CNSH CỔ TRUYỀN TRONG VIỆC TẠO GIỐNG MỚI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CNSH CỔ TRUYỀN TRONG VIỆC TẠO GIỐNG MỚI":

NUÔI CẤY INVITRO TỪ MÔ SẸO

NUÔI CẤY INVITRO TỪ MÔ SẸO

MỞ ĐẦU……………………………………………………………………….1 Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU…………………………………………2 1.1 Sơ lược lý thuyết mô sẹo…………………………………………………...2 1.1.1 Khái niệm mô sẹo…………………………………………………...2 1.1.2 Đặc tính của mô sẹo………………………………………………...2 1.1.3 Ứng dụng của mô sẹo……………………………………………...2 1.1.4 Sự tạo chồi từ mô sẹo……………………………………………....3 1.1.5 Cảm ứng tạo mô sẹo………………………………………………..4 1.2 Pháp nuôi cấy mô sẹo………………………………………………………4 1.2.1 Nguyên tắc nuôi cấy mô sẹo………………………………………..4 1.2.2 Đặc điểm của quá trình nuôi cấy mô sẹo…………………………..6 1.2.3 Nhân giống thông qua giai đoạn callus……………………………6 Chương 2: SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TẾ BÀO THỰC VẬT.....................................................................................................................10 Chương 3: QUI TRÌNH NHÂN GIỐNG IN VITRO BẰNG CÁCH TẠO MÔ SẸO………………………………………………………………………..14 3.1 Sơ đồ ……………………………………………………………………….14 3.2 Thuyết minh……………………………………………………………….15 3.3 Vật liệu và môi trường nuôi cấy………………………………………….17 3.3.1 Hóa chất sử dụng trong nuôi cấy…………………………………...17 3.3.1.1 Khoáng đa lượng……………………………………………………………17 3.3.1.2 Khoáng vi lượng……………………………………………………………..17 3.3.1.3 Vitamine ……………………………………………………………………..18 3.3.1.4 Các chất điều hòa sinh trưởng…………………………………………….18 3.3.1.5 Các chất hữu cơ khác……………………………………………………….18 3.3.2 Môi trường nuôi cấy………………………………………………...19 3.3.2.1 Đường………………………………………………………………..19 3.3.2.2 Các khoáng đa lượng……………………………………………...20 3.3.2.3 Các khoáng vi lượng……………………………………………….21 3.3.2.4 Các vitamine………………………………………………………..22 3.3.2.5 Các chất điều hòa sinh trưởng……………………………………23 3.3.2.6 Các chất hữu cơ khác……………………………………………...24 3.3.2.7 Chú ý…………………………………………………………………25 Chương 4: CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNG CỨU…………………………26 4.1 Nghiên cứu sự hình thành mô sẹo và tế bào đơn cây Kiwi……………..26 4.1.1 Phân tích:……………………………………………………………26 4.1.1.1 Vật liệu………………………………………………………………26 4.1.1.2 Môi trường nuôi cấy:………………………………………………26 4.1.1.3 Điều kiện nuôi cấy………………………………………………….26 4.1.2 So sánh:……………………………………………………………...26 4.1.3 Kết luận:……………………………………………………………..28 4.2 Tạo mô sẹo và tái sinh chồi từ mô lá non cây bí Kì Nam……………….28 4.2.1 Phân tích…………………………………………………………….28 4.2.1.1 Vật liệu:……………………………………………………………...28 4.2.1.2 Phương pháp:………………………………………………………28 4.2.1.3 Môi trường nuôi cấy……………………………………………….29 4.2.1.4 Bố trí thí nghiệm……………………………………………………29 4.2.2 So sánh:……………………………………………………………...29 4.2.3 Đánh giá …………………………………………………………….30 4.3 Quá trình phát sinh mô sẹo và chồi của cây Long Não………………...30 4.3.1 Phân tích…………………………………………………………….30 4.3.1.1 Vật liệu………………………………………………………………30 4.3.1.2 Phương pháp………………………………………………………..31 4.3.1.3 Bố trí thí nghiệm …………………………………………………..31 4.3.1.4 Điều kiện nuôi cấy…………………………………………………31 4.3.2 Kết quả và thảo luận……………………………………… ………..32 4.3.3 Đánh giá:…………………………………………………………….34 4.4 Khảo sát khả năng tạo mô sẹo từ cuống lá, phiến lá và nụ hoa phục vụ cho việc vi nhân giống hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii Bolus)………………………………………………………………………..34 4.4.1 Phân tích…………………………………………………………….34 4.4.1.1 Vật liệu:…………………………………………………….............34 4.4.1.2 Phương pháp……………………………………………………….34 4.4.2 So sánh :…………………………………………………………….35 4.4.3 Đánh giá:……………………………………………………………36 KẾT LUẬN……………………………………………………………….........36 TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….37 Ngành CNSH đã và đang ngày càng tỏ ra thực sự có ý nghĩa lớn đối với đời sống con người, hiện đã được Chính phủ ưu tiên đầu tư cho những nghiên cứuvà những kế hoạch mang tính ứng dụng cao. CNSH được xem là cánh tay đắc lực trong lĩnh vực nông nghiệp kỹ thuật cao và các nước phát triển trên thế giới đã và đang ứng dụng hiệu quả như Mỹ, Nhật, Thái Lan,...Ngành này không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực nông nghiệp mà còn là ngành học của sức khỏe, khoa học thực phẩm và bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, CNSH hiện đại sẽ mang lại những đột phá về nhân giống, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi, nuôi cấy mô thực vật và “cao cấp” hơn là sinh vật chuyển gene. Những giống cây trồng cho năng suất cao, kháng sâu bệnh, chịu được thuốc diệt cỏ, chịu được sự khắc nghiệt của môi trường sống, có khả năng loại bỏ chất ô nhiễm là những kết quả mà công nghệ sinh học nông nghiệp mang đến. Với xu thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì triển vọng của ngành này là rất lớn. Nhờ ứng dụng các thành tựu mới mẻ của công nghệ sinh học như nhân giống in vitro bằng cách tạo mô sẹo ,... người ta có thể tạo ra được những giống cây trồng không những có năng suất cao mà còn chống chịu được với sâu bệnh, thích nghi tốt với thời tiết… Đối với các loại cây quí hiếm, có giá trị thương mại lớn, kĩ thuật nhân giống in vitro bằng cách tạo mô sẹo đã đem lại những hiệu quả kinh tế hết sức rõ rệt.
Xem thêm

Đọc thêm

DI TRUYỀN TẾ BÀO ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

DI TRUYỀN TẾ BÀO ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

- Tính linh hoạt có giới hạn: C (tARN) chỉ kết cặp với G; A (tARN) kết cặp với U.18. Các enzym tham gia vào tái bản ADN ở E. coliADN polimerase: 3 loại. ADN polimerase I: Nhiệm vụ đọc và sửa chữa ADN, ADNpolimerase II: Chức năng xác định sự bắt đầu và kết thúc tổng hợp ADN, ADN polimerase III:Giữ vai trò chính trong tái bản ADN, nhiệm vụ chủ yếu là gia tăng chiều dài sợi mới.,ADN gyrase (topoisomerase): Cắt ADN, làm tháo xoắn ở 2 phía ngựơc nhau bắt đầu từđiểm khởi đầu sao chép. ADN helicase: Bẻ gãy các liên kết hidro, giải phóng các chuỗi đơntạo nên các chạc tái bản. ADN ligase: Nối các đoạn ADN ngắn thành sợi ADN dài liên tục. Các protein tham gia vào tái bản ADN ở E. coli- Protein B: Nhận ra điểm khởi đầu tái bản.- Protein SSB (Single strand binding): Gắn với sợi đơn, giữ các sợi 1 tách riêng khi chưatái bản19. Đặc điểm quá trình tái bản ADN:- Gồm các giai đoạn: duỗi xoắn, tổng hợp mồi, kéo dài; hoàn chỉnh sợi mới.- Mạch ADN mới được tổng hợp theo chiều 5’- 3’, một mạch polynucleotit được tổng hợpliên tục và một mạch được tổng hợp gián đoạn.- Mỗi bước của quá trình tái bản đều có sự tham gia của các loại enzym tương ứng.- Quá trình liên kết với các nucleotit thực hiện theo nguyên tắc bổ sung (A – T, G - C).- Có sự tham gia của primer (mồi ARN ).- Mỗi ADN con được tạo thành đều chứa một mạch cũ và một mạch mới (bán bảo toàn).20. Những điểm giống nhau trong tái bản ADN ở pro và eu- Đều dựa trên khuôn mẫu của ADN mẹ; - Được bắt đầu bằng những vị trí đặc thù; - Có sựtham gia của các enzym, dNTP (deoxyribonucleotit triphotphat); - Cần sự tham gia của cácđoạn mồi (primer) để tạo ra nhóm 3’OH tự do; - Sự lắp ráp các nucleotit trên nguyên tắc bổsung với mạch đơn ADN mẹ; - Có 1 mạch tổng hợp liên tục theo chiều tháo xoắn, 1 mạchtổng hợp gián đoạn ngược với chiều tháo xoắn; - Kết quả: Từ 1 phân tử ADN mẹ sau 1 lầntái bản tạo ra 2 phân tử ADN con giống ADN mẹ.21. Sự khác giữa tái bản ADN trong t/bào sống và sự nhân bản đaọn ADN trong ống
Xem thêm

14 Đọc thêm

CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TOÀN CẦU 2020

CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TOÀN CẦU 2020

những thẻ FRID được tích hợp thường nhật vào các thiết bị thương mại, đồng thời sự kết hợpcủa các cấu phần cảm biến, bộ nhớ, năng lực xử lý và các công cụ truyền thông linh hoạt làmcho chúng trở nên tinh xảo hơn, thì các thiết bị TTDĐ sẽ ngày càng tích hợp những công cụ đểđọc, xử lý, chia sẻ và ứng dụng những thông tin này.Theo truyền thống, các bộ đọc FRID được coi là nút cố định ở trong hệ thống. Một thẻ FRIDđược gắn vào một đối tượng nào đó phải đi qua phạm vi kiểm soát của đầu đọc FRID để đọc vàdownload thông tin. Đầu đọc FRID được trang bị những năng lực truyền thông hữu tuyến đểcho phép chia sẻ, lưu trữ và tìm kiếm thông tin. Nhưng những xu hướng gần đây của các thiết bịTTDĐ và kết mạng vô tuyến đã đưa lại sự chuyển dịch từ các đầu đọc cố định sang các đầu đọcdi động (M-FRID).Một số nhà chế tạo hiện đã kết hợp các đầu đọc FRID vào thiết bị TTDĐ. Ví dụ, năm 2004,Nokia bắt đầu tiếp thị bộ M-FRID cho điện thoại di động 5140. Philips, Samsung và các hãngkhác cũng đang theo đuổi việc kết hợp các đầu đọc FRID trực tiếp vào thiết bị TTDĐ. Một sốthiết bị đã cung cấp các dịch vụ tổng hợp của M-FRID, định vị địa lý, cảm biến, trao đổi dữ liệuvà tìm dữ liệu.II. CÔNG NGHỆ SINH HỌCCNSH đang trở thành một bộ phận cấu thành của đời sống hàng ngày trong xã hội đươngđại, được sử dụng ngày càng nhiều trong công tác chăm sóc sức khoẻ, sản xuất lương thực vàhỗ trợ các ngành nông, lâm, thuỷ sản. Nhưng mối liên quan xã hội của nó còn sâu sắc hơn. VìCNSH có quan hệ với các quá trình cơ bản của sự sống và là một loạt các công cụ có nhữngtiềm năng to lớn nên nó thường động chạm đến những giá trị cốt lõi, có ý nghĩa đối với nhânloại và thế giới. Một số vấn đề chung trong CNSH là:- Lượng thông tin sinh học nhận được ngày càng gia tăngNhững bước tiến gần đây của công nghệ đã giúp tạo ra một loạt công cụ để tiếp cận được vớicác nguồn thông tin sinh học ngày càng phong phú. Thành quả thu được từ những công cụ đóhiện đã hiện hữu, chẳng hạn như bản đồ hệ gen Người. Những nỗ lực trong lĩnh vực Hệ gen chứcnăng (Proteomics) đã giúp theo dõi được trực tiếp rất nhiều phản ứng hoá học diễn ra trong cơ thểsống- đây mới chỉ là bước khởi đầu cho một quá trình phát triển có triển vọng sẽ diễn ra với tốcđộ hết sức nhanh và có phạm vi rộng. Những tiến bộ hiện nay trong vi mạng cảm biến axit nucleicvà nhiều loại protein đem lại khả năng thực hiện nhiều thử nghiệm cùng một lúc ở trên một mẫu
Xem thêm

44 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƯƠNG NHẬP NỘI TỪ AUSTRALIA NĂM 2005 2006 TẠI THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƯƠNG NHẬP NỘI TỪ AUSTRALIA NĂM 2005 2006 TẠI THÁI NGUYÊN

18.931 tạ/ha. Sản lượng thấp nhất là năm 2001 là 15.407.328 tấn, cao nhất lànăm 2004 với 17.750.340 tấn.Như vậy, năm 2003 mặc dù diện tích trồng đậu tương của Trung Quốcít nhất trong 4 năm, song do năng suất đạt cao nhất dẫn đến sản lượng caonhất. Như vậy năng suất là yếu tố vô cùng quan trọng. Cho nên Trung Quốcđã áp dụng khoa học kỹ thuật lai tạo và nhập nội giống. Ngoài ra Trung Quốccòn tổ chức hàng loạt các chương trình cải tiến giống từ dạng cũ sang dạngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyênhttp://www.lrc-tnu.edu.vn11mới có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiêncủa từng vùng, nhằm tạo ra những giống tốt có năng suất cao trên 20 tạ/ha.1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giớiNhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của đậu tương, cũng như nhucầu của con người mà nhiều nước đã đầu tư lớn cho việc tăng năng suất và diệntích gieo trồng cây đậu tương. Do diện tích đất gieo trồng có hạn, đòi hỏi các nhàkhoa học nghiên cứu chọn tạo để tìm ra giống mới có năng suất cao, ổn định.Để thực hiện được điều đó thì cần phải đẩy mạnh phát triển nền khoahọc kỹ thuật chọn tạo giống nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, lai tạo,gây đột biến để tạo ra nhiều giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt thíchnghi với điều kiện ngoại cảnh của các vùng sinh thái khác nhau.Hiện nay nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 15nước: Đài loan, Australia, Trung quốc, Pháp, Nigienia, Ấn độ, Inđonesia,Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy điển, Thái Lan, Mỹ và Liên xô với tổngsố 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long, 1991)[22].
Xem thêm

20 Đọc thêm

GIOI THIEU LE HOI TICH DIEN, DUY TIEN, HA NAM

GIOI THIEU LE HOI TICH DIEN, DUY TIEN, HA NAM

tịch điền. Tại đây nhà vua đích thân xuống ruộng cày tịch điền.Ở Việt Nam, lễ Tịch Điền đầu tiên được diễn ra khi nào? Theo Đại Việt sử kítoàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn vào thế kỉ XV ghi chép về sự kiện này, ĐinhHợi năm thứ 8 Niên hiệu Thiên phúc, đời Tiền Lê vào mùa xuân vua cày ruộng ởTrường THCS Nguyễn Hữu Tiến-Duy Tiên-Hà Nam3núi Đọi được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải được một chĩnh bạc, vì thếvua đặt tên là ruộng “Kim ngân” (thực ra số vàng bạc ấy là do vua sai người chônsẵn, nhằm khuyến khích nông dân ham cầy cấy sẽ có ngày “bắt được vàng bạc",nhưng ý nghĩa sâu xa hơn là siêng cấy cày sẽ làm ra vàng, ra bạc).Theo sử cũ thì Lê Hoàn là ông vua đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Namtiến hành lễ cày tịch điền-mở đầu cho việc động thổ nông nghiệp cả nước trong mộtnăm mới, cũng là mở đầu truyền thống tốt đẹp coi trọng nghề nông Dĩ nông vi bản(lấy dân làm gốc) của chế độ quân chủ phong kiến từ đó và sau này ở nước ta. Sửcũ không ghi chép chi tiết nhưng chắc rằng qui mô, nghi thức Lê Hoàn không dậpkhuôn theo Trung Quốc, vì mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử và văn hóa riêng.Peter à, tùy theo quan niệm phong thủy và tâm linh của mỗi triều đình phongkiến mà chọn nơi đặt ruộng cày tịch điền. Việc Lê Đại Hành chọn ruộng và tiếnhành cày tịch điền ở khu vực núi Đọi chẳng phải là ngẫu nhiên mà có lí do đấy.Khác với thời Hậu Lê và Nguyễn, Lê Hoàn không chọn ruộng tịch điền ở gần haytrong kinh thành mà giống thời Lý là đặt ruộng tịch điền ở đồng bằng sông Hồngcách khá xa kinh đô Hoa Lư. Song khác với thời Lý, Lê Hoàn lấy đất Trường Châulà quê quán để cày ruộng tịch điền (Lê Hoàn người Trường Châu, ông nội là LêLộc sống ở xã Bảo Thái nay thuộc xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm). Hơn nữaruộng tịch điền ở Đọi Sơn nằm trong vùng đất chịu sự quản lý trực tiếp của nhàvua. Sử cũ chép: “Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn lần lượt phong vương cho các con rồicử đi trấn trị ở các vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa trừ Trường
Xem thêm

11 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỨC SỐNG VÀ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA ĐÀN GÀ ISA BROWN GIAI ĐOẠN NUÔI HẬU BỊ TẠI XÃ KHE MO - ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

ĐÁNH GIÁ SỨC SỐNG VÀ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA ĐÀN GÀ ISA BROWN GIAI ĐOẠN NUÔI HẬU BỊ TẠI XÃ KHE MO - ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinhdưỡng, chăm sóc quản lý chu đáo sẽ có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng,nâng cao năng suất chăn nuôi.Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ thông thoáng và độ ẩm, mật độnuôi không thích hợp … có ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe, quá trình trao đổichất và hiệu quả sử dụng thức ăn. Trong đó, điều kiện thích hợp nhất cho gàsinh trưởng, phát triển là 18 – 21°C.2.1.1.4. Khả năng chuyển hóa thức ănTrong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, việc tạo ragiống mới có năng suất cao chưa đủ, mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu chấtdinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản xuất củatừng giống, dòng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi.Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là hệ số chuyển hoá thức ăn. Vớigà nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối lượng. Nếu tăngkhối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hoá tốt, khả năng trao đổi chất cao, dovậy hiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp. Bằng thựcnghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố như: Giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡngcũng như tình hình sức khỏe của đàn gia cầm. Hệ số tương quan di truyềngiữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao,được xác định là 0,5 - 0,9. Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thứcăn là tương quan âm từ -0,2 đến -0,8.Footer Page 16 of 133.Header Page 17 of 133.10Trong nghiên cứu của mình, Phan Sỹ Điệt, (1990) [8] đã chỉ ra khi nuôi
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khoáng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang

Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khoáng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang

Trong các loại cây lương thực có củ, khoai lang chiếm vị trí quan trọng. Trên thế giới khoai lang là 1 trong 5 cây có củ quan trọng (sắn, khoai lang, khoai mỡ, khoai sọ, khoai tây). Thành phần chính khoai lang gồm tinh bột, đường, protein, vitamin, và các chất khoáng. Khoai lang được dùng làm lương thực thực phẩm chính cho con người, làm thức ăn cho gia súc và là nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến: bánh kiện kinh tế còn khó khăn cây khoai lang được coi là cây trồng cứu đói nhưng hiện nay nó là một cây trồng mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế. Ở nước ta, khoai lang là một trong bốn cây lương thực chính sau lúa, ngô, sắn. Trên thế giời, Việt Nam được xếp thứ năm về sản lượng khoai lang xuất khẩu. Tuy nhiên, năng suất còn thấp và bấp bênh do sử dụng giống đã thoái hóa, ít quan tâm đến biện pháp canh tác, sâu bệnh. Hiện nay, những giống khoai lang Nhật nổi tiếng về chất lượng cao và đã thích nghi trong điều kiện ở Việt Nam và trở thành đối tượng nghiên cứu thời sự. Sự ra đời của kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật từ thế kỷ 20 đã mở ra cuộc cách mạng mới trong công tác tạo giống. Kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật ngày càng hoàn thiện giúp cho việc nhân giống và phục hồi giống tốt hơn. Do đó việc ứng dụng kỹ thuật này vào trong sản xuất khoai lang sẽ tạo ra nhiều triển vọng mới trong việc tăng năng suất cũng như diện tích khoai lang Nhật, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ ngày càng cao.. Mục đích của khóa luận này nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khoáng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang. Đề tài này được thực hiện tại phòng CÔNG NGHỆ TẾ BÀO THỰC VẬT- VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI-VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM.
Xem thêm

Đọc thêm

Hạt nho có tác dụng chống ung thư

HẠT NHO CÓ TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ tại ĐH Colorado mở ra khả năng bào chế loại thuốc mới trị ung thư từ hoạt tính tổng hợp giống chất chiết xuất trong hạt nho được gọi là B2G2 - chất mới được nhóm nghiên cứu phát hiện. TS. Alpna Tyagi và TS. Chapla cho biết: Chất chiết xuất từ hạt nho là tổng hợp phức tạp của nhiều polyphenol, việc trích ly B2G2 từ hạt nho rất tốn kém và mất nhiều thời gian. Do vậy, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp B2G2 ở phòng thí nghiệm và đã tạo ra B2G2 có cơ chế hoạt động tương tự và mức độ công hiệu như B2G2 chiết xuất từ hạt nho.   Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ tại ĐH Colorado mở ra khả năng bào chế loại thuốc mới trị ung thư từ hoạt tính tổng hợp giống chất chiết xuất trong hạt nho được gọi là B2G2 - chất mới được nhóm nghiên cứu phát hiện (Ảnh minh họa) Thí nghiệm cho thấy B2G2 tổng hợp khiến tế bào ung thư tuyến tiền liệt chết giống như cơ chế gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) nhưng không làm tổn hại tế bào lành. Trích ly và tổng hợp B2G2 là bước tiến quan trọng. Những công trình tiếp theo ở phòng thí nghiệm là tìm hiểu thêm cơ chế tác động của B2G2 để có thể thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng trong tương lai.
Xem thêm

1 Đọc thêm

SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG SẮN CÓ TRIỂN VỌNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG SẮN CÓ TRIỂN VỌNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

Lào ngày 20 - 24 tháng 10 năm 2008. Các nhà khoa học đã xác định tươnglai mới cho sắn ở châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệusinh học có lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giốngmới đáp ứng được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, pháttriển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột,tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm.Ấn Độ là nước ở châu Á có năng suất sắn cao hàng đầu thế giới. Cơquan điều phối cải tiến giống sắn toàn Ấn Độ là Viện Nghiên cứu Cây cócủ (CTCRI) ở Trivandrum của tiểu bang Kerala. CTCRI đã thu thập, bảoquản, đánh giá 1.354 mẫu giống sắn và lai tạo được hàng chục nghìn hạtsắn lai phục vụ cho chương trình chọn tạo các giống sắn mới. Gần đây,Ấn Độ có 5 giống sắn mới được nhà nước công nhận là giống quốc gia,trong đó giống Sree Prakash có nhiều triển vọng đạt năng suất củ tươi cao(35 - 40) tấn/ha.Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc được thực hiện chủyếu tại Học Viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc (CATAS), ViệnNghiên cứu Cây trồng Cận Nhiệt đới Quảng Tây (GSCRI). Những giốngsắn mới năng suất cao trong thời gian gần đây tại Trung Quốc có SC201,SC205, SC124, Nanzhi188, GR911, GR891.132.3.2. Tình hình nghiên cứu giống sắn ở Việt NamChọn giống sắn tốt, năng suất cao phù hợp với đất đai và yêu cầu củasản xuất lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống.Nhưng trong điều kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạchchọn lọc bồi dưỡng giống sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắntốt cũng dễ thoái hóa làm năng suất giảm xuống. Thấy được tầm quan trọngcủa công tác chọn tạo giống sắn, các nhà khoa học Việt Nam đã không
Xem thêm

73 Đọc thêm

SINH TỔNG hợp PRÔTÊIN

SINH TỔNG hợp PRÔTÊIN

SINH TỔNG HỢP PRÔTÊIN I. SAO CHÉP AND. 1. ĐỊNH NGHĨA. ADN là vật chất di truyền nằm trong nhân tế bào và tế bào chất (ti thể hoặc lục lạp) của sinh vật nhân thực hoặc trong vùng nhân của tế bào nhân sơ. Nhân đôi ADN là quán trình tạo ra hai phân tử ADN con có cấu trúc giống hệt phân tử ADN mẹ ban đầu. Sở dĩ Quá trình nhân đôi ADN có khả năng tổng hợp hai phân tử ADN mới có cấu trúc giống với tế bào mẹ ban đầu là do quá trình nhân đôi diễn ra theo các nguyên tắc: Nguyên tắc bổ sung: A liên kết với T bằng 2 liên kiết hidro của môi trường và ngược lại, G liên kết với X bằng 3 liên kết hidro của môi trường và ngược lại. Nguyên tắc bán bảo toàn: (giữ lại một nữa) có nghĩa là mỗi ADN con được tạo ra có 1 mạch có nguồn gốc từ mẹ, mạch
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu chọn tạo giống sắn bằng phương pháp xử lý đột biến

NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG SẮN BẰNG PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ ĐỘT BIẾN

Ở Việt Nam, sắn cùng lúa và ngô là ba cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Năm 2013, diện tích trồng sắn toàn quốc đạt 544,30 ngàn ha, năng suất củ tươi bình quân 17,89 tấnha, sản lượng 9,74 triệu tấn (FAOSTAT, 2014). So với năm 2000, sản lượng sắn Việt Nam đã tăng gấp 3,93 lần, năng suất sắn đã tăng lên gấp hai lần. Tuy nhiên, năng suất sắn của Việt Nam còn thấp hơn so với một nước Đông Nam Á như Lào (25,17 tấnha), Indonesia (22,86 tấnha), Thái Lan (21,82 tấnha). Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu tăng năng suất và phát triển cây sắn của cả nước một cách bền vững thì nhất thiết phải có một bộ giống sắn phong phú cho năng suất và chất lượng cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái của Việt Nam. Tuy nhiên trong trường hợp của cây sắn nếu sử dụng phương pháp lai hữu tính truyền thống có thể mất từ bảy đến tám năm mới tạo ra một giống sắn mới. Nghiên cứu này làm sơ cở khi chiếu xạ giống sắn và rút ngắn thời gian chọn tạo giống sắn mới
Xem thêm

9 Đọc thêm

Đề tài Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La

Đề tài Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La

Đề tài Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuân Châu – tỉnh Sơn La” là thực sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn phục vụ sản xuất và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi Tây Bắc. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được một số đặc điểm sinh học của lợn Bản - Xác định được khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Bản trong điều kiện nông hộ tại huyện Thuận Châu, Sơn La. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuân Châu – tỉnh Sơn La” là thực sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn phục vụ sản xuất và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi Tây Bắc. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được một số đặc điểm sinh học của lợn Bản - Xác định được khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Bản trong điều kiện nông hộ tại huyện Thuận Châu, Sơn La. Từ kết quả nghiên cứu rút ra kinh nghiệm chăn nuôi phù hợp với lợn Bản trong điều kiện của địa phương, nhằm góp nâng cao năng suất sinh sản và sinh trưởng của giống lợn này.  3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: + Nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen giống vật nuôi, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. + Đóng góp tư liệu làm căn cứ để xây dựng quy trình chăn nuôi lợn Bản phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm nâng cao năng suất, tạo điều kiện phát triển nghề chăn nuôi lợn Bản ở Sơn La. + Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập của ngành Sinh học và Chăn nuôi thú y. - Ý nghĩa thực tế: Làm cơ sở cho các nhà quản lý chăn nuôi đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn quỹ gen và phát triển, khai thác có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu thị trường, giúp đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo. Cung cấp thêm thông tin để các cấp, các ngành liên quan biết được khuynh hướng hiện tại của đàn lợn Bản hiện có tại địa phương để có chiến lược và kế hoạch phát triển cho tương lai. PHẦN II. NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. VẤN ĐỀ BẢO TỒN QUỸ GEN 1.1.1. Sự suy giảm giống vật nuôi và sự đa dạng sinh học trên thế giới Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế giới có khoảng 5000 giống vật nuôi trong đó có khoảng 1500 - 1600 giống đang có nguy cơ tuyệt chủng. Hàng năm có khoảng 50 giống bị tuyệt chủng, nghĩa là cứ trung bình 1 tuần lại có một giống bị tuyệt chủng. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều đã xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen động vật và đa dạng sinh học. Mục tiêu của bảo tồn là: + Bảo vệ các giống khỏi tình trạng nguy hiểm, bảo vệ nguồn gen, đáp ứng nhu cầu tương lai về nguồn đa dạng di truyền. + Cung cấp nguồn nguyên liệu cho các chương trình giống. + Duy trì đa dạng trong hệ thống chăn nuôi bền vững, phục vụ cho kinh tế, giáo dục, sinh thái trong hiện tại và cho tương lai. Theo FAO, bảo tồn nguồn gen được khái niệm như sau: Lưu giữ nguồn gen động vật là một khía cạnh của bảo tồn, trong đó người ta lấy mẫu và bảo quản tài nguyên di truyền động vật không để con người can thiệp gây ra những biến đổi di truyền. 1.1.2. Lý do phải bảo tồn nguồn gen vật nuôi Các giống vật nuôi địa phương thường thích nghi cao với điều kiện khí hậu phong tục tập quán canh tác, khả năng chống chịu bệnh tốt. Do đó người ta thường sử dụng con đực có năng suất cao lai với con cái của giống địa phương, hiệu quả của phương thức lai này đem lại là rất cao. Nhiều vùng điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt chỉ có những giống địa phương mới có khả năng tồn tại. Các giống địa phương thường có các nguồn gen quý nhưng chúng thường được liên kết với các gen không mong muốn, bởi vậy việc sử dụng các nguồn gen tốt một cách độc lập là rất khó khăn. Chỉ trong tương lai khi khoa học kĩ thuật phát triển, con người có thể tách, chuyển và sử dụng riêng biệt được các nguồn gen quý này. Mặt khác, hiện tại con người chưa thể biết được nhu cầu của mình về sản phẩm vật nuôi trong tương lai. Có thể sản phẩm đó không phù hợp với hiện tại nhưng lại có ích trong tương lai. Vì vậy bảo tồn nguồn gen vật nuôi chính là bảo vệ tiềm năng cho tương lai. Như vậy để phát triển được một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững, tạo ra các giống vật nuôi có giá trị cao thì các giống địa phương là đối tượng được đặc biệt chú ý. Những sản phẩm được ưa thích tại Việt Nam như: gà H’Mông, gà Đông Tảo, lợn Bản, lợn Mẹo (lợn cắp nách)… là minh chứng cho điều đó. 1.1.3. Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương tại Việt Nam Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy nhiên một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: - Do áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng thịt cao. - Do tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc. Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác. Năm 1997 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành “Quy chế Quản lý và Bảo tồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” và đến năm 2004 công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất. Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc và 2 giống phát triển ít (Lê Viết Ly, Hoàng Văn Tiệu, 2004, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi, (1990 - 2004) [22]. 1.1.4. Xu thế về thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn Bản Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn, ẩm thực cũng nhờ đó mà trở nên phát triển hơn. Khuynh hướng ẩm thực hiện nay là ăn uống ngon, bổ mà vẫn an toàn, đảm bảo sức khỏe cho con người. Khi những thực phẩm bán ra trên thị trường không còn sạch, thực vật thì nhiều chất kích thích tăng trưởng, hóa chất bảo vệ thực vật, động vật thì nhiều chất kích thích tăng trọng, kích nạc, hóa chất bảo quản…, khiến cho thức ăn bị ô nhiễm nặng nề, đó cũng là lý do gây nên nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, ảnh hưởng lớn đến tương lai di truyền của loài người. Hiện nay để lựa chọn được thực phẩm sạch, an toàn là một điều khó khăn đối với người tiêu dùng. Với tâm lý ăn ngon, an toàn, đảm bảo được sức khỏe, do vậy hiện nay nhiều người có xu hướng tìm về với những thức ăn dân giã, tự nhiên. Lợn Bản là giống lợn địa phương được người dân tộc miền núi nuôi theo phương thức tự nhiên, chủ yếu là chăn thả và bán chăn thả. Ăn thức ăn sạch, không sử dụng cám tăng trọng, không kích nạc, kích cơ như lợn nuôi công nghiệp. Thức ăn rất nghèo chất dinh dưỡng, chủ yếu là chuối và rau rừng, đôi khi mới có sắn và ngô nên lợn tăng trọng chậm. Ưu điểm: thịt lợn Bản là loại thịt đảm bảo sạch, chắc thịt, khi rang thịt không ra nước, thịt thơm ngon. Da giòn không ngấy, thịt nạc mềm không dai, mỡ cũng không ngán mà rất ngậy, giòn và rất dễ ăn. Nhờ có sức đề kháng tốt, nên giống lợn này ít bệnh, thích nghi với môi trường rất cao. Lợn Bản từ lâu đã là món ăn đặc sản của vùng núi Tây Bắc Việt Nam, là món ngon không chỉ trong những dịp liên hoan, lễ tết, cưới hỏi, cúng lễ, ma chay… mà còn là thực đơn hàng ngày của nhiều người dân. Lợn Bản cũng là một món quà biếu, tặng có giá trị và độc đáo. Lợn Bản thường được bán với giá cao hơn hẳn so với các giống lợn khác được nuôi tại địa phương (như lợn Móng Cái, lợn lai với lợn ngoại…). Đặc biệt, ngày nay có rất nhiều tiểu thương, các nhà hàng, khách sạn ở một số tỉnh miền xuôi (như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội…) lên tìm mua lợn Bản về bán. Nắm bắt nhu cầu này của thị trường nên mấy năm gần đây có rất nhiều người lựa chọn nghề phân phối lợn Bản từ các xã của tỉnh về các tỉnh miền xuôi và đã thu được lợi nhuận lớn từ việc kinh doanh này. Như vậy nghề chăn nuôi lợn Bản trong các nông hộ tại Sơn La nói riêng và các tỉnh miền núi phía bắc nói chung là có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên chính bản thân người dân tộc thiểu số ở các địa phương này vẫn chưa biết tận dụng được tiềm năng đó để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho gia đình mình. Hiệu quả thu được từ chăn nuôi lợn Bản là khá thấp. 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Nguồn gốc và các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng tới việc chăn nuôi lợn Bản 1.2.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm của lợn Bản tại Sơn La * Nguồn gốc và đặc điểm của lợn Bản Lợn Bản đã được nuôi ở các bản người dân tộc thiểu số từ rất lâu. Trước năm 1990, lợn được nuôi thả tự do trong các bản và trong rừng. Người dân tộc thiểu số chỉ gọi chúng là con lợn theo tiếng địa phương hoặc dựa theo màu lông của lợn. Từ năm 1993, người Kinh vào các bản mua giống lợn này và gọi là lợn Bản (hay lợn Mán), từ đó cái tên này trở thành thông dụng ngay cả trong các bản. Lợn được các bà con dân tộc Thái tỉnh Sơn La nuôi dưỡng từ lâu đời, trước kia lợn thường được nuôi theo phương thức thả rông. Lợn có khả năng tăng trọng thấp, sinh sản thấp, khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Lợn Bản chịu đựng tốt với điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, không đòi hỏi thức ăn dinh dưỡng cao, ít bệnh tật và thịt thơm ngon. Giá thành thường cao gấp dưỡi so với thịt của các giống lợn thông thường. * Tập quán chăn nuôi Lợn Bản được nuôi ở vùng đồng bào dân tộc như Thái, H’ Mông..., trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán chăn nuôi lạc hậu, lợn được nuôi theo phương thức chăn thả, bán chăn thả hoặc nuôi nhốt. Lợn thường tự kiếm thức ăn và nguồn thức ăn chủ yếu là các loại cây trong tự nhiên như: thân cây chuối, củ sắn, khoai lang, rau cỏ rừng, bèo, các loại rễ cây… Lợn Bản được nuôi dưỡng theo tập quán cổ truyền không có quy trình c Từ kết quả nghiên cứu rút ra kinh nghiệm chăn nuôi phù hợp với lợn Bản trong điều kiện của địa phương, nhằm góp nâng cao năng suất sinh sản và sinh trưởng của giống lợn này.  3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: + Nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen giống vật nuôi, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuân Châu – tỉnh Sơn La” là thực sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn phục vụ sản xuất và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi Tây Bắc. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được một số đặc điểm sinh học của lợn Bản - Xác định được khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Bản trong điều kiện nông hộ tại huyện Thuận Châu, Sơn La. Từ kết quả nghiên cứu rút ra kinh nghiệm chăn nuôi phù hợp với lợn Bản trong điều kiện của địa phương, nhằm góp nâng cao năng suất sinh sản và sinh trưởng của giống lợn này.  3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: + Nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen giống vật nuôi, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. + Đóng góp tư liệu làm căn cứ để xây dựng quy trình chăn nuôi lợn Bản phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm nâng cao năng suất, tạo điều kiện phát triển nghề chăn nuôi lợn Bản ở Sơn La. + Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập của ngành Sinh học và Chăn nuôi thú y. - Ý nghĩa thực tế: Làm cơ sở cho các nhà quản lý chăn nuôi đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn quỹ gen và phát triển, khai thác có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu thị trường, giúp đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo. Cung cấp thêm thông tin để các cấp, các ngành liên quan biết được khuynh hướng hiện tại của đàn lợn Bản hiện có tại địa phương để có chiến lược và kế hoạch phát triển cho tương lai. PHẦN II. NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. VẤN ĐỀ BẢO TỒN QUỸ GEN 1.1.1. Sự suy giảm giống vật nuôi và sự đa dạng sinh học trên thế giới Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế giới có khoảng 5000 giống vật nuôi trong đó có khoảng 1500 - 1600 giống đang có nguy cơ tuyệt chủng. Hàng năm có khoảng 50 giống bị tuyệt chủng, nghĩa là cứ trung bình 1 tuần lại có một giống bị tuyệt chủng. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều đã xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen động vật và đa dạng sinh học. Mục tiêu của bảo tồn là: + Bảo vệ các giống khỏi tình trạng nguy hiểm, bảo vệ nguồn gen, đáp ứng nhu cầu tương lai về nguồn đa dạng di truyền. + Cung cấp nguồn nguyên liệu cho các chương trình giống. + Duy trì đa dạng trong hệ thống chăn nuôi bền vững, phục vụ cho kinh tế, giáo dục, sinh thái trong hiện tại và cho tương lai. Theo FAO, bảo tồn nguồn gen được khái niệm như sau: Lưu giữ nguồn gen động vật là một khía cạnh của bảo tồn, trong đó người ta lấy mẫu và bảo quản tài nguyên di truyền động vật không để con người can thiệp gây ra những biến đổi di truyền. 1.1.2. Lý do phải bảo tồn nguồn gen vật nuôi Các giống vật nuôi địa phương thường thích nghi cao với điều kiện khí hậu phong tục tập quán canh tác, khả năng chống chịu bệnh tốt. Do đó người ta thường sử dụng con đực có năng suất cao lai với con cái của giống địa phương, hiệu quả của phương thức lai này đem lại là rất cao. Nhiều vùng điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt chỉ có những giống địa phương mới có khả năng tồn tại. Các giống địa phương thường có các nguồn gen quý nhưng chúng thường được liên kết với các gen không mong muốn, bởi vậy việc sử dụng các nguồn gen tốt một cách độc lập là rất khó khăn. Chỉ trong tương lai khi khoa học kĩ thuật phát triển, con người có thể tách, chuyển và sử dụng riêng biệt được các nguồn gen quý này. Mặt khác, hiện tại con người chưa thể biết được nhu cầu của mình về sản phẩm vật nuôi trong tương lai. Có thể sản phẩm đó không phù hợp với hiện tại nhưng lại có ích trong tương lai. Vì vậy bảo tồn nguồn gen vật nuôi chính là bảo vệ tiềm năng cho tương lai. Như vậy để phát triển được một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững, tạo ra các giống vật nuôi có giá trị cao thì các giống địa phương là đối tượng được đặc biệt chú ý. Những sản phẩm được ưa thích tại Việt Nam như: gà H’Mông, gà Đông Tảo, lợn Bản, lợn Mẹo (lợn cắp nách)… là minh chứng cho điều đó. 1.1.3. Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương tại Việt Nam Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy nhiên một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: - Do áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng thịt cao. - Do tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc. Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác. Năm 1997 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành “Quy chế Quản lý và Bảo tồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” và đến năm 2004 công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất. Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc và 2 giống phát triển ít (Lê Viết Ly, Hoàng Văn Tiệu, 2004, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi, (1990 - 2004) [22]. 1.1.4. Xu thế về thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn Bản Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn, ẩm thực cũng nhờ đó mà trở nên phát triển hơn. Khuynh hướng ẩm thực hiện nay là ăn uống ngon, bổ mà vẫn an toàn, đảm bảo sức khỏe cho con người. Khi những thực phẩm bán ra trên thị trường không còn sạch, thực vật thì nhiều chất kích thích tăng trưởng, hóa chất bảo vệ thực vật, động vật thì nhiều chất kích thích tăng trọng, kích nạc, hóa chất bảo quản…, khiến cho thức ăn bị ô nhiễm nặng nề, đó cũng là lý do gây nên nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, ảnh hưởng lớn đến tương lai di truyền của loài người. Hiện nay để lựa chọn được thực phẩm sạch, an toàn là một điều khó khăn đối với người tiêu dùng. Với tâm lý ăn ngon, an toàn, đảm bảo được sức khỏe, do vậy hiện nay nhiều người có xu hướng tìm về với những thức ăn dân giã, tự nhiên. Lợn Bản là giống lợn địa phương được người dân tộc miền núi nuôi theo phương thức tự nhiên, chủ yếu là chăn thả và bán chăn thả. Ăn thức ăn sạch, không sử dụng cám tăng trọng, không kích nạc, kích cơ như lợn nuôi công nghiệp. Thức ăn rất nghèo chất dinh dưỡng, chủ yếu là chuối và rau rừng, đôi khi mới có sắn và ngô nên lợn tăng trọng chậm. Ưu điểm: thịt lợn Bản là loại thịt đảm bảo sạch, chắc thịt, khi rang thịt không ra nước, thịt thơm ngon. Da giòn không ngấy, thịt nạc mềm không dai, mỡ cũng không ngán mà rất ngậy, giòn và rất dễ ăn. Nhờ có sức đề kháng tốt, nên giống lợn này ít bệnh, thích nghi với môi trường rất cao. Lợn Bản từ lâu đã là món ăn đặc sản của vùng núi Tây Bắc Việt Nam, là món ngon không chỉ trong những dịp liên hoan, lễ tết, cưới hỏi, cúng lễ, ma chay… mà còn là thực đơn hàng ngày của nhiều người dân. Lợn Bản cũng là một món quà biếu, tặng có giá trị và độc đáo. Lợn Bản thường được bán với giá cao hơn hẳn so với các giống lợn khác được nuôi tại địa phương (như lợn Móng Cái, lợn lai với lợn ngoại…). Đặc biệt, ngày nay có rất nhiều tiểu thương, các nhà hàng, khách sạn ở một số tỉnh miền xuôi (như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội…) lên tìm mua lợn Bản về bán. Nắm bắt nhu cầu này của thị trường nên mấy năm gần đây có rất nhiều người lựa chọn nghề phân phối lợn Bản từ các xã của tỉnh về các tỉnh miền xuôi và đã thu được lợi nhuận lớn từ việc kinh doanh này. Như vậy nghề chăn nuôi lợn Bản trong các nông hộ tại Sơn La nói riêng và các tỉnh miền núi phía bắc nói chung là có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên chính bản thân người dân tộc thiểu số ở các địa phương này vẫn chưa biết tận dụng được tiềm năng đó để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho gia đình mình. Hiệu quả thu được từ chăn nuôi lợn Bản là khá thấp. 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Nguồn gốc và các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng tới việc chăn nuôi lợn Bản 1.2.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm của lợn Bản tại Sơn La * Nguồn gốc và đặc điểm của lợn Bản Lợn Bản đã được nuôi ở các bản người dân tộc thiểu số từ rất lâu. Trước năm 1990, lợn được nuôi thả tự do trong các bản và trong rừng. Người dân tộc thiểu số chỉ gọi chúng là con lợn theo tiếng địa phương hoặc dựa theo màu lông của lợn. Từ năm 1993, người Kinh vào các bản mua giống lợn này và gọi là lợn Bản (hay lợn Mán), từ đó cái tên này trở thành thông dụng ngay cả trong các bản. Lợn được các bà con dân tộc Thái tỉnh Sơn La nuôi dưỡng từ lâu đời, trước kia lợn thường được nuôi theo phương thức thả rông. Lợn có khả năng tăng trọng thấp, sinh sản thấp, khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Lợn Bản chịu đựng tốt với điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, không đòi hỏi thức ăn dinh dưỡng cao, ít bệnh tật và thịt thơm ngon. Giá thành thường cao gấp dưỡi so với thịt của các giống lợn thông thường. * Tập quán chăn nuôi Lợn Bản được nuôi ở vùng đồng bào dân tộc như Thái, H’ Mông..., trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán chăn nuôi lạc hậu, lợn được nuôi theo phương thức chăn thả, bán chăn thả hoặc nuôi nhốt. Lợn thường tự kiếm thức ăn và nguồn thức ăn chủ yếu là các loại cây trong tự nhiên như: thân cây chuối, củ sắn, khoai lang, rau cỏ rừng, bèo, các loại rễ cây… Lợn Bản được nuôi dưỡng theo tập quán cổ truyền không có quy trình c + Đóng góp tư liệu làm căn cứ để xây dựng quy trình chăn nuôi lợn Bản phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm nâng cao năng suất, tạo điều kiện phát triển nghề chăn nuôi lợn Bản ở Sơn La. + Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập của ngành Sinh học và Chăn nuôi thú y. - Ý nghĩa thực tế: Làm cơ sở cho các nhà quản lý chăn nuôi đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn quỹ gen và phát triển, khai thác có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu thị trường, giúp đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng của lợn Bản nuôi trong nông hộ ở huyện Thuân Châu – tỉnh Sơn La” là thực sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn phục vụ sản xuất và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi Tây Bắc. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được một số đặc điểm sinh học của lợn Bản - Xác định được khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Bản trong điều kiện nông hộ tại huyện Thuận Châu, Sơn La. Từ kết quả nghiên cứu rút ra kinh nghiệm chăn nuôi phù hợp với lợn Bản trong điều kiện của địa phương, nhằm góp nâng cao năng suất sinh sản và sinh trưởng của giống lợn này.  3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: + Nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen giống vật nuôi, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. + Đóng góp tư liệu làm căn cứ để xây dựng quy trình chăn nuôi lợn Bản phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm nâng cao năng suất, tạo điều kiện phát triển nghề chăn nuôi lợn Bản ở Sơn La. + Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập của ngành Sinh học và Chăn nuôi thú y. - Ý nghĩa thực tế: Làm cơ sở cho các nhà quản lý chăn nuôi đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn quỹ gen và phát triển, khai thác có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu thị trường, giúp đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo. Cung cấp thêm thông tin để các cấp, các ngành liên quan biết được khuynh hướng hiện tại của đàn lợn Bản hiện có tại địa phương để có chiến lược và kế hoạch phát triển cho tương lai. PHẦN II. NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. VẤN ĐỀ BẢO TỒN QUỸ GEN 1.1.1. Sự suy giảm giống vật nuôi và sự đa dạng sinh học trên thế giới Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế giới có khoảng 5000 giống vật nuôi trong đó có khoảng 1500 - 1600 giống đang có nguy cơ tuyệt chủng. Hàng năm có khoảng 50 giống bị tuyệt chủng, nghĩa là cứ trung bình 1 tuần lại có một giống bị tuyệt chủng. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều đã xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen động vật và đa dạng sinh học. Mục tiêu của bảo tồn là: + Bảo vệ các giống khỏi tình trạng nguy hiểm, bảo vệ nguồn gen, đáp ứng nhu cầu tương lai về nguồn đa dạng di truyền. + Cung cấp nguồn nguyên liệu cho các chương trình giống. + Duy trì đa dạng trong hệ thống chăn nuôi bền vững, phục vụ cho kinh tế, giáo dục, sinh thái trong hiện tại và cho tương lai. Theo FAO, bảo tồn nguồn gen được khái niệm như sau: Lưu giữ nguồn gen động vật là một khía cạnh của bảo tồn, trong đó người ta lấy mẫu và bảo quản tài nguyên di truyền động vật không để con người can thiệp gây ra những biến đổi di truyền. 1.1.2. Lý do phải bảo tồn nguồn gen vật nuôi Các giống vật nuôi địa phương thường thích nghi cao với điều kiện khí hậu phong tục tập quán canh tác, khả năng chống chịu bệnh tốt. Do đó người ta thường sử dụng con đực có năng suất cao lai với con cái của giống địa phương, hiệu quả của phương thức lai này đem lại là rất cao. Nhiều vùng điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt chỉ có những giống địa phương mới có khả năng tồn tại. Các giống địa phương thường có các nguồn gen quý nhưng chúng thường được liên kết với các gen không mong muốn, bởi vậy việc sử dụng các nguồn gen tốt một cách độc lập là rất khó khăn. Chỉ trong tương lai khi khoa học kĩ thuật phát triển, con người có thể tách, chuyển và sử dụng riêng biệt được các nguồn gen quý này. Mặt khác, hiện tại con người chưa thể biết được nhu cầu của mình về sản phẩm vật nuôi trong tương lai. Có thể sản phẩm đó không phù hợp với hiện tại nhưng lại có ích trong tương lai. Vì vậy bảo tồn nguồn gen vật nuôi chính là bảo vệ tiềm năng cho tương lai. Như vậy để phát triển được một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững, tạo ra các giống vật nuôi có giá trị cao thì các giống địa phương là đối tượng được đặc biệt chú ý. Những sản phẩm được ưa thích tại Việt Nam như: gà H’Mông, gà Đông Tảo, lợn Bản, lợn Mẹo (lợn cắp nách)… là minh chứng cho điều đó. 1.1.3. Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương tại Việt Nam Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy nhiên một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: - Do áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng thịt cao. - Do tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc. Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác. Năm 1997 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành “Quy chế Quản lý và Bảo tồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” và đến năm 2004 công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất. Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc và 2 giống phát triển ít (Lê Viết Ly, Hoàng Văn Tiệu, 2004, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi, (1990 - 2004) [22]. 1.1.4. Xu thế về thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn Bản Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn, ẩm thực cũng nhờ đó mà trở nên phát triển hơn. Khuynh hướng ẩm thực hiện nay là ăn uống ngon, bổ mà vẫn an toàn, đảm bảo sức khỏe cho con người. Khi những thực phẩm bán ra trên thị trường không còn sạch, thực vật thì nhiều chất kích thích tăng trưởng, hóa chất bảo vệ thực vật, động vật thì nhiều chất kích thích tăng trọng, kích nạc, hóa chất bảo quản…, khiến cho thức ăn bị ô nhiễm nặng nề, đó cũng là lý do gây nên nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, ảnh hưởng lớn đến tương lai di truyền của loài người. Hiện nay để lựa chọn được thực phẩm sạch, an toàn là một điều khó khăn đối với người tiêu dùng. Với tâm lý ăn ngon, an toàn, đảm bảo được sức khỏe, do vậy hiện nay nhiều người có xu hướng tìm về với những thức ăn dân giã, tự nhiên. Lợn Bản là giống lợn địa phương được người dân tộc miền núi nuôi theo phương thức tự nhiên, chủ yếu là chăn thả và bán chăn thả. Ăn thức ăn sạch, không sử dụng cám tăng trọng, không kích nạc, kích cơ như lợn nuôi công nghiệp. Thức ăn rất nghèo chất dinh dưỡng, chủ yếu là chuối và rau rừng, đôi khi mới có sắn và ngô nên lợn tăng trọng chậm. Ưu điểm: thịt lợn Bản là loại thịt đảm bảo sạch, chắc thịt, khi rang thịt không ra nước, thịt thơm ngon. Da giòn không ngấy, thịt nạc mềm không dai, mỡ cũng không ngán mà rất ngậy, giòn và rất dễ ăn. Nhờ có sức đề kháng tốt, nên giống lợn này ít bệnh, thích nghi với môi trường rất cao. Lợn Bản từ lâu đã là món ăn đặc sản của vùng núi Tây Bắc Việt Nam, là món ngon không chỉ trong những dịp liên hoan, lễ tết, cưới hỏi, cúng lễ, ma chay… mà còn là thực đơn hàng ngày của nhiều người dân. Lợn Bản cũng là một món quà biếu, tặng có giá trị và độc đáo. Lợn Bản thường được bán với giá cao hơn hẳn so với các giống lợn khác được nuôi tại địa phương (như lợn Móng Cái, lợn lai với lợn ngoại…). Đặc biệt, ngày nay có rất nhiều tiểu thương, các nhà hàng, khách sạn ở một số tỉnh miền xuôi (như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội…) lên tìm mua lợn Bản về bán. Nắm bắt nhu cầu này của thị trường nên mấy năm gần đây có rất nhiều người lựa chọn nghề phân phối lợn Bản từ các xã của tỉnh về các tỉnh miền xuôi và đã thu được lợi nhuận lớn từ việc kinh doanh này. Như vậy nghề chăn nuôi lợn Bản trong các nông hộ tại Sơn La nói riêng và các tỉnh miền núi phía bắc nói chung là có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên chính bản thân người dân tộc thiểu số ở các địa phương này vẫn chưa biết tận dụng được tiềm năng đó để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho gia đình mình. Hiệu quả thu được từ chăn nuôi lợn Bản là khá thấp. 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Nguồn gốc và các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng tới việc chăn nuôi lợn Bản 1.2.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm của lợn Bản tại Sơn La * Nguồn gốc và đặc điểm của lợn Bản Lợn Bản đã được nuôi ở các bản người dân tộc thiểu số từ rất lâu. Trước năm 1990, lợn được nuôi thả tự do trong các bản và trong rừng. Người dân tộc thiểu số chỉ gọi chúng là con lợn theo tiếng địa phương hoặc dựa theo màu lông của lợn. Từ năm 1993, người Kinh vào các bản mua giống lợn này và gọi là lợn Bản (hay lợn Mán), từ đó cái tên này trở thành thông dụng ngay cả trong các bản. Lợn được các bà con dân tộc Thái tỉnh Sơn La nuôi dưỡng từ lâu đời, trước kia lợn thường được nuôi theo phương thức thả rông. Lợn có khả năng tăng trọng thấp, sinh sản thấp, khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Lợn Bản chịu đựng tốt với điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, không đòi hỏi thức ăn dinh dưỡng cao, ít bệnh tật và thịt thơm ngon. Giá thành thường cao gấp dưỡi so với thịt của các giống lợn thông thường. * Tập quán chăn nuôi Lợn Bản được nuôi ở vùng đồng bào dân tộc như Thái, H’ Mông..., trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán chăn nuôi lạc hậu, lợn được nuôi theo phương thức chăn thả, bán chăn thả hoặc nuôi nhốt. Lợn thường tự kiếm thức ăn và nguồn thức ăn chủ yếu là các loại cây trong tự nhiên như: thân cây chuối, củ sắn, khoai lang, rau cỏ rừng, bèo, các loại rễ cây… Lợn Bản được nuôi dưỡng theo tập quán cổ truyền không có quy trình c Cung cấp thêm thông tin để các cấp, các ngành liên quan biết được khuynh hướng hiện tại của đàn lợn Bản hiện có tại địa phương để có chiến lược và kế hoạch phát triển cho tương lai. PHẦN II. NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. VẤN ĐỀ BẢO TỒN QUỸ GEN 1.1.1. Sự suy giảm giống vật nuôi và sự đa dạng sinh học trên thế giới Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế giới có khoảng 5000 giống vật nuôi trong đó có khoảng 1500 - 1600 giống đang có nguy cơ tuyệt chủng. Hàng năm có khoảng 50 giống bị tuyệt chủng, nghĩa là cứ trung bình 1 tuần lại có một giống bị tuyệt chủng. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều đã xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen động vật và đa dạng sinh học. Mục tiêu của bảo tồn là: + Bảo vệ các giống khỏi tình trạng nguy hiểm, bảo vệ nguồn gen, đáp ứng nhu cầu tương lai về nguồn đa dạng di truyền. + Cung cấp nguồn nguyên liệu cho các chương trình giống. + Duy trì đa dạng trong hệ thống chăn nuôi bền vững, phục vụ cho kinh tế, giáo dục, sinh thái trong hiện tại và cho tương lai. Theo FAO, bảo tồn nguồn gen được khái niệm như sau: Lưu giữ nguồn gen động vật là một khía cạnh của bảo tồn, trong đó người ta lấy mẫu và bảo quản tài nguyên di truyền động vật không để con người can thiệp gây ra những biến đổi di truyền. 1.1.2. Lý do phải bảo tồn nguồn gen vật nuôi Các giống vật nuôi địa phương thường thích nghi cao với điều kiện khí hậu phong tục tập quán canh tác, khả năng chống chịu bệnh tốt. Do đó người ta thường sử dụng con đực có năng suất cao lai với con cái của giống địa phương, hiệu quả của phương thức lai này đem lại là rất cao. Nhiều vùng điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt chỉ có những giống địa phương mới có khả năng tồn tại. Các giống địa phương thường có các nguồn gen quý nhưng chúng thường được liên kết với các gen không mong muốn, bởi vậy việc sử dụng các nguồn gen tốt một cách độc lập là rất khó khăn. Chỉ trong tương lai khi khoa học kĩ thuật phát triển, con người có thể tách, chuyển và sử dụng riêng biệt được các nguồn gen quý này. Mặt khác, hiện tại con người chưa thể biết được nhu cầu của mình về sản phẩm vật nuôi trong tương lai. Có thể sản phẩm đó không phù hợp với hiện tại nhưng lại có ích trong tương lai. Vì vậy bảo tồn nguồn gen vật nuôi chính là bảo vệ tiềm năng cho tương lai. Như vậy để phát triển được một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững, tạo ra các giống vật nuôi có giá trị cao thì các giống địa phương là đối tượng được đặc biệt chú ý. Những sản phẩm được ưa thích tại Việt Nam như: gà H’Mông, gà Đông Tảo, lợn Bản, lợn Mẹo (lợn cắp nách)… là minh chứng cho điều đó. 1.1.3. Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương tại Việt Nam Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy nhiên một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: - Do áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng thịt cao. - Do tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc. Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác. Năm 1997 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành “Quy chế Quản lý và Bảo tồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật” và đến năm 2004 công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất. Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc và 2 giống phát triển ít (Lê Viết Ly, Hoàng Văn Tiệu, 2004, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi, (1990 - 2004) [22]. 1.1.4. Xu thế về thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn Bản Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn, ẩm thực cũng nhờ đó mà trở nên phát triển hơn. Khuynh hướng ẩm thực hiện nay là ăn uống ngon, bổ mà vẫn an toàn, đảm bảo sức khỏe cho con người. Khi những thực phẩm bán ra trên thị trường không còn sạch, thực vật thì nhiều chất kích thích tăng trưởng, hóa chất bảo vệ thực vật, động vật thì nhiều chất kích thích tăng trọng, kích nạc, hóa chất bảo quản…, khiến cho thức ăn bị ô nhiễm nặng nề, đó cũng là lý do gây nên nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, ảnh hưởng lớn đến tương lai di truyền của loài người. Hiện nay để lựa chọn được thực phẩm sạch, an toàn là một điều khó khăn đối với người tiêu dùng. Với tâm lý ăn ngon, an toàn, đảm bảo được sức khỏe, do vậy hiện nay nhiều người có xu hướng tìm về với những thức ăn dân giã, tự nhiên. Lợn Bản là giống lợn địa phương được người dân tộc miền núi nuôi theo phương thức tự nhiên, chủ yếu là chăn thả và bán chăn thả. Ăn thức ăn sạch, không sử dụng cám tăng trọng, không kích nạc, kích cơ như lợn nuôi công nghiệp. Thức ăn rất nghèo chất dinh dưỡng, chủ yếu là chuối và rau rừng, đôi khi mới có sắn và ngô nên lợn tăng trọng chậm. Ưu điểm: thịt lợn Bản là loại thịt đảm bảo sạch, chắc thịt, khi rang thịt không ra nước, thịt thơm ngon. Da giòn không ngấy, thịt nạc mềm không dai, mỡ cũng không ngán mà rất ngậy, giòn và rất dễ ăn. Nhờ có sức đề kháng tốt, nên giống lợn này ít bệnh, thích nghi với môi trường rất cao. Lợn Bản từ lâu đã là món ăn đặc sản của vùng núi Tây Bắc Việt Nam, là món ngon không chỉ trong những dịp liên hoan, lễ tết, cưới hỏi, cúng lễ, ma chay… mà còn là thực đơn hàng ngày của nhiều người dân. Lợn Bản cũng là một món quà biếu, tặng có giá trị và độc đáo. Lợn Bản thường được bán với giá cao hơn hẳn so với các giống lợn khác được nuôi tại địa phương (như lợn Móng Cái, lợn lai với lợn ngoại…). Đặc biệt, ngày nay có rất nhiều tiểu thương, các nhà hàng, khách sạn ở một số tỉnh miền xuôi (như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội…) lên tìm mua lợn Bản về bán. Nắm bắt nhu cầu này của thị trường nên mấy năm gần đây có rất nhiều người lựa chọn nghề phân phối lợn Bản từ các xã của tỉnh về các tỉnh miền xuôi và đã thu được lợi nhuận lớn từ việc kinh doanh này. Như vậy nghề chăn nuôi lợn Bản trong các nông hộ tại Sơn La nói riêng và các tỉnh miền núi phía bắc nói chung là có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên chính bản thân người dân tộc thiểu số ở các địa phương này vẫn chưa biết tận dụng được tiềm năng đó để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho gia đình mình. Hiệu quả thu được từ chăn nuôi lợn Bản là khá thấp. 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Nguồn gốc và các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng tới việc chăn nuôi lợn Bản 1.2.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm của lợn Bản tại Sơn La * Nguồn gốc và đặc điểm của lợn Bản Lợn Bản đã được nuôi ở các bản người dân tộc thiểu số từ rất lâu. Trước năm 1990, lợn được nuôi thả tự do trong các bản và trong rừng. Người dân tộc thiểu số chỉ gọi chúng là con lợn theo tiếng địa phương hoặc dựa theo màu lông của lợn. Từ năm 1993, người Kinh vào các bản mua giống lợn này và gọi là lợn Bản (hay lợn Mán), từ đó cái tên này trở thành thông dụng ngay cả trong các bản. Lợn được các bà con dân tộc Thái tỉnh Sơn La nuôi dưỡng từ lâu đời, trước kia lợn thường được nuôi theo phương thức thả rông. Lợn có khả năng tăng trọng thấp, sinh sản thấp, khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Lợn Bản chịu đựng tốt với điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, không đòi hỏi thức ăn dinh dưỡng cao, ít bệnh tật và thịt thơm ngon. Giá thành thường cao gấp dưỡi so với thịt của các giống lợn thông thường. * Tập quán chăn nuôi Lợn Bản được nuôi ở vùng đồng bào dân tộc như Thái, H’ Mông..., trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán chăn nuôi lạc hậu, lợn được nuôi theo phương thức chăn thả, bán chăn thả hoặc nuôi nhốt. Lợn thường tự kiếm thức ăn và nguồn thức ăn chủ yếu là các loại cây trong tự nhiên như: thân cây chuối, củ sắn, khoai lang, rau cỏ rừng, bèo, các loại rễ cây… Lợn Bản được nuôi dưỡng theo tập quán cổ truyền không có quy trình c
Xem thêm

Đọc thêm

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm, kiểm định tằm giống

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM, KIỂM ĐỊNH TẰM GIỐNG

Khảo nghiệm tằm giống là việc chăm sóc, nuôi dưỡng, theo dõi trong điều kiện và thời gian nhất định tằm giống mới nhập khẩu lần đầu hoặc tằm giống mới được tạo ra trong nước nhằm xác định tính khác biệt, tính ổn định, tính đồng nhất về năng suất, chất lượng, khả năng kháng bệnh và đánh giá tác hại của giống đó. 1.3.2. Kiểm định tằm giống là việc kiểm tra, đánh giá lại năng suất, chất lượng, khả năng kháng bệnh của tằm giống sau khi đưa ra sản xuất hoặc làm cơ sở công bố chất lượng tằm giống phù hợp tiêu chuẩn.
Xem thêm

8 Đọc thêm

ỨNG DỤNG CNSH TRONG NÔNG LÂM NGHIỆP, THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

ỨNG DỤNG CNSH TRONG NÔNG LÂM NGHIỆP, THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

ghép, tách dòng… Ở đây giá trị thực tiễn của các tiến bộ khoa học kỹ thuật làđã biến những phương thức cổ điển đó thành những phương thức hoàn toànmới về chất cho phép giải quyết những khó khăn mà phương pháp cổ điểnkhông thể vượt qua. Ví dụ: kỹ thuật giâm cành chỉ có thể ứng dụng thànhcông ở một số cây trồng nhất định, vì rằng với kích thước 5-20 cm khả năngtạo rễ phụ của vùng mô thượng tầng gần vết cắt hoặc khả năng đánh thứcchồi phụ vẫn bị các vùng tế bào lân cận và toàn bộ phần còn lại của đoạngiâm khống chế. Nếu tiến hành nuôi cấy mẫu mô với kích thước 5-10 mm, tứclà làm giảm thể tích khối mô xuống 103 lần thì rõ ràng mối tương tác giữa cáctế bào và các loại mô sẽ đơn giản đi rất nhiều, hiệu quả tác động của các biệnpháp nuôi cấy sẽ phải cao hơn. Sau đây là một số phương thức nhân giống invitro:- Tái sinh cây mới từ các cấu trúc sinh dưỡng+ Nuôi cấy mô phân sinh đỉnh hay đỉnh phân sinhPhương thức này sử dụng các bộ phận nhỏ nhất của đỉnh chồi (shoottip) hay đỉnh sinh trưởng (apex) làm mẫu vật nuôi cấy. Nó bao gồm mô phânsinh đỉnh (apical meristem) và các mầm lá non (young leaf primordia). Kháiniệm mô phân sinh đỉnh (ngọn) chỉ đúng khi mẫu vật được tách từ đỉnh sinhtrưởng có kích thước trong vòng 0,1-0,15 mm tính từ chóp sinh trưởng. Trongthực tế mẫu vật được tách với kích thước như vậy chỉ khi nào người ta tiếnhành nuôi cấy với mục đích làm sạch virus (virus-free) cho cây trồng. Thườngsẽ gặp khó khăn lớn trong việc nuôi thành công các mô phân sinh đỉnh riêngrẽ có kích thước nhỏ như vậy. Do đó, trong khuôn khổ nhân giống in vitrongười ta thường nuôi cấy cả đỉnh chồi hoặc đỉnh sinh trưởng. Phổ biến nhất ởcác đối tượng như phong lan, dứa, mía, chuối… đỉnh sinh trưởng được táchvới kích thước từ 5- 10 mm, nghĩa là toàn bộ mô phân sinh đỉnh và một phầnmô xung quanh.Tương quan giữa độ lớn của chồi nuôi cấy, tỷ lệ sống và mức độ ổn địnhvề mặt di truyền của chồi được biểu hiện như sau: Nếu độ lớn tăng thì tỷ lệ
Xem thêm

15 Đọc thêm

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm kiểm định ngan giống

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM KIỂM ĐỊNH NGAN GIỐNG

Khảo nghiệm ngan giống là việc chăm sóc, nuôi dưỡng, theo dõi trong điều kiện và thời gian nhất định ngan giống mới nhập khẩu lần đầu hoặc ngan giống mới được tạo ra trong nước nhằm xác định tính khác biệt, tính ổn định, tính đồng nhất về năng suất, chất lượng của ngan giống đó. 1.3.2. Kiểm định ngan giống là việc kiểm tra, đánh giá lại năng suất, chất lượng của ngan giống sau khi đưa ra sản xuất.

10 Đọc thêm

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM KIỂM ĐỊNH CỪU GIỐNG

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM KIỂM ĐỊNH CỪU GIỐNG

Khảo nghiệm cừu giống là việc chăm sóc, nuôi dưỡng, theo dõi trong điều kiện và thời gian nhất định cừu giống mới nhập khẩu lần đầu hoặc cừu giống mới được tạo ra trong nước nhằm xác định tính khác biệt, tính ổn định, tính đồng nhất về năng suất, chất lượng của giống đó.

8 Đọc thêm

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm, kiểm định trâu giống

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM, KIỂM ĐỊNH TRÂU GIỐNG

Khảo nghiệm trâu giống là việc chăm sóc, nuôi dưỡng, theo dõi trong điều kiện và thời gian nhất định trâu giống mới nhập khẩu lần đầu hoặc trâu giống mới được tạo ra trong nước nhằm xác định tính khác biệt, tính ổn định, tính đồng nhất về năng suất, chất lượng của giống đó.

9 Đọc thêm

Nghiên cứu tuyển chọn một số giống lúa chất lượng cao cho vùng lúa thâm canh năng suất chất lượng hiệu quả cao của tỉnh Thanh Hóa

Nghiên cứu tuyển chọn một số giống lúa chất lượng cao cho vùng lúa thâm canh năng suất chất lượng hiệu quả cao của tỉnh Thanh Hóa

1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thị trường thế giới đang chuyển hướng về lúa gạo có chất lượng tốt, đặc biệt là các nước đã phát triển và Trung Đông. Chương trình chọn tạo giống ở Việt Nam đã thu được những thành tựu lớn nhờ vận dụng tốt các kết quả nghiên cứu của quốc tế về đánh giá nguồn tài nguyên di truyền cây lúa, tạo giống lúa chất lượng tốt theo hướng cải tiến từ giống lúa cổ truyền đã được một số tác giả trong nước thực hiện. Xu hướng sản xuất lúa gạo hàng hoá bằng các giống chất lượng cao đang diễn ra mạnh mẽ tại một số địa phương ở các tỉnh Bắc Trung Bộ. Đối với tỉnh Thanh Hoá, lúa là cây lương thực chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, với diện tích sản xuất lúa lớn, trung bình hàng năm diện tích gieo cấy trên 255 ngàn ha, trong đó vụ xuân là trên 118 ngàn ha, vụ mùa là trên 136 ngàn ha. Những năm gần đây, nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất thâm canh, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ thích hợp, và đặc biệt là thay đổi cơ cấu giống hàng năm, hàng vụ để thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của từng địa phương, đã tạo bước đột phá trong sản xuất thâm canh lúa, góp phần quan trọng đưa sản lượng lương thực của tỉnh vượt 1,67 triệu tấnnăm. Với mục tiêu hình thành vùng sản xuất lúa tập trung, có diện tích trồng lúa ổn định, lâu dài, bền vững, đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tăng thu nhập cho người trồng lúa và tạo ra sản lượng lương thực ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng năm của nhân dân trong tỉnh. Năm 2009, đề án “Xây dựng vùng lúa thâm canh năng suất chất lượng hiệu quả cao giai đoạn 20092013”. Sau 5 năm triển khai, tỉnh Thanh Hoá đã xây dựng được vùng lúa với diện tích hơn 65.000 ha tại 12 huyện Đồng bằng ven biển, năng suất trung bình đạt từ 70 tạha trở lên. Mặc dù gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo và khẳng định xây dựng vùng lúa thâm canh năng suất chất lượng hiệu quả cao là hướng đi đúng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên mục tiêu nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả trong sản xuất lúa gạo mới chỉ giải quyết được một phần, mặc dù năng suất lúa đã được tăng lên rõ rệt nhưng vẫn chưa đồng đều ở các vùng miền, các giống lúa được sử dụng gieo cấy cơ bản là những giống lúa lai có năng suất và chất lượng gạo khá, chiếm diện tích gieo cấy lớn, còn diện tích gieo trồng giống lúa thuần chất lượng cao vẫn đang còn ít, một số giống chất lượng đã bị suy thoái, sâu bệnh nhiều. Vùng lúa chất lượng quy hoạch còn chưa tập trung, sản xuất mang tính tự phát, chưa mang tính sản xuất hàng hoá lớn, do vậy mà sản phẩm gắn liền với thương hiệu gạo Thanh Hoá vẫn chưa nhiều, chưa đáp ứng được mục tiêu xây dựng vùng lúa hàng hoá chất lượng cao của tỉnh. Vì vậy, nghiên cứu, tuyển chọn và xây dựng các vùng sản xuất lúa, gạo hàng hóa chất lượng cao, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho nông dân, từng bước đáp ứng được nhu cầu sử dụng gạo ngon, sạch, an toàn của cầu thị trường là đòi hỏi có tính cấp bách của ngành nông nghiệp Thanh Hóa trong giai đoạn phát triển mới. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn một số giống lúa chất lượng cao cho vùng lúa thâm canh năng suất chất lượng hiệu quả cao của tỉnh Thanh Hóa”. 2. Mục tiêu của đề tài 2.1. Mục tiêu chung Tuyển chọn được các giống lúa năng suất, chất lượng cao chống chịu một số sâu bệnh hại chính phù hợp vùng lúa thâm canh năng suất, chất lượng và hiệu quả cao của tỉnh. 2.2. Mục tiêu cụ thể. Tuyển chọn được 23 giống lúa năng suất đạt 5,86,5 tấnha, chất lượng cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính phù hợp với điều kiện Thanh Hoá Xây dựng được quy trình kỹ thuật theo hướng ICM cho 23 giống lúa được tuyển chọn. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài giúp củng cố thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển sản xuất các giống lúa chất lượng cao cho tỉnh Thanh Hóa, giúp tỉnh Thanh Hóa định hướng sản xuất lúa gạo theo hướng sản phẩm hàng hóa một cách tổng thể, bền vững lâu dài, ngoài ra đề tài còn góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu, tuyển chọn và phát triển giống lúa mới cho tỉnh nhà trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn có giá trị, phục vụ cho công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn trong ngành khuyến nông của tỉnh. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài thành công sẽ góp phần hoàn thiện quy trình canh tác tổng hợp cho các giống lúa chất lượng cao mới, triển vọng dự kiến phát triển mạnh trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đồng thời khuyến khích được bà con nông dân tại các địa phương tiếp thu thêm các TBKT mới, các biện pháp canh tác mới góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa1ha đất canh tác, nâng cao thu nhập cho nông dân Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn có giá trị, phục vụ cho công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn trong ngành khuyến nông của tỉnh. Tạo được lòng tin, phấn khởi cho cán bộ, nông dân về chủ trương, chính sách ưu đãi đầu tư phát triển Nông thôn Nông dân Nông thôn của Thanh Hóa. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Các dòng và giống ( 15 dòng, giống) lúa thuần chất lượng cao do Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Công ty giống cây trồng Trung ương lai tạo, chọn lọc theo hướng năng suất, chất lượng và chống chịu (phụ lục 1) 4.2. Phạm vi nghiên cứu Các huyện đại diện cho 3 vùng trồng lúa chính của tỉnh Thanh Hóa : Vùng núi và Trung du (huyện Như Thanh), Vùng đồng bằng (huyện Thọ Xuân), vùng ven biển( huyện Nga Sơn) 5. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07 năm 2012 đến tháng 07 năm 2014 (thời gian: 24 tháng)
Xem thêm

Đọc thêm

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm kiểm định dê giống

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHẢO NGHIỆM KIỂM ĐỊNH DÊ GIỐNG

thời gian nhất định dê giống mới nhập khẩu lần đầu hoặc dê giống mới được tạo ra trong nước nhằm xác định tính khác biệt, tính ổn định, tính đồng nhất về năng suất, chất lượng của giống đó. 1.3.2. Kiểm định dê giống là việc kiểm tra, đánh giá lại năng suất, chất lượng của dê giống sau khi đưa ra sản xuất

10 Đọc thêm

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

MỤC LỤC Trang 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. Lý do chọn đề tài 4 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 5 1.2.1. Mục tiêu chung 5 1.2.2. Mục tiêu cụ thể 5 1.3. Phạm vi nghiên cứu 5 1.3.1. Phạm vi không gian 5 1.3.2. Phạm vi thời gian 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 5 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 6 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7 2.1. Lịch sử hình thành và nguồn gốc 7 2.2. Khái niệm, đặc điểm của thực vật biến đổi gen 7 2.3. Vai trò của thực vật biến đổi gen 8 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 9 3.1. Thực trạng của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 9 3.2. Thực trạng của thực vật biến đổi gen của Việt Nam 10 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen 10 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen 11 CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 13 4.1. Những lợi ích của thực vật biến đổi gen 13 4.2. Tác hại tiềm tàng của thực vật biến đổi gen 16 4.2.1. Đối với sức khỏe con người 16 4.2.2. Đối với môi trường 17 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học 17 CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 19 5.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen 19 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 19 5.1.2. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen ở Việt Nam 22 5.2. Tiềm năng phát triển của thực vật biến đổi gen và triển vọng cho tương lai 24 5.2.1. Tiềm năng phát triển 25 5.2.2. Triển vọng cho tương lai 26 CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 28 DANH MỤC BẢNG Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia 19 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 5.1: Tình hình sử dụng CM trên Thế Giới năm 2009 22 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Thực vật biến đổi gen là một trong những thành tựu cửa công nghệ sinh học nông nghiệp, vì nó mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân như: năng suất cao, chất lượng tốt, kháng được sâu bệnh, kháng thuốc diệt cỏ, … Sau hơn 10 năm ứng dụng phát triển cây trồng biến đổi gen ở nhiều nước trên thế giới, đữ chứng minh rằng cây trồng biến đổi gen đữ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, việc triển khia ứng dụng cây trồng biến đổi gen tăng liên tục về số lượng các nước tham gia, về diện tích tăng hàng năm,… Do gánh nặng về dân số ngày càng tăng cao, nên thực phẩm biến đổi gen là một giải pháp đầy hứa hẹn để đảm bảo an ninh lương thực, xóa bỏ nạn đói và tình trạng suy dinh dưỡng trên thế giới. Bên cạnh đó, thực phẩm biến đổi gen còn góp phần vào công tác bảo vệ môi trường: thực phẩm biến đổi gen được cấp phép ra không những chỉ có những giá trị về dinh dưỡng và y tế tốt hơn mà các cây trồng hoặc vật nuôi tao ra chúng còn có thể chống chịu lại được sâu bọ và bệnh dịch, giúp giảm sử dụng thuốc trừ sâu, và chịu nhiệt độ cao. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, thực phẩm biến đổi gen cũng gây ra nhiều thách thức cho các chính phủ, các nhà khoa học, công nghiệp và những nhà hoạch định chiến lược, đặc biệt là trong lĩnh vực thử nghiệm an toàn, luật, chính sách quốc tế và dán nhãn thực phẩm. Với dân số là 86 triệu người, an ninh lương thực là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Vì vậy, phát triển cây trồng biến đổi gen là một trong những giải pháp để góp phần giải quyết bài toán đảm bảo an ninh lương thực. Hiện tại, Việt Nam đã có những bước tiến trong nghiên cứu và canh tác cây trồng biến đổi gen; nhập khẩu, sử dụng thực phẩm biến đổi gen và các nguyên vật liệu có chứa sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, công tác quản lý và dán nhãn thực phẩm biến đổi gen ở Việt Nam vẫn mới đang ở trong giai đoạn sơ khai. Hơn một thập kỷ qua sự bùng nổ của công nghệ sinh học (CNSH), mà hàng đầu là công nghệ biến đổi gen, đã tạo bước đột phá trong phát triển khoa học và nhiều ngành kinh tế kỹ thuật khác của loài người, có ảnh hưởng lớn lao đến sản xuất môi trường – xã hội và cuộc sống.Thành tựu kỳ diệu, thách thức rất đa chiều nhưng cơ hội, triển vọng cũng cực kỳ to lớn Đây là lý do nhóm chọn đề tài “Thực vật biễn đổi gen “ 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể • Phân tích thực trạng của thực vật biến đổi gen. • Phân tích ảnh hưởng của thực vật biến đổi gen đến sức khỏe con người môi trường và đa dạng sinh học. 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1. Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.3.2. Phạm vi thời gian Đề tài được thực hiện vào ngày 15102015 đến ngày 22102015. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp được thu nhập trên internet, sách, tạp chí và các phương tiện truyền thông khác. 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được phân tích trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp kết hợp phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối và đưa ra nhận xét, đánh giá. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Cây trồng chuyển đổi gen được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1982, bằng việc sử dụng loại cây thuốc lá chống kháng sinh. Những khu vực trồng thử nghiệm cây thuốc lá có khả năng chống thuốc diệt cỏ đầu tiên ở là ở Pháp và Hoa kỳ vào năm 1986. Năm 1987, Plant Genetic Systems ( Ghent, Bỉ ), được thành lập bởi Marc Van Montagu and Jeff Schell, là công ty đầu tiên phát triển cây trồng thiết kế gen di truyền ( thuốc lá ) có khả năng chống chịu côn trùng bằng cách biểu hiện các gen mã hóa protein diệt côn trùng từ vi khuẩn Bacillus Thuringiensis ( BT ). Trung Quốc là quốc gia đầu tiên chấp thuận cây công nghiệp chuyển đổi gen với cây thuốc lá kháng vi rút được giới thiệu lần đầu vào năm 1992, nhưng rút khỏi thị trường Trung Quốc vào năm 1997. Cây trồng biến đổi gen đầu tiên được phê chuẩn bán ở Mỹ vào năm 1994 là cà chua Flavrsavr, có thời gian bảo quản lâu hơn các loại cà chua thông thường. Năm 1994, Liên Minh Châu Âu phể chuẩn cây thuốc lá có khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ Bromoxynil. Năm 1995, khoai tây BT đã được phê duyệt an toàn bởi Cơ quan Bảo vệ môi trường, trở thành cây nông sản kháng sâu đầu tiên được phê duyệt tại Hoa Kỳ.Các loại cây trồng chuyển đổi gen sau đó cũng được chấp thuận giao dịch ở Mỹ năm 1995: cải dầu với thành phần dầu chuyển đổi (Calgene), ngô bắp có vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) (CibaGeigy), bông kháng thuốc diệt cỏ bromoxynil (Calgene), bông kháng côn trùng (Monsanto), đậu nành kháng thuốc diệt cỏ glyphosate (Monsanto), bí kháng vi rút (Asgrow), và cà chua chín chậm (DNAP, Zeneca Peto, và Monsanto). Tính đến giữa năm 1996 đã có tổng cộng 35 phê chuẩn được cấp cho 8 loại cây công nghiệp chuyển đổi gen và 1 loại hoa cẩm chướng, với 8 điểm khác nhau tại 6 quốc gia cộng thêm EU. Năm 2000, lần đầu tiên các nhà khoa học đã biến đổi gen thực phẩm để gia tăng giá trị dinh dưỡng bằng việc sản xuất ra hạt gạo vàng. 2.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN a. Khái niệm Công nghệ biến đổi gen là công nghệ chuyển gen theo kỹ thuật DNA tái tổ hợp với những công cụ và kỹ thuật phân tử, thông qua việc phân lập những gen có ích từ sinh vật cho rồi chuyển trực tiếp vào sinh vật nhận, để tạo ra những sinh vật biến đổi gen. Quá trình này hoàn toàn mang tính nhân tạo và không thấy trong tự nhiên. Cây trồng biến đổi gen(Genetically Modified Crop GMC)là loại cây trồng được lai tạo ra bằng cách sử dụng các kỹ thuật của công nghệ sinh học hiện đại, hay còn gọi là kỹ thuật di truyền, công nghệ gene hay công nghệ DNA tái tổ hợp, để chuyển một hoặc một số gene chọn lọc để tạo ra cây trồng mang tính trạng mong muốn. b. Đặc điểm Công nghệ chuyển gen tìm cách phân lập những gen có ích riêng biệt từ cây cho rồi chuyển trực tiếp vào cây nhận, tránh được những phiền phức của cách tạo giống truyền thống. Do vậy thời gian tạo một giống mới theo kỹ thuật chuyển gen sẽ nhanh hơn nhiều so với kỹ thuật lai hữu tính. 2.3. VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Thực phẩm biến đổi gen cải thiện được chất lượng thực phẩm, làm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc những tính trạng thích hợp cho công nghệ chế biến, chống chịu được thời tiết khắc nghiệt và có khả năng kháng được nhiều loại sâu bệnh góp phần tăng năng suất cây trồng. Cây trồng CNSH góp phần giảm hiệu ứng nhà kính từ quá trình canh tác nhờ việc giảm lượng năng lượng sử dụng, tăng lượng cacbon lưu trữ trong đất nhờ giảm việc làm đất. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 3.1. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN TRÊN THẾ GIỚI Diện tích cây trồng biến đổi gen toàn cầu tăng đáng kể từ 1,7 triệu ha vào năm 1996 lên trên 175 triệu ha vào năm 2013. Trong đó các quốc gia giữ có diện tích canh tác cây trồng công nghệ sinh học (CNSH) lớn có thể kể đến như Hoa Kỳ với diện tích canh tác cây trồng CNSH là 70,2 triệu ha, với tỷ lệ canh tác các loại cây trồng CNSHtổng diện 2013. Diện tích canh tác ở các nước đang phát triển đang ngày càng được mở rộng. Tỷ trọng diện tích canh tác cây trồng CNSH của nông dân Mỹ La tinh, Châu Á và Châu Phi lên tới 54% trong tổng diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu (tăng 2% so với năm 2012), do đó làm gia tăng chênh lệch tích canh tác là 90% vào năm 2013. Argentina với 24,4 triệu ha; Ấn Độ có sản lượng 11 triệu ha bông CNSH vào năm về diện tích canh tác giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển từ khoảng 7 triệu năm 2012 lên đến 14 triệu ha vào năm 2013. Tính chung Nam Mỹ đã trồng 70 triệu ha hoặc chiếm 41%; châu Á trồng 20 triệu ha, chiếm 11%; và châu Phi trồng hơn 3 triệu ha, chiếm 2% diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu. Liên minh châu Âu vốn xưa nay là nơi có diện tích cây trồng CNSH khiêm tốn nhất cũng bắt đầu có những thay đổi tích cực khi diện tích canh tác cây trồng CNSH trong năm 2013 đã tăng lên 15% so với các năm trước. Tây Ban Nha dẫn đầu khối các nước EU với diện tích trồng ngô đột biến gen là 136.962 ha. Đặc biệt Trung Quốc, với dân số 1,3 tỷ người, là nước đông dân nhất trên thế giới, cây bông CNSH ở Trung Quốc đã đem lại lợi ích kinh tế trên 15 tỷ USD trong vòng 12 năm từ năm 1996 đến năm 2012. Một số nhà quan sát dự đoán Trung Quốc có thể mở đường cho việc phê chuẩn một số cây trồng CNSH lớn như ngô phytase – giống ngô đã nhận được phê duyệt về an toàn sinh học năm 2009, khi hai đặc tính lúa CNSH cũng được phê duyệt. Nhu cầu về thức ăn chăn nuôi để duy trì 500 triệu con lợn và 13 tỷ con gia cầm của Trung Quốc đã khiến nước này ngày càng trở nên phụ thuộc vào ngô nhập khẩu để bổ sung cho 35 triệu ha trồng ngô trong nước. Thế giới hiện có hơn 14 triệu nông dân áp dụng giống cây trồng biến đổi gen, năm 2009 cung cấp 77% sản lượng đậu nành, 49% sản lượng bông vải và 26% sản lượng ngô cho toàn cầu. Ngoài ra, 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận việc nhập khẩu cây trồng chuyển gen để tiêu thụ và sản xuất. Dự kiến đến năm 2015, thế giới sẽ có khoảng 40 nước cho phép trồng cây chuyển gen, diện tích sẽ tăng lên 200 triệu hecta, chủ yếu là ngô, đậu tương, bông vải, thuốc lá, cà tím, cà chua, đu đủ... 3.2. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Ở VIỆT NAM 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đầu tư nghiên cứu và khảo nghiệm từ năm 2006 sau khi Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 112006QĐTTg. Vào năm 2011, việc đưa ngô biến đổi gen vào sản xuất thương mại tại Việt Nam được dự kiến triển khai vào năm 2012 sau hai đợt khảo nghiệm trên diện rộng. Đến 2013, Bộ NNPTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm 5 giống ngô biến đổi gen để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép an toàn sinh học. Thời gian qua, Bộ NNPTNT đã ban hành hàng loạt nghị định, thông tư để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học nhưNghị định số 692010NĐCP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gien; Quyết định số 418QĐTTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH và CN giai đoạn 2011 2020;Thông tư 722009TTBNNPTNT ngày 17 tháng 11 năm 2009 ban hành danh mục loài cây trồng biến đổi gen được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường cho mục đích làm giống cây trồng ở Việt Nam. Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 082013TTBTNMT ngày 1652013 về Đánh giá an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen, trong đó quy định thành lập Tổ chuyên gia có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật cho Hội đồng ATSH đối với từng sự kiện biến đổi gen cụ thể; Thông tư số 022014TTBNNPTNT ngày 2412014 quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt ngày 11 tháng 8 năm 2014, Bộ NN PTNN chính thức công bố cấp phê duyệt 04 sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Các sự kiện được phê duyệt lần này bao gồm sự kiện Bt 11 và MIR162 của công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 (Bộ TNMT cấp Giấy chứng nhận ATSH vào ngày 27 tháng 8 năm 2014) và NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (Monsanto). Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi theo đúng trình tự được quy định theo thông tư 022014TTBNNPTNT. Đây là 4 sự kiện biến đổi gen đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Theo dự kiến, tới năm 2015, ngô biến đổi được đưa vào trồng đại trà. PGS.TS. Lê Huy Hàm cho rằng, để sử dụng an toàn các loại cây trồng này, Nhà nước phải có quy chế, người sử dụng phải tuân thủ. Song song với đó, khi đưa vào trồng đại trà, các địa phương phải quy hoạch diện tích trồng phù hợp, khoanh vùng cây bản địa, ngăn không để các loại cây trồng biến đổi gen vào vùng này. 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đưa vào thử nghiệm gần 5 năm và dự kiến khoảng năm 2015, những sản phẩm được chế biến từ ngô, đậu nành… biến đổi gen sẽ xuất hiện trong siêu thị, chợ và bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Có một thực tế, những loại thực phẩm biến đổi gen đang có mặt hầu hết ở các chợ và siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Một cuộc khảo sát cho thấy 111323 mẫu thực phẩm gồm: bắp, đậu nành, khoai tây, gạo, cà chua, đậu Hà Lan… chọn ngẫu nhiên ở 17 chợ, siêu thị trên địa bàn thành phố được kiểm nghiệm cho kết quả là sản phẩm biến đổi gen, trong đó có bắp Mỹ, bắp trái non, bắp non đóng hộp, bột bắp, bắp giống có nguồn gốc trong nước và nước ngoài dương tính với promoter 35S hoặc terminatornos một dạng biến đổi gen. Trong đó có 45 mẫu bắp, 29 mẫu đậu nành, 11 mẫu gạo, 15 mẫu khoai tây, 10 mẫu cà chua. Đáng chú ý là người tiêu dùng, các nhà phân phối và cả ban quản lý các siêu thị, chợ trên địa bàn thành phố hầu như không hiểu biết gì về thực phẩm biến đổi gen. Trước tình trạng đó, một số nhà sản xuất đã bắt đầu quan tâm đến việc công bố nguồn gốc nguyên liệu sản xuất để người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mình mua có được làm từ thực phẩm biến đổi gen hay không Dự kiến đến năm 2015 Việt Nam sẽ cho áp dụng trồng đại trà ba loại cây trồng biến đổi gen bao gồm: đậu tương và ngô để phục vụ cho chăn nuôi; cây bông phục vụ cho dệt may. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 4.1. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. Công nghệ biến đổi gen đã đạt được những thành tựu và mang lại lợi ích to lớn trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghệ sinh học, y tế, bảo vệ môi trường, công nghiệp chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Tính đến năm 2050, ước tính dân số sẽ chạm mốc 9 tỷ người. Theo Uỷ ban Nông Lương Liên hợp quốc, điều này có nghĩa là lượng thực phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu cho toàn cầu trong giai đoạn 2000 – 2050 tương đương với tổng lương thực cần trong 10.000 năm trước đây, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng thu hẹp, biến đổi khí hậu gay gắt trên toàn cầu. Hiện nay, thế giới vẫn đang phải đối mặt với thách thức hơn 1 tỷ người còn đang thiếu đói, cây trồng CNSH được tạo ra nhằm mục tiêu giải quyết thách thức nông nghiệp toàn cầu, nâng cao năng suất cây trồng trên cùng một diện tích đất canh tác nhờ các ưu thế lai chính xác và vượt trội, giảm lượng thuốc trừ sâu, xói mòn đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Việc giảm sử dụng hóa chất là một trong những lợi ích ban đầu và rõ ràng cho người nông dân khi sử dụng cả cây trồng kháng thuốc trừ cỏ và cây trồng kháng sâu bệnh. Cây trồng CNSH đã giảm 474 triệu kg thuốc trừ sâu (tương đương 9%) trong giai đoạn 1996 2011, tương ứng với tổng lượng hoạt chất trừ sâu tại Liên minh châu Âu trong một năm với 3 vụ trồng trọt. Điều này tương ứng với việc giảm tác động lên môi trường 18,1% nhờ giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên diện tích trồng cây trồng công nghệ sinh học. • Trong tổng lợi ích thu nhập canh tác, 49% (tương đương với 48 tỷ USD) có được nhờ năng suất thu hoạch cao hơn do giảm sâu hại, áp lực về cỏ dại và hệ gen được cải thiện, còn lại nhờ việc giảm thiểu chi phí canh tác. • Phần lớn (51%) thu nhập từ canh tác năm 2011 đã đến trực tiếp với người nông dân của các quốc gia đang phát triển, 90% của nhóm này là những nông hộ nhỏ và nghèo. Tổng cộng từ năm 1996 2011, khoảng 50% tổng lợi ích thu về đã đến được với nông dân ở các quốc gia đã và đang phát triển. • Cây trồng công nghệ sinh học có khả năng chống chịu với thuốc trừ cỏ không chỉ làm giảm việc dùng thuốc diệt cỏ mà còn làm cho đất và nước sạch hơn, thúc đẩy việc áp dụng phương pháp canh tác không làm đất để giảm thiểu sự xói mòn đất và hiện tượng thải ra carbon làm biến đổi khí hậu vào khí quyển. Theo tính toán của Hội Đồng Khoa Học Nông nghiệp và Công Nghệ (CAST) cho rằng công nghệ mới như bắp và đậu nành có hàm lượng acid phytic thấp có thể giúp giảm nitơ và bài tiết phospho ở heo và gia cầm tương ứng 40% và 60%. Hệ thống tiêu hóa của bò được cải thiện có thể làm giảm bài tiết nitơ lên đến 34%, và giảm bài tiết phosphor đến 50%. • Tất cả các nước đang phát triển đã được hưởng lợi từ công nghệ sinh học thông qua việc nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, mức độ độc tố mycotoxin thấp hơn và năng suất cây trồng cao hơn và sạch hơn để trồng trong nước. Các nước đã phát triển cây trồng công nghệ sinh học cũng được hưởng lợi từ việc giảm sử dụng hóa chất, năng suất cao hơn và nông nghiệp mang tính cạnh tranh hơn, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp biến đổi gen mang một nguồn thu ổn định và giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận lớn người dân các nước này. Người nông dân tại các quốc gia đang phát triển chính là đối tượng thụ hưởng lợi của những ích lợi đang ngày càng gia tăng này. Môi trường cũng được bảo vệ tốt hơn nhờ việc nông dân ngày càng áp dụng phương pháp canh tác ít ảnh hưởng đến lớp đất phủ, quản lý cỏ dại bằng cách sử dụng các thuốc diệt cỏ lành tính và giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu sử dụng nhờ ứng dụng cây trồng biến đổi gen kháng sâu hại. Việc giảm phun thuốc trừ sâu và chuyển đổi sang phương thức canh tác không làm đất ngày càng đóng vai trò tích cực trong giảm hiệu ứng nhà kính gây ra do canh tác nông nghiệp. • Đảm bảo an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới GMC có thể giúp ổn định tình hình an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới, bằng cách làm tăng nguồn cung lương thực, đồng thời làm giảm chi phí sản xuất, từ đó làm giảm lượng nhiên liệu đốt cần sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, giảm bớt một số tác động bất lợi gắn với sự biến đổi khí hậu. Trong số 44 tỷ USD lợi nhuận tăng thêm nhờ công nghệ sinh học, có 44% lợi nhuận từ việc tăng năng suất cây trồng, 56% lợi nhuận từ giảm chi phí sản xuất. Hướng nghiên cứu mới đối với cây lương thực là phát triển khả năng chịu hạn; các giống cây lương thực mới dự đoán sẽ được trồng ở Hoa Kỳ năm 2012, ở tiểu vùng Sahara thuộc châu Phi năm 2017. • Bảo tồn đa dạng sinh học GMC có lợi tiềm tàng đối với môi trường. GMC giúp bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên, sinh cảnh và động, thực vật bản địa. Thêm vào đó, GMC góp phần giảm xói mòn đất, cải thiện chất lượng nước, cải thiện rừng và nơi cư trú của động vật hoang dã. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là giải pháp giúp bảo tồn đất trồng, cho phép tăng sản lượng thu hoạch cây trồng trên 1,5 tỷ ha đất trồng hiện có, xoá bỏ tình trạng phá rừng làm nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học tại các cánh rừng và khu bảo tồn trên khắp thế giới. Theo ước tính, hàng năm các nước đang phát triển mất khoảng 13 triệu ha rừng vì các hoạt động nông nghiệp. Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. • Góp phần xoá đói giảm nghèo 50% những người nghèo nhất trên thế giới là người nông dân ở các nước đang phát triển, nghèo tài nguyên, 20% còn lại là những người nông dân không có đất trồng, phụ thuộc hoàn toàn vào nghề nông.Vì thế, tăng thu nhập cho người nông dân nghèo sẽ đóng góp trực tiếp vào quá trình xoá đói giảm nghèo trên thế giới, tác động trực tiếp đến 70% người nghèo trên toàn thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, các giống bông và ngô biến đổi gen đã mang lại lợi nhuận cho hơn 12 triệu nông dân nghèo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi, Philippin và số người hưởng lợi sẽ cao hơn trong thập niên thứ hai này. Trong đó việc tập trung phát triển các giống gạo biến đổi gen có thể mang lại lợi nhuận cho khoảng 250 triệu hộ nông dân nghèo canh tác lúa ở châu Á. • Giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) GMC có thể giúp giải quyết những lo ngại lớn nhất về môi trường: giảm thiểu các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu tác động của thay đổi thời tiết. Thứ nhất, giảm lượng khí CO2, làm giảm lượng nhiên liệu hoá thạch, giảm lượng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Theo đánh giá, GMC đã làm giảm khoảng 1,1 tỷ kg khí CO2 thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, tương đương với cắt giảm 500 ngàn xe ôtô lưu thông trên đường. Thứ hai, phương pháp canh tác không cần cày xới nhờ công nghệ sinh học làm giảm thêm 13,1 tỷ kg khí CO2, tương đương với giảm 5,8 triệu xe ôtô lưu hành trên đường. Như vậy, trong năm 2007, tổng lượng khí CO2 mà công nghệ sinh học làm giảm trên toàn thế giới đạt mức 14,2 tỷ kg, tương đương với loại bỏ 6,3 triệu xe ôtô (Brooks và Barfoot, 2009). • Tăng hiệu quả sản xuất nhiên liệu sinh học Công nghệ sinh học có thể giúp tối ưu hoá chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhờ tạo ra các giống cây chịu tác động của môi trường (khô hạn, nhiễm mặn, nhiệt độ khắc nghiệt…) hoặc các tác động của sinh vật (sâu bệnh, cỏ dại…), nâng cao năng suất thu hoạch của cây trồng, bằng việc thay đổi cơ chế trao đổi chất của cây. Sử dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những enzym đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của nguyên liệu sản xuất thành nhiên liệu sinh học. • Góp phần ổn định các lợi ích kinh tế Khảo sát gần đây nhất về tác động của GMC trên toàn cầu từ năm 1996 đến 2007 (Brooks và Barfoot, 2009) cho thấy lợi nhuận mà GMC mang lại cho riêng những người nông dân trồng chúng trong năm 2007 đạt 10 tỷ USD (6 tỷ USD ở các nước đang phát triển, 4 tỷ USD ở các nước công nghiệp). Tổng lợi nhuận trong giai đoạn 1996 2007 đạt 44 tỷ USD, từ các nước đang phát triển và nước công nghiệp. 4.2. TÁC HẠI TIỀM TÀNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 4.2.1. Đối với sức khỏe con người: Bên cạnh những lợi ích cơ bản của cây trồng biến đổi gen, theo một vài nhà khoa học thế giới, thì loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng, môi trường. Theo các nhà khoa học, cây trồng biến đổi gen có thể gây gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc lâu dài cho cơ thể. Đây là một trong những tranh luận chủ yếu và vấn đề chỉ được tháo gỡ khi chứng tỏ được rằng sản phẩm protein có được từ sự chuyển đổi gen không phải là chất gây dị ứng. Gen kháng sinh có thể được chuyển vào các cơ thể vi sinh vật trong ruột của người và động vật ăn thành phẩm biến đổi gen. Điều này có thể dẫn tới việc tạo ra các vi sinh vật gây bệnh có khả năng kháng thuốc. 4.2.2. Đối với môi trường: • Cây trồng biến đổi gen mang các yếu tố chọn lọc (chịu lạnh, hạn, mặn hay kháng sâu bệnh…) phát triển tràn lan trong quần thể thực vật. Điều này làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gen. • Cây trồng biến đổi gen mang các gen kháng thuốc diệt cỏ có thể thụ phấn với các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Việc gieo trồng cây trồng biến đổi gen kháng sâu bệnh trên diện rộng, ví dụ, kháng sâu đục thân, có thể làm phát sinh các loại sâu đục thân mới kháng các loại cây trồng biến đổi gen này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Bt đã cho phép phòng trừ hiệu quả sâu bệnh, nhưng sau 30 năm sử dụng, một số loại sâu bệnh đã trở nên nhờn thuốc ở một vài nơi • Ngoài ra, một bộ phận các nhà khoa học lo ngại đến khả năng chuyển gen từ cây trồng vào các vi khuẩn trong đất. Tuy nhiên, khả năng xảy ra điều này là vô cùng nhỏ. Hiện nay, các chuyên gia CNSH đang cố gắng giảm thiểu các rủi ro nêu trên và theo dõi cẩn thận các thử nghiệm cây trồng biến đổi gen trong phòng thí nghiệm, cũng như ngoài đồng ruộng trước khi đưa ra thị trường thương mại. Nếu được thiết kế và sử dụng đúng phương pháp thì có thể quản lý được các nguy cơ của cây trồng biến đổi gen đối với môi trường một cách hiệu quả. 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học: Nguy cơ GMC có thể phát tán những gen biến đổi sang họ hàng hoang dã của chúng, sang sâu bệnh có nguy cơ làm tăng tính kháng của chúng đối với đặc tính chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ hoặc làm tăng khả năng gây độc của GMC đối với những loài sinh vật có ích. Dưới sức ép của chọn lọc tự nhiên, côn trùng sẽ trở lên kháng các loại thuốc diệt côn trùng do cây trồng tạo ra và gây thiệt hại cho cây trồng. Giải pháp GMC không bền vững cho một số vấn đề như kháng sâu bệnh, vì các loại dịch hại này có thể tái xuất hiện do bản chất di truyền thích ứng với môi trường của chúng. Cây trồng kháng sâu có khả năng tiêu diệt các loại côn trùng hữu ích khác như ong, bướm, v.v... làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học nói chung. Việc trồng GMC đại trà, tương tự như việc phổ biến rộng rãi một số giống năng suất cao trên diện tích rộng lớn, sẽ làm mất đi bản chất đa dạng sinh học của vùng sinh thái, ảnh hưởng đến chu trình nitơ và hệ sinh thái của vi sinh vật đất. CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới Công nghệ sinh học đã có những bước tiến nhảy vọt góp phần mang lại những thành tựu to lớn cho loài người. Trong 13 năm, từ 1996 đến 2008, số nước trồng GMC đã lên tới con số 25 một mốc lịch sử một làn sóng mới về việc đưa GMC vào canh tác, góp phần vào sự tăng trưởng rộng khắp toàn cầu và gia tăng đáng kể tổng diện tích trồng GMC trên toàn thế giới lên 73,5 lần (từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 125 triệu ha năm 2008). Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng GMC trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800 triệu ha. Năm 2008, số nước đang phát triển canh tác GMC đã vượt số nước phát triển trồng loại cây này (15 nước đang phát triển so với 10 nước công nghiệp), dự đoán xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới nâng tổng số nước trồng GMC lên 40 vào năm 2015. Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia Nguồn: Clive James, 2011 Quốc gia Diện tích (triệu ha) Loại cây trồng biến đổi gen 1 Hoa Kỳ 69,0 Ngô, đậu tương, bông, cải dầu, củ cải đường, cỏ linh lăng, đu đủ, bí đao 2 Brazil 30,3 Đậu tương, ngô, bông 3 Argentina 23,7 Đậu tương, ngô, bông 4 Ấn Độ 10,6 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 5 Canada 10,4 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 6 Trung Quốc 3,9 Bông, đu đủ, cà chua, tiêu ngọt 7 Paraguay 2,8 Đậu tương 8 Pakistan 2,6 Bông 9 Nam Phi 2,3 Ngô, đậu tương, bông 10 Uruguay 1,3 Đậu tương, ngô 11 Bolivia 0,9 Đậu tương 12 Úc 0,7 Bông, cải dầu 13 Philippines 0,6 Ngô 14 Myanmar 0,3 Bông 15 Burkina Faso 0,3 Bông 16 Mehico 0,2 Bông, đậu tương 17 Tây Ban Nha 0,1 Ngô 18 Colombia
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề