LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1997 DOWNLOAD

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1997 DOWNLOAD":

So sánh đối chiếu luật các tổ chức tín dụng năm 1997 với luật các tổ chức tín dụng năm 2010

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 1997 VỚI LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 2010

So sánh đối chiếu luật các tổ chức tín dụng năm 1997 với luật các tổ chức tín dụng năm 2010

27 Đọc thêm

Các vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay là gì?

CÁC VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY PHÉP VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

Các vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay là gì? Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) và các quy định khác của pháp luật để cung ứng dịch vụ ngân hàng. Do hoạt động trong lĩnh vực có tính nhạy cảm cao nên pháp luật Việt Nam quy định khá chặt chẽ về điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các Tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Ngân hàng Bài tập học kỳ Luật Ngân hàng có đáp án. MỞ ĐẦU Trong những năm qua, nên kinh tế nước ta đã phát triển với tốc độ khá cao, điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ và các Tổ chức tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng phản ánh nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta là hết sức lớn. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng những năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ rủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càng chồng chất. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng , em xin lựa chọn đề tài số 8: “Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý, đề xuất hướng giải quyết để xử lý đối với các khoản nợ sau cho vay của tổ chức tín dụng.” làm đề tài cho bài tập học kỳ của mình. B. NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái niệm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Trong pháp luật dân sự, hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người khác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó. Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 16272001QĐNHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”. Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng là một hoạt động cho vay dựa trên hình thức pháp lí của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là hợp đồng tín dụng; tức là, một hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên chủ thể trong quan hệ cho vay, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tổ chức tín dụng có quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống. Khi cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay. 2. Đặc điểm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn mang những yếu tố cấu thành cơ bản của quan hệ cho vay nói chung. Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện ở những dấu hiệu có tính đặc thù sau: Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng. Mặc dù theo luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp kinh mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng. Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định. Ba là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tập quán thương mại về ngân hàng. 3. Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng(HĐTD) của tổ chức tín dụng (TCTD) a) Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng: Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Để tránh những rủi ro này, các tổ chức tín dụng ngày nay thường thực ­hiện việc thẩm định tín dụng với tám biện pháp thẩm định sau: tính cách người đi vay (character), tư cách của người đi vay (capacity), khả năng trả nợ (capability), dòng tiền (cashflow), vốn (capital), điều kiện hoạt động (conditions), tài sản chung (collectability) và tài sản thế chấp (collateral). b) Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật. c) Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn. 4. Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Với sự phát triển không ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân hàng hiện nay, việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý luận và thực tiễn .Điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay mà các nhà làm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng. Ở đây, em xin đưa ra một số hình thức cho vay căn cứ vào những tiêu chí sau đây: a) Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn: Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến một năm. Hình thức này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời hạn ngắn. Cho vay trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là với thời gian thỏa thuận là từ trên một năm trở lên. Người đi vay sử dụng hình thức này để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh doanh, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại… b) Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba. Việc cho vay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh). Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của khách hàng vay hoặc của người thứ ba. Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình. Nếu bên vay vi phạm sử dụng vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chế tài thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời hạn… Cho vay tiêu dùng: bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập… c) Căn cứ vào phương thức cho vay: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. TCTD áp dụng phương thức cho vay này khi khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất – kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần Căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng thực hiện cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp. Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành. Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiềm mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án. TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức trả phí hco hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. II.PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng Khái niệm: Hợp đồng tín dụng là là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên vay, tổ chức, cá nhân) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản. Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận cho bên vay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm. Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định. Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồm tiền mặt và bút tệ. Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Chủ thể của hợp đồng tín dụng a. Bên cho vay: Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau: Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp. Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp. Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng. Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủ thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp pháp. Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng đươc phép thực hiện. b. Bên vay: Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên tắc, những điều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay trong mọi hợp đồng tín dụng): Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với tổ chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng tín dụng. Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp. Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện chung sau (những điều kiện này chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thoả thuận rõ trong hợp đồng tín dụng): Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả. Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh. Giao kết hợp đồng tín dụng Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định. Việc giao kết hợp đồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây: Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng. Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay. Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đòng tín dụng. Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ chức tín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng. Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong trường hợp này, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cá nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, do một thư chào mời có thể không nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợp đồng nên trong thực tế, nếu bên tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đó thì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đã hình thành. Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay. Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay. Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay. Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng. Theo đó, hành vi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng giữa các bên. Có nghĩa là việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản của hợp đồng (bao gồm các điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi) và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp ký tên vào bản hợp đồng tín dụng. Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng, cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng. Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tín dụng. Hình thức của hợp đồng tín dụng Theo quy định tại Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì những ưu điểm sau đây: Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết. Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn. Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử. Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch. Nội dung của hợp đồng tín dụng Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây: Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực. Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn. Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay. Đây là một điều khoản rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế, các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay được thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khi trả nợ. Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay. Trong điều khoản này, các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì. Việc thỏa thuận điều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi. Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Đây là điều khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con ¬đường thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thì việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính. 6. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng a) Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay: Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng hạn và địa điểm cho khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân). Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng. Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có). b) Quyền và nghĩa vụ của bên vay: Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi ký kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng. Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các vi phạm hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng. Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm hợp đồng tín dụng và tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có). 7. Vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng a) Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật đạo đức và xã hội. Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự do ý chí. Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân hàng. b) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên thực tế, pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD. Còn ở Việt Nam, theo Đ405 BLDS 2005 ta có thể lý giải rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản HĐTD. c) Sự vô hiệu của HĐTD và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu Trên nguyên tắc, khi một HĐTD không thoả mãn một trong số các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô hiệu này, về lí thuyết có thể được nhìn nhận là ở trạng thái tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu) hoặc tương đối (có thể vô hiệu). Trong khoa học pháp lí, việc xác định trạng thái vô hiệu (tuyệt đối hoặc tương đối) của các giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch thương mại của ngân hàng nói riêng thường dựa vào nguyên tắc cơ bản là: HĐTD bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung, hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội và phương hại đến lợi ích chung. Hậu quả pháp lý xảy ra là: Hợp đồng không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm kí kết; các bên phải phục hồi tình trạng ban đầu như trước khi kí kết hợp đồng. HĐTD bị coi là vô hiệu tương đối khi chủ thể tham gia HĐ ko có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng kí kết không có sự tự nguyện và đồng thuận giữa các bên kí kết. Hậu quả pháp lý xảy ra cũng giống như đối với HĐTD vô hiệu tuyệt đối. 8.Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD a)Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD Trước khi đề cập đến các loại trách nhiệm pháp lý phát sinh do việc vi phạm HĐTD ta tìm hiểu thế nào là vi phạm HĐTD và 1 hành vi phải thỏa mãn điều kiện gì thì được coi là vi phạm hợp đồng. Vi phạm HĐTD là hành vi của 1 bên hoặc cả 2 bên tham gia hợp đồng cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong HĐTD và phải thỏa mãn các điều kiện: Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia HĐTD. Trái với các điều khoản đã cam kết trong HĐTD. Bên thực hiện hành vi có 1 lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý. Hành vi đó xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên đối ước hoặc quyền và lợi ích chung của toàn xã hội hoặc của tổ chức, cá nhân khác. Tùy thuộc vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 2 loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có việc vi phạm HĐTD: Trách nhiệm nộp phạt vi phạm HĐTD: nhằm để nâng cao tính kỷ luật hợp đồng nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy ra. Loại trách nhiệm này do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có thiệt hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số tiền bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài phán có thẩm quyền. b) Tranh chấp phát sinh từ HĐTD và cơ chế giải quyết tranh chấp Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý của quan hệ HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD. Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải qua trung gian. Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán. III.THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Trong những năm qua, pháp luật về hoạt động cho vay theo HĐTD của các TCTD đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tế hoạt động cho vay của ngân hàng cho thấy, đã phát sinh nhiều bất cập trong các chính sách của Nhà nước, thực tiễn pháp lý về hoạt động này vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề bất cập. Thứ nhất, một số quy định cho vay chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động tín dụng ngân hàng. Điều 126 Luật TCTD 2010 hay Điều 19 của Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định 16272011QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 quy định về những trường hợp không được cho vay. Quy định này còn hơi cứng nhắc, nếu họ có tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng một cách hợp pháp và muốn sử dụng để cầm cố thế chấp tại ngân hàng họ đang quản lý hoặc làm việc thì việc cho vay đối với những đối tượng này không có gì mất an toàn, miễn là họ sử dụng vốn vay một cách đúng quy định. Ngân hàng cho khách hàng vay dựa trên những phương án khả thi, tài sản bảo đảm thì tại sao những người này đủ tiêu chuẩn lại không cho vay. Quy định này đã phần nào loại bỏ một bộ phân không nhỏ những khách hàng có tiềm năng của ngân hàng. Thứ hai, quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng còn nhiều bất cập. Khoản 1 Điều 18 của Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 16272011QĐ – NHNN quy định “Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân”. Trên thực tế, khoảng thời gian cần thiết từ khi tổ chức tín dụng đề nghị qua Ngân hàng Nhà nước lên tới Chính phủ đến khi có quyết định được phép cho vay thường kéo dài vài tháng, làm lỡ nhiều cơ hội kinh doanh và không phù hợp với cải cách hành chính hiện nay. Thứ ba, một số quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay chưa thích hợp. Chẳng hạn, pháp luật hiện hành cho phép được sử dụng tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do là tài sản trong tương lai nên không thể chắc chắn rằng tài sản đó được hình thành để cho ngân hàng xử lý, bù lại mất mát nếu xảy ra tranh chấp. Mặt khác, sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán giữa các quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm tiền vay với các bộ phận pháp luật khác có liên quan như Bộ luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật hợp đồng, pháp luật về giải quyết tranh chấp… là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Các khó khăn này không chỉ xảy ra cho khách hàng khi thực hiện thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh tài sản để vay vốn tổ chức tín dụng mà còn gây khó khăn cho chính các tổ chức tín dụng ngay trong quá trình thẩm định và phê duyệt các khoản vay có bảo đảm. Điều này làm cho tỉ lệ nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng ngày càng cao, nhất là trong giao đoạn hiện nay, khi mạng lưới tín dụng đang được mở rộng. Thứ tư, các quy định khống chế lãi suất trần không phù hợp. Tại Điều 476 Bộ Luật dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo phân tích của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, quy định này không phù hợp bởi các lý do sau: Một là, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là biện pháp can thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của các tổ chức tín dụng trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường. Hai là, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng vì mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau, vì vậy lãi suất cho vay khác nhau. Chính sách lãi suất trần cứng nhắc làm cho các ngân hàng rất khó đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mặt khác, cũng làm hạn chế sự phát triển của các dịch vụ tài chính mới của các ngân hàng như tín dụng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng, đây là những sản phẩm tất yếu của tổ chức tín dụng hiện đại. Ba là, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, ngân hàng nhà nước đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và điều hành khối lượng tiền cung ứng mà không cần giải pháp hành chính cứng nhắc như Điều 476 Bộ luật dân sự quy định. Bốn là, Nghị quyết số 232008NQ – QH12 ngày 6112008 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư, trong đó cho phép “ Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao.” Để thực hiện Nghị quyết trên của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 302008NQ – CP ngày 11122008 về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, trong đó đã cho phép “ Tổ chức tín dụng thực hiện việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận…” Vì vậy, để thực hiện thành công các giải pháp kích cầu của Chính phủ, đã đến lúc cần thiết phải cho phép các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuậnđể góp phần thúc đẩy phát triển phong phú các loại hình dịch vụ, tín dụng, kích thích sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước phát triển. Năm là, vấn đề nợ quá hạn và nợ xấu: + Nợ quá hạn: Trong nền kinh tế thị trường, các TCTD thu lợi chủ yếu từ các khoản cho vay với khách hàng, nhưng những khoản cho vay này lại rất dễ gặp những rủi ro dẫn đến những khoản nợ quá hạn ngày càng lớn. Hiện nay, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại bị coi là vấn đề bức xúc và phức tạp chất trong hoạt động cho vay của các TCTD. Những khoản nợ quá hạn khổng lồ mà hiện tại ngành ngân hàng đang phải gánh chịu đã làm ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thanh toán, giảm số tiên dự trữ và vốn của các TCTD. Chính “tảng băng” về nợ quá hạn đang lặng lẽ nhấn chìm các TCTD vào vòng xoáy nợ nần mà các TCTD vẫn “không hề hay biết”.Nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các TCTD, tới các doanh nghiệp sử dụng vốn và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng nợ quá hạn, đảm bảo việc thực hiện nợ tín dụng đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết, cần giải quyết không chỉ cho ngành ngân hàng mà còn cho cả các cơ quan hữu quan. + Nợ xấu: Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các Tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh từ năm 2008 tới nay. Tính đến ngày 25102012, Ngân hàng Nhà nước cho biết, nợ xấu của toàn bộ nền kinh tế có địa chỉ tại hệ thống ngân hàng ước khoảng 8,6% (cao hơn khá nhiều so với các quy định của Basel là 2%) trên tổng dư nợ được cho từ 2,5 triệu tỷ đồng đến 2,8 triệu tỷ đồng. Trong đó, hơn 85% nợ có tài sản bảo đảm bằng bất động sản có giá trị (theo định giá ban đầu) vào khoảng 135% khoản nợ xấu. Hệ quả là nợ xấu của các TCTD không ngừng tăng lên, trở thành “điểm nghẽn” của nền kinh tế đất nước, cản trở sự lưu thông dòng vốn tín dụng. Song, thực tiễn cho thấy việc giải quyết vấn đề này đang gặp phải rất nhiều khó khăn, trong đó có rào cản từ chính khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm. IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CHO VAY 1. Cần quy định hạn mức cho vay, các hạn chế đảm bảo an toàn phù hợp với thực tế thị trường Luật nên nới lỏng hạn mức, đồng thời, tăng cường biện pháp đảm bảo an toàn khác như chế độ cung cấp thông tin, biện pháp xử lý khi vốn ngân hàng, nên quy định giới hạn cấp tín dụng đối với ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng là như nhau nhằm đảm bảo quyền lợi và nâng cao trách nhiệm, tính tự chủ cho các TCTD. 2. Phát triển hệ thống dịch vụ thông tin về khách hàng Trong quan hệ tín dụng, một bên thường không biết tất cả các thông tin về bên kia. Sự không cân bằng về thông tin đó gọi là thông tin không đối xứng. Để giải quyết được tình trạng này, có nhiều bịên pháp đặt ra.Về phía các TCTD, để thoả mãn các nhu cầu thông tin về khách hàng, thường dựa trên cơ sở giấy tờ, tài liệu mà khách hàng cung cấp hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hay sử dụng một số biện pháp khác để thu thập. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động cấp tín dụng ngày càng mở rộng, các khách hàng của TCTD ngày càng đa dạng và phong phú, cùng với nó việc nắm bắt các thông tin về khách hàng ngày càng trở nên khó khăn hơn. Do nhu cầu thông tin lớn, trong khi bộ phận chuyên môn của TCTD không thể giải quyết được hết nhu cầu đó, nên hình thành các doanh nghiệp chuyên thu thập và cung cấp thông tin về khách hàng là giải pháp hữu ích và phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Điều đó góp phần giảm thiểu những rủi ro về thông tin của TCTD khi có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện. Việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của loại doanh nghiệp này là rất cần thiết, sao cho doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về độ trung thực và tính chính xác của các thông tin mà mình cung cấp, bên cạnh đó cần phải giới hạn các thông tin mà doanh nghiệp này được phép cung cấp đảm bảo không vi phạm các quy định của pháp luật về chế độ thông tin. 3. Giải quyết xử lý quản lý đối với các khoản nợ sau cho vay của TCTD Với tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay, thì nợ xấu và nợ quá hạn đang là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hiệu quả của các TCTD, kìm hãm nền phát triển kinh tế đất nước. Trong khuôn khổ bài viết, em xin được đề cập đến những hướng giải quyết xử lí đối với các khoản nợ quá hạn và nợ xấu của các TCTD. Đối với nợ quá hạn Thứ nhất, về giải pháp ngăn ngừa nợ quá hạn: đây là một trong những giải pháp cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, một cách có chủ ý bởi người điều hành, lãnh đạo TCTD và toàn bộ công nhân viên chức trong các TCTD, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ tín dụng. Để thành công trong việc nâng cao chất lượng thực hiện HĐTD cần thực hiện biện pháp ngăn ngừa nợ quá hạn ngay từ lúc phát sinh món vay cho đến khi thu hồi hết nợ gốc và lãi. TCTD cần thực hiện đầy đủ các quy định về bảo đảm tiền vay, tăng cường công tác tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của ngân hàng. Chấm dứt tình trạng cho vay đảo nợ để giảm nợ quá hạn một cách giả tạo. Trong quá trình thực hiện HĐTD cán bộ tín dụng cần đi sâu đi sát khách hàng, theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay, nếu phát hiện dấu hiệu không lành mạnh từ phía người vay cần có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Bên cạnh đó, các TCTD cũng cần phải nghiên cứu kỹ càng hơn tính đúng đắn về ý nghĩa của việc chuyển nợ quá hạn theo Điều 13 Quyết định 1627, được sửa đổi, bổ sung bằng khoản 4 điều 1 quyết định 1272005QĐNHNN, từ đó đề ra kế hoạch hành động nhất quán, phù hợp với hoàn cảnh đổi mới và tiến trình hội nhập. Đặc biệt là nhanh chóng thay đổi tư duy và ứng dụng kịp thời các chuẩn mực hoạt động của ngân hàng thương mại quốc tế vào chuẩn mực hoạt động của ngân hàng mình, tránh tình trạng chạy đua với các thành tích mang tính bề nổi, chẳng hạn như tìm mọi cách để giảm tỷ lệ về nợ quá hạn càng thấp càng tốt mà bỏ qua những nguy cơ tiềm ẩn đang rình rập và đe doạ ngân hàng đằng sau các khoản nợ quá hạn đó. Thứ hai ,về biện pháp xử lý nợ quá hạn: việc TCTD phân tích nợ quá hạn theo định kỳ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp TCTD nắm được thực trạng chung của đơn vị và của từng loại cho vay, từng nhóm khách hàng cụ thể, trên cơ sở đó có thể xử lý nợ một cách thích hợp và có hiệu quả cao. Thông qua phân tích nợ, TCTD cần đề ra hướng giải quyết hay biện pháp xử lý thích hợp với TCTD, với từng nhóm khách hàng, và từng món vay cụ thể. Xử lý quỹ dự phòng bù đắp rủi ro. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để lành mạnh hoá tài chính của các TCTD. Để thực hiện đúng đối tượng và có hiệu quả biện pháp này, TCTD cần quan tâm: thực hiện nghiêm túc và chính xác việc phân loại tài sản “có”, trích lập qũy dự phòng theo đúng quy định; rà soát các khoản nợ khó đòi, có khả năng tổn thất để xác định đúng các khoản nợ thuộc đối tượng xử lý bù đắp rùi ro; áp dụng triệt để các biện pháp tận thu; lập hồ sơ xử lý tài sản bảo đảm đầy đủ, chính xác, hợp pháp, hợp lệ, đúng thời gian quy định; xử lý bù đắp rủi ro theo đúng quy định và thẩm quyền giải quyết của từng cấp. Khai thác các tài sản bảo đảm tiền vay được coi là biện pháp quan trọng trong việc xử lý nợ quá hạn của TCTD. Vì tài sản bảo đảm nợ vay là nguồn thu hồi nợ thứ hai của TCTD khi phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả không có khả năng trả nợ. Trong trường hợp đó, TCTD cần tiến hành rà soát lại toàn bộ hồ sơ, thủ tục bảo đảm tiền vay, thực hiện biện pháp xử lý tài sản phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Việc xử lý cần phải tiến hành khẩn trương nhanh chóng, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan hữu quan. Đối với nợ xấu Về phía các TCTD: Thứ nhất, đối với các TCTD tính thanh khoán chưa đe dọa sự an toàn của cả hệ thống: Phải tự xử lý thông qua các biện pháp đã và đang làm như: bán nợ, đòi trực tiếp, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng quỹ dự phòng bù đắp các khoản nợ không thu hồi được, hoặc chuyển nợ thành vốn góp nếu thấy khánh nợ có tương lai phát triển. Thứ hai, đối với các TCTD yếu kém, có nguy cơ mất khả năng thanh khoản: biện pháp khả thi là sáp nhập, hoặc giải thể. Các tổ chức này đi tìm, hoặc bị sáp nhập một cách cưỡng bức bởi một TCTD đủ mạnh. Nếu không sáp nhập được thì các TCTD này sẽ đặt trong điều kiện kiểm soát đặc biệt của NHNN, nhằm từng bước xử lý các tồn đọng để đi tới giải thể. Do quy mô tín dụng ngày một lớn, bản thân các TCTD phải có giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động, giảm thiểu rủi ro hoạt động để ngăn ngừa nợ xấu xuất hiện trở lại, như ban hành đầy đủ quy trình cho vay, năng cao năng lực quản trị, điều hành, quản trị rủi ro. Về phía Ngân hàng Nhà nước: Phải có biện pháp quyết liệt để xác định số thực về quy mô và cơ cấu của nợ xấu hiện nay, từ số liệu này mới có thể áp dụng các giải pháp cụ thể cho từng TCTD. Xử lý nghiêm hành vi che dấu nợ xấu. Đồng thời sửa đổi, bổ sung về cách phân loại nợ, trích lập sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong các trường hợp cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng sai chế độ. Đồng thời có cơ chế buộc các TCTD trong một thời gian phải đưa nợ xấu xuống một giới hạn nhất định. Đối với các TCTD có quy mô lớn, ảnh hưởng nhiều tới sự an toàn của cả hệ thống cũng như nền kinh tế và an sinh xã hội, có khả năng phát triển tiếp, sau khi tự giải quyết nợ xấu vẫn còn ở mức cao, sẽ được NHNN bơm vốn để hỗ trợ, dưới hình thức góp vốn nhưng lại được hưởng lãi cố định (như cổ phiếu ưu đãi) và ngân hàng có thể rút vốn về khi tổ chức này đã phục hồi. Về phía các doanh nghiệp (DN): Cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý, bố trí vốn đúng nguyên tắc, sử dụng vốn có hiệu quả. ổn định lượng tiền mặt cần thiết cho cán cân thanh toán, cân đối hệ số vốn vay trên vốn chủ không vượt quá trung bình của ngành, thường xuyên đánh giá thực trạng tài chính DN thông qua các tỷ số tài chính đặc trưng để đưa ra các kiến nghị cảnh báo về tình hình tài chính là giải pháp trước mắt cũng như lâu dài xử lý và ngăn ngừa nợ xấu. Thực hiện tái cơ cấu DN Nhà nước (là nhóm khách hàng có số dư nợ lớn nhất của ngân hàng), mà trọng tâm là tái cơ cấu tài chính DN hiện nay đang tiến hành theo đề án mà Chính phủ đã phê duyệt, nhằm nâng cao năng lực của các DNNN được coi là giải pháp tích cực. Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các TCTD, các ngân hàng phải đi đôi với việc tiến hành tái cơ cấu DN. Không thể tồn tại một hệ thống ngân hàng mạnh trên cơ sở một nền kinh tế có các DN yếu kém. C.KẾT LUẬN Từ những phân tích, đánh giá trên. Nhìn chung, bên cạnh những mặt tích cực trong pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, thì vẫn còn tồn tại những hạn chế có thể gây ra những rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Vấn đề đặt ra là cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật để đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng, nói rộng ra là sự an toàn cho hệ thống tài chính nước nhà. Trước những biến động của nền tài chính thế giới ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến tài chính trong nước và sự điều chỉnh liên tục mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách cho vay của các tổ chức tín dụng thì pháp luật điều chỉnh hoạt động hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cần thiết phải hoàn thiện.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN ÁN THỦ TỤC PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Dương Kim Thế Nguyên

LUẬN ÁN THỦ TỤC PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Dương Kim Thế Nguyên

PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 7 5. Tính mới của Luận án 7 6. Kết cấu của Luận án 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 9 1.1. TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU 9 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9 1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 15 1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 17 1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 1.2.1. Cơ sở lý thuyết 18 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu 21 Kết luận Chương 1 23 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG V KINH NGHIỆM LẬP PHÁP VỀ PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC 24 2.1. TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TÍNH CHẤT L DOANH NGHIỆP KINH DOANH TRONG NG NH ĐẶC BIỆT 24 2.1.1. Khái niệm tổ chức tín dụng 24 2.1.2. Các đặc trưng của tổ chức tín dụng 27 2.1.3. Các loại tổ chức tín dụng 32 2.2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHÁ SẢN V PHÁ SẢN CÁC TCTD 36 2.2.1. Khái niệm phá sản và thủ tục phá sản 36 2.2.2. Khái niệm phá sản các TCTD và triết lý để thiết lập các quy định đặc thù về phá sản các tổ chức tín dụng 48 2.2.3. Những nội dung có tính đặc thù cần được quy định trong pháp luật phá sản tổ chức tín dụng 59 2.3 KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 66 2.3.1 Thủ tục phá sản ngân hàng theo pháp luật Hoa Kỳ 68 2.3.2 Thủ tục phá sản ngân hàng theo pháp luật Anh 72 2.3.3 Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Liên bang Nga 77 2.3.4 Một số nhận xét về thủ tục phá sản các TCTD tại Hoa Kỳ, Anh và Nga .82 Kết luận Chương 2 83 Chương 3 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG 86 3.1 KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT VỚI TÍNH CHẤT L THỦ TỤC PHỤC HỒI ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN, MẤT KHẢ NĂNG CHI TRẢ 87 3.1.1 Thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với TCTD có nguy cơ mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả 89 3.1.2 Các biện pháp phục hồi tổ chức tín dụng khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả khác 99 3.2 CÁC QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 107 3.2.1 Quy định đặc thù về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản các TCTD tại tòa án. 110 3.2.2 Quy định đặc thù về một số loại chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD 118 3.2.3 Quy định đặc thù về thủ tục rút gọn cho phá sản TCTD 123 3.2.4 Quy định đặc thù về quản lý tài sản phá sản, bảo toàn tài sản và thứ tự thanh toán tài sản của TCTD 127 Kết luận Chương 3 132 Chương 4 HO N THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG 134 4.1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC HO N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 134 4.1.1 Pháp luật về thủ tục phá sản TCTD phải thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trường tiền tệ 134 4.1.2 Hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản các TCTD phải gắn với việc thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 20112015” 135 4.1.3 Pháp luật về xử lý phá sản các TCTD phải đồng bộ với các pháp luật có liên quan 136 4.2 KIẾN NGHỊ HO N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 137 4.2.1 Hoàn thiện mô hình và cấu trúc của pháp luật về thủ tục phá sản TCTD ..........................................................................................................................137 4.2.2 Hoàn thiện các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng các biện pháp can thiệp đối với TCTD mất khả năng thanh toán nhằm hạn chế phá sản 140 4.2.3 Hoàn thiện các quy định về thủ tục xử lý phá sản tại tòa án 147 4.3 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 157 4.3.1 Điều kiện về nhận thức của cộng đồng đối với pháp luật phá sản 157 4.3.2 Năng lực giải quyết phá sản của đội ngũ cán bộ tham gia xử lý phá sản được bảo đảm 160 4.3.3 Đội ngũ quản tài viên và doanh nghiệp quản lý tài sản hình thành và phát triển 162 4.3.4 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bảo tiểm tiền gửi Việt Nam chủ động trong các hoạt động giám sát, hỗ trợ. 162 Kết luận Chương 4 164 KẾT LUẬN 166 NHỮNG CÔNG TR NH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ ... i PHỤ LỤC ii DANH MỤC T I LIỆU THAM KHẢO xv
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

cho vay đã giảm khá mạnh song các doanh nghiệp vẫn không giám vay tiền vì tỷxuất lợi nhuận của họ vẫn thấp hơn so với tỷ lệ lãi suất cho vay của Ngân hàng .Dovậy nếu tiếp tục vay vôna Ngân hàng để sản xuất kinh doanh thì việc lợi nhuậnkhông đủ để trả lãi Ngân hàng sẽ làm cho tình trạng nợ lần của doanh nghiệp càngtăng thêm thêm vào đó là sự giảm giá hàng liên tục trong thời gian qua càng làmcho khả năng thua nỗ tăng nên .Còn với khu vực nông thôn cho dù nhu cầu tiêudùng nhất là đối với hàng tƣ liệu sản xuất là rất lớn song cũng không thể vay đƣợcvì thủ tục phức tạp và không có vật câm cố thế chấp và cũng không có khả năngchả nợ do tỷ lệ lãi suất cho vay không hợp lý.3. Tác dụng của việc điều chỉnh lãi suấtCác nhà kinh tế cho rằng đây là một quyết định quan trọng nhằm khắc phụctình trạng tắc đầu ra tín dụng trong tình hình nền kinh tế đang có chiều hƣớng đixuống nhƣ hiện nay .Nó góp phần kích thích phát triển nền kinh tế tạo sự chủ độnghơn cho công tác tổ chức tín dụng trong việc ấn địng lãi suất huy động tiền gửi vàcho vay phù hợp với điều kiện cung cầu vốn trên từng vùng khác nhau và mức độruỉ ro của từng khoản vay .Đối với khu vực thành thị lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đã thựcsự giảm xuống thấp hơn hay bằng với trần lãi suất .Đó chính là kết quả của chỉ thị22THUVIENNET.COM.VNhocthuat.vn –Tài liệu online miễn phíĐề án :hàngLý thuyết tiền tệ ngân
Xem thêm

50 Đọc thêm

Công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Thái Bình thực trạng và giải pháp”

Công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Thái Bình thực trạng và giải pháp”

LỜI MỞ ĐẦU Đất nước ta sau nhiều năm tiến hành đổi mới đã đạt được nhiều thành quả đáng kể về kinh tế cũng như xã hội, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới trên mọi lĩnh vực. Để thực hiện thành công được các mục tiêu chiến lược đó thì đất nước ta sẽ cần một nguồn vốn rất lớn để phục vụ nhu cầu kiến thiết. Để đáp ứng các nhu cầu về vốn đó chúng ta đã thực hiện nhiều biện pháp như đầy mạnh thu hút FDI, vay nợ nước ngoài, vốn hỗ trợ ODA, cùng với lượng vốn trong nước …..vv. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các nước châu âu đang lún sâu vào nợ công khiến cho các nguồn vốn từ bên ngoài bị hạn chế rất nhiều so với những năm trước, vì thế các nguồn vốn trong nước ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò của nó trong công cuộc dựng xây đất nước. Nó là cơ sở thực đẩy sự phát triển của quốc gia trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới. Để tận dụng được lượng vốn trong nước thì cần sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng trong nước. Và đặc biệt phải quan tâm đến công tác huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Thực hiện đường lối chung của Đảng và Nhà nước, trong những năm vừa qua, hệ thống ngân hàng của nước ta đã phát huy được vai trò của mình đó là làm cầu nối trung gian giúp đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế. nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập xoay quanh hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại trong hệ thống. Để phát huy tốt hơn nữa những ưu điểm và khắc phục bất cập đang còn tồn tại, vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 NHNN đã có những bước cải tổ đột phá cho hệ thống NH. Sự cải tổ sâu rộng này từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung và của công tác huy động vốn nói riêng Với sự hướng dẫn của Giảng Viên : Trần Thị Thu Hiền và sự giúp đỡ của các anh chị tại Maritime Bank Thái Bình, em đã lựa chọn đề tài “Công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Thái Bình thực trạng và giải pháp” CHƯƠNG I TỔNG QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY. 1.1.1.Khái niệm ngân hàng thương mại. Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng. Để định nghĩa ngân hàng người ta có thể dựa vào rất nhiều các cở sở khác nhau: tính chất, mục đích hoạt động, các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp….vvv. Vì vậy hình thành nên rất nhiều các khái niệm khác nhau về NHTM ở mỗi quốc gia khác nhau. + Theo luật ngân hàng của nước Mỹ: Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu. Và cho vay các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại được xem là các ngân hàng + Theo luật ngân hàng Pháp 1941: NHTM là xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. + Theo luật các tổ chức tín dụng tại Việt Nam: “Ngân hàng là các tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” Hoạt động ngân hàng là các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán chính của ngân hàng. Khi đi sâu vào xem xét thì các định nghĩa trên đều xuất phát từ những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Rõ ràng ngân hàng được định nghĩa thông qua các dịch vụ mà nó thực hiện trong nền kinh tế. Nhưng vấn đề là không chỉ có ngân hàng thay đổi, mà các tổ chức tài chính không phải là ngân hàng cũng thường xuyên thay đổi chức năng, sản phẩm dịch vụ trong quá trình hoạt động của mình. Thực tế là có rất nhiều các tổ chức tài chính – bao gồm các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, đều cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Vì vậy để có thể tiếp cận một cách chính xác nhất thì chúng ta tiếp cận theo phương diện những loại dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Vì sự đa dạng của các chức năng như vậy ngân hàng được gọi là “ bách hóa tài chính ” trong nền kinh tế, ở đó buôn bán khá đa dạng các sản phẩm tài chính, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các khách hàng. 1.1.2 Chức năng của Ngân Hàng Thương Mại Trong nền kinh tế thị trường 1.1.2.1Chức năng trung gian tài chính. Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Xem thêm

Đọc thêm

đề cương ôn tập luật ngân hàng

đề cương ôn tập luật ngân hàng

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG VÀ LUẬT NGÂN HÀNGHoạt động ngân hàng:Huy động vốn•Nhận tiền gửi•Đi vay•Phát hành giấy tờ có giáCấp tín dụng•Cho vay (theo HĐ tín dụng)•Chiết khấu giấy tờ có giá•Bảo lãnh ngân hàng•Bao thanh toán•Cho thuê tài chínhCung ứng dv thanh toánHệ thống ngân hàngNgân hàng TWCác tổ chức tín dụng•Các ngân hàng•Các tổ chức TD phi ngân hàng•Quỹ tín dụng nhân dân•Công ty tài chính vi mô2. Hd ngân hàng là gj? Sự khác biệt cb giữa hđ NH với hđ kd khác Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. (theo điều 9 Luật Ngân hàng và điều 20 khoản 7 luật TCDN) Sự khác biệt cb giữa hđ NH với hđ kd khácTCPBHĐ ngân hàngHĐ kinh doanh khácĐối tượngtiền tệ và dịch vụ Ngân hàngHàng hóa, tài sản…Nội dungnhận tiền gửi, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”Ko có HĐ nàyChủ thể thực hiệnPhải là các ngân hàng, hoặc các tổ chức tín dụng, được nhà nước cho phép hoạt độngKhông bắt buộc phải là NH và TCTDTỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚCVị trí pháp lýKhoản 1 Điều 2 Luật NHNN 2010Là cq của Cphủ (là cquan ngang bộ, chức năng qlý nn về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.Là NH TW của nước CHXHXNVN•Phát hành tiền•Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia•Là ngân hàng của các tổ chức tín dụng: Xuất phát từ vị trí pháp lý là ngân hàng trung ương, NHNN quản lý các NHTM theo một số cách+ Bắt buộc các NHTM phải lập một tài khoản tiền gửi thanh toán tại NH trung ương+ Bắt buộc các NHTM phải lập một tài khoản dự trữ bắt buộc tại NH trung ương Bên cạnh đó, + NH trung ương còn thực hiện vai trò “Cứu cánh cuối cùng” (trường hợp NH bị mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD  NHNN cho vay tiền).+ NH trung ương thực hiện tái cấp vốn cho các NH.+ khách hàng của NHNN là các NH•Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Cphủ (ngân hàng của Cphủ):NHNN là cơ quan của chính phủ, nằm trong cơ cấu bộ máy của chính phủ và chịu sự điều hành của chính phủ; thống đốc NHNN địa vị ngang hàng với bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ. NHNN chịu trách nhiệm báo cáo cho CP, thống đốc chịu TN trước TTCP và QH về lĩnh vực mình phụ trách. NHNN Làm thủ quỹ cho kho bạc Nhà nước NHNN Đảm bảo quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia NHNN Xây dựng và tư vấn cho Nhà nước về các chính sách tiền tệ quốc gia NHNN Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và ngân hàng… NHNN Cho chính phủ vay và nhận lãi suất từ khoản cho vay. NHNN cũng là đại lý của Chính phủ trong việc phát hành thanh toán các loại chứng khoán chính phủ trên thị trường sơ cấp và thứ cấp. NHNN cố vấn cho chính phủ về các chính sách tài chính , tiền tệ , ngân hàng..Chức năngQuản lý nn trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng•Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tếxã hội của nn•Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để trình cphủ.•Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; ban hành các văn bản QPPL về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.•Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các TCTD; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động NH của các tc khác, quyết định giải thể, chia tách, hợp nhất, sáp nhập các TCTD.•Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng•Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Cphủ.Chức năng ngân hàng TW•Phát hành tiền•Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia•Là ngân hàng của các TCTD (cung ứng vốn, phương tiện thanh toán cho các TCTD)•Cung ứng dv tiền tệ cho CP.
Xem thêm

Đọc thêm

TƯ DUY MỚI VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TƯ DUY MỚI VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọngtrong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng.Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu nhiều rủi ro hơn về quản trị sovới doanh nghiệp thông thường vì tính không rõ ràng có nghĩa là phạm vi cátcứ, chuyển giao rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạtđộng ngầm, cho vay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanhnghiệp phi tài chính. Do đó, vai trò của quản trị ngân hàng lớn hơn vì chỉ vớiquản trị tốt, ngân hàng có thể minh bạch hơn, giá trị cao hơn và tạo điều kiệngiám sát hiệu quả hơn. Công tác tổ chức và quản trị tại ngân hàng (quản trịngân hàng) sẽ tác động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còntới vị thế và uy tín của ngân hàng.Thực tiễn quản trị ngân hàng ở Việt Nam thời gian qua đã bộc lộkhông ít những hạn chế mà nếu không khắc phục được thì các NHTMVN sẽrất khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng như hiệnnay. Những hạn chế có thể kể đến là:Thứ nhất, thiếu hành lang pháp lý và khuôn khổ cho hoạt độngquản trịCó một sự thật khá trớ trêu là từ trước tới nay, Bộ Luật liên quan trực tiếptới các hoạt động tín dụng, hay tổ chức tín dụng lại không hề có mục nào đềcập cụ thể tới các vấn đề tổ chức và quản trị. Kể cả khi Luật Doanh nghiệpmới được sửa đổi vào năm 2005, vấn đề về quản trị doanh nghiệp củaNHTM dường như vẫn bỏ ngỏ. Thực tế, trong suốt thời gian qua, vẫn thiếuhẳn một hệ thống luật đầy đủ trong công tác quản lý tổ chức và quản trị.Không có luật, NHTM phải dựa vào các Nghị định để tự xây dựng cơ chếquản trị. Luật các TCTD (mới) được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010 vàcó hiệu lực từ ngày 01/01/2011 với kỳ vọng sẽ giải quyết được những vướngmắc cho hoạt động quản trị tại các NHTM, tuy nhiên đến nay các Nghị định,Thông tư hướng dẫn Luật vẫn chưa được ban hành.
Xem thêm

19 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới đã mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với những nhà kinh doanh. Môi trường cạnh tranh phát triển không phân biệt ranh giới giữa các quốc gia đã làm nảy sinh và ra đời các tổ chức tập đoàn tài chính, Ngân hàng cũng không nằm ngoài sự vận động đó. Sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống Ngân hàng phân bố trên toàn thế giới, Các sản phẩm,dịch vụ tác động ngày càng nhiều đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Ngân hàng thýõng mại ( NHTM ) là tổ chức tín dụng ðýợc thành lập theo Luật các tổ chức tín dụng và các quy ðịnh khác của pháp luật ðể hoạt ðộng kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thì tín dụng là hoạt ðộng mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng nhýng mặt trái của nó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro ðối với bản thân Ngân hàng, ðó chính là rủi ro tín dụng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu hồi được các khoản tín dụng đã cấp và lãi cho vay, điều này làm cho nợ quá hạn tăng lên, nợ khó đòi gia tăng, chi phí gia tăng. Mặt khác, việc không thu hồi được vốn và lãi khi đến hạn khiến ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không có lãi. Hơn nữa để bù đắp được một khoản vay bị mất vốn, ngân hàng phải thực hiện nhiều khoản cho vay mới để đủ thu nhập thay thế cho vốn gốc đã mất. Kết quả dẫn đến là lợi nhuận của ngân hàng do đó mà giảm sút đáng kể. Đặc biệt, rủi ro của Ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro hệ thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, để hạn chế những rủi ro thì các Ngân hàng đã tiến hành áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro để đảm bảo nghiã vụ trả nợ của khách hàng. Trong những năm qua hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tài sản có và là hoạt động mang nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng ,do đó Ngân hàng cũng phải chấp nhận nhiều rủi ro nhất. Xác định đây là một vấn đề then chốt cho sự tồn và phát triển bền vững của Ngân hàng Nông nghiệp Đồng Hỷ, trong thời gian thực tập tại đây trên cơ sở những nghiên cứu thực tế, tôi đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp Đồng H ỷ” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Xem thêm

73 Đọc thêm

BÀI GIẢNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG GV. HỒ SỸ TUY ĐỨC

BÀI GIẢNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG GV. HỒ SỸ TUY ĐỨC

dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngânhàng của các tổ chức tín dụng” ngày 22/04/2005 Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/07 bổ sung sửađổi QĐ 493 ==> Cập nhật mới theo Thông tư số 02/2013/TTNHNN ngày 21/01/2013.4Nội dung Khái quát về nghiệp vụ tín dụng. Kế toán nghiệp vụ cho vay:Phương pháp tính/thu lãi và nguyên tắc kế toán.Kế toán giải ngân, thu nợ.Kế toán nợ quá hạn.Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng. Kế toán nghiệp vụ tín dụng khác: Nghiệp vụ chiết khấu. Nghiệp vụ bảo lãnh. Trình bày và công bố thông tin.51. Khái quát về nghiệp vụ tín dụngTín dụng NH là giao dịch về tài sản
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Cơ sở lý luận về huy động vốn trong NHTM. 1.1.1. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế hiện nay 1.1.1.1. Khái niệm về NHTM Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện từ rất lâu đời, bắt nguồn từ yêu cầu giữ hộ tiền của những nhà tư bản phương Tây. Cho đến nay, ngân hàng ngày càng phát triển lớn mạnh với rất nhiều loại hình khác nhau cùng những chức năng riêng biệt để phục vụ cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng, các quốc gia phát triển trên thế giới đã đưa ra những khái niệm cũng như quy định về hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo định nghĩa của Peter S.Rose thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển trên 20 năm, trên cơ sở nền tảng pháp lý ban đầu gồm 2 Pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (có hiệu lực từ 1101990) và từ 1997 đến nay là các bộ Luật về Ngân hàng. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. 1.1.1.2. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng được xem là quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người cho vay. Chức năng thanh toán: NHTM thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện được chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. 1.1.1.3. Hoạt động chủ yếu của NHTM a. Hoạt động huy động vốn NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của NHNN. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. b. Hoạt động cấp tín dụng Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức: + Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay thấu chi: mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán, khách hàng không cần phải thế chấp. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong khoảng thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngoài hạn mức tín dụng cấp ban đầu, ngân hàng áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án, nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh tăng thêm… Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu … bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể chiết khấu các thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với các TCTD khác. Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng theo Nghị định của Chính phủ. Bao thanh toán: NHTM thực hiện bao thanh toán như một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi, miễn truy đòi, ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa lẫn quốc tế. Tài trợ xuất nhập khẩu: Mở LC thanh toán hàng nhập khẩu; Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế xuất nhập khẩu; Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, nguyên vật liệu, cho vay đầu tư, bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài; Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn; Chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu, chứng từ thanh toán LC. c. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM gồm: Cung cấp phương tiện thanh toán; Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Thu hộ, chi hộ; Các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN; Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép; Thu và phát tiền mặt cho khách hàng; Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng. d. Các hoạt động khác Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác trong nước; góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN, thông qua hình thức mua bán các công cụ thị trường tiền tệ. Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước, quốc tế. Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm. Tư vấn tài chính: NHTM được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, GTCG, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ và các dịch vụ có liên quan. 1.1.2. Vốn huy động và công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. 1.1.2.1. Khái niệm về vốn huy động. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của NHTM. Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. 1.1.2.2. Vai trò của huy động vốn a. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong suốt quá trình vận hành của mình, nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng có nơi thừa vốn và cũng có nơi thiếu vốn. Thông qua hoạt động huy động vốn, hệ thống ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, đẩy nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và thu hồi vốn giúp gia tăng tốc độ quay vòng vốn, tăng số vòng quay, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn. Không những vậy, huy động vốn còn là kênh thông thương giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế thế giới: thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, thu hút nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới sẽ tham gia vào nền kinh tế trong nước, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước trên cơ sở các bên cùng có lợi. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư phát triển bên cạnh đó hoạt động huy động vốn còn là công cụ giúp NHNN kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, …). Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp lên mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng. Việc đẩy mạnh hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển và điều hành chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện của nước ta hiện nay. b. Đối với Ngân hàng thương mại Huy động vốn là hoạt động nền tảng và quan trọng trong hoạt động của NHTM. Mặc dù không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là yếu tố chính giúp NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định, cơ sở vật chất… cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó gia tăng thị phần, quy mô hoạt động cũng như nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường. Do đó, NHTM không ngừng hoàn thiện và phát triển hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. c. Đối với khách hàng Huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai mà không tốn nhiều thời gian, công sức; Là nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Có thể nói gửi tiền qua ngân hàng là kênh đầu tư có rất ít rủi ro. Ngoài ra, hoạt động huy động vốn giúp cho khách hàng tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng với các giá trị gia tăng kèm theo và dịch vụ cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Thông qua huy động vốn, NHTM là trung gian giúp khách hàng chuyển vốn từ nơi thặng dư sang nơi thiếu hụt vốn một cách kịp thời với chi phí tương đối thấp so với việc sử dụng các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay từ các tổ chức khác.
Xem thêm

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2013-2015

Thị trường tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2013-2015

Thị trương tiền tệ là nơi mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kì hạn dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tếỞ nước ta thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch thị trường tiền tệ còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường tiền tệ.Theo điều 9, luật sửa đổi một số điều của luật ngân hàng nhà nước 2003 định nghĩa “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua bán các loại giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác”1.2 Các loại thị trường tiền tệ1.2.1 Phân loại theo cơ cấu tổ chức Thị trường tiền tệ bao gồm :Thị trường tiền tệ cổ điển :Thị trường vay vốn giữa các tổ chức tín dụng đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương.Thị trường tiền tệ mới :thị trường các loại trái phiếu ngắn hạn, bao gồm Thị trường tiền tệ sơ cấp: thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu Thị trường tiền tệ thứ cấp: thị trường tiền tệ mua bán các loại chứng khóan đã phát hành tại thị trường chứng khoán sơ cấp Thị trường mở (Openmarket operation) thị trường mua bán các loại chứng khoán nhà nước ngắn hạn như : tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ… nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế.Thông qua thị trường mở, ngân hàng Trung ương có thể làm cho tiền dự trữ của ngân hàng thương mại tăng lên hoặc giảm xuống từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối tiền tệ trong nền kinh tế
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC QUY ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ TÀI SẢN NGÂN HÀNG

CÁC QUY ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ TÀI SẢN NGÂN HÀNG

Đối với quy định về vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng, thông lệ quốc tế đã không đưara bất kỳ một tiêu chuẩn hay giới hạn này vì quan điểm của họ đủ vốn là được. Tuy nhiêntrong bối cảnh nếu để quy mô ngân hàng quá nhỏ, thì rất dễ để một cá nhân hay doanhnghiệp thâu tóm và biến ngân hàng thành một đơn vị huy động vốn cho họ.Việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng và thậm chí còn cao hơn nữa sẽ có hai tácdụng. Thứ nhất, tránh tình trạng bị chi phối bởi một hay một vài cá nhân, điều đã gây ranhững hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối thấp niên 1990.Thứ hai, giảm được vấn đề về tâm lý ỷ lại và lựa chọn bất lợi. Với một mức vốn đáng kểthì chủ sở hữu ngân hàng sẽ hành động có trách nhiệm hơn để bảo vệ tài sản của họ.Hơn thế những giới hạn về sở hữu, cấp tín dụng nhằm hạn chế sự lũng đoạn tổ chức tíndụng đã được quy định chặt chẽ trong các quy định hiện hành.2,Hạn chế ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động kinh doanh nhiều rủi roThông tư 13 và các quy định hiện hành đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạtđộng kinh doanh chứng khoán và bất động sản của các ngân hàng thương mại. Trong đó,điểm nổi bật trong quy định lần này là nâng trọng số rủi ro cho các khoản vay trong hailĩnh vực này lên đến 250%.Quy định này đã khiến cho các ngân hàng nhát tay khi đầu tưvào các lĩnh vực này.3,Tăng cường khả năng và quản lý thanh khoảnKhả năng thanh khoản và quản lý thanh khoản được quy định và chặt chẽ rõ ràng trongThông tư 13 với hai điểm đáng chú ý.Thứ nhất, yêu cầu các tổ chức tín dụng phải tính toán và quản lý các tỷ lệ về khả năng chitrả hàng ngày. Đây là một thách thức lớn đối với một số ngân hàng và chưa có thói quenlàm việc một cách chuyên nghiệp của một số người. Nhưng đây là một điều kiện bắt buộcvới bất kỳ một tổ chức tài chính nào nếu muốn trở nên hiện đại.Thứ hai, quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn huy động được sử dụng để cấp tín dụng. Tuyvẫn có những tranh cãi và điểm không rõ ràng khi tính toán và quy định tỷ lệ này, nhưngđây là một trong những giới hạn để một tổ chức tài chính không rơi vào tình trạng mấtthanh khoản khi sử dụng vốn quá mức, nhất là việc sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn vàkhông ổn định (vay liên ngân hàng chẳng hạn) để cho vay hay đầu tư dài hạn.Quay lại với một trong hai mục đích quan trọng của TT 13 là đảm bảo khả năng thanh
Xem thêm

4 Đọc thêm

Luận văn “một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại QUỸ tín DỤNG mỹ HOÀ“

Luận văn “một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại QUỸ tín DỤNG mỹ HOÀ“

Luật Ngân Hàng Nhà Nước đã định nghĩa: “hoạt động Ngân Hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân Hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. Như chúng ta đã biết, hiện nay tình hình thị trường tài chính và hoạt động của các Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) Việt Nam đã có một bước phát triển vượt bậc, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và ký nhiều hiệp định thương mại với Hoa Kỳ. Tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đều vận động, phát triển theo xu hướng chung và có nhiều đổi mới đáng kể. Một trong những nhu cầu cấp thiết đó chính là nguồn vốn. Nguồn vốn là yếu tố vô cùng quan trọng, nó mang tính chất quyết định đến tất cả các hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế khác nhau. Do đó trong thời gian gần đây đã có rất nhiều ngân hàng ra đời để đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của xã hội. Ngân hàng và Quỹ Tín Dụng là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, là trung gian giữa các tổ chức tài chính và doanh nghiệp An Giang là tỷnh có nền kinh tế phát triễn. Năm 2009 tình hình tăng trưởng kinh tế GDP đạt mức 8,67%. Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 942QĐttg đưa An Giang vào Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long nhằm khai thác những lợi thế toàn diện của tỷnh kết hợp với lợi thế của Cần Thơ, Cà Mau và Kiên Giang nhanh chóng tạo ra các cực tăng trưởng có quy mô kinh tế lớn làm động lực lôi kéo các tỷnh khác trong Vùng ĐBSCL cùng phát triển. Đứng trước nhiệm vụ là đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế năng động, đòi hỏi các Ngân Hàng và các Tổ Chức Tín Dụng phải mở rộng và nâng cao hiệu quả huy động vốn của mình. Chính vì tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng và tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế, nên trong quá trình thực tập tại đơn vị, để hoàn thành tốt báo cáo thực tập của mình, em đã quyết định thực hiện đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại QUỸ TÍN DỤNG MỸ HOÀ “ Mục tiêu nghiên cứu đề tài: Từ những vấn đề nghiên cứu lý thuyết, phân tích thực trạng huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ. Tìm ra các ưu điểm, nhược điểm bên trong cũng như những cơ hội thữ thách bên ngoài của Quỹ Tín Dụng. Qua đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao các hoạt động huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:  Những vấn đề cơ bản về huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng  Đánh giá thực trạng huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ trong 3 năm : 200720082009 qua các khía cạnh qui mô, cơ cấu huy động vốn, và phân tích nguồn vốn huy động. Từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong việc huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ Nội dung nghiên cứu:  Hệ thống hoá các biện pháp huy động vốn tại Quỹ tín Dụng.  Phân tích thực trạng huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ, tìm ra nhược điểm cần khắc phục.  Đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn một cách hiệu quả với chi phí thấp nhất.  Phần nội dung trong chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp của em gồm các phần như sau:  Chương I: Giới thiệu tổng về QUỸ TÍN DỤNG MỸ HOÀ  Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ.  Chương III: Một số giải pháp nhằ nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Quỹ Tín Dụng MỸ HOÀ.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN SÔNG CẦU – THÁI NGUYÊN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN SÔNG CẦU – THÁI NGUYÊN

LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết của đề tài. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận luôn luôn là cái đích của các doanh nghiệp, nó chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Minh chứng cho nhận định trên là một ngành kinh doanh trên lĩnh vực rất nhạy cảm: “Lĩnh vực tiền tệ” và đại diện cho ngành kinh doanh ấy là ngành Ngân hàng. Hoạt động của ngành Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế, do đó đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế được diễn ra trôi chảy, thuận lợi hơn. Sự lành mạnh của hoạt động Ngân hàng là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế chính trị và cũng là điều kiện để khai thác tốt những tài nguyên, tiềm lực của nguồn kinh tế. Ngân hàng thương mại ( NHTM ) là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi,sử dụng tiền gửi cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thì tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng nhưng mặt trái của nó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đối với bản thân Ngân hàng, đó chính là rủi ro tín dụng. Đặc biệt, rủi ro của Ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro hệ thống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, để hạn chế những rủi ro thì các Ngân hàng đã tiến hành áp dụng hàng loạt các biện pháp đảm bảo nghiã vụ trả nợ của khách hàng. Một trong những biện pháp quan trọng nhất đó là bảo đảm tín dụng. Lấy tài sản bảo đảm là một trong những căn cứ quan trọng để Ngân hàng xác định hạn mức cho vay đối với khách hàng. Ngân hàng coi " Bảo đảm tín dụng" là nguồn trả nợ thứ hai sau nguồn trả nợ từ "thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng". Cùng với sự gia nhập của tổ chức thương mại thế giới, thị trường tiền tệ Việt Nam cũng đón nhận sự gia nhập của nhiều tổ chức tín dụng quốc tế, đặc biệt là chi nhánh, phòng giao dịch của các Ngân hàng lớn trên thế giới. Điều này đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức cho Ngân hàng Việt Nam. Dưới áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường coi lãi suất là công cụ cạnh tranh đắc lực và tương đối hiệu quả. Bên cạnh đó, một số Ngân hàng đã bắt đầu nới lỏng các điều kiện cho vay nhằm thu hút các khách hàng mới. Một trong những điều kiện đó là điều kiện về tài sản bảo đảm. Hiện nay đã có những Ngân hàng cho vay không cần tài sản bảo đảm đối với một số đối tượng khách hàng cụ thể. Hình thức cho vay không cần đảm bảo bằng tài sản thu hút được một số lượng khách hàng đáng kể, song nó cũng đem đến cho Ngân hàng những rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, điều minh chứng rõ nhất là khi uy tín của khách hàng giảm sút thì tài sản bảo đảm là căn cứ duy nhất đảm bảo việc thu hồi lại nguồn gốc cho Ngân hàng. Cho nên, tài sản bảo đảm có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế việc áp dụng các quy định về tài sản bảo đảm còn nhiều khó khăn, không những từ phía khách hàng, Ngân hàng mà cả từ phía Chính phủ và các bộ ngành có liên quan. Xuất phát từ tình hình thực tế của thị trường tiền tệ Việt Nam và cụ thể là tại NHNo&PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở các vấn đề lý thuyết về bảo đảm tín dụng, cùng với các kiến thức do thầy cô truyền thụ trên lớp và thêm nữa là sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên của NHNo & PTNT Sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên, em đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sông Cầu – Thái Nguyên” để làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Xem thêm

80 Đọc thêm

BÁO CÁO THẨM ĐỊNH, TÁI THẨM ĐỊNH Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam

BÁO CÁO THẨM ĐỊNH, TÁI THẨM ĐỊNH Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam

BÁO CÁO THẨM ĐỊNH, TÁI THẨM ĐỊNH Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng. Căn cứ quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo quyết định số 1672QĐNHNN ngày 31122001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Căn cứ quyết định số 72QĐHĐQT – TD ngày 31032002 của Chủ tịch hội đồng quản trị NHNoPTNN VN Vv ban hành quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNoPTNN VN. Căn cứ đơn vay vốn và phương án kinh doanh của công ty Cổ phần Cafico Việt Nam. I. Hồ sơ pháp lý 1. Giấy phép thành lập, kinh doanh, điều lệ của công ty Tên khách hàng: Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam Tên giao dịch: Cafico Viet Nam Jont Stock Company Địa chỉ trụ sở: 35 đường Nguyễn Trọng Kỳ, Cam Ranh, Khánh Hòa. Điện thoại: 0583854312 Người đại diện: Ông Nguyễn Quang Tuyến – Chủ tịch HĐQT Đăng ký kinh doanh: Giấy phép đăng ký kinh doanh số 4200464415 do phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 26 tháng 10 năm 2001; đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 12 tháng 04 năm 2012. Số tài khoản: 150120103319 tại Ngân hàng Nông ngiệp và Phát triển Nông thôn – chi nhánh Khánh Hòa Mã cổ phiếu: CFC
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi BIDV 2014 có đáp án

Đề thi BIDV 2014 có đáp án

Đề thi tuyển dụng vào BIDV đề thi ngân hàng BIDV đề thi bidv có đáp án đề thi ngân hàng bidv 2014 Đề thi BIDV 2014 có đáp án Đề thi CV Quản lý Khách hàng vào BIDV – tuyển tập trung đợt 12015 Ngày thi: 15032015 Ěề thi gồm 2 phần: Anh vĕn Nghiệp vụ • Anh vĕn: 60 phút: từ vựng, ngữ pháp, tìm lỗi sai, đọc hiểu • Nghiệp vụ: 120 phút: 70 câu Trắc nghiệm (55 điểm): khoảng 55 câu Trắc nghiệm bài tập lớn (45 điểm): 3 bài tập lớn, mỗi bài khoảng 5 câu hỏi nhỏ Thông tin chung: Có bài tập lớn tính TIPV, EPV, NPV, … Phần tự luận là 3 bài tập, mỗi bài 4, 5 câu hỏi nhỏ, mỗi câu nhỏ 3 điểm Những câu còn lại cǜng có 2, 3 câu là tính toán, mỗi câu 1 điểm. Tổng hợp:  Thi nghiệp vụ tín dụng: 70 câu120 phút 10 câu logic IQ 45 câu chung + Kinh tế học: marcro, micro, kt lao động, kinh tế quốc tế, … + Luật kinh tế, tổ chức tín dụng, giao dịch đảm bảo + Kiến thức nền về danh mục TS, Nguồn vốn NHTM và các nghiệp vụ tín dụng cơ bản 3 bài tập lớn chuyển sang trắc nghiệm, mỗi bài 5 câu + Dòng tiền dự án + Thẩm định phương án kinh doanh, hạn mức tín dụng + Ěánh giá dự án + Lãi suất, các nghiệp vụ liện quan của NHTM  Tiếng Anh: 60 câu60 phút form TOEIC Ngữ pháp Ěọc hiểu Từ vựng Tìm lỗi sai
Xem thêm

Đọc thêm

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

NỘI DUNGI.Khái quát về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 không định nghĩa biện pháp cưỡng chế THA dân sự nhưng khoản 2 Điều 9 có quy định: “người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này” “Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp bắt buộc theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản.” Theo điều 71 Luật Thi hành án dân sự thì người có thẩm quyền thi hành án chỉ có thể tiến hành 6 biện pháp cưỡng chế sau đây: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA;Trừ vào thu nhập của người phải THA;Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;Khai thác tài sản của người phải THA;Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ;Buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định”II.Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.1.Điều kiện áp dụng Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA là một trong các BPCC THA dân sự, được quy định tại các điều Điều 71, 76 và từ Điều 79 đến Điều 83 luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà người phải THA có đang có tiền trong tài khoản hoặc đang sở hữu giấy tờ có giá. Nếu người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, mà họ đang giữ tiền, giấy tờ có giá hoặc gửi tại kho bạc, tổ chức tín dụng thì BPCC này sẽ là biện pháp đầu tiên được áp dụng bởi vì nếu thực hiện được thì sẽ rất có hiệu quả trong việc đảm bảo quyền lợi của người được THA. Các biện pháp khác chỉ được thực hiện khi không thể thực hiện biện pháp này. Cụ thể, biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA được thực hiện khi:Theo bản án, quyết định của tòa án thì người phải THA phải thi hành nghĩa vụ trả tiền. Bản án, quyết định dân sự của toàn án có thể bắt các bên thi hành nhiều loại nghĩa vụ dân sự khác nhau: trả lại tài sản chiếm hữu bất hợp pháp, áp dụng các biện pháp để phục hồi xin lỗi, cải chính công khai,… Nghĩa vụ trả tiền trong THA dân sự thường xuất phát từ việc thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng, thừa kế tài sản, bồi thường thiệt hại,…Có căn cứ để xác định người phải THA có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá để thi hành. Để thi hành biện pháp pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá thì bản thân người phải THA phải có tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc , tổ chức tín dụng hoặc tiền mà chính họ đang giữ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh hằng ngày và tiền, tiền do người thứ ba đang giữ, các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,… Hết thời hạn tự nguyện đã được chấp hành viên ấn định nhưng người phải THA không tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA.2.Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.a.Khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 quy định: “Điều 76. Khấu trừ tiền trong tài khoản1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.” Trước khi ra quyết định cưỡng chế, chấp hành viên cần xác định số tiền của người phải THA trong tài khoản ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng trên cơ sở các tài liệu do người được THA cung cấp. Theo yêu cầu của người được THA hoặc trong trường hợp cần kiểm tra lại thì cơ quan THA dân sự yêu cầu nơi người phải THA có tài khoản cung cấp các thông tin về tiền trong tài khoản của người đó. Theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 622015NĐCP thì với trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ PHẦN 2 THS NGUYỄN LÊ HỒNG VỸ

BÀI GIẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ PHẦN 2 THS NGUYỄN LÊ HỒNG VỸ

Có năm điều kiện cần thiết:1. Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạmphát có thể kiểm soát được;2. Các công ty của thị trường Tài chính phải đa dạng tạo ra cácphương tiện chuyển giao quyền sử dụng các nguồn Tài chính; hìnhthành và phát triển hệ thống các trung gian Tài chính;3. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chứa quản lý nhànước để giám sát hoạt động của thị trường Tài chính;4. Phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống thông tin kinh tế phụcvụ cho hoạt động của thị trường Tài chính;5. Cần có đội ngũ các nhà KD, các nhà quản lý am hiểu thị trường Tàichính và phải có đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, kỹ thuật hiệnđại, biết phân tích và có bản lĩnh trước những rủi ro có thể xảy ra.2.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH2.1.4: Công cụ chủ yếu trên thị trƣờng Tài chínhChứng khoán có nhiều loại khác nhau; có thể phân loại chứngkhoán dựa theo các tiêu thức khác nhau: Căn cứ vào kỳ hạn huy động:Chứng khoán ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm;Chứng khoán trung và dài hạn. Trung hạn từ 1 đến 5 năm,dài hạn là trên 5 năm. Căn cứ vào chủ thể phát hành:Chứng khoán chính phủ trung ương và địa phương;Chứng khoán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng;Chứng khoán doanh nghiệp.20:2520
Xem thêm

91 Đọc thêm

Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Dành Cho Sinh Viên

Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Dành Cho Sinh Viên

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong khoa kinh tế trường Đại học Tây Nguyên đã trang bị cho tôi kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy Võ Xuân Hội cùng cô Nguyễn Thị Phương Thảo, những người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Báo cáo chuyên đề thực tập tổng hợp này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo ngân hàng chính sách xã hội tại huyện Krông Pắc, cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong Phòng giám đốc, Phòng tín dụng và phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện Báo cáo thực tập tổng hợp này. Một lần nữa Tôi xin chân thành cảm ơn Đắk Lắk, tháng 10 năm 2015 Sinh viên thực hiện ……………………. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Giải thích DSCV Doanh số cho vay DSTN Doanh số thu nợ HĐND Hội đồng nhân dân NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội PGD Phòng Giao dịch QTTD Quy trình tín dụng SXKD Sản xuất kinh doanh TCTD Tổ chức tín dụng UBND Uỷ ban nhân dân XĐGN Sản xuất kinh doanh XKLĐ Xuất khẩu lao động DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Phòng giao dịch NHCS huyện krông pắc 17 Bảng 3.1: Cơ cấu lao động của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 18 Bảng 3.2:Tình hình nguồn vốn tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Krông Pắc 20 Bảng 3.3: Lãi suất huy động theo tháng tại PGD NHCSXH Huyện Krông Pắc 22 Bảng 3.4: Vòng quay vốn tín dụng chương trình hộ nghèo qua các năm 24 Bảng 3.5: Cơ cấu vốn cho vay các chương trình tín dụng tại PGD NHCSXH Huyện Krông Pắc 26 Bảng 3.6: Tình hình cho vay tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc 28 Bảng 3.7: tình hình dư nợ tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc 29 Bảng 3.8 : Dư nợ phân theo từng xã 30 Bảng 3.9: Tình hình nợ quá hạn cho vay hộ nghèo qua các năm 2011 – 2013 31 Bảng 3.10. Tình hình hộ nghèo và số hộ thoát nghèo tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc qua 3 năm 2011 – 2013 32 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ iii MỤC LỤC iv PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phạm vi nghiên cứu 2 1.4.1. Phạm vi nội dung 2 1.4.2. Phạm vi không gian 2 1.4.3. Phạm vi thời gian 2 PHẦN THỨ HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3 2.1. Cơ sở lý luận 3 2.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 3 2.1.2. Khái niệm tín dụng 3 2.1.3. Bản chất, vai trò và chức năng của tín dụng 3 2.1.3.1. Bản chất của tín dụng ngân hàng 3 2.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 4 2.1.3.3. Chức năng của tín dụng ngân hàng 5 2.1.3.4. Các hình thức tín dụng 6 2.1.4 Quy trình tín dụng 8 2.1.4.1. Khái niệm 8 2.1.4.2. Các giai đoạn và ý nghĩa quy trình tín dụng 8 2.1.5. Tín dụng hộ nghèo 10 2.1.5.1. Đặc điểm của tín dụng hộ nghèo 10 2.1.5.2. Vai trò của tín dụng hộ nghèo 10 2.1.6. Quy trình tín dụng tại ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc 11 2.2. Phương pháp nghiên cứu 14 2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 14 2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu 14 2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 14 2.2.4. Các chỉ tiêu nguyên cứu 14 PHẦN THỨ BA: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16 3.1. Tổng quan về phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 16 3.1.1. Giới thiệu về Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã Hội huyện Krông Pắc 16 3.1.1.1. Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức 16 3.1.1.2. Thuận lợi và thách thức 18 3.1.1.3. Đặc điểm của những sản phẩm cho vay đối với hộ nghèo 19 3.2. Kết quả nghiên cứu 20 3.2.1.Thực trạng cho vay đối với hộ nghèo tại PGD NHCSH Krông Pắc 20 3.2.1.1. Tình hình nguồn vốn cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 20 3.2.1.2. Tình hình cho vay hộ nghèo ở NH CSXH huyện Krông Pắc 22 3.2.2. Phân tích tình hình cho vay tại chi nhánh 28 3.2.2.1. Phân tích doanh số cho vay 28 3.2.2.2. Phân tích dư nợ cho vay 29 3.2.2.3. Phân tích tình hình nợ quá hạn 31 3.2.3. Nhận xét trong hoạt động cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 33 3.2.3.1. Về tổ chức 33 3.2.3.2. Về chính sách huy động vốn 33 3.2.3.3. Về đối tượng vay vốn 33 3.2.4. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân 34 3.2.5. Giải pháp nâng cao tín dụng tại phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 35 3.2.5.1. Tổ chức tuyên truyền về tính thiết thực, việc sử dụng vốn hiệu quả và nâng cao trình độ dân trí cho hộ nghèo 35 3.2.5.2. Tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay 36 PHẦN THỨ TƯ: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37 4.1. Kết luận 37 4.2. Kiến nghị 38 4.2.1. Kiến nghị đối với NHCSH Đắk Lắk 38 4.2.2. Kiến nghị đối với NHCSH Krông Pắc 38 4.2.3. Kiến nghị đối với nhà nước 38 4.2.4. Kiến nghị đối với UBND các cấp 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới (WTO), và đang dần hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với 75% dân số là nông dân tập trung sinh sống ở nông thôn. Tỷ lệ người nghèo chiếm 13% (Năm 2008) tổng dân số của nước ta. Nhìn chung nền nông nghiệp nước ta còn nghèo nàn và còn chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến nhiệm vụ XĐGN là một trong những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh”phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Trong lĩnh vực tín dụng cho người nghèo, năm 1996 Nhà nước đã thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo và đến năm 2003 được tách ra thành Ngân hàng chính sách xã hội, với mục tiêu chủ yếu là cho vay ưu đãi hộ nghèo. Sau hơn 5 năm hoạt động, NHCSXH đã cho vay hàng chục ngàn tỷ đồng, cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo và đã góp phần to lớn trong cuộc XĐGN cho đất nước. Tuy nhiên nhiệm vụ XĐGN còn gặp nhiều khó khăn và cản trở khi nhu cầu vay vốn của nhân dân cao, và trên diện rộng trong khi quy mô của các Ngân hàng còn chưa lớn, hiệu quả còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH còn chưa thực sự bền vững. những vấn đề trên là phức tạp nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa được nghiên cứu đầy đủ. Để giải quyết được vấn đề nghèo đói ở Việt Nam nói chung và tín dụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu kĩ lưỡng có hệ thống khách quan khoa học, phải có sự quan tâm sâu sắc đặc biệt của Nhà nước cũng như toàn xã hội. Krông Pắc là một huyện nghèo, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (trồng cà phê, cao su, bắp, đậu, ngô, sắn, … ). Để người nghèo có điều kiện ổn định chỗ ở, tập trung sản xuất, phấn đấu thoát nghèo, công tác cho vay hộ nghèo trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn gặp nhiều hạn chế: chất lượng tín dụng chưa cao, thời hạn vay, mức cho vay chưa phù hợp với thực tế ở một số nơi. Do vậy, nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo là một công việc cấp thiết được đặt ra hiện nay. Nhận thức được điều đó tôi quyết định chọn đề tài HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG PẮC. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo. Tìm hiểu và đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã Hội huyện Krông Pắc. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng đối với hộ nghèo nói riêng của PGD NHCSXH huyện Krông Pắc. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Với tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn cụ thể trong hoạt động cho vay hộ nghèo tại phòng giao dich Ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc trong 3 năm 2011,2012 và 2013. 1.4. Phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Phạm vi nội dung Tìm hiểu thực trạng hoạt động tín dụng hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc. 1.4.2. Phạm vi không gian Tiến hành nghiên cứu đề tài tại NHCSXH huyện Krông Pắc. 1.4.3. Phạm vi thời gian Số liệu nghiên cứu được lấy trong các năm 2011, 2012 và 2013. PHẦN THỨ HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý luận 2.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. 2.1.2. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với một khoản chi phí nhất định và thu hồi món vay. Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay. 2.1.3. Bản chất, vai trò và chức năng của tín dụng 2.1.3.1. Bản chất của tín dụng ngân hàng Bản chất của tín dụng là hệ thống các quan hệ kinh tế hình thành thông qua quan hệ vay mượn giữa người cho vay với người đi vay nhằm điều tiết từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn và đáp ứng các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Quá trình đó được thể hiện qua các giai đoạn sau: Phân phối tín dụng dưới dạng hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang người đi vay. Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn một mục đích nhất định. Ở giai đoạn này vốn vay được sử dụng trực tiếp, nếu vay bằng hàng hoá, hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá, nếu là vay bằng tiền để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ được tạm thời trong một thời gian nhất định, nghĩa là xuất hiện trong thực tế sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng: Người cho vay có quyền sở hữu nhưng không có quyền sử dụng và người đi vay họ có quyền sử dụng nhưng lại không có quyền sở hữu. Sự hoàn trả của tín dụng: Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người vay. 2.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng Với tư cách là công cụ tập trung vốn và tích lũy, tín dụng góp phần giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng vòng quay nguồn vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, và góp phần hạn chế lạm phát phát triển kinh tế. a. Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. b.Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên Tiềm năng cho phát triển ở nước ta là rất lớn, nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu có chính sách đầu tư tín dụng hợp lý, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà lâu nay chưa được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả. Sức lao động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho từng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hoá nông sản thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước. 2.1.3.3. Chức năng của tín dụng ngân hàng a. Tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế Tập trung và phân phối lại vốn tín dụng là hai quá trình thống nhất trong sự vận động của hệ thống tín dụng. Thông qua hoạt động tín dụng thì nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn có thể đáp ứng các nhu cầu vốn lớn cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng thì nguồn vốn được phân bố đến những nơi cần vốn của các tổ chức kinh tế, xã hội, cá nhân. Phân phối trực tiếp là sự chuyển giao vốn của chủ thể tạm thời nhàn rỗi vốn sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà không thông qua bất kỳ trung gian tài chính nào. Phân phối gián tiếp: là sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể thừa vốn tạm thời sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà phải thông qua tổ chức tài chính trung gian Như vậy thông qua chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế tín dụng được xem như là sợi dây kết nối cung cầu vốn tiền tệ, tạo dễ dàng cho chủ thể thừa tiền, chủ thể thiếu tiền trong nền kinh tế gặp gỡ nhau, đạt được mục đích của mỗi bên, nhờ đó mà tín dụng trực tiếp tham gia điều tiết vốn giúp cho tiền tệ lưu thông đạt hiệu quả kinh tế cao, tránh tình trạng thiếu hụt cũng như thừa tiền trong nền kinh tế. b. Tiết kiệm tiền mặt trong nền kinh tế và chi phí lưu thông tiền tệ Thông qua hoạt động tín dụng các công cụ lưu thông tín dụng công cụ thanh toán hiện đại cho phép huy động vốn thông qua phát hành chứng từ có giá, có thể chuyển nhượng qua lai, như vậy thì tín dụng có thể giảm lượng tiền lưu thông thực tế một lượng đáng kể. Khi hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán qua hệ thống ngân hàng ngày càng nhiều và lớn thì lượng tiền lưu thông sẽ giảm nhỏ lại, mặt khác khi công tác không dùng tiền mặt phát triển thì việc tập trung tiền vào tài khoản sẽ giảm chi phí cất trữ và bảo quản tiền. Nếu các công cụ thanh toán của ngân hàng phát triển thì việc thanh toán sẽ nhánh chóng, điều này sẽ thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng, kịp thời. c. Phản ánh và kiểm soát các hoạt của nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, tín dụng cảng mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế, tham gia vào sản xuất hàng hóa góp phần hoàn thiện thị trường tài chính. Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng phản ánh được nguồn vốn huy động, khối lượng huy động, đồng thời biết được khả năng các Tổ chức tín dụng cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng như nhu cầu vốn của nền kinh tế. Ngoài ra thông qua đó thấy được như đầu tư, tích luỹ tiêu dùng… trong nền kinh tế và cũng từ đó Nhà Nước sẽ có các chính sách hợp lý. Trong hoạt động cho vay, các TCTD phải luôn theo dõi kiểm tra phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của khách hàng mình để từ đó có những đối sách thích hợp về cho vay cũng như thu hồi vốn cho vay. Do vạy tín dụng cũng phán ánh được tình hình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi mà hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, được sử dụng rộng rãi thì Ngân hàng sẽ kiểm soát bằng tài khoản vì mọi hoạt động cũng như quá trình hình thành và sử dụng vốn liên quan đến tài khoản tiền gửi. Với chức năng này thì Ngân hàng sẽ trở thành một người giữ tiền của nền kinh tế, giao dịch với hầu hết các thành phần kinh tế. Vốn của TDNH tham gia vào mọi ngành nghề, nên ngân hàng có thể nắm bắt phản ánh mọi hoạt động trong nền kinh tế một cách tương đối chính xác. Cũng với chức năng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, chức năng phản ánh trong quá trình hoạt động của nền kinh tế thì tín dụng có phản ánh quá trình phân phối sản phẩm cho nền kinh tế. 2.1.3.4. Các hình thức tín dụng a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thông thường vay dùng nguồn vốn tín dụng này để bổ sung vào vốn lưu động tạm thời thiếu hụt, các loại sản xuất mang tính thời vụ, hoặc tiêu dùng. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên một năm và nhỏ hơn hay bằng 5 năm thường thì người vay loại tín dụng này nhằm đáp ứng các nhu cầu cải tiến trang thiết bị, mua sắm tài sản cố định, đổi mới công nghệ, xây dựng các công trình với quy mô tương đối nhỏ,thời gian hoàn vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường thì người vay sử dụng vốn tín dụng này nhằm mục đích thực hiện các dự án lớn thời gian hoàn vốn lâu b. Căn cứ vào đối tượng cho vay Tín dụng vốn lưu động: Là loại vốn tín dụng được sử dụng đáp ứng các nhu cầu cung cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn dự trữ nguyên liệu, vật tư sản xuất và lưu thông hàng hóa, đa số khoản tín dụng này mang tính ngắn hạn. Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn cố định tạo ra tài sản cố định cho doanh nghiệp, các khoản tín dụng này chủ yếu tài trợ cho các dự án đầu tư cơ bản và có thời hạn thu hồi vốn lâu. c. Căn cứ vào tài sản đảm bảo Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng thực hiện phải có tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố, bão lãnh của bên thứ ba nhằm bảo toàn nguồn vốn cho người vay. Như vậy người vay phải dùng tài sản của mình hay yêu cầu bên bão lãnh dùng tài sản của họ để thế chấp hay cầm cố để có thể vay một số vốn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà người đi vay không cần dùng tài sản thế chấp của mình để đảm bảo nợ vay, mà chỉ bằng uy tín của mình đối với bên cho vay, uy tín của Hội đoàn thể chính trị Xã hội, thông thường thì loại tín dụng này chủ yếu được áp dụng với khách hàng có uy tín, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh đảm bảo khả năng thanh toán. d. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng được sử dụng đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh các ngành nghề. Tín dụng phục vụ tiêu dùng: Là loại tín dụng nhằm phục vụ cho mục đích mua sắm hàng hóa, sửa chữa nhà đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hằng ngày của dân cư. e. Căn cứ vào đối tượng hoàn trả Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà người đi vay trực tiếp vay vốn cộng lãi cho người đi vay. Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng mà người đi vay và người trả nợ là hai người khác nhau. f. Căn cứ vào chủ thể tín dụng Tín dụng thương mại: Là loại quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp với nhau, được biểu hiện thông qua quan hệ mua bán chịu hàng hóa. Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân trong đó Ngân hàng là người cho vay. Tín dụng Nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức và dân cư. Trong đó Nhà nước đóng vai trò là người đi vay, được thực hiện dưới hình thức phát hành Trái phiếu, Công trái hay chứng từ có giá khác. 2.1.4 Quy trình tín dụng 2.1.4.1. Khái niệm QTTD là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra qđịnh cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng.Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một QTTD cụ thể, bao gồm nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi. 2.1.4.2. Các giai đoạn và ý nghĩa quy trình tín dụng Các giai đoạn của qui trình Nguồn và nơi cung cấp thông tin Nhiệm vụ của ngân hàng ở mỗi giai đoạn Kết quả của mỗi giai đoạn (1) (2) (3) (4) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Khách hàng đi vay cung cấp thông tin. Tiếp xúc, phổ biến và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn. Hoàn thành bộ hồ sơ để chuyển sang giai đoạn sau. Phân tích tín dụng Hồ sơ đề nghị vay từ giai đoạn trước chuyển sang. Các thông tin bổ sung từ phỏng vấn, hồ sơ lưu trữ,... Tổ chức thẩm định về các mặt tài chính và phi tài chính do các cá nhân hoặc bộ phận thẩm định thực hiện. Báo cáo kết quả thẩm định để chuyển sang bộ phận có thẩm quyền để quyết định cho vay. Quyết định tín dụng Các tài liệu và thông tin tử giai đoạn trướcchuyển sang và báo cáo kết quả thẩm định. Các thông tin bổ sung. Quyết định cho vay hoặc tử chối cho vay dựa vào kết quả phân tích. Quyết định cho vay hoặc từ chối tùy theo kết quả thẩm định. Tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng công chứng, và các loại hợp đồng khác. Giải ngân Quyết định cho vay và các hợp đồng liên quan. Các chứng từ làm cơ sở giải ngân. Thẩm định các chứng từ theo điều kiện của hợp đồng tín dụng trước khi phát tiền vay. Chuyển tiền vào các tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc chuyển trả cho nhà cung cấp theo yêu cầu của khách hàng. Giám sát và thanh lý tín dụng Các thông tin từ nội bộ ngân hàng. Các báo cáo tài chính theo định kỳ của khách hàng. Các thông tin khác. Phân tích hoạt động tài khoản, báo cáo tài chinh, kiểm tra mục đính sử dụng vốn vay. Tái xét và xếp hạng tín dụng. Thanh lý hợp đồng tín dụng. Báo cáo kết quả giám sát và đưa ra các giải pháp xử lý. Lập các thủ tục để thanh lý tín dụng. • Ý nghĩa của quy trình tín dụng : Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng. Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn. 2.1.5. Tín dụng hộ nghèo 2.1.5.1. Đặc điểm của tín dụng hộ nghèo a. Khái niệm tín dụng hộ nghèo Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng. b. Chỉ tiêu đánh giá hộ đói nghèo ở Việt Nam Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người một tháng (hoặc năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị nhất định về giá cả. Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ tổng chi). Chỉ tiêu phụ: là dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và các điều kiện y tế,… 2.1.5.2. Vai trò của tín dụng hộ nghèo Thứ nhất: làm giảm chi phí trao đổi giao dịch mở rộng thị trường hàng hóa và dịch vụ và phạm vi phân công lao động. Tín dụng tạo ra cơ hội cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp và tạo thu nhập cho người nghèo. Thứ hai: tín dụng cung cấp nguồn vốn để mua các vật tư cần thiết đầu tư cho sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy móc thiết bị tưới tiêu, nhà xưởng… và các khoản đầu tư khác như phân bón, hạt giống, nhiên liệu … Thứ ba: Tín dụng giúp đẩy mạnh quá trình thương mại hóa sản xuất nông nghiệp cũng như thay đổi cơ cấu nông nghiệp. Hiện đại hóa nông nghiệp là áp dụng kỹ thuật mới, phân bón, thuốc trừ sâu và các phương pháp thâm canh tốt hơn. Không có tín dụng quá trình này sẽ bị chậm lại. Tín dụng sẽ làm mất đi những hạn chế tự cung tự cấp trước kia và sẽ đóng góp đáng kể vào phát triển nông nghiệp. Thứ tư: cung cấp tín dụng được coi là công cụ chủ chốt làm phá vở vòng luẩn quẩn “Thu nhập thấp tiết kiệm ít sản lượng thấp thu nhập thấp” đặc biệt là vùng nông thôn mà phần lớn dân số là những người nông dân có thu nhập thấp. Cung cấp tín dụng thường được thực hiện qua các chương trình đặc biệt với mục đich tạo việc làm và tăng mức thu nhập của người nghèo. 2.1.6. Quy trình tín dụng tại ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc • Quy trình cho vay Cho vay Người vay vốn viết giấy đề nghị vay vốn (mẫu số 01TD), gửi tổ T
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề