TẮC ĐIỀU HÀNH NỘI DUNG HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TẮC ĐIỀU HÀNH NỘI DUNG HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU":

Phân tích Hội thoại và Đối thoại trong "Truyện Kiều"

PHÂN TÍCH HỘI THOẠI VÀ ĐỐI THOẠI TRONG "TRUYỆN KIỀU"

I. HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tập trung ngòi bút của mình vào nhân vật chính là Thúy Kiều. Ngay cả với Kim Trọng, ông cũng chỉ nói đến việc chàng trở lại vườn Thúy sau khi kể xong về cuộc đời Kiều trong suốt 15 năm lưu lạc. Đối với những gì không liên quan tới việc thể hiện tính cách của Thúy Kiều, không phục vụ cho việc biểu hiện tình cảm nhân đạo cao cả của ông đối với nàng thì Nguyễn Du hoàn toàn gạt bỏ. Ngoài nhân vật chính, Nguyễn Du lại xây dựng được hàng loạt nhân vật có cá tính và đã trở thành những nhân vật điển hình trong văn học: Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh... Ngay cả những nhân vật tưởng như rất phụ chỉ được nêu ra trong một số ít câu thơ, ông cũng để lại cho người đọc những hình ảnh khó quên. Như trong quyển Truyện Kiều đối chiếu, chúng tôi đã lập bản so sánh thì thấy cả hai hồi V, VI trong cuốn Kim Vân Kiều Truyện dài tới 40 trang trong bản dịch của Viện Văn học, Nguyễn Du cũng chỉ viết có 20 câu thơ chen vào đoạn tả việc Kiều quyết định bán mình ở đoạn trước. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đã lược bỏ tới hai phần ba của nguyên truyện: từ phần hoàn thành thủ tục hôn thú của Kiều với Mã Giám Sinh, cuộc vận động và quá trình Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh của Tú Bà, các trận đánh giữa quân của Từ Hải với quan quân của triều đình, quá trình Hồ Tôn Hiến dụ hàng... Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng lại cách kể của Thanh Tâm Tài Nhân mà câu chuyện diễn biến theo dòng thời gian đơn tuyến cũng vì đó là cách kể phổ biến trong các Truyện thơ Việt Nam thời bấy giờ. Tuy nhiên, ông loại bỏ hẳn một loạt nhân vật như Bộ Tân, Vệ Hoa Dương, người bảo trợ cho Thúc sinh chuộc lại Thúy Kiều, một loạt các tướng sĩ của Hồ Tôn Hiến... Tuy có giữ lại những sự việc, biến cố, nhân vật nhưng Nguyễn Du đã thay đổi thứ tự cách trình bày và thêm nhiều tình tiết, nhất là những đoạn tả tâm lý và thiên nhiên để tập trung cho việc thể hiện nhân vật trung tâm của mình. Muốn thấy rõ được việc Nguyễn Du tập trung vào nhân vật Thúy Kiều, ta chỉ cần nêu hai điểm sau đây: –Trong Truyện Kiều có 73 cuộc thoại và 33 lần độc thoại nội tâm thì riêng Thúy Kiều đã nói tới 76 lượt lời trong 45 cuộc thoại với 512 câu thơ và độc thoại nội tâm 18 lần với 130 câu thơ. Nghĩa là trong 3.254 câu Kiều thì tác giả đã dành riêng cho nhân vật chính 642 câu chỉ để tả lời ăn tiếng nói của nàng (hoặc trong lúc trò chuyện với các nhân vật khác hoặc trong những lúc nàng tự nhủ mình): gần một phần năm tác phẩm. – Chỉ đề tả 6 lần Thúy Kiều đánh đàn mà Nguyễn Du cũng đã dành tới 104 câu thơ trong đó riêng 2 lần đàn cho Kim Trọng nghe lúc đầu và cuối truyện đã có: 34 + 24 = 58 câu. Cho nên nhân dân ta đặt tên cho tác phẩm của Nguyễn Du là Truyện Kiều cũng không phải là không có lý do. Lời của các nhân vật chiếm tới 1.212 dòng thơ đối thoại tức một phần ba tác phẩm. Nếu kể cả 211 dòng độc thoại nội tâm thì có tới 1.423 dòng thơ trên 3.254 tức 43,7% dành cho hội thoại. Đây chính là đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại bởi qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ một cách trực tiếp. Với tỉ lệ lời thoại cao nên kịch tính cao và Truyện Kiều mang tính chất khá hiện đại. Trong quyển Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, giáo sư Phan Ngọc đã phải dành hẳn một chương viết về tính chất kịch trong truyện với nhan đề: Cách bố cục Truyện Kiều theo yêu cầu của kịch là vì vậy. Cho nên, nghiên cứu hội thoại trong Truyện Kiều là một vấn đề khá thú vị. Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày vấn đề và dùng các thuật ngữ trong quyển Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân (NXB Giáo dục –1998), đặc biệt là trong chương 3: Hội thoại, như các thuật ngữ: song thoại, tam thoại, đa thoại, cuộc thoại, lượt lời, cặp thoại, mở lời, thân thoại, kết thoại. Chúng tôi chỉ thay đổi thuật ngữ “độc thoại” bằng đơn thoại để tránh nhầm lẫn và thêm một thuật ngữ nữa là số lần thoại: Đó là số lần độc thoại và hội thoại. Nói đến hội thoại, ta cũng nên đề cập đến cấu tạo của từ hội thoại trong Truyện Kiều, không chỉ trong lời thoại của nhân vật mà ngay trong ngôn ngữ tác giả. Ở đây ta có thể nêu đủ các kiểu cấu tạo từ hội thoại như thêm, bớt, thay đổi yếu tố: – yếu tố đa phong cách cộng với yếu tố không có nghĩa khi đứng riêng thành từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể và sắc thái bình giá âm tính như bạc phau, đen rầm trong: 0911. Nàng thì dặm khách xa xăm, Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây, – yếu tố đa phong cách cộng với yếu tố đa phong cách có nghĩa không tương hợp với nghĩa của yếu tố thứ nhất thành từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể (mang ý nhấn mạnh) có sắc thái bình giá âm tính như nông sờ, tròn trặn, tìm tõi, nhắn nhe... – yếu tố đa phong cách hai âm tiết cộng với yếu tố lặp lại một bộ phận của yếu tố thứ nhất thành từ hội thoại mang sắc thái bình giá âm tính như lạ nước, lạ non, ăn xổi ở thì... – yếu tố đa phong cách cộng với yếu tố định ngữ có tính ẩn dụ thành từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể, khoa trương và sắc thái bình giá âm tính như sạch sành sanh, sạch làu làu... – tạo thành từ hội thoại nhờ ẩn dụ hoặc hoán dụ, thành từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể và sắc thái bình giá âm tính như Dễ lòa yếm thắm trôn kim – Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng... II. ĐƠN THOẠI. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Trong giao tiếp, có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Trong giao tiếp một chiều chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận, không phát biểu. Hình thức này thường gặp ở những mệnh lệnh, lời khấn và ngày nay trong diễn văn và lời của các xướng ngôn viên truyền thanh – truyền hình. Vậy là đơn thoại khi chỉ có một nhân vật phát biểu còn các nhân vật khác chỉ nghe hoặc không phát biểu, một người nói ra thành lời có người nghe nhưng không có lời đáp lại. Còn độc thoại dành cho nhân vật kịch nói một mình, hoàn toàn khác với độc thoại nội tâm là lời tự nhủ, tự mình nói với mình của các nhân vật sẽ được trình bày ở sau. Trong 31 lần đơn thoại của Truyện Kiều thì 11 lần là của Thúy Kiều. Lần đầu tiên, nàng chỉ nói có một câu: 0605. Quyết tình nàng mới hạ tình: – “Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”. Lần thứ hai là 14 câu nàng tâm sự với mẹ khi “Một nhà huyên với một Kiều ở trong”: 0877. – “Hổ sinh ra phận thơ đào, “Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong! 0879. “Lỡ làng nước đục bụi trong, “Trăm năm để một tấm lòng từ đây... Thúy Kiều nói nàng xấu hổ vì sinh ra là phận gái, không biết kiếp nào mới đền ơn được cha mẹ, bây giờ đã lỡ chỉ còn biết để lại tấm lòng thương nhớ cho cha mẹ. 0881. “Xem gương trong bấy nhiêu ngày, “ Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già. 0883. “Khi về bỏ vắng trong nhà, “Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng. 0885. “Khi ăn khi nói lỡ làng, “Khi thầy khi tớ, xem thường xem khinh, 0887. “Khác màu kẻ quý người thanh, “Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn... Nhận xét của Thúy Kiều rất có cơ sở, nếu ta chú ý đến 22 câu thơ tả đoạn độc thoại nội tâm của Mã giám sinh (0823–0844) thì thấy quả là hắn quá dùng dắng trước khi vào phòng Thúy Kiều, để khi ra lại quá vội vàng nên mới có cảnh: 0849. Đêm xuân một giấc mơ màng, Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ. mà kết thúc là nàng đành phó mặc cho số mệnh, sống chết nơi quê người: 0889. “Thôi con còn nói chi con, “ Sống nhờ đất khách thác chôn quê người!” Vương bà đã phải lặng người đi vì đau đớn: 0891. Vương bà nghe bấy nhiêu lời, Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên. Lần thứ ba đơn thoại trong Truyện Kiều lại là lời khấn của Tú bà mong cho cửa hàng đắt khách: 0941. – “Cửa hàng buôn bán cho may, “Đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu. 0943. “Muôn nghìn người thấy cũng yêu, “Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai. 0945. “Tin nhạn vẫn, lá thư bời, “Đưa người cửa trước, rước người cửa sau!” Tuy lời khấn của mụ Tú bà chỉ gồm có 6 câu mà ta cũng thấy có 4 lần tác giả dùng sóng đôi cú pháp : Một lần tiểu đối 3–3 và ba lần tiểu đối 4–4, đều là những câu bát cắt đôi, lời khấn cũng thực là nghiêm chỉnh và bài bản bởi mụ đã thuộc lòng. Những lần tiếp theo là lời báo mộng của Đạm Tiên hẹn gặp Kiều ở sông Tiền Đường: 0995. Rỉ rằng: –“Nhân quả dở dang, “Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao? 0997. “Số còn nặng nghiệp má đào, “Người dầu muốn quyết, trời nào đã cho. 0999. “Hãy xin hết kiếp liễu bồ, “Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.” Rồi lời tỏ tình bâng quơ của Sở Khanh nhằm lừa gạt Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích: 1065. – “Than ôi sắc nước hương trời, “Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây? 1067. “Giá đành trong nguyệt trên mây, “Hoa sao hoa khéo đoạ đầy bấy hoa? 1069. “Nổi gan riêng giận trời già, “Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng? 1071. “Thuyền quyên ví biết anh hùng, “Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!”. Rồi Thúc sinh 1395–1402, Hoạn thư với 4 lần: 1558 – 1560, 1583–1588, 1599–1560, 1690– 1620. Tiếp theo là Thúc sinh 1678–1682, Thầy số đoán vận mệnh của Thúy Kiều cho Thúc sinh nghe: 1692–1698... Riêng Hoạn bà mắng nhiếc Thúy Kiều rồi lại ra lệnh đánh đòn cũng là một đơn thoại lời lẽ hết sức “buông tuồng”: 1727. Bất tình nổi trận mây mưa, Diếc rằng: – “Những giống bơ thờ quen thân. 1729. “Con này chẳng phải thiện nhân, “Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng. 1731. “Ra tuồng mèo mả gà đồng, “Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào 1733. “Đã đem mình bán cửa tao, “Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này! 1735. “Nào là gia pháp nọ bay! “Hãy cho ba chục biết tay một lần!” Và còn nhiều nữa đến những lần độc thoại cuối cùng là lời kể của ông lão họ Đô, của Thúc sinh và của một người vô danh ở Hàng Châu với Kim Trọng về số phận của Thúy Kiều. Ba lần đơn thoại này là điển hình về một lối kể chuyện mạch lạc khéo léo mà tầng tầng lớp lớp, chia ra từng đoạn cách biệt nhưng gắn bó chặt chẽ đã từng được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Những lời thoại trên chỉ là lời nói của một nhân vật có người nghe nhưng không lời đáp lại. III. SONG THOẠI Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại. Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người là hội thoại. Hội thoại có thể chỉ gồm hai bên. Đó là song thoại. Cũng có thể có ba bên hoặc nhiều bên, đó là tam thoại hoặc đa thoại. Đề cập tới vấn đề hội thoại trước hết có thuật ngữ cuộc thoại, vì nói tới hội thoại là nói tới cuộc thoại. Đó là một lần nói chuyện, trao đổi giữa những cá nhân trong xã hội, ít nhất là hai người. Ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu như: chào – chào, hỏi – đáp, đề nghị – đồng ý, ra lệnh – vâng lệnh... Một cuộc thoại có những đặc điểm nội tại là: luân phiên lượt lời (mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời), sự liên kết giữa các lượt lời để tạo sự liên kết hội thoại, mỗi cuộc thoại lại đều có một mục đích chứa đựng một hay nhiều chủ đề. Ngoài ra, muốn cuộc thoại thành công, mỗi bên phải tôn trọng những nguyên lý hội thoại là nguyên lýù cộng tác và nguyên lý lịch sự. Lấy lần song thoại cuối cùng giữa Thúy Kiều và Kim Trọng để xét: Đây là đêm động phòng hoa chúc. Khi thấy tình hình có vẻ nghiêm trọng: 3143. Tình nhân lại gặp tình nhân, Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình. Thúy Kiều đã phải mở thoại bằng hai câu: 3145. Nàng rằng: –“Phận thiếp đã đành, “Có làm chi nữa cái mình bỏ đi! Chúng ta cần nhớ là trong cuộc thoại trước diễn ra rất gay go qua năm lượt lời với 63 câu thơ, Thúy Kiều mới đồng ý cho việc làm lễ thành hôn và lần này là vấn đề mấu chốt nhất, nàng phải tiếp tục bằng 18 câu để thuyết phục Kim Trọng: 3147. “Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi, “Chiều lòng gọi có xướng tuỳ mảy may. 3149. “Riêng lòng đã thẹn lắm thay, “Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi!... 3161....”Chữ Trinh còn một chút này, “Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan! 3163. “Còn nhiều ân ái chan chan, “Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi?” Tiếp đó là lời chấp nhận miễn cưỡng của chàng: 3173. “...Gương trong chẳng chút bụi trần, “Một lời quyết hẳn, muôn phần kýnh thêm. 3175. “Bấy lâu đáy bể mò kim, “Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa? 3177. “Ai ngờ lại họp một nhà, “Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm!” Tiếp theo là lời cảm tạ của Thúy Kiều để dẫn đến đoạn thoại tiếp giữa hai người trong lần đánh đàn cuối cùng. Trong nguyên lý cộng tác, mỗi người phải hướng đúng mục đích của cuộc thoại với những phương châm về lượng (không nói thừa hoặc thiếu), phương châm chất (không nói điều mình tin là sai hoặc không có bằng chứng chính xác) và các phương châm quan hệ (đóng góp những điều có liên quan), phương châm cách thức (nói mạch lạc ngắn gọn, tránh tối nghĩa mơ hồ). Đối thoại thường gồm hai yếu tố đặc trưng: trao lời và đáp lời có sự tương tác qua lại bởi vì giao tiếp luôn luôn có mục đích. Tùy năng lực sử dụng ngôn ngữ của mỗi người và điều kiện giao tiếp cụ thể mà sự tương tác của ngôn ngữ đối thoại có cường độ mạnh yếu và có phạm vi ảnh hưởng về không gian rộng hẹp, thời gian ngắn dài, số lượng đối tượng nhiều ít khác nhau vì thế lời nói có tác động khôn lường. Mở đầu lời chấp nhận của Kim Trọng lại là mấy câu hết sức tế nhị: 3165. Chàng rằng: –“Gắn bó một lời, “Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau. 3167. “Xót người lưu lạc bấy lâu, “Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều. 3169. “Thương nhau sinh tử đã liều, “Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình... Nguyên lý lịch sự là đặc biệt quan trọng vì tính tế nhị lịch sự là một yếu tố tác động tới các hiện tượng, qui luật và cấu trúc ngôn ngữ. Nó có ảnh hưởng rất lớn tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp. Theo đó, phải giữ gìn thể diện cho người đối thoại, có phép lịch sự tích cực gồm những hành vi đề cao người khác, quan tâm tới người khác, lại có phép lịch sự tiêu cực gồm những hành vi tránh làm phương hại tới thể diện của người khác và nếu không thể tránh được thì biết làm giảm nhẹ mức độ của những hành vi phương hại đến thể diện đó. Nói chung đó là nói giảm mức độ của phát ngôn không lịch sự và nói tăng mức độ của những phát ngôn lịch sự hay làm cho người nghe tìm được cái may trong cái rủi, tìm được cái lợi trong cái tổn thất... Chính nguyên lý lịch sự đã đòi hỏi Kim Trọng nói những lời đầy tình nghĩa sau đây trong lượt thoại trước: 3115. “Xưa nay trong đạo đàn bà, “Chữ Trinh kia cũng có ba bảy đường. 3117. “Có khi biến, có khi thường, “Có quyền, nào phải một đường chấp kinh. 3119. “Như nàng lấy Hiếu làm Trinh, “Bụi nào cho đục được mình ấy vay?... Trong một cuộc nói chuyện, người ta có thể trao đổi từ vấn đề này sang vấn đề khác. Nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Chúng làm nên ranh giới của một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn do một bên chủ động. Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra gọi là kết thoại. Giữa phần mở thoại và kết thoại là phần trung tâm của cuộc thoại, gọi là thân thoại. Trong cuộc thoại cuối cùng của Truyện Kiều, thân thoại gồm năm lượt lời, kết thoại là bốn câu hứa hẹn của Kiều sẽ không chơi đàn nữa: 3211. Nàng rằng: –“Vì chút nghề chơi, “Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu. 3213. “Một phen tri kỷ cùng nhau, “Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa.”.... IV. TAM THOẠI – ĐA THOẠI. Như trên đã nói tam thoại – đa thoại là những cuộc thoại có từ ba người trở lên. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tam thoại khác về căn bản với song thoại. Tuy nhiên, trong cuộc tam thoại cũng chỉ có một người nói, hai người nghe còn lại có thể cùng là người tiếp nhận chính yếu cũng có thể có người là đối tượng trực tiếp có người là đối tượng gián tiếp (thứ yếu). Cuộc thoại đầu tiên trong Truyện Kiều xảy ra sau hội Đạp Thanh, trước nấm mồ Đạm Tiên giữa ba chị em Thúy Kiều. Thúy Kiều chính là người mở thoại: 0059. Rằng: –“Sao trong Tiết Thanh Minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” Dẫn đến việc kể lại của Vương Quan về cuộc đời của Đạm Tiên: 0061. Vương Quan mới dẫn gần xa: – “Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi, “Nổi danh tài sắc một thì, “Xôn xao ngoài cửa kém gì yến anh... 0079. “... Trải bao thỏ lặn ác tà, Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!”. Tiếp nhận lời kể này là cả hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân nhưng lời thoại tiếp lại là của Thúy Kiều đã sẵn mối thương tâm, nàng khóc lóc thương cho số phận khách má hồng rồi khấn khứa đề thơ đến nỗi Thúy Vân phải nhận xét: 0105. Vân rằng: – “Chị cũng nực cười, “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa!” Tiếp theo là lời biện hộ của Thúy Kiều, lời Vương Quan khuyên nên chấm dứt câu chuyện: 0113.... “Ở đây âm khí nặng nề, “Bóng chiều đã ngả dặm về còn xa.” Và lời dẫn giải của Thúy Kiều rồi đến cảnh Dấu giày từng bước in rêu rành rành và lời kết thoại của Thúy Kiều: 0125. Mặt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: –“ Này thực tinh thành chẳng xa. 0127. “Hữu tình ta lại gặp ta, “Chớ nề u hiển mới là chị em...”. Nếu như cấu trúc cuộc song thoại giữa A và B có dạng AB AB AB thì cấu trúc của tam thoại phức tạp hơn nhiều. Các lượt lời giữa 3 người A, B, C không theo một trình tự xác định, A có thể nói cho cả B và C nghe, có thể nói cho riêng B hoặc C nghe. Trong mỗi tình huống có thể B và C cùng đáp lại, lại có thể chỉ một trong hai người đáp lại. Cuộc tam thoại thứ hai trong Truyện Kiều xảy ra sau buổi Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân, nàng khóc lóc và ngất đi: 0763. Hỏi sao ra sự lạ lùng, Kiều càng nức nở hở không ra lời. 0765. Nỗi nàng Vân mới rỉ tai: – “Chiếc vành này với tờ bồi ở đây!” 0767. – “Vì cha làm lỗi duyên mày, “Thôi thì việc ấy sau này đã em. 0769. “Vì ai rụng cải rơi kim? “Để con bèo nổi mây chìm vì ai? 0771. “Lời con dặn lại một hai, “Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng.” 0773. Lạy thôi nàng mới rén chiềng: – “Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi. 0775. “Sá chi thân phận tôi đòi, “Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu!” Trong cuộc tam thoại này lúc đầu Kiều chưa nói được nên mở đầu bằng lời thoại của Thúy Vân đến lời của Vương ông và kết thoại bằng 3 câu của Thúy Kiều. Theo thống kê của chúng tôi ở sau, trong Truyện Kiều có 73 cuộc thoại gồm đủ các thể loại, hết sức đa dạng. V. SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC HÌNH THỨC ĐỐI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU Ngoài những hình thức đối thoại như trên: đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại ta còn thấy trong Truyện Kiều có rất nhiều dạng đối thoại: A. Đối thoại giữa người trần thế với người âm không chỉ trong giấc mộng mà cả khi tỉnh. Thúy Kiều nói chuyện với Đạm Tiên 4 lần thì 3 lần trong mộng còn một lần – lần thứ ba – trong cơn tuyệt vọng trước khi gieo mình tự tử trên sông Tiền Đường: 2623. –“Đạm Tiên nàng nhé có hay! “Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta.” B. Có kiểu đối thoại trực diện mặt đối mặt lại có kiểu đối thoại gián tiếp. Người được nói đến ở xa nhưng người nói lại coi như là đang đứng ở trước mặt hoặc đang nghe mình nói. Đó là trường hợp khi Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân, nàng như muốn nói cùng Kim Trọng đã về Liêu Dương: 0751. “Trăm nghìn gửi lạy tình quân! “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi. 0753. “Phận sao phận bạc như vôi? “Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng. 0755. “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”. Ở đây ta thấy loại ngôn ngữ xóa nhòa khoảng không khi nhân vật thể hiện nỗi đau đớn thương xót đến tột cùng đối với người xa cách. Rồi trường hợp Vương ông than khóc kể lể về tình cảnh Thúy Kiều phải bán mình cho chàng Kim, ông đã kêu lên như muốn nói với chính con gái mình như thể nàng có thể nghe được lời ông nói: 2791. “Phận sao bạc bấy Kiều nhi! “Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?” Trong những trường hợp này phát ngôn của nhân vật thể hiện nỗi đau đến cùng cực, đến độ đánh mất cả ý niệm về thời gian và không gian. Chính trong trường hợp đối thoại gián tiếp này, ngôn ngữ đã đảm nhiệm vai trò biểu đạt tình cảm như những lời độc thoại trong vở kịch. C. Ngoài ngôn ngữ nhân vật tự nói về bản thân mình ta còn thấy trong đối thoại ở Truyện Kiều có ngôn ngữ nói về người khác mà “người khác“ ấy có thể là ngôi thứ hai tức là người nghe như khi Kiều nói với Tú bà: 1145.....Nhưng tôi có sá chi tôi, Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?... Và cũng có khi là ngôi thứ ba tức là người được nhắc đến như khi Thúy Kiều nói với Vương bà về Mã giám sinh: 0881. “...Xem gương trong bấy nhiêu ngày, “Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già. 0883. “Khi về bỏ vắng trong nhà, “Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng... 0887. “...Khác màu kẻ quý người thanh, “Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn...” D. Cũng là ngôn ngữ đối thoại gián tiếp nhưng lại có khi là ngôn ngữ đối thoại gián tiếp trong ngôn ngữ đối thoại trực tiếp của nhân vật xa lạ, như khi Thúy Kiều nghe câu nói của Sở Khanh: 1171. Sở Khanh lên tiếng rêu rao: – “Nọ nghe rằng có con nào ở đây, 1173. “Phao cho quyến gió rủ mây, “Hãy xem có biết mặt này là ai?” Hắn biết là có Thúy Kiều ở đấy nhưng lại nói như không có nàng, đó là lời nói gián tiếp của Sở Khanh và qua câu hắn tường thuật lại tưởng như lời nói của một người khác mà hắn bịa ra là người này đã kể cho hắn nghe có con nào ở đây: Phao cho quyến gió rủ mây... E. Lại cũng có khi là lời kể của nhân vật hay của người đối thoại nhắc lại lời dặn của một nhân vật thứ ba vắng mặt, đó là trường hợp Hoa Tì nhắc lại lời Hoạn thư cho Thúy Kiều biết khi nàng và Thúc sinh lén gặp nhau ở Quan Âm các: 1999. Bao nhiêu đoạn khổ tình thương, Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than. 2001. Dặn tôi: –“Đứng lại một bên!” Chán tai, rồi mới bước lên trên lầu... Chính loại ngôn ngữ đối thoại gián tiếp trên khi đến với chúng ta, những người thưởng thức, thường đã bị khúc xạ bởi ý đồ hoặc tình cảm chủ quan của người nói. F. Nhiều khi Nguyễn Du đã sử dụng một thứ ngôn ngữ đối thoại gián tiếp theo kiểu tường thuật trực tiếp tức là lời nói của nhân vật này thuật lại nguyên văn lời nói của nhân vật thứ ba vắng mặt. Trường hợp này tác giả đã thể hiện thái độ khách quan của nhân vật khi phát ngôn. Như chúng tôi đã trình bày ở trên khi Vương Quan kể lại với hai chị về nàng kỹ nữ Đạm Tiên có nhắc đến người khách viễn phương là người hâm mộ nàng kỹ nữ xấu số thì trong lời kể, ta thấy Vương Quan đã nhắc lại chính lời nói của người khách viễn phương: 0073. Khóc than khôn xiết sự tình: – “Khéo vô duyên bấy là mình với ta! 0075. “Đã không duyên trước chăng mà, “Thì chi chút ước gọi là duyên sau.” Ở đây ta lại thấy một kiểu đối thoại trong đối thoại với cấu trúc lồng hai cấp. Cũng như khi Thúy Kiều thuật lại cho Kim Trọng nghe lời nói của thầy tướng năm xưa, người đã đoán về vận mệnh sau này của cuộc đời nàng: 0413. Nhớ từ năm hãy thơ ngây, Có người tướng sĩ đoán ngay một lời: 0415. –“Anh hoa phát tiết ra ngoài, “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa!”ø Chính cái lối đối thoại trong đối thoại này tạo ra tính khách quan trong lời kể làm cho những nhân vật này của Nguyễn Du tuy chỉ xuất hiện trong một vài câu thông qua lời kể của một nhân vật trong truyện mà vẫn cụ thể sinh động. Những nhân vật chỉ thấp thoáng trong Truyện Kiều vẫn cho phép người đọc như được tiếp xúc gần gũi và để lại ấn tượng khó quên. Ngôn ngữ kể chuyện trong Truyện Kiều mang đậm màu sắc chủ quan. Ngôn ngữ nhân vật tham gia kể chuyện bước đầu đã được cá tính hoá, mỗi người đều có một ngôn ngữ riêng. Lời kể của Vương Quan là lời kể của người có học vấn. Lời kể của Kiều là lời kể của một người từng trải, có ý thức sâu sắc về bản thân mình: Kiều kể cho mẹ nghe về Mã giám sinh bằng lời lẽ rất cụ thể... VI. THÚY KIỀU QUA LỜI ĐỐI THOẠI CỦA CÁC NHÂN VẬT KHÁC Đối với từng nhân vật, Nguyễn Du thường đưa ra cách đánh giá chủ quan của ông, qua cách dùng từ ngữ để mô tả nhân vật, thông qua lời ăn tiếng nói của họ: Các nhân vật tự bộc lộ chủ quan của chính mình. Nhưng ông còn cấp cho ta cái nhìn khách quan từ cách đánh giá của các nhân vật khác qua những lời đối thoại: mỗi nhân vật khi nói, khi nghĩ đều bị chi phối bởi những quan điểm, tình cảm của chính mình. Vậy mà trong các nhân vật Truyện Kiều có ngôn ngữ đối thoại thì có tới 12 nhân vật đều đánh giá tốt về Thúy Kiều: tất cả đều khen ngợi tài sắc, trí tuệ của nàng. Mỗi nhân vật, tùy theo cá tính, tình cảm, ngành nghề, mối quan hệ đối với Thúy Kiều mà nhìn nhận đánh giá nàng ở những góc độ khác nhau. Kim Trọng nhìn Thúy Kiều như một người yêu, một văn nhân đánh giá nàng. Ông thầy tướng ngay từ lúc Thúy Kiều còn thơ ngây đã vừa khen vừa báo trước tương lai cho nàng: 0415. Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa! Với Mã giám sinh, Thúy Kiều là một món hàng nên hắn phải cân đo đong đếm thì quá rõ: 0639. Đắn đo cân sắc, cân tài, Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ. 0641. Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tuỳ cơ dặt dìu. rồi: 0823. Mừng thầm: “ Cờ đã đến tay, Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng. 0825. Đã nên quốc sắc thiên hương, Một cười này, hẳn nghìn vàng chẳng ngoa... Ơû đây chỉ xin nêu ra vài trường hợp. Thúc sinh lúc đầu đến với Thúy Kiều như đến với một đối tượng để hưởng lạc: 1289. Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng. 1299. Miệt mài trong cuộc truy hoan, Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình. 1301. Lạ cho cái sóng khuynh thành, Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi.... Nhưng về sau nàng đã cảm hóa được chàng, chính Thúc sinh đã phải vượt qua bao gian khổ để đưa được Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, tuy Nguyễn Du không mô tả cặn kẽ mà chỉ ghi lại sự việc bằng một hai câu thơ đơn giản: 1373. Chiến, hoà sắp sẵn hai bài, Cậy tay thầy thợ mượn người dò la. 1375. Bắn tin đến mặt Tú bà, Thua cơ mụ cũng cầu hoà dám sao! Khi Thúc ông bắt Thúc sinh phải từ bỏ Kiều, chàng đã có một thái độ đáng khen: 1395. Rằng: –“Con biết tội đã nhiều, “Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. 1397. “Trót vì tay đã nhúng chàm, “Dại rồi, còn biết khôn làm sao đây! 1399. “Cùng nhau vả tiếng một ngày, “Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành. 1401. “Lượng trên quyết chẳng thương tình, “Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi!” Rồi khi nhìn Thúy Kiều bị đòn thì Thúc sinh đã khóc lóc thảm thiết đến mức quan phủ phải cho ngừng trận đòn để hỏi thêm.Và sau đó chính ông quan cũng bị cảm hóa, thuyết phục cùng với Thúc ông. Đến nỗi chỉ xem bức tiên hoa, đọc bài thơ vịnh “cái gông” (Mộc già) của nàng, quan phủ đã phải: 1455. Khen rằng:–“Giá đáng Thịnh Đường, “Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân. 1457. “Thực là tài tử giai nhân, “Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn!... Dẫn đến buổi lễ thành hôn giữa Thúc sinh với Thúy Kiều: 1465.Kíp truyền sắm sửa lễ công, Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng ruổi sao. 1467. Bày hàng cổ xuý xôn xao, Song song đưa tới trướng đào sánh đôi... Đối với Hoạn thư thì sao? Nguyễn Du không mô tả tài sắc của nàng tiểu thư con quan Lại bộ, nhưng ta cũng có thể biết rằng tài sắc nàng cũng vào loại khá. Nhất là những người như nàng vốn hay kênh kiệu, vậy mà Hoạn thư cũng không thể không khen ngợi Thúy Kiều, ngay lần đầu khi Thúy Kiều đàn cho Hoạn thư nghe: 1781. Tiểu thư xem cũng thương tài, Khuôn uy, dường cũng bớt vài bốn phân. Chính vì cái tài đàn này mà Hoạn thư đã đem Thúy Kiều ra hành hạ nhưng Hoạn thư cũng vẫn khen nàng trước mặt Thúc sinh: 1849. Rằng: –“Hoa nô đủ mọi tài, “Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.”ø Là tình địch của Kiều vậy mà Hoạn thư cũng phải khen nàng, không phải chỉ có một hai lần. Khi xem tờ thân cung của Thúy Kiều, Hoạn thư lại một lần nữa bị thuyết phục và đây là lời khen thực sự tự đáy lòng: 1897. Diện tiền trình với Tiểu thư, Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình. 1899. Liền tay trao lại Thúc sinh, Rằng: –“Tài nên trọng mà tình nên thương. 1901. “Ví chăng có số giàu sang, “Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên! 1903. “Bể trầm chìm nổi thuyền quyên, “Hữu tài, thương nỗi vô duyên lạ đời.” Đặc biệt đến khi xem bản kinh Hoa nghiêm do Thúy Kiều chép thì có thể nói Hoạn thư đã hoàn toàn bị chinh phục: 1987. Khen rằng: –“ Bút pháp đã tinh, “So vào với thiếp Lan Đình nào thua! 1989. “Tiếc thay lưu lạc giang hồ “Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài. “ Cho nên sau này khi ra trước cuộc báo oán của Thúy Kiều, Hoạn thư cũng không phải hổ thẹn khi bào chữa có câu cũng khá thành thực: 2369. Lòng riêng, riêng những kýnh yêu, Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai... Đối với nhân vật Hồ Tôn Hiến, hắn biết quá rõ tài sắc của nàng, chính hắn đã lợi dụng nàng cho âm mưu đánh lừa Từ Hải để sau này hắn còn trơ tráo bắt nàng hầu rượu, hầu đàn mà khen tài nàng: 2573. Hỏi rằng: –“Này khúc ở đâu? “Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay!” rồi: 2579. Nghe càng đắm, ngắm càng say, Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình! Rồi còn Đạm Tiên, sư Tam Hợp... đều yêu mến và đánh giá cao Thúy Kiều, tuy mỗi người một cách. Thúy Kiều được ngợi khen từ các nhân vật khác là một phần nhưng cái chính là nàng tự bộc lộ tài đàn, tài thơ, cách cư sử, lời ăn tiếng nói đến cách xét người, đoán việc qua ngòi bút mô tả của thi hào Nguyễn Du. Chúng ta đã điểm qua ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều – một phương diện nghệ thuật thành công đặc sắc của kiệt tác (Về phần độc thoại nội tâm của các nhân vật , chúng tôi đã có một bài nghiên cứu riêng). Như ta đã thấy đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều là sự cá tính hóa rất cao, mỗi nhân vật Truyện Kiều đều có một lối nói riêng, một vốn từ riêng, không hề lẫn lộn. Ngôn ngữ của mỗi nhân vật đều đã được lựa chọn hết sức chính xác, tiêu biểu cho nếp nghĩ, nếp cảm và sự lựa chọn của tác giả không chỉ biểu hiện ở những từ không có khả năng thể hiện trực tiếp, cụ thể nội dung tư duy cảm xúc của các nhân vật, bởi ngôn ngữ nhân vật ở đây vừa tham gia vào việc thể hiện sự phát triển của các sự kiện vừa là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên những tính cách nhân vật đa dạng, điển hình. nguồn:giangvien.
Xem thêm

9 Đọc thêm

DÀN BÀI GỢI Ý PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH CHỊ EM THÚY KIỀU TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU

DÀN BÀI GỢI Ý PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH CHỊ EM THÚY KIỀU TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU

tưởng ấy. Chỉ riêng tài thơ của nàng cũng đã làm nhiều người khâm phục. Chẳng hạn, lúc đi tảo mộ “Vạch da câyvònh bốn câu ba vần”, hay khi buộc phải cầm bút đề thơ trước cửa quan liền được khen ngợi “Tài này sắc ấy nghìnvàng chưa cân”/ Đặc biệt, tài đàn của nàng đã là “nghề riêng”, tức là sở trường, năng khiếu; và vượt lên trên mọingười khác “ăn đứt hồ cầm một trương”.+Nguyễn Du cực tả cái tài của Kiều là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng Kiều:“Khúc nhà tay lựa nên chươngMột thiên bạc mệnh lại càng não nhân”Kiều không chỉ hiểu biết âm nhạc, mà còn là một nhạc só “tay lựa nên chương”, lại là một nhạc só có một tâm hồn,bởi cung đàn bạc mệnh do Kiều sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm “Một thiênbạc mệnh lại càng não nhân”.*Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc-tài-tình. Chân dung của Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận.Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hóa phải ghét ghen, các vẻ đẹp khác phải đố kò “tạo vật đố hồng nhan”, nên số phậncủa nàng sẽ éo le, đau khổ.2.4.Bốn câu cuối:Nhận xét chung về cuộc sống của hai chò em Thúy Kiều , Thúy VânVà, khép lại đoạn thơ trích là những nhận xét chung của Nguyễn Du về cuộc sống hai chò em Thúy Kiều, Thúy Vân:“Phong lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kêm đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai”Đức hạnh là cái gốc của con người. Hai chò em họ, nhất là Thúy Kiều - không chỉ có sắc đẹp, có tài năng và tâm hồnmà họ còn có cả đức hạnh. Hai chò em Thúy Kiều, Thúy Vân là “khách hồng quần”. Đẹp là thế, tài là thế, họ cònsống “phong lưu rất mực” và tuổi xuân đã “xấp xỉ tới tuần cập kê”. Và, cả hai chò em họ lại còn được hưởng mộtnền giáo dục theo khuôn phép của lễ giáo, của gia phong rất nghiêm khắc: “Êm đềm trướng rủ màn che, Tườngđông ong bướm đi về mặc ai”. Thật là vẹn toàn và lý tưởng theo quan niệm phong kiến!3. Đánh giá chung:-Đoạn thơ trích nói về hai chò em Thúy Kiều, Thúy Vân là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trongTruyện Kiều”./ Đoạn thơ giúp chúng ta thấy được một trong những tài năng nghệ thuật miêu tả đặc sắc của ngòibút thiên tài Nguyễn Du, đó là nghệ thuật tả người. Nguyễn Du tả cô em trước tạo thế đầy dụng công nghệ thuật đểtả vẻ đẹp toàn vẹn, lý tưởng của cô chò . Cách tả không đi sâu vào chi tiết mà chỉ phác họa nhân vật bằng những néttiêu biểu, chọn lọc nhất; đặc biệt là bút pháp ước lệ cổ điển: lấy vẻ đẹp của thiên nhiên, vũ trụ để miêu tả vẻ đẹp
Xem thêm

3 Đọc thêm

Giao an van 9 toan tap

GIAO AN VAN 9 TOAN TAP

- Đây là giai đoạn bão táp,sôi động chế độ PK khủng hoảng trầm trọng.- phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ ở khắp nơi. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Huệ cầm đầu, đã lật đổ các tập đoànPK, đánh thắng quân xâm lợc trong Nam, ngoài Bắc, thống nhất đất n-ớc. 4* Về văn học : ? Hãy nêu những điểm nổi bật của văn học thời kì này ?* GV bổ sung và chốt lại những ý chính:- VH phát triển rầm rộ ở cả 2 loại tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm.Văn học chữ Hán có thành tựu nhiều là ở thể truyện kí: Thợng kinh kí sự, HoàngLê nhất thống chí.- Văn hcọ chữ Nôm có những kiệt tác cha từng thấy, biểu hiện ở 2 thể loại lớn:+ Truyện Nôm lục bát với truyện Kiều, Hoa tiên.+ Khúc ngâm song thất lục bát với Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc.- Các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ - Nổi bật trong văn học thời này là trào lu văn học nhân đạo chủ nghĩa với 2 nội dung lớn:+ Phê phán những thế lực PK chà đạp con ngời,
Xem thêm

67 Đọc thêm

Đề HSG môn Văn 8 - 02

ĐỀ HSG MÔN VĂN 8 - 02

Đề 2Đề thi học sinh giỏiMôn thi : Ngữ vănThời gian làm bài 150 phút Đề bàiCâu 1: ( 2 điểm)Ca dao có câu: Hỡi cô tát nớc bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.Trong Truyện Kiều, câu 1603, 1604, Nguyễn Du viết :Long lanh đáy nớc in trời, Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàngEm hãy phân tích nghệ thuật miêu tả đặc sắc trong những câu trên. Câu 2 : (1 điểm)Hãy trình bày ngắn gọn những ấn tợng của em về tình yêu thơng con ng-ời trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O Hen - ri.Câu 3 : ( 7 điểm ) Nói về nghệ thuật miêu tả nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du,có ý kiến cho rằng: Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã rất tài tình trong việckhắc hoạ nhân vật. Nhng tác giả không chỉ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài, vớiông, tả ngoại hình là để giúp cho ngời đọc hình dung rõ hơn bản chất, tính cáchbên trong của nhân vật.Em hãy trình bày cảm nhận của mình về các nhân vật: Thuý Vân, ThuýKiều, Mã Giám Sinh và nhận xét nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tìm hiểu bài TRUYỆN KIỀU PHẦN 1: TÁC GIẢ (Nguyễn Du) doc

TÌM HIỂU BÀI TRUYỆN KIỀU PHẦN 1 TÁC GIẢ NGUYỄN DU

+ Bản cáo trạng đanh thép của xã hội đã chà đạp lên quyền sống, tự do hạnh phúc của con người đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. + Nguyễn Du đã tái hiện hiện thực sâu sắc của cuộc sống tạo nên gía trị nhân đạo tác phẩm. + Quan niệm nhân sinh: “chữ tài” gắn liền với chữ “mệnh“; chữ “tâm” gắn với chữ “tài”. * Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh) - Viết bằng thể thơ lục bát; - Thể hiện tấm lòng nhân ái mênh mông của nhà nghệ sĩ hướng tới những linh hồn bơ vơ, không nơi tựa nương, nhất là phụ nữ và trẻ em trong ngày lễ Vu lan (rằm tháng bảy) ở Việt Nam. 2. Một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật thơ văn Nguyễn Du. a. Nội dung: - Chữ tình. - Thể hiện tình cảm chân thành. - Cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người - những con người nhỏ bé, những số phận bất hạnh, những phụ nữ tài hoa bạc mệnh. - Triết lí về số phận đàn bà hai lần vang lên sâu thẳm và bi thiết trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn. - Khái quát bản chất tàn bạo của chế độ phong kiến, bọn vua chúa tàn bạo, bất công chà đạp quyền sống con người. - Là người đầu tiên đặt vấn đề về những người phụ nữ hồng nhan đa truân, tài hoa bạc mệnh với tấm lòng và cái nhìn nhân đạo sâu sắc. - Đề cao quyền sống con người, đồng cảm và ngợi ca tình yêu lứa đôi tự do, khát vọng tự do và hạnh phúc của con người (mối tình Kiều- Kim, về nhân vật Từ Hải). b. Nghệ thuật: - Học vấn uyên bác, thành công trong nhiều thể loại thơ ca: ngữ ngôn, thất ngôn, ca, hành. - Thơ lục bát, song thất lục bát chữ Nôm lên đến tuyệt đỉnh thi ca cổ trung đại.
Xem thêm

5 Đọc thêm

DE VA DA VAN VAO 10 BN

DE VA DA VAN VAO 10 BN

- Hai phép so sánh diễn tả tâm trạng vô cùng sợ hãi đến mức tái mặt, cơ thể run lên củaThúc Sinh khi có lệnh của Từ Hải và Thuý Kiều mời đến phiên toà để thực hiện việc báoân, báo oán của Kiều sau khi Kiều đợc Từ Hải cứu ra khỏi lầu xanh và lấy làm vợ. Câu 3.A. yêu cầu chung:1. Nội dung: Bài viết nêu đợc cảm nghĩ về bức tranh thiên nhiên tơi đẹp, trong sáng và lễ hộimùa xuân trong trích đoạn Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.2. Hình thức: Bài viết thể hiện rõ phơng pháp làm bài nghị luận về đoạn thơ dới dạng cảm nghĩcó bố cục rõ ràng, cân đối, ở từng luận điểm có những luận cứ phù hợp bằng những dẫn chứngtrong đoạn trích, giữa các luận điểm có sự liên kết.B. Yêu cầu cụ thể:1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều và đoạn trích Cảnh ngày xuân- Giới thiệu cảm nghĩ: là một bức tranh thiên nhiên vô cùng tơi đẹp trong sáng và một lễ hộimùa xuân nhộn nhịp sôi nổi.2. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tơi đẹp, trong sáng và tràn đầy sức sống:- Bức tranh có khung cảnh thời gian, không gian trong sáng: thời gian thấm thoắt thoi đa, tiếttrời đã bớc sang tháng ba, tháng cuối cùng của mùa xuân, cánh chim én rộn ràng chao liệnggiữa trời xuân trong sáng.- Bức hoạ đẹp nhất về mùa xuân là cảnh: Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm mộtvài bông hoa . Thảm cỏ non xanh trải rộng tới tận chân trời là nền cảnh cho bức tranh xuân.Trên nền xanh non ấy là sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê trắng. Sắc màu hài hoà tuyệtdiệu gợi vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ tinh khôi, đầy sức sống, khoáng đạt, trong trẻo nhẹnhàng thanh khiết. Cảnh vật thiên nhiên sinh động nh có hồn, sức sống nh cựa quậy, chuyểnmình khoe sắc.3. Bức tranh lễ hội mùa xuân đông vui nhộn nhịp.- Trong ngày thanh minh diễn ra lễ hội với hai hoạt động: mọi ngời đi tảo mộ, thăm viếng phầnmộ tởng nhớ ngời thân và đi chơi xuân trên những cánh đồng cỏ xanh nơi chốn đồng quê.- Những: yến anh , tài tử , giai nhân , gần xa , nô nức , sắm sửa , dập dìu gợi lênmột không khí lễ hội rộn ràng đông vui bởi có nhiều ngời đến hội. Từng đoàn ngời đi hội, đichơi xuân nh chim én, chim oanh ríu rít. Tâm trạng mọi ngời háo hức. Nổi bật nhất vẫn là
Xem thêm

4 Đọc thêm

Giáo án tự chọn văn lớp 9

GIÁO ÁN TỰ CHỌN VĂN LỚP 9

- Tiếp tục tìm hiểu về các giai đoạn tiếp theo . Tiết 2 : những vấn đề khái quát về văn học Trung đại việt namNgày soạn : Ngày dạy :A/ Mục tiêu : Qua tiết học, HS có thể : - Nắm vững tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam, nội dung cơ bản- So sánh đợc văn học trung đại với văn học hiện đại về.- HS vận dụng kiến thức, sự hiểu biết về nghệ thuật, nội dung, thể loại văn học trung đại để luyện tập : Giải quyết 1 số bài tập cảm thụ ; Viét bài tự luận chứng minh, giải thích, phân tích, cảm nghĩ, so sánh về nhân vật, tác phẩm văn học trung đại.B/ Chuẩn bị : - GV : Su tầm tài liệu , tranh ảnh giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm.- HS : Kẻ bảng hệ thống hoá các VB văn học trung đại đã học trong chơng trình từ lớp 6 9. Ôn lại các VB, học thuộc thơ, tóm tắt truyện, ND, NT, tác giả, cảm thụ chi tiết đặc sắc. C/ Hoạt động trên lớp : 1) Tổ chức lớp : Kiểm tra sĩ số : 2) Kiểm tra bài cũ : kết hợp khi học bài. 3) Bài mới : ( 40 ) Hoạt động của GV Hoạt động của HS3. Giai đoạn 3: Từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.* Về lịch sử : ? Hoàn cảnh lịch sử ở giai đoạn này có gì đáng chú ý ?
Xem thêm

79 Đọc thêm

Độc thoại nội tâm trong Truyện Kiều...

ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG TRUYỆN KIỀU...

Độc thoại nội tâm trongTruyện Kiều” - một hình thức giao tiếp đặc biệtNgôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của con người. Trong giao tiếp, con người giao tiếp với nhau thì có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Trong giao tiếp một chiều chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận, không phát biểu. hình thức này thường gặp ở nhữnh mệnh lệnh, lời khấn và ngày nay trong diễn văn và lời của phát ngôn viên truyền thanh , truyền hình. Trong hoạt động giao tiếp thường diễn ra các hình thức hội thoại như : song thoại, tam thoại, đa thoại…. còn có hình thức hội thoại đặc biệt mà chúng tôi đề cập đến trong tiểu luận này là vấn đề giao tiếp bằng hình thức độc thoại, mà là độc thoại nội tâm. Có thể nói một cách khái quát rằng, độc thoại là chỉ có một nhân vật phát biểu còn các nhân vật khác chỉ nghe nhưng không phát biểu, không có lời đáp lại; còn chuíng tôi nói ở đây là độc thoại nội tâm, tức là lời tự nhủ, tự mình nói với mình của các nhân vật. Nếu đối thoại là hình thức giao tiếp sử dụng hình thức nói năng giữa người này với người khác thì độc thoại là dạng giao tiếp đặc biệt của ngôn ngữ nhân vật, là hình thức nói với chính mình. Mà qua lời độc thoại đó người tiếp nhận ngôn bản (người đọc) có thể hiểu được tâm trạng nhân vật dù đó chỉ là kiểu ý nghĩ - tư duy bằng ngôn ngữ thầm. TrongTruyện Kiều” của Nguyễn Du, tác giả đã tập trung ngòi bút của mình váo nhân vật chính là Thuý Kiều phục vụ cho việc biểu hiện tình cảm nhân đạo cao cả của ông đối với nàng Kiều. Ngoài nhân vật chính, ông lại xây dựng được hàng loạt nhân vật có cá tính và đã trở thành nhân vật điển hình trong văn học : Kim Trọng,Từ Hải, Hoạn Thư, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Thúc Sinh… Ngay cả những nhân vật tưởng như rất phụ chỉ được nêu ra trong một số câu thơ, Nguyễn Du cũng để lại cho người đọc những hình ảnh khó quên qua những màn, những cuộc hội thoại trong tác phẩm. Chúng ta có thể tìm trong tác phẩm của Nguyễn Du rất nhiều hình thức hội thoại: đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại, đối thoại giữa người âm và người dương, đối thoại trực diện và đối thoại gián tiếp… Nhưng, có một hình thức đối thoại đẳc biệt là độc thoại nội tâm. Có thể nói độc thoại nội tâm là một hình thức đặc biệt trongTruyện Kiều” của Nguyễn Du, là vấn đề phong phú ,hấp dẫn cho chúng ta đi tìm hiểu. Bằng sự thu nhặt những mớ kiến thức tản mạn của các giáo sư đầu ngành làm thành tư liệu riêng của mình mà làm thành tập tiểu luận nhỏ nhoi, tự nghĩ cũng hổ thẹn với bỉ nhân!. Mong rằng tập tiểu luận sẽ là một tài liệu nho nhỏ cho bạn đọc tham khảo và rất mong sự đóng góp, nhận xét của bạn đọc để
Xem thêm

10 Đọc thêm

Hiện tượng đa nghĩa trong một số đoạn trích của tác phẩm Truyện Kiều

HIỆN TƯỢNG ĐA NGHĨA TRONG MỘT SỐ ĐOẠN TRÍCH CỦA TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU

I. PHẦN MỞ ĐẦUI.1. Lý do chọn đề tài: Mỗi tác phẩm văn học khi ra đời đều trải qua sự sàng lọc của thời gian để khẳng định giá trị trường tồn của mình. Và giá trị của mỗi tác phẩm đó được thẩm định qua sự tiếp nhận và đánh giá của độc giả. Trong nền văn học Việt Nam thì kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du vượt qua bao thăng trầm đã khẳng định được vai trò, giá trị to lớn của mình trong kho tàng văn học và đặc biệt trong tâm hồn người Việt. Từ xưa đến nay chưa có một tác phẩm văn học nào mà được nhân dân cả nước yêu thích, ca ngợi như “Truyện Kiều”. Bất cứ là người Việt Nam dù thuộc tầng lớp, lứa tuổi nào cũng đều biết đến “Truyện Kiều”; có người thuộc năm bảy câu, có người thuộc cả đoạn, thậm chí là đọc ngược được “Truyện Kiều”. Một trong những yếu tố quan trọng để “Truyện Kiều” có được sự tiếp nhận rộng rãi và nghiền ngẫm say sưa của nhân dân như vậy là nhờ vào biệt tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du. Bên cạnh việc sử dụng các điển cố, điển tích,… thi hào đã vận dụng một cách rất tài tình, linh hoạt vốn ngôn ngữ dân gian như: từ thuần Việt, thành ngữ, tục ngữ,… Chính nhờ đặc điểm này mà “Truyện Kiều” đã trở nên gần gũi, gắn bó với quần chúng lao động, từ đó ai ai cũng đều có thể hiểu khi đọc “Truyện Kiều”.Do vậy việc nghiên cứu và phân tích “Truyện Kiều” ở góc độ ngôn ngữ là rất cần thiết. Bên cạnh những vấn đề đã được đi sâu vào nghiên cứu như từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ,… thì hiện tượng đa nghĩa trong ngôn ngữ “Truyện Kiều” cũng giữ một vai trò nhất định trong việc tạo nên sự phong phú, đa dạng về ngữ nghĩa của ngôn ngữ, góp phần làm nên sức sống lâu bền của “Truyện Kiều”. Xuất phát từ những lí do trên bản thân tôi chọn: “Hiện tượng đa nghĩa trong một số đoạn trích của tác phẩm Truyện Kiều” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm để giúp học sinh phân biệt được hiện tượng đa nghĩa với hiện tượng đồng âm.
Xem thêm

28 Đọc thêm

TIẾT 27: VĂN BẢN CHỊ EM THÚY KIỀU

TIẾT 27: VĂN BẢN CHỊ EM THÚY KIỀU

Tr­êng THCS H­ng ®¹oM«n: Ng÷ v¨n 9Gi¸o viªn thùc hiÖn: nguyÔn thÞ quyÒn Kiểm tra bài cũNờu giỏ tr ni dung v giỏ tr ngh thut Truyn Kiu ca Nguyn Du ?Đáp án:*Giá trị nội dung:_Giá trị hiện thực:Truyện Kiều là một bức tranh hiện thực về một xã hội phong kiến tàn bạo._Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm trước số phận đau thương của con người,khẳng định và đề cao nhân phẩm , tài năng và khát vọng sống của con người. *Giá trị nghệ thuật:Nghệ thuật miêu tả khắc họa tính cách nhân vật tinh tế, ngôn ngữ độc đáo ,chính xác ,điêu luyện, tả cảnh ngụ tình đặc sắc ,sử dụng tài tình thể thơ lục bát. TiÕt 27v¨n b¶nchÞ em thuý kiÒu(TrÝch TruyÖn KiÒu ) Tiết 27- văn bảnchị em thuý kiều(Trích Truyện Kiều )I. Giới thiệu chung1. Tác giả:2. Tác phẩm:
Xem thêm

23 Đọc thêm

ON TAP HIDROCACBON

ON TAP HIDROCACBON

Bác nằm trong giấc ngủ bình yênGiữa một vầng trăng sáng dịu hiềnVẫn biết trời xanh là mãi mãiMà sao nghe nhói ở trong timMai về miền Nam thơng trào nớc mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng BácMuốn làm đoá hoa toả hơng đâu đâyMuốn làm cây tre trung hiếu chốn này(Trích Viếng lăng Bác Viễn Phơng)Câu 3 (4 điểm): Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân khi ông nghe tin làng chợ Dầu theo Tây làm Việt gian. Đề ôn thi vào lớp 10 - đề 2I. Trắc nghiệm: (2 điểm)1. Đúc kết kinh nghiệm cuộc sống và quan niệm về thiên nhiên, xã hội, con ngời là nhận định về thể loại văn học dân gian nào ?A. Thần thoại B. Cổ tíchC. Tục ngữ D. Ca dao 2. Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân một cách thật quá là đầy đủ. Tôi dậy từ canh t. Còn tối đất, cố đi mãi trên đá đầu s, ra thấu đầu mũi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. Điều tôi dự đoán, thật là không sai. Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch nh tấm kính lau hét mây, hết bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu nh lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặna) Gạch chân dới những từ thể hiện phép liên kết câu trong đoạn văn trên. b) Đoạn văn trên mấy lần sử dụng phép so sánh:A. Một B. Hai C. Ba D. Bốn 3. Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ , quan hệ ý nghĩa chủ yếu trong hai câu thơ là quan hệ nào ? A. Đối lập B. So sánh C. Nhân quả
Xem thêm

9 Đọc thêm

Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong truyện kiều

NGÔN NGỮ HỘI THOẠI CỦA CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU

Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều Phạm Thị Mai Hương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn Thạc sĩ ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn: GS.TS. Đinh Văn Đức Năm bảo vệ: 2010 Abstract: Khảo sát ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật chính trong Truyện Kiều. Từ đó bước đầu làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ hội thoại độc đáo, đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du. Chỉ rõ nhóm động từ chỉ hành động nói năng trong Truyện Kiều và vai trò của chúng trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật của truyện. Nghiên cứu phương thức lập luận trong lời thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều cũng như chiến lược giao tiếp của các nhân vật từ đó chỉ rõ các quy tắc cấu tạo lập luận trong lời nói và quy tắc hội thoại nhằm tăng hiệu quả giao tiếp. Keywords: Ngôn ngữ học; Ngôn ngữ hội thoại; Truyện Kiều Content MỞ ĐẦU Nhiệm vụ nghiên cứu: - Chỉ rõ nhóm hành động nói năng trong Truyện Kiều và vai trò của chúng trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật của truyện. - Nghiên cứu phương thức lập luận trong lời thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều cũng như chiến lược giao tiếp của các nhân vật. - Làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ hội thoại độc đáo, đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du. Phƣơng pháp nghiên cứu: phương pháp xã hội – dân tộc học kết hợp phương pháp phân tích diễn ngôn.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tài liệu hướng dẫn sử dụng chương tình văn phòng điện tử Eoffice phần 1 điều hành tác nghiệp

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG CHƯƠNG TÌNH VĂN PHÒNG ĐIỆN TỬ EOFFICE PHẦN 1 ĐIỀU HÀNH TÁC NGHIỆP

HƯớng dẫn đăng nhập; của sổ làm việc chính; tin điều hành; sổ địa chỉ; của sổ hội thoại công cộng; chứng năng nhận thonong báo, HƯớng dẫn đăng nhập; của sổ làm việc chính; tin điều hành; sổ địa chỉ; của sổ hội thoại công cộng; chứng năng nhận thonong báo, HƯớng dẫn đăng nhập; của sổ làm việc chính; tin điều hành; sổ địa chỉ; của sổ hội thoại công cộng; chứng năng nhận thonong báo,

52 Đọc thêm

NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần2 pps

NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU” PHẦN2 PPS

phong kiến thống trị lại luôn luôn đàn áp những phần tử trung gian, như gia đình họ Vương. Kiều đã cảm thấy cái mâu thuẫn ấy, và dù Kim Trọng có lấy cá tính anh hùng mà chống chọi với quy luật xã hội – “Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều” -, thành phần giai cấp của chàng sẽ không cho phép chàng thực hiện hạnh phúc với người yêu: vì một tên quan lại hối lộ, Kiều sẽ phải bán mình chuộc cha. Đó là nội dung mâu thuẫn giữa tình và mệnh: những thành phần trung gian đặt lý do tồn tại của mình trong những điển hình thống trị lý tưởng hoá, nhưng quy luật của chế độ thống trị lại là đàn áp họ một cách dã man. Tuy nhiên Kiều không đầu hàng hoàn cảnh xã hội, và cuộc luyến ái của nàng với Kim Trọng là một cuộc đấu tranh cương quyết. Một hành động đặc biệt táo bạo đối với phong tục đương thời, là hôm đi thăm Kim Trọng, và chiều đến đã trở về nhà, thấy cha mẹ còn giở tiệc hoa, Kiều lại hấp tấp chạy tìm người yêu: “Cửa ngoài vừa rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Đây không phải chỉ là phá bỏ lễ giáo phong kiến để thoả mãn tình cảm. Đây là một hành động đấu tranh chống những nguy cơ ngấm ngầm đe doạ tình duyên, nguy cơ ấy xuất phát từ hoàn cảnh giai cấp, mà nàng đã cảm thấy với tư tưởng bạc mệnh. Nàng cố gắng tranh thủ từng giờ từng phút, vì một lúc gặp được người yêu là một thắng lợi chống số phận: “Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.
Xem thêm

26 Đọc thêm

NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1 docx

NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-PHẦN1 DOCX

tiếp và quyết liệt, chứ không phải chỉ là mâu thuẫn xa xôi giữa tài và mệnh. Nhưng sở dĩ những phần tử trung gian có năng lực đạt được tài hoa, tài hoa này cũng có giái trị thực sự, đó là vì họ còn gốc rễ trong quần chúng, được ảnh hưởng của quần chúng, mà cũng vì thế mà họ lại vấp phải chế độ áp bức của bọn thống trị. Vậy tư tưởng tài mệnh tương đố, với giới hạn của nó, cũng có phần ý nghĩa phổ cập. Trực tiếp thì nó xuất phát từ hoàn cảnh của những thành phần trung gian, nhưng nó không đóng khung trong những thành phần ấy, vì đồng thời nó cũng phản ánh gián tiếp trình trạng chung của nhân dân, vậy phần nào cũng được quần chúng thông cảm. Tiếng đàn của Kiều gợi sầu, vì nó bộc lộ tâm trạng của tầng lớp tiểu phong kiến bị đe doạ, nhưng đồng thời nó cũng nhắc lại những nỗi gian khổ của nhân dân bị áp bức bóc lột, và nó là một tiếng kêu phản đối, trong một phạm vi nhất định, chế độ phong kiến thống trị. Phạm vi này mới là phạm vi tài hoa cá nhân, oán trách bạc mệnh, nhưng vì nội dung mối sầu cũng còn có ý nghĩa phổ cập, tiếng đàn đã đạt được một giá trị nghệ thuật sâu sắc, làm cho thiên hạ cảm thấy một cách thấm thía bản chất bất nhân, bầu không khí nghẹn thở của chế độ xã hội đương thời: “Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”.
Xem thêm

9 Đọc thêm

1. TÁM (08) ĐỀ ÔN THI VÀO 10_ VĂN _USER-H

1. TÁM (08) ĐỀ ÔN THI VÀO 10_ VĂN _USER-H

3. Vẻ đẹp và tài năng của Thuý Kiều- Miêu tả qua ba phơng diện: nhan sắc, tài năng, sốphậna) Vẻ đẹp của nàng Kiều.- Dùng hình tợng ớc lệ thu thuỷ( nớc mùa thu), xuân sơn( núi mùa xuân), hoa, liễu.. để thể hiện nhan sắc của nàng- Tập trung gợi tả đôi mắt sống động, trong sáng, long lanh, linh hoạt và đôi lông mày thanh tú, trên gơng mặt trẻ trung. Vì đôi mắt thẻ hiện sự tinh anh của con tâm hồn và trí tụê. Cái sắc sảo của trí tuệ, cái mặn mà của tâm hồn đều liên quan đến đôi mắtb) Tài năng của nàng Kiều- Nguyễn Du dành phần nhiều câu thơ để miêu tả tài năng của Kiều + Tài bao gồm: thơ, hoạ, ca hát, đánh đàn, soạn nhạc.-Tài của Kiều đạt đến mức lí tởng theo quan điểm chuẩn mực phong kiến-Sở trờng: tài đàn. Một phen bạc mệnh lại càng não nhân. Cung dàn bạc mệnh mà Kiều tự sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm.- Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc, tài , tình. Tác giả đã dùng câu thành ngữ nghiêng nớc nghiêng thành để cực tả giai nhân. Chân dung của nàng cũng là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp làm cho hoa phải ghen, liễu phải hờn.- Vẻ đẹp dó nh ngầm thông báo về số phận nàng rồi đây sẽ nhiều éo le, đau khổ.- Bốn câu cuối: Khẳng định vẻ đẹp bên trong của hai chị em Kiều. Họ khong chỉ có tài sắc mà còn có đức hạnhC- Kết bài:- Khái quát nội dung và nghệ thuật- Rút ra bài học cho bản thân.ôn thi vào lớp 10 - đề 1Câu 1 (2 điểm): Trình bày hiểu biết của em về tác gia Nguyễn Du. Câu 2 (4 điểm): Phân tích đoạn thơ sau:
Xem thêm

9 Đọc thêm

SKKN_tich_hop_khi_gd_Truyen_Kieu

SKKN_TICH_HOP_KHI_GD_TRUYEN_KIEU

vật của Nguyễn Du qua các đoạn trích Truyện Kiều đợc đa vào giảng dạy trong ch-ơng trình sách giáo khoa. -Rèn luyện cho học sinh khả năng cảm thụ, kỹ năng phân tích tác phẩm tự sự quahệ thống ngôn từ, qua các dấu hiệu nghệ thuật để làm cơ sở, tiền đề cho các emhọc thể loại Nghị luận về một tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích), nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ. Rèn luyện kỹ năng tổng hợp, khái quát, liên kết thành hệ thốngnhững giá trị nghệ thuật của các đoạn trích Truyện Kiều để minh chứng cho nhữngvấn đề đã trình bày ở bài khái quát về Truyện Kiều. -Giáo dục học sinh biết trân trọng những di sản văn hoá của ông cha ta để lại;biết trân trọng và học tập t tởng nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du đốivới số phận của con ngời đặc biệt là ngời phụ nữ trong xã hội cũ.2-Tài liệu tham khảo -Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn lớp 6, lớp 9 tập I-Văn học Việt nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII-Bùi Duy Tân(Nxb GD -1998)-Giảng văn Văn học Việt nam THCS -nhiều tác giả(Nxb GD -1996)3-Một số ph ơng tiện đồ dùng-Máy vi tính xách tay, máy chiếu, USB.-Một số tranh, ảnh về truyện Kiều.-Phiên bản Truyện Kiều.-Bút tích của Nguyễn Du.-Truyện Kiều đợc dịch ra tiếng nớc ngoài.B-Quá trình thực hiện đề tàiI- Tình trạng thực tế khi ch a thực hiện đề tài Để chuẩn bị thực hiện kế hoạch, tôi tìm hiểu, thăm dò thái độ của học sinh đốivới việc học tập môn Ngữ văn nói chung và những tác phẩm Văn học trung đạibăng một số câu hỏi trắc nghiệm nh sau:Câu 1: Em thấy các văn bản Văn học trung đại trong chơng trình Ngữ văn 9 nh thế nào?
Xem thêm

10 Đọc thêm

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều"

THUYẾT MINH VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

2.Giá trị nội dung và nghệ thuậta.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. TruyệnKiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc…b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơlục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người.
Xem thêm

2 Đọc thêm

So sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành doc

SO SÁNH KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VỚI TRUYỆN KIỀU CỦA ÔNG ĐỔNG VĂN THÀNH DOC

Đạm Tiên và gặp Kim Trọng, Thanh Tâm Tài Nhân chép rất kỹ việc Kiều đề thơ trước mộ nàng ca kỹ, việc Đạm Tiên hiển linh thành ngọn gió Tây u ám làm mọi người hoảng sợ và nỗi cảm thương của Thúy Kiều đối với con người hồng nhan bạc phận, việc Kim Trọng nhìn thấy hai chị em Thúy Kiều xinh đẹp liền tơ tưởng ngay đến chuyện làm sao lấy cho được cả hai Nhưng đáng tiếc, bối cảnh của những cuộc gặp gỡ ấy, vốn đóng vai trò then chốt chi phối hai phương diện tình yêu và vận mệnh của nàng Kiều về sau, ông lại hoàn toàn bỏ qua, chỉ chép có mấy dòng vắn tắt: “Một hôm nhằm tiết thanh minh, cả nhà họ Vương cùng đi tảo mộ, rồi luôn dịp dự hội đạp thanh. Thúy Kiều cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân thong thả dạo chơi đây đó. Bỗng đi đến bờ suối, thấy một ngôi mộ đơn độc, bèn hỏi Vương Quan rằng [ ] Thúy Kiều vạch bài thơ xong, hãy còn nấn ná chưa ra về, bỗng thấy một chàng thư sinh cưỡi ngựa từ xa đi đến. Vương Quan nhận ra là người bạn đồng song chí thiết Kim Trọng, nhưng không ngờ anh chàng lại chủ ý tìm tới đây nên vội nói với Thúy Kiều: “Có anh Kim đến, hãy tạm lánh đi”. Thúy Kiều thoạt nghe, ngước mắt nhìn, thấy Kim Trọng vẻ người hào hoa, phong lưu thích thảng, đang giong ngựa tiến đến, liền cùng Thúy Vân lảng qua phía sau mộ. Kim Trọng tới trước mộ, xuống ngựa chào Vương Quan ”19. Đơn giản thế thôi. Trong khi đó, bằng linh cảm của một nghệ sĩ lớn, Nguyễn Du có lẽ đã nhận thức dược tầm vóc của trường đoạn thanh minh nó khởi đầu mọi nút thắt cho toàn bộ tấn bi kịch bằng thơ của mình. Vì thế ông đã chủ tâm dựng lên cả một không gian rộng lớn, vừa hư vừa thực, để làm môi giới cho những mặt ẩn kín trong tính cách con người Thúy Kiều có dịp phát lộ: một con người rất đa cảm, trong một thời khắc đặc biệt và trước cái đẹp của tạo vật đang hồi sinh mơn mởn, nàng bất thần được chạm trán cùng một lúc với thần số mệnh và với hạnh phúc rợn ngợp của mối tình đầu: Câu 39 “Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba,
Xem thêm

53 Đọc thêm

KIỂM TRA 15 PHÚT PHẦN VĂN 9

KIỂM TRA 15 PHÚT PHẦN VĂN 9

KIỂM TRA 15 PHÚT PHẦN VĂN Đề bài Trắc nghiệm :(2đ) Em hãy khoanh tròn vào đáp án đúng nhất. Câu1.Truyện Kiều có tên gọi nào khác. A. Kim Vân Kiều truyện . B. Đoạn trường tân thanh . C. Truyện Vương Thuý Kiều . Câu2.Dòng nào sắp xếp đúng trình tự diền biến của các sự việc trong truyện Kiều ? A. Gặp gỡ và đính ước Đoàn tụ –gia biến và luư lạc . B. Gặp gỡ và đính ước –Gia biến và lưu lạc đoàn tụ . C. Gia biến và lưu lạc đoàn tụ –Gặp gỡ và đính ước . D. Gia biến và lưu lạc –gặp gỡ và đính ước đoàn tụ . Câu 3. Nhận định nào nói đầy đủ nhất về nội dung của truyện Kiều ? A.Truyện kiều có giá trị hiện thực . B.Truyện kiều có giá trị nhân đạo . C.Truyện Kiều thể hiện lòng yêu nước . D. Kết hợp cả A và B. Câu 4.Nguyễn Du dùng bút pháp nghệ thuật gì để tả chị emThuý Kiều ? A. Bút pháp tả thực. C. Bút pháp ước lệ. B. Bút pháp tự sự. D. Bút pháp lãng mạn. Tự luận(8đ)
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề