THUỐC CHỮA VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH

Tìm thấy 6,294 tài liệu liên quan tới từ khóa "THUỐC CHỮA VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH":

Viêm phế quản mạn tính

VIÊM PHẾ QUẢN MẠN TÍNH

Viêm phế quản cấp hoặc mạn tính, bạn vào nhà thuốc nam của Ông tôi lấy bài thuốc Viêm phế quản để chữa trị cho tận gốc bệnh. Hoặc liên lạc trực tiếp về Email: rongkinh.vngmail.com để Ông tôi hướng dẫn giúp. http:rongkinh.vnchuaviemphequanmantinhbangthuocnam “THẤT KIM THANG”: Đặc trị viêm phế quản mạn tính

1 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRƯỚC VÀ SAU THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ HEN

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRƯỚC VÀ SAU THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ HEN

- Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (Platelet Activating Factor - PAF) gây co thắt, viêmnhiễm, phù nề phế quản.Sự rối loạn hệ thần kinh giao cảm làm tăng tiết cholin, kích thích hệ cholinergiclàm giải phóng các chất trung gian hoá học và làm tăng AMPc nội bào gây phản xạco thắt phế quản.Trong các tế bào và các chất hoá học trung gian gây viêm cần lưu ý vai trò củaleucotrien đó là những sản phẩm chuyển hóa của acid arachinodic theo đường 5 –lipooxygenese hình thành hai type leucotrien: sulfido – peptid và LTB4. Thực chấtcác Sulfido – peptid là chất SRS – A (Slow Reacting Substance of Anaphylasic)chất gây phản ứng quá mẫn chậm có tác dụng co thắt phế quản rất mạnh.Prostaglandin, đặc biệt là Prostaglandin 2 là do mastocyte tiết ra thúc đẩy sự giảiphóng histamin từ basophil (bạch cầu ưa bazơ) cũng chịu trách nhiệm về sự co thắtvà gia tăng tính phản ứng của phế quản.[5]1.5.3. Quá trình tăng phản ứng đường thở.Tăng tính phản ứng phế quản là đặc điểm quan trọng trong bệnh sinh hen phếquản. Sự biến đổi tính phản ứng phế quản liên quan đến nhịp ngày đêm của sức cảnphế quản.Tăng tính phản ứng đường thở là đặc điểm quan trọng ở hen nhưng không phải làduy nhất. Tăng tính phản ứng đường thở còn gặp trong viêm phế quản mạn tính,viêm mũi dị ứng, nấm phổi, bệnh nhầy quánh niêm dịch (mucovisidose).Tăng tính phản ứng phế quản làm mất cân bằng giữa hệ Adrenegic và hệCholinergic dẫn đến tình trạng ưu thế thụ thể alpha và beta, tăng ưu thế của GMPcnội bào, biến đổi hàm lượng men phosphodiesterase nội bào, rối loạn chuyển hoáprostaglandin.Sự gia tăng tính phản ứng đường thở giải thích cho cơ chế của hen phế quản dogắng sức, do khói bụi, do không khí lạnh và do mùi hương.[5],[12]1.5.4. Tái tạo lại đường thở.8
Xem thêm

46 Đọc thêm

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ho dai dẳng, ho thành từng cơn, ho rát cả họng, khổ sở vì ho – là triệu chứng rất dễ gặp trong điều kiện môi trường sống có nhiều ô nhiễm, thời tiết ẩm ướt, thay đổi trạng thái từ lạnh sang nóng đột ngột... Vậy người bệnh cần phải làm gì để bệnh ho thuyên giảm? Ho - vì sao, như thế nào? Ho là một phát thở ra mạnh và đột ngột. Ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể. Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong đa số trường hợp, ho xảy ra ngoài ý muốn và động tác này có tính chất phản xạ. Tuy nhiên, nhiều virut và vi khuẩn có thể truyền nhiễm từ người này sang người khác thông qua ho. Các nhà chuyên môn phân triệu chứng ho như sau: Ho cấp: Là tình trạng ho xảy ra đột ngột, thông thường nhất là do hít phải bụi hoặc chất kích thích. Ho cấp cũng có thể do các nguyên nhân: Do nhiễm khuẩn, viêm họng, viêm thanh quản, viêm tai, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi, tràn dịch màng phổi. Cũng có khi triệu chứng ho xuất hiện trong các bệnh dị ứng tai mũi họng và hen. Triệu chứng ho cấp cũng có thể do bệnh gây ứ máu ở phổi như: bệnh phù phổi, tim và thường gặp ở người có tiền sử mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp... Ho thành cơn: Ho nhiều lần kế tiếp nhau trong một thời gian ngắn, điển hình là cơn ho gà; người bệnh ho liền một cơn, sau đó hít một hơi dài và tiếp tục ho nữa. Cơn ho kéo dài thường gây tăng áp lực trong lồng ngực, gây ứ huyết tĩnh mạch chủ trên làm cho người bệnh đỏ mặt, tĩnh mạch cổ phồng, cơn ho có thể làm chảy nước mắt, đôi khi còn gây ra phản xạ nôn nữa. Người bệnh có thể đau ê ẩm ngực, lưng và bụng do các cơ hô hấp co bóp quá mức.   Người ho có thể dùng chanh, quất trộn với mật ong để ngậm (Ảnh minh họa) Ho khan kéo dài: là tình trạng ho không khạc ra đờm mặc dù người bệnh có thể ho nhiều. Tuy nhiên, có người nuốt đờm hoặc vì không muốn khạc hay vì không biết khạc đờm. Ho khan kéo dài cần chú ý đến: Bệnh của thanh quản, viêm tai, viêm xương chũm mạn tính; Do ung thư phế quản: xảy ra ở người có thâm niên hút thuốc lá, thuốc lào lâu năm (trên 10 năm). Ho khan kéo dài còn do các bệnh tổ chức kẽ của phổi như xơ phổi, phù phổi bán cấp, ung thư phổi hoặc lao kê hoặc do tràn dịch mạn tính màng phổi. Ho kéo dài cũng có thể do một số chất độc gây kích thích trực tiếp do cơ chế miễn dịch dị ứng (hen). Một số trường hợp rối loạn tinh thần có biểu hiện ho nhiều, không có tổn thương trên đường hô hấp. Nhưng đó là những trường hợp hiếm gặp. Ho khan kéo dài còn do tác dụng phụ của một số thuốc, nhất là thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp (coversyl). Ho có đờm: Là tình trạng người bệnh bị ho và cảm thấy nặng ngực, ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho có đờm đa số nguyên nhân là do viêm phế quản mạn tính, cũng có khi là triệu chứng ho sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang... Ở một người nghiện thuốc lào, thuốc lá lâu năm bị ho có đờm kéo dài, đồng thời tính chất của ho thay đổi hoặc ho ông ổng là dấu hiệu của báo động ung thư phế quản. Ho khạc đờm nhiều kèm theo bội nhiễm luôn phải chú ý đến ung thư họng - thanh quản, thực quản, khí quản... Ho ra máu: Là tình trạng ho khạc thấy máu xuất hiện kèm theo. Nó có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Đó có thể là một dấu hiệu của các bệnh viêm phổi cấp và mạn tính, ung thư phổi... Ho ra máu có thể xảy ra đột ngột trong lúc người bệnh cảm thấy khỏe mạnh hoặc sau khi hoạt động mạnh... Thông thường, 90% trường hợp ho ra máu là do bệnh lao đang tiến triển (nếu kèm ho kéo dài, sốt nhẹ, sút cân thì càng chắc chắn). Nếu ho ra máu chút ít lẫn trong đờm, tái phát một vài lần mà không có sốt hoặc sút cân cũng nên nghĩ đến bệnh lao. Cần làm gì khi bị ho? Ho là cơ chế bảo vệ tốt của bộ máy hô hấp, đôi khi rất hữu ích nên phải tôn trọng. Trong trường hợp ho cấp dưới 3 ngày mà không có sốt, không kèm theo đau ngực, không khó thở, không khạc đờm máu, mủ thì không cần dùng thuốc.   Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. (Ảnh minh họa) Ho có thể chỉ là một triệu chứng gây khó chịu, nhưng cũng có thể biểu hiện một bệnh lý nghiêm trọng, đặc biệt với trẻ em và người cao tuổi. Phải dè chừng khi ho có kèm theo sốt, khó thở, tím tái, ho kéo dài, suy kiệt..., bệnh nhân cần được khám xét cẩn thận. Người bệnh ho trên 5 ngày, bất luận là tình trạng ho thế nào thì cần phải đi khám ngay. Nếu ho kéo dài hơn 3 tuần, điều trị bằng thuốc không giảm, có kèm theo sốt, ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, thở nông hoặc đau ngực khi ho có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm... Đối với các bệnh nhân có tiền sử hen, lao phổi, huyết áp tăng, đau dạ dày, sụt cân nhiều, nên đến bác sĩ tìm nguyên nhân để điều trị tận gốc như: hen, viêm phế quản mạn, suy tim sung huyết, viêm phổi, lao phổi, viêm họng, viêm amidan, ung thư phổi... Điều quan trọng nhất là phải phòng bệnh, nhất là vào ngày lạnh. Người bệnh cần năng luyện tập thể dục thể thao phù hợp, ăn uống hợp lý, vệ sinh răng miệng, rèn luyện tính thích nghi với thời tiết, khí hậu, tạo môi trường sống trong sạch - đó mới có hiệu quả thiết thực, lâu dài cho sức khỏe. Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. Nên xông hơi nóng cho đường mũi họng bằng tinh dầu bạc hà, khuynh diệp. Việc hít ngửi hơi nóng sẽ giúp làm loãng chất nhầy, chất đờm đặc giúp khạc ra đờm dễ dàng hơn. Nên nghỉ ngơi nhiều, ăn hoa quả, uống nước cam, chanh, ăn tỏi, hành, hẹ để hỗ trợ thêm hệ miễn dịch. Người bị ho cấp, ho từng cơn và ho khan thể nhẹ có thể áp dụng các liệu pháp dân gian như: có thể sử dụng chanh và mật ong trộn lẫn hoặc pha chanh với mật ong vào nước ấm để uống giúp trị ho, viêm họng. Cách khác là có thể dùng quất và mật ong hấp lên để ngậm giúp trị ho mà không cần dùng thuốc. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHỔI LỢN LÀM THUỐC

PHỔI LỢN LÀM THUỐC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trong bài viết này xin giới thiệu một số món ăn thuốc từ phổi lợn để bạn đọc tham khảo và áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể. Theo y học cổ truyền, phổi lợn (trư phế) có vị nhạt, tính lạnh, có tác dụng mát phổi, giảm ho, trừ đờm; thường dùng trị viêm đường hô hấp, lao phổi, hen phế quản, ho lâu ngày,… Cách dùng như sau: Hỗ trợ điều trị viêm khí phế quản: Phổi lợn 250g, bắc hạnh 10g, nước gừng 1 - 2 thìa canh. Phổi lợn thái miếng, rửa sạch, cho bắc hạnh và nước vào nấu canh, khi canh được cho nước gừng vào, gia vị vừa đủ, uống canh ăn phổi lợn. Công dụng: Hóa đờm trị ho, bổ phế nhuận táo. Trị ho lâu ngày: Phổi lợn 250g, hạnh nhân 10g, củ cải 200g. Phổi lợn rửa sạch, thái miếng, củ cải cắt khúc, hạnh nhân giã nhỏ, tất cả đem hầm nhừ rồi chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Chỉ khái, hóa đàm, giải độc, chuyên dùng cho các chứng ho dai dẳng do phế hư.   Hạnh nhân.   Củ cải. Viêm phổi: Phổi lợn 1 cái, bạch cập 30g, rượu 150ml. Phổi lợn làm sạch thái miếng, cho vào nồi nấu cùng bạch cập nấu với rượu cho chín, thêm gia vị, ăn trong ngày. Món ăn này có tác dụng hỗ trợ điều trị rất tốt cho các trường hợp bị viêm phổi, áp-xe phổi. Hỗ trợ điều trị lao phổi: Phổi lợn 30g, hoa lựu trắng 30g. Phổi lợn rửa sạch, bóp hết bọt nước, hoa lựu trắng rửa sạch. Cho tất cả vào nồi thêm nước nấu ăn ngày 1 lần, dùng thường xuyên. Hoặc: Phổi lợn 1 cái, lá diếp cá 60g, nấu canh, ăn cái uống nước thuốc, tuần ăn 2 lần, ăn liên tục trong khoảng 3 tháng. Công dụng: Giúp bệnh nhân lao phổi tăng cường sức khỏe, nhanh chóng phục hồi thể trạng. Viêm phế quản mạn tính: Phổi lợn 250g rửa sạch, thái miếng, ma hoàng 10g. Cho vào nồi thêm nước, nấu chín, thêm gia vị,  nấu với khi chín hành, gừng, hạt tiêu, chia ăn vài lần trong ngày. Hoặc: Phổi lợn 500g, gạo tẻ 100g, ý dĩ 50g, một chút rượu vang, hành, gừng, muối, mì chính. Làm sạch phổi lợn, thêm nước vừa đủ, cho rượu vang vào đun gần chín, vớt ra, thái miếng; cho tiếp vào nồi cùng với gạo đã vo sạch, ý dĩ, hành, gừng, gia vị. Đun to lửa cho sôi rồi hầm nhỏ lửa cho đến khi gạo chín nhừ là được. Ăn thay cơm. Dùng thường xuyên ăn sẽ có hiệu quả rõ rệt. Công dụng: Bổ tỳ phế, trừ đờm, giảm ho, rất tốt cho người bị viêm phế quản mạn tính.
Xem thêm

2 Đọc thêm

 VIÊM PHẾ QUẢN

VIÊM PHẾ QUẢN

Nếu có viêm phế quản cấp tính, có thể có ho dai dẳng kéo dài trong vài tuần sau khi viêm phế quản đượcgiải quyết. Tuy nhiên, các triệu chứng viêm phế quản có thể pha tạp. Không luôn luôn tạo ra đờm khi cóviêm phế quản và trẻ em thường nuốt đờm, do đó cha mẹ có thể không biết bị nhiễm trùng thứ phát. Cóthể phát triển viêm phế quản mãn mà không cần phát triển viêm phế quản cấp tính đầu tiên. Và nhiềungười hút thuốc, cổ họng của họ mỗi buổi sáng khi thức dậy có đờm, trong đó nếu tiếp tục trong hơn batháng, có thể bị viêm phế quản mãn tính.Các triệu chứng của viêm phế quản mãn tínhNếu có viêm phế quản mãn, viêm lâu dài dẫn đến sẹo ở các ống phế quản, sản xuất chất nhờn quá mức.Theo thời gian, những lớp màng ống phế quản và đường hô hấp dày lên, cuối cùng có thể trở thành sẹo.Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm phế quản mãn tính cũng có thể bao gồm:Ho tồi tệ hơn vào buổi sáng và trong thời tiết ẩm ướt.Thường xuyên bị nhiễm trùng đường hô hấp (như cảm lạnh hoặc cúm ) với ho tồi tệ hơn.Nếu có viêm phế quản mãn tính, có thể có thời kỳ các dấu hiệu và triệu chứng xấu đi. Vào những thờiđiểm có thể có viêm phế quản cấp tính chồng lên hoặc do virus hoặc vi khuẩn ngoài viêm phế quản mãntính.Viêm phế quản cấp tính có thể tự khỏi trong một vài ngày. Đi khám bác sĩ nếuHo nghiêm trọng hoặc ngăn không cho ngủ. Bác sĩ có thể khuyên nên dùng toa điều trị triệu chứng ho đểgiúp nghỉ ngơi.Sốt nhẹ vẫn còn hơn ba ngày hoặc sốt cao hơn 38,3 0C, khó thở hoặc ho ra máu hoặc chất nhầy màuvàng hoặc màu xanh lá cây - có thể đã viêm phổi. Chất nhờn đổi màu thường chỉ bị nhiễm vi khuẩn, cóthể đáp ứng với kháng sinh. Cũng có thể đã phát triển viêm xoang vi khuẩn.Ho kéo dài hơn ba tuần. Các viêm nhiễm mãn tính khi bị nhiễm cấp có thể dẫn đến co thắt phế quản ởmột số người.Có bệnh tim phổi mãn tính hay các vấn đề bao gồm cả bệnh hen, khí phế thũng hoặc suy tim sung huyết,và nghĩ rằng có thể đã phát triển viêm phế quản. Các vấn đề này có nguy cơ phát triển các biến chứngnhiễm trùng phế quản.Đã lặp đi lặp lại cơn viêm phế quản. Có thể có viêm phế quản mạn tính, tình trạng sức khỏe nghiêm trọngkhác như bệnh hen hoặc chứng giãn phế quản.
Xem thêm

5 Đọc thêm

KHÁM PHÁ NHỮNG CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH TUYỆT VỜI CỦA GỪNG

KHÁM PHÁ NHỮNG CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH TUYỆT VỜI CỦA GỪNG

Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạdày.4. Các vấn đề tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừabệnh và giúp tim mạch khỏe hơn. Nghiên cứu sơ bộ đã chỉ ra rằng gừng có thể hữuích trong việc giảm mức cholesterol và ngăn ngừa đông máu, giúp giảm nguy cơ tắcnghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.5. Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệuquả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như l¬¬ạnh, ho, cảm cúm, viêmphế quản, hen suyễn và khó thở. Gừng rất hiệu quả trong việc loại bỏ chất nhầy từcổ họng và phổi. Việc sử dụng mật ong và gừng trong điều trị các vấn đề hô hấp rấtphổ biến tại một số nước Châu Á.6. Viêm và đau: Chiết xuất gừng thường được sử dụng trong các loại thuốc truyềnthống để giảm viêm. Nghiên cứu đã chứng minh rằng các đặc tính chống viêm cóđược là nhờ chất men zingibain có trong gừng. Chất men này là một loại thuốc giảmđau tự nhiên, giúp giảm các cơn đau cơ, viêm khớp, thấp khớp, đau đầu hay đau nửađầu. Tinh dầu gừng hoặc bột nhão gừng dùng để mát xa giảm đau đầu, cơ bắp, căngcơ. Nếu sử dụng thường xuyên, gừng làm giảm lượng prostaglandin, do đó giúpgiảm đau.7. Vấn đề kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt khôngđều.8. Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốtrét và sốt vàng da.9. Stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng,,
Xem thêm

7 Đọc thêm

Ho lúc chuyển mùa - Thuốc gì?

HO LÚC CHUYỂN MÙA - THUỐC GÌ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ho là một phản ứng tốt của cơ thể để tống các dị vật hoặc đờm khỏi đường thở (phế quản, họng). Tuy nhiên, khi ho nặng, kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thì cần đến các thuốc giảm ho. Chuyển mùa là lúc thời tiết thay đổi nhiều: đông sang xuân (lạnh sang ấm, gió mùa đông bắc lạnh và khô sang gió nồm ấm và ẩm), xuân sang hè (ấm sang nóng), hè sang thu (nóng sang mát), thu sang đông (mát sang lạnh, chủ yếu là gió đông bắc) nên có ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhất là người già và trẻ nhỏ (đặc biệt là đông sang xuân) biểu hiện thường gặp là: ho, cảm, cúm, chảy nước mũi, hắt hơi, gây khó chịu trong người. Sau đây xin điểm qua một số loại thuốc trị ho thông thường. Thuốc giảm ho dân gian: ít độc hại Nhân dân thường dùng một số thức ăn, gia vị thường có trong vườn nhà để chữa ho như: cho người lớn hoặc trẻ trên 7 tuổi sử dụng quả chanh hoặc quả quất chín, quả khế thái lát trộn với muối hoặc chút mật ong để ngậm rồi nuốt nước. Ngậm một lát gừng tươi hoặc nghệ tươi thỉnh thoảng nhấm nhẹ, nuốt nước. Hoặc dùng thuốc ho Đông y có bán ở các nhà thuốc hợp pháp. Trẻ em dưới 2 tuổi thì dùng hoa đu đủ đực hoặc hoa hồng bạch, lá hẹ trộn với đường phèn hấp chín cho ăn.   Quất chưng đường phèn trị ho Lưu ý: Tuyệt đối không dùng: quả quất làm cảnh, hoa hồng bạch mua ở chợ (do nhiễm lượng lớn hóa chất bảo vệ thực vật) để trị ho. Thuốc giảm ho tác dụng thần kinh trung ương, bao gồm các loại như: codein, pholcodin, dextromethorphan... trị ho khan (dùng thuốc không quá 7 ngày). Thuốc ít có tác dụng với ho nặng kéo dài. Không dùng các loại thuốc này cho trẻ dưới 2 tuổi, người suy hô hấp, phụ nữ có thai, các trường hợp ho có nhiều đờm. Thuốc long đờm Thường có các loại như terpin hydrat, natri benzoat có tác dụng làm loãng đờm (terpin hydrat thường phối hợp với codein). Eprazinone (có tên biệt dược như mucitux, molitoux) có tác dụng làm loãng dịch tiết phế quản nên long đờm (không phá hủy cấu trúc của đờm nên không ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày) làm dễ thở do chống co thắt phế quản. Chữa ho do viêm phế quản cấp và mạn, suy hô hấp mạn, hen phế quản hoặc ho do cúm, viêm mũi xoang. Các loại thuốc long đờm có tác dụng phá hủy cấu trúc của đờm như ambroxol, bromhexine, N- acetylcysteine, carbocistein... dùng chữa ho do các bệnh phế quản, phổi cấp và mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản. Viêm xoang và tai mũi họng. Không dùng cho người bệnh: viêm loét dạ dày - tá tràng. Phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Thuốc chống dị ứng Thường dùng nhóm kháng histamin H1 như chlorpheniramin maleat. Cetirizin, loratadin, fexofenadin có tác dụng chống chảy nước mũi gây ho và khó chịu qua đó có tác dụng giảm ho. Trong nhóm kháng histamin H1 chỉ có chlorpheniramin maleat là được các nhà bào chế thuốc tin dùng hơn cả, vì tác dụng nhanh và mạnh hơn các loại khác (nên thường có trong các biệt dược chữa cảm cúm, chữa ho nhiều thành phần). Để giảm tác hại của nó, chỉ nên dùng liều nhỏ, đặt dưới lưỡi (1/2 hoặc 1/3 viên hàm lượng 4mg, ngày dùng 1 - 2 lần). Không dùng chlorpheniramin cho người bệnh: hen cấp, loét dạ dày, tá tràng, tắc môn vị, tắc cổ bàng quang, glocom góc hẹp, trẻ sơ sinh, người mang thai, người cho con bú. Thuốc chống viêm dạng men Các loại như alpha chymotrypsin, seratiopeptidase (tốt nhất nên đặt dưới lưỡi mỗi viên 6 giờ/lần) cho các trường hợp ho do viêm đường hô hấp. Thuốc kháng sinh Các loại kháng sinh như amoxillin, cephalosporin, cefuroxim,chỉ có tác dụng khi nguyên nhân gây ho là vi khuẩn, vi nấm ở đường hô hấp mà không có tác dụng khi nguyên nhân gây ho là virut và các nguyên nhân khác. Theo quy định thì tất cả các trường hợp sử dụng kháng sinh đều phải thử kháng sinh đồ, dùng với liều phù hợp, tránh dùng liều cao, bao vây sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Corticoide Corticoide dạng xịt mũi có tác dụng cắt cơn ho nhanh trong trường hợp ho do viêm mũi dị ứng, thường dùng fluticasone propinate: 2 ngày đầu mỗi ngày xịt 2 lần lúc 8 giờ và 20 giờ. Sau đó, mỗi ngày xịt 1 lần. Không dùng cho trẻ dưới 12 tuổi và phụ nữ có thai 3 tháng đầu. Phòng bệnh - Thường xuyên vệ sinh răng miệng ngay sau khi ăn hoặc uống nước ngọt, súc họng trước khi đi ngủ bằng nước muối đẳng trương (Nacl 0,9%). - Hàng ngày cần tập luyện vận động cơ thể trong đó chủ yếu có phần tập thở 4 thì (luyện thở ít nhất là 10 phút/ngày). Cần hướng dẫn tập thở cho trẻ ngay từ 7 tuổi để các cháu luyện tập thành thói quen và mọi người kể cả người bệnh để tăng khả năng miễn dịch ở phổi và hỗ trợ cơ thể chống tác nhân gây bệnh. - Giữ ấm cổ ngực và đôi chân khi trời lạnh dưới 20oC (nhất là người già, trẻ nhỏ). - Tránh xa nicotin (thuốc lá, thuốc lào) và ethanol (bia, rượu các loại). - Nâng cao sức đề kháng của cơ thể và đặc biệt ở màng phổi bằng cách bổ sung vitamin A (hoặc beta-caroten) vitamin D3, vitamin C, vitamin B2, đặc biệt là người đang điều trị ho do vi khuẩn, virut. - Thông gió tránh ô nhiễm cho phòng ngủ đặc biệt trong những ngày có độ ẩm cao. Khi trong nhà có người nhiễm cúm cần xông khói bồ kết để diệt virut (đốt quả bồ kết khô trong bát rồi luân chuyển khắp nơi trong buồng có người bệnh).
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH CHỮA BỆNH VỀ MŨI HIỆU QUẢ, ĐƠN GIẢN, DỄ KIẾM, DỄ LÀM TẠI NHÀ PHÙ HỢP VỚI MỖI NGƯỜI.

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH CHỮA BỆNH VỀ MŨI HIỆU QUẢ, ĐƠN GIẢN, DỄ KIẾM, DỄ LÀM TẠI NHÀ PHÙ HỢP VỚI MỖI NGƯỜI.

LỜI NÓI ĐẦU Mùa đông, thời tiết lạnh khiến cho hệ miễn dịch của chúng ta yếu đi, kéo theo nhiều chứng bệnh, phổ biến nhất là cảm cúm, ho, sốt và ngạt mũi. Mũi không chỉ là đường lưu thông không khí mà còn có thể lọc sạch, làm ấm và làm ẩm không khí. Do đó nếu hốc mũi bị tắc do viêm nhiễm, phải thở bằng miệng thì không khí hít vào sẽ không được lọc sạch, không được làm ấm và ẩm nên rất dễ gây viêm họng và viêm thanh quản, viêm khí phế quản và phổi. Xin mách các bạn một số cách có thể giúp bạn điều trị các chứng bệnh trên rất hiệu quả mà không cần đến gặp bác sĩ. Các nguyên nhân gây nghẹt mũi gồm viêm mũi cấp, viêm mũi vận mạch, viêm mũi dị ứng, viêm mũi teo, lệch vách ngăn, khối u trong mũi, chấn thương. Tùy từng nguyên nhân sẽ có phương pháp giải quyết khác nhau. Vì thế khi bị nghẹt mũi, nên đến bác sĩ tai mũi họng để được khám và xác định bệnh, tránh để bệnh kéo dài. Nghẹt mũi khiến bạn vô cùng khó chịu và bực bội. Những cách đơn giản dưới đây sẽ giúp bạn đánh bay nghẹt mũi hiệu quả: Trân trọng giới thiệu cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển tài liệu: CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH CHỮA BỆNH VỀ MŨI HIỆU QUẢ, ĐƠN GIẢN, DỄ KIẾM, DỄ LÀM TẠI NHÀ PHÙ HỢP VỚI MỖI NGƯỜI. Chân trọng cảm ơn
Xem thêm

21 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CÂY LẠC TÂN PHỤ (ASTILBE RIVULARIS BUCH.-HAM. EX D. DON), HỌ SAXIFRAGACEAE

NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CÂY LẠC TÂN PHỤ (ASTILBE RIVULARIS BUCH.-HAM. EX D. DON), HỌ SAXIFRAGACEAE

ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Lạc tân phụ có tên khoa học là Astilbe rivularis Buch.-Ham. ex D. Don, thuộc họ Thường sơn hay Cỏ tai hổ (Saxifragaceae) [1],[9],[129]. Cây này phân bố ở Ấn Độ, Pakistan, Bhutan, Nepal, Thái Lan, Lào, Indonesia, Myanmar, nam Trung Quốc và Việt Nam [1],[9],[72],[89],[129],[144]. Theo kinh nghiệm dân gian của một số dân tộc ở châu Á (Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc): thân rễ, rễ của cây Lạc tân phụ được sử dụng làm thuốc chữa các chứng bệnh phong tê thấp nhức mỏi, chứng ngã sưng đau. Ngoài ra còn dùng chữa viêm dạ dày mạn tính, nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, lị, tiêu chảy, sa tử cung, chảy máu, vô sinh, thuốc bổ trong trường hợp cơ thể suy nhược, rối loạn kinh nguyệt,…[5],[34],[43],[51],[72],[89],[126],[142]. Toàn cây chữa viêm khớp, trúng gió, đau lưng, bong gân, sưng cơ [63],[68],[71-72], lá dùng làm sạch máu [70]. Ở Việt Nam, chi Astilbe mới biết có một loài duy nhất là A. rivularis, mọc hoang dại ở Lào Cai và một vài tỉnh Tây Bắc [1],[9],[18]. Người dân tộc vùng cao ở các tỉnh Lào Cai (Sa Pa) và Lai Châu cũng dùng rễ, thân rễ cây thuốc này để chữa các chứng bệnh đau nhức xương khớp, chứng ngã sưng đau,... Mặc dù vậy cho đến nay, ở nước ta chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về dược học, cũng như về thành phần hóa học của cây Lạc tân phụ. Mặt khác, việc sử dụng cây thuốc này theo kinh nghiệm dân gian để chữa các chứng bệnh trên cũng chưa được nghiên cứu chứng minh. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu về thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Lạc tân phụ (Astilbe rivularis Buch.-Ham. ex D. Don, họ Saxifragaceae)” làm luận án tiến sĩ Dược học, chuyên ngành Dược học cổ truyền, với 3 mục tiêu sau: 1. Về thực vật học: Xác định tên khoa học, các đặc điểm hình thái quan trọng, khẳng định “tính đúng” của đối tượng nghiên cứu (Astilbe rivularis). 2. Về thành phần hóa học: Định tính, phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. 3. Về tác dụng sinh học: Xác định độc tính cấp và một số tác dụng sinh học của cao chiết và một số hợp chất phân lập được từ phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. Để đạt 3 mục tiêu trên, Đề tài được tiến hành các nội dung sau:  Về thực vật - Mô tả đặc điểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định tên khoa học của mẫu nghiên cứu. - Xác định đặc điểm giải phẫu lá, thân, thân rễ, rễ của cây Lạc tân phụ.  Về hóa học - Định tính các nhóm chất hóa học có trong phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Chiết xuất, phân lập và nhận dạng cấu trúc một số hợp chất phân lập được từ phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ.  Về tác dụng sinh học - Xác định độc tính cấp cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Đánh giá tác dụng chống oxy hóa: khả năng dọn gốc tự do DPPH và dọn gốc tự do superoxyd (O 2 - ) của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Xác định hoạt tính ức chế hoạt động enzym xanthin oxidase của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Đánh giá tác dụng chống viêm cấp, viêm mạn; tác dụng giảm đau của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Thử tác dụng làm tăng cường hấp thu glucose của một số hợp chất phân lập được từ phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ.
Xem thêm

272 Đọc thêm

GIÃN PHẾ QUẢN

GIÃN PHẾ QUẢN

ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CHẾ VIÊM LÊN PHẾ QUẢNHC Mounier-Kuhn: bất thường cấu trúc mô liên kếtHC William-Campell: thiếu sụn phế quảnHC Kartagenergiãn phế quản, viêm xoang, đảo ngược phủ tạng+ HC Young :Vô tinh trùng do tắc nghẽn, viêm xoang, bệnh phổi mãn+ HC bất động nhung mao: bất thường siêu cấu trúc+chức năng nhung mao+ Bệnh xơ nang (bệnh nhầy nhớt, bệnh xơ tụy tạng nhầy-kén): bẩm sinh, di truyền, GPQ rất nặng +SHH mạn, chết trước thời kỳ trưởng thànhThúc đẩy nhiễm trùng đường hô hấp dưới tái phát do ↓độ thanh thải nhầy3. Cơ chêếbệnh sinh (tt)- Rối loạn miễn dịch:+ ↓miễn dịch BS/MP: vô γ-globuline liên quan NST X, ↓chọn lọc IgA huyết thanh hay chỉ ↓IgA tiết,AIDS, đa u tủy, leucemie mãn, thuốc độc tế bào (↓MD thể dịch).+ Do phản ứng quá mẫn: bệnh aspergillus PQ-phổi dị ứng (ABPA) GPQ xảy ra ở các PQ gần dophản ứng phức hợp miễn dịch type III.- Giãn phế quản vô căn: hiếm, rối loạn thanh lọc PQ-phổi (↓MD tế bào).
Xem thêm

40 Đọc thêm

Corticoid: Con dao hai lưỡi

CORTICOID: CON DAO HAI LƯỠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Corticoid là một chất nội tiết do 2 tuyến thượng thận tiết vào trong máu, 2 tuyến này nằm ngay ở phía trên 2 quả thận. Bình thường, corticoid giúp cơ thể chống lại những tình huống nguy kịch (đau đớn, nhiễm trùng...). Corticoid được dùng để điều trị và phòng ngừa nhiều bệnh hiểm nghèo. Trị được nhiều bệnh Các corticoid được ví như con dao 2 lưỡi, mà lưỡi nào cũng sắc. Người ta đã tổng hợp được rất nhiều nhóm thuốc steroid như hydrocortison, prednison, betamethason, dexamethason, prednisolon, methylprednison và sử dụng rộng rãi, đồng thời cũng kéo theo tình trạng lạm dụng thuốc rất phổ biến. Corticoid được ứng dụng để điều trị rất nhiều bệnh khác nhau: Chống viêm ở giai đoạn sớm, giai đoạn muộn bất kể nguyên nhân gì như cơ học, hóa học, nhiễm khuẩn...; bệnh dị ứng, bệnh ngoài da, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; bệnh khớp, bệnh miễn dịch, viêm phần trước mắt; viêm đại tràng, viêm gan mạn tự miễn và một số bệnh ác tính về máu. Ngoài ra còn trị xuất huyết giảm tiểu cầu do cơ chế miễn dịch, tán huyết miễn dịch... Chính vì nhiều công dụng như thế nên nhiều người lầm tưởng thuốc corticoid là loại “thần dược”, trị được bách bệnh.    Điều trị người lạm dụng corticoid tại Bệnh viện Vạn Hạnh (Ảnh: VH) Những tác hại không ngờ Những tác hại này thường gặp ở những người dùng corticoid lâu dài. Cụ thể: Gây suy tuyến thượng thận do khi dùng thuốc corticoid từ ngoài vào cơ thể sẽ làm ức chế tuyến thượng thận bài tiết ra corticoid. Lúc đó, cơ thể hay mệt mỏi, nôn, nặng hơn nữa có thể gây huyết áp thấp hay tụt huyết áp. Ngoài ra, corticoid gây tăng cân do giữ muối nước, cơ thể bệnh nhân mập ra, vai rộng, bụng to, chân tay teo lại, da mỏng dễ bầm máu, nứt da bụng, rậm lông. Thuốc còn làm tăng huyết áp, đái tháo đường (khoảng 10% bệnh nhân), gây tình trạng loãng xương vì uống corticoid lâu ngày làm cho xương bị mất chất vôi, xương xốp dần nên nên khi té ngã dễ bị gãy xương. Dùng corticoid còn dễ bị sỏi thận do tăng đào thải canxi qua đường tiểu, hạ kali trong máu làm bệnh nhân bị yếu cơ, có thể loạn nhịp tim. Cortisol làm giảm sức đề kháng của cơ thể, dẫn đến dễ bị nhiễm trùng hô hấp. Có thể gây hại cho thai, làm trẻ em chậm phát triển chiều cao, gây thiểu năng sinh dục ở nam giới, nữ có thể rối loạn kinh nguyệt, loét dạ dày tá tràng, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp. Đặc biệt, thuốc còn gây hoại tử xương vô trùng, thường ở đầu xương đùi; teo cơ, chủ yếu cơ mông, cơ tứ đầu đùi. Tâm thần kinh biểu hiện mất ngủ, nóng nảy, kém chú ý, cơn hưng phấn hay trầm cảm, ý định tự tử. Nhiều loại kem trị mụn chứa corticoid nếu dùng dài ngày sẽ làm mụn nổi nhiều hơn khi ngưng thuốc hoặc gây nám da mặt. Hội chứng Cushing do thuốc Tiền sử của bệnh nhân thường gặp một trong những trường hợp hen suyễn, đau khớp, chàm, bệnh tự miễn... phải dùng thuốc corticoid hoặc tự dùng các thuốc đông dược mà không rõ thành phần, xuất xứ. Hình ảnh của người bệnh thường khá điển hình với mặt tròn, đỏ, tụ nhiều mỡ ở thân mình, vùng vai, ngực, bụng. Hai tay, 2 chân teo, da mỏng, có dấu xuất huyết dưới da tự nhiên hoặc do va chạm. Lông, râu mọc nhiều hơn trước. Có thể có dấu hiệu bứt rứt, khó chịu, mỏi mệt, buồn nôn, nôn... do tình trạng thiếu cortisol cấp.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIÊM GÂN VÀ TIÊM NỘI KHỚP

TIÊM GÂN VÀ TIÊM NỘI KHỚP

Tiêm gân và tiêm nội khớp được chỉ định: Để chẩn đoán xác định nguồn gốc đau tại khớp hay ngoài khớp. Điều trị viêm khớp khi liệu pháp thuốc chống viêm NSAID thất bại hoặc có chống chỉ định. Làm giảm triệu chứng bệnh trong viêm khớp nhiễm khuẩn tự giới hạn. Giảm đau khớp để tạo thuận cho các liệu pháp vật lý và vận động ở khớp. Tiêm hyaluronic nội khớp trong viêm khớp mạn tính là một kỹ thuật mới. Là sự bổ sung dịch nhày tác dụng giống như hoạt dịch, được chỉ định sớm trong viêm khớp đã qua giai đoạn tiến triển.
Xem thêm

24 Đọc thêm

10 loại rau có tác dụng chữa bệnh

10 LOẠI RAU CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngoài khả năng chữa trị hiệu quả các bệnh như nhiễm trùng thận, đau đầu, nhiễm trùng đường tiết niệu, táo bón, mất ngủ, nhiễm trùng máu, khó tiêu,... một số thảo mộc còn có đặc tính chống ô-xy hóa giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim và chống lại ung thư. Húng quế   Lá húng quế  giúp dễ tiêu hóa, chữa đau đầu và mất ngủ. Dầu từ lá còn có tác dụng chống viêm đối với đường tiêu hóa và các khớp. Ngoài ra lá còn chứa nhiều chất chống ô-xy hóa và là một chất lợi tiểu nhẹ. Ngò tây   Rau ngò tây giàu chất chống ô-xy hóa giúp giảm viêm ở thận, ngăn hơi thở có mùi, giúp dễ tiêu hóa, có tác dụng lợi tiểu và chữa táo bón. Vitamin K trong ngò tây cũng rất tốt cho xương. Bạc hà   Dầu trong lá bạc hà có đặc tính sát trùng và kháng khuẩn làm giảm chứng khó tiêu, làm dịu rối loạn dạ dày và giảm hội chứng ruột kích thích. Lá bạc hà còn giúp tăng cường hệ thần kinh, giảm đau đầu. Rau kinh giới Dầu rau kinh giới có đặc tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống ô-xy hóa. Ăn rau kinh giới làm giảm đau bụng thường và đau bụng kinh. Đây cũng là một chất lợi tiểu, chữa đau đầu, cảm cúm, cảm lạnh và các vấn đề về hô hấp. Ngò rí   Hạt ngò rí có tác dụng an thần thường được dùng để chữa mất ngủ và lo lắng. Ăn ngò rí còn cải thiện trí nhớ, giảm phản ứng do dị ứng như dị ứng phấn. Ngò rí còn có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, là chất giải độc mạnh đối với các hóa chất độc hại như chì và thủy ngân. Bên cạnh đó, lá còn có công dụng làm giảm cholesterol, điều hòa nồng độ insulin và giảm đau đầu. Cỏ xạ hương   Không những giúp chữa hen suyễn, viêm phế quản, cảm lạnh, ho, cảm cúm, viêm xoang hiệu quả, cỏ xạ hương còn là một chất chống ô-xy hóa và cải thiện tiêu hóa. Bạn có thể pha trà từ cỏ xạ hương để trị đau họng và các bệnh về nướu. Cây hương thảo   Hương thảo có tác dụng giảm viêm, giảm nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, bệnh gan và bệnh tim nhờ đặc tính chống viêm và chống ô-xy hóa. Dầu từ lá hương thảo còn giúp chữa rụng tóc, giảm đau bụng và cải thiện trí nhớ. Lá ngải giấm   Loại thảo mộc này thường được dùng làm biện pháp tạm thời để chữa đau răng và và đau nướu. Lá ngải giấm còn giúp cải thiện tiêu hóa, chữa chứng biếng ăn, giữ nước cho cơ thể và giúp bạn có giấc ngủ sâu hơn.. Thì là   Cả hạt và lá thì là đều có tác dụng lợi tiêu và kháng khuẩn rất hữu ích để chữa nhiễm trùng bàng quang. Rau thì là còn giúp điều hòa lượng đường trong máu và nồng độ cholesterol. Lá thì là kết hợp với các món hải sản, rau trộn,...  giúp chữa rối loạn dạ dày và chống viêm đường tiêu hóa. Lá xô thơm   Lá xô thơm đặc biệt hữu ích để điều trị tình trạng kinh nguyệt không đều và giảm các triệu chứng mãn kinh ở phụ nữ. Các cơn đau khớp, đổ mồ hôi nhiều và đau bụng cũng có thể chữa khỏi nhờ lá xô thơm. Chất chống ô-xy hóa trong lá xô thơm giúp cải thiện trí nhớ và tăng cường khả năng tập trung.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG BỆNH HỌC NỘI KHOA Y4

ĐỀ CƯƠNG BỆNH HỌC NỘI KHOA Y4

- Các thuốc này chỉ được dùng khi BN không còn các dấu hiệu xung huyết trên lâm sàng(phổi hết ral, không phù, gan không to…) và không có chống chỉ định (hen phế quản, nhịpchậm…).- Cách dùng: Dùng liều khởi đầu thấp, tăng dần liều. Quá trình điều trị cần theo dõi tìnhtrạng suy tim nặng lên, tần số tim…6. Thuốc chống đông:- Trong suy tim, máu thường ứ lại ở các cơ quan ngoại biên nên rất dễ tạo thành các cụcmáu đông trong hệ thống tuần hoàn, và từ đó gây ra những tai biến tắc nghẽn mạch máu. Vìvậy, người ta phải dùng thuốc chống đông không những trong những trường hợp cấp tínhnhư tắc ĐM phổi, não, chi…mà còn phải điều trị dự phòng trong các trường hợp suy tim cótim to, nhất là trong các trường hợp có them rung nhĩ.- Heparin và heparin trọng lượng phân tử thấp được sử dụng trong các trường hợp tắcmạch cấp.- Các thuốc chống đông thuộc nhóm kháng vitamin K được chỉ định ở BN suy tim cónhiều nguy cơ tắc mạch, các buồng tim quá giãn hoặc có bằng chứng của huyết khối tuầnhoàn.4Câu 3: Chẩn đoán xác định ngừng tuần hoàn.Định nghĩa: Ngừng tuần hoàn là tình trạng không hiệu quả của tuần hoàn tim, xảy rađột ngột do ngừng sự co bóp hiệu quả của tim kéo dài trên 60s. Ngừng tuần hoàn không thểhồi phục nếu không tiến hành hổi sức cấp cứu. Đây là cấp cứu tối khẩn cấp nhất trong Yhọc, đòi hỏi phải chẩn đoán nhanh chóng và cấp cứu BN càng sớm càng tốt ngay từ giâyphút đầu tiên, tốt nhất là trước 4 phút vì lúc này: thời gian là cuộc sống, tính mạng của BN.Chẩn đoán xác định ngừng tuần hoàn khi 1 người đang bình thường, đột ngột thấy:- Mất đập của ĐM đùi hoặc ĐM cảnh.- BN đột ngột mất ý thức.- Rối loạn hô hấp, da xanh nhợt, sau 20 – 60s xuất hiện ngừng thở. Chú ý các dấu hiệu
Xem thêm

112 Đọc thêm

Viết đoạn văn nêu lên tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người trong đó có sử dụng hai câu ghép

VIẾT ĐOẠN VĂN NÊU LÊN TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI TRONG ĐÓ CÓ SỬ DỤNG HAI CÂU GHÉP

Thuốc lá gây ra những tác hại rất lớn đối với đời sống con người, nó huỷ hoại sức khoẻ của những người trực tiếp hút thuốc. Thuốc lá gây ra những tác hại rất lớn đối với đời sống con người. Trước hết, nó huỷ hoại sức khoẻ của những người trực tiếp hút thuốc. Trong thuốc lá có chứa nhiều chất độc, đặc biệt là chất ni-cô-tin. Chất ni-cô-tin có khả năng gây nghiên và nó cùng với những chất độc khác gặm nhấm sức khỏe con người gây bênh viêm phế quản, ho lao, ung thư phổi.... Điều này lí giải tại sao phần lớn những người hút thuốc nhiều đều mắc ít nhất một bệnh nào đó về phổi. Hơn thế nữa, thuốc lá còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Khói thuốc lá, đầu thuốc lá, tàn thuốc lá, chúng đã cùng với rác rười góp phần tạo nên thảm hoạ ô nhiễm môi trường. Nguy hiểm hơn, khói thuốc lá còn gây bệnh cho những người không hút thuốc. Những người xung quanh hít phải khói thuốc và khói thuốc khiến họ chịu độc gấp 4 lần người trực tiếp hút thuốc. Việc hút thuốc lá thụ động này cũng khiến những người này mắc những bệnh nghiêm trọng về tim phổi. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tráng dương nhờ trâu cổ

TRÁNG DƯƠNG NHỜ TRÂU CỔ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trâu cổ còn có tên khác là xộp, vẩy ốc, được trồng làm cảnh hoặc che mát. Bộ phận dùng làm thuốc là quả (còn gọi bị lệ thực, lương phấn quả, vương bất lưu hành); cành mang lá, quả non phơi khô (bị lệ lạc thạch đằng). Theo Đông y, quả có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tráng dương, cố tinh, lợi thấp, thông sữa. Thân và rễ vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, hoạt huyết, giải độc. Lá có vị hơi chua chát, tính mát, có tác dụng tiêu thũng giải độc.  Quả trâu cổ được dùng làm thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), tắc tia sữa và đái ra dưỡng chấp. Thân và rễ dùng chữa phong thấp tê mỏi, sang độc ung nhọt. Lá chữa viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, đinh sang ngứa lở. Trâu cổ có tác dụng bổ khí huyết nên nhiều người dùng thay vị hoàng kỳ trong một số đơn thuốc.   Các bộ phận của cây trâu cổ đều được dùng làm thuốc trong Đông y Rượu bổ chữa di tinh liệt dương: cành và lá, quả non phơi khô 100g, đậu đen 50g. Xay thô 2 thứ và ngâm trong 250ml rượu trắng, ngâm 10 ngày, ngày uống 10 - 30ml. Thuốc sắc: vương bất lưu hành (quả trâu cổ) 12g, dây sàn sạt 12g. Sắc uống. Chữa di tinh liệt dương. Cao quả trâu cổ: quả chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5 - 10g. Dùng chữa đau xương, đau người ở người già, làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hóa. Chữa thấp khớp mạn tính: cành lá trâu cổ 20g, rễ cỏ xước 20g, phục linh 20g, rễ tầm xuân 20g, dây rung rúc 12g, thiên niên kiện 10g, rễ gấc 10g, lá lốt 10g, dây đau xương 10g, tang chi 10g. Sắc 2 lần, lấy khoảng 400ml, sau cô lại cho thật đặc. Hòa với rượu chia uống 3 lần trong ngày. Thanh nhiệt, giải khát: lấy quả chín, rửa sạch, giã nát hay xay nghiền bằng máy, cho vào túi vải, ép lấy nước. Nước để yên sẽ đông lại như thạch; thái dạng sợi, cho thêm đường, nước đá và hương liệu. Thuốc đắp: quả trâu cổ 40g, bồ công anh 15g, lá mua 15g. Sắc uống. Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa. Kết hợp dùng: lấy lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít dấm, chưng nóng chườm hay đắp ngoài.
Xem thêm

1 Đọc thêm

DỀN CƠM TRỊ RẮN ĐỘC CẮN

DỀN CƠM TRỊ RẮN ĐỘC CẮN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Phiến lá xoan tròn dài, có khi hình bánh bò, dài 3 - 6 cm, rộng 1,5 - 3 cm, đầu tù, có khi lõm, không lông; cuống dài đến 10 cm... Cây mọc ở đất hoang, dọc đường đi và cũng được trồng lấy lá làm rau. Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi khô. Dền cơm giàu dược tính nên được dùng làm thuốc. Bộ phận làm thuốc là rễ và toàn cây. Một số nghiên cứu mới đây cho thấy rau dền có khả năng tăng thải trừ chất phóng xạ, thanh thải chất độc vì có nhiều sterol, các axít béo không no. Thành phần hóa học cho thấy trong cành lá rau dền cơm chứa nước 84,5%, protid 3,4%, glucid 1,4%, cellulose 1,6%, vitamin C 63 mg%, caroten 10,5 mg%, vitamin B6 3,6 mg%, vitamin B2 0,36 mg%, vitamin PP 1,3 mg% và lysin. Cũng có tác giả cho biết lượng vitamin C trong rau dền cơm là khoảng 21 mg%, xào ăn thì lượng vitamin C ít hao tổn hơn rau luộc.   Đông y cho rằng dền cơm có thể giúp trị rắn cắn (Ảnh: Internet) Đông y cho rằng dền cơm có vị ngọt nhạt, tính mát hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt lợi thấp..., thường dùng chữa chứng nóng nhiệt, táo bón, trị lỵ trực trùng và viêm trường vị cấp và mạn tính, đau họng, đau mắt đỏ, chảy máu cam, cũng dùng trị rắn độc cắn. Rau dền cơm xào, luộc ăn ngon, có tác dụng dưỡng sinh. Ngày dùng 40 - 80 g, sắc nước uống. Dùng ngoài lấy rễ tươi giã nát, lấy nước chiết uống và dùng bã đắp. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá làm thuốc trị bò cạp đốt và dùng toàn cây trị rắn cắn. Hạt dền cơm vị ngọt, tính lạnh, tác dụng mát gan, trị phong nhiệt, chữa mắt kém. Ích cho khí lực, thông đại tiểu tiện, trị giun đũa. Kiêng kỵ: Theo kinh nghiệm dân gian thì rau dền cơm luộc kỵ ăn với tiết canh (lợn, vịt) vì nếu ăn chung sẽ bị tiêu chảy dữ dội.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Sự thật khủng khiếp về chỉ định kháng sinh quá mức

SỰ THẬT KHỦNG KHIẾP VỀ CHỈ ĐỊNH KHÁNG SINH QUÁ MỨC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi một bệnh nhân than đau cổ hoặc bị viêm phế quản, các bác sĩ chỉ định kháng sinh thường nhiều hơn mức cần thiết về mặt y học. Đó là vấn đề chính rút ra từ một nghiên cứu đăng trên tạp chí JAMA Internal Medicine. Tờ tạp chí này chỉ đăng bài sau khi nó đã được nhiều đồng nghiệp trong giới chuyên môn đánh giá. Các phát hiện từ các cơ quan điều tra quốc gia về chăm sóc sức khoẻ ở bệnh viện và không ở bệnh viện cho thấy: các bác sĩ chỉ định kháng sinh cho 60% bệnh nhân đau họng – bất chấp thực tế là các thuốc đó chỉ được nghĩ là cần thiết trong 10% trường hợp. Đối với bệnh viêm phế quản cấp, kháng sinh hoàn toàn không được yêu cầu dùng, vậy mà các nhà nghiên cứu – một nhóm từ Harvard – nhận thấy rằng các bác sĩ chỉ định tới một con số ngạc nhiên là 73% bệnh nhân trong cùng tình trạng.   Viêm phế quản cấp không chỉ định kháng sinh, nhưng các bác sĩ chỉ định 73% bệnh nhân dùng loại này.(Ảnh minh họa) Một phát hiện khác đáng quan tâm hơn nữa: sự gia tăng tính phổ biến đối với thuốc kháng sinh đắt tiền, phổ rộng như azithromycin thay vì các thuốc thử để biết và nhắm vào cầu khuẩn như penicillin. Năm ngoái, tờ New York Times báo động rằng azithromycin “có thể tăng đến gây đột tử” ở người lớn đã mắc hoặc có nguy cơ mắc bệnh tim. BS John G. Bartlett, giáo sư y học khoa y đại học Johns Hopkins cho rằng chỉ định quá nhiều azithromycin cũng góp phần làm kháng kháng sinh. “Chúng ta dùng azithromycin cho hằng hà chuyện, và chúng ta lạm dụng thuốc ấy một cách kinh khủng. Thật tiện dụng. Bệnh nhân bằng lòng. Đối với hầu hết trường hợp chúng ta chỉ định thuốc ấy, chọn lựa tốt nhất chắc chắn là không dùng kháng sinh mới là công tâm”. Ước tính khoảng 500 triệu USD đã chi cho kháng sinh chỉ định không cần thiết (chỉ tính riêng bệnh đau họng trong khoảng từ năm 1997 – 2010). Nếu tính luôn chi phí xử lý các phản ứng phụ của kháng sinh không cần thiết như tiêu chảy và bội nhiễm men ruột, các tác giả của nghiên cứu dự tính tốn kém phải tăng 40 lần.
Xem thêm

1 Đọc thêm

 KHÓ THỞ2

KHÓ THỞ2

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy LinhMSV: 2110215042Lớp: dd 14.BÁO CÁO HỌC TẬP 4I, Mục tiêu1, Khó thở là gì? Nguyên nhân triệu chứng của khó thở?2, Phương pháp hút đờm dãi: chỉ định, chống chỉ định, áp suất, tai biến?3, phương pháp thở oxy: chỉ định, chống chỉ định, nguyên tắc, tai biến?II, Nội dung.1, Khó thởA, Định nghĩa: khó thở lag cảm giác thở không bình thường, không thoải mái khi thở. Đây là một cảmgiác hoàn toàn mang tính chủ quan do bệnh nhân mô tả khác nhau. ( fb: chia sẻ trưc tuyếnkiến thức y khoa)2, Nguyên nhânBệnh đường hô hấp gây khó thở gặp nhiều nhất là hen phế quản (viêm phế quản thể hen,hen suyễn).Hen suyễn là một bệnh có thể cấp tính hoặc mạn tính, gặp ở mọi lứa tuổi. Hen suyễnthường thuộc bệnh dị ứng và kèm theo viêm phế quản. Khó thở trong hen suyễn thườngkhó thở ra. Khi lên cơn khó thở có kèm theo tiếng rít (do co thắt phế quản) và xuất tiếtđường hô hấp gây ho, có đờm. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng mỗi khi thời tiết thay đổihoặc gặp yếu tố thuận lợi (dị ứng nguyên) thì cơn hen xuất hiện. Hen suyễn cũng dễnhầm lẫn với đợt cấp của bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, bởi vì bệnh này khi lên cơncấp tính cũng gây khó thở, khò khè, ho. Ho có đàm đặc, màu vàng, xanh, ho thường trên3 tháng/năm.Bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính lúc đầu chỉ khó thở nhẹ nhưng càng ngày càng nặng,môi tím, mệt mỏi. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi và có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốclào.
Xem thêm

8 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP GIÚP CẮT CƠN HEN PHẾ QUẢN

PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP GIÚP CẮT CƠN HEN PHẾ QUẢN

này chủ trị đau ngực, ho suyễn.Day huyệt đản trung: dùng ngón cái tay phải day huyệt đản trung trong 2 phút.Huyệt này có tác dụng chữa các chứng bệnh như đau ngực, hen suyễn, ho, khó thở,nấc...Xoa ngực: dùng bàn tay phải xoa từ bên phải sang bên trái ngực sau đó dùng bàntay trái xoa từ bên trái sang bên phải ngực, không xoa mạnh quá, tốc độ xoakhoảng 100 - 120 lần/1 phút tới khi ngực nóng lên thì thôi.Vỗ ngực: dùng bàn tay phải vỗ ngực bên trái, tiếp theo dùng tay trái vỗ ngực phải,mỗi bên 10 lần. Khi vỗ các ngón tay khép lại, hơi khum để có hơi (khi vỗ nghe cótiếng hơi bồm bộp).Xoa sườn: dùng hai bàn tay xoa hai bên sườn từ trên xuống dưới khoảng 50 lần.Day huyệt quan nguyên: dùng ngón cái day huyệt quan nguyên trong 2 phút. Làhuyệt có công dụng bồi thận, bổ khí, hồi dương, giúp cải thiện huyết động học,VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phílàm ổn định cơ tim, tăng cường lưu lượng tuần hoàn mạch vành, nâng cao khảnăng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy, cải thiện và điều tiết miễndịch.Day huyệt phế du: dùng ngón tay giữa day ấn huyệt phế du trong 2 phút. Huyệtnày có công dụng tuyên phế bình suyễn, hóa đàm chỉ khái, thanh nhiệt lý khí,thường dùng để chữa các chứng bệnh đường hô hấp như hen phế quản, khái huyết,viêm phổi, viêm phế quản cấp và mạn tính, viêm mũi dị ứng.Day huyệt đại chùy: đưa bàn tay phải về phía sau, ngón tay trỏ áp vào huyệt đạichùy day trong 2 phút. Huyệt này có công dụng làm thông dương khí, thanh nhiệtgiải độc, dùng chữa các bệnh hen suyễn, viêm khí phế quản, lao phổi, viêm gan,sốt, tâm thần phân liệt, đau vai lưng, ho, thương hàn...Day bấm huyệt túc tam lý: dùng ngón cái lần lượt bấm day huyệt túc tam lý mỗibên khoảng 2 phút. Huyệt này có cộng dụng tăng cường sinh lực, cải thiện việc lưu
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề