TỬ VONG KHI ĐANG ĐIỀU TRỊ BẰNG OXY CAO ÁP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỬ VONG KHI ĐANG ĐIỀU TRỊ BẰNG OXY CAO ÁP":

Đánh giá vai trò của liệu pháp oxy cao áp trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não tại Bệnh viện Quân y 17

Đánh giá vai trò của liệu pháp oxy cao áp trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não tại Bệnh viện Quân y 17

Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả của liệu pháp oxy cao áp trong cải thiện chức năng thần kinh ở bệnh nhân (BN) đột quỵ thiếu máu não.

Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA THEO DÕI LIÊN TỤC ÁP LỰC OXY TỔ CHỨC NÃO TRONG HƯỚNG DẪN HỒI SỨC BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG

1. ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương sọ não (CTSN) là nguyên nhân gây tử vong chính ở những người trẻ tuổi. Trong thực tế, tình trạng thiếu oxy tổ chức não đã được quan sát thấy trong hơn 90% bệnh nhân (BN) tử vong do CTSN. Các tổn thương thứ phát này thường kết hợp với tình trạng suy giảm chuyển hóa gây ra hậu quả rất phức tạp, có thể không hồi phục được. Mối tương quan giữa kết cục xấu trong điều trị BN, đặc biệt là tỷ lệ tử vong với tăng ALNS đã được chứng minh rõ ràng. Phác đồ hướng dẫn điều trị hiện tại của Tổ chức kiểm soát CTSN nặng nhấn mạnh vai trò của theo dõi áp lực nội sọ (ALNS) trong hướng dẫn điều trị CTSN nặng, cho thấy sử dụng theo dõi ALNS trong hướng dẫn điều trị BN CTSN nặng có liên quan đến kết cục tốt hơn. Tuy nhiên, tổn thương não thứ phát không phải luôn liên quan với những thay đổi bệnh lý trong ALNS hoặc áp lực tưới máu não (ALTMN) mà còn có những cơ chế khác có thể là nguyên nhân của tình trạng thiếu oxy tổ chức não như cơ chế thiếu máu cục bộ, tắc vi mạch, phù nề do gây độc tế bào, hoặc rối loạn chức năng ty thể. Phương pháp theo dõi trực tiếp chuyển hóa oxy não như là theo dõi áp lực oxy tổ chức não (Pressure brain tissue oxygenation – PbtO2) cho phép đánh giá khả năng oxy hóa của mô não cũng như phát hiện sớm tình trạng thiếu oxy tổ chức não sau chấn thương. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa giá trị PbtO2 thấp với kết cục xấu cũng như tỉ lệ tử vong của BN và biện pháp điều trị dựa trên hướng dẫn của PbtO2 có thể cải thiện kết quả điều trị của BN sau CTSN. Ở Việt Nam, phương pháp theo dõi chuyển hóa oxy não trước đây vẫn chỉ dừng lại ở mức đánh giá một cách gián tiếp thông qua theo dõi bão hòa oxy tĩnh mạch cảnh trong (Saturation jugular venous oxygenation – SjO2). Phương pháp theo dõi trực tiếp áp lực oxy tổ chức não trong CTSN vẫn còn là một vấn đề mới, chưa được áp dụng trong lâm sàng cũng như vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của nó. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng" với các mục tiêu:
Xem thêm

24 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ TĂNG KALI MÁU

ĐIỀU TRỊ TĂNG KALI MÁU

ĐIỀU TRỊ TĂNG KALI MÁU Tăng kali máu được định nghĩa khi nồng độ kali máuvượt quá 5,5 mmolL (giá trị bình thường từ 3,5 5,5 mmolL). Đây là một bệnh lý hay gặp, lên tới 10% bệnh nhân nội trú. Và một nồng độ kali cao có tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời. Tăng kali máu cũng thường gặp khi xét nghiệm điện giải đồ thường quy ở một số bệnh nhân không có triệu chứng. Ngừng tim đôi khi là dấu hiệu đầu tiên của tăng kali máu, vì vậy các bác sĩ cần phải chú ý và hiểu được sự cần thiết phải điều trị khẩn cấp.
Xem thêm

7 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH BỆNH TẬT BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỚI BÌNH TRONG 04 NĂM 2006 - 2009

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH BỆNH TẬT BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỚI BÌNH TRONG 04 NĂM 2006 - 2009

tâm y tế thành bệnh viện đa khoa Huyện theo quyết định số 109/QĐCTUBND ngày 26/107/2005 của Chủ tịch UBND Tỉnh cà Mau. Trong 04 nămgần đây, bệnh viện chúng tôi do lực lượng đại học bị phân tán sau khi chiatách và tình hình công suất sử dụng giường bệnh bình quân hàng năm tăngcao, nên luôn trong tình trạng quá tải. Để đáp ứng với nhu cầu điều trị củabệnh nhân với nhu cầu thực tế đó, BVĐK Thới Bình đã áp dụng những biệnpháp tăng cường đầu tư cả về tổ chức, nhân lực và các trang thiết bị y tế, thuốcmen. Nhờ đó mà chất lượng điều trị bệnh nhân ngày càng được nâng cao –nhất là lĩnh vực cấp cứu. Tuy nhiên, qua đánh giá chúng tôi thấy những cốgắng trên đây vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của bệnh nhân.Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu đánh giá mô hình bệnhtật trong số bệnh nhân vào BVĐK Thới Bình từ tháng 01/01 /2006 đến31/12/2009 về các vấn đề như: phân bố theo tuổi, giới, dân tộc; phân bố bệnhtheo nhóm bệnh, phân bố bệnh tật theo tình trạng nhập viện, kết quả điều trịcủa từng nhóm bệnh. Trên cơ sở đó, phân tích tìm hiểu tình trạng quá tải ởbệnh viện và đề xuất các giải pháp phòng chống bệnh và giảm tải tại bệnhviện.1. CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1. Một số khái niệm về mô hình bệnh tậtMô hình bệnh tật của một cộng đồng trong một giai đoạn là cơ cấuphần trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh và tử vong của các bệnh của cộng đồngđó trong giai đoạn đó[5],[8]. Từ mô hình bệnh tật người ta có thể xác địnhđược các nhóm bệnh (bệnh) phổ biến nhất; các nhóm bệnh (bệnh) có tỷ lệ tửvong cao nhất để có cơ sở xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trước mắtvà lâu dài cho cộng đồng đó[5]. Thống kê bệnh tật và tử vong tại bệnh viện thểhiện trình độ, khả năng chẩn đoán, phân loại người bệnh theo các chuyên khoađể đảm bảo điều trị có hiệu quả, thực chất là khả năng đảm bảo phục vụ, chăm
Xem thêm

60 Đọc thêm

Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định

Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đặc trưng bỡi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và khí độc hại. Quá trình viêm mất cân bằng của hệ thống Proteinase, anti- Proteinase, sự tấn công của các gốc oxy tự do, làm phá hủy cấu trúc đường thở cũng như nhu mô phổi dẫn đến suy giảm chức năng hô hấp. gây ra sự khó thở và các triệu chứng hô hấp khác, và ngày càng làm xấu đi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra cả về tử suất cũng như bệnh suất ở các quốc gia đã và đang phát triển. Từ năm 1990 BPTNMT được thế giới xếp hạng là nguyên nhân thứ 12 gây ra tử vong và tàn phế nhưng có thể thành nguyên nhân thứ 3 vào năm 2020. Ở bệnh nhân BPTNMT, tỉ lệ sống sót trong thời gian 10 năm chỉ khoảng 50% chiếm hơn 1/3 số bệnh nhân tử vong do suy hô hấp[26]. Ở nước ta, tại hội thảo "Kiểm soát hen và BPTNMT" tổ chức tại TP.HCM ngày 11/3/2007, tiến sĩ Suzanne Hurd - Chủ tịch Hội đồng khoa học thuộc Tổ chức Phòng chống bệnh hen và BPTNMT toàn cầu cho biết, Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc bệnh BPTNMT cao nhất châu Á - Thái Bình Dương với 6,7% dân số với trên 4 triệu người mắc hen; trong đó 3.000 người tử vong/năm[53]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên và cộng sự đã báo cáo năm 2010. Nghiên cứu thực hiện 25.000.000 người lớn từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh thành phố đại diện cho dân số Việt Nam từ tháng 09/2006 đến 06/2007, kết quả: Tỉ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi 2,2%, tỉ lệ mắc BPTNMT ở Nam là 3,4% và ở nữ là 1,1%. Tỉ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi đó lứa tuổi dưới 40 là 0,4%. Ở nông thôn có tỉ lệ mắc BPTNMT cao hơn ở miền núi và thành thị. Miền Bắc có tỉ lệ BPTNMT cao nhất 5,7% so với Miền Trung là 4,6% và Miền Nam là 1,9%. Các yếu tố nguy cơ chủ yếu là do hút thuốc gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần[17]. Hiện nay một số nghiên cứu chứng minh rằng, ở những bệnh nhân BPTNMT do tình trạng thiếu oxy máu kéo dài, có thể do tác hại của thuốc lá hoăc do các chất trung gian phản ứng viêm gây tổn thương màng lọc cầu thận làm rò rỉ một lượng protein niệu hay còn gọi là albumin niệu vi thể có trong nước tiểu bệnh nhân BPTNMT. Đây cũng là dấu ấn sinh học quan trọng để phát hiện sớm và điều trị kịp thời những biến chứng tim mạch và hạn chế tử vong ở bệnh nhân BPTNMT. Cơ chế sinh bệnh chủ yếu là do ảnh hưởng của cấu trúc và chức năng vi huyết quản hệ thống. Theo các tác giả Casanova C, de Torres JP, Navarro J, Aguirre-Jaime A và cộng sự Bệnh viện Universitario La Candelaria Tây Ban Nha nghiên cứu 129 bệnh nhân BPTNMT ổn định và 51 người hút thuốc lá được đo phế dung kế bình thường và không mắc bệnh tim mạch cho kiểm tra nồng độ albumin niệu và nhận thấy nồng độ albumin niệu ở nhóm bệnh nhân BPTNMT cao hơn ở nhóm hút thuốc lá (Bệnh nhân BPTNMT chiếm 24%, hút thuốc lá chiếm 6%)và có liên quan đến sự thiếu Oxy trong máu ( PaO2) [35]. Một nghiên cứu khác Bulcun E , Ekici M , Ekici A ,Kisa U Trường Đại học Y khoa Kirikkale Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu 66 bệnh nhân BPTNMT và 40 người hút thuốc đo phế dung kế bình thường cho kiểm tra albumin niệu vi thể cũng cho kết quả tỉ lệ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT cao hơn hút thuốc lá và nhận thấy albumin niệu vi thể phụ thuộc vào tình trạng nặng lên BPTNMT và nồng độ PaO2 trong máu[31]. Tuy nhiên trong nước chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu albumin niệu vi thể ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá giai đoạn ổn định” Nhằm các mục tiêu: 1 .Khảo sát nồng độ albumin niệu vi thể ở bệnh nhân BPTNMT do thuốc lá giai đoạn ổn định bằng chỉ số albumin/creatinin niệu.Nong do albumin nieu the 2. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ albumin niệu vi thể với tuổi, số lượng thuốc lá được dùng, BMI, thời gian phát hiện bệnh, khó thở theo mMRC, HA tâm thu, HA tâm trương, FEV1, FVC, khí máu động mạch, lipid máu.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM TRÙNG Ở TRẺ EM

ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM TRÙNG Ở TRẺ EM

ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM TRÙNG Ở TRẺ EM THEO MỤC TIÊU SỚM TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC – CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TÓM TẮT Mục tiêu: Đánh giá điều trị theo mục tiêu sớm sốc nhiễm trùng ở trẻ em tại khoa Hồi sức tích cực – Chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01042013 –31032014. Thiết kế: mô tả tiến cứu. Kết quả chính: Tám mươi bảy trẻ sốc nhiễm trùng được chẩn đoán dựa trên lâm sàng và xét nghiệm, được đưa vào lô nghiên cứu, tuổi trung bình 22,6 tháng, nhỏ nhất 4 tháng, nam chiếm tỉ lệ 55,2% nữ 45,8%. Kết quả điều trị theo mục tiêu sớm sau 6 giờ hồi sức sốc với huyết động tạm ổn định 74,7%, đạt nước tiểu ≥ 1mlkggiờ 62,5%, đạt trị số CVP ≥ 8mmHg (≥ 10 cmH2O) 60,8%, đạt ScvO2 ≥ 70%: 83,7%. Mục tiêu đạt lactate máu ≤2mmolL đạt 60,9%, độ thanh thải lactate máu ≥ 10%: 62,5%. Kết quả điều trị tỉ lệ tử vong 23%. Kết luận: Điều trị sốc nhiễm trùng ở trẻ em theo mục tiêu sớm giúp cải thiện tỉ lệ tử vong. Các biện pháp cải thiện tỉ lệ đạt mục tiêu sớm bao gồm cụ thể hóa phác đồ rõ ràng, tập huấn phác đồ, tăng cường huấn luyện thành thạo kỹ năng thao tác kỹ thuật nâng cao như đo CVP, HAĐMXL đi đôi với trang bị các phương tiện hồi sức hiện đại và đặc biệt là giám sát chặt chẽ việc tuân thủ phác đồ điều trị để điều chỉnh kịp thời nhằm cứu sống nhiều hơn nữa bệnh nhân sốc nhiễm trùng.
Xem thêm

Đọc thêm

Tìm hiểu nhận thức, thái độ và thực hành phòng bệnh đối với tiêu chảy cấp của sinh viên năm 2 Trường Đại học Y Dược Huế

Tìm hiểu nhận thức, thái độ và thực hành phòng bệnh đối với tiêu chảy cấp của sinh viên năm 2 Trường Đại học Y Dược Huế

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn là nguyên nhân gây tiêu chảy cấp thường gặp, nguy cơ ở các nước có mức sống cao do ăn phải thức ăn bị nhiễm trùng hay độc tố của chúng [21]. Đối với trẻ em ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, ước tính hàng năm có tới 1,3 triệu lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy và 4 triệu trẻ em chết vì bệnh này. Theo thống kê một trẻ mắc 3 - 4 lần tiêu chảy trong một năm, tiêu chảy tập trung ở lứa tuổi 6 - 24 tháng, lứa tuổi ăn dặm. Ở các nước đang phát triển có 80% trường hợp tử vong do tiêu chảy xảy ra ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi [9], [14], [17], [18], [20], [26]. Nguyên nhân gây ra tử vong của tiêu chảy là do cơ thể bị mất nước và điện giải. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng dễ dẫn đến tiêu chảy. Không những thế bệnh tiêu chảy còn là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển, bởi vì trình độ dân trí ở các nước này chưa cao, cho nên ý thức phòng bệnh tiêu chảy chưa được tốt, hơn nữa khi mắc bệnh tiêu chảy thì không phát hiện bệnh sớm và xử lý đúng, kịp thời dẫn đến xử lý không hiệu quả, chi phí điều trị cao, thậm chí có thể tử vong. Do vậy từ năm 1978 Tổ chức Y tế Thế giới đã thành lập trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy trẻ em tại Bangladesh. Ở Việt Nam chương trình quốc gia phòng chống tiêu chảy làm giảm tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi. Điều đó nói lên tầm quan trọng của việc phòng chống tiêu chảy trong nhân dân, hơn nữa bệnh tiêu chảy hoàn toàn có thể phòng ngừa và điều trị được, điều đó phụ thuộc vào sự hiểu biết sự đồng thuận của cộng đồng. Bệnh tiêu chảy nếu được phát hiện sớm chỉ cần điều trị đơn giản nhưng có hiệu quả, có thể làm giảm hầu hết các trường hợp nhập viện không cần thiết và làm giảm rõ ràng số lượng tử vong. Các phương pháp này ngày càng phổ biến hơn tại cộng đồng và đã đóng góp rất lớn vào việc hạn chế số lượng mắc, rút ngắn thời gian điều trị và giảm tỷ lệ tử vong do tiêu chảy [8], [12], [14], [15], [20]. Với những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài "Tìm hiểu nhận thức, thái độ và thực hành phòng bệnh đối với tiêu chảy cấp của sinh viên năm 2 Trường Đại học Y Dược Huế" nhằm 2 mục tiêu: 1. Tìm hiểu sự nhận thức, thái độ và thực hành phòng bệnh đối với bệnh tiêu chảy cấp của sinh viên Y khoa năm thứ 2 trường Đại học Y Dược - Huế. 2. Xác định một vài yếu tố liên quan với sự nhận thức, thái độ đối với bệnh tiêu chảy cấp của sinh viên.
Xem thêm

Đọc thêm

lUẬN VĂN: Nghiên cứu chế tạo tinh thể paracetamol kích thước nhỏ và khảo sát dược động học

LUẬN VĂN: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO TINH THỂ PARACETAMOL KÍCH THƯỚC NHỎ VÀ KHẢO SÁT DƯỢC ĐỘNG HỌC

2.1.TỔNG QUAN VÈ PARACETAMOL 2.1.1.Lịch sử phát hiện paracetamol[16] Từ xưa, cây liễu được biết đến như một vị thuốc có tác dụng hạ sốt, mà sau này khi nghiên cứu về cầy thuốc trên, các nhà khoa học đã chiết suất được aspirin, một loại thuốc có tác dụng hạ sốt giảm đau kháng viêm. Vào thế kỷ 19, cây Canh kỉ na (Cinchona) và chất chiết suất từ nó là quinin được dùng để làm thuốc hạ sốt trong điều trị bệnh sốt rét. Khỉ cây Canh kỉ na dần khan hiếm vào những năm 1880, người ta bắt đầu đỉ tìm các thuốc thay thế. Khi đó hai thuốc thay thế được tìm ra là acetanilide năm 1886 và phenacetin năm 1887. Năm 1878, Harmon Northrop Morse đã tổng hợp được paracetamol đầu tiên. Tuy nhiên, paracetamol đã không được dùng làm thuốc điều trị trong suốt 15 năm sau đó. Năm 1893, paracetamol đã được tìm thấy trong nước tiểu của người uống phenacetỉn và đã được cô đặc thành một chất kết tính màu trắng có vị đắng. Năm 1899, paracetamol được khám phá là một chất chuyển hóa của acetanilide. Khám phá này đã bị lãng quên vào thời gian đó. Năm 1946, Viện nghiên cứu về giảm đau và thuốc giảm đau (the Institute for the study of Analgesic and Sedative Drugs) đã tài trợ cho Sở y tế New York để nghiên cứu cảc vấn đề xung quanh các thuốc điều trị đau. Bernard Brodle và Julius Axelrod được chỉ định nghiên cứu tại sao các thuốc non-aspỉrin lại liên quan đến tình trạng gầy met-hemoglobin (tình trạng làm giảm lượng oxy được mang ừong hồng cầu và có thể gầy tử vong). Năm 1948, Brodie và Axelrod đã kết nối việc sử dụng acetanilide với met-hemoglobin và xác định được rằng, tác dụng giảm đau của acetanilide là do paracetamol, chất chuyển hóa của nó gây ra. Họ chủ trưong sử dụng paracetamol ữong điều trị và từ đó không xuất hiện các độc tính như của acetanilide nữa. Sản phẩm paracetamol đầu tiên đã được McNeil Laboratories bán ra năm 1955 như một thuốc hạ sốt giảm đau cho trẻ an với tên Tylenol Children’s Elixừ. Sau này, paracetamol đã trở thành thuốc giảm đau hạ sốt được sử dụng rộng rãi nhất với rất nhiều tên biệt dược được lưu hành như: panadol, panamax, dymaton,...
Xem thêm

131 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG TĨNH MẠCH Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG VIÊM RUỘT HOẠI TỬ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG TĨNH MẠCH Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG VIÊM RUỘT HOẠI TỬ

gặp ở trẻ sinh non, trong đó tất cả thành phần của ống tiêu hóa có thể bị ảnhhưởng, bao gồm chảy máu, loét và hoại tử [1]. VRHT hay gặp thứ 3 sau viêmphổi và vàng da tăng bilirubin tự do ở trẻ sơ sinh, đặc biệt sơ sinh non thángnhẹ cân (2,6-2,8% ở trẻ sinh non rất thấp cân) [2]. VRHT đang là vấn đề sứckhỏe được quan tâm trên toàn cầu nhất là ở các quốc gia có tỷ lệ trẻ sinh noncao. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bệnh viện nhi đồng I (2013) >90%VRHT xảy ra ở trẻ sinh non [3].Ngày nay, mặc dù tỷ lệ tử vong do VRHT giảm nhờ tiến bộ trong chẩnđoán (bảng phân loại VRHT của Bell cải tiến) và điều trị (phương pháp nuôidưỡng qua đường tĩnh mạch hoàn toàn - Total Parentaral Nutrition- TPN) [1]nhưng bệnh vẫn để lại hậu quả gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe như suydinh dưỡng, chậm phát triển thể chất - tâm thần, giảm chất lượng cuộc sống,hơn thế nữa hiện chưa có chiến lược dự phòng VRHT.Trên thế giới, nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn đã được áp dụng khoảng40 năm, là phương pháp nuôi dưỡng được sử dụng rộng rãi. Tại Việt Nam, dođiều kiện còn khó khăn và thiếu các trang thiết bị nên dịch nuôi dưỡng tĩnhmạch hoàn toàn (TPN) hầu hết là tự pha và chỉ tập trung vào yếu tố đa lượngmà chưa chú ý đến vi chất dinh dưỡng do vậy việc sử dụng TPN dài ngày chobệnh nhân vẫn còn nhiều hạn chế. Từ 10/2011, Viện Nhi TW đã ứng dụng dungdịch pha chế theo công thức chuẩn để nuôi dưỡng tĩnh mạch (PN), nên kết quảđiều trị cải thiện rõ [4], [5].Với tỷ lệ bệnh tật và tử vong cao, điều trị kém hiệu quả, căn nguyênchưa rõ, nên tới nay VRHT vẫn là thách thức của ngành nhi khoa trong vấnđề điều trị và phòng bệnh, hơn nữa, dung dịch PN chuẩn được pha chế theo3công thức không phải ở đâu và nơi nào cũng có nên hiệu quả của dinh dưỡngđường tĩnh mạch cho bệnh nhân VRHT đang là vấn đề được quan tâm tại đơn
Xem thêm

Đọc thêm

Bệnh lạ gây tử vong ở Quảng Nam nghi là bạch hầu

BỆNH LẠ GÂY TỬ VONG Ở QUẢNG NAM NGHI LÀ BẠCH HẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày 15-7, Sở Y tế tỉnh Quảng Nam đã có báo cáo gửi Bộ Y tế và UBND tỉnh Quảng Nam về tình hình dịch bệnh ở xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Theo đó, sở đã ghi nhận có ổ dịch bạch hầu tại thôn 8B, xã Phước Lộc. Qua giám sát, phát hiện, theo dõi tại thực địa đã ghi nhận 13 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu với các triệu chứng sốt, sưng hạch cổ, ăn uống khó.   Các bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Phước Sơn trao đổi thông tin với báo chí Trong đó, ca nhỏ nhất 2 tuổi, ca lớn nhất 45 tuổi. Tại thôn 8B có 9 ca thì 7/9 ca cùng một gia đình, 2 ca còn lại sống gần gia đình nói trên; thôn 8A có 4 ca. Đến nay, 10 ca đã được điều trị ổn định, 3 ca đã tử vong. Thực hiện xét nghiệm ở 10/13 ca đã có kết quả của 7 mẫu xét nghiệm. Trong đó, chỉ có 1 ca dương tính với virus bạch hầu đã được điều trị ổn định, riêng 2 ca tử vong có kết quả âm tính. Theo phản ánh của người dân, ngoài 3 trường hợp trên, từ ngày 18 đến ngày 30-5, tại thôn 8A và 8B của xã Phước Lộc cũng có 3 người chết với cùng triệu chứng sưng đau ở cổ họng. Ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn, xác nhận thông tin trên. Ông Hà cho biết thời điểm đó huyện không hề biết, chỉ đến khi có 3 trường hợp tử vong vào tháng 7, người dân xuống UBND xã Phước Lộc xin tiền về để mai táng, cán bộ hỏi mới biết chuyện, huyện đã ngay lập tức cắt cử lực lượng đến kiểm tra, vận động người dân đi điều trị. Hiện tại, vẫn còn 6 trường hợp đang được điều trị cách ly tại Trung tâm Y tế huyện Phước Sơn. Các bệnh nhân này hiện sức khỏe đã ổn định, ăn uống và đi lại bình thường nhưng đang tỏ ra rất lo lắng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của theo dõi liên tục áp lực oxy tổ chức não trong hướng dẫn hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA THEO DÕI LIÊN TỤC ÁP LỰC OXY TỔ CHỨC NÃO TRONG HƯỚNG DẪN HỒI SỨC BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương sọ não là một vấn đề nghiêm trọng trong chăm sóc y tế, là nguyên nhân gây tử vong chính ở những người trẻ tuổi. Tỉ lệ tử vong do chấn thương sọ não (CTSN) là 10-15/100.000, thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm địa lí từng vùng với tỉ lệ tử vong thấp hơn ở những nước phát triển [2]. Tỉ lệ CTSN cao nhất hay gặp ở các nước thế giới thứ 2 và 3. Trong thực tế, tình trạng thiếu oxy tổ chức não đã được quan sát thấy trong hơn 90% bệnh nhân tử vong do CTSN [3], [4]. Các tổn thương thứ phát này thường kết hợp với tình trạng suy giảm chuyển hóa gây ra hậu quả rất phức tạp, có thể không hồi phục lại được. Các biện pháp điều trị nhằm kiểm soát tổn thương não thứ phát vẫn chưa thực sự có hiệu quả trong các thử nghiệm lâm sàng bởi một phần các phương pháp theo dõi sinh lý não sau CTSN mới bắt đầu được làm sáng tỏ [5], [6], [7]. Mối tương quan giữa kết cục xấu trong điều trị bệnh nhân, đặc biệt là tỷ lệ tử vong với tăng áp lực nội sọ (ALNS) đã được chứng minh rõ ràng [8], [9]. Phác đồ hướng dẫn điều trị hiện tại của Tổ chức kiểm soát CTSN nặng nhấn mạnh vai trò của theo dõi ALNS trong hướng dẫn điều trị CTSN nặng [8]. Một số nghiên cứu cho thấy sử dụng theo dõi ALNS trong hướng dẫn điều trị bệnh nhân CTSN nặng có liên quan đến kết cục tốt hơn, mặc dù vẫn chưa có một thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh được điều này [10]. Tuy nhiên, tổn thương não thứ phát không phải luôn liên quan với những thay đổi bệnh lý trong ALNS hoặc áp lực tưới máu não (ALTMN) [11],[12],[13] và các biện pháp điều trị nhằm duy trì mức ALNS và ALTMN trong giới hạn bình thường không phải luôn luôn ngăn ngừa được tình trạng thiếu oxy tổ chức não sau CTSN [14]. Một nghiên cứu gần đây sử dụng kĩ thuật chụp cắt lớp phát xạ pozitron (pozitron emission tomography - PET) [15] cho thấy không đơn giản chỉ có cơ chế tưới máu mà còn có những cơ chế khác có thể là nguyên nhân của tình trạng thiếu oxy tổ chức não như cơ chế thiếu máu cục bộ, tắc vi mạch [16], phù nề do gây độc tế bào [17], hoặc rối loạn chức năng ty thể [18]. Những dữ liệu này gợi ý các phương pháp theo dõi thần kinh mới hơn về sinh lý và chuyển hóa oxy não như phương pháp theo dõi áp lực oxy tổ chức não (Pressure brain tissue oxygenation – PbtO 2 ) có thể đóng một vai trò quan trọng cho phép đánh giá khả năng oxy hóa của mô não cũng như phát hiện sớm tình trạng thiếu oxy tổ chức não sau chấn thương. Nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa giá trị PbtO 2 thấp với kết cục xấu cũng như tỉ lệ tử vong của bệnh nhân và phác đồ điều trị dựa trên hướng dẫn của PbtO 2 có thể cải thiện kết quả điều trị của bệnh nhân sau CTSN [19], [20], [21]. Ở Việt Nam, phương pháp theo dõi chuyển hóa oxy não trước đây vẫn chỉ dừng lại ở mức đánh giá một cách gián tiếp thông qua theo dõi bão hòa oxy tĩnh mạch cảnh trong (Saturation jugular venous oxygenation – SjO 2 ) [22]. Phương pháp theo dõi trực tiếp áp lực oxy tổ chức não trong CTSN vẫn còn là một vấn đề mới, chưa được áp dụng trong lâm sàng cũng như vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của nó. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu: 1. Xác định mối tương quan giữa PbtO 2 với ALNS, ALTMN và kết quả điều trị trong CTSN nặng. 2. Phân tích vai trò tiên lượng của PbtO 2 trong CTSN nặng. 3. Đánh giá kết quả điều trị trong CTSN nặng theo phác đồ dựa vào hướng dẫn của PbtO 2 .
Xem thêm

150 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG TĨNH MẠCH Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG VIÊM RUỘT HOẠI TỬ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG TĨNH MẠCH Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG VIÊM RUỘT HOẠI TỬ

1ĐẶT VẤN ĐỀViêm ruột hoại tử (VRHT) là bệnh lý viêm cấp tính do đa yếu tố gâynên, sinh lý bệnh chưa thật sự rõ ràng nhưng là bệnh lý tiêu hóa mắc phải haygặp ở trẻ sinh non, trong đó tất cả thành phần của ống tiêu hóa có thể bị ảnhhưởng, bao gồm chảy máu, loét và hoại tử [1]. VRHT hay gặp thứ 3 sau viêmphổi và vàng da tăng bilirubin tự do ở trẻ sơ sinh, đặc biệt sơ sinh non thángnhẹ cân (2,6-2,8% ở trẻ sinh non rất thấp cân) [2]. VRHT đang là vấn đề sứckhỏe được quan tâm trên toàn cầu nhất là ở các quốc gia có tỷ lệ trẻ sinh noncao. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bệnh viện nhi đồng I (2013) >90%VRHT xảy ra ở trẻ sinh non [3].Ngày nay, mặc dù tỷ lệ tử vong do VRHT giảm nhờ tiến bộ trong chẩnđoán (bảng phân loại VRHT của Bell cải tiến) và điều trị (phương pháp nuôidưỡng qua đường tĩnh mạch hoàn toàn - Total Parentaral Nutrition- TPN) [1]nhưng bệnh vẫn để lại hậu quả gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe như suydinh dưỡng, chậm phát triển thể chất - tâm thần, giảm chất lượng cuộc sống,hơn thế nữa hiện chưa có chiến lược dự phòng VRHT.Trên thế giới, nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn đã được áp dụng khoảng40 năm, là phương pháp nuôi dưỡng được sử dụng rộng rãi. Tại Việt Nam, dođiều kiện còn khó khăn và thiếu các trang thiết bị nên dịch nuôi dưỡng tĩnhmạch hoàn toàn (TPN) hầu hết là tự pha và chỉ tập trung vào yếu tố đa lượngmà chưa chú ý đến vi chất dinh dưỡng do vậy việc sử dụng TPN dài ngày chobệnh nhân vẫn còn nhiều hạn chế. Từ 10/2011, Viện Nhi TW đã ứng dụng dungdịch pha chế theo công thức chuẩn để nuôi dưỡng tĩnh mạch (PN), nên kết quảđiều trị cải thiện rõ [4], [5].Với tỷ lệ bệnh tật và tử vong cao, điều trị kém hiệu quả, căn nguyênchưa rõ, nên tới nay VRHT vẫn là thách thức của ngành nhi khoa trong vấn2
Xem thêm

Đọc thêm

Khóa luận tốt nghiệp Nghiên cứu căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hô hấp dưới tại bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí 2015

Khóa luận tốt nghiệp Nghiên cứu căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hô hấp dưới tại bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí 2015

Nghiên cứu căn nguyên VK gây bệnh chủ yếu tại BV VNTĐ UB năm 2015; mẫu bp đờm và dịch phế quản. ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là căn bệnh gặp rất phổ biến ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Trong đó, bệnh NKHH dưới tuy ít gặp hơn nhưng có tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với bệnh NKHH trên. Trong năm 2013 bệnh NKHH dưới dẫn đến 2,7 triệu ca tử vong, chiếm 4,8% các trường hợp tử vong trên toàn thế giới 19. Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2013) nhiễm khuẩn đường hô hấp có tỷ lệ mắc ngày càng nhiều và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất hiện nay 21. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các vi khuẩn (VK) gây bệnh thường gặp trong NKHH dưới là trực khuẩn gram âm 5,12. Thêm vào đó, nhiễm khuẩn do VK Gram âm thường có tỷ lệ tử vong cao không chỉ do cơ chế sinh bệnh khá phức tạp của chúng mà còn do khó chọn được kháng sinh (KS) thích hợp ngay từ ban đầu vì khả năng đề kháng khá cao với các KS mạnh và phổ rộng 18. Nghiên cứu tại Bệnh viện Thống Nhất của Cao Minh Nga (2008) cho thấy VK P.aeruginosa kháng ở mức cao với hầu hết KS thường dùng như gentamicin (62,93%), amikacin (49,02%) và cefepime (51,24%) 11. Các VK họ đường ruột gây bệnh cũng có xu hướng kháng kháng sinh (KKS) ngày một cao như Enterobacter sp, E. coli kháng imipenem và meropenem dưới 5%, kháng lại piperacillintazobactam là 7,59 và 8,7%; Klebsiella sp có tỷ lệ kháng ertapenem là 12,8% 8,14. Mức độ KKS cũng khác nhau đối từng loại VK và từng vị trí địa lý khác nhau. Vì vậy theo dõi tình trạng KKS là việc hết sức cần thiết, giúp cho việc lựa chọn KS điều trị trên lâm sàng đạt hiệu quả tốt, giảm được nhiễm khuẩn thứ phát và khả năng tái phát khó điều trị ở các bệnh nhân bị NKHH dưới.
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn TN BS Y khoa- Nghiên cứu sự biến đổi công thức bạch cầu máu trong hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Trung Ương Huế

Luận văn TN BS Y khoa- Nghiên cứu sự biến đổi công thức bạch cầu máu trong hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Trung Ương Huế

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh mạch vành là một gánh nặng toàn cầu. Trong năm 2001, bệnh mạch vành gây 7.2 triệu trường hợp tử vong trên thế giới và 59 triệu năm- đời sống tàn phế. Đặc biệt, bệnh mạch vành là một bệnh rất trầm trọng và rất phổ biến ở các quốc gia phát triển như : Mỹ, các nước Tây Âu và các nước phát triển khác.Theo thống kê 2004, ở Mỹ có 452,327 ca tử vong mỗi năm, chi phí hàng năm cho căn bệnh này khoảng 300 tỷ đôla [20], [34]. Bệnh có xu hướng tăng lên ở các nước đang phát triển.Từ năm 1990 đến năm 2020, dự đoán tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở các nước đang phát triển là 120% đối với nữ và 137% đối với nam. Ở Việt Nam, dù chưa có thống kê nào về tần suất và tỷ lệ tử vong trong toàn dân nhưng cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, bệnh mạch vành đã trở thành mối đe dọa thực sự đối với cộng đồng.Tại Viện Tim mạch học Việt Nam, năm 1991 tỷ lệ mắc bệnh mạch vành chiếm 3%, năm 1996 đã tăng lên 6.05% và năm 1999 là 9.5%. Theo thống kê của Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ riêng năm 2000 đã có 3,222 bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và đã tử vong 122 trường hợp [4], [20]. Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhất là phương pháp can thiệp mạch vành cấp cứu hiện nay đã làm cho tỉ lệ tử vong của hội chứng vành cấp giảm đi đáng kể.Tuy nhiên đây vẫn là một bệnh lý cấp cứu, nếu không được chẩn đoán và xử trí đúng bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao và nhiều biến chứng nặng. Do đó, đứng trước một bệnh nhân bị hội chứng vành cấp thì chúng ta không chỉ áp dụng các biện pháp chẩn đoán và điều trị hiện đại mà vấn đề quan trọng là đánh giá đúng và đầy đủ các yếu tố nguy cơ cũng như các yếu tố tiên lượng để từ đó có thái độ xử trí đúng, có kế hoạch điều trị và theo dõi bệnh nhân được hiệu quả. Trên thế giới, nhiều yếu tố được nghiên cứu đánh giá là có giá trị tiên lượng bệnh như: tuổi, giới, phân độ Killip, nhịp tim, huyết áp tâm thu... và số lượng bạch cầu máu được nhắc đến như là một yếu tố tiên lượng độc lập, khá khách quan và có hiệu lực cao trong hội chứng vành cấp [21]. Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của viêm trong bệnh động mạch vành, nhưng nghiên cứu về bạch cầu trong mảng này còn ít .Sự quan tâm của chúng tôi đối với đề này là mong muốn hiểu thêm về vai trò của bạch cầu trong bệnh động mạch vành và có thể đóng góp một phần nhỏ công trình nghiên cứu về yếu tố tiên lượng của hội chứng vành cấp tại Việt Nam. Ngoài ra, xét nghiêm bạch cầu máu là một xét nghiệm đơn giản, ít tốn kém có sẵn tại khoa phòng, không đòi hỏi kỹ thuật cao nên dễ ứng dụng trong thực tế.Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi công thức bạch cầu máu trong hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Trung Ương Huế”. Đề tài này được thực hiện nhằm hai mục tiêu sau: 1. Tìm hiểu đặc điểm số lượng,tỷ lệ bạch cầu máu ở bệnh nhân bị hội chứng vành cấp. 2. Tìm hiểu mối liên quan của sự biến đổi công thức bạch cầu với tỉ lệ tử vong, các biến cố tim mạch khác ở bệnh nhân hội chứng vành cấp trong thời gian theo dõi một tuần lễ.
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU CREGS

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU CREGS

Đột quỵ là một bệnh lý phổ biến; nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 và nguyên nhân gây tàn tật thứ 2 trên thế giớiĐiều trị đột quỵ trong giai đoạn cấp đã có nhiều tiến bộ, làm giảm tỷ lệ tử vong, hạn chế di chứng. Cerebrolysin, một thuốc thuộc nhóm bảo vệ thần kinh, đã được sử dụng rộng rãi trên thê giới để điều trị đột quỵ giai đoạn cấp và tăng cường sự hồi phục của bệnh nhân đột quỵ sau giai đoạn cấpNghiên cứu CREGS, một nghiên cứu Cerebrolysin quốc tế, đa trung tâm, thông qua hệ thống quản lý đăng ký bệnh nhân đột quỵ (SITS).
Xem thêm

Đọc thêm

BỆNH THỦY ĐẬU CÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ NHANH KHỎI, KHÔNG ĐỂ LẠI SẸO

BỆNH THỦY ĐẬU CÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ NHANH KHỎI, KHÔNG ĐỂ LẠI SẸO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu Bệnh thủy đậu do một loại siêu vi mang tên varicella zoster virus gây ra. Bệnh này rất dễ lây truyền qua đường hô hấp và qua tiếp xúc dịch tiết. Khoảng 10 - 14 ngày sau khi xâm nhập vào cơ thể, người bệnh bắt đầu biểu hiện triệu chứng nhiễm thủy đậu. Trẻ nhỏ thường sốt nhẹ, biếng ăn còn người lớn bị sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Sau đó cơ thể sẽ bắt đầu nổi mụn nước ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước có đường kính vài milimet. Nếu bị nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng. Sau khi nốt đậu mọc thì thường người bệnh giảm sốt và tổn thương bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy vài ngày sau đó nhưng để lại sẹo mờ trên da sau vài tuần mới hết hẳn. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần.   Bệnh thủy đậu có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm, đặc biệt ở trẻ nhỏ (Ảnh minh họa) Tuy nhiên, có những biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu cần lưu ý: Nhiễm trùng tại các nốt đậu: Khi nốt đậu bị vỡ hoặc trầy xước, có thể gây viêm tấy, nhiễm khuẩn da gây viêm mủ da, chốc lở thậm chí gây viêm cầu thận cấp... Nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng, để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu. Viêm phổi: Biến chứng thường gặp ở người lớn hơn là trẻ em và thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 của bệnh. Biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu, đây là biến chứng rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể tử vong. Viêm não: Bệnh thủy đậu có thể gây biến chứng viêm màng não vô khuẩn đến viêm não, thường gặp ở người lớn. Gặp biến chứng này, tỉ lệ tử vong chiếm 5-20%. Ngay cả khi được cứu sống vẫn có thể để lại di chứng nặng nề hoặc phải sống đời thực vật. Biến chứng với phụ nữ mang thai: Nếu mẹ mắc thủy đậu từ 5 ngày trước đến 2 ngày sau khi sinh, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh thủy đậu chu sinh và có tỉ lệ tử vong cao (khoảng 30%). Nếu mẹ mắc thủy đậu trước sinh trên 1 tuần diễn biến lành tính, khi sinh trẻ có kháng thể nên không nguy hiểm lắm. Mẹ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai dưới 20 tuần sinh con ra sẽ có một tỉ lệ nhỏ (khoảng 2%) bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện: sẹo da, nhẹ cân, các bệnh về mắt (đục thủy tinh thể, tổn thương võng mạc...), tay chân ngắn, đầu bé, chậm phát triển tâm thần...   Hướng dẫn cách điều trị bệnh thủy đậu nhanh và hiệu quả Cách điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh mà cách điều trị bệnh thủy đậu tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu. Cần cho người bệnh đi khám bệnh ngay. Căn cứ vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ cho điều trị nội trú hoặc điều trị tại nhà. Điều quan trọng nhất trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là làm sạch da và vệ sinh thân thể: - Cho người bệnh nằm nghỉ trong 1 phòng thoáng mát, sạch sẽ, ăn các chất dễ tiêu. - Chú ý cắt ngắn móng tay và giữ sạch tay. _ Trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (talc) vô khuẩn hoặc phấn rôm khắp người để trẻ đỡ ngứa. - Tắm rửa bằng các dung dịch sát khuẩn - Tránh cọ xát làm các bóng nước bị vỡ. Điều trị triệu chứng: - Tại chỗ nốt đậu dập vỡ nên chấm dung dịch xanh metylen. - Chống ngứa để bệnh nhân đỡ cào gãi bằng các thuốc kháng histamin như: chlopheniramin, loratadine… - Khi bệnh nhân đau và sốt cao, có thể cho dùng acetaminophen. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong). - Mỗi ngày 2-3 lần nhỏ mắt, mũi thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1%. - Khi nốt phỏng vỡ, chỉ nên bôi thuốc xanh metilen; không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ. Điều trị bệnh thủy đậu bằng thuốc kháng virus - Trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu dùng kháng sinh chống virut loại acyclovir để giúp rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Liều lượng phụ thuộc lứa tuổi hoặc cân nặng (đối với trẻ nhỏ). - Trường hợp nặng hơn hoặc có biến chứng như viêm màng não, trẻ suy giảm miễn dịch, có thể dùng acyclovir đường tĩnh mạch. - Tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo mà dùng thuốc sai lầm, dẫn đến thủy đậu bội nhiễm nặng. Giai đoạn vừa mới lành bệnh, cần phải tuyệt đối chống nắng và tránh cào gãi gây trầy xước. Bổ sung đầy đủ các vitamin và yếu tố vi lượng cho da thông qua chế độ ăn hoặc thuốc uống. Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ và nghỉ ngơi nhiều.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bệnh trầm cảm đang lan rộng

BỆNH TRẦM CẢM ĐANG LAN RỘNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cuộc sống hiện đại đem lại cho con người nhiều sự tự do về vật chất, tinh thần nhưng cũng đẩy không ít người đến những nỗi buồn khó giải thích, để rồi đối mặt với các nguy cơ vô cùng nguy hiểm. Nhiều người mắc bệnh nhưng không thừa nhận Cách đây chưa lâu, tại miền Tây đã xảy ra vụ một hiệu trưởng trường tiểu học tự tử do trầm cảm. Thầy giáo này là người hiền lành, ít nói, có mối quan hệ xã hội tốt, thu nhập ổn định. Vì thế, cách ông tự giải thoát khiến dư luận bất ngờ. Trầm cảm - một loại bệnh tâm lý làm suy giảm khả năng nhận biết, vận động của con người - đang phổ biến trong xã hội. Theo các chuyên gia, bệnh do hai nguyên nhân chính: nội sinh (từ bên trong, do di truyền) và ngoại sinh (do sốc tâm lý như thất tình, ly thân, ly dị, thi rớt, mất việc, người thân chết, làm ăn thua lỗ...). Người trầm cảm có biểu hiện tuyệt vọng, suy sụp, không tham gia những hoạt động thường ngày nữa. Họ xa lánh người thân, bạn bè; thậm chí có người còn nghĩ đến cái chết hay tự sát. Trong đời sống hiện nay, tình trạng căng thẳng, mâu thuẫn khó giải quyết, bế tắc trong cuộc sống dễ dẫn đến trầm cảm. Nếu không được điều trị tích cực, bệnh sẽ không thuyên giảm, có thể dẫn đến nguy cơ tử vong do tự tử ở những trường hợp nặng.   Cứ 5 phụ nữ sau khi sinh con thì có 1 người bị trầm cảm. Trong ảnh: Sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP HCM) Theo WHO, có khoảng 10%-15% dân số bị bệnh trầm cảm. Toàn cầu hiện có trên 350 triệu người bị trầm cảm và ước chừng 1 triệu người tự tử mỗi năm do mắc chứng này. Tại Việt Nam, tỉ lệ trầm cảm trong cộng đồng là 24,3% ở độ tuổi 25-55 và tăng lên 47% ở người trên 55 tuổi.  Phụ nữ bị trầm cảm cao gấp 2 lần so với nam giới. Nguyên nhân là do có sự thay đổi về sinh hóa ở trong não, suy giảm hoạt động và số lượng các chất dopamin, serotonin. Ở nam giới, số người bệnh chưa được thống kê đầy đủ vì cánh mày râu thường ít chia sẻ những khó khăn của mình, biết kìm nén cảm xúc, âm thầm chịu đựng các áp lực trong cuộc sống. WHO cũng cảnh báo rằng điều đáng lo ngại là rất nhiều người đang mắc bệnh nhưng lại không thừa nhận mình có bệnh. Tỉ lệ tuân thủ điều trị thấp Công bố khoa học về thực trạng rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư do các chuyên gia Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên thực hiện mới đây đã chỉ ra rằng tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân ung thư là khá cao, với tỉ lệ 67,3%. Tại Bệnh viện Ung bướu TP HCM, nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Phụng trên tất cả nữ bệnh nhân điều trị nội trú ung thư vú từ tháng 1 đến 4-2014 cũng cho thấy có 26,8% bị trầm cảm. Trong đó, tỉ lệ mắc trầm cảm cao nhất là ở người độc thân (58,1%) và thấp nhất thuộc nhóm có gia đình  (16,9% ). Theo các bác sĩ, tình trạng trầm cảm sẽ khiến bệnh cảnh bệnh nhân ung thư phức tạp hơn, tăng nguy cơ tử vong. TS Bùi Quang Huy, Chủ nhiệm Khoa Tâm thần Bệnh viện 103 (Hà Nội), cho biết có nhiều yếu tố làm tăng tỉ lệ tử vong ở các bệnh nhân ung thư, trong đó trầm cảm là yếu tố hàng đầu. Những biểu hiện trầm cảm chiếm khoảng 85% số bệnh nhân ung thư. Như đã đề cập, bệnh trầm cảm nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc tuân thủ điều trị trong thực tế là còn thấp. Khảo sát của tác giả Phạm Thị Vân Phương (Khoa Y tế Công cộng Trường ĐH Y Dược TP HCM) mới đây trên gần 400 bệnh nhân điều trị trầm cảm đã phát hiện rằng chỉ có 58% tuân thủ điều trị. WHO cũng cho biết đã đưa ra phác đồ điều trị trầm cảm nhưng chưa đến 50% bệnh nhân chấp nhận chữa bệnh. Các chuyên gia lưu ý rằng trong việc điều trị bệnh trầm cảm, giải pháp hữu hiệu nhất là sự hỗ trợ của người thân. Ngoài việc nhắc nhở bệnh nhân dùng thuốc hằng ngày, cần thấu hiểu nỗi đau của họ và có những việc làm thiết thực để nâng đỡ họ. Hãy giúp họ sống lạc quan, cổ vũ các hoạt động lành mạnh, thường để mắt đến những thay đổi trong hành vi, thái độ và lối sống (ăn, ngủ, vận động) và nhờ chuyên gia y khoa, tâm lý can thiệp ngay khi phát hiện điều gì bất thường. Trong một số trường hợp, bệnh nhân được điều trị bằng hình thức đối thoại. Qua đó, họ sẽ nhận ra nguyên nhân bệnh trầm cảm của mình và sẽ hợp tác tốt hơn khi có yêu cầu điều trị.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở trẻ em theo tiêu chuẩn Berlin 2012

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở trẻ em theo tiêu chuẩn Berlin 2012

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm Xác định một số yếu tố liên quan với tỷ lệ tử vong của hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở trẻ em. Nhận xét kết quả điều trị hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở trẻ em theo khuyến cáo Berlin 2012.

Đọc thêm

Nhân trường hợp sốc nhiễm khuẩn do nhiễm não mô cầu suy đa cơ quan điều trị thành công tại Bệnh viện Quân y 211 và Bệnh viện Quân y 175

Nhân trường hợp sốc nhiễm khuẩn do nhiễm não mô cầu suy đa cơ quan điều trị thành công tại Bệnh viện Quân y 211 và Bệnh viện Quân y 175

Bệnh nhiễm ,não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm gây dịch, do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, lâm sàng thường gặp là viêm màng não mủ và/hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây sốc dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Đọc thêm

Ôn thi tốt nghiệp tổng hợp các loại bệnh khoa y

Ôn thi tốt nghiệp tổng hợp các loại bệnh khoa y

I.Định nghĩaĐTĐ là bệnh mạn tính, có yếu tố di truyền, do hậu quả từ tình trạng thiếu Insulin tuyệt đối hay tương đối. Biểu hiện đặc trưng là tình trạng tăng đường huyết, cùng với rối loạn về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, khoáng chất. RL này có thể đưa đến biến chứng cấp tính và mạn tính.II.Phân loại1.ĐTĐ týp 1: Đặc trưng bởi phần lớn tính trạng thiếu hụt Insulin thứ phát do sự phá hủy các TB β tiểu đảo Langerhans bằng cơ chế tự miễn, hoặc sự mất khả năng sản xuất Insulin ko rõ NN. 2.ĐTĐ týp 2: chiếm 80%, cơ chế BS đa dạng, đặc trưng bởi tình trạng tăng ĐH mạn tính và kết hợp với béo phì trong 6080% trường hợp. Bệnh liên quan đến các yếu tố di truyền và Stress. Việc điều trị đôi khi dùng Insulin nhưng không phải luôn luôn.3.ĐTĐ thai kỳĐTĐ thai kỳ đc định nghĩa như 1 RL dung nạp glucose, được chẩn đoán đầu tiên trong thai kỳ. ĐN này áp dụng với TH BN đã có ĐTĐ trc đó nhưng chưa phát hiện, áp dụng với mọi TH của RL dung nạp glucose dù cần dùng Insulin hay chỉ cần tiết chế đơn thuần trong điều trị. Sau sinh 6 tuần, BN sẽ được đánh giá lại. Trong đa số TH, thai phụ sẽ trở lại bình thường sau sinh. Nếu áp dụng điều trị tốt, theo dõi thai nhi kỹ trước sinh có thể giảm tỷ lệ tử vong và bệnh lý chu sinh.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề