì có nhiều loại (cách mạng tư sản, cách mạng dân tộc dân chủ),đó là những cái riêng.
+ Còn cái chung bản chất lại là cái chung giống nhau của rất nhiều sự vật hiện tượng mang tính cơ bản là đặc trưng để nhận dạng một sự vật hiện tượng nào đó.
Ví dụ: Cái chung của các loại cây là quá trình quang hợp, hô hấp, trao đổi chất với môi trường xung quanh. Nếu một cái cây nào mà không có những đặc điểm đấy sao con gọi là cây nữa. Hay như ở con người cái chung bản chất chính là tình cảm, mối quan hệ với gia đình, xã hội.
II. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng :
Những nhà nghiên cứu triết học MácLenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là phái duy thực và phát duy danh. Triết học MácLenin cho rằng, cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phái duy thực
Phái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, theo phái này thì cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng. Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời, cái riêng do cái chung sinh ra.
Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi, còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi)
Phái duy danh
Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa.
Ví dụ: Không thể nhận thấy, nắm bắt một con người chung chung mà con người chỉ có thể được nhận thấy, nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể, thông qua các cá nhân cụ thể.
Như vậy ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học.
Cả hai quan điểm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại. Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phép biện chứng duy vật của Triết học MarxLenin cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau; phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định, còn phạm trù cái chung được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Trong tác phẩm Bút ký Triết học, Lênin đã viết rằng:
“Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng là một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất của cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung”
_Lênin_
Cụ thể là:
Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
Chẳng hạn, không có sinh viên nói chung nào tồn tại bên cạnh sinh viên ngành kinh tế đầu tư, sinh viên ngành kinh tế phát triển… nào cũng phải đến trường học tập, nghiên cứu, thi cử theo nội quy nhà trường. Những đặc tính chung này lặp lại ở những sinh viên riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm “sinh viên”.
Hay như quy luật bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không phải là nhà tư bản, nhưng quy luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện của các nhà tư bản (cái riêng). Rõ ràng, cái chung tồn tại thực sự nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung.
Ví dụ, mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và các quy luật xã hội. Đó là những cái chung trong mỗi con người.
Một ví dụ khác, nền kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng. Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung. Như vậy, sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung.
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong phú hơn cái chung, vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại nhiều cái riêng cùng loại.
Do vậy, cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển cảu cái riêng. Cái riêng là sự kết hợp giữa cái chung và cái đơn nhất. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là tập thể sống động, trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất.
Nhờ thế, giữa những cái riêng luôn có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, sự “va chạm” giữa những cái riêng vừa làm cho những sự vật xích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa bởi cái đơn nhất. Cũng nhờ sự tương tác này giữa những cái riêng mà cái chung có thể được phát hiện…
Ví dụ, người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… Còn đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên, của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ trở thành cái chung, cái phổ biến.
Ngược lại, cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất. Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện cái mới ra đời thay thế cái cũ. Đồng thời sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định, bị thay thế bằng cái mới.
Ví dụ, sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn ra bằng cách ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối. Có những đặc điểm xét trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất nhưng xét trong nhóm sự vật khác lại là cái chung.
Ví dụ: quy luật cung cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường, nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử, nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung tự cấp.
Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Nói chung việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng không hề đơn giản, Lênin đã cho rằng:
“Con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái riêng và cái chung”
_ Lênin _

III. Ý nghĩa phương pháp luận.

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học MácLênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:
• Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
• Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng.
• Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trong Bút ký Triết học, Lênin viết:
“Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự giao động tồi tệ nhất và mất đi hẵn tính nguyên tắc.”

IV. Mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường và xã hội
) Quan hệ giữa bản thân và gia đình.
Trong bất kỳ một mối quan hệ nào cũng đều chứa đựng những nét chung và nét riêng biệt vậy nên trước tiên em đi xét về mối quan hệ giữa bản thân và gia đình:
Gia đình là tổ ấm là nơi chở che là bến bờ vững chắc cho mỗi cá nhân, mỗi con người. Ngoài ra, nơi đây còn là một tổ hợp của các chỉnh thể có các mối liên hệ với nhau như vợchồng, cha mẹcon, cháu –ông,bà... họ sống hạnh phúc, đầm ấm và chan hòa.Ở đó tình thương được tồn tại, được vun đắp và gieo trồng trong mỗi con người. Còn bản thân là một cái riêng mang những đặc tính riêng biệt về tính cách, học vấn, nhận thức, cách giao tiếp,.... cái riêng này tạo nên sự khác biệt cho mỗi thành viên trong gia đình.
Cụ thể hóa một chút ta thấy mỗi con người sinh ra đểu có họ tên, ngày tháng năm sinh, có các đặc điểm nhận dạng dấu vân tay,vân tai... đặc điểm di truyền như ADN, tính cách: nhu mì, hiền lành... tất cả những đăc điểm đó tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên với nhau cũng như giữa những con ngưới với con người trong một xã hội. Còn đối với gia đình, khi ta nhắc đến 2 từ đó thôi thì ta cũng có thể hình dung ra được những đặc điểm chung nhất để tạo nên một gia đình đó là mỗi thành viên trong gia đình đó có mối liên hệ với nhau về mặt huyết thống hay có mối liên hệ vể mặt luật pháp: ông, bà, cha,me, con ,anh chị em... Tất cả họ cùng sống trong một mái nhà cùng lao động, cùng sinh hoạt, cùng xây đắp nên một gia đình hoàn chỉnh hơn. Và gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội.
Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng như cách ứng xử giữa các thành viên gia đình (cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý, vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Trong gia đình, người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp. Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau…Ở đó, mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương: từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường, … đến những quan hệ họ hàng thân thiết.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước. Do hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác Lênin còn ở những mức độ nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Xem thêm

66 Đọc thêm

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU ÔN TẬP TRIẾT HỌC PHẦN 2

ĐÁP ÁN 30 CÂU TRIẾT PHẦN 2
Câu 1: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH).
Câu 2: Anh ( chị) hảy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Câu 3: Đảng ta khẳng định: “mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Anh chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó?
Câu 4: Bằng lý luận và thực tiễn, anhchị hãy chứng minh rằng ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới?
Câu 5: AnhChị hãy phân tích hoàn cảnh xuất hiện, nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng
Câu 8: Nguyên lý? Nguyên tắc? Mối quan hệ giữa chúng. AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Câu 10: Phân tích nội dung quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Câu 11: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phụ định và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận.
Câu 12: Bằng lý luậnvà thực tiễn. Anh chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới luân là qúa trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ.
Câu 13: Anh Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”
Câu hỏi 14: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử cụ thể (LSCT) là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc LSCT.
Câu 15. Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng?
Câu 16: Lý luận? thực tiễn? Anh chị hãy phân tích những yêu cầu cơ bản của
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Câu 18: AnhChị hãy nêu ra những nguyên nhân cơ bản của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc nào trong triết học Mác – Lênin? Phân tích các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc đó.
Câu 19: Anhchị hãy phân tích những tiền đề xuất phát mà Các Mác dựa vào để xây dựng lý luận hình thái kinh tế, xã hội?
Câu 20: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
CÂU 21: Anh Chị hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến triến thượng tầng (KTTT). Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào vào quá trình xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay.
Câu 22: Anh (chị) hãy phân tích tư tưởng của Mac: “sự phát triển hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên”
Câu 23: Anh(chị) hãy phân tích ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của học thuyết HTKTXH
Câu 24: Phân tích Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Câu 25: AnhChi hay phan tich nhung cong hien to lon cua C.Mac, Ph.Angghen va V.I.Lenin vao su phat trien ly luan ve giai cap va dau tranh giai cap?
CÂU 26: Anhchị hãy trình bày quan điểm mácxít về đấu tranh giai cấp và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay như thế nào?
Câu 27: Anh chị hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản?
Câu 28: Phân tích vai trò của Nhà Nước đối với quá trình phát triển kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Câu 29. AnhChị hãy phân tích quan điểm của triết học MacLênin về bản chất con người và về vấn đề giải phóng con người.
Câu 30: Anh chị hãy trình bày mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của việc xây dựng con người Việt Nam đáp ứng giai đoạn cách mạng hiện nay?
Xem thêm

45 Đọc thêm

IỂU LUẬN “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

IỂU LUẬN “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng. Nhưng dù phong phú và đa dạng đến đâu thì cũng quy về hai lĩnh vực: vật chất và ý thức. Có rất nhiều quan điểm triết học xoay quanh vấn đế về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nhưng chỉ có quan điểm triết học Mác Lênin là đúng và đầy đủ đó là: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau.

7 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC-TƯ TƯỞNG

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC-TƯ TƯỞNG

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN MÁC – LÊNIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN ĐỀ 1 : NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Câu 1 : Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc tìm hiểu mối quan hệ này.
Trả lời :
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, mối quan hệ này được thể hiện ở chỗ:
- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất là nguồn gốc sản sinh ra ý thức và quyết định ý thức.
+ Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não con người thì sẽ không có ý thức. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người.
+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nội dung của ý thức mang tính khách quan do thế giới khách quan quy định.
+ Vật chất quyết định bản chất của ý thức: Vật chất quyết định phương thức, kết cấu của ý thức.
- Ý thức có tính độc lập tương đối nghĩa là có khả năng tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, diễn ra theo 2 khuynh hướng tích cực và tiêu cực.
+ Nếu nhận thức đúng sự vật hiện tượng thì sẽ đưa ra những hành động đúng biện pháp có lợi và đạt kết quả tốt .
+ Ngược lại, nếu ý thức phản ánh không phù hợp với vật chất thì nó sẽ kìm hãm thế giới vật chất không phát triển.
* Ý nghĩa:
Từ việc tìm hiểu mối quan hệ này cho phép chúng ta rút ra một số ý nghĩa về phương pháp luận như sau:
- Tôn trọng các nguyên tắc khách quan tức là tôn trọng vai trò quyết định của những nhân tố vật chất, điều kiện vật chất, phương tiện vật chất, lực lượng vật chất…chống tư tưởng chủ quan, duy ý chí.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của ý thức.
- Tôn trọng tri thức khách quan và phổ biến tri thức khách quan vào trong quần chúng.
Câu 2: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc tìm hiểu mối quan hệ này.
Trả lời:
* Khái niệm cái riêng và cái chung:
- Cái riêng: là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,một quá trình riêng lẻ nhất định.
- Cái chung: là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những tính chất được lặp đi lặp lại ở nhiều sự vật, nhiều hiện tượng hoặc nhiều quá trình.
* Từ việc tìm hiểu khái niệm trên ta rút ra được kết luận về mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, nghĩa là không có cái chung nào ở bên ngoài cái riêng.
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, nghĩa là không có cái riêng nào độc lập tuyệt đối, không có liên hệ với cái chung.
- Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận .
+ Cái riêng phong phú, đa dạng hơn cái chung.
+ Cái chung sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
*Ý nghĩa:
- Trong hoạt động nhận thức, muốn tìm cái chung thì phải xuất phát từ cái riêng, so sánh đối chiếu từ nhiều cái riêng để tìm ra cái chung.
- Trong hoạt động thực tiễn, muốn tái tạo cái riêng phải sử dụng cái chung.
- Khi vận dụng cái chung vào thì phải tính đến đặc điểm cái riêng.
Câu 3: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Trả lời:
* Khái niệm CSHT và KTTT:
- Cơ sở hạ tầng (CSHT) : dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng (KTTT): dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một CSHT nhất định.
*Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
CSHT và KTTT có mối quan hệ với nhau:
- CSHT quyết định KTTT:
+ CSHT như thế nào thì sẽ sản sinh ra một KTTT như thế ấy.
+ Khi CSHT thay đổi đến một mức nào đó thì KTTT do nó sinh ra cũng thay đổi theo
+ CSHT bị thủ tiêu thì KTTT do nó sinh ra cũng bị thủ tiêu nhưng không toàn bộ.
- KTTT có tính cách độc lập tương đối nghĩa là có khả năng tác động trở lại CSHT. Sự tác động trở lại này được thể hiện ở chỗ.
+ KTTT ra sức duy trì, củng cố, bảo vệ và phát triển CSHT sản sinh ra nó.
+ Nếu KTTT phù hợp với CSHT sẽ dẫn đến thúc đẩy CSHT phát triển, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Còn ngược lại, nếu ko phù hợp thì sẽ kìm hãm.
Phần trắc nghiệm CĐ1: (Có trong Tập tài liệu) : (50 câu – 5 điểm)
Xem thêm

13 Đọc thêm

Đề cương chính trị thi tốt nghiệp

ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ THI TỐT NGHIỆP

Phần I: Triết 3
CÂU 1:Phân tích định nghĩa vật chất của Lê nin? Ý nghĩa của định nghĩa 3
Câu 2: hãy trình bày nguồn gốc của ý thức? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa của vấn đề này 4
Câu 3: Trình bày nội dung của hai nguyên lý mối liên hệ phổ biến và nguyên lý phát triển? Tại sao trong nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải có quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể 8
Câu 4: nội dung và ý nghĩa của quy luật Mâu thuẫn 9
Câu 5: phân tích nội dung Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại 11
Câu 6: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn 15
Câu 7: Trình bày các khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới? 17
CÂU 8:Trình bày khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quy luật về mối liên hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng 20
PHẦN II: KINH TẾ CHÍNH TRỊ 23
Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hóa. Cách xác định lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng tới nó 23
Câu 2: Phân tích quy luật giá trị. Biểu hiện của quy luật này qua hai giai đoạn phát triển của CNTB 25
Câu 3: Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Vì sao phân tích hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn đó 27
Câu 4: Nội dung quy luật giá trị thặng dư 29
Câu 5: thế nào là tuần hoàn và chu chuyển tư bản? Những biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển tư bản 30
Câu 6: Tư bản cố định và tư bản lưu động 31
Câu 7: trình bày tính tất yếu và phân tích các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay theo tinh thần đại hội đảng lần thứ 10. Tại sao kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo 32
Câu 8: Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 36
Câu 9: vì sao trong TKQĐ lên CNXH tồn tại nhiều hình thức phân phối? Nội dung các hình thức phân phối cơ bản ở nước ta hiện nay? 39
Câu 10: nêu định nghĩa CNH, HĐH. Phân tích tính tất yếu; mục tiêu; các quan điểm cơ bản của ĐCS VN về CNH, HĐH ở nước ta 42
PHẦN III: CNXH 46
Câu 1: Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ 46
Câu 2: Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dan, tầng lớp trí thức ở Việt Nam. Tính tất yếu của lien minh công nông – tri thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 47
Câu 3. Nêu khái quát về tôn giáo VN hiện nay và nội dung cơ bản của quan điểm và chính sách đối với tông giáo của ĐCS hiện nay 50
Câu 4: phân tích khái niệm giai cấp công nhân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Phân tích những điều kiện khách quan quy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 51
Xem thêm

53 Đọc thêm

Đề cương ôn tập môn triết học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC

Câu hỏi triết học mác:
Câu 1:vấn đề cơ bản của triết học là gì?tại sao
Câu 2:vai trò của ý thức đối với hoạt động thực tiễn của con người?
Câu 3:trình bày ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí mối liên hệ phổ biến?cho ví dụ
Câu 4: trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng,cho ví dụ?
Câu 5:phân tích ý nghĩa phương pháp luộn của quy định chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. và ngược lại?cho ví dụ?
Câu 6:tại sao nói quy luật mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vân động và phát triển?
Câu 7.trình bày phương pháp luộn của ý nghĩa phương pháp luộn của nguyên tắc thống nhất giữa lí luộn và thực tiễn?cho ví dụ>
Câu 8:đảng ta đã vận dụng qhsx và llsx
Câu 9:trình bày sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng?sự vận dụng của đảng ta trong giai đoạn hiện nay?
Câu 10:tại sao đấu tranh giai cấp là nguồn gốc,động lực của sự phát triển xã hội trong xã hội có giai cấp?
Câu 11:trình bày cách xác định lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.tại sao trong nền kinh tế hiện đại giá trị hàng hóa có xu hướng giảm?
Câu 12:anh chị hãy phân tích quy luật giá trị .Anh chị cho biết sự biểu hiện của quy luật này qua 2 giai đoạn phát triển của CNTB?
Câu 13;mâu thuẫn công thức chung của tư bản là gì?tai sao nói:việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung cuat tư bản?
Câu 14:anh chị hãy so sánh 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư,ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên đối với nền kinh té thị trường ở nước ta hiện nay?
Câu 15: tại sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kt cơ bản của CNTB ?nêu biểu hiện của quy luật này thoog qua 2 gđ pt của CNTB
Câu 16:trình bày tác dụng và biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của tư bản?
Câu 17:anh chị hãy phân tích nguyên nhân hình thành và bản chất kih tế của cntbđq?
Câu 18:anh chị hãy phân tích mối quan hẹ giữa độc quyền và cạnh tranh trong giai đoạn của CNTBĐQ?
Câu 19:tại sao tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền?hãy nêu các hình thức độc quyền chủ yếu?
Câu 20:anh chị hãy nêu những nét mới trong sự phát triển cảu cntb hiện đại?
Câu 21;những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân?biểu hiện mới của giai cấp công nhân ở các nước tư bản hiện nay?
Câu 22:điều kiện chủ quan để GCCN thực hiên sứ mệnh lịch sử của mình:
Câu 23: Tại sao nói đcs la sản phẩm kết hơp của chủ nghĩa Mac_lenin với phong trào công nhân?
Câu 24: trình bày những phương hướng cơ bản xây dựng giai cấp công nhân VN trong quá trình CNHHĐH.
Câu 25:trình bày nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ?
Câu 26:trình bày những nội dung cơ bản của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và tầng lớp tri thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,liên hệ liên minh đó ở việt nam hiện nay
Câu 27:thời kì quá độ lên CNXH là gì?trình bày tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên CNXH?
Câu 28:Trình bày những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN?hẫy phân biệt dân chủ XHCN với DCTS
Câu 29:trình bày những nội dung cơ bản của nền văn hóa XHCN?
Câu 30:tôn giáo?phân biệt tôn giáo,tín ngưỡng,và mê tín dị đoan?
Xem thêm

22 Đọc thêm

Phân tích thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng trong phân phối ở Việt Nam trong thời gian qua

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾT HỢP GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Đảng ta đã chủ trương xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm căn cứ cho toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Đảng ta cũng đã khẳng định mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XCHN ở Việt Nam chính là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, và văn minh. Do đó, bên cạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, Nhà nước còn phải đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người chứ không phải chỉ một số người được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước.Trong quá trình đổi mới theo hướng tự do hóa, mở cửa và hội nhập vào khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng khởi sắc: tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao, thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể. Việt Nam ngày càng được biết đến như một nền kinh tế năng động hàng đầu trong danh sách các nước đang phát triển trên thế giới. Mặc dù vậy, quá trình này cũng đã làm nảy sinh những mặt trái, gây trở ngại cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong đó, có một thực trạng đáng lo ngại là sự gia tăng chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư và giữa các vùng. Trong khi nền kinh tế tăng trưởng cao, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng doãng ra. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập. Theo nhà kinh tế được nhận giải thưởng Nobel năm 1971, Simon Kuznets (14), bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng nới rộng trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển, trở nên ổn định trong một giai đoạn, và sau đó thu hẹp dần trong những giai đoạn sau khi nền kinh tế đã chín muồi. Persson và Tebellini (22) đã xem xét tác động của phân phối thu nhập đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở 56 nước từ năm 1960 đến năm 1985. Theo mô hình của họ thu nhập phân phối càng bình đẳng thì tăng trưởng kinh tế càng cao. Nhiều nhà kinh tế khác, như Barro (3) và Edgar (9) đã xây dựng mô hình phân tích chéo và đi đến kết luận có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và sự bình đẳng trong phân phối thu nhập. Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về phân phối thu nhập. Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Luận văn có bốn mục tiêu chủ yếu sau:1.Hệ thống hóa lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập.2.Phân tích thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng trong phân phối ở Việt Nam trong thời gian qua. 3.Phân tích định lượng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập.4.Đề xuất các chính sách cần thực hiện nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội.Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng bao gồm:Các phương pháp nghiên cứu chung và đặc thù sẽ được áp dụng (phân tích tổng hợp, lôgíc và lịch sử...).Phân tích định lượng thông qua việc xây dựng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định ảnh hưởng của phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế.Các số liệu tổng hợp được lấy từ các cuốn Niên giám thống kê, còn các số liệu theo tỉnh được lấy từ bốn cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam (ĐTMSDC) 199293; 199798; 2002; và 2004.
Xem thêm

86 Đọc thêm

QUAN HỆ VIỆT NAM SINGAPORE TRONG THẾ KỶ XXI TIỂU LUẬN CAO HỌC

QUAN HỆ VIỆT NAM SINGAPORE TRONG THẾ KỶ XXI TIỂU LUẬN CAO HỌC

1. Lý do chọn đề tài
Sau công cuộc đổi mới năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, trở ngại đưa nước ta dần dần đi lên và ổn định chính trị, xã hội, phát triển kinh tế và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Về đối ngoại, Đảng ta tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”. Chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia lớn nhỏ trong khu vực cũng như ngoài khu vực, đặc biệt là tăng cường quan hệ với các nước láng giềng trong khối ASEAN trong đó có Singapore. Trên thực tế Singapore có quan hệ rất sớm với Việt Nam. Ngay từ đầu những năm 90, mối quan hệ giữa hai nước đã tiến triển đáng kể cùng với sự phát triển chung của tình hình khu vực và thế giới. Từ đó tới nay Singapore luôn là một trong các bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Singapore đã khẳng định tầm quan trọng của mình trong mối quan hệ hợp tác với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, đầu tư, giáo dục…Sự hợp tác song phương của hai nước đã đem lại một trong những lợi ích lớn về hợp tác khu vực đó là xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2015 để bảo đảm sự tăng trưởng và thịnh vượng lâu dài của cả khu vực.
Hiện nay, Đảng ta vẫn luôn khẳng định rằng vị thế và chính sách đối ngoại của Việt Nam: chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; coi trọng và dành ưu tiên cao cho việc tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực. Là thành viên có trách nhiệm của ASEAN, Việt Nam sẵn sàng cùng Singapore và các nước ASEAN quyết tâm xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, gắn kết, vững mạnh vì một khu vực Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Vì vậy, tôi chọn đề tài tiểu luận về mối “Quan hệ Việt Nam Singapore trong thế kỷ XXI” để ngày càng hiểu rõ hơn về quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ giữa Việt Nam Singapore là một nội dung nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Có một số cuốn sách, tạp chí…đã đề cập tới. Như cuốn Lịch sử quan hệ Việt Nam Singapore (1965 2005) của TS Phạm Thị Ngọc Thu xuất bản năm 2011, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách này giúp tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đâu là chỗ dựa cho Việt Nam về quan hệ đối ngoại trong thời kỳ toàn cầu hóa…
Xem thêm

29 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM EU

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM EU

Nêu tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu:
Hoạt động kinh tế là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới đang ngày càng gia tăng như hiện nay, việc mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại đã trở thành tất yếu khách quan của mỗi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng. Bằng việc gia nhập ASEAN, thiết lập cơ sở pháp lý cho mối quan hệ hợp tác với EU, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, tham gia AFTA, APEC, WTO ... Việt Nam đang vững vàng bước vào hội nhập thế giới.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam – EU có thể giúp ta hiểu hơn về chính sách kinh tế mà các nước EU đang tiến hành, đồng thời đóng góp những thông tin quan trọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu để họ khai thác hiệu quả hơn thị trường EU. Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam – EU còn là sự tìm hiểu quá trình hình thành phát triển và chiến lược kinh tế của EU cùng với tác động của nó đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Qua đó, góp phần vào việc tăng cường hiểu biết về EU, về mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với tổ chức này cùng với các nước thành viên.
Kể từ năm 1995 khi bản hiệp ước khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết, quan hệ hợp tác Việt Nam – EU đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng sẵn có của mỗi bên, đặc biệt là trong thương mại. Ngoài ra, việc duy trì và tăng cường quan hệ thương mại trong giai đoạn kinh tế thế giới đang không ổn định cũng là một vấn đề đặc biệt được quan tâm. Vì vậy, với việc tìm hiểu đề tài “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM– EU” trở nên hết sức cần thiết. Nhận thức trên chính là cơ sở để tác giả tìm đến và nghiên cứu đề tài này qua đó nêu lên một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy hơn sự phát triển của mối quan hệ này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với vốn kiến thức còn hạn hẹp của một sinh viên sắp ra trường, tác giả không hy vọng sẽ đưa ra được một bức tranh chi tiết và cụ thể của đề tài. Chỉ hy vọng rằng thông qua việc phân tích tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu sưu tầm được, người viết có thể có được cái nhìn khái quát, toàn diện về mối quan hệ hợp tác này. Góp phần cung cấp một số thông tin và những hiểu biết cần thiết trong quá trình tìm hiểu về EU cũng như quan hệ hợp tác thương mại giữa EU và Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – EU.
Phạm vi nghiên cứu của Chuyên đề chỉ tập chung nghiên cứu một lĩnh vực đó là thương mại hàng hóa trong quan hệ với EU. Sự khảo cứu của chuyên đề được tập chung vào khoảng thời gian từ 1995 đến 2014 và dự báo phát triển triển vọng đến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết chủ yếu sử dụng phương thức nghiên cứu, phân tích số liệu, thống kê so sánh, đối chiếu tổng hợp, ... để có thể làm rõ ràng các vấn đề trong đề tài.
Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận bài viết được chia làm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về EU và sự cần thiết khách quan phải phát triển quan hệ thương mại Việt Nam EU
Chương 2 : Thực trạng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam EU
Chương 3 : Phương hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam EU
Xem thêm

70 Đọc thêm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bài tập học kỳ Mác Lênin
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .

Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam từ đó tạo nên tính đa dạng của nền kinh tế nhiền thành phần. Thực tế cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần là hai hình thức sở hữu trong giai đoạn xưa kia. Vì vậy nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc .

NỘI DUNG

I SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT. 1 Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

a. Phương thức sản xuất là gì?

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuẩt ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

b.Lực lượng sản xuất là gì?

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự nhiên hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người.

Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đó khác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thì chúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượng con người. Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người là chủ thể.

Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người. Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất.

Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó.

Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.

Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân. Chính vậy mà Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội”.

Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc. Trước đây do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọi sức mạnh của nhân tố con người. Đành rằng năng lực và kinh nghiệm sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng tích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

c. Quan hệ sản xuất là gì?

Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người.

Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.

Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt:

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)

+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý).

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định

quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra.

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà Đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất. Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.

Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế xã hội mới.

Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái kinh tế xã hội sang hình thái kinh tế xã hội khác hoàn toàn là một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (CSCN) trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét: Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi... phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.

2 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

a. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.

Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1859 C.Mác viết Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ... Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm phù hợp được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ phù hợp này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.

Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự yên tính giữa các mặt.

Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.

Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đâylà nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.

Từ những lý luận đó đi đến thực tại nước ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nước ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trước lên đến nay nền văn minh đất nước. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhưng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu được, tức là sự vận động.

Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.

b. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự chủ động không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.

+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.

II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1 Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia:

Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt cũng như hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Songtrong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:

Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.

Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.

Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.

Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đang ta đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất̉, trên thực tế Đ ảng và Nhà nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hê san xuât cả tầm vi mô và vĩ mô thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lưc lương san xuât. Điều đó đã có một tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta.

2 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cường điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bước đi có tính qui luật trên con đường tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên.

Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức kinh tế xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Mới đây các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đưa nước Việt Nam tiến lên không, trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không nhưng khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).

Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính trị, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền X ô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

3 Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phương thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải được xem xét từ tư duy triết học. Trước khi đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất.

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá hiện đại hoá trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì dân giàu nước mạnh công bằng văn minhhãy còn phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

KẾT LUẬN

Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay và tương lai.

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.

Chúng ta đều biết rằng từ trước tới nay công nghiệp hoá hiện đại hoá là khuynh hướng tất yếu của tất cả các nước. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá như là: “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ’’.

Trước những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của các thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song về mặt nhận thức chúng ta đã đặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở vị trí gần như đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa. Trong lựa chọn bước đi đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, và không coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách đơn giản là quá trìng xây dựng một nền sản xuất được khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo thị trường, có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời , chúng luôn tác động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển . Bởi lẽ “Nếu công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo lên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới , thì việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.
Xem thêm

18 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH mối LIÊN hệ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH tế và bảo vệ môi TRƯỜNG

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

“PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG”.
Giữa môi trường tự nhiên và phát triển kinh tế có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế phát triển và kinh tế phát triển là cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường tự nhiên theo hướng ngày càng tốt hơn. Ở những thời kỳ đầu của sự phát triển nền văn minh loài người, các lực lượng tự nhiên gần như thống trị hoàn toàn cuộc sống của con người, quyết định tính chất và nội dung mối quan hệ qua lại giữa con người với giới tự nhiên.
Dần dần, do sự phát triển của lao động và hoạt động nhận thức, con người học được cách chế ngự tự nhiên, thiết lập sự thống trị của mình với giới tự nhiên nhằm phục vụ cho mục đích mà yêu cầu cuộc sống của con người đòi hỏi.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Liên hệ bản thân

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. LIÊN HỆ BẢN THÂN

Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa MacLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta. Một trong những nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác Lênin.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơbản, là linh hồn của triết học Mác Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học,C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó vớithực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lýluận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và cơsở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động,biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhấtbiện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểuhiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử.Để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nghiên cứu mặtlý luận của vấn đề này, bằng những kiến thức được học từ môn Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa MácLê nin, đặc biệt là nội dung về lý luận và thựctiễn, em xin nghiên cứu đề tài: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và các căn bệnh do không quán triệt mỗi nguyên tắc này (bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa)”
Xem thêm

12 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

Trong xã hội mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội xét đến cùng bị quy định bởi quan hệ lợi ích xã hội. Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội mà lợi ích cá nhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích xã hội. Để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội cần có sự tham gia của đạo đức. Đạo đức giữ vai trò điều chỉnh động cơ, hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội không đối lập với lợi ích của các cá nhân khác và của cả xã hội. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy, không phải chế độ xã hội nào cũng xuất hiện những tư tưởng đạo đức đúng đắn nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó. Mỗi chế độ xã hội có những quan niệm đạo đức riêng của nó để giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Trong các xã hội cũ, đạo đức của giai cấp bóc lột là nhằm bảo vệ lợi ích của những kẻ cầm quyền thống trị xã hội. Đạo đức đó đề cao tuyệt đối cái cá nhân, đạt lợi ích cá nhân lên trên hết. Chủ nghĩa cá nhân, do đó đã trở thành nguyên tắc đạo đức chủ đạo giữ vai trò chi phối đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. Trong xã hội XHCN, đạo đức mới giữ vai trò bảo vệ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, nó đề cao cá nhân và lợi ích cá nhân nhưng không tách rời với tập thể, xã hội, giữa cá nhân và xã hội có mối quan hệ hài hoà thống nhất. Đạo đức đó luôn hướng con người hành động vì lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên hết trước hết
Xem thêm

150 Đọc thêm

KINH TẾ PHÁT TRIỂN PHÂN TÍCH TỈ LỆ NGHÈO ĐÓI CỦA VN

KINH TẾ PHÁT TRIỂN PHÂN TÍCH TỈ LỆ NGHÈO ĐÓI CỦA VN

Như chúng ta đã biết Việt Nam là một nước nông nghiệp vẫn còn nghèo nàn nhưng nước ta lại có quy mô dân số lớn đứng 13 trên thế giới và thứ 2 khu vực Đông Nam Á. Do tốc độ dân số tăng nhanh gây cản trở đến sự phát triển kinh tế xã hội, đem lại nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, trình độ dân trí, văn hóa…..Vì vậy nhà nước cần phải có những giải pháp đúng đắn để kịp thời điều chỉnh tốc độ dân số.
Không chỉ vấn đề về dân số mà giáo dục cũng rất quan trọng đối với nước ta. Việt Nam đang trên đà phát triển để trở thành một nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cùng với xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao, nhu cầu về lao động trình độ cao càng lớn. Đây là vấn đề mà tất cả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm.
Do dân số và giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau. Dân số là yếu tố đầu vào là cơ sở để hình thành nên giáo dục. Nhưng ở nước ta hiện nay mặc dù giáo dục đã được chú trọng đầu tư, ngoài những người có trình độ cao bên cạnh đó vẫn còn chiếm một phần không nhỏ những người chưa biết chữ.
Chính vì những lý do trên nhóm chúng em nghiên cứu đề tài “ Mối quan hệ giữa dân số và tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ theo thành thị và nông thôn từ năm 2006 đến năm 2012”.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Ý NGHĨA HÌNH ẢNH NGỌC TRAI - GIẾNG NƯỚC

Ý NGHĨA HÌNH ẢNH NGỌC TRAI - GIẾNG NƯỚC

Bài học của thế hệ sau là cách xử lí mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa riêng và chung, giữa tình yêu và đất nước. Phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc hài hòa với tình yêu vợ chồng + Hình ảnh Ngọc trai - giếng nước là chi tiết hư cấu nhằm an ủi lời nguyền của Mị Châu. Nàng không cam tâm phản bội cha nhưng vì còn ngây thơ, nhẹ dạ nên đã mắc lừa Trọng Thủy dẫn đến bi kịch tình yêu. + Hình ảnh này không phải để ca ngợi mối tình thủy chung của Trọng Thủy. Trọng Thủy là một tên gián điệp nên cái chết của Trọng Thủy là vì nó, tự nó, cho nó. + Bài học của thế hệ sau là cách xử lí mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa riêng và chung, giữa tình yêu và đất nước. Phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc hài hòa với tình yêu vợ chồng.   Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Quan hệ phân phối ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Quá trình tái sản xuất là sự kết hợp hai hoà giữa các khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong đó phân phối là một khâu quan trọng và không thể thiếu được của quá trình này. Nó nối liền sản xuất với trao đổi, tiêu dùng, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng. Không những thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rất trọng yếu của quan hệ sản xuất, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội.
Trong thời gian đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, do nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh tế nên cũng còn có nhiều hình thức lợi ích kinh tế khác nhau và tất yếu là còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các hình thức lợi ích kinh tế đó. Một trong những yêu cầu của nền kinh tế là kịp thời phát hiện ra mâu thuẫn giữa các lợi ích và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó. Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế được thể hiện thông qua quan hệ phân phối.
Từ vai trò quan trọng của phân phối trong quá trình phát triển kinh tế thì việc nghiên cứu quan hệ phân phối là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với nền kinh tế nước ta hiện naycòn đang trong quá trình phát triển. Muốn phát triển nền kinh tế thị trường nước ta theo định hướng XHCN thì việc giải quyết các quan hệ phân phối là hết sức cần thiết để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội.
Nghiên cứu phân phối là một phần trong quá trình ngiên cứu kinh tế ở tầm vĩ mô, đó là một vấn đề lớn lao. Do trình độ, khả năng và thời gian còn hạn chế nên trong bài viết này em không thể nghiên cứu được hết. Phạm vi nghiên cứu của bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các vấn đề cơ bản nhất về phân phối, các hình thức phân phối. Cụ thể là nghiên cứu các hình thức phân phối ở nước ta, đặc biệt là phân phối theo lao động và các hình thức thu nhập hay phân phối thu nhập.
Trong quá trình nghiên cứu, chủ yếu nghiên cứu quan hệ phân phối ở Việt Nam từ những năm 1985 cho đến nay. Đó là thời kỳ nền kinh tế đất nước ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường là môi trường tốt cho quan hệ phân phối được thể hiện rõ nét, đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta còn đang trong quá trình quá độ và gặp nhiều khó khăn.
Đề tài này được bố cục gồm 2 chương chính :
Chương I : Lý luận chung về phân phối trong nền kinh tế thị trường
Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về phân phối: bản chất, vai trò của quan hệ phân phối và nội dung chủ yếu của quan hệ phân phối, đặc biệt tơ phần này còn có kinh nghiệm của một số nước về phân phối
Chương II : Thực trạng của quá trình phân phối và các giải pháp để nâng cao, hoàn thiện quan hệ phân phối ở Việt Nam trong thời gian tới
Từ những vấn đề cơ bản về phân phối, ở chương này sẽ nghiên cứu cụ thể quá trình phân phối ở Việt Nam, các hình thức phân phối đặc biệt là phân phối thu nhập. Thông qua đó nêu ra các giải pháp nhằm thực hiện quan hệ phân phối để đạt mục tiêu công bằng xã hội.
Xem thêm

41 Đọc thêm

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật chính là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Hiểu được nguyên lý này, chúng ta mới có thể vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế một cách đúng đắn và hợp lý.
Trong số các vấn đề về vận dụng mối liên hệ phổ biến vào thực tế ở nước ta hiện nay, phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một đề tài cấp thiết bởi trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang đi theo xu hướng mở cửa hội nhập và Việt Nam không phải ngoại lệ, tuy nhiên nếu trước tiên không xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì nước ta sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong quá trình hội nhập. Nhận thức rõ tính đúng đắn, cấp thiết của việc đặt ra vấn đề này, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
 Hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
 Hiểu rõ khái niệm “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
 Vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến để phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp.
Các nhiệm vụ, mục đích này sẽ lần lượt được giải quyết và đạt tới trong từng phần của bài tiểu luận.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Cùng chủ đề