ỨNG DỤNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC LOÀI LSNG LÀM THUỐC 

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ỨNG DỤNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC LOÀI LSNG LÀM THUỐC ":

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN doc

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN DOC

đồng bào Châu Mạ. Theo kinh nghiệm thì thu háiươi trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 và đònhkì 3-4 năm khai thác một lần. Trước kia, việc khaithác ươi chủ yếu bằng cách hái trái, nhưng nay doáp lực tăng dân số người ta chặt cây để thu hái.Nếu tình trạng thu hái như vậy cứ tiếp diễn sẽ thìsẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn thiênnhiên và phát triển bền vững nông thôn. Phải cấmchặt hạ cây và cành mỗi khi khai thác, đồng thờingười khai thác phải có trách nhiệm trồng vài câytrong một mùa khai thác.Tre nứa là vật liệu rất quan trọng trong đờisống đồng bào Châu Mạ. Việc khai thác diễn raquanh năm và khoảng 90% người dân ở đây thamgia khai thác. Đặc biệt lồ ô (Bambusa procera) vàmum (Gigantochloa sp.) là hai loài tre được sử dụngnhiều nhất do có nhiều công dụng và độ bền củachúng. Ngôi nhà sàn truyền thống của đồng bào ởđây chủ yếu làm từ lồ ô và mum nhờ vào tính bền,dẻo của các loại tre này. Hơn thế nữa, chúng đượcdùng nhiều để xây dựng chuồng trại, hàng rào,giường, bàn, ghế và làm công cụ sản xuất nhưcán dao, cán rìu, cán xà bách, cán xà gạt, thangleo, sọt, giỏ, chất đốt để đun nấu. Tre nứa còn gắnvới đời sống văn hoá của người Châu Mạ vì chúngđược dùng để sản xuất các vật dụng như khungdệt thổ cẩm, cần câu cá, cần uống rượu cần, ốngđiếu, ống sáo, ống tiêu, khèn bầu Một công dụngkhác của tre liên quan đến một nét văn hoá đặcsắc của người bản đòa là nấu cơm trong ống tre lồ
Xem thêm

5 Đọc thêm

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ

nay. Đồng bào Châu Mạ có những hiểu biết phongphú về đặc điểm, phân bố, công dụng và cách thứcchế biến các lâm sản ngoài gỗ. Những hoạt độngTHÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬTTạp chí KHKT Nông Lâm nghiệp, số 3/2007 Đại học Nông Lâm Tp. HCM114hái lượm luôn gắn liền với đời sống hàng ngày củahọ như: kiếm củi, lấy măng, rau rừng, đọt mây,khai thác ươi, tre nứa, song mây, ...100% số hộ đều vào rừng lấy củi cho gia đình sửdụng. Người dân ở đây sử dụng gùi để đem củi vềnhà. Trung bình 20kg củi/ gùi và cứ 2-3 ngày họ đilấy củi một lần. Có hai hình thức lấy củi là chặt hạcây đứng và thu lượm củi. Đòa điểm lấy củi là nươngrẫy, vùng đệm và ngay cả vùng lõi của vườn quốcgia. Vì vậy, cần nghiêm cấm triệt để việc chặt hạcây đang sống để làm củi, khuyến khích người dântrồng điều xen canh và tận dụng nguồn cành khôcây điều làm củi đốt.Nguồn thực phẩm rất quan trọng trong cuộcsống của khoảng 95% đồng bào Châu Mạ là măng.Măng được khai thác chủ yếu từ hai loại tre là lồ ô(Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp.).Mùa hái măng là từ tháng 6 đến tháng 10 hàngnăm. Trước đây, hái măng chỉ để gia đình sử dụngtrong tất cả các bữa ăn. Nhưng hiện nay, măng trởthành hàng hoá quan trọng tăng thu nhập của giađình. Đòa điểm lấy măng là rừng trồng 327 và trongvườn quốc gia Cát Tiên. Hoạt động này ảnh hưởngrất lớn đến việc tái sinh của rừng tre và gây hại
Xem thêm

5 Đọc thêm

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ VƯỜN QUỐÂC GIA CÁT TIÊN

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU MẠ VƯỜN QUỐÂC GIA CÁT TIÊN

nay. Đồng bào Châu Mạ có những hiểu biết phongphú về đặc điểm, phân bố, công dụng và cách thứcchế biến các lâm sản ngoài gỗ. Những hoạt độngTHÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬTTạp chí KHKT Nông Lâm nghiệp, số 3/2007 Đại học Nông Lâm Tp. HCM114hái lượm luôn gắn liền với đời sống hàng ngày củahọ như: kiếm củi, lấy măng, rau rừng, đọt mây,khai thác ươi, tre nứa, song mây, ...100% số hộ đều vào rừng lấy củi cho gia đình sửdụng. Người dân ở đây sử dụng gùi để đem củi vềnhà. Trung bình 20kg củi/ gùi và cứ 2-3 ngày họ đilấy củi một lần. Có hai hình thức lấy củi là chặt hạcây đứng và thu lượm củi. Đòa điểm lấy củi là nươngrẫy, vùng đệm và ngay cả vùng lõi của vườn quốcgia. Vì vậy, cần nghiêm cấm triệt để việc chặt hạcây đang sống để làm củi, khuyến khích người dântrồng điều xen canh và tận dụng nguồn cành khôcây điều làm củi đốt.Nguồn thực phẩm rất quan trọng trong cuộcsống của khoảng 95% đồng bào Châu Mạ là măng.Măng được khai thác chủ yếu từ hai loại tre là lồ ô(Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp.).Mùa hái măng là từ tháng 6 đến tháng 10 hàngnăm. Trước đây, hái măng chỉ để gia đình sử dụngtrong tất cả các bữa ăn. Nhưng hiện nay, măng trởthành hàng hoá quan trọng tăng thu nhập của giađình. Đòa điểm lấy măng là rừng trồng 327 và trongvườn quốc gia Cát Tiên. Hoạt động này ảnh hưởngrất lớn đến việc tái sinh của rừng tre và gây hại
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng người Mông trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA MỘT SỐ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG TRONG CANH TÁC ĐẤT DỐC Ở HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Tìm hiểu hiện trạng và vai trò hệ thống kiến thức bản địa của một số cộng đồng người Mông trong sử dụng đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở tiến hành điều tra, nghiên cứu cụ thể tại hai xã Nam Mẫu và Cao Thượng. Tìm hiểu hiện trạng và vai trò hệ thống kiến thức bản địa của một số cộng đồng người Mông trong sử dụng đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở tiến hành điều tra, nghiên cứu cụ thể tại hai xã Nam Mẫu và Cao Thượng.
Xem thêm

80 Đọc thêm

Đề tài đánh giá sinh trưởng và tổng kết kinh nghiệm gây trồng một số loài cây gỗ bản địa trồng dưới tán rừng tại trung tâm khoa học và sản xuất lâm nghiệp đông bắc bộ đại lải vĩnh phúc

ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ TỔNG KẾT KINH NGHIỆM GÂY TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG TẠI TRUNG TÂM KHOA HỌC VÀ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP ĐÔNG BẮC BỘ

MỤC LỤC Lời nói đầu Phần 1: Đặt vấn đề 1 Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3 2.1. Trên thế giới 3 2.1.1. Nghiên cứu mang tính chất cơ sở 3 2.1.2. Những công trình nghiên cứu thực tiễn 3 2.2. Trong nước 4 2.2.1. Các công trình mang tính chất cơ sở 4 2.2.2. Các công trình nghiên cứu thực tiễn 4 Phần 3: Mục tiêu Nội dung Phương pháp nghiên cứu 6 3.1. Mục tiêu nghiên cứu 6 3.2. Giới hạn nghiên cứu 6 3.3. Nội dung nghiên cứu 7 3.3.1. Đánh giá hiện trạng tầng cây cao 7 3.3.2. Đánh giá hiện trạng tầng cây bản địa 7 3.3.3. Điều tra một số nhân tố hoàn cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây bản địa 7 3.3.4. Xác định mối quan hệ giữa sinh trưởng và chất lượng của cây bản địa với một số nhân tố hoàn cảnh 7 3.3.5. Tổng kết kinh nghiệm cây trồng các loài cây bản địa 7 3.3.6. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh 8 3.4. Phương pháp nghiên cứu 8 3.4.1. Phương pháp luận 8 3.4.2. Phương pháp nghiên cứu 8 Phần 4: Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu 17 4.1.Điều kiện tự nhiên 17 4.2. Điều kiện kinh tế xã hội 17 Phần 5: Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả 21 5.1. Giới thiệu mô hình trồng rừng bản địa dưới tán 21 5.1.1. Mô hình trồng cây bản địa dưới tán Thông mã vĩ 21 5.1.2. Mô hình trồng cây bản địa dưới tán Keo lá tràm 21 5.2. Hiện trạng tầng cây cao 21 5.2.1. Hiện trạng rừng Thông mã vĩ 23 5.2.2. Hiện trạng rừng Keo lá tràm 25 5.3. Hiện trạng tầng cây bản địa 27 5.3.1. Giới thiệu sơ lược các loài cây bản địa được gây trồng tại khu vực nghiên cứu 27 5.3.2. Mô tả sơ lược đặc điểm hình thái và sinh thái học của các loài cây bản địa được nghiên cứu 29 5.3.3. Kết quả nghiên cứu hiện trạng các loài cây bản địa 32 5.4. Kết quả điều tra một số nhân tố hoàn cảnh có ảnh hưởng tới sinh trưởng của tầng cây bản địa 36 5.4.1. Nhân tố đất 37 5.4.2. Thực bì, cây bụi thảm tươi 38 5.4.3. Thảm mục, vật rơi rụng 40 5.5. Xác định ảnh hưởng của nhân tố sinh thái tới sinh trưởng của tầng cây bản địa 41 5.5.1. Quan hệ giữa sinh trưởng của cây bản địa dưới tán Thông mã vĩ với độ tàn che 41 5.5.2. Quan hệ giứa sinh trưởng của cây bản địa dưới tán Keo lá tràm và độ tàn che 44 5.5.3. Kết luận chung về quan hệ giữa sinh trưởng của cây bản địa và độ tàn che 48 5.6. Tổng kết kinh nghiệm gây trồng 48 5.6.1. Mô hình trồng cây bản địa dưới tán Thông mã vĩ 48 5.6.2. Mô hình trồng cây bản địa dưới tán Keo lá tràm 49 5.7. Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh 51 5.7.1. Đối với lâm phần Thông mã vĩ 51 5.7.2. Đối với lâm phần Keo lá tràm 52 Phần 6: Kết luận – tồn tại – kiến nghị 53 LỜI NÓI ĐẦU Sau quá trình học tập trong suốt 4 năm tại trường Đại học Lâm nghiệp với sự giảng dạy tận tình của các thầy cô trong trường, bản thân tôi đã được tiếp thu nhiều kiến thức quý báu nhằm phục vụ cho công tác lâm nghiệp trong tương lai. Nhằm đánh dấu bước chuyển biến trong quá trình học tập sau khoá học tại trường, đồng thời cũng nhằm củng cố và hoàn thiện kiến thức, được sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Lâm học và các Thầy cô giáo, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp “Đánh giá sinh trưởng và tổng kết kinh nghiệm gây trồng một số loài cây gỗ bản địa trồng dưới tán rừng tại Trung tâm Khoa học và sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ Đại Lải Vĩnh Phúc” dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Phạm Xuân Hoàn, ThS. Nguyễn Trung Thành và các Thầy cô trong bộ môn Lâm sinh. Với kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, do lần đầu thực hiện nghiên cứu độc lập nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô và các bạn đọc thông cảm và góp ý kiến chỉ bảo thêm cho tôi. Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Ban chủ nhiệm khoa Lâm học, các Thầy cô trong Bộ môn Lâm sinh, Ban lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên tại Trung tâm Khoa học và sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ, gia đình, các bạn bè đồng nghiệp những người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện khoá luận tốt nghiệp. Đặc biệt, cho tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Phạm Xuân Hoàn, ThS. Nguyễn Trung Thành Trường Đại học Lâm nghiệp và KS. Triệu Hiền Trung tâm KHSXLN Đông Bắc Bộ đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện khoá luận. Tôi xin chân thành cảm ơn PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sự phát triển của xã hội loài người, rừng được coi là một nguồn tài nguyên có vai trò vô cùng quan trọng bởi những ảnh hưởng mang tính toàn cầu của nó. Rừng không chỉ cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà còn có nhiều ý nghĩa lớn hơn ơ trong nhiều lĩnh vực như: Bảo vệ môi trường sinh thái, du lịch cảnh quan, nghiên cứu khoa học, các giá trị nhân văn, .v.v Tuy nhiên, sự tàn phá rừng trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống con người, mất rừng gây nên sự biến đổi theo hướng tiêu cực của khí hậu toàn cầu, đất đai bị rửa trôi xói mòn nặng nề, các lòng sông lòng hồ bị bồi lấp, an ninh lương thực bị đe doạ, các sản phẩm từ rừng đang dần bị cạn kiệt trong khi nhu cầu của xã hội luôn tăng theo thời gian,.v.v Đứng trước tình hình đó, trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, việc khôi phục lại lớp thảm thực vật đã bị mất đi đang được coi là một yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết với một yêu cầu bắt buộc là lớp thảm thực vật gây trồng được phải đảm bảo chức năng bền vững lâu dài. Trong những năm gần đây, chính phủ đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng kinh tế với hiệu quả ban đầu tương đối khả quan. Song do chạy theo xu thế phát triển kinh tế, vốn đầu tư còn hạn chế nên các chương trình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập trung vào các loài cây mọc nhanh như: Keo, Bạch đàn, Bồ đề,.v.v những loài cây này mới chỉ đáp ứng được mục tiêu kinh tế chứ đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, tính bền vững chưa cao. Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp, nghành Lâm nghiệp đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng được hé mở. Ngày nay, người ta đã biết được những lợi ích to lớn mà các loài cây bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây của tự nhiên, có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, thân thiện với môi trường sinh thái. Ngoài ra, chúng mang những ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ có nhiều thuận lợi hơn. Trung tâm Khoa học và sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ là trung tâm vùng trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành gây trồng một số mô hình trồng cây bản địa dưới tán rừng, điển hình là mô hình trồng 10 loài cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ tại khu vực Lũng Đồng Đành và trồng 180 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm tạo thành một vườn sưu tập thực vật tại khu vực Năm Xà Lũng. Theo đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng cụ thể nào nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa này mà mới chỉ có điều tra sơ bộ để đánh giá và chọn ra một số loài có triển vọng tại khu rừng trồng dưới tán Keo lá tràm, khu rừng trồng dưới tán Thông mã vĩ vẫn chưa có một điều ra nghiên cứu nào kể từ ngày tiến hành gây trồng. Do vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình sinh trưởng và tổng kết kỹ thuật gây trồng một số loài cây gỗ bản địa dưới tán rừng tán rừng tại Trung tâm Khoa học và xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ” nhằm bước đầu đánh giá hiệu quả công tác trồng rừng thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh nhằm thúc đẩy sinh trưởng của các loài cây bản địa, đồng thời tổng kết kinh nghiệm gây trồng chúng nhằm góp phần nhân rộng một cách có hiệu quả các mô hình trồng cây bản địa dưới tán rừng. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1. Trên thế giới 2.1.1. Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở E.P.ODUM với nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học làm cơ sở cho nghiên cứu hệ sinh thái rừng. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng mưa nhiệt đới. Geoge N Baur (1952, 1964, 1976) đã nghiên cứu cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng nhiệt đới. Tác giả đã tổng kết những biện pháp xử lý kỹ thuật lâm sinh nhằm đem lại rừng đồng tuổi và không đồng tuổi trong kinh doanh rừng nhiệt đói ở các châu lục khác nhau. Richards PW (1952), Cantinot (1965) đã đi sâu vào biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng biểu đồ các nhân tố cấu trúc được mô tả, phân loại theo dạng sống, tầng phiến, tầng thử . Parde (1961), bottam (1972), Rollet (1979) đã vận dụng toán học thống kê để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng,định lượng hoá các quy luật, đồng thời làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật. 2.1.2. Những cộng trình nghiên cứu thực tiễn Các công trình đi sâu vào nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật về tái sinh các loài cây gỗ bản địa bằng phương pháp trồng dặm, trồng thêm vào rừng nghèo, rừng tái sinh kém, .nhằm nâng cao chất lượng và trữ lượng gỗ bằng nhiều phương pháp như trồng theo rạch, theo băng, theo đám, trồng dưới tán .và đã được áp dụng ở nhiều nước như: Nijênia, Cônggô, Camerun, Gabon, Côtdivoa . Tại Nhật Bản: Kasama Forest Technology Center đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều độ cao khác nhau ở vùng Tsucuba (có độ cao 876m so với mực nứoc biển ) cho cả loài cây Tuyết tùng (Japanese Cedar) và đã đưa ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến từng cây. Tại Đài Loan và một số nước châu Á đã đưa cây bản địa trồng ở những vùng đất trống đồi núi trọc sau khi đã trồng phủ xanh bằng cây lá kim kết quả là tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ, chống xói mòn đất. 2.2. Trong nước 2.2.1. Các công trình nghiên cứu mang tính chất cơ sở Về cấu trúc rừng: có rất nhiều rất nhiều tác giả đã sử dụng hàm thống kê toán học để nghiên cứu định lượng cấu trúc: Đồng Sĩ Hiển (1974), Nguyễn Hải Tuất (1986, 1990), Vũ Tiến Hinh (1990) đã sử dụng các hàm hồi quy và hàm thống kê để mô tả hiện trạng cấu trúc rừng cho cả rừng tự nhiên và rừng trồng. Nguyễn Văn Trương (1983), Phùng Ngọc Lan (1986) và Vũ Tiến Hinh (1987,1988) đã nghiên cứu và tìm ra những kết quả làm căn cứ xây dựng mô hình rừng có sản lượng, tăng trưởng ổn định (về một số nhân tố chủ đạo). Về phân loại trạng thái rừng: có các công trình của Trần Ngũ Phương(1963), Thái Văn Trừng (1978), Vũ Biệt Linh (1984) đã nghiên cứu và có những thành tựu có tầm quan trọng to lớn. Về sinh thái học: có các công trình của Thái Văn Trừng (1948) về đặc điểm hình thành rừng ngập mặn ở Cà Mau, thảm thực vật trên những đồi trọc vùng trung du miền núi phía Bắc (1959). 2.2.2. Các công trình nghiên cứu trong thực tiễn nhằm phát triển các loài cây bản địa Trần Nguyên Giảng (19611963 và 19601962), Trần Xuân Tiếp Lê Xuân Tám (19631967) đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi cây bản địa nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình tu bổ lại tầng cây cao có giá trị trong lâm phần rừng. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Trần Nguyên Giảng đã xây dựng thành công mô hình trồng hỗn loài cây bản địa dưới tán cây phù trợ và đã có báo cáo tổng kết sơ bộ tình hình sinh trưởng của rừng ở khu vực nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái cũng như mối quan hệ tương hỗ giữa các loài cây này. Năm 1996, Trần Nguyên Giảng đã nghiên cúu trồng 10 loài cây bản dưới tán rừng Keo lá tràm và Keo Tai tượng tại vườn Vườn Quốc gia Cát Bà – Hải Phòng. Tác giả cho rằng hai loài cây này có tác dụng cải tạo bảo vệ đất, phù trợ cho cây bản địa mọc và phát triển nên chứng tỏ cách làm như vậy là đúng. Nhưng đến năm 1998, kết qủa đạt được lại không giống như vậy, cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt, trong khi đó cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng thì có tỷ lệ sống thấp, sinh trưởng, phát triển kếm không có triển vọng tồn tại. Tác giả giải thích đó có thể là do nhu cầu nước của Keo tai tượng là rất lớn làm cho đất luôn khô cứng nên không cải thiện được môi trường đất. Trường Đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai Chương Mỹ Hà Tây) đã xây dựng vườn sưu tập các loài cây trồng dưới tán rừng Thông nhựa và đã tìm ra được các loài cây thích nghi cũng như những loài cây không thích nghi khi trồng dưới tán rừng cây lá kim. Trung tâm KHSX Lâm Nghiệp Đông Bắc Bộ (Ngọc Thanh Phúc Yên Vĩnh Yên) đã thử nghiệm cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ những năm 2000 và 2001 trên diện tích 10 ha tại khu vực Lũng Đồng Đành bao gồm 5 loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao:Lim xanh, Lim xẹt, Re hương, Ràng ràng xanh và Dẻ Yên Thế. Ngoài ra trung tâm cũng xây dựng một khu vườn sưu tập thực vật trông trên 180 loài cây bản địa cùng với cây phù trợ là Keo lá tràm và Keo tai tượng (1996 2001)
Xem thêm

58 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ LOẠI CÂY LSNG ĐỂ LÀM THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC SÁN DÌU XÃ SƠN NAM, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ LOẠI CÂY LSNG ĐỂ LÀM THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC SÁN DÌU XÃ SƠN NAM, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

trọng này trong khoảng 10 năm lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc đặc biệt quantâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan.Nhiều công trình điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây thuốccủa các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm vừa qua.Trong khoảng thời gian 1994- 2005, phòng Thực vật dân tộc học thuộc Viện SinhThái và Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộcngười H’mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mu, Tày, Nùng, Hoa ở các tỉnh LàoCai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang.Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự nghiên cứu khá chi tiết thành phần loài câythuốc của dân tộc Thái tại Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Trần Văn Ơn nghiên cứu kinhnghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại vườn quốc gia Ba Vì.Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác được công bố, Ty Thị Hoànnghiên cứu sử dụng cây thuốc của người Cao Lan tại Tuyên Quang, Trần Thị Dungnghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc Bru - Vân Kiều tại QuảngTrị. Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc ở nước ta có nhiều trithức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng chữa bệnh.Cùng với việc điều tra về thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc củacộng đồng dân tộc thiểu số, nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc để ứng dụngrộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội đượcchú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây. Từ kinh nghiệm truyền thống củadân tộc Tày, nhóm nghiên cứu của Đại học Dược Hà Nội đã sản xuất thành côngthuốc chữa đau dạ dày từ cây chè dây (Ampelopsis cantoniensis). Viện sinh thái vàTài nguyên sinh vật đã đưa vào thử nghiệm lâm sàn bài thuốc chữa phì đại tuyếntiền liệt TLC- 02 được phát triển từ bài thuốc dân gian của dân tộc Tày ở Cao bằng.Hiện nay nhiều bài thuốc dân tộc đang được đánh giá và nghiên cứu thực nghiệm ởnhiều cơ quan nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt chất ức chế ung thư của dịch chiết từcây Ngái (Ficus hispida) tại Đại học khoa học tự nhiên, nghiên cứu các bài thuốcdân tộc chữa sỏi thận, viêm gan tại viện Y học cổ truyền trung ương. Có thể nhận
Xem thêm

69 Đọc thêm

tìm hiểu thị trường lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn huyện đakrông, tỉnh quảng trị

TÌM HIỂU THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

địa phương khó đến được với người dân do các phương tiện nghe nhìn của người dân còn đang hạn chế. - Kiến thức về kĩ thuật chế biến: thiếu hỗ trợ về kĩ thuật chế biến LSNG. Các loại LSNG mà người dân buôn bán với thương lái hoặc các doanh nghiệp thường là các sản phẩm thô, không qua chế biến nên giá thành rất thấp.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU** Phân tích SWOT về phát triển LSNG ở khu vực nghiên cứu:- Tài nguyên rừng theo đó càng ngày càng bị suy giảm theo mức độ phát triển của đất nước. Là một huyện miền núi việc phát triển kinh tế của Đakrông không tách rời khỏi rừng, tài nguyên rừng.- Để quản lý tốt hơn nữa nguồn tài nguyên LSNG thì trước hết cần xác định được yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển chúng và đặc biệt là hoạt động gây trồng Điểm mạnh- Diện tích rừng tự nhiên còn nhiều, số lượng LSNG đa dạng.- Người dân gắn bó với rừng.- Điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu thủy văn) phù hợp cho gây trồng.- Người dân có vốn kiến thức bản địa phong phú.- Một số loài LSNG đã gây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Điểm yếu
Xem thêm

29 Đọc thêm

Đề cương ôn tập lâm sản ngoài gỗ

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LÂM SẢN NGOÀI GỖ

Câu1: Anh chị hiểu thế nào về lâm sản ngoài gỗ? Câu2 : ưu, nhược điểm của các pp phân loại LSNG? Câu3 : hẫy phân tích giá trị của LSNG về kinh tế xã hội môi trường? Câu4 : phân tích tiềm năng LSNG ở VN? Câu 5: phân tích thị trường LSNG ở VN? Câu 6: Anh (chị) hãy kể tên các loài cây cho sợi thuộc nhóm tre nứa. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó? Câu 7: Anh (chị) hãy kể tên các loài cây cho sợi thuộc nhóm song mây. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó? Câu 8: Anh (chị) hãy kể tên các loài cây trong nhóm cho sợi khác ngoài tre nứa, song mây, cau dừa? Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó. Câu 9: : Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cho dầu béo? Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó. Câu 10: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cho nhựa sáp. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó. Câu 11: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cho tinh dầu. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó. Câu 12: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cho sơn, tanin, chất nhuộn. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó. Câu 13: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cho củ, quả ăn được. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài đó? Câu 14: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm làm rau ăn. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng? Câu 15: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm cây cho lương thực, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Nêu bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng của các loài cây đó. Câu 16: Anh (chị) hãy kể tên các loài LSNG thuộc nhóm làm cảnh. Nêu khả năng ứng dụng trong tạo cảnh của các loài. Câu 17: Anh (chị) hãy kể tên các loài cây dùng làm thuốc bổ. Nêu bộ phận sử dụng và công dụng của từng loài? Câu 18: Anh (chị) hãy kể tên các loài cây dùng làm thuốc chữa các nhóm bệnh: đau đầu, cảm cúm, đau bụng, bênh ngoài da. Nêu bộ phận sử dụng và cách sử dụng của các loài cây đó? Câu 19: Trình bày các công cụ PRA sử dụng trong điều tra, đánh giá LSNG sau: phỏng vấn, vẽ sơ đồ, điều tra tuyến, thống kê các loài LSNG. Câu 20: Trình bày công cụ xếp hạng ưu tiên các loài LSNG và công cụ kênh thị trường LSNG. Câu 21: Phân tích khó khăn, xác định giải pháp và lập kế hoạch phát triển LSNG ở cộng đồng?
Xem thêm

37 Đọc thêm

Danh sách 100 loài sinh vật xâm hại nguy hiểm nhất trên thế giới pps

DANH SÁCH 100 LOÀI SINH VẬT XÂM HẠI NGUY HIỂM NHẤT TRÊN THẾ GIỚI PPS

vàng quanh năm suốt tháng mà vẫn khoẻ, thịt ốc là loại thức ăn bổ dưỡng, nhưng do thu nhận ngoài ruộng nên có thể dính thuốc bảo vệ thực vật. Chỉ cần chế biến kỹ và không ăn thịt ốc sống là ok.Về cá chép, Thịt cá chép vừa ngon, bổ dưỡng, vừa là thuốc chữa bệnh, đặc biệt cho phụ nữ có thai (dùng an thai, chữa động thai, nôn mửa, )Về cá trê, Đông y cho rằng cá trê có tác dụng dưỡng huyết, điều kinh, làm da hồng hào tươi nhuận, chữa đau lưng mỏi gối, chóng mặt, di tinh. Ngoài ra, loại cá này còn giúp chữa chảy máu cam, suy giảm tình dục, giải cảm.Về chuột nhắt nói riêng và chuột nói chung, Chuột có hai đôi răng cửa rất bén, mọc dài ra liên tục phải được giữ cho ngắn bằng cách nhai thường xuyên (gọi là gặm nhấm). Tập tính này gây thiệt hại cho các công trình kiến trúc Chuột cực kỳ nhanh nhẹn, là những tay leo xuất sắc, hay xâm nhập vào các toà nhà Chuột còn có thể truyền bệnh cho người và vật nuôi, đặc biệt là bệnh dịch hạch, thương hàn, dịch tả, kiết lỵ.Về mèo, Mèo giữ vị trí quán quân trong danh sách các "động vật trị liệu". Mèo là sinh vật tuyệt diệu giúp giải stress và mệt mỏi cho con người. Trị liệu bằng mèo là phương pháp rất phổ biến. Nghe có vẻ kỳ lạ nhưng mọi hành vi của mèo đều có thể chữa bệnh cho người. Tiếng gừ gừ của nó có tần số 4-16 Hz theo một cách nào đó đã cải thiện hệ miễn dịch. Mèo cũng có khả năng bí ẩn nhận dạng những nội tạng đang đau đớn của con người. Khi một con mèo cảm thấy bà chủ có nội tạng đang ốm, nó sẽ ngồi sát vào cô ấy, kêu gừ gừ, giậm chân và liên tục cào nhẹ bằng bộ móng của mình (thật sự đã có Mèo Oscar tiên đoán cái chết) (Trích: http://forum.vietpet.com/archive/index.php/t-11530.html)Mời các bạn xem thêm cái này: http://vietpet.com/forum/showthread.php?p=8434Mèo cũng đáng yêu lắm chứ! *-*
Xem thêm

14 Đọc thêm

SỬ DỤNG KIẾN THỨC MAKETING CƠ BẢN ĐỂ TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI SAU ĐÂY :

SỬ DỤNG KIẾN THỨC MAKETING CƠ BẢN ĐỂ TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI SAU ĐÂY :

- Tính khách quan kém- Có thể dẫn đến hiện tượng “ngộ độc quảng cáo” (quảng cáo phản tác dụng)- Độ chọn lọc khách hàng mục tiêu kém (vì quảng cáo đại trà)2.Quan hệ công chúng -Vừa mới ra đời, Ikun đã tích cực cùng với đàn anh, đàn chị đi trước tham gia nhiều hoạt động công chúng như: Chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường, nguồn sáng cho đời, sống đúng để sống khoẻ... đã tạo được sự chú ý lớn đối với cộng đồng.*Ưu điểm:+ Có tác động dài hạn+ Giúp sản phẩm dễ dàng đi vào lòng người+ Công chúng đặc biệt là khách hàng cởi mở hơn đối với hoạt động PR.*Nhược điểm:+ Không có tác động mạnh và tức thời+ Đòi hỏi cần thực hiện xây dựng chiến lược+ Thành phần giữ trạng thái thờ ơ trong công chúng là rất lớn.+ Chi phí dành cho quan hệ công chúng có thể bị khách hàng nhìn nhận là một khoản chi chí không cần thiết.3.Tài trợ sự kiện-Ikun đã tham gia tài trợ nhiều sự kiện như: + Giải sinh viên văn thể mỹ 2010 do kênh Let’s VTC9 phối hợp công ty cổ phần truyền thông đa phương tiện Latsata, bộ giáo dục đào đạo, tổng cục thể dục thể thao, Liên đoàn bóng đá Việt Nam phối hợp tổ chức.
Xem thêm

5 Đọc thêm

luận văn đề tài đánh giá mức độ xâm lấn của các loài cây dại ở vườn quốc gia bạch mã nhằm đề ra biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học

LUẬN VĂN ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XÂM LẤN CỦA CÁC LOÀI CÂY DẠI Ở VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ NHẰM ĐỀ RA BIỆN PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

conyzoides, Chromolaena odorata, Panicum sp Ngoài ra các loài này còn khống chế sự tái sinh của các trảng cỏ và trảng cây bụi tự nhiên (Sim, Mua ), từ đó đã ngăn chặn sự diễn thế phục hồi. Một báo động là loài Ma dương (Mimosa pigra), hiện đã tìm thấy rất nhiều ở hai bên bờ sông Truồi cũng như ở các vùng phụ cận, một số gia đình vẫn trồng loài cây này để làm hàng rào, chống trâu bò phá hoại vườn vì vậy cần phải có những khuyến cáo đến tận người dân để họ hiểu rõ được tác hai của chúng mang lại, hạn chế, tiêu diệt loài này nhằm bảo vệ sự yên lành cho hệ thực vật bản địa. Như mức độ nguy hiểm của nó ở trên, loài này đã tác động mạnh đến nhiều nơi như VQG Cát Tiên, khu du lịch Đồng Mô - Ngải Sơn. Bên cạnh đó, thực vật theo người như: Mimosa pigra, M. invisa và M. pudica, Bidens pilosa, Rubus alceaefolius phân bố khá nhiều dọc hai bên đường giao thông và đường tàu. Nhìn chung, khu vực phục hồi sinh thái Nam Truồi hiện đã bị tác động và số lượng các loài cây xâm lấn là tương đối nhiều vì ở đó sinh cảnh còn trống. 2.4. Hiện trạng phân khu dịch vụ hành chính và vùng xung quanh Số lượng các loài cây xâm lấn ở khu vực đã thống kê được là 68 loài trong đó có tới 31 loài đang ở cấp độ xâm lấn 3
Xem thêm

21 Đọc thêm

TỔNG QUAN về cây CHÓC máu SALACIA l

TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÓC MÁU SALACIA L

Chi Salacia L. có khoảng 150 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của 2 nửa bán cầu. Một số loài thuộc chi này như S. reticulata, S. oblonga, S. chinensis đã được sử dụng làm thuốc điều trị đái tháo đường từ hàng ngàn năm nay trong Y học cổ truyền Ayurveda. Nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao đã được phân lập từ các loài nói trên, trong đó hợp chất salacinol là một trong những hợp chất tự nhiên có hoạt tính ức chế glucosidase mạnh nhất được biết đến. Ở Việt Nam có 14 loài Salacia, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ như: Nghệ An, Huế, Quảng Trị, Lâm Đồng, Kiên Giang... Nhưng chỉ có loài chóc máu S. chinensis được dùng theo kinh nghiệm làm thuốc và gần đây đã được nghiên cứu về thành phần hóa học, còn các loài khác hoàn toàn chưa được nghiên cứu. Để góp phần tìm hiểu khả năng khai thác các loài thuộc chi Salacia làm thuốc, chúng tôi đã thu thập được một số mẫu từ các loài Salacia khác nhau làm đối tượng nghiên cứu hóa học.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Gián án 8 loài động vật có nguy cơ bị xâm hại

GIÁN ÁN 8 LOÀI ĐỘNG VẬT CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI

cá và cá cảnh). (Ảnh: jjphoto)6. Sứa Lược Leidyi - Mnemiopsis leidyiSứa Lược Leidyi là loài bản địa thuộc vùng tây Atlantic, tuy nhiên sự bùng nổ số lượng quần thể của chúng ở vùng Biển Đen đã dẫn đến sự thay đổi rất lớn đối với cấu trúc hệ sinh thái ở đây do chúng ăn thịt cá con. Ngoài ra chúng cũng ăn thịt cả các loài thân mềm sống nổi và ấu trùng các loài động vật giáp xác. (Ảnh: infovek)7. Trai Địa Trung hải - Mytilus galloprovincialisTrai địa trung hải xâm nhập vào Nam Châu Phi và đang cạnh tranh thế chỗ các loài trai đenvà nâu bản địa. Đôi lúc Trai Địa Trung Hải còn được gọi là trai xanh và dễ bị nhầm lẫn vớiloài Mytillus edilus. Đây là một loài được du nhập vào Hawaii và nhiều nơi khác thuộc Mỹ.(Ảnh: aquamuseum)8. Trai Trung Hoa - Potamocorbula amurensisTrai Trung Hoa có nguồn gốc ở Nhật Bản, Trung Quốc và Triều Tiên, được du nhập vào Mỹ và gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường nước ở đây do chúng đã cạnh tranh thế thếđược vị trí của các quần xã sinh vật đáy bản địa cũng như tiêu diệt quần xã thực vật nổi. (Ảnh: marine.csiro)(Những loài không có trong danh sách không có nghĩa là kém nguy hiểm hơn)
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bài giảng 8 loài động vật có nguy cơ bị xâm hại

BÀI GIẢNG 8 LOÀI ĐỘNG VẬT CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI

cá và cá cảnh). (Ảnh: jjphoto)6. Sứa Lược Leidyi - Mnemiopsis leidyiSứa Lược Leidyi là loài bản địa thuộc vùng tây Atlantic, tuy nhiên sự bùng nổ số lượng quần thể của chúng ở vùng Biển Đen đã dẫn đến sự thay đổi rất lớn đối với cấu trúc hệ sinh thái ở đây do chúng ăn thịt cá con. Ngoài ra chúng cũng ăn thịt cả các loài thân mềm sống nổi và ấu trùng các loài động vật giáp xác. (Ảnh: infovek)7. Trai Địa Trung hải - Mytilus galloprovincialisTrai địa trung hải xâm nhập vào Nam Châu Phi và đang cạnh tranh thế chỗ các loài trai đen và nâu bản địa. Đôi lúc Trai Địa Trung Hải còn được gọi là trai xanh và dễ bị nhầm lẫn với loài Mytillus edilus. Đây là một loài được du nhập vào Hawaii và nhiều nơi khác thuộc Mỹ.(Ảnh: aquamuseum)8. Trai Trung Hoa - Potamocorbula amurensisTrai Trung Hoa có nguồn gốc ở Nhật Bản, Trung Quốc và Triều Tiên, được du nhập vào Mỹ và gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường nước ở đây do chúng đã cạnh tranh thế thế được vị trí của các quần xã sinh vật đáy bản địa cũng như tiêu diệt quần xã thực vật nổi. (Ảnh: marine.csiro)(Những loài không có trong danh sách không có nghĩa là kém nguy hiểm hơn)
Xem thêm

5 Đọc thêm

Chi Mận mơ pps

CHI MẬN MƠ PPS

 Prunus maackii - anh đào Mãn Châu. Đông bắc châu Á.  Prunus mahaleb - anh đào St Lucie, hay anh đào Mahaleb. Châu Âu.  Prunus mume - mơ ta hay mơ Nhật Bản. Trung Quốc và Nhật Bản.  Prunus nipponica - anh đào núi Nhật Bản. Nhật Bản.  Prunus padus - anh đào dại. miền bắc đại lục Á-Âu.  Prunus persica - đào, nguồn gốc không chắc chắn, có lẽ từ Tây Á.  Prunus prostrata - anh đào núi. Khu vực Địa Trung Hải.  Prunus ramburii  Prunus salicina - mận Nhật Bản. Trung Quốc, Nhật Bản.  Prunus sargentii - anh đào Sargent. miền bắc Nhật Bản.  Prunus serrula - anh đào Tây Tạng. Miền tây Trung Quốc tới Trung Á.  Prunus serrulata - anh đào Nhật Bản (Sakura). Đông Á. Cây anh đào Nhật Bản (Prunus serrulata) nở hoa  Prunus sibirica - mơ Siberi. Đông bắc châu Á.  Prunus simonii - mận mơ. miền bắc Trung Quốc.  Prunus sogdiana  Prunus speciosa - anh đào Oshima. Các đảo Oshima & Izu của Nhật Bản.  Prunus spinosa - mận gai. Châu Âu, Bắc Phi, Tây Á.  Prunus subhirtella - nguồn gốc không chắc chắn, có lẽ từ Đông Á.  Prunus tenella - hạnh lùn Nga. Khu vực biển Đen.  Prunus tomentosa - anh đào lông. Tây nam Trung Quốc, Himalaya.  Prunus ussuriensis  Prunus ursina  Prunus yedoensis - anh đào Yoshino. Nhật Bản, có thể có nguồn gốc là cây lai giống. [sửa]Bắc Mỹ  Prunus allegheniensis - mận Allegheny. Trong dãy núi Appalachian.  Prunus americana - mận Mỹ. Phần lớn ở Hoa Kỳ về phía đông của Đại Bình nguyên (Great Plains) và miền cực nam Canada.
Xem thêm

5 Đọc thêm

HIỆN TRẠNG THỰC VẬT RỪNG CHO LÂM SẢN NGOÀI GỖ PHỤC VỤ CHO SINH KẾ CỦA NGƯỜI PACO

HIỆN TRẠNG THỰC VẬT RỪNG CHO LÂM SẢN NGOÀI GỖ PHỤC VỤ CHO SINH KẾ CỦA NGƯỜI PACO

- Phương pháp PRA: Sử dụng công cụ thảo luận nhóm thông qua họp dân.- Phương pháp điều tra thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn điển hình có diện tích 2000m2.- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng thống kê toán học dưới dạng bảng biểu để tổng hợp số liệu.III. Kết quả và thảo luận1. Thực trạng thực vật rừng cho LSNG tại địa bàn nghiên cứuRừng tự nhiên ở huyện A Lưới là rừng hỗn loài với kết cấu nhiều tầng tán, tính đa dạng loài rất cao. Kết quả điều tra các loài thực vật rừng cho LSNG trên các ô tiêu chuẩn ngoài thực địa sơ bộ đã thống kê được 76 loài thuộc 47 họ. Như vậy có thể thấy rằng thực vật rừng cho LSNG ở đây tương đối phong phú về thành phần loài, trong đó họ có nhiều loài nhất là họ cau dừa (Arecaceae), và các họ có số loài ít nhất là họ thông (Pinaceae), họ na (Annonaceae) và một số họ khác. Qua điều tra cho thấy, hầu hết các loài thực vật rừng cho LSNG tại khu vực đều phát triển mạnh trên đất bỏ hóa sau một vụ làm rẫy và phân bố khá rộng từ sườn đồi đến đỉnh đồi. Sự đa dạng về thành phần loài thực vật rừng cho LSNG tại địa bàn nghiên cứu sẽ kéo theo sự đa dạng về công dụng và giá trị kinh tế của rừng. Theo kinh nghiệm và mục đích sử dụng của 1người dân, chúng tôi tiến hành phân chia thực vật rừng cho LSNG thành 10 nhóm, kết quả được thể hiện ở bảng 01. 2Bảng 01. Phân chia thực vật rừng cho LSNG tại địa bàn nghiên cứu theo giá trị sử dụngSTT Giá trị sử dụng Số loài Tỷ lệ % 1 Thức ăn 41 53,92 Củi 32 42,13 Dược liệu 21 27,64 Vật liệu xây dựng và đồ gia dụng 11 14,55 Chất béo 10 13,26 Tinh bột 9 11,87 Tinh dầu 8 10,5
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Trồng Rừng Tràm pdf

TÀI LIỆU TRỒNG RỪNG TRÀM PDF

Thực bì có thể chia làm 2 loại: + Loại 1: thành phần thảm thực vật chủ yếu là cỏ năng, cỏ ống, cỏ mồm, cỏ bàng. Những loài cỏ này thường mọc trên đất thấp, có thời gian ngập nước dài. + Loại 2: Thành phần chủ yếu là đưng, cây mua, tràm gió, dây chọi và một số dây leo cây bụi khác. Chúng thuờng mọc dày hoặc mọc từng đám và trên đất cao có thời gian ngập nước ngắn. Cách phân biệt loại thực bì như trên giúp ta quyết định khâu làm đất: như đối với thực bì loại 1 thì có thể xử lý hoặc không xứ lý, nhưng đối với thực bì loại 2 thì nên xử ly trước khi làm đất. Về xử lý thực bì có 3 cách làm như sau: Thủ công: phát dọn toàn diện cỏ dại và cây bụi, gom lại thành đống và đốt. Tiến hành đốt vào lúc sáng sớm hoặc cuối buổi chiều. Trước khi đốt cần phải làm ranh cản lửa và đốt từ cuối hướng gió. Công việc phát dọn này nên tiến hành vào đầu mùa khô, khoảng tháng 2 – 3. Xử lý băng cơ giới: Có thể sử dụng máy kéo có bánh lồng trục đất vào mùa nước rút khi mực nước ngập ngoài hiện trường còn khoảng 0,4 – 0,6m để nhấn chìm thực bì trong đất. Sau khi loại bỏ thực bì, các loại cỏ rác trôi nổi trên mặt nước cần phải được thu dọn và gom lại để dọc bờ bao của lô trồng rừng. Kết hợp thủ công và cơ giới: Sau khi phát đốt thực bì, thì sử dụng máy cày để cày lật đất từ 1 – 2 lần vào tháng 4 – 5, Làm đất: Có 2 cách làm đất, lên líp nhẹ hoặc không lên líp: Lên líp nhẹ: tạo líp rộng 4 m, cao từ 0, 2m – 0,3m, mương rộng tối đa 1,3m, có thể lên líp bằng thủ công hoặc bằng cơ giới tùy theo điều kiện sẵn có . Không lên líp: tận dụng mặt đất tự nhiên, nhưng phải tạo hệ thống rãnh thoát nước có độ sâu 0,5m và chiều rộng 1,5m, các rãnh mương phải cách nhau từ 10 – 15 m. Mục đích của các mương này là để rửa phèn trong đất giúp cây sinh trưởng tốt. 2.2/ Kỹ Thuật Trồng và chăm sóc: 2.2.1/ Mùa trồng rừng: Đối với cây con có túi bầu: Mùa trồng rừng phù hợp là tháng 5 – 6, hoặc tháng 11 - 12.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Chữa bệnh bằng ấu trùng potx

CHỮA BỆNH BẰNG ẤU TRÙNG POTX

Chữa bệnh bằng ấu trùng Trong thiên nhiên, có một số ấu trùng dưới dạng sâu của những loài côn trùng như ong, xén tóc, bướm, bọ hung đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh phổ biến theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Sâu ong là ấu trùng của ong bò vẽ (Vespa mandarina Smith), tên khác là ong vò vẽ, ong bắp cày, ong đất, ong khổng lồ, có thân mềm, màu trắng ngà, chứa nhiều acid amin, chất béo, vitamin, đường và muối khoáng. Dược liệu có vị ngọt, mặn, tính mát, có độc, tác dụng giảm đau, chống nôn, tăng lực, bền cơ. Sâu ong 3-5g sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày chữa ngực bụng đau, nôn khan. Có thể sao vàng, tán bột, trộn với mật mà uống. Dịch chiết từ sâu ong được pha chế thành dạng nước uống có tên là VAAM (Vespa amino acid mixture) có tác dụng làm giảm mỏi cơ bắp, nâng cao thể lực và sức bền. Thuốc được dùng cho những vận động viên chạy đường dài (marathon) làm họ chạy bền sức, nhanh và xa hơn. Ong non cũng được chế biến và sử dụng như ấu trùng. Sâu dâu hay nhậy dâu là ấu trùng của con xén tóc (Apriona germari Hope). Toàn thân sâu mềm nục, con nhỏ bằng đầu đũa, con to có thể bằng ngón tay, dài 3-5cm, màu trắng như sữa. Đầu hơi tròn dẹt, hàm trên khỏe, phần ngực có những chấm nhỏ màu nâu đỏ, phần bụng chia đốt. Chân rất nhỏ, có khi không rõ. Sâu sống trong thân cây dâu (lá để nuôi tằm) gặm lõi gỗ phát ra tiếng cọt kẹt. Khi dùng, tìm những lỗ thủng trên thân cây dâu, có phân đùn ra ngoài, cắt lấy và chẻ dọc để lấy sâu. Chỉ dùng những con to, dùng ngay hoặc phơi, sấy khô. Dược liệu có vị ngọt, mặn, béo, mùi thơm (khi sao), tính ấm, không độc, có tác dụng tiêu tích, giải độc, giảm ho, cầm máu. Theo sách thuốc cổ (Nam dược thần hiệu), sâu dâu 7 con đối với nam giới, 9 con đối với nữ giới nấu với gạo nếp thành cháo, ăn làm 3 lần trong ngày, chữa nốt đậu nung mủ. Theo kinh nghiệm dân gian, sâu dâu 3-5 con, hấp chín cùng với ít mật ong, rồi nghiền nát cho trẻ uống làm nhiều lần trong ngày chữa cam còm, đau mắt, chảy nhiều nước mắt, lở mũi miệng, ho sốt, kinh phong. Sâu dâu nướng qua, ngâm với rượu trắng trong nhiều ngày, uống chữa suy nhược, gầy yếu, hay mỏi mệt ở người cao tuổi. Để chữa ho, lấy sâu dâu nướng cho vàng giòn, tán
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tài liệu ĐIỀU TRA CÁC LOÀI RAU LÀM THUỐC PHỔ BIẾN VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CHÚNG Ở MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP potx

TÀI LIỆU ĐIỀU TRA CÁC LOÀI RAU LÀM THUỐC PHỔ BIẾN VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CHÚNG Ở MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP POTX

28,57%), thứ ba là họ Asteraceae (Họ cúc) với 13 loài (chiếm 3,87%), còn lại là những họ có số loài dưới 10 loài. Đây là những họ cây rau làm thuốc được bà con 3 xã Phú Cường, Phú Thọ, Phú Ninh gieo trồng và sử dụng làm rau, làm thuốc nhiều nhất, do những loài này phù hợp với khí hậu, đất đai ở nơi đây nên dễ chăm bón. Tuy nhiên những họ có số loài ít hơn lại chiếm tỷ lệ % cao hơn trong họ đó của hệ thực vật Việt Nam như: Apiaceae với 9/25 loài (chiếm 36%), Brassicaceae với 8/15 loài (chiếm 53,33%), Alliaceae với 4/9 loài (chiếm 44,44%) và Musaceae với 4/11 loài (chiếm 36,36%). Điều này phản ánh đây là những họ thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở nơi đây so với những địa phương khác trong cả nước. 3.2 Đa dạng về dạng thân của cây rau làm thuốc Bảng 3: So sánh các dạng thân cây rau làm thuốc tại 3 xã của huyện Tam Nông Dạng thân Cây thân gỗ Cây thân thảo Cây thân bụi Cây thân leo, bò Cây thân giả Tổng Số lượng loài 29,00 123,00 18,00 28,00 4,00
Xem thêm

6 Đọc thêm

điều tra cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của đồng bào dân tộc dao ở xã hợp tiến, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên

ĐIỀU TRA CÂY THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG THEO KINH NGHIỆM CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO Ở XÃ HỢP TIẾN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

thuốc. Trong sách Dư địa chí, Nguyễn Trãi viết: “Bạch Thông có quế, nhung, sâm(Bạch Thông khi đó thuộc Thái Nguyên). Theo sách Đại Nam nhất thống chí củaQuốc sử triều Nguyễn thì ở Thái Nguyên cam vàng, quýt đỏ ở huyện Tư Nông (PhúBình) ; hậu phác, sa nhân ở các châu huyện Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Lương đềucó ; nhung hươu, mật gấu, sáp ong, sơn phận các huyện đều có” [49]. Từ tháng 78năm 1958, Hội Đông y tỉnh Thái Nguyên và Hội Đông y Bắc Cạn đã được chínhthức thành lập và năm 1965, sát nhập thành Hội Đông y tỉnh Bắc Thái. Nhiều ônglang, bà mế giỏi đã được kết nạp vào hội. Nhiều bài thuốc gia truyền của các dântộc trên địa bàn Thái Nguyên đã được sử dụng rộng rãi trong việc chăm lo bảo vệsức khỏe nhân dân với phương thức Đông - Tây y kết hợp [49]. Ngoài Hội Đông ytỉnh Thái Nguyên được thành lập năm 1958, còn có Bệnh viện Y học cổ truyền(1994) chuyên lo việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo phương pháp cổtruyền. Trường Đại học Y nay đổi thành Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyênvà Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, là những nơi đào tạo các bác sĩ, các dượcsĩ. Trên khắp địa bàn tỉnh còn có các Phòng chẩn trị Y học cổ truyền với nhiềulương y giỏi, đã chữa khỏi nhiều căn bệnh cho nhân dân toàn tỉnh và cả nhân dâncác tỉnh lân cận [49]. Hơn thế nữa, nơi đây lại có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc lại có nhữngkinh nghiệm sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh, mang tính dân tộc riêng. Để ghilại những kinh nghiệm quý báu của mỗi dân tộc, nhiều công tình nghiên cứu đánhgiá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và bài thuốc gia truyền được tiến hành.Các công trình có thể kể đến: công trình nghiên cứu của CREDEP về đa dạng sinhvật, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức bản địa củacác dân tộc thiểu số ở huyện Phú Lương (1997 – 1998), huyện Phổ Yên (2006)[17]; Công trình nghiên cứu “Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyêncây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện Định Hóa, tỉnh TháiNguyên” (2007) của tác giả Lê Thị Thanh Hương [17], kết quả thống kê được 307loài có khả năng làm thuốc chữa bệnh thuộc 244 chi, 102 họ của 5 ngành thực vậtbậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Tày huyện Định Hóa sử dụng. Công trình
Xem thêm

49 Đọc thêm

Cùng chủ đề