TỜ BÁO CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN

Tìm thấy 6,675 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỜ BÁO CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN":

TÂY PHƯƠNG MỸ NHÂN TRÊN NỀN CẢM HỨNG ĐẠO LÝ

TÂY PHƯƠNG MỸ NHÂN TRÊN NỀN CẢM HỨNG ĐẠO LÝ

Trong quá trình vận động của nền văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ giai đoạn cuối TK XIX đầu TK XX, văn xuôi được xem là bộ phận “mới lạ nhất, hiện đại nhất”. Và trong văn xuôi, tiểu thuyết là thể loại rất đáng được lưu tâm. Dù chưa phải là chặng hoàn tất và đạt được nhiều thành tựu như giai đoạn sau (19301945), nhưng tiểu thuyết giai đoạn giao thời đã để lại nhiều tác phẩm gây ấn tượng. Cho đến nay, người ta vẫn nhắc tới Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) “cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên”, Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng Thuật) “cuốn tiểu thuyết luận đề đầu tiên”, Cậu bé nhà quê (Nguyễn Lân) “cuốn tiểu thuyết giáo dục đầu tiên”...
Xem thêm

7 Đọc thêm

Quốc Văn Giáo Khoa Thư Lớp Dự Bị

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ LỚP DỰ BỊ

Quốc văn giáo khoa thư. Bộ sách nằm trong hệ thống sách giáo khoa bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được đem vào sử dụng để giảng dạy theo quy chế Cải cách giáo dục của Toàn quyền Đông Dương ngày 21121917. Quốc văn giáo khoa thư cùng với Luân lý giáo khoa thư là hai bộ sách giáo khoa do các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn dùng cho cả ba lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng ở bậc tiểu học dưới thời Pháp thuộc. Đều là những học giả, nhà văn, nhà giáo dục nổi tiếng đương thời rất được tín nhiệm, các tác giả đã biên soạn bộ sách mang tính định hướng của một nền giáo dục.
Xem thêm

128 Đọc thêm

TIỂU LUẬN BÁO IN XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA BÁO IN – HƯỚNG ĐI TRONG THỜI ĐẠI “SỐ HÓA VÀ KIM TIỀN”

TIỂU LUẬN BÁO IN XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA BÁO IN – HƯỚNG ĐI TRONG THỜI ĐẠI “SỐ HÓA VÀ KIM TIỀN”

I) Báo in – ra đời và khẳng định. 1)Báo in trong nền báo chí hiện đại đa phương tiện. Báo chí – hoạt động truyền thông, chính trị, kinh tế, giải trí phát triển đa dạng dưới nhiều loại hình. Trong sự vận động lịch sử văn hóa nhân loại, báo chí ra đời khá muộn. Phải đến cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, những tờ báo đầu tiên mới xuất hiện ở một số nước châu Âu. Ở nước ta, báo in bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện vào giữa thế kỉ XIX. Ngày nay, nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó như báo in, thông tấn, họa báo, phát thanh, truyền hình, nói đến tuần báo, nhật báo, tập san, tạp chí, bản tin, các loại chương trình phát thanh, chương trình truyền hình hết sức phong phú, đa dạng. Sự đa dạng của báo chí còn thể hiện ở loại hình các sản phẩm, tài liệu được sử dụng trong các ấn phẩm định kì, trong các chương trình hát song. Ngoài các loại tác phẩm, tài liệu thuộc về báo chí, còn có thể thấy sự xuất hiện của văn, thơ, nhạc, kịch, hội họa, điêu khắc,…trong các tác phẩm báo chí. Sự đa dạng của báo chí ngày càng tăng lên. Điều ấy đặt ra một vấn đề thắc mắc quan tâm cho nhưng loại hình báo chí truyền thống – ra đời trước so với sự hiện đại vượt bậc của báo chí “sinh sau đẻ muộn” Báo in – báo giấy ra đời tính tới nay cũng đã hơn năm thế kỉ. Từ cái thuở sơ khai của công việc làm báo với loại giấy và mực in còn ở chất lượng kém cho tới nay với kỹ thuật và công cụ hiện đại tiên tiến luôn nhận được sự ưu đãi của năng lực sáng tạo của các nhà báo. Nói thế để thấy chất lượng của báo giấy luôn được đánh giá cao nhất. Trải qua nhiều thời gian, từ vị thế độc tôn về cung cấp thông tin cho tới khi phải cạnh tranh với các loại hình báo chí “con cháu”, báo in cũng trải qua nhiều thăng trầm, phải cạnh tranh để khẳng định cái chất riêng và hòa chung vào tính đa dạng của hoạt động báo chí – góp phần định hướng cho cả nền báo chí. Những năm trở lại đây, kinh tế khủng hoảng, công nghệ tiến những bước vũ bão, các loại hình báo chí trẻ ra đời – phát thanh, truyền hình, báo mạng trực tuyến ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng doanh thu cũng như thị hiếu độc giả của báo in. Sống trong một nền báo chí đa phương tiện, thế mạnh của công nghệ lấn át sức hấp dẫ tới từ bao giấy, báo in phải thay đổi để khẳng định chân giá trị của báo chí.
Xem thêm

25 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU VỀ 2 ÔNG TỔ ĐẦU TIÊN CỦA NGHỀ BÁO TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ NGUYỄN VĂN VĨNH

TIỂU LUẬN CAO HỌC TÌM HIỂU VỀ 2 ÔNG TỔ ĐẦU TIÊN CỦA NGHỀ BÁO TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ NGUYỄN VĂN VĨNH

Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn Vĩnh được biết đến như hai ông tổ của nghề báo Việt Nam. Để tìm hiểu về lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam thì tìm hiểu về hai nhân vật này là vô cùng cần thiết. Nó cho thấy thủa sơ khai, báo chí Việt Nam đã có cội nguồn như thế nào, tôn chỉ của những tờ báo đầu tiên,… Bài tập xin được phép tìm hiểu về hai ông tổ nghề báo là Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn Vĩnh để phục vụ tốt hơn cho việc học môn Lịch sử báo chí Việt Nam. A: Trương Vĩnh Ký I; Trương Vĩnh Ký “học giả phương Đông” Thân thế và cuộc đời: Trương Vĩnh Ký có tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, hiệu là Sĩ Tải. Ông là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên được tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp, được ghi tên trong Bách khoa Tự điển Larousse, và đứng vào vị trí toàn cầu bác học thập bát quân tử tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới thế kỷ 19. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới 1. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật, ... Riêng đối với nền báo chí Quốc ngữ Việt Nam, ông được coi là ông tổ nghề báo Việt Nam, người đặt nền móng, bởi ông chính là người sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên: Gia Định báo.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Đề tài Lịch sử ra đời và sự phát triển của Gia Định Báo

ĐỀ TÀI LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIA ĐỊNH BÁO

Phần I: Khái quát lịch sử ra đời và sự phát triển của Gia Định Báo 1. Lịch sử ra đời của Gia Định Báo 1.1 Nguyên nhân ra đời Có thể nói trong thời kỳ đầu tiên của chế độ thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ, một trong những công cụ được sử dụng sớm nhất là báo chí. Đầu năm 1862, khi hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) công nhận quyền thống trị của Pháp tại Sài Gòn và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ chưa ra đời thì họ đã phát hành tờ công báo bằng tiếng Pháp đầu tiên có tên là Bulletin officiel de I’expédition de Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo: BOEC). Trang đầu của tờ báo nêu rõ: “Tờ Nam Kỳ viễn chinh công báo đăng những văn kiện chính của ông Tổng tư lệnh sẽ phát hành mỗi tuần một lần; nó bao gồm các nghị định, quyết định và thông cáo có liên quan đến các giới chức dân sự và quân sự và cư dân nước ngoài thuộc lục địa Châu Á sống tại Nam Kỳ, trong những tỉnh đặt dưới thẩm quyền của nước Pháp. Các quảng cáo và lời rao thương mại được đăng ở một trang riêng kèm theo tờ công báo…” Cuối trang, chính quyền thực dân cũng thông báo cả việc phát hành song song một tờ Bulletin des Communes (Làng xã công báo) in bằng chữ Hoa, cũng với mục đích tương tự. Ngày 1.1.1864, Pháp cho ra đời tờ Courrier de Saigon (Sài Gòn thư tín). Báo ra nửa tháng một kỳ, nội dung gần gũi với báo chí đời thường hơn, vì ngoài phần công vụ, còn có các mục nghị luận, khảo cứu, quảng cáo… Cũng trong năm 1864, một cơ quan quan trọng được thành lập có tên Direction de I’ Intérieur (Nha nội vụ) cũng có chức năng như tờ BOCF nhưng trong một tấm mức hạn hẹp hơn. Những điều kể trên cho thấy, chỉ trong chưa đầy 5 năm nắm quyền thống trị phân nửa lãnh thổ Nam Kỳ, sau khi cho ra đời đủ loại báo bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Hoa thì việc thực dân Pháp phát hành một tờ báo bằng chữ Quốc ngữ là một biện pháp tất yếu nhằm kiện toàn bộ máy cai trị của họ. Và Gia Định Báo đã góp mặt vào sinh hoạt báo chí những năm đầu Pháp thuộc trong bối cảnh như thế. 1.2 Lịch sử ra đời Gia Định Báo Khi Kerguda sang làm Thống Đốc Nam Kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) đã có lời mời cụ Trương Vĩnh Ký ra làm quan, nhưng cụ từ chối và xin lập một tờ báo quốc ngữ mang tên là Gia Định Báo. Lời yêu cầu của cụ được chấp thuận và Nghị định cho phép xuất bản được ký ngày 1/4/1865, nhưng không phải ký cho cụ Trương Vĩnh Ký mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux (một viên thông ngôn làm ở Soái phủ Nam Kỳ). Và phải đến ngày 16/9/1869 mới có Nghị định của Chuẩn đô đốc Marie Gustave Hector Ohier ký giao hẳn tờ Gia Định Báo cho cụ Trương Vĩnh Ký đứng làm chủ biên (Quyết định số 189: “Quyết định: Kể từ hôm nay, việc biên tập tờ Gia Định Báo được giao phó cho ông Pétrus Trương Vĩnh Ký, người với tư cách là chánh tổng tài của tờ này, sẽ được lãnh một khoản lương hàng năm là 3000 đồng quan Pháp. Tờ báo tiếp tục ra mỗi tuần. Nó sẽ được chia ra làm hai phần: một phần chính thức gồm các văn kiện, quyết định của ông Thống đốc và nhà cầm quyền với tài liệu bằng tiếng Pháp do Nhà Nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ; phần khác, không chính thức, sẽ gồm có những bài viết bổ ích và vui về những đề tài lịch sử, những sự kiện về luân lý, thời sự…để có thể đọc được trong các trường học bản xứ và khiến cho công chúng Việt Nam quan tâm đến. Trước khi phát hành, việc trao đổi sẽ thực hiện tại Nha Nội vụ. Giám Đốc Nha Nộ vụ lãnh thi hành quyết định này: Quyết định sẽ được vào sổ và phổ biến ở những nơi xét thấy cần thiết”- Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyễn). Qua sự việc này thì Gia Định Báo được coi là tờ báo tiếng Việt đầu tiên của nước ta. 1.3 Ngày phát hành số báo đầu tiên Chi tiết về số báo đầu tiên của Gia Định báo được phát hành có nhiều thông tin trái ngược nhau. Có tác giả như cụ Đào Trinh Nhất (tự Quán Chi, là nhà văn, nhà báo Việt Nam của thế kỷ 20, cụ cộng tác cho các tờ báo như: Phụ nữ tân văn, Công luận, Thần chung, Tân Văn, Việt nam, Điễn tin, và làm chủ bút báo Ðuốc Nhà Nam) thì cho rằng số đầu tiên được ấn hành năm 1867, một số tác giả và nhà nghiên cứu khác lại cho rằng ngày 1/4/1865 mới là đúng, và gần đây nhất thì có người đưa ra giả thuyết, vẫn là giả thuyết thôi vì chưa có gì xác minh rõ ràng là sự thật nằm ở đâu, là ngày 15/4/1865. Tuy nhiên nếu xét cho kỹ thì giả thuyết 1867 là hoàn toàn không thích đáng, còn ngày 1/4/1865 thì cũng không hợp lý vì ít có khả năng ngày ký giấy phép lại cũng là ngày phát hành tờ báo, không thể in báo trước rồi mới xin phép; do đó, ngày phát hành số 1 của Gia Định Báo hợp lý nhất là ngày 15-4-1865. Tuy nhiên, thông tin về ngày xuất bản số báo đầu tiên vẫn còn nhiều tranh cãi. Chi tiết này cũng gây hoang mang cho giới nghiên cứu trong một thời gian dài. Vào thập niên 1940, học giả Đào Trinh Nhất trong bài “Thử tìm long mạch của tờ báo ta” đăng trên tờ Trung Bắc chủ nhật (1942) cho rằng số Gia Định Báo đầu tiên phát hành năm 1867. Mộ số tác giả khác cho là ngày 1.4.1865, nhưng không ai viện dẫn được một chứng cứ cụ thể nào về thời điểm có liên quan. Điều này cũng dễ hiểu, vì từ ngay thập niên 1960, tại Thư viện quốc gia Sài Gòn (nay là Thư viện Tổng hợp TPHCM) chỉ còn lưu trữ các số báo từ thập niên 1880 trở đi, căn cứ vào dòng chữ in “năm thứ 16” trên trang đầu một số báo phát hành năm 1880 nhiều người trừ lùi thời gian để có con số 1865. Đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận sự ra đời số Gia Định Báo đầu tiên là vào ngày 15/4/1865, căn cứ vào chứng liệu duy nhất tìm thấy là một văn thư đề ngày 9/5/1865 do Thống đốc Nam Kỳ G.Roze gửi cho Bộ trưởng Bộ Hải quân và thuộc địa Pháp, trong đó có nhắc đến việc tờ Gia Định Báo “phát hành vào ngày 15 tháng 4 vừa qua…”(theo Huỳnh Văn Tòng – Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, Nhà xuất bản TPHCM, trang 59, 60). Tác giả Huỳnh Văn Tòng cũng tìm thấy tờ Gia Định Báo số 4 phát hành vào 15/7/1865 tại trường Sinh ngữ Đông phương, Paris (Pháp); điều này phủ nhận thời điểm do học giả Đào Trinh Nhất đưa ra (1867) vào năm 1942. Từ những cứ liệu trên, các nhà nghiên cứu đã thống nhất Gia Định Báo ra đời ngày 15 tháng 4 năm 1865. 1.4 Gia Định Báo tồn tại trong bao lâu? Trong các tài liệu nghiên cứu phổ biến trước năm 1974, chi tiết này hoặc được đưa vào sự dự đoán của các học giả, hoặc không được nhắc đến. Căn cứ vào những số báo còn lưu trữ trong thư viện và năm mất của học giả Trương Vĩnh Ký, một vài tác giả trong đó có nhà báo Nguyễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Như) trên tạp chí Bách Khoa xuất bản vào tháng 1/1966, suy đoán tờ báo đình bản vào năm 1897. Tập “Mục lục báo chí Việt ngữ trong 100 năm (1865-1965)” của Lê Ngọc Trụ cũng ghi thời gian tồn tại của Gia Định Báo là 1865-1897. Đến thập niên 1970, các số Gia Định Báo phát hành vào năm 1909 do Huỳnh Văn Tòng tìm được tại Pháp đã phủ nhận chi tiết sai lạc trên. Tháng 10 năm 1974 trên giai phẩm Bách Khoa số 416 (trang 73-74) đã công bố một chi tiết tìm thấy trong một vài kiện in trên Tập san hành chánh Nam Kỳ năm 1909, trang 3464. Đó là nghị định ngày 21/9/1909 của Thống đốc Nam Kỳ Guorbeil ấn định ngày chính thức đình bản của Gia Định Báo là 1/1/1910. Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyễn nhắc lại một cứ liệu xác định Gia Định Báo tồn tại đến ngày 31 tháng 12 năm 1909 (44 năm), và chính thức đình bản vào 1 tháng 1 năm 1910. Như vậy có thể xác định thời gian tồn tại của Gia Định Báo là 44 năm từ 15.4.1865 đến 31.12.1909. 2. Tiến trình phát triển của Gia Định Báo
Xem thêm

24 Đọc thêm

TỪ ĐIỂN TỪ NGỮ GỐC CHỮ HÁN TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI (Từ đơn tiết) PGS. TS NGUYỄN BÁ HƯNG

TỪ ĐIỂN TỪ NGỮ GỐC CHỮ HÁN TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI (Từ đơn tiết) PGS. TS NGUYỄN BÁ HƯNG

Cuốn TỪ ĐIỂN TỪ NGỮ GỐC CHỮ HÁN TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI này được chúng tôi biên soạn xuất phát từ những nhận thức lí luận và kinh nghiệm thực tiễn sử dụng tiếng Việt trong xã hội Việt Nam ngày nay, đặc biệt là trong lĩnh vực từ ngữ gốc chữ Hán. Nhiệm vụ của cuốn sách này không phải là truy nguyên gốc Hán của từ vựng tiếng Việt, nghĩa là không mang tính lịch đại, mà là giải thích nghĩa và cách dùng từ ngữ gốc chữ Hán đang tồn tại trong ý thức ngôn ngữ văn hóa của người Việt hiện đại, nghĩa là thực hiện nhiệm vụ mang tính đồng đại. Những nhận thức lí luận và kinh nghiệm thực tiễn của chúng tôi có thể quy thành những điểm sau đây: 1. Chữ Hán theo dòng chảy lịch sử văn hóa vào nước ta từ thế kỉ I trước Công nguyên. Trong một thời gian dài chữ Hán được dùng làm ngôn ngữ chính thống của Nhà nước Việt Nam, còn tiếng Việt, có thể lúc này chưa có chữ viết, là ngôn ngữ bình dân dùng để giao tiếp trong cộng đồng cư dân sống trên lãnh thổ bản địa. Người Việt dùng chữ Hán để đọc những văn bản, giấy tờ công văn viết bằng chữ Hán và đọc chữ Hán theo âm Hán Đường, một cách phát âm riêng của người Việt đối với chữ Hán, gọi đó là âm Hán Việt. Những chữ Hán dùng trong tiếng Việt, biểu hiện nghĩa từ vựng tiếng Việt, cũng có thể gọi là từ Hán Việt. Những từ Hán Việt này làm giàu thêm vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt. Chúng tôi cố gắng lập bảng thống kê theo kiểu Từ Điển những từ ngữ thuộc loại này trong ngữ vựng tiếng Việt. 2. Con đường du nhập những từ có nguồn gốc chữ Hán vào tiếng Việt thường đi qua hai lối ngõ: 1) Lối ngõ vào để cấu tạo chữ Nôm và 2) Lối ngõ đi qua việc dịch các văn kiện, các tác phẩm thơ văn viết bằng chữ Hán ra Quốc ngữ chữ Nôm. Lối ngõ thứ nhất là để cấu tạo chữ Nôm. Chữ Nôm là Quốc ngữ có từ thời Lí Trần và được dùng song song với chữ Hán trong sáng tác thơ văn cho đến tận triều Nguyễn và rồi được thay thế bằng loại chữ viết và đọc theo vần Latinh hóa. Chữ Nôm là lối chữ mô phỏng từ chữ Hán đọc bằng Quốc âm. Chữ Nôm mô phỏng từ chữ Hán theo phép giả tá, hình thanh và hội ý. Chữ Hán theo phép giả tá đi thẳng vào chữ Nôm và đọc theo âm Hán Việt. Phép giả tá là phép mượn nguyên cả chữ Hán đọc theo âm Hán cổ để viết chữ Nôm. Lối ngõ thứ hai là thông qua việc dịch các văn kiện, các tác phẩm thơ văn viết bằng chữ Hán ra Quốc ngữ. Những khái niệm mà trong tiếng Việt không có từ để biểu hiện thì các nho sĩ người Việt dùng nguyên chữ Hán rồi phiên thiết ra Quốc ngữ. 3. Hán ngữ cũng như Việt ngữ là ngôn ngữ đơn âm tiết. Từ đơn tiết vốn là từ gốc, từ cơ bản trong ngữ vựng. Từ đa tiết là từ phái sinh. Từ đa tiết là kết cấu tạo từ mới theo mô hình cấu trúc tuyến tính từ tổ, gồm hai yếu tố đơn tiết. Số lượng từ đơn tiết (chữ, tiếng một) có gốc chữ Hán đi vào từ vựng tiếng Việt có tới 2.738 đơn vị trong tổng số 4.849 từ đơn tiếng Việt (chúng tôi không tính những từ mới du nhập ở thời cận hiện đại, sau khi Latinh hóa Quốc ngữ, như phanh, pan, xăng, xiếc, phim v. v…), chiếm tỉ lệ 56. 5%. Từ ngữ đa âm tiết là kết cấu tuyến tính gồm hai từ đơn tiết. Từ ngữ đa âm tiết đi vào tiếng Việt với số lượng rất lớn, tổng cộng có 22.371 đơn vị trong tổng số 36.451 mục từ trong ngữ vựng tiếng Việt hiện đại. Từ ngữ gốc chữ Hán chiếm tỉ lệ 61.3% trong tổng số từ đa tiết tiếng Việt. Chúng tôi không tính kể những từ ngữ mà trong đó chỉ có một yếu tố chữ Hán như tiễn đưa, tiễn chân, tầm thước, tầm vóc, yếu thế, ám khói, an lành, an lòng, ấm ớ, thong manh, manh mối v. v. Những yếu tố gốc Hán: tiễn, tầm, thế, ám, an, ấm, manh đã tính kể vào phần I. Tính trung bình từ và từ ngữ gốc chữ Hán chỉ chiếm 58.9% vốn từ vựng tiếng Việt hiện đại (PGS Cao Xuân Hạo khẳng định tỉ lệ hơn 70%1), Để biên soạn cuốn TỪ ĐIỂN TỪ NGỮ GỐC CHỮ HÁN này, chúng tôi đã cố gắng học tập rất nhiều tri thức và kinh nghiệm của các vị tiền bối trong lĩnh vực từ điển học nói chung và Từ điển Hán Việt nói riêng (xin xem phần Tài liệu tham khảo) kết hợp với những nỗ lực suy nghĩ, tìm tòi của cá nhân trong thực tiễn hoạt động của tiếng Việt, đặc biệt của từ vựng tiếng Việt hiện đại. Vì khả năng của chúng tôi hạn hẹp nên không tránh khỏi sai sót, kính mong quý vị độc giả lượng tình và góp ý chỉ bảo. Tác giả PGS. TS. Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Bá Hưng
Xem thêm

Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Khái quát lịch sử tiếng việt (tiếp theo)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO) I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 4. Quá trình phát triển của tiếng Việt 4.1. Tiếng Việt thời kì cổ đại Tiếng Việt thời kì thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú và một bản sắc riêng về ngữ pháp, ngữ âm. Đến thời kì tiếp theo, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán, với sức sống tiềm tàng, được sự chăm lo gìn giữ của nhân dân, tiếng Việt chẳng những không bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển không ngừng cả về ngữ âm, từ vựng. 4.2. Tiếng Việt thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Dưới sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, tiếng Việt chưa có chữ viết. Nhưng khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển văn hoá và kinh tế của đất nước trở nên bức thiết, trên cơ sở chữ Hán, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ để ghi tiếng Việt: chữ Nôm. Chữ Nôm bước đầu được sử dụng vào khoảng thế kỉ X – XIII; đến khoảng thế kỉ XV đã có thơ văn “quốc âm”, “quốc ngữ” viết bằng chữ Nôm. Từ thế kỉ XV trở về sau, nhất là ở thế kỉ XVIII – XIX, trào lưu văn chương Nôm phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu rực rỡ, tiếng Việt càng có những bước tiến rõ rệt, đạt đến trình độ tinh luyện và đậm đà bản sắc dân tộc. 4.3. Tiếng Việt thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 Ở thời kì này, tiếng Việt bước vào giai đoạn phát triển hiện đại, với chữ quốc ngữ. Được đặt ra từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX, nhất là từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ mới được truyền bá rộng rãi và trở thành phương tiện thông dụng trong mọi lĩnh vực. 4.4. Tiếng Việt thời kì từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Với vai trò một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện, kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tiếng Việt không ngừng phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lược đồ hoá các thời kì phát triển của tiếng Việt. Gợi ý: 2. Đã có những loại chữ viết nào dùng để ghi âm tiếng Việt? Những loại chữ viết ấy có vai trò quan trọng như thế nào đối với quá trình phát triển của tiếng Việt? Gợi ý: - Để ghi âm tiếng Việt, đã có hai loại chữ viết: chữ Nôm và chữ quốc ngữ; - Trong lịch sử phát triển của tiếng Việt, các hình thức chữ viết không những làm cho bản thân ngôn ngữ Việt hoàn thiện, phát triển mà còn có vai trò to lớn trong việc giúp cho tiếng Việt thành một ngôn ngữ văn hoá, là phương tiện văn hoá, tham gia một cách toàn diện vào đời sống xã hội. Nguồn : wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Phong cách ngôn ngữ báo chí

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái quát về phong cách báo chí a) Khái niệm: Là kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng báo in, đài phát thanh, đài truyền hình, internet…như tin tức, phóng sự, bình luận, tiểu phẩm, diễn đàn, thông tin quảng cáo… b) Đặc điểm: tính thông tin sự kiện; tính ngắn gọn; tính hấp dẫn. 2. Cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí a) Ngữ âm – chữ viết: Người nói phát âm chuẩn, đọc rõ ràng, tôn trọng người nghe; Người viết viết đúng quy cách. b) Từ ngữ: Dùng vốn từ toàn dân, đa phong cách, tuỳ thuộc nội dung bài viết có thể dùng các vốn từ chuyên môn của các ngành. c) Ngữ pháp: Câu văn rõ ràng, chính xác; thường dùng một số khuôn mẫu cú pháp nhất định. d) Biện pháp tu từ: Sử dụng phù hợp với từng thể loại. e) Bố cục trình bày: Rõ ràng, hợp lôgic, dễ tiếp thu. Một số thể loại có bố cục tương đối ổn định. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Hãy phân tích cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí được thể hiện trên trang nhất của một tờ báo mà anh (chị) đọc hàng ngày. Gợi ý: Tuỳ thuộc vào tờ báo thường hay đọc, khi phân tích chú ý nêu rõ: - Tên báo, ngày xuất bản, báo thường dành cho đối tượng nào? - Trang nhất đề cập đến những vấn đề gì? - Phông chữ của mỗi phần? Những từ nào được viết tắt, viết hoa? Cách viết từ nước ngoài như thế nào? Sử dụng từ toàn dân không? Sử dụng từ chuyên ngành không, của ngành nào, có phù hợp nội dung bài viết không?... - Câu văn có rõ ràng chính xác không? Tên bài báo được đặt bằng cụm từ hay câu? có ngắn gọn không? Các bản tin được mở đầu như thế nào? - Lời dẫn gián tiếp, trực tiếp được sử dụng, trình bày như thế nào? - Có sử dụng biện pháp tu từ không? - Bố cục, cách trình bày của trang báo? ý nghĩa của việc trình bày? (Nhằm nhấn mạnh điều gì?...) - Những đặc điểm trên có được sử dụng tương đối ổn định trong các số báo không hay chỉ mang tính nhất thời?  2. Sắp đến, mỗi tháng, lớp anh (chị) sẽ ra một tờ báo tường phản ánh các mặt sinh hoạt, học tập của lớp. Hãy viết một bài giới thiệu (như là thư ngỏ) đăng vào số đầu tiên, cổ động cho tờ báo. Gợi ý:  - Đặt tên cho bài viết (Chẳng hạn: “Thư ngỏ’, “Lời muốn nói”, “Cùng chia sẻ”…) - Hô ngữ (“Các bạn thân mến!”, “Tập thể 11…yêu quý!”, “Thưa các bạn”…). - Lí do ra đời của tờ báo, xuất phát từ nhu cầu - yêu cầu thực tế của tập thể (Chẳng hạn: “Chia sẻ là một điều không thể thiếu trong đời sống tinh thần của chúng ta. Hơn thế, chúng ta còn cần học tập, trao đổi với nhau trong học tập, cuộc sống…Để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó của mỗi thành viên trong tập thể, BCH Chi đoàn 11…quyết định cho ra đời tờ Nguyệt san của lớp.) - Nội dung dự kiến của báo? (báo sẽ viết về những vấn đề gì?) - Lời mời gọi tham gia ủng hộ cho báo (Chẳng hạn: tờ Nguyệt san sẽ là cây cầu nối những bờ tâm tư của thành viên trong tập thể 11…yêu quý. Vậy rất mong các bạn sẽ cùng đọc, cùng gửi bài chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, những kinh nghiệm học tập, những kiến nghị đề xuất, ... Mọi thư từ bài vở xin gửi về…). - Có thể dùng một câu Khẩu hiệu để cổ vũ (Chẳng hạn: Hãy sẻ chia để đón nhận”, “Hãy nối bờ yêu thương”…) - Lời cảm ơn. 3. Đặt tên cho tin ngắn. Có thể đặt một số tên như sau cho tin ngắn: Hiến máu nhân đạo dự trữ cho SEA Games 22, Hiến máu nhân đạo vì SEA Games 22, Hiến máu - tiếp sức SEA Games 22, ...
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra đề nghị: Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ. Đề nghị của Bác đã được Hội đồng Chính phủ thông qua thành quyết định. Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ; tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất học
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC, LICH SU BAO CHI CUỘC ĐỜI HOÀNG TICH CHU

TIỂU LUẬN CAO HỌC, LICH SU BAO CHI CUỘC ĐỜI HOÀNG TICH CHU

tạp chí, trong đó báo, tạp chí Việt văn chiếm 25%. Trên các báo, những bàiviết đều rất rườm rà, nhiều chữ nho, điển tích khó hiểu và thường giảnggiải luân lý, triết học, học thuật dài dòng, rối rắm nhưng ít lượng thông tin.Hoàng Tích Chu đã thực hiện cách tân tờ báo toàn diện cả về nội dung lẫnhình thức. Ông sử dụng lối văn mới, dễ hiểu, giàu lượng thông tin… đãmang lại một luồng gió mới đầy sinh khí, làm cho văn phong báo chí lúcđó thật giàu sức sống. Khác với những bài xã luận của các báo thường dàidòng, Hoàng Tích Chu viết xã luận ngắn gọn, sắc sảo, hàm súc như khẩuhiệu. Tin tức được in ở trang nhất (trước kia thường ở trang 2 - 3). Tin quantrọng có tính thời sự nóng hổi được in nổi bật. Ban đầu, độc giả phê phánHoàng Tích Chu lập dị, văn lai Tây, câu cụt, thô. Báo ít người đọc. Sốlượng phát hành giảm sút thê thảm. Ông chủ báo đành phải mời hai nhàcách tân nghỉ việc.Hoàng Tích Chu cùng với Phùng Tất Đắc, Phùng Bảo Thạch, TạĐình Bình cho xuất bản tờ Đông Tây nổi tiếng một thời, số 1 ra ngày 1511-1929, quy tụ nhiều cây bút có tư tưởng cách tân như Phan Khôi, PhùngTất Đắc, Tô Ngọc Vân, Vi Huyền Đắc, Hoàng Ngọc Phách… Hoàng TíchChu lấy bút danh Văn Tôi, để khẳng định cách thức viết báo mới, ý thứctrách nhiệm nghề nghiệp, đồng thời thử thách một lối hành văn mới trongsáng, súc tích… Báo Đông Tây đã được độc giả và báo giới đón nhận nhiệtthành và trở thành tờ báo bán chạy nhất Bắc Kỳ lúc đó… Các báo Côngdân, Nhân loại… xuất bản cùng thời đã chịu ảnh hưởng rõ nhất văn phongHoàng Tích Chu. Hoàng Tích Chu cho rằng, nghề làm báo cũng như nhiềunghề khác phải chịu sức ép của luật cạnh tranh nhưng đó là sự cạnh tranhlành mạnh, bằng chính chất lượng nội dung và hình thức của tờ báo… Ôngkêu gọi đồng nghiệp: “Muốn tăng trình độ cho người đọc báo, ta nên tăngtrình độ cho ta trước”. Lời khuyên đó cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều ý6
Xem thêm

Đọc thêm

Khái quát Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cách mạng tháng tám 1945

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Hoàn cảnh xã hội mới, văn hóa mới của văn học -------------------------------------------------------------------------------- - Thực dân Pháp đẩy mạnh 2 cuộc khai thác thuộc địa: lần thứ nhất (1897 - 1913) và lần thứ hai (1918 - 1929). Vơ vét nguyên liệu, bóc lột bằng sưu thuế dã man. - Chế độ thực dân nửa phong kiến. - Từ 1940 - 1945, Pháp 2 lần bán nước ta cho pháp xít Nhật. - Giai cấp phong kiến mất dần địa vị thống trị. Nông dân bị bần cùng hóa. Tầng lớp tiểu tư sản đông dần lên. Giai cấp vô sản xuất hiện. Giai cấp tư sản ra đời. Xã hội Việt Nam bị phân hóa dữ dội. - Bỏ kỳ thi chữ Hán (1915 - 1919). Trường Pháp - Việt và học chữ quốc ngữ học tiếng Pháp. Báo chí và nhà in. Viết văn viết báo đã thành một nghề - Ảnh hưởng của văn học Pháp. Một thế hệ thanh niên tân học, một thế hệ văn sĩ cầm bút sắt ra đời có điệu sống mới, cảm xúc mới, vốn nghệ thuật mới, khác nhiều so với lớp thi sĩ nho gia ngày trước. - Các phong trào cách mạng: Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, Duy Tân, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nam Kỳ, Bắc Sơn, Đô Lương… lần lượt bị thực dân Pháp tắm trong các bể máu. Tháng 8.1945, Cách mạng mới thành công. Sự đổi mới của văn học theo yêu cầu hiện đại hoá -------------------------------------------------------------------------------- - Văn học vẫn là tiếng nói yêu nước. Một nét mới là nói đến nước là nói đến dân: “Dân là dân nước, nước là nước dân”. Từ năm 1930, lòng yêu nước đã gắn liền với lý tưởng cách mạng khi “Mặt trời chân lý, chói qua tim” (Từ ấy). - Văn học đổi mới theo hướng hiện đại. Bên cạnh con người công dân đã có con người tự nhiên, con người cá nhân. Tình yêu lứa đôi và nỗi buồn… trở thành cảm hứng nổi trội. - Chữ quốc ngữ và báo chí tạo tiền đề cho sự phát triển các thể loại hiện đại: thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút, kịch nói, nghiên cứu phê hình văn học. - Ngôn ngữ văn học dần trở nên trong sáng giản dị, gãy gọn, hiện đại. Có thể nói, nửa đầu thế kỷ 20, nền văn học Việt Nam đã đổi mới và hiện đại ngày một rộng lớn và sâu sắc, tạo nên những giá trị mới về văn chương. Thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết… là thành tựu nổi bật. Nó thể hiện sức sống mãnh liệt, dồi dào của đất nước, dân tộc ta, … Chữ quốc ngữ đã thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm. Diện mạo văn học -------------------------------------------------------------------------------- 1. Hai thập kỷ đầu - Thơ văn của Tú Xương và Nguyễn Khuyến: bút pháp cổ điển, trung đại. - Thơ văn yêu nước và cách mạng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà chí sĩ yêu nước khác. Sục sôi nhiệt huyết, hấp dẫn sôi trào trong loại hình thơ văn tuyên truyền cổ động cách mạng: “Hải ngoại huyết thư”… 2. Những năm hai mươi - Thơ văn yêu nước và cách mạng có thêm những cây bút mới như Trần Huy Liệu, Phạm Tất Đắc, đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp. - Văn xuôi ghi được thành tựu ban đầu của các tên tuổi: Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách… ở ngoài Bắc, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình… ở trong Nam. Tiểu thuyết “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách như một cái mốc đánh dấu sự ra đời của tiểu thuyết và văn chương lãng mạn Việt Nam. - Về thơ ca thì có thi sĩ Tản Đà và Trần Tuấn Khải. Tản Đà là nhà thơ “của hai thế kỷ”. Trần Tuấn Khải với cảm hứng yêu nước, với chất dân ca, đậm đà cái hồn dân tộc. - Kịch nói với Vũ Đình Long, Nam Xương… Tóm lại, cả thơ và văn xuôi đã có dấu hiệu phân chia khuynh hướng sáng tác theo kiểu lãng mạn và hiện thực. 3. Từ năm 1930-1945 - Văn thơ yêu nước, thành tựu nổi bật là “Từ ấy” (1937-1946) của Tố Hữu và “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh. - Văn học hiện thực xuất hiện nhiều cây bút thực sự tài năng: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phục, Nam Cao… “Số đỏ” và “Chí Phèo” là hai kiệt tác. - Văn học lãng mạn - Thơ mới (1932-1941) được đánh giá là “một thời đại thi ca” với một lớp thi sĩ tài hoa như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, v.v… Tiểu thuyết lãng mạn với tên tuổi các nhà văn xuất sắc: Khái Hưng với Nửa chừng Xuân, Nhất Linh với Đoạn tuyệt, Thạch Lam với Gió đầu mùa, Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời” v.v… Cội nguồn của giá trị văn học -------------------------------------------------------------------------------- 1. Sự trỗi dậy và tiếp nối của sức sống dân tộc tạo nên tâm hồn Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam, thúc đẩy sự đổi mới và hiện đại hóa nền văn học Việt Nam. 2. Tự sự trỗi dậy của cái Tôi - Cá nhân. Tình yêu lứa đôi, nỗi buồn, ước mơ và khao khát, đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên và cuộc đời. Kết luận -------------------------------------------------------------------------------- 1. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo trong nền văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính thời đại. 2. Chữ quốc ngữ, thơ mới và tiểu thuyết là 3 thành tựu nổi bật của sự đổi mới và hiện đại hóa nền văn học Việt Nam.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIẾNG PHÁP VÀ NỀN HỌC CHÍNH TẠI ĐÔNG DƯƠNG

TIẾNG PHÁP VÀ NỀN HỌC CHÍNH TẠI ĐÔNG DƯƠNG

khó hơn. Nó cũng có một cái hay khác là bắc cầu liên hệ trực tiếp giữa ngườithống trị và kẻ bị trị, và xóa bỏ đẳng cấp thầy ký babous chớm nảy sinh.Cái nghĩa vụ gần như là không tốn kém gì, hay rất ít, tùy thời tùy chốn được từtừ thi hành, chắc chắn là ngàn lần ít khắc nghiệt cho người nông dân An Namhơn một thứ nghĩa vụ khác họ vẫn thường gánh chịu hàng ngày là thuế má.Chính cái nghĩa vụ này mới thật là khắc nghiệt. Như mọi nơi, trẻ con vốn thừathì giờ rảnh rỗi.Còn về phản ứng của nòi giống này khi đem áp dụng nguyên tắc áp đặt trongmột vấn đề mà họ sẽ thấy rõ ích lợi trong thời gian rất ngắn, tôi xin nhắc lạichuyện thời ban đầu của công cuộc chinh phục, nếu không có thông tư của đôđốc Bonnard, hầu hết làng xã vùng Sài Gòn đã xôn xao bàn việc ồ ạt theo đạoCa-tô, đạo mà họ mới vừa bài bác kỳ thị ngày hôm trước, vì họ cho rằng thaychính thể mới phải cải đạo theo tôn giáo của chính thể mới.Việc giảng dạy tiếng Pháp cần được tổ chức sắp xếp tầng lớp như học chữ nhotrước đây. Tại cơ sở, các làng xã, ta dạy tiếng Pháp tóm-gọn ; cao hơn, tại trườnghọc của thủ phủ các địa hạt ta dạy tiếng Pháp giáo khoa, cao hơn nữa ta có cáctrường chuyên nghiệp và các trường trung học tương đương với các trường hiệncó tại Sài Gòn , chỉ thu nhận một thành phần ưu tú ít ỏi. Hiện nay, ta đã tạm cóhai tầng trên, nhưng tại cơ sở thì hoàn toàn thiếu sót; chỉ có trường tổng dạy chữquốc-ngữ , và chính sách giảng dạy tiếng Pháp không nhắm đến quảng đại quầnchúng.Theo ý tôi, các cá nhân, dù xuất sắc đến đâu, cũng không có ích lợi thật sự nàokhác ngoài việc đóng vai trò làm mẫu mực để lôi cuốn quần chúng.Việc quảng bá thứ tiếng Pháp tóm-gọn này là một công trình tế nhị nhất, đòi hỏinơi ta mọi cố gắng, mọi chú tâm. Phải quảng bá nó trong giới phụ nữ, và mở racác trường sư phạm cho họ. Đây là một cuộc cách mạng mang lại nhiều lợi ích,với tầm mức ảnh hưởng lâu dài không thể lường được. Tôi chợt nhớ đến lời củamột trong những quan chức cao cấp bản xứ của ta vừa mới qua Pháp gần đây.Tháng chín , tôi gặp tại Royat 28, quan phủ Phương từ Chợ Lớn qua. Ông ta nói"Phụ nữ chúng tôi mê say bài bạc. Họ không như phụ nữ Pháp biết tìm giải trí
Xem thêm

50 Đọc thêm

TIỂU LUẬN : NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HỌC NGOẠI NGỮ THÀNH CÔNG Ở VN

TIỂU LUẬN : NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HỌC NGOẠI NGỮ THÀNH CÔNG Ở VN

Bài báo này trình bày một nghiên cứu trường hợp của một người học ngoại ngữ thành công ở Việt Nam. Có hai khu vực của một người học ngôn ngữ tốt thảo luận trong nghiên cứu này, đó là những đặc điểm người học và điều kiện học tập. Bài viết này được chia thành bốn phần chính. Trong phần đầu tiên, tờ báo cung cấp các nền tảng của nghiên cứu, tuyên bố của các vấn đề, mục tiêu của nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu này là tốt. Trong phần thứ hai, khái niệm chính, khung lý thuyết và nghiên cứu trước đó liên quan đến chủ đề được xem xét. Phần tiếp theo đề với cách nghiên cứu được tiến hành. Cụ thể, nó liên quan đến bối cảnh của nghiên cứu, mô tả của người tham gia, câu hỏi nghiên cứu, mô tả các công cụ thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu. Phần cuối cùng của nghiên cứu này cung cấp cho các kết quả và thảo luận về phân tích các đặc điểm người học và điều kiện học tập. Hơn nữa, các ứng dụng của lý thuyết ngôn ngữ học trong việc phân tích các trường hợp nghiên cứu cũng được đề cập.
Xem thêm

43 Đọc thêm

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CỦA BÁO IN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CỦA BÁO IN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài: Như chúng ta đã biết, cùng với sự phát triển của xã hội thì báo chí cũng phát triển theo như một nhu cầu thiết yếu của con người. Đó là sự nâng lên về chất lượng, gia tăng về số lượng và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các loại hình báo chí. Là loại hình báo chí ra đời đầu tiên trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, báo in đã có đạt được những thành tựu đáng kể, và cũng đã từng là loại hình nắm giữ ngôi vị hoàng kim trong hệ thống báo chí. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, khoa học kĩ thuật, các loại hình báo chí hiện đại lần lượt được ra đời. Mở đầu là báo phát thanh, tiếp đến là báo truyền hình, và mới nhất là báo mạng điện tử. Sự ra đời của các loại hình báo chí hiện đại, với nhiều ưu thế vượt bậc, mà nổi bật là sự nhanh chóng về tốc độ thông tin, đã là một khó khăn không nhỏ cho sự tồn tại và phát triển của báo in. Thực tế cho thấy, chưa bao giờ báo chí truyền thông lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Chỉ riêng ở nước ta đã có tới 789 cơ quan báo chí, với hơn 1.016 ấn phẩm, trong đó có 194 cơ quan (gồm 81 báo Trung ương, 113 báo địa phương); tạp chí có 592 cơ quan (gồm 475 tạp chí trung ương và 117 tạp chí địa phương); 67 đài phát thanh,truyền hình Trung ương và địa phương (gồm 2 đài quốc gia, 1 đài truyền hình kỹ thuật số, 64 đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh. Trong lĩnh vực thông tin điện tử, đã có 6 tờ báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin tổng hợp…Sự ra đời và phát triển của các loại hình báo chí một mặt đem lại sự đa dạng và phong phú về thông tin, một mặt cũng mang lại sự cạnh tranh gay gắt giữa các loại hình báo chí này. Sự cạnh tranh đang làm cho nhiều tờ báo in, dù là nhỏ hay lớn đang đứng bên bờ vực thẳm. Chính vì thế, vấn đề đang đặt ra cho báo in hiện nay là phải tìm được hướng đi mới, nâng cao chất lượng để có thể giữ chân độc giả, tăng số lượng phát hành, tăng doanh thu, nhưng vẫn trên cơ sở giữ vững tôn chỉ, mục đích của tờ báo, đi đúng với những quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước, là nơi tin cậy cho công chúng tìm đến. Và để làm được điều đó trong một cơ chế xã hội có nhiều khó khăn như hiện nay thì điều quan trọng và thiết yếu để có thể đưa báo in đứng vững và phát triển là phải tìm hiểu, phân tích rõ những khó khăn, hạn chế của loại hình báo chí này, từ đó đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay. Trước thực trạng đó của báo in, tôi chọn đề tài “Những khó khăn, hạn chế của báo in và cách khắc phục” làm đề tài nghiên cứu của mình. Và tôi cho rằng đây cũng đang là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu giúp tìm ra những giải pháp và hướng đi để báo in vẫn giữ được vị thế của mình.
Xem thêm

50 Đọc thêm

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIX

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIX

Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX tồn tại và phát triển trong lòng xã hội và văn hoá phong kiến được gọi là Văn học trung đại Việt Nam. Các giai đoạn phát triển 1. Giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. - 3 cuộc kháng chiến vĩ đại: thời Lý đánh bại giặc Tống; thời Trần ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông; thời Lê đánh đuổi quân "cuồng Minh" tàn bạo. - Chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật, đạo Nho và đạo Lão; sâu sắc nhất và bao trùm nhất là đạo Nho. - Văn học Hán Nôm thấm nhuần tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí chống xâm lăng. Tác giả tiêu biểu nhất: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông. 2. Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. - Chế độ phong kiến khủng hoảng. Nội chiến Nam - Bắc triều; Trịnh - Nguyễn phân tranh. Khởi nghĩa nông dân nổi lên như vũ bão. - Văn thơ chữ Nôm phát triển mạnh. Cảm hứng nhân đạo dào dạt nói lên nỗi đau thương của con người, biểu lộ tấm lòng thương dân lo đời. Tác giả tiêu biểu nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ.... 3. Giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX. Chế độ phong kiến Việt Nam (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) khủng hoảng trầm trọng và sụp đổ. Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn quét sạch thù trong giặc ngoài. Gia Long thiết lập triều Nguyễn. Nước ta rơi vào hiểm hoạ xâm lăng của thực dân Pháp. - Thiên chúa giáo được truyền vào nước ta. Chữ quốc ngữ xuất hiện. - Văn học viết Hán, Nôm phát triển rực rỡ. Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm văn chương. "Chinh phụ ngâm", "Cung oán ngâm khúc","Truyện kiều"... là những áng thơ kiệt tác. Tên tuổi những nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan sáng chói cùng với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát..... 4. Giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. - Thực dân Pháp xâm lăng, rồi thống trị nước ta. Phong trào yêu nước chống Pháp. - Bắt đầu có văn thơ viết bằng chữ quốc ngữ. Giai đoạn cuối cùng của văn học chữ Nôm. Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... là những nhà thơ tiểu biểu nhất giai đoạn này. Mấy đặc điểm lớn về nội dung 1. Cảm hứng yêu nước. 2. Cảm hứng nhân đạo. Mấy đặc điểm lớn về hình thức 1. Yếu tố Hán và yêu cầu dân tộc hoá hình thức văn học. 2. Tính quy phạm và việc phá vỡ tình quy phạm. 3. Phạm vi và quy mô kết tinh nghệ thuật của văn học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

tiểu luận Hoạt động xuất bản với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẦN MỞ ĐẦU Sơ lược về Hoạt động xuất bản tác động của hoạt động xuất bản với việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Xuất bản như một ngành khoa học mới được xây dựng ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX. Đây là khoa học không chỉ rất mới ở nước ta mà cũng còn mới đối với thế giới. Hoạt động xuất bản, theo các tài liệu sử học, đã xuất hiện ngay từ thế kỉ thứ I trước công nguyên ở Rome, khi truyền thông xã hội phát triển và hoạt động xuất bản hình thành và phát triển cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, Hoạt động xuất bản (xuất bản sách) xuất hiện ngay từ thời cổ trung đại. Cơ sở đầu tiên của việc có sách và nghề xuất bản sách là việc xuất hiện ngôn ngữ và chữ viết. Ở nước ta, chữ Hán là văn tự đầu tiên, du nhập vào Việt Nam ngay từ thời Triệu Đà ( 207137 TCN)… Chữ Hán đã thành phương tiện học tập và ghi chép đối với người Việt từ đầu công nguyên. Từ thế kỉ thứ VIII thì chữ Hán được sử dụng khá phổ biến, để soạn thảo kinh phật, viết văn sách…
Xem thêm

47 Đọc thêm

NHỮNG GƯƠNG mặt TIÊU BIỂU PHONG TRÀO “THƠ MỚI”

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU PHONG TRÀO “THƠ MỚI”

THƠ MỚI là một trào lưu thơ Việt Nam xuất hiện từ khoảng 1932 đến khi nổ ra cuộc cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là nền thơ mang phong cách hiện đại tương tự thơ phương Tây thế kỉ XIX và XX, khác hẳn thi ca Việt Nam trong tất cả các thời đại quá khứ. Như vậy, xét tổng thể lịch sử thi ca Việt Nam thành văn (không kể ca dao và thơ ca bình dân) thì từ xưa đến nay chỉ có ba nền thơ căn bản: Một là thơ chữ Hán (ra đời khoảng thế kỉ XI), chịu ảnh hưởng nặng của thơ Trung Hoa. Hai là thơ Nôm – dòng thơ đích thực của dân tộc ta, được sáng tạo bằng ngôn ngữ Việt ra đời vào khoảng thế kỉ XII – XIII và phát triển trong suốt một thời gian dài đến tận cuối thế kỉ XX. Sau khi chữ quốc ngữ được dùng phổ biến trong toàn quốc thì dòng thơ Nôm này dần dần được viết bằng chữ quốc ngữ thay vì bằng chữ Nôm (thi nhân đi đầu tiêu biểu cho cách viết mới mẻ này là Tản Đà). Ba là Thơ Mới, ra đời vào năm 1932 với bài “Tình già” của Phan Khôi. Thơ Mới kết quả của cuộc hội nhập giữa nền thơ truyền thống dân tộc với nền thơ phương Tây – có thể coi là một cuộc cách mạng ở nửa đầu thế kỉ XX, đã khép lại vĩnh viễn thời đại thơ cổ điển và “thơ cũ” nói chung trong quá khứ. Đối với danh từ THƠ MỚI: Nếu hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là tên gọi của một trào lưu thơ Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX, mà là một phương pháp sáng tác mới về căn bản thì hầu hết thơ Việt Nam cho đến tận đầu thế kỉ XXI này vẫn nằm trong khuôn khổ của Thơ Mới. Bởi vì, mặc dù có nhiều người cố tình tìm cách sáng tạo ra những kiểu thơ khác với nó (như thơ “chôn tiền chiến” của Trần Dần hay “thơ vụt hiện”…) nhưng đều hoặc là đi vào ngõ cụt, hoặc cũng chỉ là hành động “vẽ rắn thêm chân” cho chính Thơ Mới mà thôi. Cho đến nay hoàn toàn chưa xuất hiện một phương pháp sáng tác mới nào khả dĩ thay thế được Thơ Mới. Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, cùng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những nhân tố mới của chủ nghĩa tư bản phương Tây, của nền văn minh phương Tây nói chung, đã dần dần xâm nhập và ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam. Nền khoa cử phong kiến dần dần bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ được thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Văn xuôi hiện đại, báo chí, ngành xuất bản xuất hiện. Một tầng lớp trí thức “Tây học” được Pháp đào tạo để phục vụ trong bộ máy nhà nước thuộc địa, trong đó có một số người được du học tại Pháp (như Nguyễn Tường Tam, Nguyễn An Ninh…). Tiếng Pháp chiếm địa vị quan trọng hơn tiếng Việt trong các nhà trường và trở thành tiếng nói khá phổ biến trong các xã hội thành thị, nhất là giới trí thức và giới công chức. Nói một cách dễ hiểu, vì chính quốc là một nước tư bản lớn nên thuộc địađương nhiên phải chịu ảnh hưởng về mọi mặt của chính quốc. Trong thời đại “Âu hoá” ấy, xã hội và con người Việt Nam, nhất là ở các đô thị, đã trải qua một sự biến cải sâu sắc phản ánh tính tất yếu lịch sử (từ phong kiến tiến lên tư bản, cho dù bị hạn chế rất nhiều tại thuộc địa). Từ những hoạt động kinh tế, những sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, những giá trị tinh thần hết sức mới mẻ như “tự do luyến ái”, vai trò của cái tôi nhân bản (sản phẩm đặc trưng của chủ nghĩa tư bản), tất cả đều khác xa với thời đại phong kiến trước đó. Khuynh hướng thường được tô vẽ bằng cụm từ rất kêu “văn minh Âu hoá” tỏ ra có sức cuốn hút mạnh mẽ không gì ngăn cản được. Sự “đua đòi” theo lối sống “tân thời” đã khiến nhà thi sĩ “chân quê” Nguyễn Bính lúc mới đầu phải hoảng sợ kêu van: Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi… Nói ra sợ mất lòng em, Van em em hãy giữ nguyên quê muà… Trước ngưỡng cửa của một thời đại mới, nền văn minh và văn hoá truyền thống của Việt Nam đã gặp gỡ, giao thoa với nền văn minh và văn hoá phương Tây, tạo nên một nền văn minh, văn hoá mới chưa từng có. Có thể nói, một cuộc cách mạng văn hoá đã diễn ra trong nửa đầu thế kỉ XX trên mọi lĩnh vực: thi ca, văn xuôi, âm nhạc, kịch nghệ, hội hoạ, kiến trúc, báo chí… Thơ Mới xuất hiện trong cuộc cách mạng văn hoá ấy, đăng đàn vào năm 1932 và bước vào thời kì hoàng kim trong mười năm kế tiếp. Cùng với các loại hình văn hoá khác, Thơ Mới, mặc dù căn bản là thơ lãng mạn, vẫn phản ánh được thiên nhiên và đất nước Việt Nam, đặc biệt phản ánh cái “không khí của thời đại mới”, phản ánh số phận, đời sống vật chất và tinh thần của nhiều hạng người, phản ánh bộ mặt xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Thơ Mới xuất hiện với một khí thế hào hứng, sôi nổi chưa từng có, tựa như một dàn hợp xướng của trí tuệ và tâm hồn con người thời đại (với muôn màu muôn vẻ) nhất tề vang lên trong vẻ đẹp của một nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ và tuyệt vời. Chính vì vậy, ngay khi mới ra đời, Thơ Mới đã mau chóng chiếm được tim óc của đông đảo người Việt Nam từ thành thị đến nông thôn (riêng ở nông thôn, thơ Nguyễn Bính được quần chúng ưa thích như một thứ ca dao mới). Phái “thơ cũ” của “các thầy đồ cổ” sau một thời gian tỏ thái độ chống đối kịch liệt hoặc dè bỉu, hoài nghi… rốt cuộc đã phải chấp nhận… cáo chung
Xem thêm

30 Đọc thêm

Báo lá cải luận văn tốt nghiệp

BÁO LÁ CẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

1. Lý do chọn đề tài Báo chí có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị xã hội. Nó là vũ khí sắc bén trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Kể từ khi tờ báo Thanh niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra số đầu tiên (2161925) đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử báo chí Việt Nam, khai sinh ra nền báo chí cách mạng, góp phần giải phóng con người giành độc lập cho dân tộc. C.Mác và Ph.Ăngghen có một nhận xét rất đúng về báo chí: Nghĩa vụ của giới báo chí, là phải bênh vực những người bị áp bức xung quanh mình. ... Chỉ đấu tranh nói chung chống nhưng quan hệ tồn tại và chống nhà cầm quyền cấp cao thôi chưa đủ. Báo chí phải đấu tranh chống lại viên hiến binh này, viên công tố này, viên tổng đốc này. ... Nhiệm vụ đầu tiên của báo chí hiện nay là: Phá hủy toàn bộ những cơ sở của chế độ chính trị hiện tồn( ). Từ trước đến nay, Báo chí vẫn luôn là nguôn tin đáng tin cậy của bạn đọc, tuy nhiên , tồn tại song song với báo Đảng , bạn đọc còn được tiếp nhận được nhiều thông tin từ “báo lá cải”. Những thông tin chưa được qua chọn lọc và kiểm duyệt. Chọn đề tài Báo lá cải làm đề tài như một cách đưa quan điểm của các nhà nghiên cứu Báo lá cải đến với bạn đọc, đồng thời thể hiện quan điểm của bản thân về vấn đề vô cùng nhạy cảm và nóng bỏng này. Thông qua việc nghiên cứu Báo Lá Cải ở Việt Nam sẽ gián tiếp giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về điểm mạnh và điểm yếu của nó để bạn đọc có thể tiếp nhận thông tin một cách có chọn lọc hơn .
Xem thêm

35 Đọc thêm

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 4. Quá trình phát triển của tiếng Việt 4.1. Tiếng Việt thời kì cổ đại Tiếng Việt thời kì thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú và một bản sắc riêng về ngữ pháp, ngữ âm. Đến thời kì tiếp theo, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán, với sức sống tiềm tàng, được sự chăm lo gìn giữ của nhân dân, tiếng Việt chẳng những không bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển không ngừng cả về ngữ âm, từ vựng. 4.2. Tiếng Việt thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Dưới sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, tiếng Việt chưa có chữ viết. Nhưng khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển văn hoá và kinh tế của đất nước trở nên bức thiết, trên cơ sở chữ Hán, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ để ghi tiếng Việt: chữ Nôm. Chữ Nôm bước đầu được sử dụng vào khoảng thế kỉ X – XIII; đến khoảng thế kỉ XV đã có thơ văn “quốc âm”, “quốc ngữ” viết bằng chữ Nôm. Từ thế kỉ XV trở về sau, nhất là ở thế kỉ XVIII – XIX, trào lưu văn chương Nôm phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu rực rỡ, tiếng Việt càng có những bước tiến rõ rệt, đạt đến trình độ tinh luyện và đậm đà bản sắc dân tộc. 4.3. Tiếng Việt thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 Ở thời kì này, tiếng Việt bước vào giai đoạn phát triển hiện đại, với chữ quốc ngữ. Được đặt ra từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX, nhất là từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ mới được truyền bá rộng rãi và trở thành phương tiện thông dụng trong mọi lĩnh vực. 4.4. Tiếng Việt thời kì từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Với vai trò một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện, kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tiếng Việt không ngừng phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lược đồ hoá các thời kì phát triển của tiếng Việt. 2. Đã có những loại chữ viết nào dùng để ghi âm tiếng Việt? Những loại chữ viết ấy có vai trò quan trọng như thế nào đối với quá trình phát triển của tiếng Việt? Gợi ý: - Để ghi âm tiếng Việt, đã có hai loại chữ viết: chữ Nôm và chữ quốc ngữ; - Trong lịch sử phát triển của tiếng Việt, các hình thức chữ viết không những làm cho bản thân ngôn ngữ Việt hoàn thiện, phát triển mà còn có vai trò to lớn trong việc giúp cho tiếng Việt thành một ngôn ngữ văn hoá, là phương tiện văn hoá, tham gia một cách toàn diện vào đời sống xã hội. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề