MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TLSX VÀ LLSX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Mối quan hệ biện chứng giữa TLSX và LLSX":

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hay quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX). Sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước như thế nào?

33 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

kVÍ DỤ 2: ðốt cháy hồn tồn a mol một anđehit X (mạch hở) tạo ra b mol CO2 và c mol H2O (biết b =a + c). Trong phản ứng tráng gương, một phân tử X chỉ cho 2 electron. X thuộc dãy đồng đẳng anđehitA. no, đơn chức.B. khơng no có hai nối đơi, đơn chức.C. khơng no có một nối đơi, đơn chức.D. no, hai chức.HƯỚNG DẪN GIẢITrong phản ứng tráng gương một anđehit X chỉ cho 2e → X là anđehit đơn chức bởi vì:+1+3RCHO → RCOONH 4trong đó: C+1 − 2e → C+3.ðặt cơng thức phân tử của anđehit đơn chức X là CxHyO ta có phương trìnhThS. LƯU HUỲNH VẠN LONG (Giảng viên Trường ðH Thủ Dầu Một- Bình Dương)-1-“CHUN: Bồi dưỡng kiến thức – Luyện thi TN THPT – Cð & ðH mơn HĨA HỌC”ðể tìm hiểu và đăng ký học, hãy liên lạc đến SðT: 0986.616.225 (T.Long). Email: Vanlongtdm@gmail.comPHƯƠNG PHÁP MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯNGWebsite: www.hoahoc.edu.vn
Xem thêm

9 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI .TÁC ĐỘNG CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI ĐẾN PHONG TỤC TẬP QUÁN Ở VIỆT NAM.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội .Tác động của tồn tại xã hội đến phong tục tập quán ở Việt Nam.

Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
I.Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Tồn tại xã hội
2.Ý thức xã hội
II.Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
2.Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
2.1.Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
2.2.Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
2.3.Ý giữa thức xã hội có tính kế thừa trong quá trình phát tiển
2.4.Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong quá trình phát triển của chúng
2.5.Ý thức xã hội tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội
3.Ý nghĩa phương pháp luận
Chương II : Tồn tại xã hội tác động đến phong tục tập quán ở Việt Nam.
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra
của cải vật chất mà trình độ phát triển của nó được biểu hiện chính bởi
phương thức sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con người
mới xuất hiện trên hành tinh đã trải qua năm phương thức sản xuất. Đó là:
Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ
nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa .Tư duy nhận thức của con người không dừng
lại ở một chỗ mà theothời gian ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát
triển trong sản xuất. Lịch sử phát triển của sản xuất trong xã hội loài người là
lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Phương thức sản
xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sản xuất đạt
đến một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất tương ứng với nó.
Phương thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là động lực thúc đẩy và
quy đinh mọi mặt của đời sống xã hội. Không thể thúc đẩy sự tăng trưởng của
nền kinh tế nếu không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có những biện
pháp tối ưu tác động nhằm hoàn thiện phương thức sản xuất mà cụ thể chính
là hoàn thiện mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản
xuất đã được Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng
định rằng lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và
ngược lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Xã hội ngày càng phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất là không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển
và là một trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và
tiến bộ xã hội. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi
mới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Chúng ta đã có
những bài học đắt giá, đó là sự sai lầm khi xây dựng nhiều yếu tố của quan hệ
sản xuất vượt trước so với lực lượng sản xuất mà chúng ta hiện có. Đó là việc
chỉ cho phép các hình thức sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể tồn tại, trong
khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng mạnh mẽ đối với lực
lượng sản xuất thì lại bị ngăn cấm, không được phép phát triển. Việc đó đã
dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, người lao động không làm việc hết
mình, xã hội không phát triển. Vậy phải giải quyết vấn đề này như thế nào ?
Việc vận dụng đúng đắn qui luật trên vào công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết. Và đây cũng chính là lí do và sự bức thiết để em lựa chọn đề tài: Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TỪ ĐÓ RÚT RA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN THÂN VỚI GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG, XÃ HỘI

Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung
• I. Các khái niệm
• II. Mối quan hệ biện chứng
• III. Ý nghĩa phương pháp luận
• IV. Liên hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội
Kết luận.

Tài liệu tham khảo:
• Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin, Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2014
• Wikipedia “Cái chung và cái riêng”





LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của tri thức, đòi hỏi mỗi con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực; tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức lao động, ý thức cộng đồng, bảo vệ tài nguyên, môi trường… để đáp ứng yêu cầu của sự biến đổi khoa hoc công nghệ cũng như sự biến đổi ngày càng nhanh của xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay, con người và nguồn nhân lực được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Chúng ta phải khẳng định rằng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời những con người ấy phải có tri thức, có đạo đức.
Đặt mỗi cá nhân vào mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội ta lại càng thấy tầm quan trọng giữa mối liên hệ chung – riêng. Theo quan điểm triết học Mác – Lê nin: “Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại.Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác.”
Để tìm hiểu một cách rõ ràng hơn về mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất cũng như áp dụng vào cuộc sống nhóm 7 chúng em chon đề tài “ Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội.”



NỘI DUNG
I. Các khái niệm.
Thế giới vật chất xung quanh con người tồn tại bằng muôn vàn các sự vật, hiện tượng rất khác nhau về màu sắc, trạng thái, tính chất, hình dáng, kích thước,… nhưng đồng thời giữa chúng cũng có rất nhiều những đặc điểm, thuộc tính chung giống nhau.
+ Cái riêng là phạm trù triết học dung dể chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: ngôi nhà, cái bàn, hiện tượng ô nhiễm môi trường, quá trình nghiên cứu thị trường của một công ti.
Sự tồn tại cá thể của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong các cấu trúc sự vật khác. Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dung để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ tồn tại ở một kết cấu vật chất nhất định và không lặp lại ở kết cấu vật chất khác. Tính cách của một người, vân tay, nền văn hóa của một dân tộc,… là những cái đơn nhất. Như vậy, cái đơn nhất không phải là một sự vật, một hiện tượng đơn lẻ mà nó tồn tại trong cái riêng. Nó chỉ là đặc trưng của cái riêng.
+ Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Ví dụ : Cái chung của người Việt Nam là có một lòng lồng nàn yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Cái chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư của công nhân làm thuê.
+ Cái đơn nhất là một phạm trù triết học chỉ những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một sự vật mà không lặp lại ở sự vật khác.
Ví dụ: Đều là cây nhưng sao mỗi loại cây lại có những đặc điểm khác nhau. Chẳng hạn đều là hoa hồng nhưng tại sao hồng nhung lại có mùi hương quyến rũ, hoa hồng vàng lại nhẹ nhàng, hồng xanh kiêu sa. Đó chính là đặc điểm riêng – “cái đơn nhất” của nó.
) Phân biệt giữa cái chung bản chất và cái chung không bản chất:
+ Cái chung không bản chất là cái chung thường do sự ngẫu hợp mà có.
Chẳng hạn cái chung bản chất với phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật là vật chất luôn vận động. Như vậy, tính lặp lại là đặc trưng của của cái chung. Tính chất này cho thấy những mặt, những mối liên hệ cơ bản chi phối nhiều quá trình vật chất khác nhau. Nó cho ta một cách nhìn sự vật trong mối liên hệ qua lại, gắn liền với nhau.
Ví dụ : Cuộc cách mạng là cái chung, đó là sự thay đổi từ cái này sang cái khác tiến bộ hơn. Nhưng trong các cuộc cách mạng thì có nhiều loại (cách mạng tư sản, cách mạng dân tộc dân chủ),đó là những cái riêng.
+ Còn cái chung bản chất lại là cái chung giống nhau của rất nhiều sự vật hiện tượng mang tính cơ bản là đặc trưng để nhận dạng một sự vật hiện tượng nào đó.
Ví dụ: Cái chung của các loại cây là quá trình quang hợp, hô hấp, trao đổi chất với môi trường xung quanh. Nếu một cái cây nào mà không có những đặc điểm đấy sao con gọi là cây nữa. Hay như ở con người cái chung bản chất chính là tình cảm, mối quan hệ với gia đình, xã hội.
II. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng :
Những nhà nghiên cứu triết học MácLenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là phái duy thực và phát duy danh. Triết học MácLenin cho rằng, cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phái duy thực
Phái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, theo phái này thì cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng. Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời, cái riêng do cái chung sinh ra.
Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi, còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi)
Phái duy danh
Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa.
Ví dụ: Không thể nhận thấy, nắm bắt một con người chung chung mà con người chỉ có thể được nhận thấy, nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể, thông qua các cá nhân cụ thể.
Như vậy ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học.
Cả hai quan điểm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại. Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phép biện chứng duy vật của Triết học MarxLenin cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau; phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định, còn phạm trù cái chung được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Trong tác phẩm Bút ký Triết học, Lênin đã viết rằng:
“Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng là một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất của cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung”
_Lênin_
Cụ thể là:
Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
Chẳng hạn, không có sinh viên nói chung nào tồn tại bên cạnh sinh viên ngành kinh tế đầu tư, sinh viên ngành kinh tế phát triển… nào cũng phải đến trường học tập, nghiên cứu, thi cử theo nội quy nhà trường. Những đặc tính chung này lặp lại ở những sinh viên riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm “sinh viên”.
Hay như quy luật bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không phải là nhà tư bản, nhưng quy luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện của các nhà tư bản (cái riêng). Rõ ràng, cái chung tồn tại thực sự nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung.
Ví dụ, mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và các quy luật xã hội. Đó là những cái chung trong mỗi con người.
Một ví dụ khác, nền kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng. Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung. Như vậy, sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung.
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong phú hơn cái chung, vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại nhiều cái riêng cùng loại.
Do vậy, cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển cảu cái riêng. Cái riêng là sự kết hợp giữa cái chung và cái đơn nhất. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là tập thể sống động, trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất.
Nhờ thế, giữa những cái riêng luôn có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, sự “va chạm” giữa những cái riêng vừa làm cho những sự vật xích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa bởi cái đơn nhất. Cũng nhờ sự tương tác này giữa những cái riêng mà cái chung có thể được phát hiện…
Ví dụ, người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… Còn đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên, của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ trở thành cái chung, cái phổ biến.
Ngược lại, cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất. Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện cái mới ra đời thay thế cái cũ. Đồng thời sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định, bị thay thế bằng cái mới.
Ví dụ, sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn ra bằng cách ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối. Có những đặc điểm xét trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất nhưng xét trong nhóm sự vật khác lại là cái chung.
Ví dụ: quy luật cung cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường, nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử, nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung tự cấp.
Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Nói chung việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng không hề đơn giản, Lênin đã cho rằng:
“Con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái riêng và cái chung”
_ Lênin _

III. Ý nghĩa phương pháp luận.

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học MácLênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:
• Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
• Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng.
• Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trong Bút ký Triết học, Lênin viết:
“Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự giao động tồi tệ nhất và mất đi hẵn tính nguyên tắc.”

IV. Mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường và xã hội
) Quan hệ giữa bản thân và gia đình.
Trong bất kỳ một mối quan hệ nào cũng đều chứa đựng những nét chung và nét riêng biệt vậy nên trước tiên em đi xét về mối quan hệ giữa bản thân và gia đình:
Gia đình là tổ ấm là nơi chở che là bến bờ vững chắc cho mỗi cá nhân, mỗi con người. Ngoài ra, nơi đây còn là một tổ hợp của các chỉnh thể có các mối liên hệ với nhau như vợchồng, cha mẹcon, cháu –ông,bà... họ sống hạnh phúc, đầm ấm và chan hòa.Ở đó tình thương được tồn tại, được vun đắp và gieo trồng trong mỗi con người. Còn bản thân là một cái riêng mang những đặc tính riêng biệt về tính cách, học vấn, nhận thức, cách giao tiếp,.... cái riêng này tạo nên sự khác biệt cho mỗi thành viên trong gia đình.
Cụ thể hóa một chút ta thấy mỗi con người sinh ra đểu có họ tên, ngày tháng năm sinh, có các đặc điểm nhận dạng dấu vân tay,vân tai... đặc điểm di truyền như ADN, tính cách: nhu mì, hiền lành... tất cả những đăc điểm đó tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên với nhau cũng như giữa những con ngưới với con người trong một xã hội. Còn đối với gia đình, khi ta nhắc đến 2 từ đó thôi thì ta cũng có thể hình dung ra được những đặc điểm chung nhất để tạo nên một gia đình đó là mỗi thành viên trong gia đình đó có mối liên hệ với nhau về mặt huyết thống hay có mối liên hệ vể mặt luật pháp: ông, bà, cha,me, con ,anh chị em... Tất cả họ cùng sống trong một mái nhà cùng lao động, cùng sinh hoạt, cùng xây đắp nên một gia đình hoàn chỉnh hơn. Và gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội.
Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng như cách ứng xử giữa các thành viên gia đình (cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý, vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Trong gia đình, người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp. Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau…Ở đó, mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương: từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường, … đến những quan hệ họ hàng thân thiết.
Xem thêm

10 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

Bài 1: Ý thức xã hôi
1.2. Ý thức xã hội, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống của con người cần có vật chất và tinh thần. Trong triết học gọi đời sống vật chất và tinh thần là tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số.
Vậy thì ý thức xã hội đại diện cho mặt đời sống tinh thần được hiểu như thế nào? kết cấu của nó ra sao? mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội như thế nào? Tất cả những câu hỏi đó tôi cùng các bạn sẽ giải đáp trong ngày hôm nay,chúng ta cùng tìm hiểu phần 2 của bài đó là: “Ý thức xã hội – mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội”.
A. Muc đích và yêu cầu của bài giảng
1. Mục đích
Nêu được nội dung khái niệm ý thức xã hội.
Nhận biết được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
2. Yêu cầu
Hiểu được nội dung các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó chúng ta cần ủng hộ các chính sách môi trường, dân số của Nhà nước.
Biết tiếp thu các quan điểm tiến bộ, phê phán các hiện tượng ý thức, tư tưởng lạc hậu.
B. Kết cấu nội dung bài giảng
1. Ý thức xã hội
1.1. Định nghĩa
1.2. Kết cấu của ý thức xã hội
1.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội
2. Mối quan hệ tồn tại xã hội với ý thức xã hội
2.1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
2.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
C. Phương pháp giảng và đồ dùng dạy học
Áp dụng một số phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, như:
Phương pháp thuyết trình (chủ yếu)
Phương pháp phỏng vấn nhanh
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp nêu vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh đó, còn sử dụng phương tiện dạy học hiện đại là: phần mềm trình chiếu Microsoft Office PowerPoint.
Đồ dùng dạy học gồm có: bảng, phấn, máy chiếu.
D. Tài liệu phục vụ soạn giảng
1. Giáo trình triết học Mác – Lê nin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Bộ giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
2. Giáo trình trung cấp lý luận chính trị môn triết học Mác – Lê nin, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội, 2004
E. Các bước lên lớp
Xem thêm

35 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC

TRƯỜNG..........................KHOA.................................TIỂU LUẬN"Mối quan hệ biện chứng giữavật chất và ý thức trong nền kinhtế nướcTiểu luận triết họcMỤC LỤCI.Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.1. Vật chất2. ý thức3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thứcII.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việcxây dựng nền kinh tế ở nước ta hiện nay .1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mốiquan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị .2. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việcxây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.Kết luận.
Xem thêm

10 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản nhất của đời sống xã hội, có mối quan hệ, chặt chẽ, tác động qua lại, tạo điều kiên cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị là cơ sở, là điều kiên cơ bản nhất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội ở mỗi quốc gia dân tộc.Luận văn cử nhân triết học sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề này.
Xem thêm

55 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

hiệu với cách chứng minh bằng lời thì chúng ta càng nhận thấy sự thuận tiện của việc sử dụngcác ký hiệu toán học.Tuy nhiên, không phải lúc nào các ký hiệu toán học cũng có thể biểu diễn một cách ngắngọn nội dung toán học và các khoa học khác. Các ký hiệu toán học sẽ không thực hiện đượcnhiệm vụ chủ yếu này của chúng, nếu chúng chỉ là những biểu hiện ngắn gọn của những dạngngôn ngữ dài dòng hơn. Chẳng hạn, việc xây dựng cơ học cổ điển đã diễn ra với việc sử dụngcác vectơ để diễn tả chuyển động. Theo đánh giá của Albert Einstein, ở đây toàn bộ công việcđã làm chỉ là chuyển những sự kiện đã được thừa nhận từ trước thành một ngôn ngữ phức tạp14và kỳ lạ. Nhưng, theo ông, chính cái ngôn ngữ kỳ lạ là vectơ ấy đã dẫn đến những điều kháiquát quan trọng mà trong đó vectơ giữ vai trò nòng cốt.II. Vai trò của toán học trong sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vật:Ở thời kì cổ đại, toán học mới chỉ ở giai đoạn toán học sơ cấp mộc mạc và cùng với nó làtriết học duy vật thô sơ, chất phác. Những kiến thức toán học mới chỉ là những phát kiến rờirạc, hầu như chưa có hệ thống đang hòa lẫn trong kho tàng các kiến thức triết học. Đó là hìnhhọc của Euclide, là những kiến thức về đại số (số thực, số phức, cách giải phương trình bậc 3,bậc 4, dùng công cụ logarit để tính toán gần đúng), về số học (số nguyên tố, ước chung lớnnhất, bội chung nhỏ nhất, phương trình Diophante), lượng giác. Lúc này triết học và toán họcgắn bó tới mức khó phân biệt ranh giới giữa chúng. Các nhà triết gia cũng đồng thời là cácnhà toán học: Thales, Pythagore, Zenon…Những tư tưởng, quan niệm toán học đã ảnh hưởngđến thế giới quan triết học của các ông, dù còn nhiều hạn chế nhưng ít nhiều chứa đựngnhững quan điểm duy vật biện chứng khá sâu sắc.Pythagore (547 – 471 TCN): là nhà toán học nổi tiếng thời cổ đại với những phát kiến vềtổng các góc trong tam giác, quan hệ giữa bình phương các cạnh trong tam giác vuông, về sốvô ước, số bè bạn, số hoàn chỉnh…Khi nghiên cứu toán học, Pythagore cho rằng con số là khởi nguyên của thế giới. Đối với
Xem thêm

27 Đọc thêm

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH
MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật chính là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Hiểu được nguyên lý này, chúng ta mới có thể vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế một cách đúng đắn và hợp lý.
Trong số các vấn đề về vận dụng mối liên hệ phổ biến vào thực tế ở nước ta hiện nay, phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một đề tài cấp thiết bởi trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang đi theo xu hướng mở cửa hội nhập và Việt Nam không phải ngoại lệ, tuy nhiên nếu trước tiên không xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì nước ta sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong quá trình hội nhập. Nhận thức rõ tính đúng đắn, cấp thiết của việc đặt ra vấn đề này, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
 Hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
 Hiểu rõ khái niệm “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
 Vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến để phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp.
Các nhiệm vụ, mục đích này sẽ lần lượt được giải quyết và đạt tới trong từng phần của bài tiểu luận.
Xem thêm

16 Đọc thêm

 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có vai trò quan trọng. Những quan hệ này cóthể góp phần củng cố quan hệ sở hữu và cũng có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu.Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong mộtphương thức sản xuất nhất định . Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị mỗi hình tháikinh tế xã hội ấy. Vì vậy khi nghiên cứu, xem xét tính chất của một hình thái xã hộithì không thể nào nhìn ở trình độ của lực lượng sản xuất mà còn phải xem xét đếntính chất của các quan hệ sản xuất.Quan hệ kinh tế tổ chức xuất hiện trong quá trình tổ chức sản xuất. Nó vừa biểuhiện quan hệ giữa người với người, vừa biểu hiện trạng thái tự nhiên kĩ thuật củanền sản xuất. Quan hệ kinh tế tổ chức phản ánh trình độ phân công lao động xã hội,chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất. Nó do tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất quy định.3. Quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtLực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quyluật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính chấtphụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất.Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất. Quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất là quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người. Sự tác động của nó tronglịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tếxã hội cao hơn.a, Những tác động cửa lực lượng sản xuất lên quan hệ sản xuất5Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sảnxuất quyết định.Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn,
Xem thêm

11 Đọc thêm

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa và phương pháp

Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VẬT CHẤT – Ý THỨC Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VẬT CHẤT – Ý THỨC Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCMKHOA YBÀI THU HOẠCHNGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC LÊNINPhân tích mối quan hệ biện chứng vật chất – ý thức& ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ nàyGiáo viên phụ trách:Người thực hiện: Võ Thị Hồng ĐàoNăm 20141PHẦN I: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT -ÝTHỨC1. Vật chấta. Định nghĩa vật chấtVật chất là một phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó.Theo định nghĩa của Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikhách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đây là địnhnghĩa khoa học nhất , hoàn chỉnh nhất về vật chất của V.I.Lênin trong tác phẩm Chủnghĩa duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán. Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩavật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộngnhất. Để định nghĩa vật chất, Lênin đã đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thựctại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vật chất tồn tại độc lập với
Xem thêm

12 Đọc thêm

Đề cương Triết 1 ngắn gọn, đủ ý

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT 1 NGẮN GỌN, ĐỦ Ý

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CNDV VÀ CNDT, TRIẾT HỌC NHỊ NGUYÊN. CÁC HÌNH THỨC CNDV VÀ CNDT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁCLÊNIN VỀ VẬT CHẤT, CÁC PHƯƠNG THỨC, HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ NÊU TRÊN. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC ; MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY. TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN. TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI.
Xem thêm

36 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT CAO HỌC: Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong toán học Một số vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông

TIỂU LUẬN TRIẾT CAO HỌC: SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TOÁN HỌC MỘT SỐ VẬN DỤNG VÀO HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY TOÁN PHỔ THÔNG

Trong lịch sử hình thành, phát triển của triết học và toán học cho chúng ta thấy chúng có mối quan hệ biện chứng sâu sắc với nhau. Mối quan hệ đó cũng được thể hiện qua câu nói của nhà toán học Pháp Emile Picard : “Abel cũng như những bậc thầy khác đã làm cho Toán học trở thành một thứ triết học trong sáng với logic chặt chẽ, suy diễn chính xác không thể chê vào đâu được”. Như vậy, toán học đã tác động mạnh mẽ và tích cực vào triết học, ngược lại triết học không chỉ đóng vai trò định hướng mà còn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của toán học. Vì vậy việc nghiên cứu và nắm vững phép biện chứng duy vật có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong công tác giảng dạy và nghiên cứu toán học. Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu. Vì thế, khi được dịp nghiên cứu và tiếp cận Triết học Mác – Lênin ở một góc độ sâu hơn, tôi đã tìm hiểu và nhận ra được rất nhiều điều bổ ích từ chính việc nghiên cứu này. Đặc biệt là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đó là lí do tôi muốn chia sẽ cùng các bạn qua tiểu luận: “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong toán học Một số vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông”. Lý luận và thực tiễn được thể hiện ở rất nhiều vấn đề, lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong phạm vi đề tài nhỏ này chúng ta sẽ cùng xem xét, phân tích để làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở một số khía cạnh có ích trong việc nhận thức toán học và vài vận dụng trong thực tiễn dạy học toán. Đồng thời qua các ví dụ trong tiểu luận, tôi cũng muốn nhắn với các bạn là toán học có rất nhiều điều thú vị và nó thể hiện rất nhiều trong cuộc sống xung quanh chúng ta.Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, lời cảm ơn thì tiểu luận bao gồm 3 chương như sau:Chương 1: Lý luận và thực tiễn trong phép biện chứng duy vậtChương 2: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện trong toán học.Chương 3: Vận dụng vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy toán phổ thông.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả

TÌNH HÌNH GIA TĂNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO QUA GÓC NHÌN BIỆN CHỨNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ

Theo phép biện chứng duy vật bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ nhân – quả, vì thế giới là một chuỗi liên hệ nhân quả trong thời gian dài vô tận. Các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng. Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới. Từ đó xuất hiện mối liên hệ nhân quả. Trong tình hình hiện nay, tội phạm mà đặc biệt là tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng đáng kể và những tác động của loại này để lại hậu quả rất lớn đến đời sống kinh tế. Việc đấu tranh và phòng ngừa đối với nhóm tội phạm công nghệ cao là vấn đề quan tâm hàng đầu. Những hậu quả do nhóm tội phạm này gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự của xã hội. Do đó, trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với mối quan hệ nhân – quả, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội phạm công nghệ cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đấu tranh và phòng ngừa nhóm hành vi phạm tội này. Vì vậy, đề tài “Tình hình gia tăng tội phạm công nghệ cao qua góc nhìn biện chứng của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả” cần được tiến hành.
Xem thêm

27 Đọc thêm

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ QUY LUẬT NHÂN QUẢ TRONG PHẬT GIÁO

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ TRONG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ QUY LUẬT NHÂN QUẢ TRONG PHẬT GIÁO

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………………………... 2
A. DẪN NHẬP 3
B. NỘI DUNG 5
I. Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Marx. ………………………………….5
II. Những tiền đề hình thành triết học Karl Maxr 6
1.Tiền đề kinh tế xã hội 6
2. Tiền đề khoa học tự nhiên. 6
3. Tiền đề lý luận 7
III. Khái niệm, mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả và ý nghĩa phương pháp luận của nó theo triết học Marx 7
1.Khái niệm nguyên nhân và kết quả 7
2.Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 8
3.Ý nghĩa phương pháp luận 8
IV. Nguyên nhân và kết quả theo giáo lý nhà Phật 8
1. Định nghĩa...........................................................................………..8
2.Những Ðặc Tính Của Luật Nhân Quả 9
3.Phân tích hành tướng của Nhân Quả trong thực tế 12
4. Nhân Quả Về Phương Diện Tinh Thần 13
5. Lợi ích đem lại cho chúng ta do sự hiểu biết và áp dụng luật nhân quả 14
6. Một vài quan điểm về sự sinh khởi của nhân quả 15
C. KẾT LUẬN 18
THƯ MỤC THAM KHẢO 20
Xem thêm

20 Đọc thêm

Tiểu luận: Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác

TIỂU LUẬN: PHÉP BIỆN CHỨNG LÀ MỘT KHOA HỌC TRIẾT HỌC, VÌ VẬY NÓ CŨNG PHÁT TRIỂN TỪ THẤP TỚI CAO MÀ ĐỈNH CAO LÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT MÁC

Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác

Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác - xít của triết học Mác - Lênin. (hỗ trợ đề 1)
1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản đã cung cấp thực tiễn cho C. Mác và Ph. Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận về phép biện chứng. Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu khoa học thực nghiệm. Đây là hai tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật.

Tiền đề lý luận của phép biện chứng duy vật chính là phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Các ông đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của nó là phép biện chứng và vứt bỏ cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần thánh hoá tư duy, nói cách khác các ông đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm Hêghen.

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trước đây duy vật nhưng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.

2. Nội dung chính của phép biện chứng duy vật
Theo C. Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C. Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen "đứng trên hai chân của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật.

Theo C. Mác thì phép biện chứng chính là "khoa học về mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy". Theo Lênin thì phép biện chứng là "học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính tương đối của sự vật".

Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1. Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống nhau; 3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các mối liên hệ được khái quát thành các cặp phạm trù như (phần tử - hệ thống, nguyên nhân - kết quả, lượng - chất) và các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định).
Xem thêm

118 Đọc thêm

BAI GIANG TRIET HOC CHUONG I

BAI GIANG TRIET HOC CHUONG I

Nếu (ý thức) nhận thức đúng, hành động sẽ đúng theo quy luậtkhách quan và ngược lạiSƯU TẦM: PHẠM QUỐC KHÁNHChương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGII. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨCVÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC3.MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨCVai trò của ý thức đối với vật chất:Giới hạn và điều kiện tác dụng năng động sáng tạo của ý thức tronghoạt động thực tiễnHoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội của con người chỉ có hiệu quả khi chủthể hoạt đông có tri thức; có ý chí quyết tâm, có niềm tin, nghị lực vươnlênĐiều kiện phát huy tác dụng:+ Phụ thuộc vào mức độ phản ánh đúng đắn hiện thực của ý thức+ Phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của ý thức vào quảng đại quầnchúng nhân dân+ Phụ thuộc vào sự vận dụng ý thức có đúng đắn, sáng tạo, phù hợp vớithực tiễn hay không+ Phụ thuộc voà những điều kiện vật chất, kỹ thuật, dân chủ của xã hộiSƯU TẦM: PHẠM QUỐC KHÁNHChương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGII. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨCVÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Xem thêm

23 Đọc thêm

phần 1: Các câu hỏi và bài làm có liên hệ đầy đủ thi Tốt nghiệp Trung cấp LLCTHC (có đủ cả 3 khối kiến thức)

PHẦN 1: CÁC CÂU HỎI VÀ BÀI LÀM CÓ LIÊN HỆ ĐẦY ĐỦ THI TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP LLCTHC (CÓ ĐỦ CẢ 3 KHỐI KIẾN THỨC)

Câu 1: phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Để tìm hiểu về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn ta phải hiểu và phát biểu được khái niệm lý luận và thực tiễn.Trước hết, ta tìm hiểu về khái niệm thực tiễn: Thực tiễn là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất, có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

22 Đọc thêm