BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT Ở NGƯỜI LỚN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT Ở NGƯỜI LỚN":

TÌM HIỂU VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

TÌM HIỂU VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

C36457891210Câu 6AI SẼ LÀ NGƯỜI BỊ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT ?A. TRẺ EMB. NGƯỜI GIÀ VÀ PHỤ NỮC. MỌI NGƯỜICCâu 710123456789KHI CÓ NGƯỜI TRONG NHÀ BỊ BỆNH SỐTXUẤT HUYẾT PHẢI LÀM GÌ?AA. ĐƯA NGAY ĐẾN TRẠM Y TẾB. MUA THUỐCC. KHÔNG ĐÁNG LO, BỆNH TỰ KHỎICâu 8 :

15 Đọc thêm

Nghiên cứu biến đổi albumin máu với tình trạng tăng tính thấm thành mạch, rối loạn đông máu trong bệnh nhiễm Dengue người lớn (FULL TEXT)

Nghiên cứu biến đổi albumin máu với tình trạng tăng tính thấm thành mạch, rối loạn đông máu trong bệnh nhiễm Dengue người lớn (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU Bệnh nhiễm dengue là một vấn đề y tế công cộng quan trọng ở hầu hết các nước Châu Á nhiệt đới và Châu Mỹ La Tinh [92]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), bệnh này là một trong 10 nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu ở các quốc gia vùng châu Á nhiệt đới [20]. Do ý nghĩa quan trọng của bệnh ảnh hưởng sức khỏe công cộng, TCYTTG cũng đã có hướng dẫn chẩn đoán và xử trí bệnh từ năm 1997. Hướng dẫn này dựa vào các biểu hiện thoát huyết tương trên lâm sàng chia ra làm 2 thể bệnh: nhiễm dengue không có thoát huyết tương (sốt dengue) và nhiễm dengue có thoát huyết tương (sốt xuất huyết dengue) . Đến cuối năm 2009, dựa trên kết quả của một nghiên cứu lâm sàng tiền cứu đa trung tâm, TCYTTG đã công bố hướng dẫn chẩn đoán và điều trị mới, với cách phân độ nặng mới: nhiễm dengue có hoặc không có dấu hiệu cảnh báo nặng và nhiễm dengue nặng [92]. Trong quá khứ, bệnh nhiễm dengue thường xảy ra ở trẻ em nhưng khoảng 10 năm gần đây, số trường hợp mắc bệnh ở người lớn có khuynh hướng gia tăng tại nhiều quốc gia khu vực Đông Nam Á cũng như ở Việt Nam. Theo khảo sát của Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh, năm 2012 ở các tỉnh thành khu vực Phía Nam Việt Nam số ca nhiễm dengue người lớn chiếm khoảng 42% tổng số trường hợp mắc bệnh [5]. Khuynh hướng gia tăng lứa tuổi mắc bệnh và sự thay đổi về dự hậu của người bệnh nhiễm dengue đã tạo ra những thách thức mới về điều trị và đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu để tìm hiểu cơ chế bệnh sinh của sự khác biệt nói trên ở hai nhóm đối tượng người lớn và trẻ em. Những công trình nghiên cứu về bệnh nhiễm dengue lâu nay được thực hiện phần lớn trên trẻ em, cho thấy người bệnh có thể tử vong do biến chứng thoát huyết tương hoặc xuất huyết nặng. Thoát huyết tương nặng (sốc dengue) làm tăng tỷ lệ tử vong gấp 50 lần so với nhiễm dengue không sốc [37]. Xuất huyết nặng cũng là một trong những biến chứng nặng của bệnh [92]. Đa số các nghiên cứu khi đánh giá tình trạng thoát huyết tương đã dựa trên hiện tượng cô đặc máu và biểu hiện tích tụ dịch ở các khoang tự nhiên [77],[101]. Giảm albumin máu cũng được ghi nhận ở giai đoạn cấp và liên quan với độ nặng của thoát huyết tương [87], [95]. Ngoài ra, các khảo sát về sự biến đổi của những loại protein khác nhau như albumin, transferrin, fibrinogen và sự liên quan của chúng với tình trạng thoát huyết tương, rối loạn đông máu cũng được thực hiện [94],[96]. Mặc dù đa số tác giả nhận xét giảm albumin máu có liên quan với tình trạng thoát huyết tương trong bệnh nhiễm dengue nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát đầy đủ trị số và mức độ biến đổi albumin máu qua các giai đoạn bệnh, cũng như những yếu tố góp phần giảm nồng độ albumin huyết thanh và mối liên quan của tình trạng giảm albumin máu với các biến chứng nặng. Đặc biệt, những vấn đề này chưa được khảo sát có hệ thống trên đối tượng bệnh nhân người lớn. Dựa trên tầm quan trọng và tính cấp thiết của các vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm thực hiện các mục tiêu sau: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự biến đổi albumin máu qua các giai đoạn bệnh. 2. Khảo sát mối liên quan của sự biến đổi albumin máu với các biểu hiện tăng tính thấm thành mạch và độ nặng của thoát huyết tương trên lâm sàng. 3. Khảo sát mối liên quan của sự biến đổi albumin máu với các biểu hiện rối loạn đông máu và độ nặng của xuất huyết trên lâm sàng. 4. Xác định giá trị điểm cắt albumin máu trong cảnh báo các biến chứng sốc dengue và xuất huyết nặng.
Xem thêm

Đọc thêm

Trẻ dễ mắc bệnh gì vào mùa hè?

TRẺ DỄ MẮC BỆNH GÌ VÀO MÙA HÈ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thời tiết oi bức rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Do vậy, mùa hè trẻ rất dễ mắc các bệnh như tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm, sốt, chân tay miệng, viêm màng não, sốt xuất huyết... Vậy làm thế nào để phòng tránh bệnh tật cho trẻ trong mùa hè? Bệnh tiêu chảy Tiêu chảy là hiện tượng đi ngoài phân lỏng 3 lần trở lên trong ngày. Nguyên nhân chính là do ăn uống thiếu vệ sinh, thức ăn ôi thiu gây nhiễm khuẩn, thiếu vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh. Đặc biệt bệnh tiêu chảy dễ dàng bùng phát do ô nhiễm nguồn nước.Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em. Các triệu chứng của bệnh tiêu chảy là nôn mửa, chuyển động, đau dạ dày, miệng trở nên khô, da bị mất nước và không còn đàn hồi, đi tiểu ít. Để phòng bệnh tiêu chảy cho con, cha mẹ cần lưu ý cho uống nước đun sôi, rửa tay và chân trước khi ăn uống, vệ sinh sạch móng tay. Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em.     Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em (Ảnh minh họa) Lưu ý, cha mẹ không nên tự ý sử dụng kháng sinh cho trẻ, không nên ăn những thực phẩm ngoài đường phố vì những thực phẩm này gây nguy cơ ngộ độc rất cao nhất là vào mùa hè. Ngoài ra, các bậc cha mẹ cần chú ý giữ gìn vệ sinh cho trẻ và theo dõi để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bệnh tiêu chảy, chủ động đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, đề phòng biến chứng nguy hiểm. Ngộ độc thực phẩm Mùa hè là thời điểm dễ xảy ra ngộ độc thực phẩm, nhất là với trẻ nhỏ vì sức đề kháng kém. Khi bị ngộ độc thức ăn trẻ thường có các biểu hiện như nôn ói, đau bụng và tiêu chảy. Các triệu chứng thường xuất hiện sau khi ăn thức ăn bị nhiễm độc từ 1 giờ đến 3 ngày. Trẻ có thể nôn liên tục hoặc vài lần trong ngày. Đau bụng dữ dội, quặn từng cơn sau đó đi tiêu chảy, triệu chứng đau quặn bụng thường xảy ra trước lúc đi ngoài. Tùy theo tác nhân gây ngộ độc mà triệu chứng nôn mửa nổi bật hay tiêu chảy nhiều hơn. Để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm cho trẻ, các bậc cha mẹ nên bảo đảm thức ăn an toàn và hợp vệ sinh, nấu chín thức ăn. Bảo quản thức ăn đã nấu cẩn thận, tốt nhất là giữ thức ăn lạnh. Hâm nóng kỹ lại thức ăn trước khi ăn để tiêu diệt các vi khuẩn mới nhiễm. Tạo thói quen cho trẻ và người chăm sóc rửa tay cho trẻ trước khi ăn. Bên cạnh đó hành trang khi đi du lịch của nhà bạn nên kèm theo vài gói oresol để kịp thời bù nước cho trẻ khi trẻ bị ngộ độc thực phẩm. Chân tay miệng Tay chân miệng là một bệnh rất phổ biến, thường là nhẹ, gặp nhiều ở trẻ nhỏ do nhiễm virus, đặc trưng bởi sốt và phát ban thường thấy trên lòng bàn tay, lòng bàn chân và bên trong miệng. Bệnh lây lan trực tiếp từ người sang người, qua dịch tiết mũi họng, nước bọt, các mụn nước, hoặc phân của người bệnh. Nguyên nhân hàng đầu là do coxsackievirus A16, một loại virus thuộc họ enterovirus. Cũng có thể do các loại enterviruses khác gây ra nhưng ít gặp hơn. Đặc biệt enterovirus 71 ít gặp hơn nhưng có nhiều nguy cơ gây biến chứng nặng hơn, như viêm màng não, viêm cơ tim… dẫn đến tử vong. Để phòng bệnh, các bậc cha mẹ cần giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ em. Nếu thấy có dấu hiệu ngứa và nổi mụn ở chân, tay, miệng, hãy đi khám càng sớm càng tốt. Bệnh thuỷ đậu Thuỷ đậu là bệnh do virus gây ra. Trẻ bị thuỷ đậu trước tiên sẽ có triệu chứng ngây ngấy sốt, sau có thể sốt cao. Bệnh có thể kéo dài 4-5 ngày. Bệnh hay gặp lúc chuyển mùa, giao thời tiết nóng - lạnh. Khi đã mắc bệnh, con người sẽ có miễn dịch lâu dài suốt đời và ít khi bị lại lần hai. Đây là bệnh lành tính, đa số trẻ đến khám được cho về điều trị tại nhà. Bệnh hay gặp ở trẻ 1-9 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi khả năng bị ít hơn nhưng không phải là không có. Bệnh lây qua đường hô hấp nên khi trẻ ho, virus bắn ra môi trường xunh quanh là các bé khác dễ bị lây. Cha mẹ cần tăng cường vấn đề vệ sinh, ăn uống, đường hô hấp, da để phòng bệnh. Quan trọng là cần đưa trẻ đi tiêm phòng khi được 12 tháng tuổi. Trẻ đã bị thủy đậu thì không cần tiêm phòng nữa. Nếu trẻ có dấu hiệu sốt trong những ngày nốt thuỷ đậu xuất hiện và lan rộng thì phải đưa con đi bác sĩ ngay lập tắc, nếu không sẽ rất nguy hiểm. Sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm, có thể gây thành dịch. Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa hè và gây nguy hiểm ở trẻ em nếu không được điều trị kịp thời. Biểu hiện bệnh là trẻ sốt cao đột ngột 39 – 40độ C kéo dài, không kèm theo ho, sổ mũi. Trên người nổi những nốt xuất huyết ngoài da, thường là ở cánh tay, cẳng chân. Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên. Ngoài ra, trẻ có thể bị chảy máu cam, chảy máu chân răng. Nặng hơn trẻ có thể xuất huyết tiêu hóa: nôn hoặc đi ngoài ra máu, tay chân lạnh, đau bụng, trụy tim mạch. Khi trẻ bị sốt xuất huyết, các bậc cha mẹ cần phải cho trẻ uống nhiều nước. Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C thì cho uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol (tuyệt đối không dùng Aspirin vì thuốc này làm tăng nguy cơ chảy máu). Cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu thấy có dấu hiệu nặng như chảy máu cam, lừ đừ, đau bụng. Để phòng bệnh sốt xuất huyết, cần đổ nước thừa ở chỗ ứ nước, thùng nước, xô, chậu... Thả cá vào các vật chứa nước trong nhà để diệt bọ gậy, cọ rửa và thay nước thường xuyên. Luôn luôn đậy kín tất cả các vật dụng chứa nước. Thu gom, huỷ đồ phế thải ở xung quanh nhà, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh. Ngoài ra, cha mẹ nên mắc màn khi trẻ ngủ để tránh muỗi đốt. Sử dụng thuốc diệt muỗi thận trọng khi sử dụng thuốc này đối với trẻ nhỏ. Dùng rèm che, màn tẩm hoá chất diệt muỗi để hạn chế và diệt muỗi. Viêm màng não Bệnh viêm não, viêm màng não do nhiều loại virus gây ra, như virus Arbovirus, các virus đường ruột, virus thủy đậu, quai bị…   Biểu hiện của bệnh là sốt, choáng váng, đau họng, đau bụng, sổ mũi, hắt hơi, ho, đau đầu, nôn. Nếu bệnh nhân bị tổn thương não sâu hơn sẽ dẫn đến ngủ lịm, hôn mê, thiểu năng trí tuệ. Một số trường hợp xuất hiện sốt đột ngột, co giật ngoại ý, liệt chân tay. Viêm não cấp tính thường kéo dài 1- 3 tuần, nhưng sự hồi phục rất chậm. Mặc dù đã có thuốc kháng virus nhưng thuốc chỉ có tác dụng với một số loại virus chứ không phải kháng tất cả các virus. Để phòng bệnh, cần tránh để muỗi đốt bằng cách dùng nhang xua muỗi, phun thuốc muỗi định kỳ, mặc quần áo dài, ngủ màn, nuôi cá diệt loăng quăng ở những nơi chứa nước, phát quang bụi rậm... Đối với bệnh viêm não Nhật Bản B đã có vắc xin thì nên cho trẻ tiêm phòng bệnh. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

Thời tiết thay đổi, trẻ ồ ạt nhập viện vì bệnh hô hấp

THỜI TIẾT THAY ĐỔI, TRẺ Ồ ẠT NHẬP VIỆN VÌ BỆNH HÔ HẤP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cả khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) có 60 giường nhưng có đến 136 trẻ nhập viện, trong đó đến 60% là các bệnh đường hô hấp. Tương tự, tại Bệnh viện Nhi Trung ương, phòng khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp cũng tiếp nhận 70-100 bệnh nhân nhiễm khuẩn hô hấp mỗi ngày, trong đó một nửa là trẻ bị viêm tiểu phế quản hoặc viêm tiểu phế quản có kèm bội nhiễm. PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết, các tỉnh miền Bắc đang bước vào giai đoạn chuyển mùa từ thu sang đông; thời tiết trong ngày thay đổi thất thường - ngày nóng, khô đến đêm và sáng sớm lại se se lạnh. Sự thay đổi này tác động đến 2 yếu tố: nồng độ virus, vi khuẩn trong môi trường tăng lên và sức đề kháng của trẻ giảm xuống; điều này khiến số trẻ mắc các bệnh đường hô hấp có xu hướng tăng lên khoảng 20-30%.   Giường nằm ghép 2,3; nhiều cha mẹ tranh thủ buổi trưa đưa con ra ngoài hành lang nằm cho thoáng. Ảnh: Hà Linh. Tháng 9, 10 theo ông là mùa đỉnh điểm của các bệnh đường hô hấp như viêm phổi, viêm tiểu phế quản phổi, hen... Trẻ ho, sốt vào viện khám rất nhiều. Thậm chí có bé 15 tháng tuổi vừa nằm điều trị viêm phổi 1 tuần đang chuẩn bị xuất viện thì sốt lại, khám thì đã viêm tiểu phế quản phỏi. Đặc biệt, buổi tối nhiều khi các cha mẹ phải xếp hàng để khám cho con. Nếu trẻ mắc các bệnh đường hô hấp trên, chỉ ho, sốt do virus, cảm cúm thông thường thì cha mẹ không cần quá lo lắng, không nên tự ý dùng kháng sinh. Tuy nhiên nếu trẻ kèm theo biểu hiện thở nhanh, rút lõm lồng ngực, mệt mỏi, suy hô hấp, biến chứng phổi thì cần đến bệnh viện khám và điều trị kịp thời.  Phó giáo sư khuyến cáo, cha mẹ cần đặc biệt lưu ý với trẻ dưới 6 tháng tuổi. Do sức đề kháng yếu nếu không được điều trị kịp thời trẻ sẽ rất nhanh diễn biến nặng sang viêm phổi. Việc phát hiện bệnh khó nên cha mẹ cần lưu ý 3 dấu hiệu là: bú, ngủ và cách thở. Nếu thấy con bú ít hơn ngày thường, quấy khóc hoặc thấy bé thở nhanh, ngực lõm hơn bình thường, đầu gật gù thì cha mẹ cần đưa con đi khám sớm vì có thể bệnh đã diễn biến nặng. Ngay cả khi trẻ ngủ nhiều hơn bình thường, cũng có thể do bị bệnh. Ở trẻ sơ sinh, sốt và ho không phải là những dấu hiệu quan trọng. Để phòng bệnh, các gia đình cần giữ cho môi trường sống trong nhà sạch sẽ, thoáng mát, thông khí tốt. Trẻ con không phải là người lớn thu nhỏ, vì thế khi thấy mình lạnh người lớn không nên nghĩ rằng con cũng lạnh. Vào gần sáng và đêm lạnh nên cho con mặc quần áo ấm, trưa nóng có thể cởi bớt ra. Đồng thời chú ý tăng cường dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin để tăng cường sức đề kháng; giữ vệ sinh nhà cửa sạch sẽ...   Trẻ nhập viện điều trị chủ yếu dưới 2 tuổi. Ảnh: Hà Linh. Phó giáo sư Dũng đặc biệt khuyến cáo cảnh giác khi con sốt cao. Trẻ sốt virus thường khỏi bệnh trong vòng 7 ngày. Triệu chứng ban đầu cũng khá giống với sốt xuất huyết, viêm não… Do vậy, thấy trẻ sốt cao đột ngột và kéo dài phải đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được chẩn đoán, điều trị kịp thời. Đồng thời chú ý đến việc ăn uống nâng cao sức đề kháng cho trẻ. Đồng thời, cha mẹ không nên tự ý dùng thuốc cho trẻ, đặc biệt là kháng sinh; không phải cứ ho một chút là dùng kháng sinh. Việc xịt mũi cũng cần đúng cách, có thể xịt vào trước bữa ăn, trước khi đi ngủ giúp mũi thông thoáng để trẻ ngủ tốt hơn; chú ý xịt xong nên hút hết chất nhầy trong mũi. Với các trẻ bị hen, để tránh khởi phát cần hen cần tránh tiếp xúc các yếu tố kích thích như:: phấn hoa, bụi, khói, lông thú động vật... Tránh để trẻ bị nhiễm lạnh, chú ý đề phòng và chữa sớm những nhiễm khuẩn hô hấp như: viêm phế quản, viêm phổi, viêm mũi họng... Những bệnh nhiễm khuẩn này thường làm cơn hen tái phát. Ngoài ra, cần cho trẻ tránh xa khói thuốc lá. Nếu người lớn hút thuốc trong nhà sẽ khiến tình trạng hen của trẻ nghiêm trọng hơn, tránh dùng các loại thuốc xịt như nước hoa xịt phòng, thuốc xịt muỗi, côn trùng… Phòng ngủ của trẻ cần được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, không nên trải thảm; không nên cho trẻ chơi thú nhồi bông cũng như không cho thú vật vào nơi trẻ ngủ. Đặc biệt, cha mẹ cũng cần dự phòng hen cho trẻ, cụ thể đăng ký kiểm soát hen lâu dài cho bé tại một một cơ sở chuyên khoa (ít nhất là 18 tháng).
Xem thêm

2 Đọc thêm

bài tập viết dự án phòng chống sốt xuất huyết

BÀI TẬP VIẾT DỰ ÁN PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT

Đây là một bài tập về viết Dự án trong quá trình học cao học về y tế công cộngBệnh sốt xuất huyết (SXH) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, gây thành dịch do muỗi truyền. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 40% dân số thế giới sống trong vùng có dịch lưu hành và mỗi năm có khoảng 50 – 100 triệu người nhiễm vi rút, 24 ngàn người tử vong. Hiện nay, dịch đang bùng phát ở các vùng như Châu Mỹ, Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và một số vùng Châu Phi ..............
Xem thêm

82 Đọc thêm

CÁC VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG SỐT XUẤT HUYẾT

CÁC VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG SỐT XUẤT HUYẾT

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG SỐTXUẤT HUYẾTBác sỹ đa khoaVấn đề 1: NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC PHÒNGBỆNH SỐT XUẤT HUYẾTSốt xuất huyếtbệnh do virus DenGue gây ra, bệnh không có vaccinđể phòng như một số bệnh khác ( như sởi, quai bị, viêm gan B ... cóvaccin để phòng bệnh ) và những người đã mắc một lần hoàn toàn cóthể mắc lại lần 2, 3, 4 và những lần sau có thể sẽ còn nặng hơn lầnđầu.Vấn đề 1: NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC PHÒNGBỆNH SỐT XUẤT HUYẾTBệnh không lây theo đường hô hấp, hay ăn uống chung mà chỉ bị lây khi bạn bị muỗi đã đốt người bệnh trước đó ( bất kể đã đốt bao nhiêu lâu ) sau đó đốt bạn.Vấn đề 1: NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC PHÒNGBỆNH SỐT XUẤT HUYẾTBệnh SXH là bệnh lây truyền qua trung gian truyền bệnh làmuỗi Aedes aegypti hay dân gian thường gọi là muỗi vằn. Đặc tính của muỗi là thường đốt người vào buổi sáng sớm và chiều tối, tuy nhiên vào ban đêm muỗi vẫn đốt người nên cần nằm màn để tránh bị lây nhiễm và biện pháp phòng bệnh tốt nhấtlà tiêu diệt muỗi ( hết muỗi sẽ hết SXH ).Vấn đề 2: Biểu hiện của sốt xuất huyết là gì?Khi bị SXH thường hay có biểu hiện đầu tiên là sốt cao liên tục cóthể lên đến 39 - 40 độ kèm theo có đau mỏi toàn thân, đặc biệt có
Xem thêm

12 Đọc thêm

Các bệnh lây nhiễm mùa hè cần chú ý và phòng tránh

CÁC BỆNH LÂY NHIỄM MÙA HÈ CẦN CHÚ Ý VÀ PHÒNG TRÁNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Do đặc điểm khí hậu của nước ta, cứ đến mùa hè, nhiều dịch bệnh phát triển gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Một số bệnh lây nhiễm mùa hè bạn cần lưu ý để phòng tránh mắc bệnh. Cả nước đang trải qua các đợt nắng nóng gay gắt nhất. Ở khu vực miền Bắc, nhiệt độ ngoài trời có lúc lên đến 41-44 độ C, vì vậy, các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, tay chân miệng, cúm, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản… đang gia tăng mạnh. Một số lưu ý sau bạn cần chú tâm để phòng ngừa bệnh: 1. Bệnh tiêu chảy Bệnh tiêu chảy xuất hiện quanh năm nhưng xảy ra nhiều nhất là vào mùa hè. Nguyên do là vì ruồi nhặng phát triển, nguồn nước bị ô nhiễm, hoa quả không được rửa sạch. Mặt khác do mùa hè ở nước ta có khí hậu nóng ẩm nên các loại vi khuẩn dễ phát triển trong thực phẩm, thức ăn, làm cho thức ăn nhanh bị hỏng, bị ôi, thiu, nguyên nhân gây tiêu chảy, tả.    Một số triệu chứng của tiêu chảy như: số lần đi đại tiện có thể ít (3-5 lần/ngày) hay nhiều hơn là vài chục lần/ngày; đau bụng (từng cơn hay liên tục, mót rặn đau quanh hậu môn); buồn nôn hay nôn. (Ảnh minh họa) Ðể tránh không bị tiêu chảy hoặc tả, lỵ, chúng ta cần: Tăng cường vệ sinh cá nhân. Bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch đặc biệt là trong mùa mưa bão, sát khuẩn nước bằng Cloramin B, không đổ chất thải, nước giặt, rửa xuống giếng, ao, hồ, sông, suối. Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm như ăn chín, uống chín, không ăn rau sống, không uống nước lã, không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn như mắm tôm sống, hải sản tươi sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua. Bên cạnh đó, cần tránh tập trung ăn uống đông người trong các dịp ma chay, cưới xin, cúng giỗ…, hạn chế tiếp xúc với người bệnh. 2. Bệnh chân tay miệng Bệnh chân-tay-miệng thường xảy ra ở trẻ em, lây lan nhanh và dễ lan thành dịch làm nhiều người mắc. Nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời, bệnh rất dễ biến chứng thành viêm não, dẫn đến tử vong ở trẻ. Sau thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày, trẻ bắt đầu có triệu chứng sốt nhẹ, mệt mỏi, kém ăn, đau họng… sau đó xuất hiện những nốt ban màu hồng đường kính khoảng 2mm, ở trong miệng và trên da lòng bàn tay, gan bàn chân, đôi khi thấy ở cả mông và cẳng chân. Khi thấy trẻ có những dấu hiệu trên, cần phải cách ly trẻ và đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.   Bệnh chân-tay-miệng thường xảy ra ở trẻ em, lây lan nhanh và dễ lan thành dịch làm nhiều người mắc. Nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời, bệnh rất dễ biến chứng thành viêm não, dẫn đến tử vong ở trẻ. (Ảnh minh họa) Cách phòng bệnh: tránh tiếp xúc với các nguồn lây theo đường tiêu hóa; tăng cường vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (nhất là sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt). Rửa sạch sàn nhà, vật dụng đồ chơi của trẻ, lau sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn Cloramin B 2%. Khi trẻ bị bệnh phải cách ly tại nhà, không cho đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh. 3. Sốt xuất huyết Là bệnh nhiễm virus sốt xuất huyết Dengue cấp tính do muỗi truyền (muỗi vằn Aedes Aegypti). Một số triệu chứng của bệnh như đột ngột sốt cao liên tục từ 2 ngày trở lên; nổi chấm đỏ ở da, bầm ở da, chảy máu mũi và chân răng, nôn nhiều, nôn ra máu, phân có máu; đau bụng nhiều do gan sưng to… Trong vòng 3-6 ngày bệnh có thể trở nặng với các triệu chứng như hết sốt nhưng trở nên lừ đừ, lạnh tay chân, vã mồ hôi, bứt rứt, nôn nhiều, đau bụng và chảy máu bất thường. Bệnh sốt xuất huyết có thể gây tử vong và gây thành dịch lớn, hiện chưa có vaccine phòng bệnh. Ðể phòng bệnh sốt xuất huyết, người dân cần loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt loăng quăng/bọ gậy bằng cách thường xuyên thu gom, tiêu hủy các đồ phế thải chứa nước như lốp xe, chai lọ vỡ, vỏ đồ hộp, gáo dừa… Thường xuyên lau rửa chum vại, bể nước mưa, lọ hoa, úp ngược các vật dụng chứa nước không dùng đến như xô, chậu, chén bát, máng nước uống của gia súc, gia cầm. Tổ chức phun hóa chất diệt muỗi quy mô cộng đồng hoặc phun diệt muỗi trong nhà bằng các bình xịt muỗi cầm tay. 4. Viêm não Nhật Bản Là bệnh do một loại virus có tên là virus viêm não Nhật Bản gây nên, trung gian truyền bệnh là muỗi Culex, một loại muỗi thường sống ở các vùng có nhiều ao tù và đồng ruộng lúa nước. Ổ chứa virus viêm não Nhật Bản thường là lợn, dơi, chim hoang dã. Bệnh viêm não Nhật Bản thường có tỷ lệ mắc cao vào mùa hè, có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời và có thể gây thành dịch lớn. Bệnh viêm não Nhật Bản có thể phòng bằng cách: Tiêm vaccine phòng bệnh, thường chỉ tiêm cho trẻ em, mỗi trẻ cần được tiêm đủ ba mũi theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp chống muỗi đốt và loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, thả cá tại các ao, hồ, ruộng lúa nước để diệt loăng quăng (bọ gậy), làm chuồng gia súc xa nhà. Các biện pháp để phòng bệnh chung cho các bệnh truyền nhiễm mới nổi và bệnh dịch trong mùa hè, mùa mưa bão sắp tới là: Mọi người dân cần tăng cường sức khỏe và khả năng phòng bệnh bằng cách ăn uống đủ chất, ăn nhiều rau xanh, hoa quả, thức ăn có nhiều vi-ta-min; có chế độ làm việc, sinh hoạt, luyện tập thể thao và nghỉ ngơi hợp lý. Khi có người bị bệnh hoặc nghi bị các bệnh trên cần phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, điều trị và xử lý kịp thời, không để bệnh lây lan ra người thân và cộng đồng
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lí do bạn nên uống nước ép ổi nhiều hơn

LÍ DO BẠN NÊN UỐNG NƯỚC ÉP ỔI NHIỀU HƠN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bảo vệ bạn khỏi những bệnh nhiễm vi khuẩn Ổi là loại quả chứa nhiều tác nhân kháng khuẩn. Ở Đông Nam Á, lá ổi là một điều trị phổ biến cho các nhiễm trùng và các mô mở. Nước ép ổi cũng có lợi ích tương tự. Đó là một loại nước giải khát, thức uống bổ dưỡng cho những người bị nhiễm vi khuẩn, các mô mở và sự phát triển quá mức của vi khuẩn trong cơ thể.   Ổi là loại quả chứa nhiều tác nhân kháng khuẩn. Ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón Nước ép ổi chứa lượng chất xơ tuyệt vời. Nó cũng chứa một hợp chất bảo vệ đường ruột từ độc tố tích tụ. Ổi còn có tác dụng làm dịu đường ruột nhạy cảm. Chúng tôi khuyên bạn nên uống nước ép ổi mỗi buổi sáng để có được lợi ích tối đa. Thúc đẩy quá trình giảm cân Nước ép ổi chứa ít calo, giàu vitamin và giàu chất xơ. Tất cả những điều này khiến nước ép ổi trở thành một thức uống tuyệt vời cho người ăn kiêng. Ổi cũng bảo vệ đại tràng khỏi sự tích tụ chất độc hại. Nó hỗ trợ trong việc sản xuất năng lượng cho các tế bào mà không thừa calo. Bằng cách uống nước ép ổi thường xuyên, bạn sẽ giảm cân dần dần. Tất nhiên, kết hợp với tập thể dục để đạt được kết quả tốt nhất. Ổn định mức độ đường huyết Nước ép ổi là một thức uống tuyệt vời để kiểm soát mức độ đường trong máu. Trong một nghiên cứu các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, nước ép ổi có khả năng làm giảm mức độ glucose bằng cách tăng nồng độ insulin. Nghiên cứu này đã được thử nghiệm cả ở chuột trong phòng thí nghiệm và bệnh nhân. Ở châu Á, nó thường được đề nghị dùng cho những người bị bệnh tiểu đường loại 2. Bảo vệ bạn khỏi ung thư Bạn có biết ổi cũng chứa lycopene? Lycopene là một chất chống oxy hóa có trong cà chua nhưng chất dinh dưỡng này cũng được tìm thấy trong ổi. Cùng với vitamin C, lycopene bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của gốc tự do. Tác hại gốc tự do gây đột biến tế bào trong các tế bào khỏe mạnh. Ung thư là do sự gia tăng của đột biến các tế bào ung thư. Bằng cách uống nước ép ổi hàng ngày, bạn sẽ được cung cấp đầy đủ vitamin C và giảm nguy cơ mắc ung thư.   Nước ép ổi là thức uống bổ dưỡng và bảo vệ bạn khỏi nhiều loại bệnh.  Tăng cường hệ thống miễn dịch Ổi là loại trái cây chứa nhiều vitamin C nhất. Vitamin C hay acid ascorbic tăng cường hệ thống miễn dịch. Một hệ thống miễn dịch mạnh mẽ cũng bảo vệ bạn khỏi nhiều loại bệnh. Uống nước ép ổi là phương pháp điều trị tuyệt vời cho cảm lạnh thông thường và cúm. Nó cũng thúc đẩy sức khỏe răng miệng tốt hơn. Thậm chí ổi còn giúp giảm nguy mắc bệnh sco-bút -  một căn bệnh do thiếu vitamin C. Và không có trái cây nào chứa lượng vitamin C tuyệt vời hơn ổi! Phục hồi sức khỏe khi bị sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là một bệnh do virus nhiệt đới gây ra bởi một số loài muỗi. Nếu không được điều trị ngay lập tức, bệnh sốt xuất huyết có thể nhanh chóng đe dọa tính mạng. Một số chuyên gia chứng minh rằng phục hồi sức khỏe từ bệnh sốt xuất huyết nhờ uống nước ép ổi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

KAP SXH VI THANH 2013

KAP SXH VI THANH 2013

Trước sự phát triển nhanh về dân số, nhà cửa chật hẹp không đủ tiệnnghi, cung cấp nước sạch không đủ, cộng đồng còn sử dụng nước mưa nhiều.8Đây là nguyên nhân thuận lợi cho muỗi phát triển, sinh trưởng. Hiểu biết vềbệnh sốt xuất huyết dengue còn hạn chế.Hệ thống giám sát chưa đủ mạnh để phát hiện bệnh trong giai đoạnsớm, cũng như ngăn chặn kịp thời trước khi dịch xảy ra.Cho nên việc phòng, chống dịch, diệt những vật trung gian truyền bệnh vớisự tham gia của cộng đồng là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng, chống bệnh.- Vắc xin phòng bệnh :Vắc xin Dengue được đề cập tới ngay sau khi phân lập được vi rútDengue tại Nhật và Mỹ, hiệu quả phòng, chống bệnh của loại vắc xin này chưađược nhắc đến. Hiện nay theo Tổ chức Y tế thé giới dự định phát triển một loạivắc xin có khả năng chống bệnh SD/SXHD với cả 4 típ huyết thanh, bởi vì quacác vụ dịch đã xảy ra cho thấy kháng thể của các típ vi rút Dengue khác nhaukhông tương đồng vì vậy không thể trung hòa vi rút chéo. Loại vắc xin này cóthể sẽ được tạo ra trong những năm sắp tới dưới sự tài trợ của tổ chức Y tế thếgiới và sự cộng tác tích cực của các nhà khoa học trên toàn thế giới.- Đặc điểm sinh học, sinh thái muỗi Aedes aegyptiMuỗi Ae. Aegypti có vòng đời biến thái hoàn toàn với ấu trùng sống trongnước, chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: trứng, bọ gậy, lăng quăng và muỗitrưởng thành, trong đó chỉ có giai đoạn trưởng thành liên quan trực tiếp tới việctruyền bệnh. Thời gian trung bình từ trứng đến muỗi trưởng thành trong điềukiện phòng thí nghiệm là 8,35 ± 0,2 ngày, dài nhất 10 ngày, ngắn nhất là 7 ngày,phần lớn ấu trùng nở từ ngày thứ hai và ngày thứ ba kể từ khi con cái đẻ. Một sốkhác thậm chí có thể nở vào ngày thứ 44 - 45 với Ae. Aegypti và ngày thứ 100 160 đối với Ae. Albopictus. Tuy nhiên khả năng nở của bọ gậy còn phụ thuộcvào các yếu tố khác như sự khộ hạn đột ngột, hàm lượng ôxy trong nước, sự thay
Xem thêm

96 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

HƯỚNG DẪNCHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ SỐTXUẤT HUYẾT DENGUEBs Huỳnh Đa Huýt, Trưởng khoaY tế dự phòng-TTYT Châu ThànhI. ĐẠI CƯƠNGSốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễmdo vi rút Dengue gây nên. Vi rút Dengue có 4týp thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Virút truyền từ người bệnh sang người lành domuỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùngtrung gian truyền bệnh chủ yếu.Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vàomùa mưa. Bệnh gặp cả trẻ em và người lớn.Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt,xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫnđến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đôngmáu, suy tạng, nếu không được chẩn đoánsớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.II. DIỄN BIẾN LÂM SÀNG BỆNHSỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
Xem thêm

31 Đọc thêm

CÔNG DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG ĐỊA LIỀN CHỮA BỆNH

CÔNG DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG ĐỊA LIỀN CHỮA BỆNH

xuất viên Bạch địa căn này (gồm Địa liền 0,03g, Bạch chỉ 0,10g, Cát căn 0,12g) dùng làm thuốc hạ sốt, giảmđau trong bệnh sốt xuất huyếtsốt cao một số bệnh truyền nhiễm; còn có tác dụng kháng khuẩn chốngbội nhiễm.2. Ngực bụng lạnh đau, tiêu hoá kém: Địa liền 4-8g, sắc uống hoặc tán bột uống.3. Chữa ho gà, Địa liền: 300g, lá Chanh 300g, vỏ rễ Dâu (tẩm mật ong) 1000g. Rau sam tươi 1000g, Rau mátươi 1000g, lá Tía tô 500g, đường kính vừa đủ, nấu với 12 lít nước, có còn 4 lít. Trẻ em mỗi ngày uống 1530 ml.Ghi chú: người âm hư, thiếu máu, hoặc vị có hoả uất không dùng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

37KHDA PHUN HÓA CHẤT, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG DIỆT MUỖI VÀ BỌ GẬY, CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT VÀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA 6 THÁNG CUỐI NĂM 2016 KHBCD37201601_SIGNED

37KHDA PHUN HÓA CHẤT, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG DIỆT MUỖI VÀ BỌ GẬY, CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT VÀ BỆNH DO VI RÚT ZIKA 6 THÁNG CUỐI NĂM 2016 KHBCD37201601_SIGNED

KÉ HOẠCH Phun hóa chất, vệ sỉnh môi trường diệt muỗi và bọ gậy, chủ động phòng, chống sốt xuất huyết vả bệnh do vi rút Zika 6 tháng cuối năm 2016. Thực hiện Kế hoạch số 2872KHSYT ngày 0572016 của Sở Y tế Hà Nội về việc phun hóa chất, vệ sinh môi trường diệt muỗi và bọ gậy, chủ động phòng, chống sốt xuất huyết và bệnh do vi rút Zika tại Hà Nội 6 tháng cuối năm 2016; Kế hoạch số 23KHƯBND ngày 1512016 của ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai về việc phòng chống dịch bệnh năm 2016; Trước tình hình diễn biến phức tạp của bệnh sốt xuất huyết và dịch bệnh do vi rút Zika, nhằm ngăn chặn kịp thời không để các loại dịch bệnh trên bùng phát, Ban chỉ đạo Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Quận xây dựng kế hoạch phun hóa chất, vệ sinh môi trường diệt muỗi và bọ gậy, chủ động phòng, chống sốt xuất huyết và bệnh do vi rút Zika 6 tháng cuối năm 2016, cụ thể như sau.
Xem thêm

7 Đọc thêm

PHÁT HIỆN 17 TRƯỜNG HỢP NHIỄM VIRUS ZIKA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHÁT HIỆN 17 TRƯỜNG HỢP NHIỄM VIRUS ZIKA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phát hiện 17 trường hợp nhiễm virus Zika ởThành phố Hồ Chí Minh31/10/2016 21:060•••Theo Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 31/10, trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện 17 trường hợp nhiễm virus Zika.Việt Nam phát hiện trẻ sơ sinh đầu tiên nghi mắc chứng đầu nhỏ do ZikaVirus Zika chính là thủ phạm gây teo nãoBrazil phát hiện Viruz Zika gây rối loạn não người lớnMột trường hợp sốt, phát ban, đau cơ được bác sỹ bệnh viện quận 2 khám, tư vấn và lấy mẫumáu gửi về Viện Pasteur Hồ Chí Minh xét nghiệm. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)Các ca bệnh đều được phát hiện thông qua hệ thống giám sát dịch bệnh mà Sở Y tếThành phố Hồ Chí Minh đã và đang triển khai.Trước tình hình đó, sáng 31/10, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế đã có buổi làm việc vớiSở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìmcác giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của virus Zika.Ông Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng nhận định Thành phố Hồ ChíMinh có dân số đông, giao lưu, đi lại nhiều, vấn đề vệ sinh môi trường, nhà ở, ýthức phòng bệnh của một bộ phận người dân vẫn chưa cao.Trong khi đó, thành phố cũng đang trong cao điểm mùa bệnh sốt xuất huyết. Docùng một véctơ truyền bệnh là muỗi vằn nên việc phát sinh thêm các trường hợpnhiễm virus Zika là không thể tránh khỏi.Trước đó, ngày 30/10, Cục Y tế dự phòng đã khẳng định trường hợp bé gái 4 tháng
Xem thêm

3 Đọc thêm

WEST NILE VIRUS VŨ THỊ THÙY LINH K23 QH 2014 2016

WEST NILE VIRUS VŨ THỊ THÙY LINH K23 QH 2014 2016

Virus west Nile là một loại virus thuộc họ flavivirus xuất hiện đầu tiên ở Uganda vào năm 1937. Virus này thường gây ra bệnh sốt xuất huyết, sốt vàng da và viêm não Nhật Bản. Chúng thường được truyền bởi bọ ve và muỗi.

13 Đọc thêm

Sốt xuất huyết đang ở chu kỳ dịch

SỐT XUẤT HUYẾT ĐANG Ở CHU KỲ DỊCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các ca bệnh trên toàn quốc đã giảm 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Thời gian qua, dịch yên ắng ở miền Bắc, giảm ở miền Nam, nhưng gia tăng mạnh ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, nhiều tỉnh tăng gấp 2-3 lần cùng kỳ năm trước. Lý do khu vực miền Trung và Tây Nguyên gia tăng ca mắc sốt xuất huyết là do chu kỳ dịch kết hợp với đầu mùa mưa. Ông Phu cho biết, cứ 3 năm thì chu kỳ dịch lại quay lại một lần. Hiện nay, điểm nóng của dịch sốt xuất huyết tập trung tại một số tỉnh như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định, Gia Lai, Đăk Lăk.   Ngày 29.7, ông Trần Đắc Phu - Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, tích lũy đến giữa tháng 7, cả nước có hơn 24.000 ca mắc sốt xuất huyết (Ảnh minh họa) Theo ông Phu, để phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết vẫn chưa có biện pháp gì mới, chủ yếu là phun thuốc diệt muỗi khi phát hiện ổ dịch; tuyên truyền, vận động người dân diệt ấu trùng muỗi (bọ gậy). Tuy nhiên, cho dù tuyên truyền mạnh mẽ nhưng ý thức của người dân chưa cao, nhiều nơi không thường xuyên phát quang bụi rậm, dọn dẹp các vũng nước quanh nhà, đổ các chai lọ nước mưa, đậy nắp bể nước nên ấu trùng muỗi vẫn phát triển. Ông Viêm Quang Mai - Phó Viện trưởng Viện Paster Nha Trang cũng cho biết, hiện đang là mùa mưa nên trứng muỗi nở rộ là nguyên nhân chính khiến cho dịch sốt xuất huyết bùng phát. Ngoài ra, khu vực miền Trung thiếu nước nên người dân có thói quen tích nước mưa trong lu, vại, nhưng lại không đậy nắp thường xuyên, tạo môi trường thuận lợi cho muỗi đẻ trứng. Đáng tiếc nhiều nơi, khi phát hiện dịch, cán bộ y tế về phun thuốc, rà từng nhà nhắc nhở mọi người đổ chai lọ tích nước bẩn, đậy vại nước, thả cá diệt muỗi, nhưng sau khi dịch được đẩy lùi 1 tuần lại tái diễn các ca mắc. “Người dân rất chủ quan với dịch thường xuyên này, chỉ khi nào trong vùng có người tử vong vì sốt xuất huyết mới hoảng hốt phòng ngừa. Do đó, dịch cứ tái diễn đi tái diễn lại” - ông Mai cho biết.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Trẻ nào không được tiêm phòng thủy đậu?

TRẺ NÀO KHÔNG ĐƯỢC TIÊM PHÒNG THỦY ĐẬU?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ l - 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo. Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh. Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường. Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể. Tác hại của bệnh thủy đậu Theo Bs Như Huỳnh, Bệnh viện Nhi đồng 1, hầu hết trẻ bệnh thủy đậu sẽ khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ có thể bị viêm da, viêm phổi hay viêm não và có thể tử vong. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị mắc bệnh thủy đậu có thể bị dị tật, sẹo da và một số bất thường khác.   Không phải trẻ nào cũng được phép tiêm phòng thủy đậu (Ảnh: Internet) Nếu đã từng bị mắc bệnh thủy đậu, trẻ sẽ có được miễn dịch và sau này không bị mắc bệnh một lần nữa. Tuy nhiên, trong vài trường hợp khi lớn lên bệnh có thể diễn tiến thành bệnh zona, đặc trưng bởi triệu chứng phát ban khu trú ở một số vị trí và đau dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác. Trường hợp trẻ cần phải tiêm phòng bệnh thủy đậu - Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên chưa mắc bệnh thủy đậu - Người lớn chưa từng mắc bệnh thủy đậu, đặc biệt là các đối tượng như cô giáo, người chăm sóc trẻ, nhân viên y tế - Phụ nữ chưa có miễn dịch với bệnh cần được tiêm ngừa trước khi mang thai khoảng 2 tháng Trường hợp trẻ không được tiêm ngừa bệnh thủy đậu - Dị ứng với vắc xin hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin. Vì vậy khi đưa bé đi tiêm ngừa, cha mẹ cần nói cho bác sĩ biết tất cả tiền sử về dị ứng của con mình. - Phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai - Dự định có thai trong vòng 1 tháng sau tiêm ngừa - Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bất thường về máu, ung thư, nhiễm HIV, đang hoá trị liệu, bệnh lao. - Đang mắc bệnh nặng Một số phản ứng phụ sau tiêm phòng Tất cả các vắc xin đều có thể gây ra phản ứng phụ sau khi tiêm. Tuy nhiên, những phản ứng này đều nhẹ và ít khi xảy ra. Một số phản ứng có thể gặp sau tiêm phòng thủy đậu bao gồm: - Sưng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm - Sốt nhẹ - Phát ban nhẹ xảy ra trong khoảng 5 – 26 ngày sau tiêm ngừa Dị ứng với vắc xin phòng bệnh thủy đậu: rất hiếm xảy ra, những phản ứng này thường xuất hiện trong vòng 15 phút sau tiêm. Do đó sau khi được chủng ngừa, phụ huynh cần cho trẻ ngồi lại khoảng 30 phút để theo dõi. Đối với trẻ có tiếp xúc với người bệnh thủy đậu bạn vẫn có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tiêm ngừa. Tuy vậy, nếu thời gian tiếp xúc của trẻ trên 5 ngày thì nhiều khả năng vắc xin sẽ không bảo vệ trẻ được khỏi bệnh. Bên cạnh đó, vắc xin phòng bệnh thủy đậu cần thời gian khoảng 2 tuần lễ để đạt được miễn dịch tốt nhất nên trong khoảng thời gian này nếu trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ vẫn có khả năng bị mắc bệnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, nếu trẻ phát bệnh sau tiêm phòng thì các triệu chứng bệnh cũng sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và hầu như không xảy ra biến chứng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách phòng tránh và xử trí với bệnh thủy đậu

CÁCH PHÒNG TRÁNH VÀ XỬ TRÍ VỚI BỆNH THỦY ĐẬU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Triệu chứng của bệnh thủy đậu   Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước xuất hiện rất nhanh, trong vòng 12 - 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước cũng có thể lan ra các màng nhầy, đặc biệt là trong miệng và bộ phận sinh dục của trẻ. Bên cạnh mụn nước, trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói, cảm giác ngứa ngáy vùng nổi mụn nước. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo. Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh. Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường. 2. Cách phòng bệnh Cách phòng bệnh thủy đậu tốt nhất là tiêm vaccine và tiêm một liều duy nhất 0,5ml cho trẻ từ 1 - 12 tuổi. Đối tượng từ 13 tuổi trở lên tiêm 2 liều, cách nhau từ 6 - 10 tuần. Khi tiêm chủng cần chú ý những điều sau: - Việc chủng ngừa thủy đậu không chỉ cần tiến hành với trẻ em, là đối tượng chính của bệnh này, mà còn ở cả người lớn. Những người lớn khi mắc bệnh cũng gặp nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí còn nặng hơn cả trẻ nhỏ nên chích ngừa là hoàn toàn cần thiết. Phụ nữ trước khi có ý định mang thai từ 2-3 tháng cần đi tiêm vắc xin để bảo vệ sức khỏe cả mẹ và bé.  - Không tiêm vắc xin thủy đậu khi đang sốt hoặc bị bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, người mẫn cảm với các thành phần của vắc xin, người bị thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, phụ nữ đang mang thai.   Trong khi dịch bệnh có mặt ở khắp nơi thì cách ly với nguồn bệnh là một biện pháp an toàn giúp ngăn chặn lây lan. Không nên đưa trẻ đến những nơi có nguồn bệnh hoặc  nguy cơ lây nhiễm cao như bệnh viện. Không nên đến những chỗ đông người như bến xe, bến tàu. Trong trường hợp bắt buộc phải đến những nơi kể trên cần đeo khẩu trang y tế, vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn ngay sau đó. Ngoài ra, bố mẹ cần đảm bảo cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, nâng cao sức đề kháng, vệ sinh cơ thể, giữ tay sạch sẽ, tránh nguồn lây bệnh. Bố mẹ cũng có thể tăng cường hệ miễn dịch cho bé bằng cách cho bé sử dụng các loại thực phẩm chức năng giúp nâng cao sức đề kháng và hệ thống miễn dịch. Ưu điểm của những loại thực phẩm chức năng này là bổ sung đầy đủ các loại vitamin và khoáng chất thiết yếu mà thức ăn hàng ngày chưa cung cấp đủ. Qua đó giúp hình thành và củng cố hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, chống chọi lại với các loại dịch bệnh lây lan trong thời điểm nắng nóng, giao mùa. 3. Cách xử lý khi mắc bệnh Khi bị bệnh cần cách ly và sử dụng các vật dụng cá nhân riêng để tránh lây lan cho người khác. Nên vệ sinh mũi họng hàng ngày cho con bằng nước muối sinh lý. Để bệnh thủy đậu nhanh chóng được cải thiện, người bệnh tuyệt đối không được gãi hay làm vỡ các nốt thủy đậu. Để hạn chế khả năng này có thể xảy ra khi không kiềm chế được, bạn nên cắt hết móng tay, giữ cho da luôn khô và sạch đồng thời cũng nên mặc các loại quần áo mềm mại để tránh cọ sát vào da. Những nốt thủy đậu khi bị vỡ không chỉ để lại sẹo xấu mà còn làm lan nhanh mụn sang những vùng da khác. Khi bị thủy đậu, người bệnh tuyệt đối không nên ăn một số loại thực phẩm như hải sản, thịt gà, thịt vịt và thịt bò. Thay vào đó nên ăn các loại thức ăn lỏng nhưng vẫn phải đảm bảo đủ calo và chất dinh dưỡng cho cơ thể khỏe mạnh và tăng sức đề kháng.   Theo các chuyên gia phụ khoa, những người bị thủy đậu nên kiêng nước và gió để tránh làm cho các chất bẩn trên da đi qua các vết loét và thấm sâu gây nhiễm trùng da. Vì vậy, khi bị bệnh, bạn chỉ nên sử dụng nước ấm và khăn mềm để lau người cho sạch. Và cần lưu ý khi lau rửa phải nhẹ nhàng, tránh tác động mạnh đến các nốt thủy đậu gây vỡ và nhiễm trùng. Sau khi lau, bạn nên sử dụng khăn mềm để thấm khô người. Khi thấy người bệnh có các biểu hiện bất thường như sốt cao liên tục, lơ mơ, co giật... cần đưa ngay tới cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Viêm tai giữa ở trẻ: Bệnh nguy hiểm khó lường

VIÊM TAI GIỮA Ở TRẺ: BỆNH NGUY HIỂM KHÓ LƯỜNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Viêm tai giữa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng tới 3 tuổi. Trẻ thường mắc viêm tai giữa do viêm VA lan vào vòi nhĩ, làm cho vòi nhĩ bị viêm và tắc lại. Ở trẻ em, vòi nhĩ ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi khuẩn và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa. Đặc biệt, hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản...) ở trẻ rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai, gây viêm. Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương... ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ và dẫn đến rối loạn ngôn ngữ. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây các biến chứng nhiễm trùng sọ não rất nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch bên hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số 7).   Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương...  (Ảnh minh họa) Ở giai đoạn đầu, biểu hiện của bệnh viêm tai giữa không rõ rệt, trẻ không sốt, không đau tai, rất ít khi có ù tai, không chảy dịch ở tai. Triệu chứng duy nhất là trẻ bị nghễnh ngãng nên các bà mẹ thường hay bỏ qua và cho rằng trẻ thiếu tập trung. Khi chuyển sang giai đoạn mạn tính mới có hiện tượng chảy mủ tai. Vì vậy, ngay từ giai đoạn ủ bệnh (trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, trẻ bé thường bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, đi ngoài, co giật, lấy tay dụi vào tai...), người lớn cần đưa trẻ đi khám và điều trị. Nếu được phát hiện sớm, thầy thuốc sẽ chủ động chích rạch dẫn lưu hoặc sau khi vỡ mủ được điều trị cẩn thận thì bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần, không để lại di chứng. Hiện nay, với kỹ thuật nội soi, các thầy thuốc sẽ dùng kính hiển vi điện tử để chích một lỗ nhỏ ở màng nhĩ và đặt vào đó một ống thông nhỏ. Ống thông khí xuyên qua màng nhĩ nhằm hút sạch dịch nhầy quánh trong hòm nhĩ ra ngoài và lưu ống thông khí tại chỗ để dịch có thể tự chảy ra ngoài. Để phòng bệnh viêm tai giữa cho trẻ, người lớn phải giữ gìn vệ sinh mũi họng hằng ngày cho bé sạch sẽ, hạn chế tối đa trẻ bị viêm mũi họng. Khi trẻ nôn trớ, không nên đặt trẻ nằm đầu thấp vì chất nôn dễ tràn vào tai giữa. Khi gội đầu cho trẻ, không nên hạ thấp đầu quá, nước sẽ chảy vào tai giữa, gây viêm. Nếu trẻ bị viêm mũi họng và viêm VA thì phải điều trị dứt điểm, đúng cách vì đó là nguyên nhân gây viêm tai giữa. Trong nhiều trường hợp, nếu viêm VA quá nặng phải tiến hành nạo VA, khi có chỉ định của bác sĩ. Khi nghi ngờ trẻ bị viêm tai giữa, các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đi khám tại chuyên khoa tai mũi họng ở các bệnh viện có uy tín. Tuyệt đối không được tự ý điều trị cho trẻ. Lưu ý, viêm tai giữa là một bệnh dễ tái phát, vì thế, trẻ cần được theo dõi thường xuyên ở các cơ sở y tế chuyên khoa.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HIỂU ĐÚNG VỀ BỆNH SỞI

HIỂU ĐÚNG VỀ BỆNH SỞI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Sởi là gì? Sởi (tiếng Anh: measles hay rubeola) là bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong nhi khoa. Trước đây bệnh xảy ra rất thường xuyên và có tỷ lệ lây nhiễm cũng như tử vong rất cao nhưng hiện nay không còn phổ biến nhờ vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao. 2. Nguyên nhân gây bệnh là virus sởi Đây là một loại virus ARN thuộc chi Morbilivirus nằm trong họ Paramyxoviridae. Hiện nay người ta chỉ phát hiện một tuýp huyết thanh virus sởi. Trong giai đoạn tiền triệu và một thời gian ngắn sau khi phát ban, virus sởi có thể được tìm thấy trong dịch tiết mũi hầu, máu và nước tiểu. Virus có thể hoạt động sau khi để 34 giờ ở nhiệt độ phòng. 3. Dịch tễ: Sởi có thể gây dịch khắp nơi trên thế giới. Trong quá khứ, các vụ dịch thường xảy ra cứ mỗi 2 đến 4 năm vào mùa xuân ở các thành phố lớn, khi mà số lượng một nhóm trẻ không có miễn dịch với sởi đủ lớn. Sởi ít khi biểu hiện thầm lặng. Trước khi có vaccine sởi, lứa tuổi mắc bệnh thường gặp nhất là 5 đến 10 tuổi. Những người sinh trước năm 1957 được coi như có miễn dịch tự nhiên với sởi vì lúc đó sởi lưu hành rất phổ biến. Hiện nay bệnh thường gặp ở trẻ ở độ tuổi trước khi đi học không được tiêm chủng ngừa sởi. Ở Việt Nam, sởi vẫn còn là một bệnh tương đối thường gặp mặc dù tỷ lệ mắc đã giảm rõ rệt so với trước khi có chương trình tiêm chủng mở rộng. 4. Sởi là một bệnh dễ lây lan: Trong gia đình nếu có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Người bệnh phát tán virus mạnh nhất là vào giai đoạn tiền triệu (giai đoạn xuất tiết) thông qua các hạt nhỏ bắn ra khi ho, khi nói chuyện hoặc khi tiếp xúc. Điều đáng nói ở đây là giai đoạn lây lan mạnh này xuất hiện vào lúc khi bệnh chưa được chẩn đoán, do đó, dĩ nhiên cũng không có biện pháp phòng ngừa.   Sởi là một bệnh nhiễmvirus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuấthiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao (Ảnh: Internet) Trẻ sơ sinh được mẹ truyền các kháng thể miễn dịch thông qua nhau thai. Lượng kháng thể có thể tồn tại từ 4 đến 6 tháng, do vậy trẻ ít khi mắc bệnh trong giai đoạn này. Tuy vậy, một số bằng chứng cho thấy kháng thể từ mẹ có thể bảo vệ trẻ đến tháng thứ 9 sau khi sinh. Đây là lý do tiêm chủng ngừa sởi thường được thực hiện trước 12 tháng 5. Bệnh sinh: Những tổn thương đặc trưng của sởi xuất hiện ở da, niêm mạc mũi hầu, phế quản, niêm mạc đường tiêu hóa và kết mạc mắt. Tại đây xuất hiện các dịch xuất tiết thanh mạc và sự tăng sinh của các tế bào đơn nhân và một số tế bào đa nhân quanh mao mạch. Các tổ chức bạch huyết cũng tăng sinh thường gặp nhất là ở ruột thừa, nơi có thể tìm thấy các tế bào khổng lồ đa nhân (tế bào khổng lồ hệ võng nội mô Warthin - Finkeldey). Biểu hiện ở da là những tổn thương các tuyến đưới da và lỗ chân lông. Hạt Koplik cũng chứa các chất xuất tiết thanh dịch và sự tăng sinh các tế bào nội mô tương tự như ở da. Viêm phổi kẽ là do các tế bào khổng lồ Hecht. Viêm phổi cũng do bội nhiễm vi khuẩn. Trong một số trường hợp viêm não, quá trình thoái hóa myeline có thể xảy ra quanh khoảng mạch trong não và tủy sống. Trong viêm não toàn bộ xơ hóa bán cấp (SSPE: Subacute Sclerosing PanEncephalitis) hay còn gọi viêm não chậm, sự hiện diện của virus trong các hạt vùi nội bào tương và trong nhân gây nên sự thoái hóa từ từ và tiến triển của vỏ não (chất xám) và chất trắng 6. Biểu hiện lâm sàng Sởi biểu hiện trên lâm sàng qua ba giai đoạn: Giai đoạn ủ bệnh. Giai đoạn tiền triệu với dấu hiệu nội ban (còn gọi là hạt Koplik). Giai đoạn cuối với ban dát - sẩn và sốt cao. 6.1. Giai đoạn ủ bệnh Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 10 đến 12 ngày là thời gian từ khi trẻ bị nhiễm virus gây bệnh đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn tiền triệu. Trong giai đoạn này trẻ không biểu hiện triệu chứng gì của bệnh. 6.2.Giai đoạn tiền triệu Giai đoạn tiền triệu thường kéo dài 5 đến 15 ngày được đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy mũi nước, viêm kết mạc mắt. Những triệu chứng này hầu như luôn luôn xảy ra trước khi nội ban xuất hiện. Nội ban hay hạt Koplik là dấu hiệu chỉ điểm của bệnh. Nội ban xuất hiện ở khẩu cái cứng hoặc khẩu cái mềm (vòm họng). Hạt Koplik là những hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà, xung quanh có viền đỏ. Hạt thường xuất hiện và biến mất nhanh trong vòng 12 đến 24 giờ. Kết mạc mắt có thể bị viêm đỏ và có dấu hiệu sợ ánh sáng. Người bệnh thường có ho khan tức ho không có đàm. Đôi khi giai đoạn tiền triệu biểu hiện bằng những triệu chứng nặng nề như sốt cao, co giật hoặc thậm chí viêm phổi. 6.3.Giai đoạn phát ban Đây là giai đoạn điển hình nhất của bệnh với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 đến 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát-sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ. Trong trường hợp nhẹ, ban thường đứng gần nhau nhưng riêng rẽ. Trong trường hợp nặng, ban có xu hướng hợp với nhau làm thành những ban lớn hơn, thậm chí từng mảng xuất huyết (sởi đen). Trong thể đặc biệt nặng, ban có thể có dấu hiệu xuất huyết. Khi ban lan đến chân thì sốt cũng đột ngột giảm đi nếu không có biến chứng. Sau đó ban cũng nhạt dần và mất đi đúng theo tuần tự nó đã xuất hiện, nghĩa là cũng từ trên xuống dưới. Sau khi ban mất đi, trên da còn lại những dấu màu sậm lốm đốm như vằn da báo. CHÚ Ý: Một số trường hợp bệnh sởi biểu hiện không giống như miêu tả ở trên như trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ban có thể không điển hình. Các bệnh này thường là bệnh nhân AIDS, hội chứng thận hư, điều trị thuốc ức chế miễn dịch.. 7. Chẩn đoán Chẩn đoán chủ yếu dựa vào yếu tố dịch tễ (tiếp xúc nguồn lây) và biểu hiện lâm sàng với những dấu hiệu và triệu chứng miêu tả ở trên. Trong đó việc phát hiện nội ban và ngoại ban tuần tự có ý nghĩa quyết định. Xét nghiệm cận lâm sàng chỉ có ý nghĩa nghiên cứu hơn là phục vụ cho công tác điều trị. Trong giai đoạn tiền triệu, có thể phát hiện các tế bào khổng ồ đa nhân từ bệnh phẩm ngoáy mũi họng. Công thức máu có thể cho thấy giảm tế bào đa nhân trung tính và tăng tương đối tế bào lympho. Khi bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa hay viêm phổi thì tế bào đa nhân trung tính có thể tăng cao. Đây cũng là dấu hiệu có ích trong phát hiện biến chứng bội nhiễm. Dịch não tủy chỉ thực hiện khi trẻ có biểu hiện tổn thương thần kinh. Trong trường hợp này, protein tăng cao, tế bào ít tăng và chủ yếu là các tế bào lympho, glucose dịch não tủy bình thường. Kháng thể có thể phát hiện được khi xuất hiện ban trên lâm sàng. Kháng thể IgM cho biết tình trạng nhiễm trùng cấp tính. Kháng thể IgG cho biết bệnh nhân đã được miễn dịch do tiêm chủng hay mắc bệnh trước đó. IgG cũng là kháng thể duy nhất mẹ truyền cho con qua nhau thai và có tác dụng bảo vệ trẻ trong khảng 4 đến 6 tháng đầu đời. Phân lập virus bằng cách cấy trên tế bào phôi người hoặc tế bào thận khỉ. Những thay đổi bệnh lý tế bào thường xảy ra trong khoảng 5-10 ngày với sự xuất hiện các tế bào khổng lồ đa nhân cùng với các hạt vùi trong nhân tế bào. 8. Chẩn đoán phân biệt 8.1.Sởi Đức (rubella): Ban ít hơn sởi, sốt cũng nhẹ nhàng hơn. 8.2. Đào ban ấu nhi (roseola infantum) do HHV 6: thường gặp ở trẻ nhũ nhi. Ban có hình dạng giống ban sởi nhưng thường xuất hiện khi sốt giảm đột ngột và thường xuất hiện đầu tiên ở bụng. Kết mạc mắt không viêm còn trong sởi kết mạc viêm đỏ gây nên biểu hiện mắt kèm nhèm trên lâm sàng. 8.3.Nhiễm virus như echovirus, Coxackievirus và adenovirus: ban cũng không đặc trưng như ban sởi. 8.4.Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng do Epstein Barr virus: ban ít hơn nhưng cũng có thể xuất hiện dày lên khi dùng thuốc ampicilline. Bệnh thường kèm theo viêm họng đôi khi có mủ, sưng hạch cổ, gan lách to... 8.5. Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: bệnh thường nặng nề với bối cảnh sốc trụy mạch, ban lan nhanh và không theo tuần tự, ban thường có hình sao, xuất huyết màu tím thẫm (tử ban). 8.6.Sốt tinh hồng nhiệt. 8.7.Các bệnh do rickettsia. 8.8.Bệnh Kawasaki. 8.9.Nổi ban do dị ứng thuốc: tiền sử dùng thuốc. 8.10 Các bệnh huyết thanh. 8.11.Sốt xuất huyết: Sốt cao 39 đến 40 độ C. Tuy nhiên ở Sởi khi sốt, phát ban còn có triệu chứng ho, đau họng... Còn sốt xuất huyết thì không. Sốt xuất huyết thường gây biến chứng nặng sau 4 đến 5 ngày nếu không được chữa trị kịp thời. 9. Điều trị Giống như trong đa phần các bệnh do virus, hiện tại chưa có điều trị đặc hiệu chống virus sởi mà chỉ có điều trị hỗ trợ. Điều trị hỗ trợ gồm hạ sốt bằng Paracetamol, Ibuprofen; nghỉ ngơi tại giường, bù phụ nước-điện giải, phát hiện biến chứng kịp thời. Điều trị kháng sinh khi có bằng chứng bội nhiễm vi khuẩn. Các thuốc kháng virus hiện nay không có tác dụng. Cách ly và phát hiện kịp thời các biến chứng. Dùng Vitamin A: Tình trạng thiếu vitamin A gặp ở 90% bệnh nhi mắc sởi ở châu Phi và gặp ở 22-72% bênh nhi mắc sởi ở Mỹ. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ Vitamin A trong máu với mức độ nặng của sởi. Điều trị bằng Vitamin A đường uống chứng tỏ làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng ở trẻ em mắc sởi tại các nước đang phát triển. [7][8][9] Liều khuyến cáo là 100 000 đơn vị quốc tế cho trẻ 6 tháng đến 1 tuổi; 200 000 đơn vị cho trẻ trên 1 tuổi và dùng liều duy nhất. Trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có dấu hiệu ở mắt do thiếu vitamin A nên thêm một liều vào ngày hôm sau và một liều thứ ba 4 tuần sau đó. 10. Biến chứng Các biến chứng thường gặp của sởi là viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm não. Chính các biến chứng này làm kéo dài thời gian bệnh, ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ. Hậu quả là suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng, đến lượt nó, lại là tiền đề cho các bệnh nhiễm trùng phát sinh. Đây là vòng lẩn quẩn bệnh lý thường gặp. - Viêm phổi kẽ gây ra do chính bản thân virus sởi (viêm phổi tế bào khổng lồ). Viêm phổi do sởi ở bệnh nhân AIDS thường gây tử vong và hiếm khi có ban điển hình. Thường gặp hơn là bội nhiễm vi khuẩn gây nên viêm phổi. Các vi khuẩn thường gặp là phế cầu, liên cầu nhóm A, tụ cầu và Hemophilus Influenzae tuýp b. - Viêm tai giữa là biến chứng luôn luôn phải nghĩ đến ở trẻ mắc sởi. Nguyên nhân gây bệnh cũng tương tự như trong viêm phổi. Nếu không phát hiện kịp thời, viêm tai giữa có thể gây thủng màng nhĩ ảnh hưởng đến thính lực. Đôi khi viêm tai giữa cấp không được điều trị đúng có thể đưa đến viêm tai giữa mạn tính với biến chứng nguy hiểm là viêm tai xương chũm và áp xe não. - Tiêu chảy cũng là biến chứng thường gặp sau sởi đặc biệt ở những trẻ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A. Trẻ dễ bị mắc lỵ trực trùng và tiêu chảy kéo dài. Đôi khi do cơ địa suy kiệt, bệnh nhi dễ có nguy cơ nhiễm trùng huyết tiêu điểm từ ruột. - Viêm loét giác mạc: đây là biến chứng kinh điển và đáng sợ. Trẻ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A là những đối tượng có nguy cơ cao nhất. Bệnh có thể diễn biến từ loét gây mờ giác mạc, hỏng toàn bộ giác mạc đến làm mủ trong nhãn cầu. Hậu quả là giảm thị lực đến mù vĩnh viễn toàn bộ. Biến chứng này hiện nay cũng đã giảm rõ nhờ điều kiện dinh dưỡng được cải thiện và nhờ vào chiến dịch bổ sung vitamin A cho cộng đồng. - Sởi làm suy giảm chức năng miễn dịch của cơ thể nên có thể tạo điều kiện cho thể lao tiềm ẩn tái bùng phát mạnh mẽ. - Viêm cơ tim cũng có thể xảy ra nhưng hiếm gặp hơn. - Viêm não ước tính khoảng 1-2/1000 trường hợp mắc sởi. Không có mối tương quan giữa mức độ nặng của bệnh sởi với khả năng xuất hiện viêm não. Cũng không có tương quan giữa triệu chứng khởi đầu của viêm não với tiên lượng của nó. Có hai thể viêm não do sởi. Một thể là do phản ứng miễn dịch thông qua sự hình thành phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Một thể khác là do sự hiện diện của virus sởi tồn tại trong tế bào thần kinh gây nên viêm não chậm có thể xuất hiện 5 năm thậm chí 15 năm sau khi mắc sởi. - Các biến chứng thần kinh khác là hội chứng Guillain-Barrée, liệt nửa người, huyết khối tĩnh mạch não... thường ít gặp. 11. Tiên lượng Tiên lượng có thể thay đổi tùy theo thể trạng của trẻ, phát hiện và điều trị kịp thời hay không, sự xuất hiện các biến chứng...Tử vong có thể xảy ra do viêm phổi, viêm não. Trong lich sử ví dụ vụ dịch ở đảo Faroe năm 1846, tỷ lệ tử vong là 25%. Ở Mỹ, tỷ lệ tử vong ước tính 1-2/1000 trường hợp. Ở các nước đang phát triển, nơi mà tình trạng suy dinh dưỡng còn cao và hệ thống y tế còn nhiều khiếm khuyết thì tử lệ tử vong chắc chắn cao hơn, biến chứng cũng cao hơn. 12. phòng bệnh sởi Khi phát hiện trẻ có tiếp xúc với nguồn lây bệnh nên cách ly trẻ ởbệnh viện từ ngày thứ 7 sau khi tiếp xúc đến ngày thứ 5 sau khi xuất hiện ban sởi bởi giai đoạn này là giai đoạn lây lan mạnh.Dùng Vaccine: Vắc xin sởi của Hilleman Walter giúp ngăn chặn 1 triệuca tử vong mỗi năm, Hiện nay các nước tiên tiến thường tiêm ngừa sởi bằng vaccine tam liên sởi-quai bi-rubella (sởi Đức). Mũi tiêm đầu tiên thực hiện lúc trẻ được 12 đến 15 tháng tuổi. Mũi tiêm nhắc lại có thể thực hiện lúc trẻ được 4-6 tuổi tuy nhiên cũng có thể tiêm nhắc vào bất cứ lúc nào sau mũi thứ nhất 4 tuần. Trẻ không được tiêm nhắc mũi thứ hai nên được tiêm vào lúc 10 đến 12 tuổi. Ở các nước có tỷ lệ lưu hành sởi khá cao thì có thể tiêm mũi đầu tiên ngay lúc trẻ được 6 tháng tuổi. Chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam thực hiện mũi tiêm sởi lúc trẻ 9 tháng tuổi. Mũi tiêm này chỉ chứa vaccine sởi. Tại các thành phố lớn hiện có vaccine tam liên như trên nhưng không miễn phí. Các gia đình có điều kiện nên tiêm loại vaccine này. Vì vaccine sởi là loại vaccine sống giảm độc lực nên không được khuyến cáo ở phụ nữ có thai, trẻ suy giảm miễn dịch tiên phát, trẻ bị bệnh lao không được điều trị, bệnh nhân ung thư, bệnh nhân ghép tạng, bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch hoặc trẻ bị bệnh AIDS giai đoạn nặng. Phòng ngừa sau phơi nhiễm: Trong vòng 6 ngày từ khi tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globuline miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và cũng không phổ biến ở Việt Nam. Ngay cả tại các nước phát triển thì cũng chỉ một số đối tượng được khuyến cáo sử dụng phương pháp này. Đó là phụ nữ có thai chưa được miễn dịch với sởi, trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi sinh ra từ mẹ không có miễn dịch chống sởi... Do vậy biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất vẫn là tiêm chủng ngừa bệnh theo chương trình quốc gia.
Xem thêm

5 Đọc thêm

BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN HEO

BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN HEO

Chương 3: BỆNH HEO Bài 1: BỆNH DỊCH TẢ HEO (Pestis suum) Hog Cholera, Classical swine fever, Swine fever, Swine pest, Pest porcine. Là bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh, gây ra do virus, tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ chết cao 6090%. Bệnh đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết trên da, thận, lách, hạch lâm ba.... I. LỊCH SỬ VÀ ĐỊA DƯ BỆNH LÝ Bệnh lần đầu tiên được phát hiện ở bang Ohio ở Bắc Mỹ, 1883. 1885, Salmon và Smith cho rằng bệnh gây ra do một loại vi khuẩn và đặt tên là Bacillus cholera suis. 1903, De Schweinitz và Dorset chứng minh căn bệnh là virus Bệnh có hầu khắp các nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, Bắc Mỹ, Đan Mạch, Anh, Nhật, Pháp, Châu Phi,.... Hiện nay một số nước đã thanh toán được bệnh này như: Canada, Úc, Bắc Ailen, Đan mạch, Anh, Mỹ, Nhật Bản.... Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào giữa thế kỷ 20 và bệnh đã gây nhiều đợt dịch nghiêm trọng. Ở Miền Nam bệnh phát ra mạnh vào những năm 19751980. Từ sau 1980, do tác động của tiêm phòng, bệnh đã giảm và chỉ còn những ổ dịch lẻ tẻ. II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH Virus dịch tả heo được xếp vào chi Pestivirus, họ Flaviviridae. Virus có vỏ, virion có đường kính 4050nm, nucleocapsid có đường kính 29nm. Cấu trúc di truyền là một chuỗi ARN đơn dài khoảng 12kb (Moormann and Hulst, 1988). Có nhiều nhóm virus với đặc tính kháng nguyên khác nhau. Trong thực địa virus dịch tả heo có độc lực khác nhau. Những chủng độc lực cao gây ra những bệnh cấp tính với tỉ lệ chết cao, chủng độc lực vừa gây ra những bệnh bán cấp tính hoặc mãn tính, chủng độc lực yếu chỉ gây bệnh nhẹ hoặc không có triệu chứng. Tuy nhiên những chủng này gây chết phôi, thai và heo con sơ sinh. Virus chịu đựng được khoảng pH từ 510. Trong máu đã ly trích sợi huyết ở nhiệt độ 680C sau 30 phút virus vẫn không bị vô hoạt, trong dịch tế bào virus bị vô hoạt sau 10 phút. Những dung môi hòa tan lipid như ether, chloroform và deoxycholate vô hoạt virus nhanh chóng. Các chất sát trùng, đặc biệt là sud (NaOH) có tác dụng diệt virus tốt. Trong thịt và các sản phẩm của thịt, virus có thể sống lâu và là nguồn lây bệnh quan trọng. III. TRUYỀN NHIỄM HỌC 1. Loài vật mắc bệnh Heo mọi giống, mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, nặng nhất là heo con, heo sau cai sữa. Heo nái nhiễm bệnh có thể truyền virus qua nhau đến bào thai ở tất cả các giai đoạn có chửa. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự cảm nhiễm của heo: lứa tuổi, những bệnh truyền nhiễm khác làm giảm sức đề kháng, stress làm giảm khả năng sản xuất kháng thể. 2. Cách lây lan Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, ngoài ra bệnh có thể lây qua niêm mạc mắt, đường sinh dục hoặc vết thương. 3. Cơ chế sinh bệnh Thời gian nung bệnh từ 220 ngày. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus gây nhiễm và phát triển trong các tế bào biểu mô của hạch hạnh nhân, sau đó theo đường lâm ba lan tỏa ra các hạch lâm ba xung quanh, vào hệ thống mạch quản ngoại vi đến lách, tủy xương, hạch lâm ba nội tạng, cấu trúc lâm ba ở ruột non. Virus phát triển trong các tế bào bạch cầu, với mật độ virus trong máu rất cao. Thời gian từ khi virus xâm nhập vào đến khi lan tràn khắp cơ thể khoảng 56 ngày. Trong trường hợp nhiễm virus độc lực cao trong thể cấp tính, virus gây tổn thương thành mạch quản, gây giảm tiểu cầu trầm trọng và rối loạn tổng hợp tơ huyếtogen dẫn đến xuất huyết và nhồi huyết ở các cơ quan phủ tạng. Đối với heo bị nhiễm virus độc lực trung bình, diễn biến bệnh chậm hơn, nồng độ virus trong máu và các cơ quan nội tạng thấp hơn, thường giới hạn ở hạch hạnh nhân, tuyến nước bọt, hồi tràng và thận. Sự nhân lên của virus trong bạch cầu và trong các tế bào hệ thống lưới nội mô dẫn đến giảm bạch cầu làm cho heo có thể bị nhiễm vi khuẩn kế phát. Ngoài ra, nếu heo nái mang thai bị nhiễm những chủng virus độc lực cao, có thể bị sẩy thai hoặc đẻ ra heo con mắc bệnh và chết sau một thời gian ngắn. Sự lây truyền qua nhau với những chủng có độc lực thấp có thể dẫn đến thai khô, hoặc heo con yếu ớt, một số heo con có vẻ khoẻ mạnh nhưng mang trùng kéo dài do hiện tượng dung nạp miễn dịch và những heo này sẽ không đáp ứng miễn dịch khi được tiêm phòng. IV. TRIỆU CHỨNG Thời gian nung bệnh từ 2 12 ngày (trung bình 6 8 ngày). 1. Thể quá cấp Sốt cao 41 420 C, đờ đẫn bỏ ăn, ở những vùng da mỏng, mặt trong đùi đỏ ửng lên rồi tím, co giật. Con vật chết sau 12 ngày. Heo mắc bệnh xuất huyết ở da, co giật Heo con bệnh có cảm giác lạnh, run 2. Thể cấp tính Sốt cao 41 420C, sốt lên xuống. Khi gần chết nhiệt độ hạ. Con vật kém ăn, heo con run rẩy nằm chồng chất lên nhau, táo bón, ói mữa, co giật. Viêm kết mạc mắt, mắt nhiều ghèn 2 mí mắt dính lại nhau. Giai đoạn cuối đi đứng siêu vẹo, bại liệt chân sau. Trên da có những nốt xuất huyết ở tai, mõm, bụng và 4 chân. Bệnh kéo dài 815 ngày. Tỉ lệ chết 8595%. Heo con chết nhiều hơn heo trưởng thành. Heo mắc bệnh thở khó, ngồi giống như chó 3. Thể mãn tính Bệnh kéo dài trên 30 ngày. Con vật kém ăn, sốt, táo bón, ho và tiêu chảy kéo dài heo có thể khỏi nhưng chậm lớn. Heo cái mang thai mắc bệnh do các chủng có độc lực trung bình và thấp có thể dẫn đến sẩy thai, thai khô, đẻ non, heo con yếu ớt, có thể rụng lông và phù nề, thủy thủng dưới da và chết sau đó. Tiêu chảy phân vàng V. BỆNH TÍCH 1. Thể quá cấp Không rõ, chỉ thấy niêm mạc viêm đỏ, vỏ thận xung huyết, hạch lâm ba sưng đỏ. 2.Thể cấp tính Xuất huyết ở nhiều mô và cơ quan của cơ thể, nhiều nhất là ở hạch lâm ba.
Xem thêm

71 Đọc thêm

Cùng chủ đề