TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM":

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm phổi ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai
Xem thêm

67 Đọc thêm

BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ NHỎ

BỆNH VIÊM PHỔI Ở TRẺ NHỎ

vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và chuyển thể thành bệnh viêm phổi.Bọn trẻ sẽ cảm thấy thế nào?Phần lớn khi bị viêm phổi, bọn trẻ sẽ thấy mệt mỏi, sốt nhẹ. Những triệu chứngcủa bệnh sẽ phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của trẻ và nguyên nhân gây bệnh làvirus hay vi khuẩn.Nếu bệnh viêm phổi của trẻ do vi khuẩn gây ra, trẻ sẽ bị sốt nhưng thân nhiệt thấpkhiến cơ thể trẻ lạnh cóng. Nếu bệnh do virus gây ra, tiến trình bệnh sẽ diễn rachậm hơn và phải mất một khoảng thời gian dài trẻ mới bình phục.Nói cách khác, một số triệu chứng thông thường của viêm phổi là đau đầu, sốt,đau cơ, ho, tức ngực, khó thở.Ngoài ra, đứa trẻ có thể thở nhanh hơn bình thường và ho ra đờm. Viêm phổi thậmchí còn ảnh hưởng tới dạ dày của trẻ khiến chúng cảm thấy chán ăn.Bác sĩ sẽ điều trị thế nào?- Để điều trị bệnh viêm phổi, bác sĩ sẽ hỏi sơ qua vài câu hỏi liên quan đến sứckhoẻ của trẻ và có thể tiến hành xét nghiệm. Bác sĩ cũng nghe nhịp thở của bé đểbiết được phổi của bé đang trong tình trạng thế nào. Nếu nghi ngờ bé bị viêmphổi, bác sĩ sẽ cho bé chụp X quang. Khi tìm được nguyên nhân gây bệnh, nếu đólà do vi khuẩn, bé sẽ được dung thuốc kháng sinh để điều trị.- Thuốc kháng sinh không có tác dụng nếu nguyên nhân gây bệnh là virus. Trongtrường hợp này, trẻ sẽ được chỉ định dung thuốc ho và thuốc hạ sốt thông thường.Cho dù bất kỳ loại vi khuẩn nào gây ra bệnh, trẻ cũng nên nghỉ ngơi, ăn nhiều hoaquả và uống nhiều nước.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghiên cứu tác động của bổ sung viên kẽm đến tình trạng dinh dưỡng và mắc bệnh viêm phổi, tiêu chảy của trẻ 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BỔ SUNG VIÊN KẼM ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MẮC BỆNH VIÊM PHỔI, TIÊU CHẢY CỦA TRẺ 5 TUỔI BỊ SUY DINH DƯỠNG TẠI XÃ HƯƠNG HỒ HUYỆN HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dưỡng protein - năng lượng là một bệnh lý dinh dưỡng quan trọng vì nó làm tăng nguy cơ tử vong và để lại những hậu quả nặng nề. Trên thế giới hiện có hàng trăm triệu trẻ em suy dinh dưỡng vừa và nặng, phân bố chủ yếu ở các nước đang phát triển, ở ngay cả các nhóm dân nghèo khổ tại các nước đã công nghiệp hóa và các vùng có nạn đói xảy ra do thiên tai và chiến tranh [2]. So với các nước trong khu vực, ở nước ta tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn rất cao [2]. Việc phòng chống suy dinh dưỡng hiện đã có những bước tiến quan trọng. Đi đôi với suy dinh dưỡng tình trang thiếu kẽm đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng của nhiều nước trên thế giới nên cần được tiếp tục nghiên cứu ở các đối tượng có nguy cơ cao, cũng như đề ra chiến lược can thiệp thích hợp. Dù đã được biết từ rất lâu nhưng mãi đến khi Prasad (1961) phát hiện chứng lùn và thiểu năng sinh dục do thiếu kẽm ở trẻ em Iran, người ta mới bắt đầu hiểu rõ giá trị và tầm quan trọng của kẽm đối với sức khỏe con người [27]. Kẽm là một chất dinh dưỡng đặc biệt quan trọng vì vai trò to lớn về mặt sinh học của nó. Vai trò nổi bật của kẽm là sự tham gia của nó vào hoạt tính của trên 300 enzym với 3 chức năng nền tảng là cấu trúc enzym, xúc tác và điều hòa hoạt động của các phản ứng sinh học. Các enzym phụ thụộc kẽm này tham gia một cách có hệ thống vào cơ chế của các con đường chuyển hóa chủ yếu của cơ thể. Đặc biệt là vai trò tổng hợp protein và hoạt động của các hormon tăng trưởng, miễn dịch, phục hồi dinh dưỡng, làm mau lành vết thương và nhiều chức năng quan trọng khác. Ở Việt Nam, chưa có cuộc điều tra trên bình diện lớn về tình trạng thiếu kẽm nhưng một số công trình nghiên cứu khoa học ở tại nhiều nơi cho thấy tình trạng thiếu kẽm gặp nhiều ở trẻ bị tiêu chảy, viêm phổi, suy dinh dưỡng và việc bổ sung kẽm đã làm cải thiện tình trạng bệnh [3], [6], [19]. Hương Hồ là một xã nằm ở vùng ven của thành phố Huế. Tại đây trẻ em bị suy dinh dưỡng vẫn còn khá phổ biến. Bộ môn Nhi từ nhiều năm nay đã triển khai chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đưa sinh viên về thực tập cộng đồng. Cụ thể là đã dựa vào sự hỗ trợ tài chính của một số cá nhân và tổ chức xây dựng nên những điểm Giáo dục phục hồi dinh dưỡng cho trẻ em suy dinh dưỡng và đã đạt được những thành công khá tốt, nâng cao kiến thức nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ. Tuy vậy, điểm giáo dục phục hồi dinh dưỡng cũng chỉ là hình thức đưa những bữa ăn mẫu để bà mẹ học và làm theo cho con tại nhà nên cũng có những hạn chế để phục hồi dinh dưỡng cho trẻ, nhất là đối với những gia đình nghèo. Nhiều nghiên cứu cho thấy tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp là 2 bệnh thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng và làm nặng thêm tình trạng suy dinh dưỡng khi trẻ bị bệnh. Các nghiên cứu cho thấy kẽm là vi chất làm tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể. Một số nghiên cứu cũng cho thấy trẻ bị suy dinh dưỡng thường kèm theo tình trạng thiếu kẽm. Vậy việc bổ sung kẽm cho trẻ suy dinh dưỡng sẽ làm giảm sự mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp cho trẻ và từ đó cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tác động của bổ sung viên kẽm đến tình trạng dinh dưỡng và mắc bệnh viêm phổi, tiêu chảy của trẻ < 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm vào các mục tiêu sau: 1. Đánh giá sự cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ suy dinh dưỡng được bổ sung kẽm. 2. Đánh giá hiệu quả của bổ sung kẽm đến tình trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu chảy ở trẻ bị suy dinh dưỡng.
Xem thêm

50 Đọc thêm

 KHÓ THỞ2

KHÓ THỞ2

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy LinhMSV: 2110215042Lớp: dd 14.BÁO CÁO HỌC TẬP 4I, Mục tiêu1, Khó thở là gì? Nguyên nhân triệu chứng của khó thở?2, Phương pháp hút đờm dãi: chỉ định, chống chỉ định, áp suất, tai biến?3, phương pháp thở oxy: chỉ định, chống chỉ định, nguyên tắc, tai biến?II, Nội dung.1, Khó thởA, Định nghĩa: khó thở lag cảm giác thở không bình thường, không thoải mái khi thở. Đây là một cảmgiác hoàn toàn mang tính chủ quan do bệnh nhân mô tả khác nhau. ( fb: chia sẻ trưc tuyếnkiến thức y khoa)2, Nguyên nhânBệnh đường hô hấp gây khó thở gặp nhiều nhất là hen phế quản (viêm phế quản thể hen,hen suyễn).Hen suyễn là một bệnh có thể cấp tính hoặc mạn tính, gặp mọi lứa tuổi. Hen suyễnthường thuộc bệnh dị ứng và kèm theo viêm phế quản. Khó thở trong hen suyễn thườngkhó thở ra. Khi lên cơn khó thở có kèm theo tiếng rít (do co thắt phế quản) và xuất tiếtđường hô hấp gây ho, có đờm. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng mỗi khi thời tiết thay đổihoặc gặp yếu tố thuận lợi (dị ứng nguyên) thì cơn hen xuất hiện. Hen suyễn cũng dễnhầm lẫn với đợt cấp của bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, bởi vì bệnh này khi lên cơncấp tính cũng gây khó thở, khò khè, ho. Ho có đàm đặc, màu vàng, xanh, ho thường trên3 tháng/năm.Bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính lúc đầu chỉ khó thở nhẹ nhưng càng ngày càng nặng,môi tím, mệt mỏi. Bệnh thường gặp người cao tuổi và có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốclào.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Dấu hiệu và cách chăm sóc bệnh nhân bị thủy đậu

DẤU HIỆU VÀ CÁCH CHĂM SÓC BỆNH NHÂN BỊ THỦY ĐẬU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Người bị thủy đậu nếu không được chăm sóc và chữa trị đúng cách có thể bị biến chứng nguy hiểm. Bệnh thủy đậu dễ lây lan trong cộng đồng Bệnh thủy đậu do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây nên, thủy đậu là một bệnh rất dễ lây truyền. - Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi… nhất là trẻ em. - Một số cách lây nhiễm khác có thể xảy ra nếu chúng ta không cẩn thận khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu như: bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai. Triệu chứng bệnh thủy đậu - Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo động…   Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 - 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước.  - Sau đó cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 - 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 - 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 - 5 ngày. Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 - 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ. Biến chứng của bệnh thủy đậu Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời. Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này. Chứng viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị. Chứng viêm não do thủy đậu cũng vẫn xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, quờ quạng chân tay, nhiều khi kèm theo co giật (làm kinh), hôn mê. Những trường hợp này có thể gây chết người nhanh chóng, và một số trẻ tuy qua khỏi được vẫn mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, bị khờ, bị động kinh v.v... Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu - Vì là bệnh lây lan nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch.   Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. Lưu ý: Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài. - Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn (người lớn phải nghỉ làm, học sinh phải nghỉ học). - Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa. - Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 90/00. - Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm trong phòng tắm. - Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng. - Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước. - Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả. - Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ. - Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh... Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt. - Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị. Đối với người thân trong gia đình: - Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. - Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng. Các bác sĩ khuyến cáo, thủy đậu là một bệnh lành tính nhưng cần được phát hiện sớm và chăm sóc chu đáo, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não và màng não. Bởi vậy, cần căn cứ vào các triệu chứng của bệnh để phát hiện và điều trị kịp thời. Phòng bệnh thủy đậu Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin. Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 - 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm ngừa. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần. Theo Trung tâm Y tế Dự phòng Đà Nẵng, lịch tiêm vắc xin phòng bệnh thủy đậu cụ thể như sau: - Tiêm mũi 1 cho mọi đối tượng từ 12 tháng tuổi trở lên. - Tiêm mũi 2 nhắc lại cách mũi 1 thời gian là 6 tuần trở đi (không được tiêm 2 mũi cách nhau 4 tuần). Lưu ý: - Không tiêm vắc xin thuỷ đậu cho phụ nữ đang mang thai. - Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49 tuổi) nên tiêm vắc xin thủy đậu trước khi mang thai 3 tháng.
Xem thêm

3 Đọc thêm

BỆNH NHIỄM TRÙNG MÁU Ở TRẺ SƠ SINH VÀ NHỮNG ĐIỀU MẸ CẦN BIẾT

BỆNH NHIỄM TRÙNG MÁU Ở TRẺ SƠ SINH VÀ NHỮNG ĐIỀU MẸ CẦN BIẾT

*Có biểu hiện rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, nôn ói, trướng bụng…*Da vàng hoặc có vẻ tím tái, xanh xaoChăm sóc và điều trị nhiễm trùng máu cho trẻTùy loại vi khuẩn xâm nhập vào máu mà trẻ có các biểu hiện lâm sàng sớm hoặcmuộn khác nhau, tiên lượng bệnh và thời gian sử dụng kháng sinh cũng khác nhau.Chẳng hạn, nếu máu nhiễm liên cầu nhóm B thì triệu chứng xuất hiện sau khi sinh3-4 giờ, nếu muộn cũng chỉ 1-2 tuần với những biểu hiện của bệnh viêm phổi,viêm màng mão mủ (ngừng thở, huyết áp hạ…). Nếu bệnh do tụ cầu (ít gặp hơn)thì thường nặng và có biểu hiện xương và da (viêm da nhiễm trùng). Sự phátVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phítriển của bé trai &amp; bé gái 9 tháng tuổiĐể việc điều trị đạt kết quả cao, nhất thiết phải làm kháng sinh đồ để tìm loạithuốc đặc trị với loại vi trùng gây bệnh. Trường hợp nhiễm trùng máu có kèm theoviêm màng não mủ thì thời gian dùng kháng sinh đặc trị phải kéo dài ít nhất 3 tuần.Ngoài ra, phải điều trị tích cực các triệu chứng đi kèm như tình trạng mất nước, cogiật do trẻ nôn nhiều.Nhiễm trùng máu trẻ liên quan nhiều đến bà mẹ trong thời kỳ mang thai, điềukiện và môi trường nuôi dưỡng trẻ, thời gian chuyển dạ, thời gian vỡ ối, tình trạngcan thiệp trong lúc sinh… Vì vậy, mỗi bà mẹ cần nâng cao kiến thức về chăm sóc
Xem thêm

4 Đọc thêm

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ho dai dẳng, ho thành từng cơn, ho rát cả họng, khổ sở vì ho – là triệu chứng rất dễ gặp trong điều kiện môi trường sống có nhiều ô nhiễm, thời tiết ẩm ướt, thay đổi trạng thái từ lạnh sang nóng đột ngột... Vậy người bệnh cần phải làm gì để bệnh ho thuyên giảm? Ho - vì sao, như thế nào? Ho là một phát thở ra mạnh và đột ngột. Ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể. Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong đa số trường hợp, ho xảy ra ngoài ý muốn và động tác này có tính chất phản xạ. Tuy nhiên, nhiều virut và vi khuẩn có thể truyền nhiễm từ người này sang người khác thông qua ho. Các nhà chuyên môn phân triệu chứng ho như sau: Ho cấp: Là tình trạng ho xảy ra đột ngột, thông thường nhất là do hít phải bụi hoặc chất kích thích. Ho cấp cũng có thể do các nguyên nhân: Do nhiễm khuẩn, viêm họng, viêm thanh quản, viêm tai, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi, tràn dịch màng phổi. Cũng có khi triệu chứng ho xuất hiện trong các bệnh dị ứng tai mũi họng và hen. Triệu chứng ho cấp cũng có thể do bệnh gây ứ máu ở phổi như: bệnh phù phổi, tim và thường gặp ở người có tiền sử mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp... Ho thành cơn: Ho nhiều lần kế tiếp nhau trong một thời gian ngắn, điển hình là cơn ho gà; người bệnh ho liền một cơn, sau đó hít một hơi dài và tiếp tục ho nữa. Cơn ho kéo dài thường gây tăng áp lực trong lồng ngực, gây ứ huyết tĩnh mạch chủ trên làm cho người bệnh đỏ mặt, tĩnh mạch cổ phồng, cơn ho có thể làm chảy nước mắt, đôi khi còn gây ra phản xạ nôn nữa. Người bệnh có thể đau ê ẩm ngực, lưng và bụng do các cơ hô hấp co bóp quá mức.   Người ho có thể dùng chanh, quất trộn với mật ong để ngậm (Ảnh minh họa) Ho khan kéo dài: là tình trạng ho không khạc ra đờm mặc dù người bệnh có thể ho nhiều. Tuy nhiên, có người nuốt đờm hoặc vì không muốn khạc hay vì không biết khạc đờm. Ho khan kéo dài cần chú ý đến: Bệnh của thanh quản, viêm tai, viêm xương chũm mạn tính; Do ung thư phế quản: xảy ra ở người có thâm niên hút thuốc lá, thuốc lào lâu năm (trên 10 năm). Ho khan kéo dài còn do các bệnh tổ chức kẽ của phổi như xơ phổi, phù phổi bán cấp, ung thư phổi hoặc lao kê hoặc do tràn dịch mạn tính màng phổi. Ho kéo dài cũng có thể do một số chất độc gây kích thích trực tiếp do cơ chế miễn dịch dị ứng (hen). Một số trường hợp rối loạn tinh thần có biểu hiện ho nhiều, không có tổn thương trên đường hô hấp. Nhưng đó là những trường hợp hiếm gặp. Ho khan kéo dài còn do tác dụng phụ của một số thuốc, nhất là thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp (coversyl). Ho có đờm: Là tình trạng người bệnh bị ho và cảm thấy nặng ngực, ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho có đờm đa số nguyên nhân là do viêm phế quản mạn tính, cũng có khi là triệu chứng ho sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang... Ở một người nghiện thuốc lào, thuốc lá lâu năm bị ho có đờm kéo dài, đồng thời tính chất của ho thay đổi hoặc ho ông ổng là dấu hiệu của báo động ung thư phế quản. Ho khạc đờm nhiều kèm theo bội nhiễm luôn phải chú ý đến ung thư họng - thanh quản, thực quản, khí quản... Ho ra máu: Là tình trạng ho khạc thấy máu xuất hiện kèm theo. Nó có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Đó có thể là một dấu hiệu của các bệnh viêm phổi cấp và mạn tính, ung thư phổi... Ho ra máu có thể xảy ra đột ngột trong lúc người bệnh cảm thấy khỏe mạnh hoặc sau khi hoạt động mạnh... Thông thường, 90% trường hợp ho ra máu là do bệnh lao đang tiến triển (nếu kèm ho kéo dài, sốt nhẹ, sút cân thì càng chắc chắn). Nếu ho ra máu chút ít lẫn trong đờm, tái phát một vài lần mà không có sốt hoặc sút cân cũng nên nghĩ đến bệnh lao. Cần làm gì khi bị ho? Ho là cơ chế bảo vệ tốt của bộ máy hô hấp, đôi khi rất hữu ích nên phải tôn trọng. Trong trường hợp ho cấp dưới 3 ngày mà không có sốt, không kèm theo đau ngực, không khó thở, không khạc đờm máu, mủ thì không cần dùng thuốc.   Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. (Ảnh minh họa) Ho có thể chỉ là một triệu chứng gây khó chịu, nhưng cũng có thể biểu hiện một bệnh lý nghiêm trọng, đặc biệt với trẻ em và người cao tuổi. Phải dè chừng khi ho có kèm theo sốt, khó thở, tím tái, ho kéo dài, suy kiệt..., bệnh nhân cần được khám xét cẩn thận. Người bệnh ho trên 5 ngày, bất luận là tình trạng ho thế nào thì cần phải đi khám ngay. Nếu ho kéo dài hơn 3 tuần, điều trị bằng thuốc không giảm, có kèm theo sốt, ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, thở nông hoặc đau ngực khi ho có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm... Đối với các bệnh nhân có tiền sử hen, lao phổi, huyết áp tăng, đau dạ dày, sụt cân nhiều, nên đến bác sĩ tìm nguyên nhân để điều trị tận gốc như: hen, viêm phế quản mạn, suy tim sung huyết, viêm phổi, lao phổi, viêm họng, viêm amidan, ung thư phổi... Điều quan trọng nhất là phải phòng bệnh, nhất là vào ngày lạnh. Người bệnh cần năng luyện tập thể dục thể thao phù hợp, ăn uống hợp lý, vệ sinh răng miệng, rèn luyện tính thích nghi với thời tiết, khí hậu, tạo môi trường sống trong sạch - đó mới có hiệu quả thiết thực, lâu dài cho sức khỏe. Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. Nên xông hơi nóng cho đường mũi họng bằng tinh dầu bạc hà, khuynh diệp. Việc hít ngửi hơi nóng sẽ giúp làm loãng chất nhầy, chất đờm đặc giúp khạc ra đờm dễ dàng hơn. Nên nghỉ ngơi nhiều, ăn hoa quả, uống nước cam, chanh, ăn tỏi, hành, hẹ để hỗ trợ thêm hệ miễn dịch. Người bị ho cấp, ho từng cơn và ho khan thể nhẹ có thể áp dụng các liệu pháp dân gian như: có thể sử dụng chanh và mật ong trộn lẫn hoặc pha chanh với mật ong vào nước ấm để uống giúp trị ho, viêm họng. Cách khác là có thể dùng quất và mật ong hấp lên để ngậm giúp trị ho mà không cần dùng thuốc. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

XẸP PHỔI

XẸP PHỔI

hợp hiếm, xẹp phổi gây thiệt hại sẹo mô phổi.Khối u. Một số khối u lớn có thể gây áp lực lên phổi, chặn các đường dẫn khí.Các yếu tố nguy cơNhững yếu tố làm tăng nguy cơ xẹp phổi bao gồm:Sinh non, phổi không phát triển đầy đủ.Bất kỳ điều kiện tự phát gây ho, ngáp và thở dài.Bệnh phổi, chẳng hạn như hen, giãn phế quản, xơ nang.Ngủ không thay đổi vị trí thường xuyên.Phẫu thuật ngực hoặc bụng.Gây mê.Thở nông - Ví dụ do đau bụng hoặc gãy xương sườn.Yếu cơ hô hấp do chứng loạn dưỡng cơ, tổn thương tủy sống hoặc bệnh thần kinh cơ.Béo phì, có thể nâng cao cơ hoành và cản trở khả năng hít đầy đủ.Các biến chứngCác biến chứng sau đây có thể dẫn đến xẹp phổi:Oxy máu thấp (thiếu oxy). Xẹp phổi cản trở khả năng của phổi với oxy phế nang đầy đủ.Sẹo. Một số thiệt hại hoặc vết sẹo có thể vẫn còn sau khi phổi tái gián nở, cuối cùng gây giãn phế quản.Viêm phổi. Có nguy cơ phát triển xẹp phổi bệnh viêm phổi.Suy hô hấp. Một khu vực nhỏ phổi xẹp, đặc biệt là người lớn, thường có thể điều trị được. Tuy nhiên,một khu vực lớn, đặc biệt là trẻ sơ sinh hoặc một người nào đó bị bệnh phổi, có thể suy hô hấp đe dọatính mạng.Các xét nghiệm và chẩn đoánX quang vùng ngực thường có thể chẩn đoán xẹp phổi. Các triệu chứng của nhiễm trùng hô hấp, đặc biệtlà viêm phổi, X quang ngực của một đứa trẻ có thể chỉ ra dị vật, nguyên nhân phổ biến nhất của xẹp phổitắc nghẽn trẻ em.Để xác định nguyên nhân cơ bản, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm khác, bao gồm:
Xem thêm

3 Đọc thêm

Các bệnh lây nhiễm mùa hè cần chú ý và phòng tránh

CÁC BỆNH LÂY NHIỄM MÙA HÈ CẦN CHÚ Ý VÀ PHÒNG TRÁNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Do đặc điểm khí hậu của nước ta, cứ đến mùa hè, nhiều dịch bệnh phát triển gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Một số bệnh lây nhiễm mùa hè bạn cần lưu ý để phòng tránh mắc bệnh. Cả nước đang trải qua các đợt nắng nóng gay gắt nhất. Ở khu vực miền Bắc, nhiệt độ ngoài trời có lúc lên đến 41-44 độ C, vì vậy, các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, tay chân miệng, cúm, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản… đang gia tăng mạnh. Một số lưu ý sau bạn cần chú tâm để phòng ngừa bệnh: 1. Bệnh tiêu chảy Bệnh tiêu chảy xuất hiện quanh năm nhưng xảy ra nhiều nhất là vào mùa hè. Nguyên do là vì ruồi nhặng phát triển, nguồn nước bị ô nhiễm, hoa quả không được rửa sạch. Mặt khác do mùa hè ở nước ta có khí hậu nóng ẩm nên các loại vi khuẩn dễ phát triển trong thực phẩm, thức ăn, làm cho thức ăn nhanh bị hỏng, bị ôi, thiu, nguyên nhân gây tiêu chảy, tả.    Một số triệu chứng của tiêu chảy như: số lần đi đại tiện có thể ít (3-5 lần/ngày) hay nhiều hơn là vài chục lần/ngày; đau bụng (từng cơn hay liên tục, mót rặn đau quanh hậu môn); buồn nôn hay nôn. (Ảnh minh họa) Ðể tránh không bị tiêu chảy hoặc tả, lỵ, chúng ta cần: Tăng cường vệ sinh cá nhân. Bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch đặc biệt là trong mùa mưa bão, sát khuẩn nước bằng Cloramin B, không đổ chất thải, nước giặt, rửa xuống giếng, ao, hồ, sông, suối. Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm như ăn chín, uống chín, không ăn rau sống, không uống nước lã, không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn như mắm tôm sống, hải sản tươi sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua. Bên cạnh đó, cần tránh tập trung ăn uống đông người trong các dịp ma chay, cưới xin, cúng giỗ…, hạn chế tiếp xúc với người bệnh. 2. Bệnh chân tay miệng Bệnh chân-tay-miệng thường xảy ra ở trẻ em, lây lan nhanh và dễ lan thành dịch làm nhiều người mắc. Nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời, bệnh rất dễ biến chứng thành viêm não, dẫn đến tử vong ở trẻ. Sau thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày, trẻ bắt đầu có triệu chứng sốt nhẹ, mệt mỏi, kém ăn, đau họng… sau đó xuất hiện những nốt ban màu hồng đường kính khoảng 2mm, ở trong miệng và trên da lòng bàn tay, gan bàn chân, đôi khi thấy ở cả mông và cẳng chân. Khi thấy trẻ có những dấu hiệu trên, cần phải cách ly trẻ và đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.   Bệnh chân-tay-miệng thường xảy ra ở trẻ em, lây lan nhanh và dễ lan thành dịch làm nhiều người mắc. Nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời, bệnh rất dễ biến chứng thành viêm não, dẫn đến tử vong ở trẻ. (Ảnh minh họa) Cách phòng bệnh: tránh tiếp xúc với các nguồn lây theo đường tiêu hóa; tăng cường vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (nhất là sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt). Rửa sạch sàn nhà, vật dụng đồ chơi của trẻ, lau sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn Cloramin B 2%. Khi trẻ bị bệnh phải cách ly tại nhà, không cho đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh. 3. Sốt xuất huyết Là bệnh nhiễm virus sốt xuất huyết Dengue cấp tính do muỗi truyền (muỗi vằn Aedes Aegypti). Một số triệu chứng của bệnh như đột ngột sốt cao liên tục từ 2 ngày trở lên; nổi chấm đỏ ở da, bầm ở da, chảy máu mũi và chân răng, nôn nhiều, nôn ra máu, phân có máu; đau bụng nhiều do gan sưng to… Trong vòng 3-6 ngày bệnh có thể trở nặng với các triệu chứng như hết sốt nhưng trở nên lừ đừ, lạnh tay chân, vã mồ hôi, bứt rứt, nôn nhiều, đau bụng và chảy máu bất thường. Bệnh sốt xuất huyết có thể gây tử vong và gây thành dịch lớn, hiện chưa có vaccine phòng bệnh. Ðể phòng bệnh sốt xuất huyết, người dân cần loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt loăng quăng/bọ gậy bằng cách thường xuyên thu gom, tiêu hủy các đồ phế thải chứa nước như lốp xe, chai lọ vỡ, vỏ đồ hộp, gáo dừa… Thường xuyên lau rửa chum vại, bể nước mưa, lọ hoa, úp ngược các vật dụng chứa nước không dùng đến như xô, chậu, chén bát, máng nước uống của gia súc, gia cầm. Tổ chức phun hóa chất diệt muỗi quy mô cộng đồng hoặc phun diệt muỗi trong nhà bằng các bình xịt muỗi cầm tay. 4. Viêm não Nhật Bản Là bệnh do một loại virus có tên là virus viêm não Nhật Bản gây nên, trung gian truyền bệnh là muỗi Culex, một loại muỗi thường sống ở các vùng có nhiều ao tù và đồng ruộng lúa nước. Ổ chứa virus viêm não Nhật Bản thường là lợn, dơi, chim hoang dã. Bệnh viêm não Nhật Bản thường có tỷ lệ mắc cao vào mùa hè, có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời và có thể gây thành dịch lớn. Bệnh viêm não Nhật Bản có thể phòng bằng cách: Tiêm vaccine phòng bệnh, thường chỉ tiêm cho trẻ em, mỗi trẻ cần được tiêm đủ ba mũi theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp chống muỗi đốt và loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, thả cá tại các ao, hồ, ruộng lúa nước để diệt loăng quăng (bọ gậy), làm chuồng gia súc xa nhà. Các biện pháp để phòng bệnh chung cho các bệnh truyền nhiễm mới nổi và bệnh dịch trong mùa hè, mùa mưa bão sắp tới là: Mọi người dân cần tăng cường sức khỏe và khả năng phòng bệnh bằng cách ăn uống đủ chất, ăn nhiều rau xanh, hoa quả, thức ăn có nhiều vi-ta-min; có chế độ làm việc, sinh hoạt, luyện tập thể thao và nghỉ ngơi hợp lý. Khi có người bị bệnh hoặc nghi bị các bệnh trên cần phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, điều trị và xử lý kịp thời, không để bệnh lây lan ra người thân và cộng đồng
Xem thêm

2 Đọc thêm

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ TIÊM VẮC XIN CÚM MÙA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ HAI BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ TIÊM VẮC XIN CÚM MÙA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ HAI BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Cúm mùa là một bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính do vi rút cúm gây nên. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân, lây nhiễm trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua các giọt bắn nhỏ khi nói chuyện, khi ho, hắt hơi 1. Vi rút gây bệnh thường gặp là cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B 1,2. Bệnh cúm lan truyền khắp nơi trên thế giới qua các dịch theo mùa trong năm, tính chất ngày càng nghiêm trọng bởi sự biến chủng nguy hiểm và tiềm tàng của vi rút cúm 3. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 20 30% trẻ em và 5 10% người lớn mắc bệnh cúm; trung bình các vụ dịch cúm gây bệnh cho khoảng 500 800 triệu ngườinăm, trong đó khoảng 3 5 triệu trường hợp bị bệnh cúm nặng và 250.000 500.000 trường hợp tử vong 4. Tại Việt Nam, hàng năm ghi nhận khoảng 1,61,8 triệu trường hợp mắc bệnh cúm. Tiêm phòng vắc xin cúm mùa hàng năm là một trong những biện pháp phòng lây nhiễm cúm. Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo nhân viên y tế (NVYT) là nhóm nguy cơ cao cần được tiêm vắc xin cúm mùa 5. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã có quy định bệnh cúm là bệnh bắt buộc phải sử dụng vắc xin đối với người có nguy cơ mắc bệnh, người sống tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch 6, đồng thời ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh cúm mùa trong đó khuyến cáo NVYT nên được tiêm phòng vắc xin cúm mùa hàng năm 1. Ngoài ra, Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch phát triển và sử dụng vắc xin cúm giai đoạn 2013 2020, tầm nhìn đến 2030 nêu rõ lộ trình giai đoạn 2021 2030 “Xem xét đưa vắc xin cúm mùa vào tiêm chủng mở rộng cho nhóm đối tượng nguy cơ cao” 7 trong đó có NVYT 1. Một số nghiên cứu cho thấy, so với những người không làm trong lĩnh vực y tế, NVYT là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cúm cao hơn và là một trong những mắt xích liên quan đến việc lây truyền vi rút cúm sang nhóm bệnh nhân được họ chăm sóc, điều trị. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân mắc bệnh cúm làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh đối với NVYT 8. Việc NVYT phải tạm thời nghỉ việc do bị mắc bệnh cúm gây nên gánh nặng về kinh tế, ảnh hưởng đến công việc nhưng nếu họ đi làm khi đang mắc bệnh cúm thì chính NVYT là nguồn lây nhiễm vi rút cúm 9,10. Mặc dù đã có khuyến cáo, quy định NVYT cần được tiêm vắc xin cúm mùa 5. Tuy nhiên, việc tiêm vắc xin cúm mùa vẫn gặp phải những khó khăn do nhận thức rằng bệnh cúm không phải là bệnh nguy hiểm đối với những người trong độ tuổi lao động, khỏe mạnh cũng như quan niệm sai lầm về tính an toàn và hiệu quả của vắc xin cúm mùa của chính NVYT 11,12,13. Cho đến nay tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về cúm 14,15 cũng như điều tra kiến thức, thái độ và thực hành của người người dân về phòng chống cúm A(H5N1), cúm A(H1N1) 16,17,18,19. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đầy đủ và có hệ thống về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm phòng vắc xin cúm mùa của NVYT là các bác sỹ. Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm vắc xin cúm mùa của nhân viên y tế hai bệnh viện tuyến trung ương tại Hà Nội năm 2015 và yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm vắc xin cúm mùa của nhân viên y tế là các bác sỹ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2015. 2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế là các bác sỹ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương về tiêm vắc xin cúm mùa. Kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc đề xuất một số giải pháp hữu hiệu trong việc kiểm soát bệnh dịch cúm tại Việt Nam. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1. Đặc điểm bệnh cúm ở người 1.1.1. Khái niệm về bệnh cúm Bệnh cúm là bệnh nhiễm vi rút cấp tính đường hô hấp với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thường nặng và kéo dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy), đặc biệt ở trẻ em. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 27 ngày. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có thể diễn biến nặng hơn như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có thể dẫn đến tử vong 20. 1.1.2. Tác nhân gây bệnh Vi rút cúm (Influenza virus) thuộc nhóm Orthomyxoviridae và được chia thành 3 týp A, B và C. Vỏ của vi rút bản chất là glycoprotein bao gồm 2 kháng nguyên: Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H (Hemaglutinin) và kháng nguyên trung hoà N (Neuraminidase). Có 15 loại kháng nguyên H (H1H15) và 9 loại kháng nguyên N (N1N9). Những cách tổ hợp khác nhau của hai loại kháng nguyên này tạo nên các phân týp khác nhau của vi rút cúm A. Trong quá trình lưu hành của vi rút cúm A, 2 kháng nguyên này, nhất là kháng nguyên H, luôn luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là “trôi” kháng nguyên (antigenic drift) 21 thường gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Những biến đổi nhỏ dần dần tích lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân týp kháng nguyên mới gọi là “thay đổi” kháng nguyên (antigenic shift). Đó là do sự tái tổ hợp giữa các 4 chủng vi rút cúm động vật và cúm người. Những phân týp kháng nguyên mới này sẽ gây đại dịch cúm trên toàn cầu 21. Khả năng tồn tại ở môi trường bên ngoài: Vì bản chất của vi rút cúm là lipoprotein, vi rút cúm có sức đề kháng yếu, dễ bị bất hoạt bởi bức xạ mặt trời, tia tử ngoại, dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56 độ C và các chất hoà tan lipit như ether, betapropiolacton, formol, chloramine, cresyl, cồn... Tuy nhiên, vi rút cúm có thể tồn tại hàng giờ ở ngoại cảnh, đặc biệt khi thời tiết lạnh và độ ẩm thấp. Ở nhiệt độ 0 độ C đến 4 độ C sống được vài tuần, ở 20 độ C và đông khô sống được hàng năm 21. 1.1.3. Đặc điểm dịch tễ học Bệnh cúm nguy hiểm là do tính lây lan nhanh và gây thành dịch. Bệnh có thể xảy ra dưới nhiều mức độ khác nhau: đại dịch, dịch, dịch nhỏ địa phương và các trường hợp tản phát. Bệnh cúm lan truyền nhanh trên thế giới trong các mùa dịch cúm và gây nên gánh nặng về kinh tế do chi phí do phải nằm viện điều trị và chăm sóc y tế cũng như nghỉ việc do bị bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh cúm là 510% ở người lớn và 2030% ở trẻ em. Trong các vụ dịch cúm hàng năm, 515% dân số bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Bệnh nặng và tử vong xảy ra chủ yếu ở những nhóm người có nguy cơ cao như trẻ em dưới 2 tuổi, người già và người mắc bệnh mạn tính 21. Hiện nay, các phân týp kháng nguyên của vi rút cúm A đang lưu hành trên toàn cầu là A(H1N1) và A(H3N2) xen kẽ nhau hoặc một trong hai týp chiếm ưu thế tuỳ từng nơi. Vi rút cúm B biến đổi chậm hơn vi rút cúm A và do đó chỉ có một týp huyết thanh và không gây những vụ dịch lớn, với chu kỳ dịch từ 57 năm. Vi rút cúm C gây ra các trường hợp tản phát với triệu chứng lâm sàng không điển hình và các vụ dịch nhỏ ở địa phương 21. Ở các vùng ôn đới, dịch cúm thường xảy ra vào mùa lạnh. Ở các vùng nhiệt đới, bệnh thường xảy ra vào mùa mưa hoặc các trường hợp tản phát xảy ra bất kỳ tháng nào trong năm 21. 1.1.4. Nguồn truyền nhiễm Ổ chứa: Vi rút cúm A có khả năng gây nhiễm các loài động vật có vú (như lợn và ngựa), các loài chim và gia cầm. Trong đó, vi rút cúm B và C chỉ gây bệnh ở người. Tất cả các týp vi rút cúm A tồn tại trong quần thể chim nước hoang dại. Nhìn chung, các vi rút cúm động vật không có khả năng gây bệnh cho người trừ khi nó đã thích ứng với người hoặc tái tổ hợp với vi rút cúm người 20. Đối với bệnh cúm mùa, người bệnh thể điển hình, hoặc thể nhẹ là ổ chứa vi rút 20. 1.1.5. Phương thức lây truyền Bệnh cúm là bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây truyền nhanh, có thể gây dịch và đại dịch. Bệnh lây lan qua đường hô hấp, qua không khí giọt nhỏ qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng của bệnh nhân có chứa vi rút cúm qua ho, hắt hơi. Vi rút vào cơ thể qua đường mũi họng. Tỷ lệ lây lan càng mạnh khi tiếp xúc trực tiếp và mật thiết, đặc biệt ở nơi tập trung đông người như trường học, nhà trẻ, bệnh viện. Trong điều kiện thời tiết lạnh và ẩm thấp, tế bào đường hô hấp của người dễ bị tổn thương, làm tăng tính cảm nhiễm với bệnh 20. 1.1.6. Các biện pháp phòng chống dịch Biện pháp dự phòng: Giáo dục nhân dân và nhân viên y tế về vệ sinh cá nhân, đặc biệt về đường lây truyền bệnh do ho, hắt hơi, tiếp xúc. Biện pháp dự phòng đặc hiệu: + Tiêm phòng vắc xin là biện pháp chủ yếu đề phòng bệnh cúm và giảm ảnh hưởng của dịch cúm. Nhiều loại vắc xin cúm mùa đã được sử dụng trong hơn 60 năm qua, các vắc xin cúm mùa là an toàn và có tỷ lệ bảo vệ từ 7090%. Ở người già, vắc xin cúm mùa làm giảm 60% tỷ lệ mắc bệnh và 7080% tỷ lệ tử vong có liên quan đến cúm. Hiệu quả bảo vệ của vắc xin cúm mùa phụ thuộc vào độ tuổi và đáp ứng miễn dịch của người được tiêm vắc xin, mức độ giống nhau giữa thành phần vi rút của vắc xin và các vi rút hiện đang lưu hành. Tiêm vắc xin phòng cúm có thể làm giảm chi phí cho chăm sóc y tế và tình trạng mất khả năng lao động do bị bệnh. + Cần phải tiêm phòng cho cộng đồng hàng năm trước mùa cúm. Những người nên tiêm vắc xin cúm mùa hàng năm là những người có nguy cơ mắc bệnh cúm và có nguy cơ có biến chứng cao của bệnh cúm: • Tất cả trẻ em từ 6 đến 23 tháng và những người từ 65 tuổi trở lên; • Người lớn và trẻ em từ 6 tháng trở lên bị bệnh tim hoặc phổi mãn tính, hen suyễn, bệnh chuyển hóa (ví dụ bệnh tiểu đường), bệnh thận mãn tính, hoặc suy giảm hệ miễn dịch. • Phụ nữ sẽ có thai trong mùa bệnh cúm; • Những người sống trong các nhà dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc dài hạn. • Những người tiếp xúc mật thiết với các bệnh nhân như cán bộ y tế, người cùng nhà với bệnh nhân,.... + Chống chỉ định dùng vắc xin cúm mùa đối với người có dị ứng với protein trứng hoặc với các thành phần khác của vắc xin 20.
Xem thêm

Đọc thêm

Tổng quan về lao trẻ em nguyên phát

Tổng quan về lao trẻ em nguyên phát

Tổng quan về lao trẻ em nguyên phát bao gồm dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, diễn tiến bệnh, triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán lao trẻ em, điều trị và phòng ngừa. Tài liệu thích hợp cho sinh viên và học viên cao học y khoa làm tài liệu tham khảo

Đọc thêm

HIỂU ĐÚNG VỀ BỆNH SỞI

HIỂU ĐÚNG VỀ BỆNH SỞI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Sởi là gì? Sởi (tiếng Anh: measles hay rubeola) là bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong nhi khoa. Trước đây bệnh xảy ra rất thường xuyên và có tỷ lệ lây nhiễm cũng như tử vong rất cao nhưng hiện nay không còn phổ biến nhờ vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Sởi là một bệnh nhiễm virus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuất hiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao. 2. Nguyên nhân gây bệnh là virus sởi Đây là một loại virus ARN thuộc chi Morbilivirus nằm trong họ Paramyxoviridae. Hiện nay người ta chỉ phát hiện một tuýp huyết thanh virus sởi. Trong giai đoạn tiền triệu và một thời gian ngắn sau khi phát ban, virus sởi có thể được tìm thấy trong dịch tiết mũi hầu, máu và nước tiểu. Virus có thể hoạt động sau khi để 34 giờ ở nhiệt độ phòng. 3. Dịch tễ: Sởi có thể gây dịch khắp nơi trên thế giới. Trong quá khứ, các vụ dịch thường xảy ra cứ mỗi 2 đến 4 năm vào mùa xuân ở các thành phố lớn, khi mà số lượng một nhóm trẻ không có miễn dịch với sởi đủ lớn. Sởi ít khi biểu hiện thầm lặng. Trước khi có vaccine sởi, lứa tuổi mắc bệnh thường gặp nhất là 5 đến 10 tuổi. Những người sinh trước năm 1957 được coi như có miễn dịch tự nhiên với sởi vì lúc đó sởi lưu hành rất phổ biến. Hiện nay bệnh thường gặp ở trẻ ở độ tuổi trước khi đi học không được tiêm chủng ngừa sởi. Ở Việt Nam, sởi vẫn còn là một bệnh tương đối thường gặp mặc dù tỷ lệ mắc đã giảm rõ rệt so với trước khi có chương trình tiêm chủng mở rộng. 4. Sởi là một bệnh dễ lây lan: Trong gia đình nếu có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Người bệnh phát tán virus mạnh nhất là vào giai đoạn tiền triệu (giai đoạn xuất tiết) thông qua các hạt nhỏ bắn ra khi ho, khi nói chuyện hoặc khi tiếp xúc. Điều đáng nói ở đây là giai đoạn lây lan mạnh này xuất hiện vào lúc khi bệnh chưa được chẩn đoán, do đó, dĩ nhiên cũng không có biện pháp phòng ngừa.   Sởi là một bệnh nhiễmvirus cấp tính đặc trưng ở giai đoạn cuối bằng ban dạng dát-sẩn xuấthiện tuần tự từ cổ, mặt, ngực, thân, chân tay kèm theo sốt cao (Ảnh: Internet) Trẻ sơ sinh được mẹ truyền các kháng thể miễn dịch thông qua nhau thai. Lượng kháng thể có thể tồn tại từ 4 đến 6 tháng, do vậy trẻ ít khi mắc bệnh trong giai đoạn này. Tuy vậy, một số bằng chứng cho thấy kháng thể từ mẹ có thể bảo vệ trẻ đến tháng thứ 9 sau khi sinh. Đây là lý do tiêm chủng ngừa sởi thường được thực hiện trước 12 tháng 5. Bệnh sinh: Những tổn thương đặc trưng của sởi xuất hiện ở da, niêm mạc mũi hầu, phế quản, niêm mạc đường tiêu hóa và kết mạc mắt. Tại đây xuất hiện các dịch xuất tiết thanh mạc và sự tăng sinh của các tế bào đơn nhân và một số tế bào đa nhân quanh mao mạch. Các tổ chức bạch huyết cũng tăng sinh thường gặp nhất là ở ruột thừa, nơi có thể tìm thấy các tế bào khổng lồ đa nhân (tế bào khổng lồ hệ võng nội mô Warthin - Finkeldey). Biểu hiện ở da là những tổn thương các tuyến đưới da và lỗ chân lông. Hạt Koplik cũng chứa các chất xuất tiết thanh dịch và sự tăng sinh các tế bào nội mô tương tự như ở da. Viêm phổi kẽ là do các tế bào khổng lồ Hecht. Viêm phổi cũng do bội nhiễm vi khuẩn. Trong một số trường hợp viêm não, quá trình thoái hóa myeline có thể xảy ra quanh khoảng mạch trong não và tủy sống. Trong viêm não toàn bộ xơ hóa bán cấp (SSPE: Subacute Sclerosing PanEncephalitis) hay còn gọi viêm não chậm, sự hiện diện của virus trong các hạt vùi nội bào tương và trong nhân gây nên sự thoái hóa từ từ và tiến triển của vỏ não (chất xám) và chất trắng 6. Biểu hiện lâm sàng Sởi biểu hiện trên lâm sàng qua ba giai đoạn: Giai đoạn ủ bệnh. Giai đoạn tiền triệu với dấu hiệu nội ban (còn gọi là hạt Koplik). Giai đoạn cuối với ban dát - sẩn và sốt cao. 6.1. Giai đoạn ủ bệnh Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 10 đến 12 ngày là thời gian từ khi trẻ bị nhiễm virus gây bệnh đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn tiền triệu. Trong giai đoạn này trẻ không biểu hiện triệu chứng gì của bệnh. 6.2.Giai đoạn tiền triệu Giai đoạn tiền triệu thường kéo dài 5 đến 15 ngày được đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy mũi nước, viêm kết mạc mắt. Những triệu chứng này hầu như luôn luôn xảy ra trước khi nội ban xuất hiện. Nội ban hay hạt Koplik là dấu hiệu chỉ điểm của bệnh. Nội ban xuất hiện ở khẩu cái cứng hoặc khẩu cái mềm (vòm họng). Hạt Koplik là những hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà, xung quanh có viền đỏ. Hạt thường xuất hiện và biến mất nhanh trong vòng 12 đến 24 giờ. Kết mạc mắt có thể bị viêm đỏ và có dấu hiệu sợ ánh sáng. Người bệnh thường có ho khan tức ho không có đàm. Đôi khi giai đoạn tiền triệu biểu hiện bằng những triệu chứng nặng nề như sốt cao, co giật hoặc thậm chí viêm phổi. 6.3.Giai đoạn phát ban Đây là giai đoạn điển hình nhất của bệnh với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 đến 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát-sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ. Trong trường hợp nhẹ, ban thường đứng gần nhau nhưng riêng rẽ. Trong trường hợp nặng, ban có xu hướng hợp với nhau làm thành những ban lớn hơn, thậm chí từng mảng xuất huyết (sởi đen). Trong thể đặc biệt nặng, ban có thể có dấu hiệu xuất huyết. Khi ban lan đến chân thì sốt cũng đột ngột giảm đi nếu không có biến chứng. Sau đó ban cũng nhạt dần và mất đi đúng theo tuần tự nó đã xuất hiện, nghĩa là cũng từ trên xuống dưới. Sau khi ban mất đi, trên da còn lại những dấu màu sậm lốm đốm như vằn da báo. CHÚ Ý: Một số trường hợp bệnh sởi biểu hiện không giống như miêu tả ở trên như trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ban có thể không điển hình. Các bệnh này thường là bệnh nhân AIDS, hội chứng thận hư, điều trị thuốc ức chế miễn dịch.. 7. Chẩn đoán Chẩn đoán chủ yếu dựa vào yếu tố dịch tễ (tiếp xúc nguồn lây) và biểu hiện lâm sàng với những dấu hiệu và triệu chứng miêu tả ở trên. Trong đó việc phát hiện nội ban và ngoại ban tuần tự có ý nghĩa quyết định. Xét nghiệm cận lâm sàng chỉ có ý nghĩa nghiên cứu hơn là phục vụ cho công tác điều trị. Trong giai đoạn tiền triệu, có thể phát hiện các tế bào khổng ồ đa nhân từ bệnh phẩm ngoáy mũi họng. Công thức máu có thể cho thấy giảm tế bào đa nhân trung tính và tăng tương đối tế bào lympho. Khi bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa hay viêm phổi thì tế bào đa nhân trung tính có thể tăng cao. Đây cũng là dấu hiệu có ích trong phát hiện biến chứng bội nhiễm. Dịch não tủy chỉ thực hiện khi trẻ có biểu hiện tổn thương thần kinh. Trong trường hợp này, protein tăng cao, tế bào ít tăng và chủ yếu là các tế bào lympho, glucose dịch não tủy bình thường. Kháng thể có thể phát hiện được khi xuất hiện ban trên lâm sàng. Kháng thể IgM cho biết tình trạng nhiễm trùng cấp tính. Kháng thể IgG cho biết bệnh nhân đã được miễn dịch do tiêm chủng hay mắc bệnh trước đó. IgG cũng là kháng thể duy nhất mẹ truyền cho con qua nhau thai và có tác dụng bảo vệ trẻ trong khảng 4 đến 6 tháng đầu đời. Phân lập virus bằng cách cấy trên tế bào phôi người hoặc tế bào thận khỉ. Những thay đổi bệnh lý tế bào thường xảy ra trong khoảng 5-10 ngày với sự xuất hiện các tế bào khổng lồ đa nhân cùng với các hạt vùi trong nhân tế bào. 8. Chẩn đoán phân biệt 8.1.Sởi Đức (rubella): Ban ít hơn sởi, sốt cũng nhẹ nhàng hơn. 8.2. Đào ban ấu nhi (roseola infantum) do HHV 6: thường gặp ở trẻ nhũ nhi. Ban có hình dạng giống ban sởi nhưng thường xuất hiện khi sốt giảm đột ngột và thường xuất hiện đầu tiên ở bụng. Kết mạc mắt không viêm còn trong sởi kết mạc viêm đỏ gây nên biểu hiện mắt kèm nhèm trên lâm sàng. 8.3.Nhiễm virus như echovirus, Coxackievirus và adenovirus: ban cũng không đặc trưng như ban sởi. 8.4.Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng do Epstein Barr virus: ban ít hơn nhưng cũng có thể xuất hiện dày lên khi dùng thuốc ampicilline. Bệnh thường kèm theo viêm họng đôi khi có mủ, sưng hạch cổ, gan lách to... 8.5. Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: bệnh thường nặng nề với bối cảnh sốc trụy mạch, ban lan nhanh và không theo tuần tự, ban thường có hình sao, xuất huyết màu tím thẫm (tử ban). 8.6.Sốt tinh hồng nhiệt. 8.7.Các bệnh do rickettsia. 8.8.Bệnh Kawasaki. 8.9.Nổi ban do dị ứng thuốc: tiền sử dùng thuốc. 8.10 Các bệnh huyết thanh. 8.11.Sốt xuất huyết: Sốt cao 39 đến 40 độ C. Tuy nhiên ở Sởi khi sốt, phát ban còn có triệu chứng ho, đau họng... Còn sốt xuất huyết thì không. Sốt xuất huyết thường gây biến chứng nặng sau 4 đến 5 ngày nếu không được chữa trị kịp thời. 9. Điều trị Giống như trong đa phần các bệnh do virus, hiện tại chưa có điều trị đặc hiệu chống virus sởi mà chỉ có điều trị hỗ trợ. Điều trị hỗ trợ gồm hạ sốt bằng Paracetamol, Ibuprofen; nghỉ ngơi tại giường, bù phụ nước-điện giải, phát hiện biến chứng kịp thời. Điều trị kháng sinh khi có bằng chứng bội nhiễm vi khuẩn. Các thuốc kháng virus hiện nay không có tác dụng. Cách ly và phát hiện kịp thời các biến chứng. Dùng Vitamin A: Tình trạng thiếu vitamin A gặp ở 90% bệnh nhi mắc sởi ở châu Phi và gặp ở 22-72% bênh nhi mắc sởi ở Mỹ. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ Vitamin A trong máu với mức độ nặng của sởi. Điều trị bằng Vitamin A đường uống chứng tỏ làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng ở trẻ em mắc sởi tại các nước đang phát triển. [7][8][9] Liều khuyến cáo là 100 000 đơn vị quốc tế cho trẻ 6 tháng đến 1 tuổi; 200 000 đơn vị cho trẻ trên 1 tuổi và dùng liều duy nhất. Trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có dấu hiệu ở mắt do thiếu vitamin A nên thêm một liều vào ngày hôm sau và một liều thứ ba 4 tuần sau đó. 10. Biến chứng Các biến chứng thường gặp của sởi là viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm não. Chính các biến chứng này làm kéo dài thời gian bệnh, ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ. Hậu quả là suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng, đến lượt nó, lại là tiền đề cho các bệnh nhiễm trùng phát sinh. Đây là vòng lẩn quẩn bệnh lý thường gặp. - Viêm phổi kẽ gây ra do chính bản thân virus sởi (viêm phổi tế bào khổng lồ). Viêm phổi do sởi ở bệnh nhân AIDS thường gây tử vong và hiếm khi có ban điển hình. Thường gặp hơn là bội nhiễm vi khuẩn gây nên viêm phổi. Các vi khuẩn thường gặp là phế cầu, liên cầu nhóm A, tụ cầu và Hemophilus Influenzae tuýp b. - Viêm tai giữa là biến chứng luôn luôn phải nghĩ đến ở trẻ mắc sởi. Nguyên nhân gây bệnh cũng tương tự như trong viêm phổi. Nếu không phát hiện kịp thời, viêm tai giữa có thể gây thủng màng nhĩ ảnh hưởng đến thính lực. Đôi khi viêm tai giữa cấp không được điều trị đúng có thể đưa đến viêm tai giữa mạn tính với biến chứng nguy hiểm là viêm tai xương chũm và áp xe não. - Tiêu chảy cũng là biến chứng thường gặp sau sởi đặc biệt ở những trẻ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A. Trẻ dễ bị mắc lỵ trực trùng và tiêu chảy kéo dài. Đôi khi do cơ địa suy kiệt, bệnh nhi dễ có nguy cơ nhiễm trùng huyết tiêu điểm từ ruột. - Viêm loét giác mạc: đây là biến chứng kinh điển và đáng sợ. Trẻ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A là những đối tượng có nguy cơ cao nhất. Bệnh có thể diễn biến từ loét gây mờ giác mạc, hỏng toàn bộ giác mạc đến làm mủ trong nhãn cầu. Hậu quả là giảm thị lực đến mù vĩnh viễn toàn bộ. Biến chứng này hiện nay cũng đã giảm rõ nhờ điều kiện dinh dưỡng được cải thiện và nhờ vào chiến dịch bổ sung vitamin A cho cộng đồng. - Sởi làm suy giảm chức năng miễn dịch của cơ thể nên có thể tạo điều kiện cho thể lao tiềm ẩn tái bùng phát mạnh mẽ. - Viêm cơ tim cũng có thể xảy ra nhưng hiếm gặp hơn. - Viêm não ước tính khoảng 1-2/1000 trường hợp mắc sởi. Không có mối tương quan giữa mức độ nặng của bệnh sởi với khả năng xuất hiện viêm não. Cũng không có tương quan giữa triệu chứng khởi đầu của viêm não với tiên lượng của nó. Có hai thể viêm não do sởi. Một thể là do phản ứng miễn dịch thông qua sự hình thành phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Một thể khác là do sự hiện diện của virus sởi tồn tại trong tế bào thần kinh gây nên viêm não chậm có thể xuất hiện 5 năm thậm chí 15 năm sau khi mắc sởi. - Các biến chứng thần kinh khác là hội chứng Guillain-Barrée, liệt nửa người, huyết khối tĩnh mạch não... thường ít gặp. 11. Tiên lượng Tiên lượng có thể thay đổi tùy theo thể trạng của trẻ, phát hiện và điều trị kịp thời hay không, sự xuất hiện các biến chứng...Tử vong có thể xảy ra do viêm phổi, viêm não. Trong lich sử ví dụ vụ dịch ở đảo Faroe năm 1846, tỷ lệ tử vong là 25%. Ở Mỹ, tỷ lệ tử vong ước tính 1-2/1000 trường hợp. Ở các nước đang phát triển, nơi mà tình trạng suy dinh dưỡng còn cao và hệ thống y tế còn nhiều khiếm khuyết thì tử lệ tử vong chắc chắn cao hơn, biến chứng cũng cao hơn. 12. phòng bệnh sởi Khi phát hiện trẻ có tiếp xúc với nguồn lây bệnh nên cách ly trẻ ởbệnh viện từ ngày thứ 7 sau khi tiếp xúc đến ngày thứ 5 sau khi xuất hiện ban sởi bởi giai đoạn này là giai đoạn lây lan mạnh.Dùng Vaccine: Vắc xin sởi của Hilleman Walter giúp ngăn chặn 1 triệuca tử vong mỗi năm, Hiện nay các nước tiên tiến thường tiêm ngừa sởi bằng vaccine tam liên sởi-quai bi-rubella (sởi Đức). Mũi tiêm đầu tiên thực hiện lúc trẻ được 12 đến 15 tháng tuổi. Mũi tiêm nhắc lại có thể thực hiện lúc trẻ được 4-6 tuổi tuy nhiên cũng có thể tiêm nhắc vào bất cứ lúc nào sau mũi thứ nhất 4 tuần. Trẻ không được tiêm nhắc mũi thứ hai nên được tiêm vào lúc 10 đến 12 tuổi. Ở các nước có tỷ lệ lưu hành sởi khá cao thì có thể tiêm mũi đầu tiên ngay lúc trẻ được 6 tháng tuổi. Chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam thực hiện mũi tiêm sởi lúc trẻ 9 tháng tuổi. Mũi tiêm này chỉ chứa vaccine sởi. Tại các thành phố lớn hiện có vaccine tam liên như trên nhưng không miễn phí. Các gia đình có điều kiện nên tiêm loại vaccine này. Vì vaccine sởi là loại vaccine sống giảm độc lực nên không được khuyến cáo ở phụ nữ có thai, trẻ suy giảm miễn dịch tiên phát, trẻ bị bệnh lao không được điều trị, bệnh nhân ung thư, bệnh nhân ghép tạng, bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch hoặc trẻ bị bệnh AIDS giai đoạn nặng. Phòng ngừa sau phơi nhiễm: Trong vòng 6 ngày từ khi tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globuline miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và cũng không phổ biến ở Việt Nam. Ngay cả tại các nước phát triển thì cũng chỉ một số đối tượng được khuyến cáo sử dụng phương pháp này. Đó là phụ nữ có thai chưa được miễn dịch với sởi, trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi sinh ra từ mẹ không có miễn dịch chống sởi... Do vậy biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất vẫn là tiêm chủng ngừa bệnh theo chương trình quốc gia.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cách phân biệt cảm lạnh và cúm

CÁCH PHÂN BIỆT CẢM LẠNH VÀ CÚM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thời tiết thay đổi thất thường khiến bé nhà tôi rất hay bị cảm lạnh hoặc bị cúm. Tuy nhiên, tôi không thể phân biệt được hai loại bệnh này. Mong chuyên mục tư vấn giúp và tư vấn cách phòng cúm hiệu quả cho bé. Mỹ Hạnh (Thái Bình) Trả lời: Mặc dù cảm lạnh và cúm có triệu chứng giống nhau nhưng lại rất khác nhau về mức độ nguy hiểm và biến chứng: Bệnh cảm lạnh thường tự khỏi và không gây bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho con người, ngược lại bệnh cúm nếu không theo dõi và chăm sóc người bệnh đúng cách có thể gây những biến chứng nghiêm trọng. Dấu hiệu phân biệt cảm lạnh và cúm: Cảm lạnh và cúm là hai bệnh lý hoàn toàn khác nhau, mặc dù hai bệnh này có những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt thể hiện qua 3 đặc điểm sau đây:   Bệnh cảm lạnh thường tự khỏi và không gây bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho con người, ngược lại bệnh cúm nếu không theo dõi và chăm sóc người bệnh đúng cách có thể gây những biến chứng nghiêm trọng. (Ảnh minh họa) Bệnh cảm lạnh thường do một số siêu vi thông thường đường hô hấp như Adenovirus, Rhinovirus, Coronavirus… còn bệnh cúm thì do virus cúm có tên khoa học là Influenzae gây ra. Khi bị cảm lạnh, bé sẽ có những triệu chứng đường hô hấp ở mức độ nhẹ hoặc trung bình như: Hắt hơi, sổ mũi hoặc nghẹt mũi, một số bệnh nhân có thể bị ho khan hoặc cơ thể mệt mỏi thoáng qua. Khi bị cúm, triệu chứng bệnh thường rầm rộ biểu hiện qua 3 hội chứng sau: Bị sốt cao liên tục 39 – 40oC khi nhiễm cúm, mặt đỏ bừng, mạch nhanh, biếng ăn, tiểu ít, nước tiểu vàng sậm. Trẻ thường bị mệt lả, đuối sức vì sốt. Nhức đầu dữ dội và liên tục gia tăng khi sốt cao hoặc khi ho gắng sức, thường đau nhiều ở vùng trán và vùng trên nhãn cầu. Ngoài ra, còn đau các bắp cơ thân mình và có cảm giác nóng, đau vùng trên xương ức. Hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi, mắt đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác khô và đau rát họng. Trẻ em thường kèm theo dấu hiệu buồn nôn, nôn ói hoặc đau bụng. Để trẻ không mắc cúm, bạn nên: Rửa sạch tay bằng xà phòng và nước sạch thường xuyên cho trẻ. Tránh tiếp xúc với người nghi ngờ nhiễm khuẩn hô hấp cấp, giữ khoảng cách an toàn (>1m). Mang khẩu trang y tế khi đến chỗ đông người: Bệnh viện, siêu thị, công viên, rạp chiếu phim… Nhắc nhở trẻ thói quen che miệng khi ho. Đưa trẻ đi tiêm ngừa vaccine phòng bệnh cúm.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Chứng bệnh sợ hãi

CHỨNG BỆNH SỢ HÃI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} - Nhịp tim nhanh hoặc các cơn đánh trống ngực (dễ lầm tưởng là bệnh tim mạch). - Đau ngực hoặc khó chịu ở ngực (dễ nhầm với bệnh tim). - Ra mồ hôi (lầm tưởng bị cường thần kinh giao cảm). - Hơi thở ngắn, khó thở (dễ nhầm bị bệnh phổi). - Cảm giác nóng hoặc ớn lạnh (lầm tưởng rối loạn trung tâm điều hòa nhiệt độ ở não). - Chóng mặt hoặc ngất xỉu (dễ bị cho là rối loạn tuần hoàn não). - Buồn nôn hoặc khó chịu ở bụng (dễ nhầm với bệnh đường tiêu hóa). - Cảm giác ngộp thở. - Run rẩy hoặc lắc lư thân thể. - Đánh mất nhân cách hoặc đánh mất nhận thức. - Sững sờ hoặc dị cảm. - Sợ chết. - Sợ bị điên hoặc mất kiểm soát. Chẩn đoán bệnh đòi hỏi bệnh nhân bị ít nhất 4 cơn sợ hãi trong thời gian 4 tuần. Các cơn sợ hãi đòi hỏi có 4 hoặc nhiều hơn các triệu chứng kèm theo kể trên. Các triệu chứng này xảy ra đột ngột, không có nguyên nhân thực thể rõ ràng và giữ cường độ trong vòng 10 phút kể từ khi khởi phát triệu chứng đầu tiên. Thời gian của một cơn sợ hãi có thể rất khác nhau nhưng điển hình là hơn 10 phút.   Chứng bệnh sợ hãi đôi lúc xảy ra trên một số bệnh nhân bị một căn bệnh khác. Chẳng hạn stress sau chấn thương, bệnh tâm thần phân liệt, bệnh ở tuyến giáp, thiếu máu, ngộ độc một số thuốc gây nghiện. (Ảnh minh họa) Chính vì các triệu chứng kèm theo ở bệnh nhân mà đa số thầy thuốc tại các chuyên khoa khác nhau đã chẩn đoán nhầm và điều trị mãi mà không dứt bệnh. Cho đến khi gặp thầy thuốc tâm thần, bệnh nhân mới được chẩn đoán đúng bệnh và điều trị tận gốc. Chứng bệnh sợ hãi đôi lúc xảy ra trên một số bệnh nhân bị một căn bệnh khác. Chẳng hạn stress sau chấn thương,bệnh tâm thần phân liệt, bệnh ở tuyến giáp, thiếu máu, ngộ độc một số thuốc gây nghiện. Các cơn sợ hãi xảy ra ở trẻ em có thể dẫn đến học hành sa sút như ở lại lớp, tránh đến trường học, xa lánh cha mẹ, nghiện hút, trầm cảm, ý nghĩ tự sát. Vì vậy, cha mẹ cần thường xuyên theo dõi con mình. Về vấn đề điều trị, cần một bác sĩ tâm thần giỏi và am hiểu các chuyên khoa khác để vừa điều trị căn nguyên vừa điều trị triệu chứng. Lưu ý rằng bệnh nhân không được tự mua thuốc điều trị mà cần phải đến bác sĩ chuyên khoa tâm thần để được khám và cho thuốc uống, như vậy mới mong khỏi bệnh và tránh được những sự cố đáng tiếc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

báo cáo bệnh heo tai xanh

báo cáo bệnh heo tai xanh

Dịch heo tai xanh( hay còn gọi là hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn)là bệnh truyền nhiễm cấp tính đối với lợn, bệnh lây lan rất nhanh, gây viêm đường hô hấp và rối loạn sinh sản do virut lelysrad (PRRS) gây ra, hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc trị. Bệnh do vi rút PRRS có 2 kiểu chính :Mỹ, Châu âu. Rối loạn sinh sản ở heo nái Viêm phổi nặng gây chết ở heo con Viêm phổi nhẹ trên heo thịt giống Tổ chức dịch tể thế giới xếp loại B

Đọc thêm

Mùa lạnh, đề phòng bệnh cúm cho trẻ em

MÙA LẠNH, ĐỀ PHÒNG BỆNH CÚM CHO TRẺ EM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm. Yếu tố “thiên thời địa lợi” làm lan truyền lây nhiễm virút cúm Thời tiết khí hậu: ở môi trường có độ ẩm thấp và nhiệt độ không cao (khí hậu lạnh, ẩm) dễ làm phát tán bệnh cúm. Môi trường sống: không thông thoáng, mật độ dân cư đông đúc, môi trường ô nhiễm hoặc ẩm thấp dễ làm lây truyền virút cúm. Phương tiện di chuyển công cộng đông đúc: nhất là khoảng cách giữa người bệnh và người lành không còn an toàn (<1m) làm người dễ hít các giọt tiết bắn ra từ người bệnh, nhất là trẻ em. Bệnh cúm dễ nhầm lẫn với bệnh cảm lạnh thông thường Cảm lạnh và cúm là 2 bệnh lý hoàn toàn khác nhau, mặc dù 2 bệnh có những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt thể hiện qua 3 đặc điểm sau đây: Khác nhau về tác nhân gây bệnh: bệnh cảm lạnh thường do một số siêu vi thông thường đường hô hấp như Adenovirus, Rhinovirus, Coronavirus…. gây ra, còn bệnh cúm thì do virút cúm có tên khoa học là Influenzae.   Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm (Ảnh minh họa) Khác nhau về bệnh cảnh và triệu chứng lâm sàng: bệnh cảm lạnh thường gây những triệu chứng ở đường hô hấp ở mức độ nhẹ hoặc trung bình như hắt hơi, sổ mũi, hoặc nghẹt mũi, một số bệnh nhân có thể bị ho khan hoặc cơ thể mệt mỏi thoáng qua. Ngược lại, khi bị nhiễm cúm triệu chứng bệnh thường rầm rộ biểu hiện qua 3 hội chứng sau: Hội chứng nhiễm trùng: trẻ thường bị sốt cao liên tục 39 - 40oC khi nhiễm cúm, mặt đỏ bừng, mạch nhanh, biếng ăn, tiểu ít, nước tiểu vàng sậm. Trẻ thường bị mệt lả, đuối sức vì sốt. Hội chứng đau nhức: nhức đầu dữ dội và liên tục gia tăng khi sốt cao hoặc khi ho gắng sức, thường đau nhiều ở vùng trán và vùng trên nhãn cầu. Bệnh nhân còn đau các bắp cơ thân mình. Bệnh nhân có cảm giác nóng, đau vùng trên xương ức. Hội chứng viêm long đường hô hấp: xuất hiện ngay các ngày đầu với mức độ nặng nhẹ khác nhau như hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi, mắt đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác khô và đau rát họng. Trẻ em thường kèm theo dấu hiệu buồn nôn, nôn ói hoặc đau bụng. Khác nhau về mức độ nguy hiểm và biến chứng: bệnh cảm lạnh thường tự khỏi và không gây bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho con người, ngược lại bệnh cúm nếu không theo dõi và chăm sóc người bệnh đúng cách có thể gây những biến chứng nghiêm trọng cho con người. Chăm sóc đúng cách trẻ mắc cúm tại nhà Việc chăm sóc nên chú ý những nguyên tắc sau đây: - Hạ sốt cho trẻ khi thân nhiệt đo được từ 38oC bằng paracetamol đơn chất với liều 10mg - 15mg/kg cân nặng cơ thể mỗi 4 - 6 giờ kết hợp với lau mát bằng nước ấm khi cần thiết. Tuyệt đối không được sử dụng aspirin để hạ sốt cho trẻ. Cho trẻ uống thêm nhiều nước, đặc biệt là những loại nước giàu vitamin C như nước cam tươi, nước chanh, nước táo… giúp trẻ tăng cường sức đề kháng để mau khỏi bệnh. Cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, ấm, dễ tiêu hóa và giàu dinh dưỡng như cháo, xúp dinh dưỡng, sữa nóng… Cho trẻ đến ngay bệnh viện nếu thấy bệnh trầm trọng hơn, trẻ bỏ ăn bỏ uống, quấy khóc nhiều, đặc biệt là sốt cao liên tục không hạ sau khi đã uống thuốc hạ sốt và lau mát tích cực. Chủ động phòng bệnh - Nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa sạch tay bằng xà bông và nước sạch. - Tránh tiếp xúc với người nghi ngờ nhiễm khuẩn hô hấp cấp, giữ khoảng cách an toàn (>1m). - Mang khẩu trang y tế khi đến chỗ đông người: bệnh viện, siêu thị, công viên, rạp chiếu phim… - Nhắc nhở trẻ thói quen che miệng khi ho. - Giữ vệ sinh thân thể và môi trường sống thật tốt. - Phòng ngừa chủ động tốt nhất và hiệu quả nhất là đưa trẻ đi tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh cúm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Trời lạnh, chữa ho cho trẻ không khó

TRỜI LẠNH, CHỮA HO CHO TRẺ KHÔNG KHÓ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Vì vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển, hệ thống miễn dịch còn kém nên gần như cứ mỗi lần chuyển mùa, trẻ lại dễ bị lạnh, cảm sốt, ho hắng. Nếu để kéo dài dễ dẫn đến các bệnh về đường hô hấp. Khi trẻ ho, mẹ cần quan sát các triệu chứng của bé: Ăn không ngon, tâm trạng chơi đùa ra sao, khi cần thiết, nên đưa con đến bệnh viện, không được sử dụng thuốc tuỳ tiện. Có nhiều nguyên nhân gây ra ho, như viêm đường hô hấp, dị ứng, viêm phổi, các triệu chứng hen suyễn… Ngoài cách chữa bằng một số các loại thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ, bạn có thể áp dụng cho bé bằng chế độ ăn uống thích hợp. Lê + đường + xuyên bối   Lê hấp xuyên bối-vị thuốc chữa ho cực hiệu quả (Ảnh: Internet) Chọn trái lê to, bỏ vỏ, cắt nắp, khoét bỏ lõi. Bỏ vào bên trong lê 2-3 cục đường phèn nhỏ. 5-6 hạt xuyên bối (mua ở quầy thuốc Đông y). Cho lê vào hấp cách thuỷ chừng 30 phút. Ngày cho bé ăn 2 lần. Có tác dụng chữa ho, viêm phổi, tiêu đờm. Nước củ cải luộc Củ cải trắng, cắt chừng 4-5 lát cho vào một nồi nhỏ, châm bát nước, đun sôi, sau đó để lửa liu riu thêm 5-10 phút. Cho bé uống nước này khi còn nóng điều trị ho, khô mũi, đau hong, ho khan, có đờm. chuyển sang đun nhỏ lửa trong 5 phút. Nước mát khác và sau đó con quý vị uống, bên này điều trị phong nhiệt ho, khô mũi và họng, ho khan ít đờm hiệu quả là tốt. Cam nướng Một quả cam ngọt, tất nhiên nên chọn loại bảo đảm, không thuốc nướng trực tiếp trên lửa nhỏ và liên tục lật vỏ để khỏi bị cháy. Nướng chừng 10 phút là được. Quả cam mang ra còn nóng hổi rất dễ lột vỏ, lúc đó thì độ nóng trong ruột cam cũng vừa đủ. Bóc vỏ cam, cho trẻ ă 2-3 múi cam sẽ làm long đờm rất nhanh và chữa ho hay hơn cả dùng thuốc.   Cam nướng có khả năng trị ho (Ảnh: Internet) Đường nâu + gừng + tỏi Trẻ em bị cảm lạnh, uống nước gừng nấu đường nâu ấm có tác dụng điều trị rất hiệu quả. Nếu trẻ kèm theo triệu chứng ho, hãy thêm gừng và 2-3 tép tỏi vào nấu thêm 10 phút nữa rồi cho trẻ uống. Nước tỏi hấp Lấy 2-3 tép tỏi, đập dập, cho vào bát, thêm một nửa bát nước, 1 viên đường phèn, hấp cách thuỷ 15 phút. Không cần cho bé ăn tỏi, chỉ cần uống nước tỏi hấp này khi còn ấm, ngày 2-3 lần, vửa tốt cho dạ dày, phổi, vừa trị được ho, cảm lạnh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hệ Tiết Niệu Chăn Nuôi Thú Y

Hệ Tiết Niệu Chăn Nuôi Thú Y

hệ tiết niệu bao gồm hệ tiết niệu giải phẫu hệ tiết niệu ở trẻ em hệ tiết niệu mô phôi hệ tiết niệu tiếng anh hệ tiết niệu ppt hệ tiết niệu sinh dục nam hệ tiết niệu gia súc hệ tiết niệu tiếng anh là gì hệ tiết niệu trẻ em hệ tiết niệu gồm những cơ quan nào hệ tiết niệu và sinh dục atlas giải phẫu hệ tiết niệu siêu âm hệ tiết niệu bệnh hệ tiết niệu chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị bài giảng hệ tiết niệu các bệnh hệ tiết niệu bệnh học hệ tiết niệu bệnh lý hệ tiết niệu chụp hệ tiết niệu có chuẩn bị bệnh ở hệ tiết niệu các bệnh về hệ tiết niệu hệ tiết niệu cao hệ tiết niệu của trẻ em hệ tiết niệu của trẻ chụp hệ tiết niệu có thuốc cản quang ct hệ tiết niệu chụp uiv hệ tiết niệu cấu tạo hệ tiết niệu hệ tiết niệu sinh dục khám hệ tiết niệu sinh dục nam giải phẫu hệ tiết niệu sinh dục dị dạng hệ tiết niệu sơ đồ hệ tiết niệu đặc điểm hệ tiết niệu trẻ em hệ thống đường tiết niệu đại cương hệ tiết niệu đại cương về hệ tiết niệu điều trị viêm hệ tiết niệu điều trị sỏi hệ tiết niệu giải phẫu bệnh hệ tiết niệu hình ảnh hệ tiết niệu mô học hệ tiết niệu giải phẫu học hệ tiết niệu phôi thai học hệ tiết niệu triệu chứng học hệ tiết niệu hình ảnh sỏi hệ tiết niệu bệnh học sỏi hệ tiết niệu sự hình thành hệ tiết niệu hệ tiết niệu là gì khám hệ tiết niệu kỹ thuật chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị cách khám hệ tiết niệu kháng sinh hệ tiết niệu khám lâm sàng hệ tiết niệu kỹ thuật chụp hệ tiết niệu lao hệ tiết niệu sinh lý hệ tiết niệu sinh lí hệ tiết niệu tài liệu hệ tiết niệu rối loạn hệ tiết niệu sinh lý bệnh hệ tiết niệu hệ tiết niệu mô trắc nghiệm mô hệ tiết niệu hệ tiết niệu nam chức năng hệ tiết niệu trắc nghiệm hệ tiết niệu nhiễm trùng hệ tiết niệu hệ tiết niệu ở người đặc điểm hệ tiết niệu ở trẻ em cấu tạo hệ tiết niệu ở trẻ hệ tiết niệu phôi thai thành phần hệ tiết niệu x quang hệ tiết niệu cơ quan hệ tiết niệu hệ tiết niệu trẻ sơ sinh sỏi hệ tiết niệu slide hệ tiết niệu hệ thống tiết niệu video hệ tiết niệu viêm hệ tiết niệu vệ sinh hệ tiết niệu vị trí hệ tiết niệu bệnh về hệ tiết niệu hình ảnh x quang hệ tiết niệu cách đọc phim x quang hệ tiết niệu hình ảnh x quang sỏi hệ tiết niệu
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG

BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG

BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG BÀI GIẢNG BỆNH TIÊU CHẢY cấp ở TRẺ EM CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG
Xem thêm

Đọc thêm

Trẻ dễ mắc bệnh gì vào mùa hè?

TRẺ DỄ MẮC BỆNH GÌ VÀO MÙA HÈ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thời tiết oi bức rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Do vậy, mùa hè trẻ rất dễ mắc các bệnh như tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm, sốt, chân tay miệng, viêm màng não, sốt xuất huyết... Vậy làm thế nào để phòng tránh bệnh tật cho trẻ trong mùa hè? Bệnh tiêu chảy Tiêu chảy là hiện tượng đi ngoài phân lỏng 3 lần trở lên trong ngày. Nguyên nhân chính là do ăn uống thiếu vệ sinh, thức ăn ôi thiu gây nhiễm khuẩn, thiếu vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh. Đặc biệt bệnh tiêu chảy dễ dàng bùng phát do ô nhiễm nguồn nước.Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em. Các triệu chứng của bệnh tiêu chảy là nôn mửa, chuyển động, đau dạ dày, miệng trở nên khô, da bị mất nước và không còn đàn hồi, đi tiểu ít. Để phòng bệnh tiêu chảy cho con, cha mẹ cần lưu ý cho uống nước đun sôi, rửa tay và chân trước khi ăn uống, vệ sinh sạch móng tay. Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em.     Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em (Ảnh minh họa) Lưu ý, cha mẹ không nên tự ý sử dụng kháng sinh cho trẻ, không nên ăn những thực phẩm ngoài đường phố vì những thực phẩm này gây nguy cơ ngộ độc rất cao nhất là vào mùa hè. Ngoài ra, các bậc cha mẹ cần chú ý giữ gìn vệ sinh cho trẻ và theo dõi để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bệnh tiêu chảy, chủ động đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, đề phòng biến chứng nguy hiểm. Ngộ độc thực phẩm Mùa hè là thời điểm dễ xảy ra ngộ độc thực phẩm, nhất là với trẻ nhỏ vì sức đề kháng kém. Khi bị ngộ độc thức ăn trẻ thường có các biểu hiện như nôn ói, đau bụng và tiêu chảy. Các triệu chứng thường xuất hiện sau khi ăn thức ăn bị nhiễm độc từ 1 giờ đến 3 ngày. Trẻ có thể nôn liên tục hoặc vài lần trong ngày. Đau bụng dữ dội, quặn từng cơn sau đó đi tiêu chảy, triệu chứng đau quặn bụng thường xảy ra trước lúc đi ngoài. Tùy theo tác nhân gây ngộ độc mà triệu chứng nôn mửa nổi bật hay tiêu chảy nhiều hơn. Để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm cho trẻ, các bậc cha mẹ nên bảo đảm thức ăn an toàn và hợp vệ sinh, nấu chín thức ăn. Bảo quản thức ăn đã nấu cẩn thận, tốt nhất là giữ thức ăn lạnh. Hâm nóng kỹ lại thức ăn trước khi ăn để tiêu diệt các vi khuẩn mới nhiễm. Tạo thói quen cho trẻ và người chăm sóc rửa tay cho trẻ trước khi ăn. Bên cạnh đó hành trang khi đi du lịch của nhà bạn nên kèm theo vài gói oresol để kịp thời bù nước cho trẻ khi trẻ bị ngộ độc thực phẩm. Chân tay miệng Tay chân miệng là một bệnh rất phổ biến, thường là nhẹ, gặp nhiều ở trẻ nhỏ do nhiễm virus, đặc trưng bởi sốt và phát ban thường thấy trên lòng bàn tay, lòng bàn chân và bên trong miệng. Bệnh lây lan trực tiếp từ người sang người, qua dịch tiết mũi họng, nước bọt, các mụn nước, hoặc phân của người bệnh. Nguyên nhân hàng đầu là do coxsackievirus A16, một loại virus thuộc họ enterovirus. Cũng có thể do các loại enterviruses khác gây ra nhưng ít gặp hơn. Đặc biệt enterovirus 71 ít gặp hơn nhưng có nhiều nguy cơ gây biến chứng nặng hơn, như viêm màng não, viêm cơ tim… dẫn đến tử vong. Để phòng bệnh, các bậc cha mẹ cần giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ em. Nếu thấy có dấu hiệu ngứa và nổi mụn ở chân, tay, miệng, hãy đi khám càng sớm càng tốt. Bệnh thuỷ đậu Thuỷ đậu là bệnh do virus gây ra. Trẻ bị thuỷ đậu trước tiên sẽ có triệu chứng ngây ngấy sốt, sau có thể sốt cao. Bệnh có thể kéo dài 4-5 ngày. Bệnh hay gặp lúc chuyển mùa, giao thời tiết nóng - lạnh. Khi đã mắc bệnh, con người sẽ có miễn dịch lâu dài suốt đời và ít khi bị lại lần hai. Đây là bệnh lành tính, đa số trẻ đến khám được cho về điều trị tại nhà. Bệnh hay gặp ở trẻ 1-9 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi khả năng bị ít hơn nhưng không phải là không có. Bệnh lây qua đường hô hấp nên khi trẻ ho, virus bắn ra môi trường xunh quanh là các bé khác dễ bị lây. Cha mẹ cần tăng cường vấn đề vệ sinh, ăn uống, đường hô hấp, da để phòng bệnh. Quan trọng là cần đưa trẻ đi tiêm phòng khi được 12 tháng tuổi. Trẻ đã bị thủy đậu thì không cần tiêm phòng nữa. Nếu trẻ có dấu hiệu sốt trong những ngày nốt thuỷ đậu xuất hiện và lan rộng thì phải đưa con đi bác sĩ ngay lập tắc, nếu không sẽ rất nguy hiểm. Sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm, có thể gây thành dịch. Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa hè và gây nguy hiểm ở trẻ em nếu không được điều trị kịp thời. Biểu hiện bệnh là trẻ sốt cao đột ngột 39 – 40độ C kéo dài, không kèm theo ho, sổ mũi. Trên người nổi những nốt xuất huyết ngoài da, thường là ở cánh tay, cẳng chân. Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên. Ngoài ra, trẻ có thể bị chảy máu cam, chảy máu chân răng. Nặng hơn trẻ có thể xuất huyết tiêu hóa: nôn hoặc đi ngoài ra máu, tay chân lạnh, đau bụng, trụy tim mạch. Khi trẻ bị sốt xuất huyết, các bậc cha mẹ cần phải cho trẻ uống nhiều nước. Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C thì cho uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol (tuyệt đối không dùng Aspirin vì thuốc này làm tăng nguy cơ chảy máu). Cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu thấy có dấu hiệu nặng như chảy máu cam, lừ đừ, đau bụng. Để phòng bệnh sốt xuất huyết, cần đổ nước thừa ở chỗ ứ nước, thùng nước, xô, chậu... Thả cá vào các vật chứa nước trong nhà để diệt bọ gậy, cọ rửa và thay nước thường xuyên. Luôn luôn đậy kín tất cả các vật dụng chứa nước. Thu gom, huỷ đồ phế thải ở xung quanh nhà, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh. Ngoài ra, cha mẹ nên mắc màn khi trẻ ngủ để tránh muỗi đốt. Sử dụng thuốc diệt muỗi thận trọng khi sử dụng thuốc này đối với trẻ nhỏ. Dùng rèm che, màn tẩm hoá chất diệt muỗi để hạn chế và diệt muỗi. Viêm màng não Bệnh viêm não, viêm màng não do nhiều loại virus gây ra, như virus Arbovirus, các virus đường ruột, virus thủy đậu, quai bị…   Biểu hiện của bệnh là sốt, choáng váng, đau họng, đau bụng, sổ mũi, hắt hơi, ho, đau đầu, nôn. Nếu bệnh nhân bị tổn thương não sâu hơn sẽ dẫn đến ngủ lịm, hôn mê, thiểu năng trí tuệ. Một số trường hợp xuất hiện sốt đột ngột, co giật ngoại ý, liệt chân tay. Viêm não cấp tính thường kéo dài 1- 3 tuần, nhưng sự hồi phục rất chậm. Mặc dù đã có thuốc kháng virus nhưng thuốc chỉ có tác dụng với một số loại virus chứ không phải kháng tất cả các virus. Để phòng bệnh, cần tránh để muỗi đốt bằng cách dùng nhang xua muỗi, phun thuốc muỗi định kỳ, mặc quần áo dài, ngủ màn, nuôi cá diệt loăng quăng ở những nơi chứa nước, phát quang bụi rậm... Đối với bệnh viêm não Nhật Bản B đã có vắc xin thì nên cho trẻ tiêm phòng bệnh. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề