SỰ XUẤT HIỆN CỦA ARSEN VÀ HỢP CHẤT ARSEN TRONG MÔI TRƯỜNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SỰ XUẤT HIỆN CỦA ARSEN VÀ HỢP CHẤT ARSEN TRONG MÔI TRƯỜNG":

Báo cáo khoa học: Tình hình ô nhiễm Arsen ở đồng bằng sông Cửu Long pdf

BÁO CÁO KHOA HỌC: TÌNH HÌNH Ô NHIỄM ARSEN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG PDF

Qua kết quả khảo sát ô nhiễm As tại các tỉnh ĐBSCL nói chung + Tỷ lệ ô nhiễm tính trên tổng số mẫu khảo sát nước ngầm là không cao nhưng tại một số địa phương của hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang nước ngầm bị ô nhiễm As với nồng độ cao đe dọa sức khỏe người dân. + Khu vực của sông Hậu chưa có dấu hiệu ô nhiễm As trong nước biển nhưng tại một số nơi cũng phát hiện hàm lượng As trong nước trong ngưỡng 4-5 mcg/l: Mỹ Thạnh, Trần Đề và Định An. THE RISK OF ARSENIC POLLUTION IN MEKONG DELTA RIVER Nguyen Viet Ky University of Technology, VNU-HCM ABSTRACT: In recent years, the development of Mekong Delta has increased significantly, has brought about the industrial and agricultural waste grow. This is considered as one of the risks that causes pollution for environment, in which Arsen is cared the most. The Arsen is detected remarkably in groundwater of UNICEF wells that are being extracted by private companies in many provinces. An evaluation of Arsen pollution in groundwater in Mekong Delta will help experts and managers to recognise the risk of Arsenic pollution and to find out appropriate solutions TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Đỗ Văn Ái, Mai trọng Nhuận và nnk. Một số đặc điểm phân bố arsen trong tự nhiên và vấn đề ô nhiễm arsen trong môi trường ở Việt Nam. “Hiện trạng ô nhiễm arsen ở Việt Nam” – Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam, (2001). Science & Technology Development, Vol 12, No.05 - 2009 Trang 112 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM [2]. Ngô Đức Chân. Ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất tỉnh Đồng Tháp. Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh - giai đoạn 2, (2005). [3]. Phạm Văn Giắng và nnk. Ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý nguồn nước dưới đất tỉnh An Giang. Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh, (2005).
Xem thêm

12 Đọc thêm

LỜI MỞ ĐẦU XÁC ĐỊNH TỔNG ARSEN VÔ CƠ BẰNG TỔNG ARSEN HỮU CƠ TRONG THỦY HẢI SẢN

LỜI MỞ ĐẦU XÁC ĐỊNH TỔNG ARSEN VÔ CƠ BẰNG TỔNG ARSEN HỮU CƠ TRONG THỦY HẢI SẢN

LỜI MỞ ĐẦU Hải sản là món ăn được nhiều người ưa thích. Chúng ta có thể thấy thực đơn hải sản ở các nhà hàng và quán ăn là vô cùng phong phú và đa dạng. Đây là món ăn không những ngon miệng mà còn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên trong quá trình sinh trưởng và phát triển, do ảnh hưởng của môi trường sống, của quá trình nuôi trồng, chế biến... hải sản cũng tích tụ nhiều chất độc hại như chất khử trùng, chất kháng sinh, phụ gia thực phẩm, kim loại nặng và các hợp chất của nó. Trong sản phẩm hải sản, arsen được tìm thấy ở nhiều dạng hóa học khác nhau với mức độ độc hại khác nhau. Dạng arsen độc hại nhất là arsen vô cơ (As(III) và As(V)). Các dạng arsen hữu cơ như arsenobetaine (AB), arsenocholine (AC), dimethylarsinic acid (DMA), monomethylarsinic acid (MMA), trimethylarsine oxide (TMAO) thì có độc tính rất thấp hay gần như không độc. As(III) trong hải sản tồn tại ở dạng liên kết hóa học với nhóm thiol –SH của các protein và các đại phân tử, gây ức chế các enzyme trao đổi chất và có thể dẫn đến ngộ độc cấp tính. Triệu chứng ngộ độc arsen không phụ thuộc vào dạng arsen vô cơ, do quá trình chuyển đổi qua lại của phản ứng oxy hóa - khử giữa As(III) và As(V) [24]. Do đó, việc phân biệt hai dạng arsen vô cơ có lẽ là không cần thiết mà quan trọng là xác định được tổng arsen vô cơ. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu qui trình xác định tổng arsen bằng phương pháp vô cơ hóa ướt và tổng arsen vô cơ bằng phương pháp tách chiết. Thiết bị dùng để phân tích arsen là hệ thống phổ phát xạ plasma ghép cặp cảm ứng kết hợp với hệ tạo hydride. Từ kết quả phân tích hàm lượng arsen tổng và arsen vô cơ, chúng ta có thể đánh giá độ an toàn sản phẩm thủy hải sản và là cơ sở để các cơ quan chức năng đưa ra những qui định, giới hạn cho phép về hàm lượng arsen trong quá trình xuất nhập khẩu.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI GIẢNG MÔN HỌC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM part 6 pot

BÀI GIẢNG MÔN HỌC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM PART 6 POT

agonist) gây ra ngộ độc trên người. Các hợp chất có chứa Arsenic có tác dụng kích thích tăng trọng cho gà thịt và gà lôi hay chữa bệnh kiết lỵ trên heo tỏ ra rất hiệu quả. Tuy nhiên hợp chất này có thể bị phân giải để sinh ra chất Arsen rất độc hại cho môi trường và là yếu tố gây nên bệnh ung thư; Kháng sinh tổng hợp như Olaquindox (nhóm Quinolon) có tác dụng phòng bệnh tiêu chảy heo con và làm giảm mắc một số bệnh khác nhưng ngày nay người ta nhận thấy khi ăn sản phẩm động vật có tồn dư Olaquindox thì chất này tích lũy trong cơ thể và lâu ngày sẽ gây ra ung thư da do dị ứng với ánh sáng. - Sử dụng hoá chất trong chăn nuôi: theo DS. Trương Tất Thọ (trích từ báo Lao Động số 108/98 ngày 8 tháng 7 năm 1998) kháng sinh dùng để trị các bệnh nhiễm trùng, sử dụng không đúng cách, vi khuẩn còn sống sẽ tự thay đổi cấu trúc ADN, ARN để chống lại kháng sinh. Có thể đó là lý do tại sao mà các kháng sinh cổ điển như penicillin, streptomycin, tetracyclin… ngày nay ít hiệu quả. Tuy nhiên người chăn nuôi thường hay dùng kháng sinh trong việc phòng trị bệnh và xem nó như là một thần dược vậy. Kết quả điều tra của Lã văn Kính và ctv (1996) trên 75 % số mẫu thịt và 66,7 % số mẫu gan (gà nuôi theo phương thức công nghiệp) cho thấy đều có tồn dư kháng sinh với mức tồn dư từ 3,67-122 ppm tùy theo chủng loại, cao hơn hàng chục tới hàng nghìn lần so với tiêu chuẩn Quốc tế (Tiêu chuẩn Úc, Khối EU là 0,01 ppm; Mỹ là 0,1 ppm). Tóm lại việc lạm dụng kháng sinh đã tạo cơ hội cho vi trùng làm quen với kháng sinh, do đó khi mắc bệnh thì việc sử dụng thuốc không còn hiệu nghiệm nửa. Chẳng hạn như bệnh thương hàn (Salmonella typhi) giờ đây vi trùng này kháng lại nhiều loại thuốc từ loại cũ (Chloramphenicol, Thiophenicol) đến loại mới (Fluoquinolon). Tương tự bệnh lao càng trở nên nguy hiểm khi chống lại nhiều loại thuốc trị lao. 3. Tình hình vệ sinh giết mổ: 60Theo kết báo cáo của Chi cục Thú y An Giang về thực trạng giết mổ, kinh doanh thịt gia súc gia cầm trên địa bàn tỉnh An Giang vào tháng 4 năm 2003 thì trên địa bàn 9 huyện thị thành có 23 cơ sở giết mổ tập trung. Riêng 2 huyện chưa có lò giết mổ tập trung là Châu Phú và Châu Thành. Nhìn chung khoảng cách từ cơ sở
Xem thêm

10 Đọc thêm

2 MỘT SỐ NGUYÊN LÝ VỀ ĐỘC CHẤT HỌC MÔI TRƯỜNG 21

2 MỘT SỐ NGUYÊN LÝ VỀ ĐỘC CHẤT HỌC MÔI TRƯỜNG 21

nhiệt độ, oxy hòa tan) được biết có thể kiểm soát sự hình thành các chất lây nhiễm trong môi trường, dự đoán các chất lây nhiễm, do đó xác định được độc tính tiềm năng của chúng đối với môi trường qua việc mô hình hóa. Những mô hình hóa phát triển trong 30 năm cũng vẫn đang được hoàn thiện và tập trung vào các nghiên cứu độc tính môi trường của các chất. 2.2. Ảnh hưởng của hóa chất đối với sinh vật và con người Từ lâu cộng đồng châu Âu đã nhận ra rằng cần phải bảo vệ môi trường và tạo nên chuẩn mực chung để bảo vệ người tiêu dùng để bảo đảm sự tự do thương mại giữa các chính phủ thành viên. Vì lý do này các quy định về môi trường được áp dụng cho các sản phẩm, kể cả các hóa chất nguy hại. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, phản hồi cho hệ thống hiện tại được xác định và kiểm tra. Điều quan trọng nhất là: - 100.106 các hợp chất đang tồn tại có thể được sử dụng mà không qua kiểm nghiệm - Không có công cụ hữu hiệu để đảm bảo việc sử dụng an toàn các chất có nguy cơ cao - Thiếu động lực cho việc sáng chế, đặc biệt là thay thế các hoặc làm giảm chất thải nguy hại Chính vì thế ngày càng có nhiều loại hóa chất được sử dụng cho các mục khác nhau không được kiểm nghiệm và đều có khả năng tiềm tàng trong việc gây độc đối với sinh vật và môi trương sinh thái. Đặc biệt là các hóa chất được sử dụng trong nông nghiệp như thuốc diệt cỏ, diệt côn trùng, chất bảo vệ thực vật…Sau đây, một số hóa chất độc trong môi trường và ảnh hưởng của nó sẽ được đề cập đến 2.2.1 Chaát ñoäc da cam
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG CỦA NGUYÊN TỐ ARSEN potx

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG CỦA NGUYÊN TỐ ARSEN POTX

vạn lần, trong tóc lớn hơn 5-10 lần. Từ những nghiên cứu tiếp theo về bệnh học và dịch tễ học, với hơn 31 triệu chứng lâm sàng liên quan đến nhiễm độc asen, Đào Ngọc Phong (1993) đã kết luận: dân trong khu vực bị nhiễm độc asen mãntính [11] .Khảo sát gần đây của tác giả do UNICEF tài trợNước sạch cho vùng cao là một trong những mục tiêu tài trợ mà UNLCEF dành cho nhân dân ta. Vùng cao thường cócác dòng suối nhỏ và các mạch nước từ khe đá với lưu lượng có thể dùng để cấp nước bằng phương pháp tự chảy cho cụm dân cư lân cận. Nước suối, nước khe thường rất trong. Tuy nhiên để tránh thảm họa Asen như đã được thông báo trên toàn cầu, trước khi khai thác UNICEF thấy cần khảo sát chất lượng nguồn nước, trước hết là Asen (thạch tín). Asen là một chất độc không gây mùi vị lạ khi tồn tại trong nước với lượng đủ làm chết người. Đợt khảo sát này tiến hành chủ yếu tại vùng mà trước đây Đ.V. Can đã phát hiện nhiều suối bị nhiễm độc.Đoàn công tác được sự hỗ trợ trực tiếp của TT Nước sạch & Vệ sinh Môi trường tỉnh Sơn La, UBND huyện Mộc Châu và UBND xã Bó Sinh, đặc biệt là của ông Lò Pin, Chủ tịch xã. Asen có thể tồn tại với lượng lớn trong tự nhiên ở dạng arsenopyrite hoặc các hợp chất khác với lưu huỳnh. Khi bị phong hóa, Asen chuyển sang dạng tan được trong nước. Bởi vậy ngoài việc xét nghiệm nước cũng xét nghiệm cả khoáng vật, đất đá gần các suối trong vùng khảo sát.Thời gian khảo sát được thực hiện từ ngày 8 tháng 5 đến 13 tháng 5 năm 2000, tức là vào đầu mùa mưa nhằm tránhsự rửa trôi các độc tố đã lưu trong khoáng vật. Tuy nhiên, trong tháng năm, Thái dương hệ có dị thường: 6 hành tinh xếp thẳng hàng với Mặt trời. Bởi vậy, mặc dù thời gian khảo sát là đầu mùa mưa, nhưng năm nay thời tiết thay đổi, mưasớm và lớn hơn mọi năm. Ba ngày trước khi đội công tác đến địa bàn, mưa liên tục. Trong ngày đi thực địa lấy mẫu cũng có mưa to mưa gây lũ cuốn trôi mất một đoạn đường. Nước mưa có thể rửa trôi phần độc tố đã tích tụ trong đất ởdạng tan. Mặc dầu vậy, cũng đã phát hiện thấy vết asen trong 2 suối và 2 mẫu khoáng vật lộ thiên chứa hàm lượng asen cao hơn giá trị bình thường trong vỏ trái đất hàng trăm lần. Đấy là dấu hiệu xác nhận nguy cơ gây ô nhiễm nước của các suối tại đây [12] .Nguy cơ ô nhiễm asen của nước suối ở vùng caoTheo Đặng Văn Can, phần lớn diện tích vùng rừng núi Việt nam là lộ diện của các đá magma có tuổi từ arkeozoi tới Đệ Tứ. Nhiều khoáng sản nguồn gốc nhiệt dịch được hình thành, trong đó đã phát hiện được nhiều mỏ có hàm lượng asen cao. [10]. Ngoài khu vực Đông Nam bản Phóng, còn có nhiều mỏ khác như là Cao Răm, Cẩm Tâm, Suối Trát, Trà Năng, Pắc Lạng, Tuyên Hoá, Làng Vai, Tà Sỏi, Cắm Muộn, Mậu Đức, , thuộc kiểu vàng - thạch anh - sunfua, và các mỏ Nà Pái, Pi Ho, Đà Lạt, Xã Khía, Vithulu, Mường Tè, Phong Thổ, , thuộc kiểu mỏ vàng - sunfua - muối sunfua [6] .Asen có mặt khá phổ biến trong đá gốc cũng như trong đới phong hoá đỏ nâu với hàm lượng lớn hơn nhiều lần giá
Xem thêm

32 Đọc thêm

Cấp thoát nước - Chương 9 ppt

CẤP THOÁT NƯỚC - CHƯƠNG 9 PPT

hay Dimethylarsenic acid (cacodylic) (CH3)2AsO(OH). Nhữngchất này có thể đợc Methyl hoá tiếp tạo Trimethylarsine bay hơi rất độc vàDimethylarsine (III) rất độc.Giới thiệu về arsenNồng độ các hợp chất Arsenat As(V) trong nớc ngầm phụ thuộc vàp pH3 Arsen tồn tại phổ biến trong môi trờng xung quanh, vàmọi ngời đều tiếp xúc với một lợng nhỏ của chúng. Con đờng thâm nhập chủ yếu của arsen vào cơ thể làqua đờng thức ăn (trung bình 25 - 50 àg/ngđ), ngoài racòn một lợng nhỏ qua nớc uống và không khí. Một sốloài cá và thuỷ sản dùng làm thực phẩm chứa arsen caohơn bình thờng, nhng lợng arsen này thờng tồn tại dới dạng hợp chất arsen hữu cơ ít độc. As trong tế bào thực vật: 0,01 - 5 ppm / trọng lợng khô. Thực vật biển: nhiều As hơn. Tảo biển, tảo nâu: 94 ppm. Tế bào ngời: < 0,3 ppm. Tôm cá biển: 120 ppm/trọng lợng khô.Công dụng:Sản xuất thuốc trừ sâu, diệt cỏ (cả arsen hữu cơ và arsenvô cơ).
Xem thêm

17 Đọc thêm

CƠ CHẾ GÂY ĐỘC ARSEN VÀ KHẢ NĂNG GIẢI ĐỘC ARSEN CỦA VI SINH VẬT

CƠ CHẾ GÂY ĐỘC ARSEN VÀ KHẢ NĂNG GIẢI ĐỘC ARSEN CỦA VI SINH VẬT 82

2O3) Từ lâu, arsen ở dạng hợp chất vô cơ đã được sử dụng làm chất độc (thạch tín), một lượng lớn arsen loại này có thể gây chết người, mức độ nhiễm nhẹ hơn có thể thương tổn các mô hay các hệ thống của cơ thể. Arsen có thể gây 19 loại bệnh khác nhau, trong đó có các bệnh nan y như ung thư da, phổi. Sự nhiễm độc Arsen được gọi là arsenicosis. Đó là một tai họa môi trường đối với sức khỏe con người. Những biểu hiện của bệnh nhiễm độc Arsen là chứng sạm da (melanosis), dày biểu bì (kerarosis), từ đó dẫn đến hoại thư hay ung thư da, viêm răng, khớp... Hiên tại trên thế giới chưa có phương pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc Arsen. Arsen ảnh hưởng đối với thực vật như một chất ngăn cản quá trình trao đổi chất, làm giảm năng suất cây trồng. Tổ chức Y tế thế giới đã hạ thấp nồng độ giới hạn cho phép của arsen trong nước cấp uống trực tiếp xuống 10 μg/l. USEPA và cộng đồng châu Âu cũng đã đề xuất hướng tới đạt tiêu chuẩn arsen trong nước cấp uống trực tiếp là 2-20 μg/l. Nồng độ giới hạn của arsen theo tiêu chuẩn nước uống của Đức là 10 μg/l từ tháng. Con đường xâm nhập chủ yếu của arsen vào cơ thể là qua con đường thức ăn, ngoài ra còn một lượng nhỏ qua nước uống và không khí. Cơ chế gây độc của arsen là nó tấn công vào các nhóm sulfuahydryl của enzym làm cản trở hoạt động của các enzym. Arsen (III) ở nồng độ cao làm đông tụ các protein do arsen(III) tấn công vào liên kết có nhóm sunphua. Tóm lại, tác dụng hóa sinh chính của arsen là: làm đông tụ protein; tạo phức với coenzym và phá hủy quá trình photphat hóa tạo ra ATP. Các chất chống độc tính của arsen là các hóa chất có chứa nhóm – SH như 2,3 – dimecaptopropanol (HS – CH2
Xem thêm

11 Đọc thêm

MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỘC CHẤT part 9 doc

MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỘC CHẤT PART 9 DOC

cá biệt có thể đến 170 µg/m3 - Trong khoang miệng, nồng độ trung bình của hơi thủy ngân có nguồn gốc từ hỗn hàng hàn răng nằm trong khoảng 3 - 29 µg/m3 1.3. Arsen và các hệ chất của nó 1.3.1. Nguồn gốc arsen trong môi trường Arsen là nguyên tố hình thành tự nhiên trong vỏ trái đất. Arsen nguyên chất là kim loại màu xám, dạng này ít tồn tại trong thiên nhiên. Người ta thường tìm thấp arsen tồn tại dưới dạng hợp chất, với một hay nhiều nguyên tố khác như oxi, clo, lưu huỳnh. Arsen kết hợp với những nguyên tố trên tạo thành hợp chất arsen vô cơ như các khoáng vật. Hợp chất của arsen với carbon và hydro gọi là hợp nhất arsen hữu cơ. Các dạng hợp chất hữu cơ của arsen thường ít độc hơn so với các hợp chất arsen vô cơ. 1.3.2. Sự phân bố và biến đổi trong môi trường Hàng năm tổng lượng arsen xâm nhập vào khí quyển là 73540 tấn. Arsen trong sinh khối thực vật trên trái đất khoảng 160.000 tấn và trong động vật khoảng 3000 tấn. Arsen có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Nguồn gốc tự nhiên chủ yếu của arsen là núi lửa bay hơi nhiệt độ thấp, xói mòn do gió, lửa rừng và bụi đại dương. Nguồn gốc arsen nhân tạo là các quá trình nấu chảy đồng, chì, kẽm, sản xuất thép, đốt rừng, đồng cỏ, sử dụng thuốc trừ sâu diệt cỏ, đốt chất thải và nhà máy hủy tinh. Nguồn gây ô nhiễm arsen: arsen có mặt trong các mỏ nhiệt dịch, chủ yếu là các loại hình quặng antimon, vàng, thiếc, sulfua đa kim và các mỏ than đá, than bùn. Ngoài ra, arsen còn gặp trong các bãi thải, nước thải của các nhà máy, xí nghiệp và chất thải sinh hoạt. Arsen xâm nhập vào cơ thể con người theo hai nguồn: nguồn tiếp xúc nghề nghiệp và nguồn tiếp xúc không nghề nghiệp. 182
Xem thêm

21 Đọc thêm

Đồ án xử lí cấp nước nhiễm arsen

ĐỒ ÁN XỬ LÍ CẤP NƯỚC NHIỄM ARSEN

> I-. Nhôm oxit được dùng làm vật liệu hấp phụ arsen là do độ chọn lọc cao của nó đối với hợp chất arsen. Vì là quá trình tạo phức trên bề mặt chất rắn nên diện tích bề mặt của chất hấp phụ chỉ được sử dụng một phần, tại các trung tâm hoạt động có khả năng tạo liên kếtt phức chất, vì vậy nhôm oxit có diện tích bề mặt cao sẽ thuận lợi cho quá trình hấp phụ. Tuy vậy dung lượng hấp phụ của nhôm oxit đối với arsen cũng không cao do nồng độ của arsen trong nước thường rất nhỏ. Với nhôm oxit có diện tích khoản 400m2/g dung lượng hấp phụ arsen cũng chỉ đạt 1,4mg As/ml nhôm oxit (xấp xỉ 1,6mg/g) tại pH = 6. pH thích hợp cho quá trình hấp phụ As trên nhôm oxit nằm trong khoảng 5.5-6.0, tại pH cao hơn, ví dụ pH=8 dung lượng hấp phụ chỉ còn non một nửa so với nó tại pH = 6. dung lượng hấp phụ của nhôm oxit đối với As giảm rất mạnh khi có mặt sunfat nhưng hầu như không tác động của ion clorua. Tạp chất hữu cơ, chất keo có mặt trong nước cũng ảnh hưởng xấu đến quá trình hấp phụ của arsen trên nhôm oxit. Arsen tạo phức chất trên bề mặt nhôm oxit khá bền nên khi tái sinh phải dùng dung dịch xút 4% sau đó trung hoà lại với axit sunfuric 2%. Tuy vậy dù có tăng nồng độ axit thì cũng chỉ tách được 50 – 70% lượng arsen trong chất hấp phụ, do vậy dung lượng hoạt động của chu kì sau giảm 10 – 15% và nhôm oxit sẽ mất tác dụng sau vài chu kì hoạt động. Do khó khăn trong việc tái sinh và xử lý dung dịch tái sinh chứa nồng độ arsen cao nên một số nhà công nghệ có ý định chỉ sử dụng cột một lần sau đó loại bỏ chất hấp phụ đã bảo hoà arsen. Ngoài ra, Sắt oxit, Mangan dioxit gần đây cũng được sử dụng làm chất hấp phụ arsen. Đặc biệt là Mangan dioxit có khả năng oxy hoá trực tiếp As(III) thành As(V) ngay trong cột hấp phụ mà không cần tới oxy hoà tan. Do có nhiều chất có thể sử dụng làm chất hấp phụ arsen mà những chất này có thể tồn tại sẵn ở trong nước (Fe, Mn) hoặc là hoá chất dùng để xử lý nước
Xem thêm

38 Đọc thêm

TỔNG QUAN : XÁC ĐỊNH TỔNG ARSEN VÔ CƠ BẰNG TỔNG ARSEN HỮU CƠ TRONG THỦY HẢI SẢN

TỔNG QUAN : XÁC ĐỊNH TỔNG ARSEN VÔ CƠ BẰNG TỔNG ARSEN HỮU CƠ TRONG THỦY HẢI SẢN

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Tóm tắt lịch sử của nguyên tố Arsen [20] Nguyên tố Arsen được học giả kiêm nhà giả kim người Đức Albertus Magnus (1193-1280) phát hiện đầu tiên. Một số dạng hóa học khác của Arsen cũng bắt đầu được phát hiện khi nền hóa học tách khỏi thuật giả kim vào giữa thế kỷ 18. Arsen có lẽ là nguyên tố lập kỷ lục có mối liên hệ tệ nhất với con người do nó được dùng như một chất độc khi con người bắt đầu quan tâm đến hóa học. Lý do arsen được dùng phổ biến do tính sẵn có, rẻ tiền, không màu, không mùi. Đến cuối thế kỷ 19, arsen không còn được dùng làm độc dược nhiều nữa do sự phát triển của phương pháp xác định Arsen có độ nhạy và độ tin cậy cao do Marsh thực hiện năm 1836. 1.2 Tính chất của Arsen [20] Arsen tồn tại ở nhiều dạng vô cơ và hữu cơ khác nhau. Những dạng quan trọng nhất để đánh giá sức khỏe của con người được trình bày ở bảng 1.1. Arsen là nguyên tố có mặt khắp nơi, có tính chất á kim. Hóa học của arsen phức tạp và có nhiều hợp chất khác nhau của arsen hữu cơ và arsen vô cơ. Trong tự nhiên, nó tồn tại ở một số dạng khoáng, chủ yếu là dạng arsenide của đồng, kẽm, nickel, sắt, hay ở dạng arsenic sulfide hay oxide. Trong nước, arsen thường tồn tại ở dạng arsenite hay arsenate. Các hợp chất arsen bị methyl hóa xuất hiện tự nhiên trong môi trường là kết quả của các hoạt động sinh học. Hợp chất phổ biến nhất, arsenic (III) oxide, là sản phẩm phụ trong quá trình nóng chảy quặng đồng hay quặng chì. 1.2.1 Hợp chất arsen vô cơ Hợp chất phổ biến nhất là arsenic (III) oxide, công thức phân tử chung là As4O6, chịu được nhiệt độ đến 1073
Xem thêm

28 Đọc thêm

độc học các hợp chất hữu cơ

ĐỘC HỌC CÁC HP CHẤT HỮU CƠ

ĐỘC HỌC CÁC HP CHẤT HỮU CƠ Các hợp chất HC mạch vòng Các hợp chất HC chứa Chlor CÁC HP CHẤT HỮU CƠ MẠCH VÒNGNGUỒN GỐCĐược đưa vào môi trường một cách gián tiếp qua:Các họat động công nghiệpGiao thôngHọat động đô thò Từ các bãi xử lý chất thải. Đôi khi chúng có mặt do các sự cố về môi trường. Hydrocacbua Polycyclic Aromatic – PAHs PAHs không được tổng hợp do con người Nguồn gốc: Khi đốt cháy các sản phẩm dầu khí.50% số đó được sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu
Xem thêm

37 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU NGUỒN Ô NHIỂM ARSEN TRONG NƯỚC NGẦM TẠI HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG pdf

NGHIÊN CỨU NGUỒN Ô NHIỂM ARSEN TRONG NƯỚC NGẦM TẠI HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG PDF

WHO nhưng dưới tiêu chuẩn của Việt Nam-TCVN (10ppb <As < 50ppb) chiếm 8%; và 1.319 giếng có nồng độ As lớn hơn 50 ppb chiếm 14,4%. Từ kết quả khảo sát các giếng khoan và kết quả phân vùng nồng độ As trong tỉnh An Giang, cho thấy vùng có các giếng nhiễm As với nồng độ cao là các huyện cù lao ven sông: An Phú, Phú Tân, Tân Châu và Chợ Mới (Hình 2). Bảng 1 cho thấy, trong 8.992 giếng khoan, có 6.917 giếng có nồng độ As dưới tiêu chuẩn cho phép (As < 10ppb), chiếm 77%. Các giếng không bị nhiễm tập trung tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, Châu Thành và Thành phố Long Xuyên. Số giếng có nồng độ As vượt quá tiêu chuẩn cho phép (As > 10 ppb) là 2.075 giếng. Trong đó có 1.319 giếng có nồng độ As > 50ppb, chiếm 14,4%, tập trung ở các huyện An Phú, Chợ Mới, Phú Tân và Tân Châu. Bảng 1: Tổng hợp tình hình nhiễm As trong nước ngầm toàn tỉnh An Giang STT Huyện As <10ppb 11 < As < 50ppb As >50ppb Tổng số mẫu 1 An Phú 42 144 787 973 2 Châu Phú 142 35 33 210 3 Châu Thành 644 7 2 652 4 Chợ Mới 613 217 134 964 5 Phú Tân 368 206 256 830 6 Tân Châu 325 67 98 490
Xem thêm

6 Đọc thêm

Thạch tín (Arsen) "Sát thủ vô hình" trong nước ngầm ở An Giang pptx

THẠCH TÍN (ARSEN) "SÁT THỦ VÔ HÌNH" TRONG NƯỚC NGẦM Ở AN GIANG PPTX

gia ñình tăng lên nhanh. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quận Phú Nhuận mật ñộ giếng khoan tới 800 giếng km-2. Việc khoan giếng và khai thác nước dưới ñất không có kế hoạch sẽ làm tăng khả năng ô nhiễm và suy thoái chất lượng nguồn nước dưới ñất. Theo nghiên cứu của UNICEF ñã tổ chức khảo sát tình hình này ở Việt Nam, tại khu vực ñồng bằng sông Cửu Long (ðBSCL), gồm các tỉnh Kiên Giang, ðồng Tháp, An Giang…nơi có tỷ lệ nhiễm cao và An Giang là ñịa phương ñã bị nhiễm cao nhất trong khu vực này. Hầu hết các mẫu xét nghiệm phát hiện nhiễm As ñều tập trung tại 4 huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới. Hiện nay nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng bảy núi An Giang người dân khó tiếp cận ñược nguồn nước sạch, nước sinh hoạt chủ yếu từ nguồn nước ngầm, giếng khoan, ñang tiềm ẩn những nguy cơ lâu dài gây ảnh hưởng ñến sức khỏe người dân trong vùng. Nhiễm ñộc As gây ra những bệnh hiểm nghèo cho con người và ñáng lo ngại là hiện nay chưa có phương pháp hiệu quả nào ñể ñiều trị những căn bệnh ung thư quái ác này. 4. Một số phương pháp khử Arsen - ðối với cây trồng: một nhóm các nhà nghiên cứu Trường ñại học Georgia ñã tạo ra loại cây biến ñổi gen có thể hấp thu lượng As thừa vào lá. Có thể dùng những cây này ñể lấy ñi As từ ñất, sau ñó chúng sẽ ñược thu hoạch và xử lí thích hợp. Các nhà nghiên cứu ñã ñưa hai gen riêng biệt lấy từ vi khuẩn Escherichia coli vào bộ gen của cây cải xoong tai chuột (Arabidopsis thaliana). Gen tạo ra những protein cho phép cây tích luỹ lượng As nhiều hơn bình thường và cũng làm cây ít mẫn cảm với nhiễm ñộc As hơn. - Công nghệ khử As trong nước: Viện ðịa lý và Viện Nghiên cứu ñịa chất và khoáng sản Việt Nam ñã thí nghiệm và sản xuất vật liệu hấp thụ có khả năng làm sạch và giảm lượng As. Quy trình sử dụng loại vật liệu nầy không phức tạp, chỉ cần cho vật liệu vào khuấy ñánh phèn, sau 20 phút nước lắng trong là ñược; nếu cho lọc nhanh qua cát hiệu quả lọc càng cao. Một phương pháp khác do Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam sản xuất gồm một bộ lọc dùng một số khoáng chất (phèn sulfate hay borax) có khả năng phân tích ñể loại thạch tín ra khỏi nguồn nước. Thiết bị ñược làm bằng nhựa tổng hợp PVC, nạp vật liệu là khoáng vật có sẳn trong tự nhiên, không gây phản ứng phụ. - Phương pháp lọc As qua cát (dùng cho nước sinh hoạt): UNICEF Việt Nam ở Hà Nội ñã lắp ñặt thí ñiểm bể lọc xử lý As có giàn mưa, bên dưới có lớp cát vàng dày 60 - 90 cm, kết quả loại ñược khoảng
Xem thêm

3 Đọc thêm

Ô NHIỄM ARSEN TRONG NƯỚC MẶT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ppt

Ô NHIỄM ARSEN TRONG NƯỚC MẶT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG PPT

Keywords: coastal areas, estuaries, As pollutions, rivers, and surface water Title: Arsen pollutions in surface water in the Mekong Delta TÓM TẮT Đề tài “Đánh giá ô nhiễm As trong nước mặt ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện nhằm xác định mức độ ô nhiễm As ở các vùng sinh thái khác nhau. Kết quả của đề tài cho thấy nồng độ As trong nước tăng dần từ sông rạch trong nội địa ra đến cửa sông và từ thượng nguồn đến hạ nguồn sông Tiền và sông Hậu. Tại vùng mặn giá trị trung bình cao gấp 4 lần so với quy chuẩn nước mặt ven bờ (QCVN 10:2008/BTNMT). Nồng độ As trong nước khác biệt có ý nghĩa ở vùng mặn so với vùng lợ và vùng ngọt với giá trị trung bình tương ứng là 49,47 ± 23,57 µg.L-1; 8,51 ± 7,79 µg.L-1 và 1,48 ± 1,26 µg.L-1. Đề tài tìm thấy tương quan thuận giữa As trong nước với pH, EC và SS ở vùng mặn và tương quan thuận với EC, SS ở vùng lợ. Nồng độ As trong nước cao hơn có ý nghĩa ở vùng hạ nguồn so với thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu. Cần có những biện pháp nghiên cứu giảm thiểu nồng độ As trong nước nhằm góp phần đảm bảo sức khỏe của người dân. Từ khóa: vùng ven biển, cửa sông, ô nhiễm As, sông, và nước mặt 1 GIỚI THIỆU Ở Việt Nam ô nhiễm kim loại nặng đặc biệt là Arsenic (As) đã và đang được cộng đồng quan tâm. Theo điều tra của UNICEF, ô nhiễm As chủ yếu do hoạt động của con người trong nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Phần lớn các nguồn này đều thải trực tiếp hay gián tiếp ra ngoài môi trường mà không được xử lý theo quy định. Từ đó cho thấy khả năng xâm nhiễm vào môi trường tự nhiên rất lớ
Xem thêm

10 Đọc thêm

KAOLIN NHẸ THIÊN NHIÊN docx

KAOLIN NHẸ THIÊN NHIÊN DOCX

lượng cắn của lần hút sau không được nhỏ hơn 70% khối lượng cắn của lần hút trước. Bảo quản Trong bao bì kín. Loại thuốc Chống tiêu chảy. Chế phẩm Hỗn hợp kaolin, hỗn hợp kaolin và morphin. Ghi chú: Khi kaolin hoặc kaolin nhẹ được kê đơn hoặc yêu cầu thì cấp phát kaolin nhẹ, trừ khi biết chắc chắn kaolin nhẹ thiên nhiên được yêu cầu.

2 Đọc thêm

Xét nghiệm máu pot

XÉT NGHIỆM MÁU POT

cầu. + Coombs trực tiếp: phát hiện kháng thể không hoàn toàn đã gắn vào bề mặt hồng cầu. + Coombs gián tiếp: phát hiện kháng thể không hoàn toàn còn tự do trong huyết thanh. + Ý nghĩa lâm sàng: Coombs dương tính gặp trong: - Thiếu máu tan máu ở trẻ sơ sinh. - Thiếu máu huyết tán tự miễn. - Tình trạng có kháng thể miễn dịch sau truyền máu nhiều lần. * Nghiệm pháp Coombs tiểu cầu: Khó khăn của phương pháp tiến hành là làm sao rửa được tiểu cầu mà không để tiểu cầu ngưng kết trước khi làm thử nghiệm. Coombs tiểu cầu: nhằm phát hiện kháng thể kháng lại tiểu cầu. Nghiệm pháp này dương tính trong bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch. * Coombs bạch cầu: Thử nghiệm Coombs khó thực hiện đối với bạch cầu vì bạch cầu rất dễ bị hư hỏng khi rửa và khi cho tiếp xúc với huyết thanh kháng globulin đến mức không đọc được kết quả. Do vậy người ta phải thay thế bằng thử nghiệm tiêu thụ kháng globulin để phát hiện kháng thể kháng bạch cầu không hoàn toàn. Đây là thử nghiệm gián tiếp mà người ta không chú ý đến mức kháng globulin còn lại trong huyết thanh. Kết quả được coi là dương tính khi mức tiêu thụ kháng globulin đạt ít nhất 20%. Coombs bạch cầu dương tính gặp trong các bệnh giảm bạch cầu do miễn dịch. Thử nghiệm này nhằm phát hiện kháng thể kháng bạch cầu. * Huyết sắc tố kháng kiềm: Dựa trên nguyên lý: huyết sắc tố bình thường của người trưởng thành kháng kiềm bị biến mất hoàn toàn khi cho tiếp xúc với NaOH. Chỉ có huyết sắc tố bào thai (HSTF), huyết sắc tố bệnh lý, đặc biệt là bệnh thalassemia mới có huyết sắc tố kháng kiềm ở tỷ lệ cao.
Xem thêm

26 Đọc thêm

CÁC THUỐC THỬ CHUNG pot

CÁC THUỐC THỬ CHUNG POT

bị như sau. Trộn đều 0,2 g chế phẩm trong 5 ml nước, thờm 3 ml dung dịch acid hydrocloric 2 N (TT) và 5 ml hexan (TT), lắc trong 1 phút, để yên cho tách lớp. Sử dụng lớp trên. Sử dụng cách tiến hành như mô tả trong phép thử acid 2-ethylhexanoic, chuyên luận Amoxicilin natri. Tổng diện tích của các pic phụ không được lớn hơn 2,5% diện tích của pic chính. Acid fluofenamic C14H10F3NO2= 281,2 Dựng loại tinh khiết húa học. Tinh thể hỡnh kim hay bột kết kinh màu vàng nhạt. Điểm chảy: 132 - 135 °C. Acid formic HCOOH = 46,03 Dùng loại tinh khiết phân tích. Chất lỏng không màu, mùi hăng cay
Xem thêm

141 Đọc thêm

XỬ LÝ NƯỚC CẤP

XỬ LÝ NƯỚC CẤP

Hải Dương. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ asen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang. Trang 2Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3Sự ô nhiễm asen ở miền Bắc phổ biến hơn và cao hơn miền Nam. 1/4 số hộ gia đình sử dụng trực tiếp nước ngầm không xử lý ở ngoại thành Hà Nội đã bị ô nhiễm asen, tập trung nhiều ở phía Nam thành phố, Thanh Trì và Gia Lâm (18,5%). Ở khu vực Hà Nội, Theo kết quả phân tích của Văn phòng đại diện UNICEF tại Hà Nội và Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn trung ương 6 tháng đầu năm 1999 cho thấy, mẫu nước của 351 trong số tổng số 519 giếng khoan ở Quỳnh Lôi (Hai Bà Trưng - Hà Nội) được phân tích thì có 25% số mẫu có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và nếu theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO là 0,01 mg/l) thì có tới 68% vượt tiêu chuẩn cho phép. Tại tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành phân tích Asen trong nước của 201 lỗ khoan nông tại các huyện Hoằng Hóa, Nông Cống, Thiệu Hóa. Đa số các lỗ khoan có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l. Chỉ có 11 giếng khoan ở Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa có Asen lớn hơn 0,05 mg/l, cao nhất đạt 0,1mg/l (4 giếng khoan).Tại tỉnh Quảng Ninh đã phân tích Asen trong nước của 175 giếng khoan nông tại các huyện Đông Triều, thành phố Hạ Long, thị xã Uông Bí, huyện Hưng Yên. Tất cả 175 mẫu đều có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l, chất lượng nước ở đây nhìn chung là tốt.Tại tỉnh Hà Tây chỉ có 01 kết quả phân tích Asen trong nước lỗ khoan nông có hàm lượng Asen lớn hơn 0,05 mg/l.Tại thành phố Hải Phòng, đã phân tích Asen trong nước của 49 lỗ khoan nông tại huyện An Hải, thị xã Đồ Sơn, quận Ngô Quyền, chỉ có 01 mẫu nước lỗ khoan có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép Việt Nam 3 lần.Tại tỉnh Thái Bình, qua phân tích trong nước ngầm của 195 lỗ khoan nông tại các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Vũ Thư và thị xã Thái Bình, kết quả tất cả 195 mẫu đều có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l.Trang 3
Xem thêm

38 Đọc thêm

ĐỒ ÂN MÔN HỌC XỬ LÝ NƯỚC CẤP

5ĐỒ ÁN MÔN HỌC XỬ LÝ NƯỚC CẤP

Hải Dương. Ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ asen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang. Trang 2Đồ Án môn học Xử Lý Nước Cấp Nhóm 3Sự ô nhiễm asen ở miền Bắc phổ biến hơn và cao hơn miền Nam. 1/4 số hộ gia đình sử dụng trực tiếp nước ngầm không xử lý ở ngoại thành Hà Nội đã bị ô nhiễm asen, tập trung nhiều ở phía Nam thành phố, Thanh Trì và Gia Lâm (18,5%). Ở khu vực Hà Nội, Theo kết quả phân tích của Văn phòng đại diện UNICEF tại Hà Nội và Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn trung ương 6 tháng đầu năm 1999 cho thấy, mẫu nước của 351 trong số tổng số 519 giếng khoan ở Quỳnh Lôi (Hai Bà Trưng - Hà Nội) được phân tích thì có 25% số mẫu có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và nếu theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO là 0,01 mg/l) thì có tới 68% vượt tiêu chuẩn cho phép. Tại tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành phân tích Asen trong nước của 201 lỗ khoan nông tại các huyện Hoằng Hóa, Nông Cống, Thiệu Hóa. Đa số các lỗ khoan có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l. Chỉ có 11 giếng khoan ở Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa có Asen lớn hơn 0,05 mg/l, cao nhất đạt 0,1mg/l (4 giếng khoan).Tại tỉnh Quảng Ninh đã phân tích Asen trong nước của 175 giếng khoan nông tại các huyện Đông Triều, thành phố Hạ Long, thị xã Uông Bí, huyện Hưng Yên. Tất cả 175 mẫu đều có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l, chất lượng nước ở đây nhìn chung là tốt.Tại tỉnh Hà Tây chỉ có 01 kết quả phân tích Asen trong nước lỗ khoan nông có hàm lượng Asen lớn hơn 0,05 mg/l.Tại thành phố Hải Phòng, đã phân tích Asen trong nước của 49 lỗ khoan nông tại huyện An Hải, thị xã Đồ Sơn, quận Ngô Quyền, chỉ có 01 mẫu nước lỗ khoan có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép Việt Nam 3 lần.Tại tỉnh Thái Bình, qua phân tích trong nước ngầm của 195 lỗ khoan nông tại các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Vũ Thư và thị xã Thái Bình, kết quả tất cả 195 mẫu đều có hàm lượng Asen nhỏ hơn 0,05 mg/l.Trang 3
Xem thêm

38 Đọc thêm

Xét nghiệm máu (Kỳ 1) docx

XÉT NGHIỆM MÁU (KỲ 1) DOCX

Xét nghiệm máu (Kỳ 1) 1.1. Công thức huyết đồ bình thường (công thức máu): * Số lượng hồng cầu (HC): Nam : 4,2- 4,5.1012/l Nữ : 3,8- 4,2.1012/l Trẻ em : trên 4,5.1012/l Nếu HC trên 5,5. 1012/l: là tăng HC + Số lượng HC tăng gặp trong: - Bệnh đa hồng cầu nguyên phát (bệnh Vaquez). Đây là bệnh tăng HC thực sự. - Đa hồng cầu thứ phát gặp trong: . Đa HC giả tạo do cô đặc máu(nguyên nhân do nôn, ỉa lỏng, bỏng). . Trong u tuyến thượng thận. . Trong hội chứng Cushing, viêm thận kẽ, viêm thận. . Do tình trạng hoặc bệnh gây thiếu ôxy mạn tính: có thể gặp ở những người sống ở vùng cao, trong các bệnh phổi, phế quản mạn tính, lao phổi, ung thư phổi, suy tim phải, bệnh tim tiên thiên, nhiễm độc một số hoá chất hoặc thuốc (nitrit, sulfamid, arsen, coban ). . Trong u biểu mô thận. . U tuyến yên. . U nguyên bào của tiểu não. + Hồng cầu giảm trong: thiếu máu do các nguyên nhân khác nhau (chảy
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cùng chủ đề