KHÁI QUÁT VĂN HỌC VĂN HOÁ MĨ TỪ BUỔI ĐẦU CHO ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KHÁI QUÁT VĂN HỌC VĂN HOÁ MĨ TỪ BUỔI ĐẦU CHO ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX":

Khái quát văn học việt nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1. Hai bộ phận chủ yếu cấu thành nên văn học trung đại Việt Nam là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Trong quá trình phát triển hai bộ phận này không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện lẫn nhau. 2. Văn học trung đại Việt Nam đư­ợc chia thành bốn giai đoạn lớn theo sự phát triển về tư­ duy nghệ thuật, về nội dung, thể loại và ngôn ngữ văn học : - Các giai đoạn văn học từ thế kỉ X – thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV – hết thế kỉ XVII, t­ư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan niệm : văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nư­ớc. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc (từ thế kỉ XV mới có những sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu và có giá trị). - Hai giai đoạn sau, từ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, t­ư duy nghệ thuật đã có sự phân biệt văn với sử, triết. Văn học gắn với hiện thực cuộc sống nhiều hơn. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân văn, cảm hứng về con người. Các thể loại văn học dân tộc và văn học chữ Nôm đều phát triển vư­ợt bậc và có những thành tựu lớn. 3. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự là những đặc điểm lớn về nội dung của văn học trung đại Việt Nam. 4. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài là những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam trung đại. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Những điểm chung và những điểm khác nhau của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm : - Điểm chung : + Phát triển trên cơ sở văn tự của ngư­ời Hán. + Đều tích cực phản ánh những vấn đề trong đời sống xã hội, tâm t­ư, tình cảm của con ng­ười thời trung đại. + Đều có đư­ợc những thành tựu rực rỡ và kết tinh đ­ược những tác phẩm xuất sắc. - Điểm khác : + Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn. + Thành tựu của văn học Nôm chủ yếu là thơ (văn học chữ Hán có thành tựu lớn ở cả hai mảng thơ và văn xuôi). 2. Bảng khái quát tình hình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại :   3. Một số tác phẩm văn học đã học trong ch­ương trình THCS thể hiện nổi bật nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX : - Nội dung cảm hứng yêu n­ước : Sông núi nư­ớc Nam, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài,… - Nội dung nhân đạo : Chuyện ngư­ời con gái Nam Xư­ơng, Truyện Kiều, Bánh trôi nư­ớc,… - Nội dung thế sự : Câu chuyện trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên,… 4. Về nghệ thuật, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài. Văn học cổ nói nhiều đến cái chí khí, cái đạo lí trong phép ứng xử hàng ngày của con ng­ười. Trong khi đó, văn học hiện đại có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống riêng t­ư, vào thế giới nội tâm của con người. Chính hai điểm lớn này tạo nên sự khác biệt trong quá trình đọc các tác phẩm văn học cổ và văn học hiện đại.  loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Khái quát VHVN từ thế kỉ thứ X đến hết thế kỉ XIX

KHÁI QUÁT VHVN TỪ THẾ KỈ THỨ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX I. Các thành phần của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX * Khái niệm văn học trung đại: là nền văn học viết VN từ X đến XIX, tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến. 1. Văn học chữ Hán – Là thành phần văn học xuất hiện sớm nhất và tồn tại, phát triển trong suốt lịch sử văn học trung đại. – Thể loại chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc: chiếu, biểu, hịch, cáo, truyện truyền kì, kí sự, tiểu thuyết chương hồi, thờ Đường luật, phú. – Thành tựu: to lớn ở tất cả các thể loại. 2. Văn học chữ Nôm – Ra đời muộn hơn văn học chữ Hán, tồn tại phát triển đến hết lịch sử vh trung đại. – Thể loại chủ yếu là thơ và có nguồn gốc dân tộc: ngâm khúc song thất lục bát, truyện thơ lục bát, hát nói, thất ngôn xen lẫn lục ngôn. – Thành tựu to lớn ở tất cả các thể loại trên. * Sự phát triển tương hỗ của hai dòng văn học này chứng tỏ hiện tượng song ngữ ở vh trung đại Việt Nam. 3. Văn học chữ quốc ngữ – Xuất hiện trong giai đoạn cuối, chưa có thành tựu đáng kể. II.Các giai đoạn phát triển của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 1.Giai đoạn X đến hết XIX *Bối cảnh lịch sử: dân tộc ta giành nhiều thắng lợi chống ngoại xâm, xây dựng được quyền độc lập tự chủ, chế độ phong kiến ở thời kỳ phát triển. * Vị trí: đây là giai đoạn đặt nền móng cho nền văn học trung đại. Văn học chữ Hán rồi chữ Nôm ra đời và có những thành tựu ban đầu. * Về nội dung: nội dung yêu nước mang âm hưởng hào hùng, đặc biệt là hào khí Đông A thời Trần ( Sông núi nước Nam, Tỏ lòng, Hịch tướng sĩ ) * Về nghệ thuật: các thể loại văn học chữ Hán có nguồn gốc từ Trung Quốc đạt thành tựu lớn về văn chính luận, văn học chữ Nôm đặt nền móng đầu tiên. 2. Giai đoạn XIV đến hết XVII *Bối cảnh lịch sử: sau chiến thắng quân Minh, phong kiến VN đạt sự phát triển cực thịnh rồi bắt đầu có dấu hiệu suy tàn. * Vị trí: văn học có nhiều bước phát triển mới, đặc biệt là văn học chữ Nôm. * Về nội dung: đi từ nội dung yêu nước mang âm hưởng hào hùng ngợi ca ( Bình Ngô đại cáo) đến xu hướng phê phán hiện thực phong kiến ( Truyền kỳ mạn lục ). * Về phương diện nghệ thuật: thành tựu về văn chính luận,  văn xuôi tự sự,  Việt hoá các thể thơ Trung Quốc ( thất ngôn xen lẫn lục ngôn), sáng tác các thể loại dân tộc ( lục bát, song thất lục bát ). 3. Giai đoạn XVIII đến nửa đầu XIX *Bối cảnh lịch sử: phong kiến VN khủng hoảng trầm trọng, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên miên mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. * Vị trí: đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất, đỉnh cao nhất, giai đoạn cổ điển trong văn học VN. * Về nội dung: xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa, đòi quyền sống, hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người cá nhân (Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều). * Về phương diện nghệ thuật: phát triển mạnh cả văn xuôi lẫn văn vần, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, các thể loại lục bát, song thất lục bát, tiểu thuyết chương hồi, kí, tuỳ bút đều đạt thành tựu rực rỡ. 4. Giai đoạn nửa cuối XIX *Bối cảnh lịch sử: Pháp xâm lược, nước ta chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến. * Vị trí: đây là giai đoạn kết thúc văn học truyền thống và mở ra thời đại mới. * Về nội dung: văn học yêu nước mang âm hưởng bi tráng ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc), tư tưởng canh tân ( Nguyễn Trường Tộ), tinh thần trào phúng, phê phán ( Tú Xương, Nguyễn Khuyến). * Về phương diện nghệ thuật: xuất hiện văn học quốc ngữ, nghệ thuật trào phúng đặc sắc, xuất hiện các yếu tố hiện đại hoá. III. Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 1. Chủ nghĩa yêu nước: Đó là cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt nhưng mỗi gia đoạn có những biểu hiện khác nhau. – Ban đầu là tư tưởng trung quân ái quốc – ý thức độc lập tự chủ, tự cường – Căm thù giặc, quyết chiến quyết thắng. – Tự hào dân tộc: truyền thống lịch sử. – Biết ơn ca ngợi những người hy sinh vì đất nước – Tình yêu thiên nhiên. 2. Chủ nghĩa nhân đạo – Bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của người Việt,  Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. – Biểu hiện: lòng thương người, lên án, tố cáo những thế lức chà đạp con người, đề cao nhân phẩm… – Các tác phẩm: 3. Cảm hứng thế sự – Là nguyên nhân hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học. IV. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 1.Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm – Tính quy phạm: ở quan niệm văn học coi trọng mục đích giáo huấn, tư duy nghệ thuật nghĩ theo khuôn mẫu có sẵn, hạn chế sáng tạo cá nhân, ở thể loại văn học có kết cấu chặt chẽ, ở cách sử dụng thi liệu dùng nhiều điển tích, điển cố, ước lệ, tượng trưng. – Phá vỡ về thể loại, tư duy 2. Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị – Khuynh hướng trang nhã ở đề tài, chủ đề cao cả, trang trọng, hình tượng tao nhã mĩ lệ, ngôn ngữ trau chuốt, hoa mĩ. – Xu hướng bình dị đưa văn học về gần cuộc sống 3.Tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn hoá nước ngoài. – Tiếp thu ngôn ngữ( chữ Hán), thể loại ( văn chính luận, thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi..), thi liệu – Dân tộc hoá ngôn ngữ (chữ Nôm), thể loại ( thất ngôn xen lẫn lục ngôn), thi liệu     
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

SOẠN BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

Soạn bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX I. Gợi ý trả lời câu hỏi. Câu 1. - Điểm chung: Đều là sáng tác của người Việt; đều ít nhiều ảnh hưởng văn học phong kiến Trung Quốc, đều có những thành tựu to lớn. - Điểm riêng: Văn học chữ Hán Văn học chữ Nôm + Văn học chữ Hán ra đời từ thế kỉ X. + Dùng chữ nước ngoài (chữ Hán) để sáng tác. + Chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Trung Quốc, đặc biệt về thể loại văn học. + Bao gồm cả thơ và văn xuôi. + Khoảng cuối thế kỉ XIII, văn học chữ Nôm mới bắt đầu xuất hiện. + Dùng chữ dân tộc (chữ Nôm) để sáng tác. + Ít ảnh hưởng văn học Trung Quốc, sử dụng các thể loại văn học dân tộc và một số thể loại của Trung Quốc đã được Việt hóa. + Thơ chiếm đa số. Câu 2. Giai đoạn văn học Nội dung Nghệ thuật Sự kiện văn học, tác giả, tác phẩm Thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV Nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng. + Văn học chữ Hán với các thể loại văn học tiếp thu từ Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn. + Văn học chữ Nôm mới bắt đầu xuất hiện. Văn học viết chính thức ra đời từ thế kỉ X; văn học chữ Nôm xuất hiện cuối thế kỉ XII. Lí Công Uẩn (Thiên đô chiếu), Trần Quốc Tuấn (Hịch tướng sĩ), Trương Hán Siêu (Bạch Đằng gian phú), Phạm Ngũ Lão (Thuật hoài). Thế kỉ XV đến hết thể kỉ XVII Đi từ nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca đến nội dung phản ánh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến. + Văn học chữ Hán tiếp tục phát triển với nhiều thể loại phong phú. + Văn học chữ Nôm có sự Việt hóa các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc, đồng thời có sự sáng tạo những thể loại văn học dân tộc. Văn học viết chính thức xuất hiện hai thành phần: chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Trãi (Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thơ chữ Hán và chữ Nôm), Nguyễn Dữ (Truyền kì mạn lục)… Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Sự xuất hiện của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với tiếng nói đòi quyền sống, đòi hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, trong đó có con người cá nhân, nhất là người phụ nữ. + Phát triển mạnh cả về văn xuôi lẫn văn vần, cả văn học chữ Hán lẫn văn học chữ Nôm. + Văn chương nghệ thuật là thành tựu chủ yếu. Giai đoạn rực rỡ nhất của văn học trung đại. Nguyễn Du (Truyện Kiều, thơ chữ Hán), Đặng Trần Côn (Chinh phụ ngâm), Nguyễn Gia Thiều (Cung oán ngâm khúc), thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan, Ngô Gia văn phái (Hoàng Lê nhất thống chí)… Nửa cuối thế kỉ XIX Nội dun phong phú, mang âm điệu bi tráng. Văn học chữ quốc ngữ bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, văn học vẫn sáng tác theo thể loại và thi pháp truyền thống. Bên cạnh đó, văn học cũng đã có những đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp) thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Câu 3. 1. Nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng: - Nam quốc sơn hà - Tụng giá hoàn kinh sư - Thiên đô chiếu - Bình Ngô đại cáo 2. Nội dung nhân đạo chủ nghĩa: - Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kì mạn lục). - Truyện Kiều - Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Lục Vân Tiên). 3. Cảm hứng thể sự (phản ánh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến): - Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tùy bút). - Hoàng Lê nhất thống chí – Hồi thứ mười bốn. Câu 4. 1. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm 2. Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị 3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài. Do những đặc điểm đó mà cách đọc văn học trung đại khác với cách đọc văn học hiện đại. Khi đọc văn học trung đại cần nắm được các điển tích, điển cố, hệ thống thi liệu mang tính quy phạm để hiểu sâu sắc tác phẩm. Lối diễn đạt của văn học trung đại thường mang tính ước lệ tượng trưng, lời ít ý nhiều, do đó không thể đọc văn học trung đại một cách dễ dãi, qua loa mà phải nghiềm ngẫm để hiểu thấu đáo tác phẩm. Cũng nên biết vắn tắt đôi điểm về chế độ phong kiến nước ta, đặc biệt là cấu trúc ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến để lĩnh hội tác phẩm văn học trung đại được tốt.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hai bộ phận chủ yếu cấu thành nên văn học trung đại Việt Nam là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Trong quá trình phát triển hai bộ phận này không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện lẫn nhau. 2. Văn học trung đại Việt Nam đư­ợc chia thành bốn giai đoạn lớn theo sự phát triển về tư­ duy nghệ thuật, về nội dung, thể loại và ngôn ngữ văn học : - Các giai đoạn văn học từ thế kỉ X - thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV - hết thế kỉ XVII, t­ư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan niệm : văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nư­ớc. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc (từ thế kỉ XV mới có những sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu và có giá trị). - Hai giai đoạn sau, từ thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, t­ư duy nghệ thuật đã có sự phân biệt văn với sử, triết. Văn học gắn với hiện thực cuộc sống nhiều hơn. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân văn, cảm hứng về con người. Các thể loại văn học dân tộc và văn học chữ Nôm đều phát triển vư­ợt bậc và có những thành tựu lớn. 3. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự là những đặc điểm lớn về nội dung của văn học trung đại Việt Nam. 4. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài là những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam trung đại. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Những điểm chung và những điểm khác nhau của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm : - Điểm chung : + Phát triển trên cơ sở văn tự của ngư­ời Hán. + Đều tích cực phản ánh những vấn đề trong đời sống xã hội, tâm t­ư, tình cảm của con ng­ười thời trung đại. + Đều có đư­ợc những thành tựu rực rỡ và kết tinh đ­ược những tác phẩm xuất sắc. - Điểm khác : + Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn. + Thành tựu của văn học Nôm chủ yếu là thơ (văn học chữ Hán có thành tựu lớn ở cả hai mảng thơ và văn xuôi). 2. Bảng khái quát tình hình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại : 3. Một số tác phẩm văn học đã học trong ch­ương trình THCS thể hiện nổi bật nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX : - Nội dung cảm hứng yêu n­ước : Sông núi nư­ớc Nam, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài,... - Nội dung nhân đạo : Chuyện ngư­ời con gái Nam Xư­ơng, Truyện Kiều, Bánh trôi nư­ớc,... - Nội dung thế sự : Câu chuyện trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên,... 4. Về nghệ thuật, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài. Văn học cổ nói nhiều đến cái chí khí, cái đạo lí trong phép ứng xử hàng ngày của con ng­ười. Trong khi đó, văn học hiện đại có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống riêng t­ư, vào thế giới nội tâm của con người. Chính hai điểm lớn này tạo nên sự khác biệt trong quá trình đọc các tác phẩm văn học cổ và văn học hiện đại.
Xem thêm

3 Đọc thêm

SOẠN BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

SOẠN BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

Soạn bài khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng Tháng tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX I. Kiến thức cơ bản Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX là bài học mở đầu cho chương trình văn học lớp 12 nên rất quan trọng. Do đó, các em cần nắm vững những kiến thức cơ bản của bài học, với dung lượng kiến thức của một thời kì văn học nửa thế kỉ được khai sinh và trưởng thành trong chế độ mới, kỉ nguyên mới của đất nước – từ đó có thể soi sáng cho việc học các tác phẩm cụ thể về thơ, truyện, kịch, nghị luận… trong suốt năm học. Kiến thức của bài học khá nhiều nên các em cần đọc kĩ SGK để nắm được những kiến thức cơ bản, sau đó trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài. Bài  học chia làm hai nội dung tương ứng với hai giai đoạn phát triển của văn học và trong từng giai đoạn lại chia làm từng thời kì nhỏ. Nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này nổi bật lên những vấn đề sau; 1. Giai đoạn Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 1.1. Những nét chính về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Đây là giai đoạn cả dân tộc thực hiện hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mĩ. Văn học phản ánh cuộc đấu tranh anh  hùng của dân tộc. 1.2. Các thời kì phát triển. - Thời kì từ năm 1945  đến 1954 - Thời kì năm 1955 đến 1964 - Thời kì năm 1965 đến 1975 1.3. Những đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn này - Nền văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vện mệnh của đất nước, của dân tộc. - Nền văn học hướng về quần chúng nhân dân. - Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 2. Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỉ XX 2.1. Những nét chính về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Đây là giai đoạn đất nước được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1986, nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa. 2.2. Các thời kì phát triển - Thời kì từ 1975  đến 1985 - Thời kì từ 1986 đến cuối thế kỉ XX 2.3. Những đặc điểm cơ bản của văn học thời kì này - Văn học vận dụng theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc.  - Văn học có tính hướng nội, có nhiều đổi mới về nghệ thuật. Kế thừa và phát huy những truyền thống và thành tựu quý báu của văn học kì trước, văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của một nền văn học trong một thời đại mới, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, giải phóng dân tộc. Từ sau năm 1975, nhất là từ năm 1986, cùng với đất nước, văn học bước vào công cuộc đổi mới. Trong điều kiện thuận lợi đó, sự giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới được mở rộng với truyền thống văn học của một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến, chúng ta đã xây dựng thành công nền văn học tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. II. Rèn luyện kĩ năng Câu 1. Những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975. - Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới trên đất nước ta, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nền văn học mới gắn liền với lí tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội cũng hình thành. Đó là nền văn học của xã hội mới, phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đường lối văn nghệ của Đảng đã góp phần tạo ra một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và về quan niệm nhân văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ - Công cuộc xây dựng đời sống mới, con người mới xã hội chỉ nghĩa ở miền Bắc và hai cuộc chiến tranh yêu nước chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật, đem đến cho đội ngũ văn nghệ sĩ chất liệu sống phong phú và cảm hứng dễ sáng tác. - Nền kinh tế chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa với nước ngoài, bị hạn chế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học. Tuy vậy, văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975 vẫn phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. Câu 2. Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 phát triển qua mất chặng? Thành tựu cơ bản của từng chặng? Văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975 phát triển qua ba thời kì. a. Thời kì từ năm 1945 đến năm 1954 - 1945 – 1946: Văn học ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng trong những ngày giành được độc lập với những tác phẩm tiêu biểu như Dân khí miền Trung (Hoài Thanh), Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt (Tố Hữu), Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông (Xuân Diệu), Tình sông núi (Trần Mai Ninh) - 1947 – 1954: Văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến, hướng tới quần chúng nhân dân. Văn học thời kì này đạt được những thành tựu mới trên nhiều thể loại như truyện ngắn, kí, tiểu thuyết, thơ kịch, và lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học. Một số tác phẩm tiêu biểu như truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, tiểu thuyết Vùng mỏ của Vũ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tập truyện Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, các bài thơ kháng chiến của Hồ Chí Minh (Cảnh khuya, Nguyên tiêu, Báo tiệp…), Tây Tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu… và đặc biệt là bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh. b. Thời kì từ năm 1955 đến năm 1964 - Đây là thời kì văn học tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước trên phạm vi cả nước. Văn học tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xâu dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước. - Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực cuộc sống. Thơ cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều cảm hứng lớn từ đất nước, dân tộc trong sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung của nhà thơ, và đã có được một mùa gặt bội thu. - Văn học đạt nhiều thành tựu trên cả ba thể loại: truyện, thơ và kịch. c. Thời kì từ năm 1965 đến năm 1975 - Thời kì văn học chống Mĩ cứu nước ở hai miền Bắc, Nam có chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. - Thời kì này văn học miền Nam có nhiều tác phẩm tiêu biểu của những tác giả như truyện của Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hiếu Minh, Phan Tứ, thơ của Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Giang Nam, Thanh Hải… - Miền Bắc cũng có những tác phẩm của những tác giả như truyện kí của Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Chu Văn… và nhiều tập thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân DIệu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Bằng Việt… Đặc biệt là sự xuất hiện và những đóng góp của thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mĩ cứu nước. Câu 3. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975. Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 có ba đặc điểm lớn: a. Văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của đất nước - Nền văn học mới được kiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn – chiến sĩ. Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao, nhà văn gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu. - Văn học tập trung vào đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn xuyên suốt thơ ca và truyện kí. - Cùng với đề tài Tổ quốc, chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học giải đoạn này. Văn học đề cao lao động, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, của con người mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau ngày giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh. b. Nền văn học gắn liền với quần chúng nhân dân. - Văn học gắn bó sâu sắc với nhân dân lao động, hướng về đại chúng và trước hết là công nông binh. Cách mạng và kháng chiến đã làm thay đổi hẳn cách nhìn về nhân dân của nhiều nhà văn, hình thành ở họ một quan niệm mới về đất nước: đất nước của nhân dân. Đó là cảm hứng chủ đạo, là chủ đề của nhiều tác phẩm viết về đất nước và nhân dân. - Văn học mang tính nhân dân sâu sắc, thể hiện bằng việc nhà văn quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động, nói lên những nỗi bất hạnh của họ trong cuộc sống cũng như niềm vui, tự hào của họ về cuộc đời mới, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng; tập trung khắc họa hình tượng quần chúng cách mạng, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động. c. Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn - Khuynh hướng sử thi là khuynh hướng tất yếu của nền văn học ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm với vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu; nó không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân mà phải đề cập đến số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc. Văn học mang đậm chất sử thi, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Nó hướng tới những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, hướng tới vẻ đẹp cao cả, lí tưởng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng lời văn trang trọng và đẹp một cách hào hùng, tráng lệ. Đó là vẻ đẹp của Người mẹ cầm súng, của Người con gái Việt Nam, của Dáng đứng Việt Nam… - Khuynh hướng sử thi thường được kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên nét thẩm mĩ đặc trưng cho nền văn học chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Câu 4. Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn hóa, hãy giải thích vì sao văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX phải đổi mới? - Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta kết thúc thắng lợi vẻ vang. Lịch sử dân tộc lại mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, tự do và thống nhất đất nước. - Tuy nhiên, từ năm 1975 đến năm 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách không nhỏ, nhất là khó khăn về kinh tế do hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài. TÌnh hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới, đó là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc. - Từ 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới. - Đất nước đổi mới đã thúc đẩy nền văn học đổi mới. Điều này phù hợp với nguyện vọng của người cầm bút và người đọc, cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học. Câu 5. Hãy nêu những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX. Giai đoạn văn học từ năm 1975 đến hết thể kỉ XX có thể chia làm hai thời kì nhỏ là từ năm 1975 đến năm 1985 và từ sau năm 1986 trở đi. Từ năm 1975 đến năm 985 là chặng đường chuyển tiếp, trăn trở; từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học có nhiều đổi mới. Văn học trong giai đoạn này bộc lộ tiếng lòng và những trắc ẩn đối với con người; nó nở rộ những trường ca với mục đích tổng kết, khái quát về chiến tranh; chất nhân dân, nhân văn được đề cao hơn, đi sâu vào những nỗi đau và bất hạnh của từng thân phận con người sau chiến tranh. Đổi mới văn học trong giai đoạn này có thể hiểu là đổi mới cách viết về chiến tranh, đối mới cách nhìn nhận về con người, khám phá ra trong con người những mối quan hệ đa dạng, phức tạp chứ không đơn điệu như trước đây. Các tác giả tiêu biểu của giai đoạn này có thể kể đến là Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Xuân Quỳnh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy, Ma Văn Kháng, Trần Nhuận Minh… các tác phẩm như Đất trắng, Hai người trở lại trung đoàn, Đứng trước biển, Cù lao Tràm, Cha và con, và…, Gặp gỡ cuối năm, Mùa lá rụng trong vườn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Tướng về hưu, Bến không chồng, Nỗi buồn chiến tranh, Cát bụi chân ai, Ai đã đặt tên cho dòng sông?... Trên lĩnh vực kịch cũng có nhiều tác phẩm biểu hiện như Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang, Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. III. Luyện tập Bình luận ý kiến của nhà văn Nguyễn Đình Thi: “Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới. Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta” (Nhận đường). Gợi ý làm bài Qua mối quan hệ giữa văn nghệ và kháng chiến, cần thấy rõ vai trò tạo nguồn cảm hứng của cuộc kháng chiến cho văn nghệ trong giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 – 1975. - Văn nghệ phụng sự kháng chiến, đó là mục đích hướng tới của nền văn nghệ mới. Nó phải gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của đất nước, phải phục vụ cuộc sống của nhân dân mà ở đây chính là cuộc sống đánh giặc để bảo vệ độc lập tự do của đất nước. - Kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, hiện thực cách mạng – kháng chiến của dân tộc đã đem đến cho văn nghệ những chất liệu sống phong phú, những cảm hứng nồng nàn để tạo ra các tác phẩm tốt. Chính cuộc kháng chiến đã đem đến cho văn nghệ một sức sống mới trẻ trung, khỏe khoắn, để văn nghệ có thể phụng sự kháng chiến tốt hơn. Ý này đã được hình tượng hóa và nhấn mạnh thêm bằng câu: “Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”. - Như vậy là mối quan hệ nói trên giữa văn nghệ và kháng chiến, chúng ta thấy được bản chất và đặc trưng của nền văn nghệ mới, đó là một nền văn nghệ của nhân dân, gắn bó mật thiết với vận mệnh của đất nước, từ cuộc sống cách mạng của nhân dân, của đất nước theo mô hình “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và nhà văn là “chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh). - Cách diễn đạt hai ý “ngược” nhau nhưng lại thống nhất với nhau khiến luận điểm càng thêm sâu sắc.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bảng giai đoạn phát triển cua văn học trung đại Việt Nam

BẢNG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CUA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Bảng hỗ trợ cho bài học Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X tới hết thế kỉ XIX (Ngữ văn 10). Nội dung dễ hiểu, ngắn gọn song vẫn đầy đủ. Có thể áp dụng trong thuyết trình bài học hoặc dùng làm trò chơi (cắt bảng ra thành nhiều ô, cho học sinh lắp ghép ô cho phù hợp)

1 Đọc thêm

Hướng dẫn ôn tập đầu năm Chuyên Văn lớp 11 năm học 20132014

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP ĐẦU NĂM CHUYÊN VĂN LỚP 11 NĂM HỌC 20132014

Kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh về văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến hết thế kỉ XIX. Đánh giá năng lực đọc hiểu các sáng tác: phú, cáo, truyện, thơ. … Rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ,… Rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận xã hội

3 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nền văn học được hiện đại hoá a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Thơ văn của chí sĩ cách mạng, của nho sĩ đã có sự tiến bộ về tư tưởng những về hình thức cơ bản vẫn là của văn học trung đại. b, Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930): Quá trình hiện đại hoá đã đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và sự hiện đại hoá của thể loại truyền thống. Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kí đều phát triển. c, Giai đoạn thứ ba (Từ khoảng năm 1930 đến năm 1945): có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. 2. Nhịp độ phát triển mau lẹ                        Có sự hiện đại hoá nhanh chóng về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, ở sự xuất hiện  của các thể loại mới với nhiều tác phẩm có giá trị. 3. Sự phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng văn học. a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ. Thành tựu văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. 1. Về nội dung tư tưởng vẫn tiếp tục phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc và đóng góp thêm tinh thần dân chủ. Lòng yêu nước gắn với yêu quê hương, trân trọng truyền thống văn hoá dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước, lòng yêu nước gắn với tinh thần quốc tế vô sản. Chủ nghĩa nhân đạo gắn với sự thúc tỉnh ý thức cá nhân của người cầm bút. 2. Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học Các thể loại văn xuôi phát triển mạnh, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Các thể loại mới như phóng sự, bút kí, tuỳ bút, kịch nói đều đạt được thành tựu. Thơ ca phát thoát khỏi những quy tắc chặt chẽ của thơ ca trung đại để thể hiện tinh thần dân chủ của thời đại mới với cái Tôi cá nhân đầy cảm xúc. Đây là một thời kì văn học có vị trí rất quan trọng đối với lịch sử phát triển của văn học Việt Nam. Ở thời kì này, văn học dân tộc ta đã có một bước phát triển nhảy vọt về mọi mặt, tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học dân tộc thời kì sau. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Lập dàn ý (theo phần I) 2. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cánh mạng tháng Tám 1945 a, Khái niệm “văn học hiện đại” được dùng trong bài học được hiểu theo quan niệm đối lập với hình thái văn học thời trung đại. Từ đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam mới thật sự bước vào quá trình hiện đại hóa. Xã hội Việt Nam có nhiều có nhiều thay đổi lớn dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lí con người. Nền văn hóa và tâm hồn người Việt đến lúv đó có điều kiện vượt được ra ngoài giới hạn của khu vực ảnh hưởng văn hóa, văn học cổ Trung Hoa để tiếp xúc với thế giới hiện đại. Những điều kiện đó dã thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Văn học phát triển mau lẹ về mọi mặt theo hệ thống thi pháp hiện đại. Cả về nội dung tư tưởng, hình thức và thi pháp. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thời kì này diễn ra qua ba giai đoạn. a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930) là giai đoạn giao thời, hoàn tất các điều kiện để văn học phát triển vượt bậc ở giai đoạn thứ ba. Giai đoạn thứ ba (từ khoảng năm 1930 đến năm 1945) là giai đoạn phát triển rực rỡ, có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. b, Nguyên nhân sự phát triển mau lẹ của văn học Việt Nam thời kì này - Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại. - Sức sống mãnh liệt của dân tộc mà hạt nhân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. - Sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học. ở họ có sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức cá nhân và  khao khát đóng góp một cái gì thật sự cho đất nước cho dân tộc. - Khoa học kĩ thuật phát triển, công chúng đông đảo và văn chương trở thành một thứ hàng hóa, viết văn trở thành một nghề kiếm sống. c, Các nhà văn thời kì này có ý thức tự giác cao hơn về trách nhiệm người cầm bút, về quan niệm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ của mình. Cộng thêm sự ra đời của của phê bình văn học đã dẫn đến sự phân hóa thành nhiều xu hướng trong nội bộ nền văn học. Hai bộ phận cơ bản: a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. Bộ phận này chia thành hai khuynh hướng văn học lãng mạn và văn học hiện thực b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ Họ coi đã dùng văn chương như là một thứ vũ khí chiến đấu sắc bén để chống lại kẻ thù. Các tác giả tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu... 3. Các thành tựu: a, Những truyền thống tư tưởng lớn của lịch sử văn học Việt Nam là yêu nước, anh hùng và nhân đạo. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 tiếp tục phát huy truyền thống ấy trên tinh thần dân chủ. b, Các thể loại văn học mới xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là: kịch nói, bút kí, phóng sự, tiểu thuyết, phê bình văn học... Sự cách tân, hiện đại hóa của thể loại tiểu thuyết được thể hiện ở chỗ có sự thay đổi về hệ thống thi pháp. Tiểu thuyết hiện đại chú trọng xây dựng tính cach nhân vật hơn cốt truyện, đi sâu vào nội tâm nhân vật, thuật truyện không theo trật tự thời gian tự nhiên, tả thực, ngôn ngữ lời văn hiện đại, gần gũi với đời thường, từ bỏ lối văn biền ngẫu... Sự cách tân, hiện đại hóa ở thơ ca: Thơ mới phá bỏ các quy phạm chặt chẽ của thơ cũ, chuyển từ cái ta chung chung sang cái Tôi cá nhân. 4. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Nó tạo cho nền văn học dân tộc có đà phát triển mạnh mẽ. Nó mở ra một thời kì mới.  Những thành tựu và kinh nghiệm phát triển của văn học thời kì này sẽ có ảnh hưởng lâu dài đối với nền văn học dân tộc. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO  1. ảnh hưởng của công cuộc Âu hóa đối với yêu cầu hiện đại hóa văn chương Việt Nam … “Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu hóa trong giai đoạn thứ ba này. Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận, hờn nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ XX, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại.”…Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì, chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”. Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư, ở nhà học hội  Quy Nhơn hồi tháng 6-1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta. Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn. Chính ông Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi tháng 5-1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”. Đã thế, không thể xem phong trào Thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sáp nhập đế quốc Pháp và xa hơn nữa, từ hồi Trịnh - Nguyễn phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây cái mầm sau này sẽ nảy nở thành thơ mới…”. Hoài Thanh  (Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội,    Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Thành  phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.10-12)  2. Sự phát triển nhanh chóng của nền văn học mới … “Đóng góp của văn học mới là ở chỗ nó hình thành đội ngũ nhà văn, du nhập các thể loại của văn học phương Tây, đem chúng thay thế các thể loại có tính chức năng của văn học cũ, đem một quan niệm văn học mới - phản ánh hiện thực đời sống xã hội- thay thế cho quan niệm văn học cũ lấy “tâm”, “chí”, “đạo” làm cơ sở; dùng chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, dùng ngôn ngữ của bản thân đời sống thay thế ngôn ngữ trang nhã, đầy những điển tích của văn học cũ, mô tả cuộc sống bình thường, hàng ngày và những con người của cuộc sống hiện thực, trần tục. Với sự ra đời của văn học mới, văn học Việt Nam thoát khỏi khuôn mẫu chật hẹp của phương Đông, bước vào quỹ đạo chung của văn học thế giới…”.     Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng       (Văn học Việt Nam 1900-1945 Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.208)
Xem thêm

5 Đọc thêm

giáo án tác giả nguyễn du

GIÁO ÁN TÁC GIẢ NGUYỄN DU

A. Mục tiêu bài dạy 1.Kiến thức: Giúp học sinh: Hiểu được thời đại, cuộc đời của tác gia Nguyễn Du Biết một số nét chính trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du 2.Kỹ năng Đánh giá chính xác về tác gia lớn Nguyễn Du. Khái quát được những nét lớn về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của tác gia. Lý giải được những đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ văn (thông qua các đoạn trích) Nguyễn Du. 3.Thái độ Học sinh biết trân trọng và tự hào về một danh nhân văn hóa dân tộc Nguyễn Du. Đồng cảm với cuộc đời đầy thăng trầm của Nguyễn Du. B. Phương pháp: nêu vấn đề, thảo luận nhóm, diễn giảng, trực quan (PPT). C.Yêu cầu chuẩn bị 1. Giáo viên: chuẩn bị đoạn clip ngắn về truyền thống quê hương Nguyễn Du, soạn hệ thống câu hỏi và lập bảng niên biểu về cuộc đời Nguyễn Du, chuẩn bị clip ngắn về thời đại của Nguyễn Du. 2. Học sinh: Học Sinh đọc trước bài ở nhà và lọc ra những ý chính trong phần tiểu sử của Nguyễn Du. Đọc lại một số đoạn trích của tác phẩm “Truyện Kiều” mà học sinh đã được học như Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích,… Học sinh xem lại bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thề kỉ X đến thế kỉ XIX” ở sách lớp 10, tập 1 (chú trọng giai đoạn thế kỉ cuối thế kỉ XVIIIđầu thế kỉ XIX. D.Tiến trình dạy học 1. Ổn định lớp: 30 giây 3. Giới thiệu bài mới: ( 2’) Để tạo cho các em có một tinh thần thoải mái và hứng thú trong buổi học, cô có một trò chơi dành cho các em trước khi vào bài mới: Ô chữ bí mật 1. Thời phong kiến, người đứng đầu đoàn quân đi sứ các nước gọi là gì? Có 7 chữ cái Đáp án: Chánh sứ 2. Đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống, v.v.. được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác là gì? Gồm 11 chữ cái Đáp án: Truyền thống 3. Đuổi hình bắt chữ: gồm 13 chữ cái Đáp án: Mười năm gió bụi 4. Trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trong thấy mà đau đớn lòng. Bạn hãy cho biết hai câu thơ trên nằm trong tác phẩm nào? Đáp án: Truyện Kiều 5. Người có chức cao nhất trong hệ thống quan lại thời phong kiến Á Đông, đứng sau vua gọi là gì? Gồm 7 chữ cái Đáp án: Tể tướng 6.Vùng đất ngàn năm văn hiến: Gồm 9 chữ cái Đáp án: Thăng Long 7. Các nhân vật dưới đây được thế giới công nhận là gì? Gồm 8 chữ cái Đáp án: Danh nhân 8. Xem hình ảnhGồm 9 chữ cái Đáp án: Tam trường • Từ khóa: Nguyễn Du Để tìm hiểu kĩ hơn về những ô chữ gợi ý trên chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua bài học “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, phần một tác giả tuần 28 tiết 89,90.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nền văn học được hiện đại hoá a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Thơ văn của chí sĩ cách mạng, của nho sĩ đã có sự tiến bộ về tư tưởng những về hình thức cơ bản vẫn là của văn học trung đại. b, Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930): Quá trình hiện đại hoá đã đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và sự hiện đại hoá của thể loại truyền thống. Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kí đều phát triển. c, Giai đoạn thứ ba (Từ khoảng năm 1930 đến năm 1945): có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. 2. Nhịp độ phát triển mau lẹ Có sự hiện đại hoá nhanh chóng về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, ở sự xuất hiện  của các thể loại mới với nhiều tác phẩm có giá trị. 3. Sự phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng văn học. a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ. Thành tựu văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. 1. Về nội dung tư tưởng vẫn tiếp tục phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc và đóng góp thêm tinh thần dân chủ. Lòng yêu nước gắn với yêu quê hương, trân trọng truyền thống văn hoá dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước, lòng yêu nước gắn với tinh thần quốc tế vô sản. Chủ nghĩa nhân đạo gắn với sự thúc tỉnh ý thức cá nhân của người cầm bút. 2. Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học Các thể loại văn xuôi phát triển mạnh, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Các thể loại mới như phóng sự, bút kí, tuỳ bút, kịch nói đều đạt được thành tựu. Thơ ca phát thoát khỏi những quy tắc chặt chẽ của thơ ca trung đại để thể hiện tinh thần dân chủ của thời đại mới với cái Tôi cá nhân đầy cảm xúc. Đây là một thời kì văn học có vị trí rất quan trọng đối với lịch sử phát triển của văn học Việt Nam. Ở thời kì này, văn học dân tộc ta đã có một bước phát triển nhảy vọt về mọi mặt, tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học dân tộc thời kì sau. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Lập dàn ý (theo phần I) 2. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cánh mạng tháng Tám 1945 a, Khái niệm “văn học hiện đại” được dùng trong bài học được hiểu theo quan niệm đối lập với hình thái văn học thời trung đại. Từ đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam mới thật sự bước vào quá trình hiện đại hóa. Xã hội Việt Nam có nhiều có nhiều thay đổi lớn dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lí con người. Nền văn hóa và tâm hồn người Việt đến lúv đó có điều kiện vượt được ra ngoài giới hạn của khu vực ảnh hưởng văn hóa, văn học cổ Trung Hoa để tiếp xúc với thế giới hiện đại. Những điều kiện đó dã thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Văn học phát triển mau lẹ về mọi mặt theo hệ thống thi pháp hiện đại. Cả về nội dung tư tưởng, hình thức và thi pháp. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thời kì này diễn ra qua ba giai đoạn. a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930) là giai đoạn giao thời, hoàn tất các điều kiện để văn học phát triển vượt bậc ở giai đoạn thứ ba. Giai đoạn thứ ba (từ khoảng năm 1930 đến năm 1945) là giai đoạn phát triển rực rỡ, có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. b, Nguyên nhân sự phát triển mau lẹ của văn học Việt Nam thời kì này - Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại. - Sức sống mãnh liệt của dân tộc mà hạt nhân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. - Sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học. ở họ có sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức cá nhân và  khao khát đóng góp một cái gì thật sự cho đất nước cho dân tộc. - Khoa học kĩ thuật phát triển, công chúng đông đảo và văn chương trở thành một thứ hàng hóa, viết văn trở thành một nghề kiếm sống. c, Các nhà văn thời kì này có ý thức tự giác cao hơn về trách nhiệm người cầm bút, về quan niệm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ của mình. Cộng thêm sự ra đời của của phê bình văn học đã dẫn đến sự phân hóa thành nhiều xu hướng trong nội bộ nền văn học. Hai bộ phận cơ bản: a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. Bộ phận này chia thành hai khuynh hướng văn học lãng mạn và văn học hiện thực b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ Họ coi đã dùng văn chương như là một thứ vũ khí chiến đấu sắc bén để chống lại kẻ thù. Các tác giả tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… 3. Các thành tựu: a, Những truyền thống tư tưởng lớn của lịch sử văn học Việt Nam là yêu nước, anh hùng và nhân đạo. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 tiếp tục phát huy truyền thống ấy trên tinh thần dân chủ. b, Các thể loại văn học mới xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là: kịch nói, bút kí, phóng sự, tiểu thuyết, phê bình văn học… Sự cách tân, hiện đại hóa của thể loại tiểu thuyết được thể hiện ở chỗ có sự thay đổi về hệ thống thi pháp. Tiểu thuyết hiện đại chú trọng xây dựng tính cach nhân vật hơn cốt truyện, đi sâu vào nội tâm nhân vật, thuật truyện không theo trật tự thời gian tự nhiên, tả thực, ngôn ngữ lời văn hiện đại, gần gũi với đời thường, từ bỏ lối văn biền ngẫu… Sự cách tân, hiện đại hóa ở thơ ca: Thơ mới phá bỏ các quy phạm chặt chẽ của thơ cũ, chuyển từ cái ta chung chung sang cái Tôi cá nhân. 4. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Nó tạo cho nền văn học dân tộc có đà phát triển mạnh mẽ. Nó mở ra một thời kì mới.  Những thành tựu và kinh nghiệm phát triển của văn học thời kì này sẽ có ảnh hưởng lâu dài đối với nền văn học dân tộc. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO  1. ảnh hưởng của công cuộc Âu hóa đối với yêu cầu hiện đại hóa văn chương Việt Nam … “Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu hóa trong giai đoạn thứ ba này. Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận, hờn nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ XX, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại.”…Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì, chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”. Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư, ở nhà học hội  Quy Nhơn hồi tháng 6-1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta. Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn. Chính ông Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi tháng 5-1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”. Đã thế, không thể xem phong trào Thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sáp nhập đế quốc Pháp và xa hơn nữa, từ hồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây cái mầm sau này sẽ nảy nở thành thơ mới…”. Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Thành                                                                phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.10-12)  2. Sự phát triển nhanh chóng của nền văn học mới … “Đóng góp của văn học mới là ở chỗ nó hình thành đội ngũ nhà văn, du nhập các thể loại của văn học phương Tây, đem chúng thay thế các thể loại có tính chức năng của văn học cũ, đem một quan niệm văn học mới – phản ánh hiện thực đời sống xã hội- thay thế cho quan niệm văn học cũ lấy “tâm”, “chí”, “đạo” làm cơ sở; dùng chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, dùng ngôn ngữ của bản thân đời sống thay thế ngôn ngữ trang nhã, đầy những điển tích của văn học cũ, mô tả cuộc sống bình thường, hàng ngày và những con người của cuộc sống hiện thực, trần tục. Với sự ra đời của văn học mới, văn học Việt Nam thoát khỏi khuôn mẫu chật hẹp của phương Đông, bước vào quỹ đạo chung của văn học thế giới…”. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

4 Đọc thêm

Soạn bài Tổng quan văn học Việt Nam lớp 10

SOẠN BÀI TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM LỚP 10

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN, 1. Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam  Văn học dân gian ; với các thể loại chủ yếu như thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ, chèo ; là sáng tác tập thể và truyền miệng, thể hiện tiếng nói tình cảm chung của nhân dân lao động. - Văn học viết ; về cơ bản được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ ; là sáng tác của trí thức, được ghi lại bằng chữ viết, mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân. 2. Hai thời đại lớn của văn học Việt Nam Nhìn tổng quát, có thể thấy lịch sử văn học Việt Nam trải qua hai thời đại, hai kiểu loại văn học chủ yếu :văn học trung đại và văn học hiện đại. - Văn học trung đại, tồn tại chủ yếu từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX ; là thời đại văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm ; hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hoá, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á ; có quan hệ giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, nhất là văn học Trung Quốc. - Văn học hiện đại, bắt đầu quãng đầu thế kỉ XX và vận động, phát triển cho tới ngày nay ; tồn tại trong bối cảnh giao lưu văn hoá, văn học ngày càng mở rộng, đã tiếp tiếp xúc và tiếp nhận tinh hoa của nhiều nền văn học thế giới để đổi mới. 3. Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng : quan hệ với thế giới tự nhiên, quan hệ quốc gia dân tộc, quan hệ xã hội và trong ý thức về bản thân. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Sơ đồ các bộ phận của văn học Việt Nam * Chú ý: Nền văn học viết Việt Nam chính thức được hình thành từ thế kỉ X. Trước thế kỉ X, nền văn học của người Việt chủ yếu được ghi dấu bằng các tác phẩm văn học dân gian. Khi nền văn học viết được hình thành, văn học dân gian của người Việt vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. 2. Các khái niệm “bút lông” và “bút sắt” gợi ra những đặc điểm của hai thời đại văn học : - Thời trung đại, văn học Việt Nam chủ yếu gồm hai dòng : văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm – “bút lông”,… - Thời hiện đại, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học chữ quốc ngữ – “bút sắt”,… 3. Văn học Việt Nam thể hiện đời sống tâm tư­, tình cảm, quan niệm về chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của con ng­ười Việt Nam trong nhiều mối quan hệ 3.1. Phản ánh mối quan hệ với thiên nhiên Ở khía cạnh này, các tác phẩm văn học Việt Nam đã khái quát lại quá trình ông cha ta nhận thức cải tạo và chinh phục thế giới tự nhiên. Thiên nhiên bên cạnh những khía cạnh dữ dội và hung bạo, nó còn là ngư­ời bạn. Vì vậy, nó hiện lên trong thơ văn thân thiết và gần gũi, t­ươi đẹp và đáng yêu. Nó đa dạng và cũng thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ của từng thời. 3.2. Phản ánh mối quan hệ quốc gia dân tộc Đây là nội dung tiêu biểu và xuyên suốt lịch sử phát triển văn học Việt Nam, phản ánh một đặc điểm lớn của lịch sử dân tộc: luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực xâm lư­ợc để bảo vệ nền độc lập tự chủ của mình. Mối quan hệ quốc gia dân tộc đư­ợc văn học đề cập đến ở nhiều khía cạnh mà nổi bật là tinh thần yêu     nư­ớc (tình yêu làng xóm, yêu quê cha đất tổ, căm ghét các thế lực giày xéo quê   hư­ơng, ý thức về quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh, khát vọng tự do, độc lập…).   Nhiều tác phẩm của dòng văn học này đã trở thành những kiệt tác văn chư­ơng bất hủ của đất nư­ớc ta. 3.3. Phản ánh mối quan hệ xã hội Trong xã hội có giai cấp đối kháng, văn học Việt Nam cất lên tiếng nói tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những  ngư­ời dân bị áp bức, bóc lột. Các tác phẩm thuộc mảng sáng tác này đã thể hiện ước mơ da diết về một xã hội dân chủ, công bằng và tốt đẹp. Nhìn thẳng vào thực tại để nhận thức, phê phán và cải tạo xã hội là một truyền thống cao đẹp, là biểu hiện rực rỡ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nư­ớc ta. 3.4. Phản ánh ý thức về bản thân Ở ph­ương diện này, văn học Việt Nam đã ghi lại quá trình lựa chọn, đấu tranh để khẳng định cái đạo lí làm ngư­ời của dân tộc Việt Nam trong sự kết hợp hài hoà hai phương diện: tâm và thân, phần bản năng và phần văn hoá, tư­ tư­ởng vị kỉ và tư tư­ởng vị tha, ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng.Trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, văn học có thể đề cao mặt này hay mặt khác. Song nhìn chung xu hướng của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm ng­ười với nhiều phẩm chất tốt đẹp nh­ư: nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, giàu đức hi sinh… Nói tóm lại, bốn mối quan hệ này phản ánh bốn lĩnh vực hoạt động thực tiễn và nhận thức chủ yếu của con ngư­ời Việt Nam. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử, tâm lí, tư­ tư­ởng, hai nội dung yêu nư­ớc và nhân đạo đã trở thành hai nội dung nổi bật và có giá trị đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn học dân tộc chúng ta.  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

BÀI 5 CHÂU PHI VÀ KHU VỰC MĨ LATINHTHẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX1

BÀI 5 CHÂU PHI VÀ KHU VỰC MĨ LATINHTHẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX1

2. Khu vực Latinh:Lược đồ khu vực LATINHBa ngôn ngữ thông dụng nhất ở vùng này đều phát xuất từtiếng La Tinh. Đó là:-Tiếng Bồ Đào Nha (Portugese) tại Ba Tây (Brazil)- Tiếng Pháp tại Martinique, Guadeloupe, Haiti, FrenchGuiana, French St. Martin, Marie-Galante, La Désirade, LesSaintes, Saint-Barthélemy và 1 số địa phương ở Cuba, CộngHòa Dominica, St. Lucia và St. Thomas.- Tiếng Tây Ban Nha (Spanish) ở các quốc gia còn lại.Tuy nhiên, không phải hoàn toàn vì lý do dùng ngôn ngữ gốcLa Tinh mà vùng này được gọi là Châu Mỹ La Tinh.Từ "Châu Mỹ La Tinh" ( Latin America) phát xuất từ vuaNapoleon đệ Tam của Pháp khi ông dùng danh hiệu"Maximilian- Hoàng Đế của Mexico" (1863-1867). Vị vua nàymuốn mở rộng ảnh hưởng và vùng kiểm soát của Pháp trênMexico, toàn bộ Trung Mỹ, Nam Mỹ, các đảo và quốc gia trongvùng biển Caribê.Lúc đó vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ thường được gọi chung làIberian America (Iberian có nghĩa là tiếng + văn hóa Tây BanNha và tiếng + văn hóa Bồ Đào Nha). Như vậy là bỏ sót văn hóavà tiếng Pháp.Nhà vua ra lệnh tạo ra 1 từ mới để bao gồm văn hóa và tiếngnói của cả Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp. Từ mới đó
Xem thêm

21 Đọc thêm

CHÙA CHIỀN TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI

CHÙA CHIỀN TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI

Nhìn vào lịch sử văn học của dân tộc ta thấy một hiện tượng rất mới lạ. Đó là khi nào xã hội rối ren, loạn lạc nhất thì văn học lại đạt được những thành tựu rực rỡ nhất. Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX ra đời trong giai đoạn chế độ phong kiến tranh giành quyền lợi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đói kém. Đặc biệt giai đoạn này đã xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với nội dung chủ yếu là nhân đạo chủ nghĩa với nội dung là giải phóng tình cảm, đấu tranh để được tự do yêu đương và hàng loạt những cây bút đậm dấu ấn cá nhân như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Thái… Chính trong bối cảnh xã hội ấy, xã hội mà mọi giá trị bị đảo lộn, các nhà văn nhà thơ đã thực hiện rất tốt chức năng của mình, đó là phản ánh kịp thời cuộc sống xã hội lúc bấy giờ. Trong đó, có Hồ Xuân Hương và Phạm Thái. Về Hồ Xuân Hương, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đã xuất hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ, thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến già nua và rải khắp nhân gian một mùi hương kì diệu: mùi hương của đất nước, của gió trăng, của đá, của rêu, của lạch, của khe, của những hội hè đình đám, của những sinh hoạt đời thường….Đó là mùi hương của sự sống, của khát khao,cháy bỏng, của nhựa sống… Và, cũng chính con người đầy sức sống ấy đã ném vào mặt xã hội phong kiến, “vạch rõ cái chân tướng của cả những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã thẳng thắn đặt họ lại những chổ ngồi mà họ xứng đáng giữa lúc cả bọn đang múa may quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau” (Nguyễn Đức Bínhngười cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương). Bà dám nhìn thẳng vào bản chất của cái xã hội thối nát và lên án một cách mạnh mẽ…Đối tượng chế giễu của Hồ Xuân Hương chủ yếu là bọn vua chúa, quan lại, nho sĩ nói chung và đặc biệt là giới sư sãi. Ta bắt gặp trong thơ bà sự phản kháng, sự không đồng tình, sự đả phá đối với những nhà sư “dởm” làm mất vẻ tôn kính của nhà chùa. Phạm Thái là người cùng thời với Hồ Xuân Hương, ông cũng sống trong cái oi bức của xã hội thời cuối Lê đầu Nguyễn. Nơi mà các trật tự, kỉ cương, đạo đức và lễ giáo phong kiến đều bị đảo lộn. Phạm Thái là người đã tìm đến nơi chùa chiền để lảnh tránh sự đời, lẩn tránh những đau khổ của tình ái cho nên, ông hiểu rõ hơn ai hết sự suy thoái của đạo Phật vào cái thời điểm ấy. Trong số ít những sáng tác của ông ta bắt gặp khá nhiều hình ảnh của những cảnh chùa, những nhà sư… Hồ Xuân Hương và Phạm Thái là những người cùng thời. Cùng sống trong một bối cảnh xã hội. Và cùng có những tiếng nói chung đối với vấn đề suy thoái, biến chất của các sư sãi trong các nhà chùa. Đó là tiếng nói “đả phá” không đồng tình. Trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu, phê bình và các tài liệu có liên quan tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái” với hy vọng được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về bối cảnh xã hội, sự suy thoái của Phật giáo trong xã hội cuối XVIII đầu XIX dưới góc nhìn của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái.
Xem thêm

31 Đọc thêm

SOẠN BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

SOẠN BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Soạn bài khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 I. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam trong giai đoạn trên 1. Hiện đại hóa văn học Cơ sở xã hội của quá trình hiện đại hóa: - Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của cuộc khai thác của thuộc địa do thực dân Pháp thực hiện, trong nước xuất hiện nhiều đô thị mới và những tầng lớp mới. Nhu cầu về văn hóa, thẩm mĩ ở trong nước cũng có sự thay đổi. - Những nghề phục vụ cho văn học như nghề báo, nghề in, xuất bản… cũng có sự phát triển; đời sống văn học trở nên sôi nổi. Đó chính là điều kiện thuận lợi để văn học Việt Nam vận động và phát triển theo hướng hiện đại. Các giai đoạn phát triển: gồm 3 giai đoạn: - Giai đoạn thứ nhất: từ đầu đến thế kỉ XX đến năm 1920. - Giai đoạn thứ hai: những năm 20 của thế kỉ XX - Giai đoạn thứ ba: từ năm 1930 đến năm 1945. a. Giai đoạn thứ nhất - Chữ quốc ngữ được truyền bá rộng rãi, đó chính là mảnh đất màu mỡ cho văn xuôi phát triển. - Báo chí xuất hiện và phong trào dịch thuật cũng phổ biến tạo điều kiện làm phong phú văn học tiếng Việt. - Đáng chú ý trong giai đoạn này là sự xuất hiện phong trào văn xuôi và truyện kí ở miền Nam. - Dòng văn học chính thời kì này là bộ phận văn chương yêu nước của các sĩ phu như Phan Bội Châu, Phân Châu Trinh, Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. b. Giai đoạn thứ hai - Thành tựu văn xuôi nổi bật là sự xuất hiện một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách; những truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học; tùy bút, bút kí của Phạm Quỳnh, Tương Phố, Đông Hồ… - Về thơ có đại diện là Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải. - Kịch nói là loại hình mới được du nhập từ phương Tây. Tiêu biểu về thể loại này là tác phẩm Chén thuốc đôc của Vũ Đình Long. - Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm của các nhà yêu nước đang hoạt động ở nước ngoài như Ngục trung thư, Tùng Quang tâm sử, Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu; hàng loạt các truyện kí, phóng sự của Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. c. Giai đoạn thứ ba - Đáng chú ý trong giai đoạn này là tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn và các tác giả hiện thực phê phán. - Truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. - Phóng sự của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng… - Tùy bút, bút kí của Xuân Diệu, Nguyễn Tuân… - Phong trào Thơ mới với nhiều đại biểu xuất sắc như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận… 2. Tốc độ phát triển của nền văn học - Văn học phát triển với tốc độ nhanh chóng trên tất cả các mặt. - Nguyên nhân của sự phát triển: do sự thôi thúc của thời đại, đó chính là phát triển để hòa nhập vào xu thế chung; nền móng của văn học nước nhà; đội ngũ những người sáng tác đa dạng, có tâm huyết và tài năng thật sự. - Đến cuối giai đoạn thứ ba thì văn học Việt Nam đã thực sự hiện đại, có thể hòa nhập vào nền văn học thế giới. 3. Sự phân hóa trong văn học a. Nguyên nhân của sự phân hóa - Do sự khác nhau về khuynh hướng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật. - Thái độ chính trị và cách nhìn về mối quan hệ giữa chính trị với văn học của người cầm bút. b. Sự hình thành hai bộ phận văn học Văn học phân hóa thành hai bộ phận là văn học hợp pháp và văn học bất hợp pháp. Trong mỗi bộ phận lại phân hóa thành nhiều xu hướng khác. - Bộ phận văn học hợp pháp có hai xu hướng chủ yếu là văn học lãng mạn và văn học hiện thực. - Bộ phận văn học bất hợp pháp gồm thơ văn cách mạng, thơ ca trong tù, thơ văn Đông Kinh nghĩa tục, thơ văn thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương… II. Những thành tựu 1. Truyền thống tư tưởng của dân tộc được tiếp tục phát huy, đồng thời bổ sung thêm nhân tố mới. - Lòng yêu nước trong văn học thời kì này mang nội dung dân chủ sâu sắc, thể hiện qua các tác phẩm của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc. - Chủ nghĩa nhân đạo cũng mang nội dung mới. Đối tượng là những con người bình thường trong xã hội. Chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với ý thức cá nhân, khát vọng sống và đấu tranh vì hạnh phúc của cá nhân và của cả dân tộc. - Sự hình thành nhân tố mới là chủ nghĩa anh hùng, tư tưởng này đến thời kì này mang tinh thần dân chủ sâu sắc. 2. Thành tựu văn học thể hiện qua sự đa dạng của thể loại và ngôn ngữ văn học. - Tiểu thuyết: + Người đầu tiên có công trong việc hiện đại hóa tiểu thuyết là Hồ Biểu Chánh. Tuy nhiên hạn chế của ông là còn mang nặng lối viết xưa cũ. + Tác giả Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết Tố Tâm đã chú ý đến diễn biến tâm lí nhân vật nhưng vẫn còn ảnh hưởng của cách viết cũ. + Tiết thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn thực sự là cuộc cách mạng trong tiểu thuyết, tuy nhiên hạn chế của họ là rơi vào sáo mòn, xa rời cuộc sống con người. + Các nhà tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa có công đưa tiểu thuyết xích lại gần với cuộc sống nhân dân hơn. Tiểu thuyết được nâng lên ở trình độ cao hơn với các tác giả xuất sắc như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… - Truyện ngắn: + Đạt đến trình độ cao với phong cách viết đa dạng, phản ánh hiện thực cuộc sống của người dân một cách chân thực. + Những cây bút xuất sắc như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… đã nâng truyện ngắn lên một tầm cao mới. - Thơ: + Thơ ca gắn liền với tên tuổi của Tản Đà, ông là người đầu tiên phá vỡ cách viết chịu ảnh hưởng của lối Đường luật. + Thời kì Thơ mới là đỉnh cao của sự phát triển thơ Việt Nam. + Thơ ca cách mạng cũng có nhiều thành tưu đáng kể, nhất là thơ ca được sáng tác trong tù trong Như kí trong tù của Hồ Chí Minh. - Phóng sự phát triển từ những năm 30 của thế kỉ XX. Tuy mới ra đời nhưng thể loại này đã khẳng định được chỗ đứng của mình. - Bút kì, tùy bút với đại diện tiêu biểu là Nguyễn Tuân.
Xem thêm

3 Đọc thêm

BÀI 1. DÂN SỐ

BÀI 1. DÂN SỐ

- Thân tháp càng rộng thì độ tuổi lao động càng lớn? Căn cứ vào tháp tuổi cho biết đặc điểm gì của dân số?Nhận xét về tình hình tăng dân số thế giới từ đầu thếkỉ XIX đến cuối thế kỉ XX?Tăng chậm giai đoạn nào?Từ CN đến 1804Tăng nhanh giai đoạn nào? Từ 1804-1960Tăng vọt từ giai đoạn nào?Từ 1960- 1999Biểu đồ dân số thế giới từ đầu công nguyên và dự báo đến năm 2050

10 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ 8 HỌC KÌ I

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ 8 HỌC KÌ I

Câu 1: Trình bày nguyên nhân, kết quả, ý nghĩa cuộc chiến tranh giành độc lập 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ Nguyên nhân: Thế kỉ XVIII, thực dân Anh đã thiết lập được 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ và tiến hành chính sách cai trị, bóc lột nhân dân ở đây. Giữa thế kỉ XVIII, nền kinh tế TBCN ở 13 thuộc địa phát triển mạnh nhưng thực dân Anh ngăn cản, kìm hãm sự phát triển ở thuộc địa dẫn đến mâu thuẫn giữa nhân dân Bắc Mĩ và giai cấp tư sản, chủ nô với thực dân Anh trở nên gay gắt => chiến tranh bùng nổ Kết quả: Anh phải thừa nhận nền độc lập của 13 thuộc địa và Hợp chúng quốc Mĩ được ra đời. Năm 1787, Mĩ ban hành Hiến pháp, quy định Mĩ là nước cộng hòa liên bang, đứng đầu là Tổng thổng. Ý nghĩa: Cuộc chiến tranh thực chất là cuộc cách mạng tư sản, nó đã thực hiện được hai nhiệm vụ cùng một lúc là lật đổ ách thống trị của thực dân và mở đường cho CNTB phát triển. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này không triệt để vì chỉ có giai cấp tư sản, chủ nô được hưởng quyền lợi, còn nhân dân lao động nói chung không được hưởng chút quyền lợi gì.Câu 2: Ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Pháp +Cách mạng tư sản Pháp đã lật đổ được chế độ phong kiến, đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền, xóa bỏ nhiều trở ngại trên con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản + Quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu đua cách mạng đạt tới đỉnh cao với nền chuyên chính dân chủ Gia cô banh Tính chất, hạn chế của cách mạng tư sản Pháp + Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất + Tuy nhiên nó vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ quyền lợi cho nhân dân, vẫn không hoàn toàn xóa bỏ được chế độ phong kiến, chỉ có giai cấp tư sản là được hưởng lợiCâu 3 : Ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của công xã Pa ri.+ Ý nghĩa: Tuy chỉ tồn tại 72 ngày nhưng công xã Pari có ý nghĩa lịch sử to lớn. Công xã là hình ảnh thu nhỏ của một chế độ xã hội mới, đem lại một tương lai tốt đẹp cho nhân dân lao động.+ Bài học: CM thắng lợi phải có Đảng lãnh đạo, liên minh công nông và kiên quyết trấn áp kẻ thù ngay từ đầu.Câu 4 : Những thành tựu chủ yếu về kĩ thuật THẾ KỈ 18 19. Cuộc CM công nghiệp đưa nền kinh tế tư bản các nước phát triển nhanh chóng. Việc phát minh ra máy hơi nước đã thúc đẩy ngành GTVT đường thủy và đường sắt ra đời.+ 1807 Phơntơn đóng được tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước.+ 1814 Xtiphenxơ chế tạo thành công xe lửa chạy trên đường sắt. Máy điện tín được phát minh ở Nga, Mĩ. Nông nghiệp: những tiến bộ về kĩ thuật, về phương pháp canh tác làm nâng cao năng xuất lao động. Quân sự : nhiều nước đã sản xuất ra nhiều loại vũ khí hiện đại như đại bác, súng trường bắn nhanh, ngư lôi, khí cầu,… phục vụ cho chiến tranh.Câu 5 : Những tiến bộ về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên: Đầu thế kỉ XVIII, Niutơn (người Anh) đã tìm ra thuyết vạn vật hấp dẫn. Giữa thế kỉ XVIII, Lônômôxốp (người Nga) tìm ra định luật bảo toàn vật chất và năng lượng, cùng nhiều phát minh lớn về vật lí, hóa học. Năm 1837, Puốckingiơ (người Séc) khám phá ra bí mật về sự phát triển của thực vật và đời sống của các mô động vật.. Năm 1859, Đácuyn (người Anh) nêu lên thuyết tiến hóa và di truyền, đập tan quan niệm về nguồn gốc thần thánh của sinh vật. Khoa học xã hội: Triết học: xuất hiện chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của Phoiơbách và Hêghen (người Đức). Kinh tế học: Ađam Xmit và Ricácđô (người Anh) đã xây dựng thuyết chính trị kinh tế học tư sản. Tư tưởng: xuất hiện chủ nghĩa xã hội không tưởng, gắn liền với tên tuổi của Xanh Xi Mông, Phuriê và Ôoen. Đặc biệt là sự ra đời của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học (năm 1848) do Mác và Ăngghen sáng lập, được coi là cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng củaCâu 6: Nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự phát triển không đều giữa các nước tư bản về kinh tế và chính trị đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc. Mâu thuẫn về vấn đề thuộc địa dẫn tới các cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên: chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha(1898); chiến tranh Anh – Bôơ (1899 – 1902) chiến tranh Nga Nhật (1904 – 1905) Để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh nhằm tranh giành thị trường, thuộc địa các nước đế quốc đã thành lập hai khối quân sự đối lập: khối liên minh gồm Đức Áo – Hung (1882) và khối Hiệp Ước của Anh, Pháp và Nga (1907). Cả hai khối đều tích cực chạy đua vũ trang, nhằm tranh nhau làm bá chủ thế giới.Câu 7: Diễn biến của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Giai đoạn thứ nhất: (1914 – 1916)+ Sau sự kiện thái tử Áo – Hung bị một người Xéc – bi ám sát ( ngày 2861914), từ ngày 1 đến ngày 38 Đức tuyên ciến với Nga và Pháp. Ngày 48 Anh tuyên chiến với Đức. chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.+ Giai đoạn này, Đức tập trung lực lượng đánh phía Tây nhằm nhanh chóng thôn tính nước Pháp. Song nhờ có Nga tấn công quân Đức ở phía đông, nên nước Pháp được cứu nguy. Từ 1916, chiến tranh chuyển sang thế cầm cự đối với cả hai phe.+ Chiến tranh bùng nổ, cả hai phe đều lôi kéo nhiều nước tham gia và sử dụng nhiều loại vũ khí hiện đại, đã giết hại và làm bị thương hàng triệu người.Giai đoạn thứ hai: (1917 – 1918)+ Tháng 21917, Cách mạng tháng hai diễn ra ở Nga, buộc Mĩ phải sớm nhảy vào tham chiến và đứng về phe Hiệp ước 41917, vì thế phe Liên Minh liên tiếp bị thất bại. Từ cuối năm 1917, phe Hiệp Ước liên tiếp mở các cuộc tấn công làm cho đồng minh của Đức lần lượt đầu hàng.+ Ngày 11111918, Đức đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của phe Liên minh.Câu 8: Kết cục của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Chiến tranh gây nên nhiều tai họa cho nhân loại: 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương, nhiều thành phố, làng mạc, đường sá bị phân hủy…chi phí cho chiến tranh lên tới 85 tỉ đô la. Chiến tranh chỉ đem lại lợi ích cho các nước đế quốc thắng trận nhất là Mĩ. Bản đồ thế giới đã bị chia lại; Đức mất hết thuộc địa; Anh, Pháp và Mĩ được mở rộng thêm thuộc địa của mình.. Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối của chiến tranh, phong trào cách mạng thế giới tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ và thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga.Câu 9: Vì sao Trung Quốc bị các n¬ước đế quốc xâu xé: Trung Quốc là quốc gia rộng lớn, đông dân, có nhiều tài nguyên khoáng sản, sớm trở thành mục tiêu xâm lược của các nước đế quốc. Từ năm 1840 đến năm 1842 thực dân Anh đã tiến hành cuộc chiến tranh thuốc phiện, mở đầu quá trình xâm lược Trung Quốc , từng bước biến Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Sau chiến tranh thuốc phiện các nước đế quốc từng bước xâu xé Trung Quốc. Đến cuối thế kỉ XIX, Đức chiếm vùng Sơn Đông; Anh chiếm vùng châu thổ sông Dương Tử; Pháp chiếm vùng Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông; Nga, Nhật chiếm vùng Đông Bắc.Câu 10: Cách mạng Tân Hợi 1911. Về Tôn Trung Sơn và học thuyết Tam dân:Giai cấp tư sản Trung Quốc ra đời vào cuối thế kỉ XIX và đã lớn mạnh rất nhiều vào đầu thế kỉ XX. Do bị tư bản nước ngoài chèn ép giai cấp tư sản Trung Quốc đã bước lên vũ đài chính trị và thành lập các tổ chức riêng của mình. Tôn Trung Sơn cùng với các đồng chí của ông đã thành lập Trung Quốc đồng minh hội – chính đảng của giai cấp tư sản Trung Quốc, đề ra học thuyết Tam dân ( Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Nhằm đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập dân quốc. Nguyên nhân: Ngày 591911, chính quyền Mãn Thanh ra sắc lệnh Quốc hữu hóa đường sắt, thực chất là trao quyền kinh doanh đường sắt cho các nước đế quốc, bán rẻ quyền lợi dân tộc .Sự kiện này đã châm ngòi cho CM Tân Hợi. Diễn biến:+ Ngày 10101911, Cách Mạng Tân Hợi bùng nổ và giành thắng lợi ở Vũ Xương, sau đó lan sang tất cả các tỉnh Miền Nam và Miền Trung của Trung Quốc.+ Ngày 2921911, chính phủ lâm thời tuyên bố thành lập Trung Hoa dân Quốc và bầu Tôn Trung Sơn làm Tổng thống.+ Tôn Trung Sơn đã mắc sai lầm là thương lượng với Viên Thế Khải( quan đại thần của nhà Thanh), đồng ý nhường cho ông ta lên làm tổng thống (21912). Cách Mạng coi như chấm dứt.Ý nghĩa: + CM Tân Hợi là một cuộc Cm dân chủ tư sản, đã lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa dân Quốc, tạo điều kiện cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc phát triển.+ Cm Tân Hợi có ảnh hưởng đến phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, trong đó có Việt nam.Hạn chế:+ Không nêu vấn đề đánh đuổi đế quốc, không tích cực chống phong kiến đến cùng ( thương lượng với Viên Thế Khải), không giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông dân. Câu 11: Vì sao Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân ? Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lí quan trọng, giàu tài nguyên, chế độ phong kiến lại đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nên không tránh khỏi bị các nước phương Tây nhòm ngó, xâm lược. Từ nửa sau thế kỉ XIX, tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược Đông Nam Á: Anh chiếm Mã Lai, Miến Điện; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campu chia, Tây Ban Nha, Mĩ chiếm Philíppin; Hà Lan và Bồ Đào Nha chiếm Inđônêxia. Xiêm (nay là Thái Lan) là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn còn giữ được độc lập nhưng cũng trở thành “vùng đệm” của tư bản Anh và Pháp.Câu 12: Trình bày phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước ĐNA: Ngay từ khi thực dân phương Tây nổ súng xâm lược, nhân dân Đông Nam Á đã nổi dậy đấu tranh để bảo vệ Tổ Quốc. Tuy nhiên do thế lực đế quốc mạnh , chính quyền phong kiến nhiều nước lại không kiên quyết đánh giặc đến cùng nên bọn thực dân đã hoàn thành xâm lược áp dụng chính sách chia để trị để cai trị vơ vét của cải của nhân dân. Chính sách cai trị của chính quyền thực dân càng làm cho mâu thuẫn dân tộc ở các nước Đông Nam Á thêm gay gắt , hàng loạt phong trào đấu tranh nổ ra:+Ở Inđônêxia, từ cuối thế kỉ XIX, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời. Năm 1905, các tổ chức công đoàn được thành lập và bắt đầu quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng cộng sản (1920).+ Ở Philíppin cuộc cách mạng 1896 – 1898, do giai cấp tư sản lãnh đạo chống thực dân Tây Ban Nha giành thắng lợi, dẫn tới sự thành lập nước cộng hòa Philíppin, nhưng ngay sau đó lại bị đế quốc Mĩ thôn tính+ Ở Campuchia, có cuộc khởi nghĩa của Acha Xoa lãnh đạo ở Takeo (1863 – 1866), tiếp đó là khởi nghĩa của nhà sư Pucômbô (1866 – 1867), có liên kết với nhân dân Việt Nam gây cho Pháp nhiều khó khăn. + Ở Lào, năm 1901, Phacađuốc lãnh đạo nhân dân Xavanakhét tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang. Cùng năm đó, cuộc khởi nghĩa ở Cao Nguyên Bôlôven bùng nổ, lan sang cả Việt Nam gây nhiều khó khăn cho Thực dân Pháp trong quá trình cai trị đến năm 1907 mới bị dập tắt.+ Ở Việt Nam: Sau triều đình Huế đầu hàng, phong trào Cần Vương bùng nổ quy tụ thành nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (1885 – 1896). Phong trào nông dân Yên thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài 30 năm (1884 – 1913) cũng gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp.Câu 13: Cuộc Duy Tân Minh Trị Đến giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trong khi đó các nước tư bản phương Tây, đi đầu là Mĩ ra sức tìm cách xâm nhập vào nước này. Đầu năm 1868, thiên hoàng Minh Trị đã tiến hành một loạt cải cách tiến bộ.+ Về chính trị: Xác lập quyền thống trị của tầng lớp quý tộc tư sản: ban hành Hiến Pháp năm 1889, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.+ Về kinh tế: Thống nhất thị trường, tiền tệ, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống…+ Về quân sự: Tổ chức và huấn luyện quân đội theo kiểu phương Tây; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, phát triển kinh tế quốc phòng.+ Về giáo dục: thi hành chính sách giáo dục bắt buộc, chú trọng nội dung khoa học – kĩ thuật, cử học sinh ưu tú du học Phương Tây. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nhật Bản trở thành một nước tư bản công nghiệp.
Xem thêm

10 Đọc thêm

CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ THCS

CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ THCS

vào Nam triều trải qua các nhà Tống, Tề, Lương.Vào nửa đầu thế kỷ thứ 6, đất Giao Châu nằm dưới sự thống trị của nhà Lương. Thứ sử GiaoChâu là Tiêu Tư, nổi tiếng tham lam, tàn ác. Có được một cây dâu cao một thước, người dân cũngphải đóng thuế. Thậm chí có người nghèo khổ, phải bán vợ, đợ con, nhưng cũng phải đóng thuế.Lý Bí, một người quê ở huyện Thái Bình (không phải thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay mà là vùng BắcSơn Tây, nay thuộc Hà Nội) đứng lên chiêu tập dân chúng. Ông đã từng giữ một chức quan nhỏ với nhàLương, cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp, nhưng không làm được việc gì đáng kể, bèn bỏ quan trở vềquê nhà và cùng người anh là Lý Thiên Bảo mưu khởi nghĩa. Ông được nhiều người theo. Trong đó cóThủ lĩnh đất Chu Diên (vùng Đan Phượng-Từ Liêm, thuộc Hà Tây và ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túcvà con là Triệu Quang Phục (?-571) đem lực lượng của mình theo về. Ngoài ra còn có những nhân vật nổitiếng khác cũng kéo đến giúp sức như Tinh Thiều, Phạm Tu, Lý Phục Man..Mùa xuân năm 542, Lý Bí tiến quân vây thành Long Biên. Quân Lương đầu hàng còn Tiêu Tưthì trốn thoát về được Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa thành công. Vua nhà Lương vội đưa quân sangnhưng bị đánh bại.Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, lấy niên hiệu làThiên Đức, Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch, dựng điện Vạn Xuân để vua quan có nơihội họp. Nhà vua còn cho dựng chùa Khai Quốc (sau này là chùa Trấn Quốc ở Hồ Tây, Hà Nội).Năm 545, nhà Lương sai một tướng tài là Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Vạn Xuân. LýNam Đế cùng các tướng sĩ chống không được, phải về vùng rừng núi Vĩnh Phú cố thủ; lấy hồ Điền Triệt(xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú) làm nơi thao luyện quân lính. Chẳng bao lâu, lực lượng trởnên mạnh mẽ. Trần Bá Tiên nhiều lần đem quân đánh phá nhưng không được. Về sau, nhân một cơn lũ dữdội tràn vào vùng căn cứ, Trần Bá Tiên theo dòng lũ, thúc quân tiến đánh, Lý Nam Đế phải rút về độngKhuất Lão (còn gọi là động Khuất Liêu, là tên một khu đồi hiện nằm bên hữu ngạn sông Hồng, ở giữa haixã Văn Lang và Cổ Tiết thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phúc). Sau nhiều năm lao lực, Lý Nam Đế bịbệnh mù mắt, giao binh quyền lại cho Triệu Quang Phục và mất vào năm 548.Triệu Quang Phục đánh nhau mấy lần với Trần Bá Tiên nhưng đều thất bại, bèn lấy đầm DạTrạch (Hải Hưng) làm căn cứ. Đầm Dạ Trạch nằm ven sông Hồng, chu vi không biết là bao nhiêudặm. Giữa đầm có một bãi đất cứng. Ngoài ra, bốn bề là bùn lầy, người ngựa không thể nào đi được,chỉ có thể dùng thuyền độc mộc, lấy sào đẩy trên cỏ, nước mà di chuyển. Triệu Quang Phục đóngquân ở bãi đất nổi và áp dụng kế "trì cửu", tức là đánh lâu dài làm tiêu hao lực lượng của địch quân.
Xem thêm

91 Đọc thêm

BÀI GIẢNG NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX- ĐẦU THẾ KỈ XX

BÀI GIẢNG NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX- ĐẦU THẾ KỈ XX

của nhữngTIẾT 17, BÀI 12: NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX-ĐẦU THẾ KỈ XX.I. CUỘC DUY TÂN MINH TRỊ.THẢO LUẬN (1 phút)Theo em cuộc Duy tân Minh Trị có phải là mộtcuộc cách mạng tư sản không? Vì sao?TIẾT 17. BÀI 12: NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIXĐẦU THẾ KỈ XXI. CUỘC DUY TÂN MINH TRỊ.Cuộc Duy tânMinh Trị làcuộc cách mạngtư sản là vì:- Xóa bỏ những rào cản của chế độ phong kiếnở Nhật Bản tạo điều kiện cho KTTBCN phát triển.- Chính quyền phong kiến của Sô-gun đãchuyển sang tay quý tộc tư sản hóa đứng đầu làThiên hoàng Minh Trị.- Những cải cách “Âu hóa” về hành chính, kinh tếtài chính, văn hóa, giáo dục mang tính chất tư sảnrõ rệt: thống nhất thị trường dân tộc , thống nhấttiền tệ; xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất phong
Xem thêm

33 Đọc thêm

Em có nhận xét gì về hình thức đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

EM CÓ NHẬN XÉT GÌ VỀ HÌNH THỨC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX

Từ sau thế kỉ XIX, các nước đế quốc mở rộng và hoàn thành việc thống trị các nước Đông Nam Á. Hầu hết các nước trong khu vực này, trừ Xiêm (Thái Lan) đều trở thành thuộc địa. Sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân là nguyên nhân thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng phát triển ở khu vực này. Hiểu được trong khi giai cấp phong kiến trở thành tay sai cho chủ nghĩa đế quốc thì giai cấp tư sản dân tộc, mặc dù còn non yếu, đã tổ chức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đặc biệt, giai cấp công nhân ngày càng trưởng thành từng bước vươn lên vũ đài đấu tranh giải phóng dân tộc. Thấy rõ những nét chính về các cuộc đấu tranh giải phóng tiêu biểu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ở các nước Đông Nam Á: Inđônêxia, Philíppin, Campuchia, Lào, Việt Nam. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xã hội Inđônêxia có nhiều biến đổi, việc đầu tư của tư bản nước ngoài ngày càng mạnh mẽ, tạo nên sự phân hóa xã hội sâu sắc, giai đoạn công nhân và tư sản ra đời, ngày càng trưởng thành về ý thức dân tộc. Vì vậy, phong trào yêu nước mang màu sắc mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Nhận xét về phong trào đấu tranh 3 nước Đông dương: + Phong trào đấu tranh ở Campuchia, Lào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX diễn ra liên tục sôi nổi, hình thức đấu tranh chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang. + Mục tiêu chống Pháp, giành độc lập vì vậy phong trào mang tính chất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc song còn ở giai đoạn tự phát. + Phong trào do sĩ phu hoặc nông dân lãnh đạo. + Kết quả phong trào thất bại do: tự phát, thiếu tổ chức vững vàng, thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn. + Ý nghĩa: Thể hiện tinh thần yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân 3 nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống Pháp. TÓM LẠI :Cuối thế kỉ XX phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều thất bại,vì còn mang tính tự phát, nổ ra lẻ tẻ chưa có sự đoàn kết giửa các dân tộc, song sẽ tạo điều kiện tiền đề cho những giai đoạn sau.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu khoa học lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM TỪ NỬA SAU THẾ KỈ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

Lịch sử tư tưởng chính trị Việt nam từ cuối thế kiy XIX đến đầu thế kỉ XX lịch sử chính trị chính trị Việt Nam

32 Đọc thêm

Cùng chủ đề