TRÀO LƯU TRIẾT HỌC ÁNH SÁNG CỦA PHÁP

Tìm thấy 5,848 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRÀO LƯU TRIẾT HỌC ÁNH SÁNG CỦA PHÁP":

Nhân sinh quan phật giáo với một số lĩnh vực văn hóa tinh thân của con người việt nam

Nhân sinh quan phật giáo với một số lĩnh vực văn hóa tinh thân của con người việt nam

1. Lý do chọn đề tài: Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước Công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ. Đạo Phật là một tôn giáo lớn của thế giới được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni. Nội dung cơ bản của Phật giáo là triết lý nhân sinh về nỗi khổ của con người và cách tu luyện để diệt khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi. Cốt lõi của triết lý đó là Tứ diệu đế bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Cứu vớt và giải thoát con người luôn là mục đích và nội dung của nhân sinh quan triết học đạo Phật. Đây cũng là lý do để đạo Phật trở thành một tôn giáo lớn và tồn tại cho đến ngày nay. Phật giáo được truyền vào Việt Nam cách đây hơn 2000 năm và đã để lại nhiều dấu ấn văn hóa sâu sắc. Nội dung và mục đích của nhân sinh quan Phật giáo luôn được nhiều người quan tâm và nó cũng có tác động không nhỏ đến bản sắc văn hóa tinh thần người Việt Nam. Phật giáo hội nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam, gắn bó với xã hội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi bước đi thăng trầm của lịch sử nhưng tuyệt đối không đánh mất những giá trị tâm linh siêu việt, toàn cầu, có tính vũ trụ của nó. Mặt khác, xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam khi tiếp thu những tinh hoa của Phật giáo không những không đánh mất đi bản sắc văn hóa của đạo Phật mà còn tạo cho Phật giáo ở Việt Nam có một bản sắc văn hóa riêng và độc đáo. Triết lý về nhân sinh quan của Phật giáo cho đến ngày nay vẫn có nhiều người quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá. Trong giai đoạn đất nước đang trên đà phát triển, Phật giáo cũng góp phần không nhỏ vào việc tạo nên một bản sắc văn hóa riêng và độc đáo của Việt Nam. Bởi vậy, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đưa đất nước ngày một đi lên thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đóng góp của Phật giáo là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đó là động lực thúc đẩy tôi tìm hiểu về một số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam có sự góp mặt của Phật giáo. Đây cũng là lý do tôi chọn đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo với một số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam”. 2. Tổng quan đề tài nghiên cứu Phật giáo là một đề tài khá hấp dẫn thu hút rất nhiều người nghiên cứu. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về Phật giáo ở nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn như “Phật giáo với văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư, “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, “Lịch sử nhà Phật”, “Giáo pháp nhà Phật” của Đoàn Trung Còn, “Phật giáo Việt Nam và thế giới” của Thiền sư Đinh Lực, Cư sĩ Nhất Tâm… Ở Đại học Huế cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáo như: Lê Cung với “Phong Trào Phật giáo miền Nam thời kỳ 1963–1964”; Trần Cao Phong với “Phật giáo Huế với việc hình thành nhân cách con người Huế”; Hoàng Ngọc Vĩnh với “Nhân sinh quan Phật giáo qua góc nhìn của lịch sử triết học”, “Chùa Huế và đời sống văn hóa tinh thần con người Huế”, “Nét riêng Phật giáo Huế”, “Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay”; Phạm Thị Xê với “Phật giáo Huế và vấn đề chính trị”… Ngoài ra, còn có một số đề tài khóa luận của sinh viên như: “Gia đình phật tử và ảnh hưởng của nó đối với thanh niên Huế hiện nay” (Hồ Anh Cường Đại học Khoa học), “Phật giáo với văn hóa tinh thần Việt Nam” (Trần Xuân Dương – ĐHKH), “Nhân sinh quan Phật giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội” (Trịnh Thị Chung – Đại học Sư Phạm Huế)… Nhìn chung, triết học Phật giáo đã được các tác giả nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, song chủ yếu đó là những công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Huế trên phương diện triết học hoặc xã hội nói chung. Trên phương diện ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam cũng có một số tác giả nghiên cứu nhưng ít người đề cập đến khía cạnh nhân sinh quan Phật giáo đối với các lĩnh vực cụ thể trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam. Đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo với một số lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam” là sự kế thừa một số thành tựu nghiên cứu của những người đi trước đồng thời với thời gian và khả năng hiện có khóa luận chỉ bước đầu tìm hiểu một số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo chứ chưa thể nào đi tìm hiểu sâu hơn, cụ thể hơn được.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tiểu luận triết học phép biện chứng của hegel tiểu luận cao học

Bài tiểu luận triết học phép biện chứng của hegel tiểu luận cao học

Nền triết học cổ điển Đức là nền triết học được tạo nên từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là thành tựu rực rỡ của nền văn minh Tây Âu và thế giới. Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học Tây Âu, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại triết học cổ điển Đức. Vì vậy, nó trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủnghĩa Marx nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp). Nền triết học cổ điển Đức là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học Tây Âu. Một giai đoạn lịch sửkhởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại, làm tiền đềcho toàn bộhệthống triết học sau này. Nền triết học thời cận đại là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm và mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ hiện đại. Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài. Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó mà ta có cả nền triết học hiện đại nhưngày nay. Trong bản giao hưởng đầy tính bác học của triết học Tây Âu mà khúc dạo đầu lại rực rỡâm sắc trang hoàng đó là tưtưởng biện chứng triết học cổ điển Đức, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh đểkhảy lên bằng chính đôi tay người phàm tục. Những đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên những trang bất hữu bởi thời gian. Đặc biệt là tư tưởng biện chứng của triết học cổ điển Đức thể hiện thông qua một số đại biểu tiêu biểu như: Canter, Hegel, Feurbach. Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết vềcác quá trình phát triển mà tìm tòi lớn nhất trong tất cảcác tìm tòi của họ đó là phép biện chứng. Với cách nhìn tổng quát về phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được. Trong số các nhà triết học vĩ đại nhất đó không thểkhông kểtới Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Ông là nhà biện chứng lỗi lạc, phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của Hegel có ảnh hưởng rất mạnh đến tưtưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là tinh thần Phổ. Phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng duy tâm, tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. B. Nội dung bài tiểu luận. 1. Phép biện chứng duy tâm khách quan về ý niệm tuyệt đối:
Xem thêm

Đọc thêm

TƯ TƯỞNG về CON NGƯỜI TRONG các TRÀO lưu TRIẾT học ý NGHĨA TRONG PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI ở nước TA HIỆN NAY

TƯ TƯỞNG về CON NGƯỜI TRONG các TRÀO lưu TRIẾT học ý NGHĨA TRONG PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI ở nước TA HIỆN NAY

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.

Đọc thêm

Tiểu luận triết học: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC: XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Tiểu luận triết học: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaI – Cơ sở lý luận về nhà nước và nhà nước pháp quyền1. Nhà nướca Bản chất và đặc trưng của nhà nướcb Chức năng và vai trò kinh tế của nhà nướcc Các kiểu và hình thức nhà nước2. Nhà nước pháp quyềna Khái niệm nhà nước pháp quyềnb Tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyềnII Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay1. Quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nama Tính tất yếu khách quan phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namb Quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay2. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Xem thêm

14 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO NHỮNG vấn đề cơ BẢN TRONG tư TƯỞNG TRIẾT HỌC hồ CHÍ MINH về văn HÓA VÀ sự vận DỤNG TRONG xây DỰNG QUÂN đội TA về văn HÓA

TÀI LIỆU THAM KHẢO NHỮNG vấn đề cơ BẢN TRONG tư TƯỞNG TRIẾT HỌC hồ CHÍ MINH về văn HÓA VÀ sự vận DỤNG TRONG xây DỰNG QUÂN đội TA về văn HÓA

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những tư tưởng triết học phong phú, sâu sắc và độc đáo, được thể hiện trong nhiều bài viết của Người. Những tư tưởng triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Nhưng dù ở góc độ nào chúng ta cũng thấy những tư tưởng đó vừa mang sắc thái thâm thuý của triết học phương Đông, lại vừa có tính khúc triết, duy lý, hiện đại của triết học phương Tây. Thí dụ: Về tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Việt Nam nhận thấy ở đó trình độ khái quát cao của tư tưởng “một dân tộc độc lập và một quốc gia có chủ quyền” của tư tưởng truyền thống Việt Nam; người phương Tây nhìn thấy bóng dáng của tư tưởng triết học khai sáng Pháp
Xem thêm

Đọc thêm

HOAN CHINH

HOAN CHINH

I. GIỚI THIỆU1. Giới thiệu chung về bức xạ điện từTrong lịch sử khoa học: các nhà triết học Hy lạp cổ đại xem ánh sáng như các tia truyền thẳngVào thế kỷ thứ 17, nhiều nhà khoa học Châu Âu tin vào giả thuyết: ánh sáng là một dòng cáchạt rất nhỏ , một số nhà khoa học khác lại tin rằng: ánh sáng là sóng, và nó được truyền đitrong môi trường chứa đầy ete.Sau khi lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ra đời, lý thuyết điện từ của James Clerk Maxwell năm1865, khẳng định lại lần nữa tính chất sóng của ánh sáng. Đặc biệt, lý thuyết này kết nối cáchiện tượng quang học với các hiện tượng điện từ học, cho thấy ánh sáng chỉ là một trường hợpriêng của sóng điện từ.Các thí nghiệm sau này về sóng điện từ, như của Heinrich Rudolf Hertz năm 1887, đều khẳngđịnh tính chính xác của lý thuyết của MaxwellNhư vậy ánh sáng được mô tả theo tính chất tính chất sóng điện từ và theo tính chất hạt.Trong quang phổ học: ánh sáng nhìn thấy, tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia X, sóng radio… đềuđược chỉ bằng 1 thuật ngữ chung đó là bức xạ điện từ, chúng chỉ khác nhau về độ dài sóng(bước sóng).Khi mô tả tính chất sóng người ta dùng các thuật ngữ bước sóng, băng tần. Bức xạ điện từ môtả theo tính chất sóng có thể được hình dung như một tổ hợp các trường dao động điện E vàmột từ trường M vuông góc với nhau và chuyển động với vận tốc không đổi trong môi trườngnhất định.Bước sóng λ là khoảng cách giữa 2 đỉnh sóng kề nhau. Đơn vị hay được sử dụng là nanomethay đơn vị Angstron3. Lịch sử của tia hồng ngoại
Xem thêm

5 Đọc thêm

21 câu hỏi và trả lời ôn tập triết học mác lênin

21 câu hỏi và trả lời ôn tập triết học mác lênin

Câu 1 : Trình bày quan điểm nhân sinh quan trong Triết học Phật Giáo Ấn Độ cổ đại. Sơ lược tiểu sử : _ Phật Giáo là trào lưu tôn giáo, xuất hiện khoảng TK6 TCN ở miền Bắc Ấn Độ. Phật Giáo phản ánh sự phản đối đạo Balamon, sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, đòi tự do tư tưởng, lý giải sự khổ đau của con người, và đi tìm con đường để giải thoát con người khỏi khổ đau. _ Phật Giáo được xây dựng trên cơ sở đời sống của đức Thích Ca Mâu Ni (Sakyamauni – tức là bậc hiền giả dòng Sakya ) Phật (Bụt) có nghĩa là đấng giác ngộ người khác. _ Lịch sử của đạo Phật được ghi chép trong kinh Jakata ( được viết sau khi Phật đã mất 100 năm ), thêm nữa, tôn giáo khi xây dựng tôn giáo của mình thường thêm thắt các chi tiết để làm tăng chất linh thiêng. Tuy nhiên, giới nghiên cứu đều thống nhất ở các điểm sau
Xem thêm

Đọc thêm

Tìm hiểu giao thoa văn hóa

Tìm hiểu giao thoa văn hóa

Những biểu hiện của giao thoa văn hóa với Phương Tây đặc biệt là Pháp I.Nguyên nhân và điều kiện để giao thoa văn hóa. Hơn một thế kỷ qua, nước ta có hai thời kỳ giao thoa văn hóa Đông Tây xét ở phạm vi toàn quốc, nói chính xác hơn là giao thoa văn hóa bản địa và văn hóa phương Đông đã bản địa hóa và văn hóa từ phương Tây du nhập. Thời kỳ thứ nhất, mang tính cưỡng bức diễn ra vào khoảng những năm 20 cho đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước. Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ tự nguyện mở cửa và hội nhập, sôi động nhất là từ những năm 90 của thế kỷ trước đến ngày nay... Ở thời kỳ thứ nhất, sau khi cơ bản bình định xong các phong trào chống đối, chính quyền thực dân Pháp ồ ạt du nhập văn hóa chính quốc vào thuộc địa Đông Dương, nhất là Việt Nam với những ý đồ có lợi cho chủ nghĩa thực dân. Bằng văn hóa, họ sẽ tạo ra một tầng lớp trí thức bản địa được khai sáng văn minh chính quốc, thần phục Pháp và từ đó sẵn sàng hướng theo Pháp, làm công cụ cho Pháp. Để thực hiện chủ trương này, họ xây dựng một hệ thống giáo dục theo mô hình giáo dục Pháp, đưa văn hóa Pháp vào nội dung giảng dạy, đào tạo; du nhập tràn ngập những tác phẩm nghệ thuật, văn hóa phẩm, lối sống, ngôn ngữ Pháp… vào nước ta. Bên cạnh ý đồ phục vụ sự cai trị của chính quyền, có một dòng khác, dòng văn hóa do những người Pháp, những người sùng mộ Pháp du nhập. Sau hơn 20 năm đất nước chia làm hai miền, miền Bắc tiếp thu nền văn hóa mang màu sắc XHCN ở các nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, chủ yếu là Trung Quốc, Liên Xô và các nước ở Đông Âu. Miền Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Mỹ, do chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ mang lại. Năm 1975, đất nước thống nhất và đến năm 1986, quá trình Đổi mới được khởi xướng theo con đường hội nhập và phát triển. Một trào lưu văn hóa mới, trào lưu hội nhập văn hóa rộ lên, chi phối hầu hết các lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật. Cũng sau hơn 25 năm mở cửa, bằng các cuộc giao lưu, bằng những thông tin từ nhiều nguồn, văn hóa phương Tây với những tinh hoa của nó đã giúp cho tầm dân trí, tầm văn hóa của người Việt thay đổi rất nhiều. Xu thế hội nhập để cùng phát triển, trong đó có hội nhập văn hóa là không thể đảo ngược. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam không nên và không thể là một ốc đảo về văn hóa. Chủ động hội nhập, chắt lọc mọi tinh hoa văn hóa bên ngoài, kể cả tinh hoa văn hóa phương Tây để làm phong phú mình là ích nước lợi nhà.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dân

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC CAO HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dânCâu 1: Thông qua một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng duy vật anh (chị) hãy làm rõ những tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp la mã cổ đại.Câu 2: Tại sao nói mối quan hệ giữa đức tin và lý tính là vấn đề trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ Câu 3: Bằng những kiến thức triết học anh (chị) hãy làm rõ đặc điểm triết học thời kỳ phục hưng ở Tây Âu. Câu 4: Anh (chị) hãy làm rõ vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận là một trong những trọng tâm của thiết học Tây Âu thời cận đại.Câu 5: Từ lập trường triết học duy vật biện chứng anh (chị) hãy đánh giá về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày triết lý của Phật giáo về thế giới và con người.Câu 7: Triết học Trung Hoa cổ đại:+ Khổng tử+ Lão Tử+ Pháp GiaCâu 8. Vấn đề con người trong triết học Mác Lênin và ở nước ta hiện nayCâu 9. Thống nhất nguyên tắc giữa lý luận và thực tiển trong triết học Mác Lênin (nhận định của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa Mác Lênin)Câu 10. Chủ nghĩa duy vật Mác Lênin cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học
Xem thêm

17 Đọc thêm

TRÀO LƯU TRIẾT HỌC (DUY) KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI

TRÀO LƯU TRIẾT HỌC (DUY) KHOA HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI

1. Sự ra đời và các thời kỳ phát triển của triết học phương Tây hiện đại. 2. Trao lưu chủ nghĩa duy khoa học và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương tây hiện đại . 2.1. Sự ra đời chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa thực chứng xã hội học 2.2. Chủ nghĩa thực chứng thế kỷ XX 2.3. Những ảnh hưởng tới xã hội phương tây hiện đại.

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Bối cảnh lịch sử VNcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1858: Thực dân Pháp xâm lược VN, sự xâm lược của TD Pháp đã gây ra nhiều hậu quả cho XHVN. Triều đình nhà Nguyễn đã từng bước khuất phục đầu hàng Pháp. 1884: Hòa ước Patonot , triều đình nhà Nguyễn đã chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta nổ ra, dâng cao, lan rộng trong cả nước và lần lượt bị thất bại. Đầu thế kỉ XX: + Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp từ 1895 đã làm cho XHVN có sự biến chuyển và phân hóa ( xã hội phong kiến chuyển sang XH thực dân nửa phong kiến, xuất hiện nhiều giai cấp tầng lớp XH mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Công cuộc khai thác thuộc địa là sự bóc lột về KT, áp bức về CT và nô dịch về VH) + Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư” và ảnh hưởng của các trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào VN. => Làm cho các phong trào yêu nước ở nước ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Tất cả các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều không tránh khỏi hạn chế, đều không tránh khỏi sự đàn áp dã man và thất bại, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước. Bối cảnh đó đặt ra một yêu cầu bức thiết về việc phải tìm ra con đường cứu nước. Bối cảnh thời đại: CNTB chuyển sang giai đoạn CNĐQ và xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới, trở thành kẻ thù chung của nhân dân các dân tộc thuộc địa, khiến cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở các nước thuộc địa, ngoài mâu thuẫn vốn có là giai cấp nông dân và đại chủ còn xuất hiện mâu thuẫn mới: giữa nhân dân các thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc. XH phân hóa: xuất hiện giai cấp, tầng lớp xã hội mới: công nhân, tư sản. Các trào lưu cải cách ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra mạnh mẽ. Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi có tác dụng thức tỉnh các dân tộc châu Á. Quốc tế cộng sản 3 ra đời (tháng 3 – 1919) đề cập tới vấn đề thuộc địa, bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giúp đỡ đào tạo cách mạng, vạch ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. =>Bối cảnh trong nước đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra con đường cứu nước mới, bối cảnh thời đại đã tạo ra con đường mà VN đang cần, tất nhiên nó không phải hoàn toàn có sẵn.
Xem thêm

Đọc thêm

đề cương chính trị học đại cương

đề cương chính trị học đại cương

ĐỀ CƯƠNG CHÍNH TRỊ PHẦN 1: TRIẾT HỌC Câu 1: Vì sao có thể nói sự ra đời của triết học Mac là một tất yếu lịch sử? Là một cuộc cách mạng trên lĩnh vực triết học? 1. Tính tất yếu lịch sử a. Điều kiện kinh tế xã hội Triết học Mac ra đời gắn liền với điều kiện khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội lúc bấy giờ. Thế kỷ XIX là thời kỳ mà Chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản. Mâu thuẫn ấy được bộc lộ qua các cuộc đấu tranh giai cấp hết sức quyết liệt ở Châu Âu. Trước tình hình trên cần phải có lý luận cách mạng khoa học cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, đồng thời đòi hỏi những sự kiến giải mới về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Và tất yếu xuất hiện một học thuyết mới, đó là học thuyết của Mac và Ăngghen đề xướng sau này được Lênin phát triển. b. Nguồn gốc lý luận Triết học Mac ra đời còn là sự kế thừa có phê phán toàn bộ những thành tựu tư tưởng của nhân loại sáng tạo ra trong thế kỷ XIX, đó là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp – Anh. c. Tiền khoa học tự nhiên Tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mac là những phát minh lớn của nhân loại bao gồm: Học thuyết tế bào, học thuyết tiến hóa và định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. KL: Như vậy, triết học Mac cũng như chủ nghĩa Mac ra đời như là một tất yếu lịch sử. Không những là sự phản ánh hiện thực xã hội, nhất là thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, mà còn là sự phát triển hợp logic của lịch sử tư tưởng nhân loại. 2. Sự ra đời của triết học Mac là một bước ngoặt cách mạng trong triết học a. Mac và Ăngghen đã kết thừa một cách có phê phán thành tựu tư duy của nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triệt để, không điều hòa với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình Triết học Mac đã khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học. Đặc biệt, Mac và Ăngghen đã làm cho CNDV trở nên hoàn bị bằng cách từ chỗ chỉ nhận thức thế giới tự nhiên, hai ông đã mở rộng nghiên cứu lịch sử để sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật lịch sử. b. Với sự ra đời của triết học Mac, vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học cũng biến đổi Triết học Mac về chất so với triết học trước kia, các học thuyết triết học trước đó chỉ nhằm giải thích thế giới, còn triết học Mac không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới. c. Triết học Mac là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân Lần đầu tiên giai cấp vô sản và nhân dân lao động đã có một vũ khí tinh thần để đấu tranh giải phóng giai cấp mình và xã hội ra khỏi áp bức, bóc lột. Như vậy, triết học Mac là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản còn giai cấp vô sản là vật chất của triết học Mac. d. Triết học Mac chấm dứt tham vọng ở nhiều nhà triết học duy tâm coi triết học là khoa học của mọi khoa học, đứng trên mọi khoa học
Xem thêm

Đọc thêm

GDCD LỚP 10 BÀI 1 (T1) THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

GDCD LỚP 10 BÀI 1 (T1) THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG

là gcọhtTriếì?Sự giống và khác nhau về đối tượng nghiên cứu giữa Triết học với các môn khoa học cụ thểĐối tượng nghiêncứuGiống nhauKhác nhauTriết họcCác môn khoa học cụ thểNhững qui luật vận động và phát triển của thế giới khách quan.Những qui luật chung nhất,Những qui luật riêng của một bộphổ biến nhất của thế giới

Đọc thêm

Bài giảng triết học mác lênin

Bài giảng triết học mác lênin

Phần I: Khái lược về triết học và lịch sử triết học Chương I: Khái lược về Triết học I Triết học là gì ? 1. Triết học và đối tượng của triết học a) Khái niệm Triết học Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp. ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người. ở ấn Độ, thuật ngữ darsana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người. Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý. Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây: Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời. Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội. b) Đối tượng của triết học Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Ngay từ khi mới ra đời, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu. Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập. Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học. Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)... V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác. Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.1. Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức. Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò khoa học của các khoa học. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học. Hoàn cảnh kinh tế xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm khoa học của các khoa học, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản... Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh. 2. Vấn đề cơ bản của triết học Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học. Theo Ăngghen: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn. Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái triết học và các học thuyết về nhận thức của triết học. II Chức năng thế giới quan của triết học 1. Triết học hạt nhân lý luận của thế giới quan Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó. Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan. Nếu xét theo quá trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy. ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v. của con người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới. Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người. Khác với huyền thoại và giáo lý của tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan. Nếu thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người; trong đó tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới, thì triết học, với phương thức tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là một chỉnh thể. Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề thuộc về thế giới quan. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người và xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan. Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức thế giới. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động đạt được mục đích, ý nghĩa đó. Như vậy thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định. Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học. Các trường phái chính của triết học là sự diễn tả thế giới quan khác nhau, đối lập nhau bằng lý luận; đó là các thế giới quan triết học, phân biệt với thế giới quan thông thường. 2. Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết a) Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người được coi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật. Ngược lại, những người cho rằng, ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật: Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. + Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nó mang nặng tính trực quan nên ngây thơ, chất phác. Tuy còn rất nhiều hạn chế, nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, không viện đến Thần linh hay Thượng đế. + Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đỉnh cao vào thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo, điển hình là thời kỳ chuyển tiếp từ đêm trường trung cổ sang thời phục hưng. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy. Chủ nghĩa duy tâm: Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan. + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người. Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng theo họ đấy là là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới, v.v.. Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và sản sinh ra giới tự nhiên; như vậy là đã bằng cách này hay cách khác thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, tôn giáo thường sử dụng các học thuyết duy tâm làm cơ sở lý luận, luận chứng cho các quan điểm của mình. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy tâm triết học với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong thế giới quan tôn giáo, lòng tin là cơ sở chủ yếu và đóng vai trò chủ đạo. Còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí. Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người. Cùng với nguồn gốc nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm ra đời còn do nguồn gốc xã hội. Sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao động trí óc đối với lao động chân tay trong các xã hội cũ đã tạo ra quan niệm về vai trò quyết định của nhân tố tinh thần. Các giai cấp thống trị và những lực lượng xã hội phản động ủng hộ, sử dụng chủ nghĩa duy tâm làm nền tảng lý luận cho những quan điểm chính trị xã hội của mình. Một học thuyết triết học thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc tinh thần) là nguồn gốc của thế giới được gọi là nhất nguyên luận (nhất nguyên luận duy vật hoặc nhất nguyên luận duy tâm). Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học xem vật chất và tinh thần là hai nguyên thể tồn tại độc lập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới; học thuyết triết học của họ là nhị nguyên luận. Lại có nhà triết học cho rằng vạn vật trong thế giới là do vô số nguyên thể độc lập tạo nên; đó là đa nguyên luận trong triết học (phân biệt với thuyết đa nguyên chính trị). Song đó chỉ là biểu hiện tính không triệt để về lập trường thế giới quan; rốt cuộc chúng thường sa vào chủ nghĩa duy tâm. Như vậy, trong lịch sử tuy những quan điểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy cho cùng, triết học chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử triết học cũng là lịch sử đấu tranh của hai trường phái này. b) Thuyết không thể biết Đây là kết quả của cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học. Đối với câu hỏi Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?, tuyệt đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) trả lời một cách khẳng định: thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là thuyết không thể biết. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được đối tượng hoặc có hiểu chăng chỉ là hiểu hình thức bề ngoài vì tính xác thực các hình ảnh về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không bảo đảm tính chân thực. Tính tương đối của nhận thức dẫn đến việc ra đời của trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp cổ đại. Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan. Tuy còn những mặt hạn chế nhưng Hoài nghi luận thời phục hưng đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của Giáo hội thời trung cổ, vì hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo. Từ hoài nghi luận (scepticisme) một số nhà triết học đã đi đến thuyết không thể biết (agnosticisme) mà tiêu biểu là Cantơ ở thế kỷ XVIII. III Siêu hình và biện chứng Các khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử triết học được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mácxít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học. Phương pháp biện chứng phản ánh biện chứng khách quan trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là phép biện chứng. 1. Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng a) Phương pháp siêu hình Phương pháp siêu hình là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng. Phương pháp siêu hình làm cho con người chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng1. Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm. b) Phương pháp biện chứng Phương pháp biện chứng là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng. Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái hoặc là... hoặc là... còn có cả cái vừa là... vừa là... nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau2. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới. 2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. + Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời cổ đại. Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. + Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng. Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm. + Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất. 3. Chức năng phương pháp luận của triết học Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ: Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất. Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó. Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành khoa học. Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người. Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Trong triết học Mác Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và phát triển của hiện thực; do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận. Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng, đề phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình vừa là kết quả, vừa là mục đích trực tiếp của việc học tập, nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác Lênin nói riêng. Câu hỏi ôn tập 1. Đặc trưng của tri thức triết học. Sự biến đổi đối tượng của triết học qua các giai đoạn lịch sử? 2. Vấn đề cơ bản của triết học. Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học? 3. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình? 4. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội? Chương II: Khái lược về lịch sử triết học trước mác A. Triết học phương đông I triết học ấn Độ cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời triết học và đặc điểm của triết học ấn Độ cổ, trung đại Điều kiện tự nhiên: ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ở phía Nam châu á, có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông ấn chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức... Điều kiện kinh tế xã hội: Xã hội ấn Độ cổ đại ra đời sớm. Theo tài liệu khảo cổ học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên (tr. CN) đã xuất hiện nền văn minh sông ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân. Từ thế kỷ XV tr. CN các bộ lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhập vào ấn Độ. Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất ấn Độ. Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài. Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế xã hội của xã hội ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình công xã nông thôn, trong đó, theo Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử ấn Độ cổ đại. Trên cơ sở đó đã phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn: tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự do (Vaisya) và tiện nô (Ksudra). Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo. Điều kiện về văn hóa: Văn hóa ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội. Người ấn Độ cổ đại đã tích lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực... ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Nét nổi bật của văn hóa ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo. Văn hóa ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: a) Khoảng từ thế kỷ XXV XV tr. CN gọi là nền văn minh sông ấn. b) Từ thế kỷ XV VII tr. CN gọi là nền văn minh Vêda. c) Từ thế kỷ VI I tr. CN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống. Hệ thống chính thống bao gồm các trường phái thừa nhận uy thế tối cao của Kinh Vêda. Hệ thống này gồm sáu trường phái triết học điển hình là Sàmkhya, Mimànsà, Védanta, Yoga, Nyàya, Vaisesika. Hệ thống triết học không chính thống phủ nhận, bác bỏ uy thế của kinh Vêda và đạo Bàlamôn. Hệ thống này gồm ba trường phái là Jaina, Lokàyata và Buddha (Phật giáo). Triết học ấn Độ cổ đại có những đặc điểm sau: Trước hết, triết học ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Vêda, Upanisad. Tuy nhiên, tôn giáo của ấn Độ cổ đại có xu hướng hướng nội chứ không phải hướng ngoại như tôn giáo phương Tây. Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học tôn giáo ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự giải thoát tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman). Thứ hai, các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước. Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đề tính không, đem đối lập không và có, quy cái có về cái không thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao. Nhận định về triết học ấn Độ cổ, trung đại Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học. Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc; đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triết học của nhân loại. Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng hướng nội, đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên. Phải chăng, điều đó phản ánh trạng thái trì trệ của phương thức sản xuất châu á ở ấn Độ vào tư duy triết học; đến lượt mình, triết học lại trở thành một trong những nguyên nhân của trạng thái trì trệ đó 2. Tư tưởng triết học của Phật giáo (Buddha) Đạo Phật ra đời vào thế kỷ VI tr. CN. Người sáng lập là Siddharta (Tất Đạt Đa). Sau này ông được người đời tôn vinh là Sakyamuni (Thích ca Mâu ni), là Buddha (Phật). Phật là tên theo âm Hán Việt của Buddha, có nghĩa là giác ngộ. Phật giáo là hình thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn trí tuệ và từ bi của Siddharta. Kinh điển của Phật giáo gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Phật giáo cũng luận về thuyết luân hồi và nghiệp, cũng tìm con đường giải thoát ra khỏi vòng luân hồi. Trạng thái chấm dứt luân hồi và nghiệp được gọi là Niết bàn. Nhưng Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng được giải thoát. Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân quả. Theo Phật giáo, nhân quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác. Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao (Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ. Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù(Anatman, nghĩa là không có tôi) và quan điểm vô thường. Quan điểm vô ngã cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự giả hợp do hội đủ nhân duyên nên thành ra có (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua là do ngũ uẩn (5 yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức). Như vậy là không có cái gọi là tôi (vô ngã). Quan điểm vô thường cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: sinh trụ dị diệt. Vậy thì có có không không luân hồi bất tận; thoáng có, thoáng không, cái còn thì chẳng còn, cái mất thì chẳng mất. Về nhân sinh quan, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự giải thoát (Moksa) khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn Nirvana. Nội dung triết học nhân sinh tập trung trong thuyết tứ đế có nghĩa là bốn chân lý, cũng có thể gọi là tứ diệu đế với ý nghĩa là bốn chân lý tuyệt vời. 1. Khổ đế Duhkha satya. Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão (già), bệnh (ốm đau), tử (chết), thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau), oán tăng hội (oán ghét nhau nhưng phải sống gần với nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng không được), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở). 2. Tập đế hay nhân đế (Samudayya satya). Phật giáo cho rằng cuộc sống đau khổ là có nguyên nhân. Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết thập nhị nhân duyên đó là mười hai nguyên nhân và kết quả nối theo nhau, cuối cùng dẫn đến các đau khổ của con người: 1 Vô minh, 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh; 12 Lão Tử. Trong đó vô minh là nguyên nhân đầu tiên 3. Diệt đế (Nirodha satya). Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ có thể tiêu diệt để đạt tới trạng thái Niết bàn. 4. Đạo đế (Marga satya). Đạo đế chỉ ra con đường tiêu diệt cái khổ. Đó là con đường tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát chính đạo): 1 Chính kiến (hiểu biết đúng tứ đế); 2 Chính tư (suy nghĩ đúng đắn); 3 Chính ngữ (nói lời đúng đắn); 4 Chính nghiệp (giữ nghiệp không tác động xấu); 5 Chính mệnh (giữ ngăn dục vọng); 6 Chính tinh tiến (rèn luyện tu lập không mệt mỏi); 7 Chính niệm (có niềm tin bền vững vào giải thoát); 8 Chính định (tập trung tư tưởng cao độ). Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào Tam học, tức ba điều cần học tập và rèn luyện là Giới Định Tuệ. Giới là giữ cho thân, tâm thanh tịnh, trong sạch. Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại cảnh làm xáo động. Tuệ là trí tuệ. Phật giáo coi trọng khai mở trí tuệ để thực hiện giải thoát. Sau khi Siddharta mất, Phật giáo đã chia thành hai bộ phận: Thượng toạ và Đại chúng. Phái Thượng tọa bộ (Theravada) chủ trương duy trì giáo lý cùng cách hành đạo thời Đức Phật tại thế; phái Đại chúng bộ (Mahasamghika) với tư tưởng cải cách giáo lý và hành đạo cho phù hợp với thực tế. Khoảng thế kỷ II tr. CN xuất hiện nhiều phái Phật giáo khác nhau, về triết học có hai phái đáng chú ý là phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvaxtivadin) và phái Kinh lượng bộ (Sautrànstika). Vào đầu công nguyên, Phật giáo Đại thừa xuất hiện và chủ trương tự giác, tự tha, họ gọi những người đối lập là Tiểu thừa. ở ấn Độ, Phật giáo bắt đầu suy dần từ thế kỷ IX và hoàn toàn sụp đổ trước sự tấn công của Hồi giáo vào thế kỷ XII. II Triết học trung hoa cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đại Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau. Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô khan, cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi. Miền Nam có lưu vực sông Dương Tử khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú. Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III tr. CN kéo dài tới tận thế kỷ III tr. CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ phong kiến tập quyền. Trong khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm hai thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr. CN về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII đến cuối thế kỷ III tr. CN. Thời kỳ thứ nhất có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và Tây Chu. Theo các văn bản cổ, nhà Hạ ra đời khoảng thế kỷ XXI tr. CN, là cái mốc đánh dấu sự mở đầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa. Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII tr. CN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã lật đổ Vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà Thương đặt đô ở đất Bạc, tỉnh Hà Nam bây giờ. Đến thế kỷ XIV tr. CN, Bàn Canh dời đô về đất Ân thuộc huyện An Dương Hà Nam ngày nay. Vì vậy, nhà Thương còn gọi là nhà Ân. Vào khoảng thế kỷ XI tr. CN, Chu Vũ Vương con Chu Văn Vương đã giết Vua Trụ nhà Thương lập ra nhà Chu (giai đoạn đầu của nhà Chu là Tây Chu) đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao. Trong thời kỳ thứ nhất này, những tư tưởng triết học đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức là một hệ thống. Thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Hoa bấy giờ. Tư tưởng triết học thời kỳ này đã gắn chặt thần quyền và thế quyền và ngay từ đầu nó đã lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý. Đồng thời, thời kỳ này đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ đối lập lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí thống trị đương thời. Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Đông Chu (thường gọi là thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc) là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc về nhà Vua thì dưới thời Đông Chu quyền sở hữu tối cao về đất đai thuộc tầng lớp địa chủ và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành. Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các kẻ sĩ luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ Bách gia chư tử (trăm nhà trăm thầy), Bách gia minh tranh (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm các trường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị đạo đức của xã hội. Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hoặc Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia. Có thể nói, trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thời Xuân Thu Chiến Quốc được bổ sung hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung cổ, đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Trung Hoa cho tới thời cận đại. Ra đời trên cơ sở kinh tế xã hội Đông Chu, so sánh với triết học phương Tây và ấn Độ cùng thời, triết học Trung Hoa cổ, trung đại có những đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, nhấn mạnh tinh thần nhân văn. Trong tư tưởng triết học cổ, trung đại Trung Hoa, các loại tư tưởng liên quan đến con người như triết học nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt. Thứ hai, chú trọng chính trị đạo đức. Suốt mấy ngàn năm lịch sử các triết gia Trung Hoa đều theo đuổi vương quốc luân lý đạo đức, họ xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội. Có thể nói, đây chính là nguyên nhân triết học dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa. Thứ ba, nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Khi khảo cứu các vận động của tự nhiên, xã hội và nhân sinh, đa số các nhà triết học thời Tiền Tần đều nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề. Nho gia, Đạo gia, Phật giáo... đều phản đối cái thái quá và cái bất cập. Tính tổng hợp và liên hệ của các phạm trù thiên nhân hợp nhất, tri hành hợp nhất, thể dụng như nhất, tâm vật dung hợp... đã thể hiện đặc điểm hài hòa thống nhất của triết học trung, cổ đại Trung Hoa. Thứ tư là tư duy trực giác. Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm. Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng. Hầu hết các nhà tư tưởng triết học Trung Hoa đều quen phương thức tư duy trực quan thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ. Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, lấy tâm để bao quát vật. Cái gọi là đến tận cùng chân lý của Đạo gia, Phật giáo, Lý học, v.v. nặng về ám thị, chỉ dựa vào trực giác mà cảm nhận, nên thiếu sự chứng minh rành rọt. Vì vậy, các khái niệm và phạm trù chỉ là trực giác, thiếu suy luận lôgíc, làm cho triết học Trung Hoa cổ đại thiếu đi những phương pháp cần thiết để xây dựng một hệ thống lý luận khoa học. Nhận định về triết học Trung Hoa thời cổ, trung đại: Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị đạo đức phong kiến phương Đông. Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa. 2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại a) Thuyết Âm Dương, Ngũ hành Âm Dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết học Trung Hoa, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh biến hóa của vũ trụ. Việc sử dụng hai phạm trù Âm Dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống đem lại. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Hoa. Tư tưởng triết học về Âm Dương Dương nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời hay những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; Âm có nghĩa là thiếu ánh sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau, Âm Dương được coi như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ: biểu thị cho giống đực, hoạt động, hơi nóng, ánh sáng, khôn ngoan, rắn rỏi, v.v. tức là Dương; giống cái, thụ động, khí lạnh, bóng tối, ẩm ướt, mềm mỏng, v.v. tức là Âm. Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất. Trong Kinh Dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của vũ trụ có khởi điểm là Thái cực. Từ Thái cực mà sinh ra Lưỡng nghi (âm dương), rồi Tứ tượng, rồi Bát quái. Vậy, nguồn gốc vũ trụ là Thái cực, chứ không phải Âm Dương. Đa số học giả đời sau cho Thái cực là thứ khí Tiên Thiên, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất là Âm Dương. Đây là một quan niệm tiến bộ so với quan niệm Thượng đế làm chủ vũ trụ của các đời trước. Hai thế lực Âm Dương không tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn nhau theo các nguyên lý sau: Âm Dương thống nhất thành thái cực. Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hình đen trắng tượng trưng cho Âm Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối lập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau. Tư tưởng triết học về Ngũ hành Từ Ngũ hành được dịch là năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng đến nhau. Từ Hành có nghĩa là làm, hoạt động, cho nên từ Ngũ hành theo nghĩa đen là năm hoạt động, hay năm tác nhân. Người ta cũng gọi là ngũ đức có nghĩa là năm thế lực. Thứ nhất là Thủy, hai là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ. Cuối Tây Chu, xuất hiện thuyết Ngũ hành đan xen. Ngũ hành được dùng để giải thích sự sinh trưởng của vạn vật trong vũ trụ. Thổ mộc hỏa đan xen thành ra trăm vật, hoà hợp thì sinh ra vật, đồng nhất thì không tiếp nối (Quốc ngữ trịnh ngữ). Tức là nói những vật giống nhau thì không thể kết hợp thành vật mới, chỉ có những vật có tính chất khác nhau mới có thể hóa sinh thành vật mới. Tiếp theo là thuyết Ngũ hành tương thắng, rồi xuất hiện thuyết Ngũ hành tương sinh đã bổ khuyết chỗ chưa đầy đủ của thuyết Ngũ hành đan xen. Tư tưởng Ngũ hành đến thời Chiến Quốc đã phát triển thành một thuyết tương đối hoàn chỉnh là Ngũ hành sinh thắng. Sinh có nghĩa là dựa vào nhau mà tồn tại, thắng có nghĩa là đối lập lẫn nhau. Như vậy, tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, nhưng tương tác với nhau. Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau: + Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hoả sinh Thổ, v.v.. + Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; và Mộc khắc Thổ, v.v.. Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được kết hợp làm một vào thời Chiến Quốc đại biểu lớn nhất là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận Âm Dương Ngũ hành tương sinh tương khắc để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Từ đó phát sinh ra quan điểm duy tâm Ngũ đức có trước có sau. Từ thời Tần Hán về sau, các nhà thống trị có ý thức phát triển thuyết Âm Dương Ngũ hành, biến thành một thứ thần học, chẳng hạn thuyết thiên nhân cảm ứng của Đổng Trọng Thư, hoặc Phụng mệnh trời của các triều đại sau đời Hán. b) Nho gia (thường gọi là Nho giáo) Nho gia do Khổng Tử (551 479 tr. CN sáng lập) xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI tr. CN dưới thời Xuân Thu. Sau khi Khổng Tử chết, Nho gia chia làm tám phái, quan trọng nhất là phái Mạnh Tử (327 289 tr. CN) và Tuân Tử (313 238 tr. CN). Mạnh Tử đã đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở đạo nhân của Khổng Tử, đề ra thuyết tính thiện, ông cho rằng, thiên mệnh quyết định nhân sự, nhưng con người có thể qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức cái gọi tận tâm, tri tính, tri thiên, vạn vật đều có đủ trong ta. Ông hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận. Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho gia, nhưng trái với Mạnh Tử, ông cho rằng con người vốn có tính ác, coi thế giới khách quan có quy luật riêng. Theo ông sức người có thể thắng trời. Tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ. Kinh điển của Nho gia thường kể tới bộ Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư có Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử. Ngũ kinh có: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những người sáng lập Nho gia nói về vũ trụ và tự nhiên không nhiều. Họ thừa nhận có thiên mệnh, nhưng đối với quỷ thần lại xa lánh, kính trọng. Lập trường của họ về vấn đề này rất mâu thuẫn. Điều đó chứng tỏ tâm lý của họ là muốn gạt bỏ quan niệm thần học thời Ân Chu nhưng không gạt nổi. Quan niệm thiên mệnh của Khổng Tử được Mạnh Tử hệ thống hóa, xây dựng thành nội dung triết học duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia. Về đạo đức Nho giáo sinh ra từ một xã hội chiếm hữu nô lệ trên đường suy tàn, vì vậy, Khổng Tử đã luyến tiếc và cố sức duy trì chế độ ấy bằng đạo đức. Đạo theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hóa của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con người, do con người lập nên. Trong Kinh Dịch, sau hai câu Lập đạo của trời, nói âm và dương, Lập đạo của đất, nói nhu và cương là câu Lập đạo của người, nói nhân và nghĩa. Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung; bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc; mọi đức khác của con người đều từ nhân nghĩa mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương và nhu cương mà ra. Đức nhân xét trong mối liên hệ với đức nghĩa thì nhân là bản chất của “nghĩa”, bản chất ấy là thương người. Đức nghĩaxét trong mối liên hệ với nhân thì nghĩa là hình thức của nhân. Nghĩa là phần ta phải làm. Đó là mệnh lệnh tối cao. Với Nho gia, nghĩa và lợi là hai từ hoàn toàn đối lập. Nhà Nho phải biết phân biệt nghĩa và lợi và sự phân biệt này là tối quan trọng trong giáo dục đạo đức. Đ
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO HỌC THUYẾT KINH tế CHÍNH TRỊ tư SẢN tầm THƯỜNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO HỌC THUYẾT KINH tế CHÍNH TRỊ tư SẢN tầm THƯỜNG

Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập ở hầu hết các nước Tây Âu. Từ năm 1830 giai cấp tư sản thực hiện được sự thống trị về chính trị ở Anh và Pháp. Đồng thời, giai cấp vô sản cũng ngày càng lớn mạnh, chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, mang tính chất giai cấp quyết liệt, đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Sự xuất hiện và phát triển của trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng tiêu biểu là Saint Simond, M.Farier và R.Owen phê phán kịch liệt chủ nghĩa tư bản đã có ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào của giai cấp công nhân.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ LOẠI ĐÈN SỬ DỤNG TRONG CHIẾU SÁNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ LOẠI ĐÈN SỬ DỤNG TRONG CHIẾU SÁNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG

1.1. Tổng quan về chiếu sáng.Chiếu sáng là một kỹ thuật đa ngành, trƣớc hết đó là mối quan tâm của các kỹ sƣđiện, các nhà nghiên cứu quang và quang phổ học, các cán bộ kỹ thuật của công tycông trình công cộng và các nhà quản lý đô thị. Chiếu sáng c ng là mối quan tâmcủa các nhà kiến trúc, xây dựng và giới mỹ thuật. Nghiên cứu về chiếu sáng c ng làmột công việc của các bác sỹ nhãn khoa, các nhà tâm lý học, giáo dục thể chất họcđƣờng...Trong thời gian gần đây, với sự ra đời và hoàn thiện của các nguồn sáng hiệusuất cao, các phƣơng pháp tính toán và công cụ phần mềm chiếu sáng mới, kỹ thuậtchiếu sáng đã chuyển từ giai đoạn chiếu sáng tiện nghi sáng chiếu sáng hiệu quả vàtiết kiệm điện năng gọi tắt là chiếu sáng tiện ích.Theo số liệu thống kê, năm 2005 điện năng sử dụng cho chiếu sáng trên toàn thếgiới là 2650 tỷ kWh, chiếm 19% sản lƣợng điện. Hoạt động chiếu sáng xảy ra đồngthời vào giờ cao điểm buổi tối đã khiến cho đồ thị phụ tải của lƣới điện tăng vọt,gây không ít khó khăn cho việc truyền tải và phân phối điện. Chiếu sáng tiện ích làmột giải pháp tổng thể nhằm tối ƣu hóa toàn bộ kỹ thuật chiếu sáng từ việc sử dụngnguồn sáng có hiệu suất cao, thay thế các loại đèn sợi đốt có hiệu quả năng lƣợngthấp bằng đèn compact. Sử dụng rộng rãi các loại đèn huỳnh quang thế hệ mới, sửdụng chấn lƣu sắt từ tổn hao thấp và chấn lƣu điện tử, sử dụng tối đa và hiệu quảánh sáng tự nhiên, điều chỉnh ánh sáng theo mục đích và yêu cầu sử dụng, nhằmgiảm điện năng tiêu thụ mà vẫn đảm bảo tiện nghi nhìn. Kết quả chiếu sáng tiện íchphải đạt tiện nghi nhìn tốt nhất, tiết kiệm năng lƣợng, hạn chế các loại khí nhà kính,góp phần bảo vệ môi trƣờng.1.1.1. Ánh sáng.Các sóng điện từ có bƣớc sóng X từ 380nm đến 780 nm mà ―mắt - não’ con ngƣờicó thể cảm nhận đƣợc gọi là ánh sáng.Có thể chia bƣớc sóng thành các phạm vi sau:3
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI 29. THỰC HÀNH: ĐO BƯỚC SÓNG ÁNH SÁNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIAO THOA

BÀI 29. THỰC HÀNH: ĐO BƯỚC SÓNG ÁNH SÁNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIAO THOA

và: vântối cáchgiữa2 khe (m)đợc tính:xs = k.i3. Bớc sóng và màu sắc ánh sánga. Đo bớc sóng ánh sáng bằng phơng pháp giaothoa:- Trong thí nghiệm giaodùng thớcTừ thoacách cóxácthểđịnhđo D, dùng kính lúp hoặckínhhiểnvi đo akhoảngvân,hãyvà i , từ đó ta có bớc sóngánhcáchsáng trongxác củađịnh

14 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT học cổ điển đức

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT học cổ điển đức

I.Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức:1.Bối cảnh châu Âu cận đạiĐến cuối thế kỷ 19, CNTB ra đời và phát triển ở hang loạt các nước châu Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, Italia đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có cho nhân loại. PTSX TBCN đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn PTSX PK bảo thủ, lạc hậu. Nó tạo ra 1 năng suất lao động cao, lượng của cải làm ra = 19 thế kỷ trước cộng lại.Cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 làm rung chuyển cả châu Âu tác động mạnh mẽ đến đời sống, xã hội châu Âu. Mác nói: “triết học của Kant là lý luận của người Đức về cuộc CMTS Pháp”.Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại.Những thành tựu về kinh tế, văn hóa và khoa học do cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.Tóm lại: cuối thế kỷ 18 đầu 19 PTSX TBCN đã trở thành 1 xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại2.Hoàn cảnh nước Đứca.Kinh tế:Đên đầu thế kỷ 19 nước Đức vẫn là 1 nước phong kiến lạc hậu. sự cát cứ phong kiến làm nước Đức bị chia thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau. Thực trạng này là trở ngại đối với sản xuất hang hóa, trở ngại cho sự phát triển của CNTB ở Đức.+ năm 1822 cả nước Đức mới có 2 đầu máy hơi nước+ Nông nghiệp bị đình đốn.b.Chính trịVua Phổ Phridrich Vinhem trở nên phản động, ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước đi lên con đường TBCN.Không khí chính trị ngột ngạt của xã hội Đức đã tạo sự bất bình cho đông đảo quần chúng.c.Văn hóa – tư tưởngTuy lạc hậu về kinh tế, chính trị nhưng về mặt văn hóa nói chung, nhất là triết học và nghệ thuật ở Đức thời kỳ này rất phát triển, có nhiều nhà thơ nhiều nhà tư tưởng lớn như: Gớt, Héctơ, Sitlơ,..Các nhà tư tưởng Đức đã nhận được sự cổ vũ to lớn của phong trào Khai sáng Pháp. Đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp đã thức tỉnh các nhà tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đứcd. cải cách tôn giáoDo những mâu thuẫn giữa quần chúng với giáo hội ở Đức phát triển gay gắt phong trào chống giáo hội ở Đức nổ ra gay gắt. Đầu thế kỷ XVI, sự căm ghét giáo hội của mọi tầng lớp nhân dân Đức đã trở thành phổ biến và rộng lớn. Trong tình hình đó một mục sư có tên là Martin Luther (1483 – 1546) đã tiến hành vận động cải cách tôn giáo.
Xem thêm

Đọc thêm

KIỂU SÁNG TÁC VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬN VĂN HỌC 12

KIỂU SÁNG TÁC VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬN VĂN HỌC 12

Kiểu sáng tác 1. Kiểu sáng tác văn học là những kiểu văn học xuất hiện trong từng thời đại và từng trào lưu văn học. Mỗi kiểu sáng tác văn học thể hiện một phương thức cảm nhận đời sống, một kiểu nhà văn, kiểu thể loại, một phương thức biểu hiện gắn với kiểu tự ý thức của con người. 2. Có 3 kiểu sáng tác văn học: kiểu sáng tác thần thoại, kiểu sáng tác truyền thống và kiểu sáng tác hiện đại. a. Kiểu sáng tác thần thoại là sáng tác chưa tự giác, là sản phẩm tinh thần của thời đại nguyên thủy, khi con người chưa phân biệt với thiên nhiên, tác giả là tập thể. Nó gắn liền với lễ hội, của cộng đồng. Nàng Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, Bà Nữ Oa đội đá vá trời, Hêraklét lập 12 chiến công… b. Kiểu sáng tác truyền thống bao gồm những sáng tác cổ đại và sáng tác văn học trung đại. Đó là những sáng tác dựa trên các quy tắc chung, phương tiện chung, được kế thừa và phát triển từ đời này sang đời khác. Kiểu sáng tác cổ đại chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu tư duy quyền uy thần thoại. Đam Săn gọi Trời bằng cậu, lấy Hnhí và Hbhí theo tục nối dây, chặt cây Thần, đi bắt nữ thần Mặt Trời. Sử thi Đam Săn, Ihát và Ôđixê, Ramayana,… tiêu biểu cho kiểu sáng tác cổ đại. Kiểu sáng tác trung đại hình thành và phát triển trong xã hội phong kiến. Các quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, các phạm trù đạo lý quy phạm như trung thần với nghịch tử, quân tử với tiểu nhân, anh hùng, tài tử, mĩ nhân, v.v… được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật mang tính ước lệ định hình, trở thành chuẩn mực. Cáo, hịch, phú, thơ Đường, v.v… là những sáng tác trung đại, “Sử ký” của Tư Mã Thiên, thơ Lý Bạch, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du,… là những tác phẩm thuộc kiểu sáng tác truyền thống. c. Kiểu sáng tác hiện đại: trong văn học phương Tây khởi đầu từ thời Phục hưng, phát triểu trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội loại người đương đại. Kiểu sáng tác hiện đại bao gồm nhiều trào lưu văn học nối tiếp hoặc đồng thời xuất hiện. Trào lưu văn học là khuynh hướng sáng tác của các nhà văn cùng có chung một cương lĩnh, mục đích, niềm tin và nguyên tắc sáng tác. Văn học phục hưng, Văn học cổ điển chủ nghĩa, Văn học lãng mạn chủ nghĩa, Văn học hiện thực chủ nghĩa… là những trào lưu văn học tiêu biểu nhất - Văn học phục hưng: lên án thần quyền, bạo lực trung cổ, ca ngợi tự do, nhân đạo, tình yêu, khẳng định vẻ đẹp của bản tính tự nhiên, vật chất của con người. Kịch của Secxpia, Đônkihôtê của Xecvantex, bộ truyện Gacgăngchuya và Păngtagruyen của Rabơle là tiếng cười hả hê, sảng khoái của đời sống thân xác… là những kiệt tác của Văn học phục hưng. - Văn học cổ điển chủ nghĩa: xuất hiện ở Pháp và Tây Âu trong thế kỷ 17. Văn học cổ điển chủ nghĩa coi những con người đặt lý trí lên trên tình cảm riêng tư, chiến thắng dục vọng thấp hèn, coi nhẹ lợi ích và danh dự của dòng dõi và quốc gia là đẹp nhất, lý tưởng nhất, Kịch của Coocnây, kịch của Môlie… tiêu biểu nhất cho văn học cổ điển chủ nghĩa. - Văn học lãng mạn chủ nghĩa cảm nhận sâu sắc sự đối lập gay gắt giữa thực tại và lý tưởng, chỉ rõ sự bất mãn với thực tại bế tắc là không có lối thoát, ca ngợi niềm khao khát vươn tới trong mộng ảo hoặc thiên nhiên, Văn học lãng mạn chủ nghĩa phát triển ở Tây Âu trong 2 thế kỷ 18, 19. Thi sĩ Lamactin, văn hào Huygô (Pháp), nhà thơ Bairơn (Anh), thi hào Puskin (Nga)… là những tên tuổi tiêu biểu cho trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa. Ở Việt Nam ta, tự lực văn đoàn với các nhà thơ nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu,… là những văn sĩ của trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945. - Văn học hiện thực chủ nghĩa xuất hiện ở Tây Âu trong thế kỷ 19. Nó cảm nhận thế giới khách quan qua các chi tiết cụ thể, xác thực; khẳng định quy luật của môi trường xã hội đối với bản chất con người, miêu tả đời sống nội tâm như một quá trình có nảy sinh phát triển và biến đổi. Tính hiện thực chân thực là thước đo giá trị tác phẩm văn chương. Banzắc (Pháp), Đickenx (Anh), Sêkhốp (Nga), v.v… là những nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa. Ở Việt Nam ta, các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng,… là những nhà văn hiện thực 1930 – 1945. Phong cách nghệ thuật 1. Phong cách nghệ thuật là một cái nhìn mới mẻ, khám phá và độc đáo có tính phát hiện đối với đời sống. Cái nhìn mới mẻ ấy được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật đặc sắc mang dấu ấn riêng, vẻ đẹp riêng của mỗi nhà văn. Nhà văn có thực tài mới có phong cách. Phong cách chỉ có thể được định hình qua hàng loạt tác phẩm xuất sắc. Phong cách của nhà văn vừa thống nhất vừa đa dạng, phát triển tạo nên cây bút đa phong cách. 2. Từ “Vang bóng một thời” đến “Sông Đà”, “Tờ hoa”, “Trong hoa”,… - phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là uyên bác, tài hoa, độc đáo. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị thống nhất trong cảm hứng lý tưởng, Tổ quốc, nhân dân, về niềm vui lớn cách mạng, và ân tình thủy chung. Sâu sắc về lý trí, dào dạt về tình cảm, ngọt ngào, sâu lắng, thiết tha. Có lúc như dân ca. Có lúc như thơ Kiều, có lúc nghe như Thơ mới. Hồ Chí Minh là một nhà văn đa phong cách. Viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Việt, thống nhất trong tính giản dị, hồn nhiên, thâm thuý. Truyện ký thì sắc sảo, hóm hỉnh. Thơ chữ Hán giàu chất Đường thi. Thơ chúc tết thì dân dã, dễ hiểu. Văn chính luận rất khúc chiết. đanh thép, hùng hồn. Cảm hứng yêu nước thương dân là cảm hứng chủ đạo trong văn thơ của Người. Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội là đề tài nhất quán trong tác phẩm Hồ Chí Minh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HỌC THUYÊT mác – LENIN, tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về ĐẢNG và xây DỰNG ĐẢNG CỘNG sản

HỌC THUYÊT mác – LENIN, tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về ĐẢNG và xây DỰNG ĐẢNG CỘNG sản

Lịch sử đã chứng minh cho thấy phong trào yêu nước chống thực dân Pháp từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù, nhưng đều dưới sự dẫn dắt của tư tưởng phong kiến và tư sản là các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời, lạc hậu trong sự phát triển của thế giới đương đại và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nên không tránh khỏi thất bại. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Đất nước “như đêm tối không có đường ra”.Yêu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải có một lý luận cách mạng tiên tiến dẫn đường với một đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn để lãnh đạo công cuộc cứu nước.
Xem thêm

Đọc thêm