TRƯỜNG HỢP TAI NẠN TIẾP XÚC THEO ĐƯỜNG HÔ HẤP HÍT THỞ PHẢI HÓA CHẤT NGUY HIỂM DẠNG HƠI KHÍ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRƯỜNG HỢP TAI NẠN TIẾP XÚC THEO ĐƯỜNG HÔ HẤP HÍT THỞ PHẢI HÓA CHẤT NGUY HIỂM DẠNG HƠI KHÍ":

Ổ mầm bệnh trong nhà

Ổ MẦM BỆNH TRONG NHÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mọi người thường được cảnh báo về tình trạng ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn và khu công nghiệp song thực tế cho thấy môi trường không khí trong nhà cũng rất bẩn. Nhiều vật dụng sử dụng hằng ngày trong chính ngôi nhà của mình được coi là “sát thủ vô hình” đối với sức khỏe. Báo động ô nhiễm trong nhà Theo một công bố mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong năm 2012, có khoảng 7 triệu người chết liên quan đến tình trạng ô nhiễm không khí trên toàn cầu. Trong đó, 3,3 triệu ca tử vong bắt nguồn từ ô nhiễm trong nhà, tập trung tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Nghiên cứu này cũng phân tích tỉ lệ phân bố các trường hợp tử vong do ô nhiễm không khí trong nhà, trong đó 34% do đột quỵ, 26% liên quan đến bệnh thiếu máu cục bộ ở tim, 22% liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, 12% do nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính ở trẻ em và 6% do ung thư phổi. Với kết quả này, nhóm nghiên cứu cho rằng ô nhiễm không khí trong nhà tác động gấp 2-8 lần so với các bệnh có nguyên nhân do ô nhiễm bên ngoài. WHO chỉ ra các chất ô nhiễm thông thường có thể tìm thấy trong nhà, ở văn phòng làm việc là bụi bông, khói thuốc, benzen, formaldehyde, naphthalene, vi sinh vật…   Nhiều vật dụng trong nhà có thể gây nhiễm độc (Ảnh: Hoàng Triều) Trước đó, một nghiên cứu trong 4 tòa nhà ở nội thành Hà Nội cho thấy nồng độ formaldehyde, ozone, nồng độ bụi hô hấp, các chỉ tiêu sinh vật như nấm đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Nếu tiếp xúc với hóa chất này trong thời gian dài, dù hàm lượng cao hay thấp, cũng gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho da và hệ thống hô hấp, gây ung thư nhiều cơ quan trong cơ thể. GS-TS Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, cho rằng tình trạng ô nhiễm ngày một trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí. Đáng lo ngại là ở một số thành phố lớn, môi trường không khí trong nhà thường bị ô nhiễm hơn môi trường không khí bên ngoài bởi không khí trong nhà vừa “dung nạp” không khí bên ngoài vừa gánh chịu tác động của các nguồn khí thải từ việc đun nấu, hóa chất tẩy rửa, hơi xăng dầu từ xe máy, nấm mốc, các hóa chất độc hại phát sinh từ vật liệu nội thất… “Đây được coi là “sát thủ” vô hình đối với sức khỏe con người” - GS Đăng nhận định. Nhìn đâu cũng thấy “kẻ thù” PGS-TS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế, cho rằng Việt Nam hiện chưa có quy chuẩn về không khí trong nhà. Cách đây hơn 1 năm, Bộ Y tế xây dựng dự thảo tiêu chí môi trường không khí trong nhà nhưng đến nay chưa được ban hành. “Chúng ta vẫn thường cảnh báo người già, trẻ nhỏ nên hạn chế ra đường để tránh các bệnh đường hô hấp, dị ứng... nhưng trớ trêu là họ lại hít phải khí độc hoặc nhiễm độc từ các vật dụng ngay trong nhà” - PGS Nga cảnh báo. Giới chuyên môn cho biết formaldehyde là một trong các chất gây ô nhiễm không khí trong nhà, trong khi những vật dụng mà con người hay tiếp xúc như vật liệu bằng gỗ, rèm cửa, chăn gối, bọc đệm ghế, thảm, xốp cách điện… thường chứa chất này. Ở nồng độ trên 0,1 mg/kg không khí, việc hít thở phải formaldehyde có thể gây chảy nước mắt, đau đầu, cảm giác nóng trong cổ họng và khó thở. “Nhiều gia đình có thói quen sử dụng những viên long não (hay băng phiến) để đuổi gián và những loài gặm nhấm ra khỏi nhà nhưng thực tế trong long não, loại được tổng hợp từ naphthalene, rất độc hại. Nếu phải “chung sống” với chất độc này trong ngôi nhà của mình thời gian dài có thể gây ra các triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, bồn chồn, buồn nôn, vàng da… rất nguy hiểm cho phụ nữ có thai và trẻ em” - PGS Nga cảnh báo. Không chỉ những người sống trong không gian chật chội bị nhiễm độc mà ngay cả ở các văn phòng cửa kính hay nhà ở rộng rãi cũng có những vật dụng là “ổ chứa” của nhiều mầm bệnh. Theo PGS Nga, máy điều hòa không khí chính là “thiên đường” của “đội quân” hùng hậu vi khuẩn, virus và nấm mốc… sẵn sàng tấn công sức khỏe của mọi người nếu không biết vệ sinh đúng cách. Bác sĩ Bùi Văn Khánh, Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng - Bệnh viện Bạch Mai, cho biết những năm gần đây, tỉ lệ người bị dị ứng, hen, viêm đường hô hấp gia tăng đáng kể. Thay đổi thời tiết có thể làm biến đổi thành phần bụi, từ đó các vật dụng như thảm trải nhà, lông động vật, hóa chất… là nguy cơ gây ra các bệnh dị ứng, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay các đợt nhiễm trùng hô hấp. Hiện chúng ta chưa có biện pháp hoặc hóa chất nào có thể loại trừ hoàn toàn các “kẻ thù” nói trên.
Xem thêm

2 Đọc thêm

LÀM GÌ KHI GẶP CƠN HEN SUYỄN CẤP TÍNH?

LÀM GÌ KHI GẶP CƠN HEN SUYỄN CẤP TÍNH?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cơn hen suyễn cấp là những đợt ho, khò khè, nặng ngực, khó thở xảy ra do tình trạng tắc nghẽn luồng khí thở do các phế quản bị co thắt, sưng phù làm hẹp lòng phế quản và do đàm nhớt làm bít tắc phế quản. Việc xử trí cấp cứu cơn hen suyễn nhằm mục đích chặn đứng cơn suyễn ngay tức thời giúp người bệnh giảm khó thở, tránh những biến chứng nặng của bệnh và tránh những diễn biến xấu về sau. Biểu hiện Cơn suyễn có thể khởi phát một cách rầm rộ, đột ngột, cũng có thể diễn tiến từ từ, nặng dần lên. Cũng có trường hợp cơn suyễn như “hung thần bóng đêm”, đêm nào cũng xuất hiện phá vỡ giấc ngủ, “tác oai tác quái” vài giờ rồi đến khi mặt trời ló dạng thì dịu dần, người bệnh có thể đi học, đi làm bình thường rồi khi đêm đến, “hung thần” lại tái xuất hiện. Có 4 triệu chứng chính thường gặp trong bệnh hen suyễn: Khó thở: Cảm giác ngộp, không thở được, “thiếu hơi”, không đủ hơi để thở. Khi cơn suyễn diễn ra rầm rộ, dữ dội, người bệnh có cảm giác bị bóp nghẹt như ai siết cổ không thở được.   Không nên để quá trễ khi cơn suyễn đã diễn tiến khá lâu hoặc khi người bệnh không còn chịu đựng được nữa mới dùng thuốc (Ảnh minh họa) Khò khè: Là tiếng rít đi kèm với nhịp thở, thường nghe thấy khi thở ra. Thở khò khè là triệu chứng thường gặp nhất của cơn hen. Ho: Thường đi kèm với khó thở, xảy ra nhiều vào lúc nửa đêm về sáng hay khi gắng sức. Cũng có trường hợp người bệnh hen suyễn chỉ có mỗi triệu chứng ho khiến cho việc chẩn đoán bệnh khó khăn. Nặng ngực: Cảm giác như có vật gì nặng đè lên ngực, đây cũng là một biểu hiện của khó thở. Thở khò khè là triệu chứng thường gặp nhất của cơn hen Ảnh: Telegraph.co.uk Những việc cần làm Để chặn đứng cơn khó thở cấp tính, bạn cần phải: - Tránh xa ngay tác nhân gây khởi phát cơn hen cấp nếu nhận diện được chúng (tránh khói hoặc các loại hóa chất có mùi nồng gắt nếu lên cơn hen suyễn ngay khi ngửi chúng, ngưng gắng sức nếu hen do gắng sức, giữ ấm nếu hen do luồng khí lạnh…). - Sử dụng thuốc đường hít sớm và đúng cách: Sử dụng thuốc đường hít tức là đưa thuốc trực tiếp vào đường hô hấp bằng các dụng cụ bơm xịt, bình hít bột khô hay máy phun khí dung. Các phương pháp đều có ưu điểm là giảm bớt khó thở nhanh chỉ sau 2-5 phút. Thuốc cần sử dụng trong trường hợp này là các loại thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn như Ventolin hoặc Berodual…Dùng thuốc đường hít nên được thực hiện sớm ngay khi có những triệu chứng đầu tiên. Không nên để quá trễ khi cơn suyễn đã diễn tiến khá lâu hoặc khi người bệnh không còn chịu đựng được nữa mới dùng thuốc. Để càng muộn thì khả năng cắt cơn suyễn thành công càng thấp. Khi đó lượng thuốc đi vào phổi đã giảm nhiều do các phế quản đã bị co hẹp một phần, đàm tiết ra nhiều gây bít tắc và người bệnh đã quá mệt không còn đủ sức để hít thuốc nữa. Cũng cần lưu ý về kỹ thuật dùng thuốc đường hít sao cho thao tác nhuần nhuyễn để đạt được hiệu quả. Nếu thao tác sai thì lượng thuốc hít vào quá ít không đủ làm giãn phế quản và cơn khó thở sẽ không được giải quyết. Liều thường dùng là 2 nhát hít thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn.  Nếu chưa bớt khó thở, xịt lặp lại mỗi lần 2 nhát cách nhau khoảng  5-10 phút. - Các biện pháp hỗ trợ khác: Nghỉ ngơi, nhấp nước hoặc chất lỏng ấm, ngâm chân nước nóng, ngồi khom người ra phía trước khuỷu tay chống gối hoặc tựa lên mặt phẳng… - Nếu cơn khó thở chưa cải thiện: Nếu không có đáp ứng sau 8 lần xịt hoặc cơn suyễn chỉ lui tạm thời trong vài giờ rồi trở lại thì nên đi khám bác sĩ hoặc đến phòng cấp cứu ngay lập tức để được điều trị triệt để hơn.  Có thể hình dung việc chặn đứng cơn suyễn cũng như dập tắt một ngọn lửa. Nếu ngọn lửa chỉ mới bén, ta có thể dập tắt dễ dàng nhưng nếu ta chần chừ để cho ngọn lửa cháy bùng lên và bắt đầu lan ra xung quanh thì việc dập tắt lửa trở nên khó khăn hơn và để lại hậu quả ít nhiều. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI 17. HÔ HẤP Ở ĐỘNG VẬT

BÀI 17. HÔ HẤP Ở ĐỘNG VẬT

1. Trao đổi khí qua bề mặt cơ thể.2. Trao đổi khí qua hệ thống ống khí.3. Trao đổi khí qua mang.4. Trao đổi khí ở Phổi (phế nang).I. Hơ hấp là gì?Chọn câu đúng:• A. Hô hấp là quá trình tiếp nhận O 2 và CO2 của cơthể từ môi trường sống và giải phóng ra nănglượng.• B. Hô hấp là tập hợp những quá trình, trong đócơ thể lấy oxi từ bên ngoài vào để oxi hóa cácchất trong tế bào và giải phóng năng lượng chocác hoạt động sống , đồng thời thải CO 2 ra ngoài.• C. Hô hấp là quá trình tế bào sử dụng các chấtkhí như O2,CO 2 để tạo ra năng lượng cho các hoạtđộng sống.• D. Hô hấp là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể vàmôi trường, đảm bảo cho cơ thể có đầy đủ oxi,CO 2 cung cấp cho các quá trình oxi hóa các chấttrong tế bào.I. HOÂ HAÁP LAØ GÌ?1. Khái niệm về hô hấpHô hấp là tập hợp những quá trình, trong đó cơ thể lấy O 2 từbên ngòai để ôxi hóa các chất trong tế bào và giải phóng nănglượng cho các họat động sống, đồng thời thải CO2 ra ngòai.
Xem thêm

31 Đọc thêm

Giáo án tự nhiên – xã hội lớp 3 cả năm theo chuẩn KTKN

GIÁO ÁN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI LỚP 3 CẢ NĂM THEO CHUẨN KTKN

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CON NGƯỜI VÀ SỨC KHOẺ Tiết 1: HOẠT ĐỘNG MỞ VÀ CƠ QUAN HÔ HẤP I/ MỤC TIÊU: - Sau bài học: + HS có khả năng nhận ra sự thay đổi của lồng ngực khi ta hít vào, thở ra + Chỉ và nói được tên các bọ phận của cơ quan hô hấp trên sơ đồ + Chỉ trên sơ đồ và nới được đường đi của không khí khi ta hít vào thở ra + Hiểu được vai trò của hoạt động thở đối với sự sống của con người II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: + Các bức tranh in trong SGK được phóng to III/ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Ổn định tổ chức: Hát, kiểm tra sĩ số 2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra đồ dùng của HS 3. Bài mới: a) Giới thiệu bài:( Khởi động) - GV nêu mục đích yêu cầu của bài - Ghi bài lên bảng b) Nội dung: * Thực hành thở sâu: - GV hướng dẫn HS cách thở sâu: “ Bịt mũi nín thở” - GV hướng dẫn HS chơi trò chơi: + Yêu cầu cả lớp thực hành và TLCH: Các em có cảm giác như thế nào? - Gọi 3 HS lên bảng thở sâu - Nhận xét sự thay đổi của lồng ngực khi hít thở? - So sánh lồng ngực khi hít vào thở ra? - Gọi HS nhận xét, bổ sung - GV chốt lại kết luận đúng * Quan sát tranh SGK - Bước 1: Yêu cầu HS hoạt động nhóm 2, 1 HS hỏi, 1 HS trả lời qua hình vẽ - GV treo tranh đã phóng to lên bảng - Gọi 3 cặp HS lên hỏi và trả lời + Cơ quan hô hấp là gì? Chức năng của từng bộ phận? + Nêu các bộ phận của cơ quan hô hấp? - Gọi HS nhận xét, bổ sung - GV kết luận chung 4. Củng cố, dặn dò: - Điều gì xảy ra khi có vật làm tắc đường thở? - Yêu cầu HS liên hệ - Về nhà học bài, chuẩn bị bài sau: “ Nên thở như thế nào?” - HS theo dõi, nhắc lại đề bài - HS thực hành thở sâu và nhận biết sự thay đổi lồng ngực khi ta hít vào thật sâu và thở ra hết sức - HS thực hiên động tác “bịt mũi nín thở”. Nhận xét: Thở gấp hơn và sâu hơn bình thường - 3 HS lên bảng thở sâu như hình 1 trang 4 để cả lớp quan sát - Cả lớp đứng tại chỗ đặt tay lên ngực và thực hiện hít vào thật sâu và thở ra hết sức - Lồng ngực phồng lên, nẹp xuống đều đặn đó là cử động hô hấp: hít, thở - Khi hít vào lồng ngực phồng lên vì phổi nhận nhiều không khí nên phổi căng lên... Khi thở ra hế sức lông ngực xẹp xuống vì đã đưa hết không khí ra ngoài - HS nhận xét, bổ sung - HS quan sát tranh và trả lời nhóm 2 + HS 1: Bạn hãy chỉ vào các hình vẽ nói tên các bộ phận của cơ quan hô hấp? + HS 2: Chỉ vào hình vẽ đồng thời nói tên các bộ phận? + HS 1: Bạn hãy chỉ đường đi của không khí? + HS 2: Chỉ vào hình vẽ và trả lời + HS 1: Đố bạn mũi dùng để làm gì? + HS 2: Mũi dùng để thở.... + HS 1: Phế quản, khí quản có chức năng gì? + HS 2: Dẫn khí - Một số cặp quan sát hình và hỏi đáp trước lớp về những vấn đề vừa thảo luận ở trên nhưng câu hỏi có thể sáng tạo hơn -> Cơ quan hô hấp là cơ quan thực hiện sự trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài -> Cơ quan hô hấp gồm: Mũi, phế quản, khí quản và hai lá phổi. Mũi, phế quản là đường dẫn khí. Hai lá phổi có chức năng trao đổi khí. - HS nhận xét, bổ sung - Làm cho con người không hô hấp và dẫn đến tử vong - Giữ gìn cơ quan hô hấp, vệ sinh hàng ngày, không cho những vật có thể gây tắc đường thở giáo an
Xem thêm

43 Đọc thêm

ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH THIẾT BỊ CƠ BẢN

ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH THIẾT BỊ CƠ BẢN

I.Giới thiệu chung 1. Sơ lược về khí SO2 Trong số những chất gây ô nhiễm không khí thì SO2 là một chất gây ô nhiễm khá điển hình. Sulfuro là sản phẩm chủ yếu của quá trình đốt cháy các nguyên, nhiên liệu có chứa S. Các nhà máy điện thường là nguồn phát sinh ra nhiều SO2 trong khí thải, ngoài ra còn phải kể đến các quá trình tinh chế dầu mỏ, luyện kim, tinh luyện quặng đồng, sản xuất ximang và giao thông vận tải cũng là những nơi phát sinh nhiều khí SO2 Khí SO2 là chất khí không màu, có mùi hăng cay khi nồng độ trong khí quyển là 1 ppm. Khí SO2 là khí tương đối nặng nên thường ở gần mặt đất ngang tầm sinh hoạt của con người, nó còn có khả năng hòa tan trong nước nên dễ gây phản ứng với cơ quan hô hấp của người và động vật. Khi hàm lượng thấp, SO2 làm sưng niêm mạc, khi nồng độ cao> 0,5 mgm3, SO2 sẽ gây tức thở, ho, viêm loét đường hô hấp SO2 làm thiệt hại mùa màng, làm nhiễm độc cây trồng. Mưa axit có nguồn gốc từ khí SO2 làm thay đổi pH của đất, nước, hủy hoại các công trình kiến trúc, ăn mòn kim loại. Ngoài ra ô nhiễm SO2 còn liên quan đến hiện tượng mù quang hóa Chính vì những tác động tiêu cực trên mà việc giảm tải lượng cũng như nồng độ phát thải SO2 vào môi trường là vấn đề rất được quan tâm 2. Phương pháp xử lý SO2 Khí SO2 thường được xử lý bằng phương pháp hấp thụ, tác nhân sử dụng để hấp thụ thường là sữa vôi, sữa vôi kết hợp với MgSO4 hoặc dung dịch kiềm... Trong phạm vi đồ án này, với nhiệm vụ được giao là hấp thụ khí SO2 bằng nước. Đây là phương pháp hấp thụ vật lý nên hiệu suất hấp thụ không cao. Do đó ta phải chọn điều kiện làm việc của tháp hấp thụ ở nhiệt độ thấp và áp suất cao để nâng cao hiệu suất hấp thụ 3. Tháp đệm Tháp đệm được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp hóa chất vì đặc điểm dễ thiết kế, gia công, chế tạo và vận hành đơn giản. Tháp đệm được sử dụng trong các quá trình hấp thụ, chưng luyện, hấp phụ và một số quá trình khác. Tháp có dạng hình trụ, trong có chứa đệm, tùy vào mục đích thiết kế mà đệm có thể được xếp hay đổ lộn xộn. Thông thường lớp đệm dưới thường được sắp xếp, khoảng từ lớp 3 trở đi, đệm được đổ lộn xộn Tháp đệm có những ưu điểm sau: Cấu tạo đơn giản Bề mặt tiếp xúc pha lớn, hiệu suất cao Trở lực trong tháp không quá lớn Giới hạn làm việc tương đối rộng Tuy nhiên, tháp có nhược điểm là khó thấm ướt đều đệm làm giảm khả năng hấp thụ... II.Thiết kế đồ án môn học 1. Đầu đề thiết kế: Thiết kế hệ thống hấp thụ khí thải áp dụng trong công nghiệp 2. Các số liệu ban đầu Hỗn hợp khí cần tách: SO2 trong không khí Dung môi: nước Lưu lượng khí vào tháp: 25000 m3h Nồng độ SO2: yđ = 0,028( molmol) Hiệu suất yêu cầu: = 84% Nhiệt độ áp suất và lượng dung môi: mô phỏng theo một số điều kiện
Xem thêm

40 Đọc thêm

Sự cố trong giấc ngủ

SỰ CỐ TRONG GIẤC NGỦ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngủ là giai đoạn cơ thể nghỉ ngơi, nạp lại năng lượng để đón chào ngày mới. Song, không ít người chẳng những không nhận thêm năng lượng mà còn mệt mỏi, thậm chí tử vong trong giấc ngủ, vì sao vậy?… “Kéo gỗ” Theo quan niệm xưa thì ngủ say mới ngáy o o. Ngày nay, theo các nhà khoa học, luồng không khí hít vào khi đi qua chỗ hẹp sẽ tạo thành dòng xoáy. Chính dòng xoáy này làm rung thành đường thở, tạo ra tiếng ngáy. Nguyên nhân gây ra tiếng ngáy gồm: amiđan phì đại, khẩu cái mềm dày, sưng amiđan, khí quản hẹp do béo phì… Vì thế, ở vài trường hợp, nghe tiếng ngáy người ta có thể đoán biết tình trạng bệnh. Nếu thấy ngáy to, thỉnh thoảng ngưng ngáy, đôi khi thức giấc, sáng dậy mỏi mệt chứng tỏ não thiếu dưỡng khí, cần đi tầm soát bệnh để điều trị. Trẻ em bị ngáy thường kèm sốt nhẹ, đôi khi sốt cao, nếu điều trị kháng sinh không hết cần nạo VA hoặc cắt amiđan để trị bệnh tận gốc... Mộng du (Miên hành) nôm na là đi trong lúc ngủ. Thực tế, không chỉ đi, có người còn lái xe, leo tường, leo cây, đi vệ sinh, ngồi trên nóc nhà… Khi ngủ, mọi vùng trong cơ thể đều nghỉ ngơi nhưng ở một số người lại xảy ra hiện tượng trung khu điều hành hoạt động vẫn “làm việc”. Bác sĩ Đặng Văn Mon - khoa Giấc ngủ - Trung tâm Chẩn đoán y khoa TP.HCM giải thích: “Do trung tâm hoạt động “thức” còn các trung tâm khác (sợ hãi, lo lắng…) vẫn ngủ, nên người mộng du làm được những việc nguy hiểm dễ dàng hơn khi thức. Ngay lúc đó, không nên gọi bệnh nhân, vì tiếng gọi sẽ đưa ý thức quay trở lại. Chính sự hoảng sợ của người mộng du khi phát hiện mình đang ở vị trí nguy hiểm có thể dẫn đến tai nạn”. Ở trẻ em, trước khi kết luận là mộng du, cần xem xét trẻ có bị động kinh trong giấc ngủ hay không. Thực tế, khi trẻ em bị mộng du đồng nghĩa với nội tâm có vấn đề cần giải tỏa. Ở người lớn, nguyên nhân phức tạp hơn nhưng thường do tâm lý bất ổn (biến cố, stress…). Nếu một tuần mộng du từ một đến hai lần, bạn nên đi bác sĩ.   Ác mộng là những giấc mơ làm cho đương sự hoảng sợ, lo lắng… (Ảnh minh họa) Ác mộng Ác mộng là những giấc mơ làm cho đương sự hoảng sợ, lo lắng… Trong giấc ngủ có năm giai đoạn: từ giai đoạn một đến gian đoạn bốn cộng với giai đoạn ngủ nghịch thường (GĐNNT) tức (REM-rapid eyes mouvement). Mỗi giai đoạn có một chức năng riêng, trong đó, GĐNNT có nhiệm vụ là chống stress, kích thích cơ thể tiết ra no adrenalin và adrenalin… nhằm “xóa” những tổn thương ở não. Thông thường, quá trình này chỉ kéo dài 45 phút, nhưng có những người giai đoạn này kéo dài cả đêm nên gây mệt và ác mộng. Hiện tượng “bóng đè” cũng từ giai đoạn này mà ra. Ngưng thở khi ngủ Tỉnh giấc đột ngột giữa đêm khuya với cảm giác không thở được, tay chân chới với, người vã mồ hôi… là triệu chứng ngưng thở khi ngủ (NTKN). Có hai nguyên nhân gây NTKN, do thần kinh trung ương (bệnh về thần kinh, não, tai biến mạch máu não… gây ức chế trung tâm hô hấp) và ngoại biên (thường vì béo phì). Nếu có bệnh lý mạch máu não, hen suyễn, cần thận trọng khi dùng thuốc. Các loại thuốc ức chế trung khu hô hấp sẽ gây ra hiện tượng NTKN và có thể dẫn đến tử vong. Đột tử Đột tử là phần kết của một “cuộc tập kích” có sự tham gia của nhiều “phần tử xấu” giấu mặt. Cụ thể, những trường hợp đột tử phần lớn xảy ra ở người đã có một bệnh mãn tính tiềm ẩn (đương sự không hay biết hoặc biết nhưng… ngó lơ). Khi bệnh này có thêm những yếu tố hỗ trợ chúng sẽ “động thủ”. Yếu tố này bao gồm: - Môi trường: thời tiết có độ chênh về nhiệt độ lớn về ban đêm. - Nội tiết thay đổi về đêm. - Thuốc sử dụng hợp lý hay không hợp lý về ban đêm. Ví dụ người bị bệnh tim, bệnh mạch máu lại uống rượu rồi nằm quạt, máy lạnh… sẽ dễ bị vỡ mạch máu, gây ra nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não… Người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), nằm phòng lạnh bị mất nhiệt và phế quản co thắt không giãn nở… không thở được cũng có thể đột tử!
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ô nhiễm không khí là thủ phạm gây ung thư

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ LÀ THỦ PHẠM GÂY UNG THƯ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày 17.10, đã xếp ô nhiễm không khí ngoài trời là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. Ông Kurt Straif, giám đốc IARC, cho biết trước đây cơ quan nghiên cứu ung thư này vẫn đánh giá một số thành phần gây ô nhiễm không khí như khói động cơ diesel là chất gây ung thư, song đây là lần đầu tiên IARC coi ô nhiễm không khí nói chung là nguyên nhân gây ra các căn bệnh chết người này.   WHO cảnh báo ô nhiễm không khí là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. (Ảnh minh họa) “Không khí mà chúng ta hít thở đã trở nên ô nhiễm với nhiều chất gây ung thư”, hãng tin AFP dẫn lời Kurt Straif, chuyên viên của Cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư của WHO (IARC), cho biết. “Đến nay chúng ta biết rằng ô nhiễm không khí không chỉ là mối nguy hiểm lớn đối với sức khỏe nói chung mà còn là một nguyên nhân hàng đầu gây ra căn bệnh ung thư chết người”, ông thông báo. Cùng với nhiều chất nguy hiểm như amiăng, thuốc lá, phóng xạ tia cực tím, WHO coi ô nhiễm không khí là chất sinh ung thư trong môi trường nguy hiểm nhất, hơn cả việc hút thuốc thụ động. Theo ông Straif, các nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là khí thải từ giao thông vận tải, các nhà máy điện, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Việc phân loại trên được đưa ra sau khi nhóm các nhà khoa học thuộc IARC phân tích hơn 1000 nghiên cứu trên toàn thế giới và đưa ra đủ bằng chứng cho thấy ô nhiễm không khí ngoài trời là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư phổi. Trước đó, ô nhiễm không khí cũng được xác định là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ người mắc các bệnh về đường hô hấp và tim mạch. Theo các số liệu thống kê mới nhất của IARC, năm 2010, hơn 220.000 trường hợp tử vong do ung thư phổi trên toàn thế giới có liên quan đến ô nhiễm không khí và đây cũng là nguyên nhân liên quan đến tăng nguy cơ gây ung thư bàng quang.
Xem thêm

1 Đọc thêm

MÀNG PHỔI VÀ ÁP SUẤT ÂM MÀNG PHỔI

MÀNG PHỔI VÀ ÁP SUẤT ÂM MÀNG PHỔI

Màng phổi và áp suất âm màng phổiMàng phổi gồm hai lá : lá thành dính vào lồng ngực và lá tạng dình vào phổi.Hai lá không dính nhau mà chỉ áp sát vào nhau tạo nên một khoảng ảo kín gọi là khoảng mang phổi, trongkhoảng chỉ chứa một ít dịch nhờn giúp 2 lá có thể trượt lên nhau một cách dễ dàng.Áp suất trong khoang màng phổi thấp hơn áp suất khí quyển và gọi là áp suất âm ( nếu qui ước áp suất khíquyển bằng 0).Phổi có tính đàn hồi do các sợi đàn hồi do các sợi đàn hồi nên luôn có khuynh hướng co lại nhỏ hơn thể tíchcủa lồng ngực lá tạng bị kéo tách khỏi lá thành nên thể tích khoang màng phổi có khuynh hướng tăng lên.Khoang màng phổi là một khoang kín theo định luật vật lí, trong một bình kín, ở nhiệt độ không đổi,khi thểtích bình có khuynh hướng tăng lên thì áp suất trong bình sẽ giảm xuống thấp hơn áp suất bên ngoài bình ,chính vì vậy mà khoang màng phổi có áp suất thấp hơn áp suất khí quyển.Áp suất âm của khoang màng phổi còn chịu sự chi phối của sự thay đổi kích thước của lồng ngực khi thở,nên giá trị của nó thay đổi theo chu kì hô hấp , khi phổi càng nở ở thì hít vào thì lực đàn hồi càng lớn nên ápsuất càng âm và khi phổi xẹp bớt ở thì thở ra thì áp suất bớt âm hơnÝ nghĩa sinh lý của áp suất âm khoang màng phổi rất quan trọng:Để có áp suất âm, lồng ngực phải kín , áp suất âm làm lá tạng luôn dính vào lá thành nên phổi sẽco dãn theo cử động lồng ngực . khi áp suất âm mất đi , phổi sẽ không co giãn theo lồng ngực nữadẫn đến rối loạn hô hấp . Điều này thể hiện rõ ở những bệnh nhân bị vết thương tràn vào khoangmàng phổi, khi đó áp suất khoang màng phổi cân bằng với áp suất khí quyển,do tính đàn hồi phổisẽ xẹp lại . Khi bệnh nhân thở , không khí sẽ đi ra đi vào khoang màng phổi thông qua vết thươngphổi hầu như không co giãn theo động tác hô hấp làm bệnh nhân bị suy hô hấp .
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGÁY VÀ NGỪNG THỞ KHI NGỦ

NGÁY VÀ NGỪNG THỞ KHI NGỦ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Có nhiều người mắc bệnh ngáy hoặc ngừng thở nhiều lần trong khi ngủ. Khoảng 80% nam giới và 60% nữ giới thường ngáy khi ngủ; còn ngáy và ngừng thở khi ngủ thì gặp ở 4% nam giới và 2% nữ giới. Ngáy và cách xử trí Ngáy là do màn hầu, phần mềm của thành trên khoang miệng, bị rung lên khi thở. Những người ngủ ở tư thế nằm ngửa hay ngáy nhất vì tư thế này làm giãn cơ khiến không khí từ mũi, họng phải cố mở đường đi vào khí quản nên làm rung vang màn hầu.   Lệch vách ngăn mũi, viêm niêm mạc mũi, phì đại amiđan... có thể dẫn đến tình trạng ngáy (Ảnh: Tấn Thạnh) Ngáy có thể là hậu quả của hiện tượng tắc nghẽn lưu thông khí giữa mũi và họng như trong trường hợp lệch vách ngăn mũi, viêm niêm mạc mũi, phì đại amiđan hoặc sùi vòm họng, lưỡi gà to, lưỡi to. Ngáy cũng hay gặp ở người béo phì hoặc người bị dị dạng đường thở. Đáng chú ý là những bệnh nhân hôn mê sâu thường thở rống và ngáy rất to. Những người ngáy nhỏ có thể hết ngáy nếu ngủ không nằm ngửa. Ngáy sẽ đỡ rất nhiều nếu bệnh nhân bỏ rượu và thuốc lá, không dùng thuốc ngủ và giảm cân nặng ở người béo phì. Nếu ngáy ở mức độ nặng, nhất là ngáy kèm theo tình trạng ngừng thở khi ngủ, cần được phẫu thuật tạo hình hầu, mới đem lại kết quả tốt. Tiêu chí của cuộc phẫu thuật là làm rộng hầu bằng cách cắt bỏ phần thấp của vòm miệng để khí lưu thông dễ dàng. Hơn 80% trường hợp phẫu thuật tạo hình hầu có kết quả tốt. Có thể mổ bằng laser sau khi đã gây tê tại chỗ cho bệnh nhân. Một số phẫu thuật khác đòi hỏi phải gây mê cho bệnh nhân. Sau phẫu thuật, việc ăn uống sẽ gặp khó khăn trong 1 tuần. Ngừng thở và cách điều trị Hiện tượng ngừng thở gặp ở cả nam và nữ, thuộc mọi lứa tuổi, càng lớn tuổi càng hay gặp. Theo nhiều nghiên cứu, ở những người từ 30-50 tuổi, cứ 100 người thì có 1 người bị tình trạng ngừng thở, thường là người béo phì hoặc ngáy to. Ngừng thở biểu hiện bằng một loạt lần ngừng thở nối tiếp nhau, mỗi lần ngừng từ 20-30 giây trong lúc tim vẫn đập bình thường. Sau mỗi lần ngừng thở, người bệnh lại đột ngột thở lại ngay và bừng tỉnh dậy. Nếu ngừng thở quá nhiều lần, chẳng hạn trên 30 lần trong 6 giờ, sẽ làm giảm lượng ôxy cung cấp cho máu. Bệnh nhân không nhớ gì về những lần bừng tỉnh sau khi ngừng thở mà chỉ cảm thấy mình đã ngủ không tốt. Một số khác lại phàn nàn là toàn nằm mơ khi ngủ, đêm ra nhiều mồ hôi, sáng dậy thấy đau đầu, ban ngày khó tập trung tư tưởng và ngủ gật. Sau nhiều năm, bệnh sẽ có biến chứng suy hô hấp mạn tính và các rối loạn tim mạch như cao huyết áp, đau tim, rối loạn nhịp tim, tai biến mạch máu não, thậm chí đột tử. Có một loại ngừng thở khi ngủ là hội chứng Pickwick chỉ gặp ở người béo phì, đó là ngừng thở khi ngủ ban đêm, ngủ gật ban ngày và xuất hiện hiện tượng tím tái (móng tay và môi xanh). Tình trạng ngừng thở thường rơi vào bệnh nhân béo phì nên giảm cân là yêu cầu đầu tiên đối với những người này. Bên cạnh đó, bệnh nhân không được uống rượu 2 giờ trước khi đi ngủ, không được uống thuốc ngủ. Từ lâu đã có một cách điều trị là cho bệnh nhân đeo mặt nạ che kín mũi và miệng trong khi ngủ; dùng một máy nén khí đưa khí qua mặt nạ vào mũi, đi sâu vào các đường thở để giữ cho chúng lúc nào cũng mở rộng, nhờ vậy sẽ duy trì một áp lực giương cố định ở các đường thở. Nhưng nhiều khi cũng phải cần đến phẫu thuật để làm cho khí lưu thông dễ dàng, chẳng hạn như sửa vách ngăn mũi, tạo hình hầu, cắt bỏ amiđan.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nguy cơ ung thư vì kem chống nắng kết hợp nước rửa tay

NGUY CƠ UNG THƯ VÌ KEM CHỐNG NẮNG KẾT HỢP NƯỚC RỬA TAY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các nhà nghiên cứu cho biết 50 hóa chất thường ngày, trong đó gồm cả các hóa chất được tìm thấy trong món khoai tây chiên có thể kết hợp với nhau làm tăng nguy cơ ung thư của con người. Những nghiên cứu trước đó đã đánh giá thấp khả năng gây nguy hiểm của những hóa chất này vì họ đã không xem xét việc nguy cơ có thể xảy ra khi các hóa chất kết hợp cùng nhau. Một tổ công tác gồm 174 nhà khoa học ở 28 quốc gia trên thế giới đã xem xét nghiên cứu mối liên hệ giữa các hỗn hợp hóa chất “thông thường và tất yếu” cùng sự phát triển của bệnh. 50 hóa chất được đánh giá là có tác động nhỏ trên cơ thể với liều lượng thấp và được coi là tạo ít rủi ro. Nhưng các nhà nghiên cứu đã thấy rằng khi họ kết hợp các hóa chất khác lại với nhau có thể kích thích, tạo ra sự thay đổi dẫn đến ung thư. Trong đó các hóa chất được đánh dấu là triclosn được tìm thấy trong nước rửa tay diệt khuẩn; phthalates, được tìm thấy trong chất đồ nhựa; titanium dioxide, được sử dụng trong kem chống nắng và acrylamide, được tìm thấy trong khoai tây chiên.   Báo cáo cho biết hiện tại phương pháp tiếp cận về sự phơi nhiễm hóa và hình thành ung thư đã không được phác họa để giải quyết các tác động ở nồng độ thấp hay trong hỗn hợp phức tạp. Nhà sinh vật học ung thư Hemad Yasaei, của Đại học Brunel ở London, cho biết: “Nghiên cứu này đã dự phòng các ý tưởng rằng những hóa chất vốn không được coi là có hại khi kết hợp lại và tích lũy trong cơ thể gây ra ung thư và có thể gây ra dịch bệnh ung thư toàn cầu mà chúng ta đang chứng kiến”. Nhà sinh học này nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải tập trung nhiều nguồn lực để nghiên cứu ảnh hưởng của phơi nhiễm liều thấp đối với các hóa chất trong thực phẩm chúng ta ăn, không khí chúng ta hít thở và nước chúng ta uống. Nghiên cứu hiện tại ước tính rằng hóa chất có thể chịu trách nhiệm tương đương với một trong năm loại ung thư. Với số lượng người thường xuyên tiếp xúc với hàng ngàn hóa chất, những ảnh hưởng cần phải được tìm hiểu rõ hơn để giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư trên toàn cầu. Tiến sĩ Yasaei nói: “Chúng tôi không muốn tạo ra một sự hoảng loạn. Những gì chúng ta đang nói đến là chúng ta cố tình không nhìn vào hóa chất đã được biết là gây ra ung thư trực tiếp, những hóa chất có thể gây ra một sự xáo trộn trong một tế bào.” Yasaei cũng đã đưa ra ví dụ về atrazine, một chất diệt cỏ được sử dụng trên cây ngô ở nước Mỹ và được coi là an toàn. Ông cho biết nó có thể tiếp xúc với niken, được tìm thấy trong nồi và chảo - nhưng những ảnh hưởng của hai chất hóa học trong sự kết hợp ở cơ thể con người lại không được biết đến. Trong khi hầu hết chúng ta dùng kem chống nắng để bảo vệ chúng ta khỏi bệnh ung thư, nghiên cứu mới cho thấy một số hóa chất trong kem chống nắng có thể được kết hợp với hóa chất trong các đối tượng khác hàng ngày gây ra một "dịch bệnh ung thư toàn cầu".
Xem thêm

1 Đọc thêm

THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI BIGC THĂNG LONG

THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI BIGC THĂNG LONG

THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI BIGC THĂNG LONG.Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT.1.1 TỔNG QUAN VỀ ATVSLĐ TRONG DOANH NGHIỆP1.1.1 Điều kiện lao động a, Khái niệmĐiều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên, thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, năng lực của NLĐ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá tringf sản xuất, kinh doanh.b, Các yếu tố cấu thành của điều kiện lao động và sự tác động qua lại lẫn nhau.Các yếu cấu thành của điều kiện lao động bao gồm 5 yếu tố: Người lao động; quá trình công nghệ; môi trường lao động; công cụ, phương tiện; đối tượng lao động. Năm yếu tố cấu thành này có tác động qua lại lẫn nhau; mỗi yếu tố biểu hiện có nhiều yếu tố nhỏ hơn thành tương tác độc lập. Trong quá trình sản xuất có thể gây ra các yếu tố nguy hiểm độc hại.c, Các yếu tố của điều kiện lao độngCác yếu tố của sản xuất – kinh doanh ( ảnh hưởng trực tiếp đến ATVSLĐ):máy, thiết bị, công cụ; nhà xưởng; năng lượng, nguyên vật liệu; đối tượng LĐ, NLĐCác yếu tố liên quan đến sản xuất, kinh doanh (ảnh hưởng gián tiếp đến AT VSLĐ): yếu tố tự nhiên liên quan đến nơi làm việc; yếu tố KTXH; quan hệ, đời sống, hoàn cảnh gia đình liên quan đến tâm lý NLĐd, Ảnh hưởng của điều kiện lao độngTích cực•Hiệu quả lao động tốt•Năng suất lao động caoTiêu cực•Gây ảnh hưởng đến kết quả lao động, sức khỏe và an toàn của NLĐ bao gồm:Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương, tai nạn lao độngCác yếu tố có hại gây ảnh hưởng sức khỏe, gây bệnh nghề nghiệp e. Chỉ tiêu đánh giá điều kiện lao động của doanh nghiệp Tình trạng an toàn của quy trình, công nghệ, máy,thiết bị Tình hình tổ chức lao động: việc SDNLĐ, cường độ, tư thế, vị trí, tinh thần NLĐ Năng lực nói chung của đội ngũ lao động ( lành nghề, nhận thức, cách phòng tránh) Tình trạng nhà xưởng ( sự tuân thủ các quy định về ATVSLĐ về thiết kế PCCC, bố trí, tiêu chuẩn vệ sinh công ngiệp.1.1.2. Tổ chức bộ máy ATVSLĐ.Sơ đồ bộ máy ATVSLĐ ở cơ sở Khối trực tiếp sản xuấtQuản đốc phân xưởngTổ trưởngAn toàn vệ sinh sinh viênNgười lao độngBộ máy công tác ATVSLĐ gồm: + Hội đồng công tác ATVSLĐ+ Bộ phận làm công tác ATVSLĐ+ Bộ phận y tế+ Mạng lưới ATVS viên.1.2 AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP.1.2.1. Các yếu tố nguy hiểm. 1.2.1.1. Khái niệm các yếu tố nguy hiểm. Sự nguy hiểm trong danh nghiệp: là những khả năng tác động của các yếu tố nguy hiểm có hại đối với người lao động trong sản xuất. Yếu tố nguy hiểm là các yếu tố gây mất an toàn làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. Yếu tố nguy hiểm thường tác dụng một cách bất ngờ lên cơ thể người lao động gây chết người hoặc gây chấn thương các bộ phận cơ thể của người lao động.Các lĩnh vực sản xuất tiềm ẩn yếu tố nguy hiểm: trong sử dụng các máy cơ khí; lắp đặt sửa chữa và sử dụng điện; lắp đặt và sử dụng các thiết bị áp lực; lắp đặt và sữa chữa các thiết bị nặng; trong lắp máy và xây dựng; trong ngành luyện kim; trong sử dụng và bảo quản hóa chất; trong khai thác kho, khoáng sản; trong thăm dò dầu khí; trong nhà bếp, quán bar, nổ bình ga, chập điện,..Nguyên nhân: •Do người lao động vi phạm các quy định an toàn hoặc không được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động. •Các lĩnh vực kinh doanh có nhiều nguy hiểm: xây dựng (chiếm 51,11 % tai nạn lao động), khai khoáng (12,7 % tai nạn lao động), sản xuất vật liệu xây dựng (8,3% số tai nạn lao động), cơ khí chế tạo (8% số tai nạn lao động). 1.2.1.2. Phân loại các yếu tố nguy hiểm. Thứ nhất là nhóm nguy hiểm cơ học. Các yếu tố nguy hiểm của nhóm này bao gồm: các bộ phận cơ cấu truyền động; sự chuyển dịch của bản thân máy móc; các bộ phận chuyển dịch quay với tốc độ lớn; vật rơi đổ sập; vật văng bắn; trơn truợt ngã,....; hành xử thiếu văn hóa. Thứ hai, là nhóm yếu tố nguy hiểm về điện. Tùy theo mức điện áp và cường độ dòng điện sẽ này gây ra thường làm người lao động tê liệt hệ thống tim mạch, hô hấp. Thứ ba, nhóm yếu tố nguy hiểm về hóa chất. Những yếu tố này có thể gây nhiễm độc cấp tính ( SO2, SO3, CO, CO2, NO2, H2S, hóa chất bảo vệ thực vật và các loại chất độc khác thuộc hóa chất bảo vệ thực vật và các chất độc khác thuộc danh mục phải báo đăng kí) hoặc bỏng do hóa chất ( độ 2, độ 3 ). Thứ ba, nhóm nguy hiểm về nổ. Nhóm này được chia làm hai nhóm chính đó là nhóm nổ hóa học, nổ vật liệu, nổ của kim loại nóng chảy và nổ vật lí. •Nhóm nổ vật lí: nổ khi áp xuất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, các bình khí nén, khí thiên nhiên, hóa chất giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu. •Nhóm nổ hóa học: là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực phá hủy hoại các công trình, gây tai nạn cho người trong phạm vi nổ. •Nhóm vật liệu nổ (nổ chất rắn): sinh công lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí, gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định. •Nhóm nổ kim loại nóng chảy khi rót kim loại lỏng vào trong khuôn ướt, khi thải xì,.. Thứ tư, nhóm yếu tố nguy hiểm về nhiệt. Nguồn nhiệt do các vật nóng chảy, tia lửa điện, ngọn lửa, ... trong các lò nung nhiệt liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn,... Nhóm nguy hiểm tồn tại trong các môi trường rắn, lỏng, khí gây nguy cơ bỏng, cháy nổ. Ví dụ: như các bộ phận nấu ăn, các bộ phận hàn,.... 1.2.2. Các biện pháp kĩ thuật an toàn lao động. An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động các yếu tố nguy hiểm nhằm đảm bảo không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người tron quá trình lao động. Kĩ thuật an toàn lao động là hệ thống cac biện pháp và phương pháp về tổ chức và và kĩ thuật nhằm phòng ngừa các yếu tố nguy hiểm đối với người lao động trong sản xuất. Một số biện pháp phòng ngừa an toàn lao động: Đối với người lao động. •Mục đích; dự phòng các yếu tố liên quan đến con người. •Yêu cầu: Thực hiện thao tác, tư thế lao động phù hợp, đúng nguyên tắc an toàn, tránh các tư thế cuối gập người, cá tư thế ảnh hưởng đến cột sống, thoái vị đĩa đệm,.... Bảo đảm không gian vận động, thao tác tối ưu, sự thịc nghi giữa người và máy...Đảm bảo các điều kiện lao động thị giác, thính giác, xúc giác,... Đảm bảo tâm lí phù hợp, tránh quá tải, căng thẳng hay đơn điệu. Biện pháp che chắn an toàn: •Mục đích: Vùng nguy hiểm: vùng có điện áp cao, các chi tiết chuyển động, nơi vật có thể rơi, ngã, văng bắn, mãnh vỡ,...Mục đích che chắn: cách ly người với lao động với vùng nguy hiểm. Để ngăn ngừa người lao động tụt ngã hoặc vật rơi vào người, ngăn vỡ bánh đà, đá mài phoi tiện,... . •Yêu cầu đối với các thiết bị che chắn: phải thõa mãn yêu cầu và quy định tiêu chuẩn TCVN 4111 89 đối với các thiết bị che chắn: Ngăn ngừa được các tác động xấu do các thiết bị sản xuất gây ra. Không gây cản trở cho thao tác của người lao động. Không gây ảnh hưởng đến năng suất lao động, công suất của các thiết bị. Dễ dàng lắp ráp và tháo gỡ khi cần thiết. •Các loại thiết bị che chắn: Che chắn tạm thời hay di chuyển được; che chắn hào, hố các vùng làm việc trên cao,... Che chắn cố định như: bao che của các bộn phận chuyển động, che, chắn, các bộ phận dẫn điện, che chắn các nguồn bức xạ có hại,... Loại kín như các dạng hộp giảm tốc, hộp tốc độ, bàn xe dao,... Loại hở dùng cho các những cơ cấu cần theo dõi. Biện pháp sử dụng các thiết bị và cơ cấu phòng ngừa. •Khái niệm: Thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là các phương tiện kĩ thuật an toàn tự động ngắt chuyển động, hoạt động của máy và thiết bị sản xuất khi có một thông số kĩ thuật nào đó vượt quá giới hạn quy định cho phép. Nguyên tác làm việc dựa trên nguyên lí: cơ học, quang học, nhiệt, điện, từ. •Mục đích:Loại trừ hoặc ngăn chặn là các phương tiện sự cố, nguy cơ sự cố hoặc các thnông số của đối tượng phòng ngừa vuợt quá giới hạn quy định của đối tượng. Thiết bị phòng ngừa chỉ đảm bảo làm việc tốt khi đã tính toán đúng ở khâu thiết kế, chế tạo và phải tuân thủ các quy định về kiểm tra an toàn lao động trong sử dụng. •Phân loại các thiết bị phòng ngừa: Hệ thống thiết bị phòng ngừa tự hồi lại khả năng làm việc khi đối tượng phòng ngừa đó trở lại dưới giới hạn quy định như: van an toàn kiểu trọng tải, rơ le nhiệt,... .Hệ thống phục hổi lại khả năng
Xem thêm

27 Đọc thêm

Thở đúng cách khi đẻ: Lợi đủ đường!

THỞ ĐÚNG CÁCH KHI ĐẺ: LỢI ĐỦ ĐƯỜNG!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tại sao các khóa học tiền sản lại chú ý tới việc dạy bà mẹ tương lai cách thở đúng? Thứ nhất, để vào thời điểm khi chui ra khỏi bụng mẹ, em bé nhận được đủ lượng oxy cần thiết; Thứ hai, để sau này bé khỏe mạnh; Và cuối cùng, để các sản phụ không bị đau đớn khi vượt cạn. Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ trải qua không ít những biến đổi. một trong những biến đổi lớn nhất gắn liền với hệ tim mạch và hệ hô hấp, vốn ngày càng phải chịu đựng một trọng tải lớn hơn. Ví dụ, để cung cấp lượng ôxy cần thiết cho thai nhi đang ngày một lớn lên, lượng mái tuần hoàn trong cơ thể tăng mạnh, và tim phải đập nhanh hơn. Đặc biệt, quá trình này rõ rệt nhất là vào tuần thai thứ 25-28, khi tim phải chịu trọng tải tối đa và bản thân người mẹ tương lai cũng tự cảm nhận thấy việc tim mình đập nhanh hơn hẳn. Ngoài ra, trong thời kì mang thai, phổi của người phụ nữ cũng phải làm việc nhiều hơn bình thường. Chính vì thế mà kể cả những thai phụ có sức khỏe tốt cũng bị cảm giác khó thở, thậm chí ngay cả khi ngồi yên một chỗ chứ không chỉ sau giờ làm việc hoặc khi đi bộ. Để trong quá trình sinh con, tim và phổi chịu được trọng tải lớn, khi mang bầu bạn cần dành thời gian học thở. Bạn có thể tới các khóa tiền sản để học về động tác này. Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu về các nguyên tắc thở chung như sau: Giai đoạn thứ nhất khi sinh con Khi bạn đau đẻ, lượng ôxy cần thiết cho cơ thể tăng lên tới 85%, còn trong khi bạn rặn đẻ thì cơ thể thậm chí cần một lượng ôxy lớn hơn bình thường từ 150-250%. Trong khoảng thời gian diễn ra các cơn đau đẻ, lượng mái trở về tim lớn hơn bình thường tới 0,5 lít, vì thế mà huyết áp tăng lên, tim đập nhanh và hơi thở dồn dập hơn. Bạn cần hít vào thật sâu, thật đầy và thở ra cũng vậy, không nên để sót lại lượng không khí “đã qua sử dụng” lưu lại trong phổi.   Thở đúng cách khi sinh nở không chỉ giúp mẹ bớt đau mà còn có lợi cho bé. (ảnh minh họa) Thông thường, cứ sau mỗi cơn đau đẻ lại có một khoảng thời gian yên ắng nhất định. Bạn nên lợi dụng thời điểm này để nghỉ ngơi và thư giãn. Hãy hít thở nhẹ nhàng và đều đặn như khi bạn ngủ. Thử hình dung rằng người bạn đang lơ lửng trong trạng thái chân không, bạn có thể ngủ được một lát. Nên sử dụng các loại thuốc giảm đau: Các nghiên cứu cho thấy phản ứng của cơ thể khi bị đau là thở dồn dập hơn và nông hơn, thậm chí ngừng hít thở hoặc ngừng thở ra. Thế nhưng, trong khi chuyển dạ bạn rất cần hít thở, chỉ có điều phải học cách hít thở sao cho đúng. Nên nhớ rằng bạn không chỉ thở bằng phần vai mà bằng cả lồng ngực, đẩy không khí vào tận những góc xa nhất của phổi để mái nhận được đủ lượng ôxy cần thiết. Giai đoạn thứ hai khi sinh con Cổ tử cung mở hết cỡ, đầu em bé từ vùng xương chậu chuẩn bị chui ra ngoài. Lúc này nếu bạn muốn rặn thì còn quá sớm (bác sĩ đỡ đẻ sẽ thông báo với bạn khi nào được rặn), bạn cần chịu đựng cơn buồn rặn. Điều bạn cần làm lúc này là thở gấp (thở kiểu chó), chỉ có điều cần chú ý để khỏi bị chóng mặt. Sau khi cơn buồn rặn đã qua, bạn có thể trở lại kiểu thở bình thường và sâu như trước. Trước khi rặn đẻ, bạn cần hít một hơi thật sâu như người sắp nhảy xuống nước, sau đó giữ hơi thở trong lồng ngực (chứ không phải giữ ở hai má!) và rặn hết sức. Cố gắng để cường độ của cú rặn tăng dần chứ không tăng đột ngột. Sau đó, bạn thở ra một hơi dài, hít vào dể lấy không khí cho lần sau và tiếp tục lần rặn tiếp theo. Giữa các cú rặn, bạn cần thở chậm và nhẹ nhàng. Điều này không chỉ cần cho bạn mà còn cho cả em bé, vì trong khi bạn rặn, bé có thể bị thiếu ôxy. Thông thường ngay sau khi sinh, hơi thở của người phụ nữ trở lại như bình thường, tuy nhiên những biến đổi của hệ tim mạch chỉ dần dần mất di trong vòng hai tuần sau đó. Trog thời kì mang thai, áp lực lên tim tăng lên nhiều lần, nguyên nhân là do thai nhi lớn dần trong bụng mẹ, dạ con to lên và người mẹ tăng cân. Chính vì thế mà bắt đầu từ tuần thứ 12, tim đập 82-88 lần/phút. Còn huyết áp thì giảm đi đôi chút. Sau khi sinh, huyết áp của người mẹ lại trở về mức bình thường.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Mẹo hay chữa nhức đầu

MẸO HAY CHỮA NHỨC ĐẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các cơn nhức đầu có thể cản trở công việc hằng ngày và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của bạn. Những biện pháp sau sẽ giúp bạn tự ngăn ngừa và khống chế các cơn nhức đầu ngay tại nhà. Giảm căng thẳng ở cơ quan và ở nhà: Thường xuyên lên kế hoạch trước công việc phải làm. Đừng trì hoãn những công việc cần làm ngay. Nên ngủ sớm và dậy sớm. Phải ngủ đủ từ 7-8 tiếng/ngày. Nghỉ giải lao: Thoát ra khỏi tình trạng căng thẳng bằng cách đi bộ hay suy nghĩ về một điều gì đó để thư giãn trong 1-2 phút (ví dụ tưởng tượng đang ngắm một bông hoa). Nếu có nhiều thời gian hơn thì một giấc ngủ ngắn trong phòng tối sẽ giúp bộ não phục hồi lại trạng thái bình thường. Tập hít thở sâu: Những bài tập về hít thở sẽ giúp giảm căng thẳng. Thư giãn  tất cả mọi bắp cơ. Hít vào chậm và sâu. Tập trung chú ý vào việc hít thở. Nín thở trong vài giây rồi thở ra từ từ toàn bộ thể tích khí trong phổi. Lặp đi lặp lại nhiều lần. Vận động: Tập thể dục nhịp điệu vì đây là một phương pháp tốt để làm giảm nhức đầu và tạo cảm giác sảng khoái về thể chất cũng như tinh thần. Chế độ dinh dưỡng thích hợp: Một chế độ ăn cân đối, giàu chất dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất sẽ đem lại cảm giác sảng khoái. Ăn uống đúng giờ giấc và không nên bỏ bữa. Ghi sổ nhật ký các cơn nhức đầu: Liệt kê những thực phẩm bạn ăn vào thời điểm các cơn nhức đầu xuất hiện. Từ đó có thể tránh được nguyên nhân khởi phát cơn nhức đầu.   Hãy sắp xếp công việc thật khoa học, hợp lí để giảm tải việc căng thẳng (Ảnh minh họa) Biện pháp làm lạnh: Chườm nước đá là một trong số các biện pháp điều trị nhức đầu không dùng thuốc hiệu quả nhất. Dùng càng sớm thì hiệu quả càng cao. Ngoài cách áp nước đá vào vị trí đau, nên thử áp túi nước đá vào trán, thái dương. Biện pháp làm nóng: Hãy tắm nước ấm. Nên để vòi sen xịt nước ấm xuống đầu, cổ, vai. Nhiệt độ làm thư giãn các bắp cơ, tăng lưu thông máu và có thể giảm nhức đầu. Dùng thuốc: Có thể dùng acetaminophen hay paracetamol. Phải tuân thủ đúng các hướng dẫn về liều lượng. Đi bác sĩ: Ở một số ít trường hợp, nhức đầu là dấu hiệu của một bệnh lý đang còn ẩn nấp đâu đó. Hãy đi bác sĩ khám ngay nếu nhức đầu không đáp ứng với điều trị hoặc có các biểu hiện: Đột ngột và dữ dội; đột ngột, dữ dội và cứng gáy; nhức đầu kèm sốt, kèm co giật, kèm lú lẫn hay mất ý thức; nhức đầu sau một cú đánh vào đầu; nhức đầu kèm với đau mắt hay đau tai; nhức đầu dai dẳng ở một người trước đây chưa từng bị nhức đầu; nhức đầu tái đi tái lại ở trẻ em; nhức đầu sau tuổi 50; nhức đầu sau một tai nạn
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nhân hạt mơ không dùng tùy tiện

NHÂN HẠT MƠ KHÔNG DÙNG TÙY TIỆN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hạt mơ tức hạt khô trong quả của cây mơ, còn gọi là hạnh nhân, khổ hạnh nhân, bắc hạnh nhân, quang hạnh nhân.  Thành phần hóa học chủ yếu trong nhân hạt mơ chứa 35 - 40% chất dầu (dầu hạnh nhân), 3% amygdalin và men emunsin gồm 2 men amygdalase và prunase. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, chất glucosid trong hạt mơ thủy phân cho cyanhydric acid có tác dụng ức chế nhẹ trung khu hô hấp, vì thế giảm ho suyễn. Benzaldehyde có thể ức chế chức năng tiêu hóa của pepsin, dầu hạnh nhân có tác dụng nhuận tràng... Đông y cho rằng, nhân hạt mơ có vị đắng hơi ôn, có độc ít, quy kinh phế, đại tràng. Trong nghiên cứu về dược lý của Đông y cũng cho thấy, nhân hạt mơ có tác dụng chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện. Chủ trị các chứng ho do phong hàn hoặc phong nhiệt, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo. Theo các y thư cổ thì sách Bản kinh có ghi: “Chủ khái nghịch thượng khí, hầu tý, hạ khí, săn nhũ”. Sách Dược tính bản thảo: “Chủ khái nghịch thượng khí suyễn thúc, cùng thiên môn đông sắc uống nhuận tâm phế, hòa nước qua làm thang nhuận thanh khí”. Sách Trân châu thang: “Trừ phế nhiệt, trị phong nhiệt ở thượng tiêu, lợi hung cách khí nghịch, nhuận đại tràng khí bí”.     Nhân hạt mơ (Ảnh: Internet) Tuy nhiên, trong nhân hạt mơ lại chứa độc tính. Cụ thể là sau khi ăn vào, chất amygadalin và amygdalase kết hợp sinh ra prunasin và mandelonitrile bị phá hủy trong ruột sinh ra benzaldehyde và hydrocyanic acid rất độc. Triệu chứng nhiễm độc: chóng mặt, mệt lả, nôn, tiêu chảy, đau bụng, nóng rát vùng thượng vị, huyết áp tăng, thở nhanh; nghiêm trọng hơn: thở nông chậm, hôn mê, cứng người, co giật, giãn đồng tử, huyết áp hạ, suy hô hấp tuần hoàn dẫn đến tử vong. Người lớn ăn 40 - 60 nhân, trẻ em 10 - 20 nhân có thể gây nhiễm độc nghiêm trọng. Uống anhydric acid, liều gây chết là 0,06g ở người lớn. Thuốc được nấu lên và cho đường giảm bớt độc. Trường hợp quá liều có thể cho uống than hoạt hoặc sirô. Trong dân gian thường dùng vỏ cây mơ hoặc vỏ của rễ làm chất giải độc. Do đó mỗi khi sử dụng nhân hạt mơ để làm thuốc cần lưu ý đến liều thường dùng là từ 3 - 10g, thuốc sắc nên cho sau.       
Xem thêm

2 Đọc thêm

CÁCH PHÒNG TRÁNH NGẠT KHÍ THAN KHI SƯỞI ẤM

CÁCH PHÒNG TRÁNH NGẠT KHÍ THAN KHI SƯỞI ẤM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đợt rét đậm, rét hại vừa qua đã làm một gia đình 3 người chết, 2 người hôn mê sâu vì bị ngạt khí than củi. Từ nay tới hết tháng 2 sẽ còn rét đậm, rét hại, bạn hãy học cách phòng tránh tai nạn khi sưởi ấm bằng than củi theo những thông tin mà các chuyên gia tư vấn dưới đây. Quá trình ngộ độc khí than rất nhanh Theo tài liệu của Hội Hóa học Việt Nam, ngạt than củi hay xảy ra vào mùa đông là vì mưa, rét, lạnh các nhà đều đóng kín cửa, than củi cháy trong điều kiện thiếu không khí và sinh ra khí cực độc là carbon monoxide (CO) rất nguy hiểm… Khí độc CO không màu, không mùi, không tan trong nước nên rất khó nhận biết, nhất là khi đang ngủ, nạn nhân cứ lịm dần, lịm dần. Mùa lạnh người sử dụng sưởi than trong phòng càng kín thì nguy cơ ngộ độc khí CO càng tăng. Quá trình nhiễm độc khí xảy ra rất nhanh, khi nạn nhân bắt đầu cảm nhận "bất thường" thì chân tay không cử động được nữa, cứ lịm đi, hôn mê và tử vong.   Sưởi ấm bằng bếp than khiến nhiều người bị ngạt khí (Ảnh minh họa) Theo TS Phạm Duệ, Giám đốc Trung tâm Chống độc (BV Bạch Mai, Hà Nội), năm nào ngành Y tế cũng có khuyến cáo tới các Sở Y tế, bệnh viện để tổ chức tuyên truyền cho người dân cảnh giác với ngạt khí, bỏng do sưởi lửa, sưởi than. Để hạn chế ngộ độc do khí than, người dân không nên sử dụng bếp than để sưởi vì nó sẽ cháy yếm khí, sinh khí độc là khí CO, nhanh chóng chiếm chỗ của ôxy, hít vào sẽ gây ngạt. Nạn nhân bị ngạt khí CO khi cấp cứu sẽ trở nên khó khăn hơn vì hai cơ quan sử dụng nhiều ôxy nhất đã bị tổn thương nghiêm trọng, nhẹ cũng để lại di chứng thần kinh hoặc tâm thần. Phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người có bệnh tim mạch, mạch máu não nếu bị ngạt khí CO sẽ nặng nề hơn rất nhiều so với người bình thường. 40% số người bị ngạt khí CO để lại các di chứng như giảm trí nhớ, giảm tập trung, cơ mặt liệt, vận động bất thường, đi đứng khó khăn, tay chân cứng và run, liệt nửa người… gọi chung là hội chứng thần kinh - tâm thần muộn. Ngộ độc quá nặng sẽ tử vong, còn những người sống được sẽ sống đời sống thực vật, mất trí tuệ… Phát hiện và cấp cứu người bị ngạt khí than Theo các chuyên gia y tế, triệu chứng bị ngạt khí CO có thể nhận biết như sau: Thể nhẹ: Đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, mệt mỏi, da đỏ lên… dễ nhầm là bị nhiễm virus. Thể vừa: Đau ngực, nhìn mờ, lơ mơ, khó thở khi gắng sức nhẹ, mạch nhanh, thở nhanh, hoại tử cơ… chóng mặt, rối loạn thần kinh, buồn nôn, ngất xỉu và có thể tử vong nếu kéo dài. Thể nặng: Đau ngực, hồi hộp, mất định hướng, co giật, hôn mê, rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp, thiếu máu cơ tim, phỏng da, tiểu tiện, đại tiện không tự chủ. Người ngoài có thể thấy nạn nhân bị ngất, khó thở, thở trào bọt hồng, tay chân sưng đau, tím ở môi và các đầu ngón tay, ngón chân, nước tiểu sẫm màu, đỏ và ít dần hoặc có những động tác bất thường.   Cẩn thận khi sưới ấm mùa đông bằng bếp than (Ảnh minh họa) Cấp cứu như sau: Nếu thấy có người bị ngạt khí CO, cần mở hết các cửa để không khí tràn vào và đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi có khí độc, nhanh chóng đưa tới bệnh viện để cấp cứu, hạn chế di chứng. Người đến cấp cứu nạn nhân cũng cần nhanh chóng gọi thêm người hỗ trợ, đề phòng bị ảnh hưởng khí độc.Quá trình tới viện nếu nạn nhân thở yếu hoặc bất tỉnh, cần phải hà hơi thổi ngạt.  Theo TS Phạm Duệ, nếu trong trường hợp quá lạnh, bắt buộc phải dùng than củi, bếp than hoa để sưởi thì nhà phải có thông khí hoặc mở hé cửa để thông gió, tránh bị ngạt. Ngoài ra, bạn nên trang bị kiến thức phòng ngạt. Khi trong nhà đang sưởi bằng than hoặc sử dụng các loại máy phát điện mà thấy hơi choáng cần phải dậy mở cửa phòng ngay, đừng lười mà sẽ dần lịm đi. Nhà có trẻ em sưởi bếp than không nên để bếp dưới gầm giường hoặc gần nơi dễ bắt lửa để phòng tránh bỏng (nhất là trẻ em hiếu động rất dễ ngã vào chậu than). Bạn có thể học cách sưởi than của đồng bào miền núi bằng cách đặt thêm cái kiềng đun ấm nước (hoặc đơn giản là đặt lon nước vào giữa lò than (chậu than) để tránh hiện tượng hăm nẻ, khô da, bong tróc. “Đồng bào vùng cao họ dùng hơi nước khi sưởi vừa giữ độ ẩm cho da, đồng thời không làm mất nhiệt. Trong nhà luôn nóng có nước để dùng. Nước giúp sinh ra khí CO2 ít độc hơn”, GS.TS Nguyễn Duy Thịnh, ĐH Bách Khoa Hà Nội tư vấn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Y TẾ SỨC KHỎE CỐ ĐỊNH GÃY XƯƠNG

Y TẾ SỨC KHỎE CỐ ĐỊNH GÃY XƯƠNG

- Tiếng lạo xạo vùng gãy xương khi cử động, sờ ấn- Hạn chế vận động và sưng bầm nhưng không đặc hiệu của riêng gãy xương.III. Nguyên tắc xử trí:1. Phát hiện các tổn thương khác kèm theo gãyxương: vỡ tạng (gan, thận, lá lách, bàng quang),đứt mạch máu2. Tư vấn Radio Medical, nhất là trong các trườnghợp gãy xương phức tạp ( hộp sọ, lồng ngực, gẫyxương chậu, xương đùi, cột sống ).3. Phòng, chống sốc: cầm máu, giảm đau, bù dịch, ...4. Cố định xương gãy trước khi vận chuyển, trừ trongcác điều kiện nguy hiểm39Trung tâm Huấn luyện Thuyền viênChăm sóc y tếIV. Xử trí một số loại gẫy xương.1. Vỡ sọ:- Do ngã, va đập, bị đè ép hay do hoà khí...- Người bị thương có thể:+ Tỉnh táo hoặc tri giác “xấu” dần,+ Đau đầu và nôn.+ Chảy máu qua mũi, tai, mồm,+ Liệt và sốc.- Xử trí:+ Phải đặc biệt lưu ý đối với nạn nhânđể không gây thêm tổn thương ở não.
Xem thêm

Đọc thêm

TRONG BỤNG MẸ, THAI NHI CÓ THỞ KHÔNG?

TRONG BỤNG MẸ, THAI NHI CÓ THỞ KHÔNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} “Trong bụng mẹ, thai nhi có thở không?”, “Thai nhi thở thế nào?”… là những câu hỏi mà rất nhiều mẹ bầu quan tâm. Câu trả lời có thể sẽ khiến không ít người bất ngờ bởi khi còn nằm trong tử cung, thai nhi không hề thở bằng miệng và mũi như một đứa trẻ sơ sinh. Khi chào đời là dịp đầu tiên bé chính thức hít thở. Thực tế, phổi của thai nhi không giống với phổi của chúng ta, chúng chứa đầy nước và chính nước ối giúp phổi trưởng thành. Trong suốt 9 tháng nằm trong bụng mẹ, thai nhi lớn lên là nhờ nhận được lợi ích từ hơi thở của mẹ, bao gồm oxy và tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết. Phổi và hệ thống tuần hoàn của mẹ sẽ giúp cung cấp máu, chất dinh dưỡng và oxy cũng như loại bỏ chất thải trong cơ thể cả người mẹ và thai nhi. Trong thời gian này, hệ thống tuần hoàn của bé vẫn đang phát triển, vì thế dây rốn và nhau thai kết nối em bé với mẹ sẽ đảm nhiệm các chức năng của phổi.   Thở thay thế Quá trình trao đổi oxy và carbon dioxide trong cơ thể thai nhi sẽ thông qua nhau thai và dây rốn kết nối giữa mẹ và bé. Máu của người mẹ cũng sẽ lưu thông qua nhau thai và đồng thời mang chất dinh dưỡng đến cho em bé. Nhau thai được gắn vào thành tử cung và dây rốn vì vậy trong 9 tháng mang bầu, người mẹ có nhiệm vụ thở cho cả em bé nữa. Quá trình thở thay thế được diễn ra như sau: khi người mẹ hít vào, oxy trong không khí sẽ đi qua hệ thống tuần của người mẹ, đi vào nhau thai và dây rốn đến thai nhi. Sau đó, carbon dioxide cũng sẽ từ cơ thể bé đi qua nhau thai và dây rốn đến hệ thống tuần hoàn người mẹ và đi ra ngoài khi mẹ thở ra. Thở thực hành Mặc dù khi nằm trong bụng mẹ bé không chính thức thở nhưng có đôi lúc mẹ vẫn cảm thấy những chuyển động nhẹ như bé đang thở, thực ra là bé đang tập thở (thở thực hành). Ở khoảng tuần thai thứ 9, thai nhi bắt đầu tập thở tuy nhiên đến những tháng cuối thai kỳ, mẹ mới nhận thấy hiện tượng này rõ rệt hơn. Trong quá trình tập thở sẽ làm nước ối đi vào – đi ra khỏi phổi của bé. Đến tuần 24-28 thai kỳ, cơ thể của mẹ có những thay đổi mạnh mẽ. Nước ối sẽ sản xuất ra một chất gọi là surfactant – còn gọi là “chất tẩy rửa” phổi. Các chất surfactant này sẽ bao phủ lên phổi, khiến các túi khí mở ra. Nếu thai nhi không nhận đủ các chất surfactant thì phổi của bé có thể bị xẹp khi bé chào đời. Thở chính thức Em bé có hơi thở chính thức đầu tiên khi bé khóc chào đời. Một số bé sẽ tự khóc nhưng có một số bé cần sự hỗ trợ của y tá hay bác sĩ. Các bé sơ sinh thường thở rất mạnh và nhanh sau sinh là bởi sự thay đổi đột ngột môi trường sống. Khi dây rốn được cắt là lúc thai nhi chính thức sử dụng phổi của mình. Lúc này bé đang tự hít thở một mình và quá trình hít vào, thở ra sẽ khiến nước ối trong phổi được rút cạn hoặc hệ hô hấp sẽ hấp thụ hết. Ngay sau đó, hai lá phổi có thể tự phồng lên, đưa oxy vào máu và tách cacbon dioxit ra khỏi máu sau đó thải ra ngoài bằng đường thở.
Xem thêm

1 Đọc thêm

VÌ SAO HƯƠNG NHANG CÀNG THƠM CÀNG ĐỘC?

VÌ SAO HƯƠNG NHANG CÀNG THƠM CÀNG ĐỘC?

VÌ SAO HƯƠNG NHANG CÀNG THƠM CÀNG ĐỘC?Hương là sản phẩm không thể thiếu trong ngày lễ, tết, cúng cũng như các dịp đi chùa, đền,…. Các chuyên gia cảnh báo hương càng thơm, càng đậu tàn càng nguy hiểm cho sức khỏe.Hương nhang được tẩm hóa chấtHiện nay, do nhu cầu sử dụng hương đậu tàn ngày càng tăng nên người làm hương liên tục chothêm hóa chất vào.Anh Đỗ Văn Ninh trú tại Đông Hưng, Thái Bình, người có kinh nghiệm hơn 10 năm làm hương,chia sẻ: "Để các loại hương đậu tàn, người làm hương phải tẩm hóa chất để hương không bị gãyvụn. Hóa chất ủ từ que hương lẫn nguyên liệu làm hương. Chính vì thế, nhiều người làm hươngcũng không chịu được độc hại nên họ bỏ nghề".Hương truyền thống vốn không đậu được tàn và hay ẩm mốc nếu bảo quản không đúng cách.Tuy nhiên, người tiêu dùng cho rằng phải đậu tàn mới để lại lộc nhiều nên người làm hương đãnghĩ ra tẩm hóa chất Axit photphoric vào que hương để giữ tàn, tẩm Butyl Cellosolve tránh mốc,hay chất cháy Kali nitrat để hương bắt lửa nhanh… Thậm chí, một vài năm gần đây, họ còn tẩmnhiều loại hóa chất khác để tàn hương có nhiều mầu sắc khác nhau như đỏ, trắng...Không chỉ nỗi lo tẩm hóa chất ở que tăm mà ngay cả bột hương cũng được sử dụng hóa chất đểgiảm giá thành. Ví dụ, thay vì dùng hương liệu từ các loại thảo mộc hoa nhài, quế, cây hươngliệu thì người làm hương sẽ sử dụng các loại hương liệu bằng mùi thơm hóa chất.VnDoc.com - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíDo đó những người làm hương như kiểu truyền thống thì sẽ không có lãi, cũng như không thểcạnh tranh được trên thị trường do các cơ sở khác sử dụng hóa chất, giá thành thấp hơn.Điểm mặt các hóa chất độc hại trong hươngCho đến nay, các bác sĩ tại Bệnh viện Phổi trung ương khuyến cáo các bệnh viêm hô hấp dohương mang lại rất nhiều.Bác sĩ Đặng Thế Căn – nguyên PGĐ Bệnh viện K thì cho hay, hương tẩm các loại hóa chất tạomùi giá rẻ khi đốt ngửi vào sẽ thấy khó thở, buồn nôn, đầu óc quay cuồng, ngửi thường xuyên sẽgây nhiễm độc gan, phổi.Nghiên cứu chỉ ra rằng khói hương có chứa khí CO, và CO2, Sunfua dioxide (SO2), Nitơ
Xem thêm

3 Đọc thêm

Dạy mẹ thở và rặn đẻ đúng cách khi sinh nở

DẠY MẸ THỞ VÀ RẶN ĐẺ ĐÚNG CÁCH KHI SINH NỞ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chuyển dạ là một quá trình đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ thai nghén, sau 38 - 40 tuần mang thai. Chuyển dạ là một quá trình vì thời gian chuyển dạ thường kéo dài từ 6 - 12 giờ ở người con rạ và thời gian này kéo dài tăng gấp đôi ở người mới sinh con lần đầu, nghĩa là từ 12 - 24 giờ tính từ khi xuất hiện cơn co tử cung chuyển dạ đầu tiên. Cơn co và thời điểm rặn sinh Lúc bắt đầu chuyển dạ thì cơn gò tử cung thường ngắn, kéo dài khoảng 10 đến 15 giây và tần số xuất hiện thường dài như 10 phút có một cơn co. Các cơn co này thường gây đau nhẹ. Sau đó, càng gần đến lúc rặn sinh thì cơn co kéo dài hơn khoảng 15 - 20 giây rồi 20 - 30 giây, và lúc cơn co kéo dài khoảng 30 - 40 giây là lúc em bé sắp ra đời. Sự xuất hiện các cơn co cũng thường xuyên hơn, 10 phút sẽ có 3 cơn co và khi 10 phút có hơn 3 cơn co và sản phụ đau bụng dữ dội là thời điểm rặn đã đến.   Thở và rặn sinh đúng cách để có cuộc sinh tốt đẹp. Ảnh: TL Như vậy, cơn co tử cung mang tính chất chu kỳ, với mỗi một cơn gò tử cung thường có 3 thì: thì co, thì kéo dài và thì nghỉ. Ở thì co, thai phụ thường cảm giác bụng cứng lên, cảm giác đau đớn tăng dần, đau đạt đỉnh điểm ở thì kéo dài, sau đó cảm giác đau sẽ giảm dần và không cảm thấy đau nữa ở thì nghỉ. Khoảng cách giữa các cơn gò tử cung là thì nghỉ, đó là những thời điểm để thai phụ phục hồi sức lực, chuẩn bị tập trung vào thì co và thì kéo dài để chịu đau và rặn có hiệu quả. Như vậy, đau rồi hết đau, rồi đau, rồi hết đau… lặp đi lặp lại cho đến khi em bé được sinh ra. Ngày nay, với những tiến bộ của khoa học, đã có phương pháp gây tê “đẻ không đau”. Tuy nhiên, không phải tất cả thai phụ nào cũng đều được đẻ không đau. Vì đẻ không đau chỉ thực hiện được ở những bệnh viện lớn có trang bị phương tiện gây mê hồi sức tốt và có đội ngũ bác sĩ gây mê có kinh nghiệm và cũng có những trường hợp thai phụ có chống chỉ định gây tê đẻ không đau như bệnh lý cột sống, tăng huyết áp… Và mặc dù đẻ không đau nhưng thai phụ vẫn cần biết cách thở và cách rặn sinh thì cuộc sinh mới tốt đẹp, mẹ tròn con vuông được. Do đó, thai phụ cần biết cách thở và biết cách rặn có hiệu quả, không rặn sớm quá hay rặn không đúng sẽ làm cho cuộc chuyển dạ kéo dài gây nguy hiểm cho cả hai mẹ con như: Bé bị ngạt trong bụng mẹ, mẹ bị mệt, tổn thương phức tạp đường sinh dục, chuyển dạ kéo dài gây băng huyết sau sinh… Cách thở được hướng dẫn như sau: Dựa theo tính chất chu kỳ của cơn gò tử cung, sản phụ sẽ chú ý, tập trung vào hơi thở: Khi bắt đầu cảm nhận đau, nghĩa là khi bắt đầu thì co, có cơn co xuất hiện thai phụ nên tập trung vào hơi thở để tập thở nhanh dần. Hít vào bằng mũi và thở ra bằng miệng. Cơn đau càng tăng thì thở càng nhanh hơn và nông hơn, tần suất nhịp thở tăng dần ở thì kéo dài. Cảm nhận đau càng nhiều thì thở càng nhanh hơn. Ở thì thở ra làm sao tạo được tiếng rít gần như tiếng huýt sáo nhỏ. Đến khi cảm nhận bớt đau thì thở chậm lại và thở sâu hơn, tần suất nhịp thở giảm dần. Ở thì nghỉ giữa các cơn co tử cung, thai phụ nên thở sâu và nhẹ nhàng bình thường để lấy lại năng lượng đã bị mất đi khi thở nhanh, nông ở thì co và tích trữ năng lượng cho lần thở của cơn đau kế tiếp…, nên thư giãn toàn thân là tốt nhất. Khi bác sĩ cho phép được rặn, thai phụ nên tập rặn đúng cách thì mới có hiệu quả đẩy thai ra khỏi bụng mẹ và ống sinh dục được. Rặn không hiệu quả, giai đoạn xổ thai kéo dài sẽ làm mất sức người mẹ và em bé có thể bị ngạt ngay khi chưa kịp sinh ra. Cách rặn được hướng dẫn như sau: Khi cảm nhận được cơn co tử cung: Bụng gò cứng dần và xuất hiện cơn đau: Thai phụ nên hít vào một hơi thở thật sâu. Sau đó nín thở, miệng ngậm chặt, hai tay nắm chặt vào hai thành của bàn sinh, hai chân đạp mạnh vào hai ống treo cổ chân của bàn sinh, dồn hơi rặn mạnh để đẩy hơi xuống vùng bụng dưới giúp tống xuất thai nhi ra ngoài. Khi cảm thấy sắp hết hơi nhưng vẫn còn đau có thể hít vào một hơi khác và rặn tiếp tục cho đến khi không cảm thấy đau bụng nữa. Chú ý là trong khi rặn, thai phụ phải giữ sao cho lưng thẳng, áp sát vào bề mặt bàn sinh và phần mông phải cong lên phía trước. Đặc biệt là phải giữ để khi rặn thì miệng không được phát ra bất cứ âm thanh nào. Giữa 2 cơn co tử cung, hết đau thì thở sâu điều hòa, dưỡng sức để tập trung vào đợt rặn kế tiếp. Ở người sinh con so, cuộc rặn sinh như vậy thường kéo dài từ 30 - 40 phút chia thành nhiều đợt rặn sau đó mới xổ thai được. Ở người con rạ thì cuộc rặn ngắn hơn từ 20 - 30 phút. Thì xổ đầu thai nhi là quan trọng nhất. “Đầu xuôi đuôi lọt”, thường là như vậy. Bác sĩ sẽ tiếp tục đỡ sinh, chủ động kéo thân hình, mông và chân tay em bé ra khỏi cửa mình của mẹ, cuộc rặn sinh xem như kết thúc. Tuy nhiên, có một số trường hợp bé quá to, cân nặng quá lớn có thể gây khó khăn ở thì xổ vai, kẹt vai. Lúc này các bác sĩ sẽ thực hiện một số thủ thuật để đỡ em bé… Có thể có một vài rắc rối, biến chứng khi kẹt vai nhưng thường thì ít ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé, khả năng hồi phục của bé rất nhanh và ít khi để lại biến chứng…
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề cương sinh 1 tiết học kì II lớp 10

ĐỀ CƯƠNG SINH 1 TIẾT HỌC KÌ II LỚP 10

Quá trình hít thở của con người có liên quan như thế nào với quá trình hô hấp tế bào? Quá trình hô hấp của một vận động viên đang luyện tập diễn ra mạnh hay yếu? Vì sao?Tại sao tế bào không sử dụng luôn năng lượng của các phân tử glucozo mà phải đi vòng qua hoạt động sản xuất ATP của ti thể ?Qua quá trình đường phân và chu trình Crep, tế bào thu được bao nhiêu phân tử ATP ? Theo em số phân tử ATP này có mang toàn bộ năng lượng của phân tử glucozo ban đầu hay không ? Nếu không thì phần năng lượng còn lại nằm ở đâu?Pha tối của quang hợp diễn ra ở đâu ? Sản phẩm ổn định dầu tiên của chu trình C3 là gì ? Tại sao người ta lại gọi con đường C3 là chu trình ?Vì sao quá trình sinh trưởng của vi sinh vật trong nuôi cấy không liên tục có pha tiềm phát, còn trong quá trình nuôi cấy liên tục thì không có pha này ?Vì sao, trong nuôi cấy không liên tục, vi sinh vật tự phân hủy ở pha suy vong, còn trong nuôi cây liên tục hiện tượng này không xảy ra ?
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cùng chủ đề