NHỮNG VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG LÀ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHỮNG VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG LÀ":

Thuyết kiến tạo mảng và quan hệ của nó với các hoạt động động đất núi lửa

THUYẾT KIẾN TẠO MẢNG VÀ QUAN HỆ CỦA NÓ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT NÚI LỬA

Thuyết kiến tạo mảng và quan hệ của nó với các hoạt động động đất núi lửa Thập kỉ 60 của thế kỉ XX là thời kì Cách Mạng trong địa chất học bởi sự ra đời của học thuyết kiến tạo mảng.Trái Đất của chúng ta là một hành tinh có thạch quyển và luôn vận động, được cấu thành từ các mảng khác nhau cơ động trên quyển mềm. Ngày nay các nhà địa chất đã xác định được rằng chính sự tương tác của các mảng quyết định hình thái, vị trí của các lục địa và đại dương trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Cũng chính sự tương tác của các mảng là nguyên nhân tạo ra các dãy núi cổ và trẻ khác nhau trên bề mặt hành tinh, là thủ phạm gây ra các trận động đất co sức tàn phá nghiêm trọng. Hơn thế nữa, nó còn tác động đến chuyển động của các dòng hoàn lưu khí quyển và như vậy cũng tác động luôn tới khí hậu toàn cầu Từ những nguyên lý của học thuyết kiến tạo mảng, các nhà địa chất đã xác định được mối liên quan giữa kiến tạo mảng với sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và sự sống phát triển Đáy đại dương luôn luôn ở trạng thái động và di chuyển chậm chạp, cứ chừng vài cm mỗi năm, làm các lục địa cũng phải di chuyển theo như tấm thảm lăn (tapis roulant) ta thường đi lên xuống metro mỗi ngày. nay, nhờ các thám hiểm sâu dưới lòng đại dương, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, con người hiểu thêm bí ẩn của đáy biển: người ta nhận thấy giữa đáy đại dương có những giãy núi ngầm rất dài: giãy núi chạy dài từ Bắc xuống Nam giữa Đại Tây Dương, giãy núi xuyên Ấn Độ Dương, giữa Nam Băng Dương và Úc Châu, giãy núi ven bờ Thái Bình Dương v.v. Các phun trào khi lên đến mặt biển bị nguội dần lại và tràn sang hai bên để tạo chỗ cho các phun trào bazan tiếp nối phun lên, lâu dần tạo thành các giãy núi giữa đại dương; nói khác đi, vỏ đại dương phải có tuổi đời trẻ nhất ở các dãy núi giữa đại dương vì các đá bazan từ Sự phát triển thuyết kiến tạo mảng 4.2 SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA CÁC MẢNG KIẾN TẠOKhi các mảng kiến tạo rời xa nhau Khi hai mảng đều là mảng đại dương chạm nhau, hoặc mảng đại dương chạm phải mảng lục địa 5.2 Ranh giới phân kỳ5.3 Ranh giới hội tụ8. Mối quan hệ giữa thuyết kiến tạo mảng với động đất và núi lửa
Xem thêm

60 Đọc thêm

BÀI 24. BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG

BÀI 24. BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG

từ ngoàikhơisóngxô vàobờ,thếnào ?thực ra nước không chuyểnnhưngđộng theo chiều ngang mà chỉ dao? Sóng là gì ?động tại chỗ theo chiều thẳngđứng1.Độ muèi cña níc biÓn vµ®¹i d¬ng2. Sự vận động của nước biểnvà đại dương:a. Sóng-là hình thức dao động tại chỗ củanước biểnđại dương-Nguyên nhân sinh ra sóng biểnchủ yếu là gió. Động đất ngầmdưới đáy biển sinh ra sóng thần?Nguyên nhân sinh ra sóng?Nguyên nhân sinh rasóng biển chủ yếu làGió sinh ra sóng ,sóng còn cógió.sóng thường chỉ có ởbởi nguyên nhân nào ?
Xem thêm

37 Đọc thêm

TỔ CHỨC GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI QUỐC TẾ ĐẠI DƯƠNG

TỔ CHỨC GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI QUỐC TẾ ĐẠI DƯƠNG

Trong đó, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đã bắt đầu có chỗ đứng riêng, góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Quá trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu nếu diễn ra nhanh chóng chính xác thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa của đất nước và đưa kinh tế nước nhà đi lên. Công việc giao nhận đòi hỏi người giao nhận phải tinh thông về nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, am hiểu về luật pháp và tập quán quốc tế. Tuy nhiên, nhiều nhà xuất nhập trong nước và ngoài nước vẫn chưa thành thạo được quy trình này nên dẫn đến sự ra đời của các Công ty cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm mục đích tối ưu hóa thời gian giao nhận, giảm thiểu chi phí cho các đại lý, tạo uy tín cho các Công ty. Trong các phương thức vận chuyển hàng hóa quốc tế, quan trọng nhất là vận tải biển, chiếm trên 90% lượng hàng vận chuyển (Bộ Giao Thông Vận Tải, 2014). Theo đó, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển cũng đóng vai trò lớn trong việc tạo ra doanh thu cho các Công ty giao nhận. Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động này, người viết quyết định chọn thực tập tại Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Vận Tải Quốc Tế Đại Dương để tìm hiểu rõ hơn lí thuyết và thực tế trong khâu giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Từ đó đưa ra những nhân xét về quy trình và đưa những đề xuất bằng vốn kiến thức của người viết để Công ty có thể ngày càng hoàn thiện và phát triển hơn trong tương lai.Trong thời gian thực tập tại TNHH Thương Mại Dịch Vụ Vận Tải Quốc Tế Đại Dương, nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị nhân viên trong Công ty người viết đã có cơ hội được trau dồi, học hỏi thêm nhiều kiến thức trong hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Trên những sự thuận lợi và cơ hội đó, cùng với sự hướng dẫn của Giảng Viên Hướng Dẫn Nguyễn Mạnh Hiệp, người viết quyết định chọn đề tài: “Tổ chức giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng đường biển tại TNHH Thương Mại Dịch Vụ Vận Tải Quốc Tế Đại Dương” làm đề tài cho thu hoạch thực tập tốt nghiệp của mình.Ngoài lời mở đầu và kết luận, thu hoạch thực tập tốt nghiệp này có 3 chương:Chương 1: Khái quát về Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Vận tải Quốc tế Đại Dương.Chương 2: Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng đường biển tại Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Vận Tải Quốc Tế Đại Dương.Chương 3: Giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng đường biển tại Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Vận Tải Quốc Tế Đại Dương.
Xem thêm

46 Đọc thêm

Phân tích Biển đêm

PHÂN TÍCH BIỂN ĐÊM

Biển đêm Huygô Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng Buổi ra đi, vui sướng đường xa Cuối chân trời u ám, đã thành ma! Đã biến mất, đớn đau số phận Đêm không trăng, giữa biển không cùng, Chôn vùi thân giữa sóng muôn trùng! Biết bao đã chết rồi lái bạn Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời Ném tan tành trên mặt nước xa khơi! Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi! Còn ai hay, hỡi người xấu số Giữa mênh mông, thi thể về đâu Trán anh va vào đá nhô đầu! Ôi! Biết bao mẹ cha hi vọng Ngày lại ngày trên bãi bờ quê Ngóng trông ai không thấy trở về! Tối đến, trên đống neo hoen gỉ Nhà nhà vui, bên lửa vây quanh Có khi người nhắc đến tên anh. Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện, Giữa cái hôn của cả người yêu, Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu! Người lại hỏi: anh đâu rồi nhỉ Vua đảo nào, hay gặp chốn giàu sang? Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên! Chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa Người người lo thuyền lưới, đi cày Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay Những người vợ bơ phờ mỏi mắt Kể về anh, khêu lớp tro tàn Của lòng đau và của lo than! Và đến lúc khép rồi nấm mộ Chẳng còn ai biết nữa tên anh! Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh Cả gốc liễu mùa thu trút lá Và cả người hành khất bên cầu Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu! Ôi! Đâu hết những người thủy thủ Chìm trong đêm, bi thảm đời người Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi! Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ Những tiếng người tuyệt bọng kêu la Mỗi chiều về, lại đến cùng ta! Tố Hữu dịch Phân tích Huygô (1802 - 1885) với 60 năm sáng tác đã để lại một sự nghiệp văn chương vô cùng đồ sộ: thơ, tiểu thuyết, kịch… Cảm hứng nhân đạo dào dạt trong thơ văn của ông. Trước khi qua đời ba ngày, đi vào cõi vĩnh hằng bất tử, ông còn ghi lại những dòng chữ như nhắn tin cùng mai hậu: “Yêu thương là hành động!” Huygô đã hướng tình yêu thương về phía những người nghèo khổ, những số phận bất hạnh bi thương trên cõi đời, khẳng định và ca ngợi những phẩm chất cao quý của họ, đồng thời căm giận lên án cái ác - nguyên nhân làm cho con người đau khổ. Nói đến Huygô là nói đến những “bình nguyên thơ” của ông với màu xanh trữ tình bất tuyệt trải dài trên 17 tập thơ với 15 vạn 3 ngàn 873 câu thơ. Những bài thơ như “Biển đêm”, “Mùa gieo hạt, buổi chiều”, “Tháng năm đầy hoa”, “Bài hát”,… của Huygô đã một thế kỷ nay được nhiều thế hệ học sinh Việt Nam yêu thích. Bài thơ “Biển đêm” rút trong tập thơ “Tia sáng và bóng tối” xuất bản năm 1840 - đó là tập thơ thứ tư trong vườn thơ ca của Huygô. Nhan đề bài thơ - tiếng Pháp là “Oceano nox”. Tố Hữu dịch là “Biển đêm”, một số người khác dịch là “Đêm đại dương”. Đại dương vốn là một không gian mênh mông, bao la, nơi chứa đựng bao điều bí mật đới với con người xưa nay, chứa chất bao huyền thoại. Khi mà khoa học chưa phát triển kì diệu như ngày nay, thì biển và đại dương trong màn đêm mịt mùng gợi lên trong lòng hàng triệu con người nhiều bí hiểm, huyền bí… Với nhan đề “Biển đêm”, “Đêm đại dương” thi phẩm đã đem đến cho ta một trường liên tưởng mênh mông về những bão tố, những vụ đắm tàu kinh hãi… Nhan đề bài thơ cho ta nhiều xúc động để tiếp cận những vần thơ. “Biển đêm” gồm 8 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 6 dòng thơ, mỗi dòng thơ, câu thơ tiếng Pháp có từ 8-12 âm tiết, thể hiện một bút pháp vô cùng điêu luyện. Hai khổ thơ đầu nói lên số phận bi thảm của thủy thủ sau cơn bão tố. Bốn khổ thơ tiếp theo: nỗi thương nhớ chờ mong… của người thân thương đối với những thủy thủ bất hạnh. Hai khổ thơ cuối: sự quên lãng của thời gian và người đời… Mạch cảm xúc trữ tình được tuôn chảy theo dòng thời gian, tạo nên sự lắng đọng ngậm ngùi và tiếc thương, xót xa vô hạn đối với độc giả gần 200 năm nay. 1. Cơn cuồng phong cuốn sạch trang đời Mười hai câu thơ đầu nói lên tai họa trên biển đêm sau cơn bão tố. Bao thuyền viên và thủy thủ lên đường cho một chuyến đi xa và đi dài. Đó là những con người dũng cảm đáng yêu. Ngày lên đường với bao niềm vui và hăm hở, trẻ trung và yêu đời. “Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng Buổi ra đi, vui sướng đường xa” Tiếp theo là những hình ảnh diễn tả thảm họa đối với họ. Một đêm không trăng giữa đại dương mênh mông mịt mùng, nơi cuối chan trời xa lắc, dưới muôn ngàn lớp sóng cồn họ đã chết một cách thê thảm. Huygô đã sử dụng bút pháp tương phản giữa 2 câu đầu và 10 câu thơ tiếp theo, tương phản giữa niềm vui ngắn ngủi với thảm họa và cái chết bi thảm giữa đại dương bao la, vô tận, gợi nên bao xúc động và xót thương đối với các thuyền viên, thuyền trưởng: “Cuối chân trời u ám, đã thành ma! Đã biến mất, đớn đau số phận Đêm không trăng, giữa biển không cùng, Chôn vùi thân giữa sóng muôn trùng!” Thảm họa đến bất ngờ, họ đã “biến mất”, không một nấm mồ trên cõi nhân gian. Họ đã “vùi thân” dưới đáy đại dương và muôn trùng con sóng. Mọi cái chết đầu đau thương, nhưng cái chết đắm tàu trong bão tố của những người đi biển thật vô cùng bi thảm. Cuộc đời những thuyền viên, thuyền trưởng như một cuốn sách mỏng bị bão tố xé nát từng trang, ném tơi tả tan tành trên sóng cuộc trùng dương. Con thuyền của họ bị sóng gió đại dương xô đập, vỡ tan tành. Những con sóng được nhân hóa như đang vồ lấy, cướp lấy “mồi” - những nạn nhân và con tàu tội nghiệp. “Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời Ném tan tành trên mặt nước xa khơi! Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi!” Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu thương “Ôi!” (Oh!) và hàng loạt câu cảm thán cùng với điệp ngữ “biết bao nhiêu” vang lên 4 lần gợi lên ám ảnh không cùng về nỗi xót thương và sự hãi hùng đối với cái chết đau đớn của các thuyền viên, thuyền trưởng gặp thảm họa giữa biển đêm. (Combien de marins… Combien capitaines,… combien ont disparu…, combien de patrons morts,..). Tố Hữu dịch được từ “biết bao nhiêu” hai lần: “Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng… Biết bao đã chết rồi lái bạn…” 2. Còn ai hay, hỡi người xấu số… Năm tháng dần trôi qua… Trên các bến cảng, những con tàu khác vẫn ra đi, và những con tàu khác vẫn trở về cập bến. Nhưng cũng có biết bao cha già, mẹ yếu đợi chờ mỏi mòn những đứa con đi biển đã lâu ngày chưa trở về. Thật đau thương “Còn ai hay hỡi người xấu số…”. Dưới đâu các đại dương, thi thể (nắm xương tàn) vẫn bị sóng xô đẩy. Hai lần bị đau đớn: chết trong hãi hùng, nay “thi thể về đâu” và “trán anh va vào đá nhô đầu!”. Chết không một nấm mồ! Chết vẫn còn đau đớn: “Giữa mênh mông, thi thể về đâu Trán anh va vào đá nhô đầu!” Tưởng tượng là phẩm chất của thơ. Tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì cảm xúc càng sâu lắng bấy nhiêu! Nghĩ về thịt nát xương tan của những thủy thủ, thuyền trưởng xấu số mà nhà thơ đau lòng, thương xót. Cha mẹ họ mòn mỏi đời chờ họ trên những phiến đã bờ đại dương, nay cũng đã chết cả rồi; chết trong sầu muộn, chết trong già yếu. Khổ ba nói về hai cái chết: chết thảm khốc của kẻ ra đi, và cái chết lặng lẽ âm thầm của mẹ cha trong sự đợi chờ vô vọng. Còn ai nữa để khóc thương cho những người đi biển xấu số? “Ôi! Biết bao mẹ cha hi vọng Ngày lại ngày trên bãi bờ quê Ngóng trông ai không thấy trở về!” Sự ám ảnh và nỗi lo âu của mẹ cha già yếu, chết mòn mỏi trong đợ chờ tuyệt vọng - Trong nguyên tác chưa được lột tả đầy đủ trong bản dịch thơ này. Mỗi tối đến, lúc lên đèn trong những mái nhà êm ấm nơi quê hương, trên những bến bờ xứ sở, cũng có người nhắc đến tên các anh - những người xấu số đi mãi chưa về. Người thân thương chỉ còn biết nhớ lại, gợi lại tiếng cưới, câu hát, chuyện phiêu lưu và nụ hôn thầm lén của người yêu xưa. Kỷ niệm càng chồng chất thì nỗi đau mất mát người thân yêu càng xót xa thương cảm: “Có khi người nhắc đến tên anh. Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện, Giữa cái hôn của cả người yêu, Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu!” Thương nhớ rồi hy vọng. Mãi vẫn không thấy anh trở về. Cũng có người thầm nhắc, băn khoăn tự hỏi: hay các anh (Kẻ đắm tàu đã chết trên đại dương mịt mùng) đã trở thành vua hải đảo nào, hay đang sống trong cuộc đời giàu sáng mà nhạt tình quê hương? Dòng chảy thời gian trôi mãi…, trôi mãi. Năm tháng mờ xa dần: “Rồi chẳng ai còn nhớ… dần tan”. Câu thơ: “Thân trong nước, tên trong trí nhớ” là một câu thơ hay, cảm động. Hình ảnh cụ thể đặt trong thế sánh đôi: “Thân trong nước” (hình ảnh thể xác - một nắm xương tan) và “tên trong trí nhớ) (hình ảnh tinh thần). Tất cả đều rơi vào quên lãng. Các từ ngữ: “trí nhớ”, “thời gian”, “bóng đen”, “biển sâu”, “lòng lãng quên” được phối hợp trong một chỉnh thể ngôn ngữ để diễn tả nỗi đau lòng và thương cảm của nhà thơ trước sự khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng. Chẳng còn thấy ai nhớ đến những người đi biển xấu số. Câu thơ dịch khá hay: Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên!” Sự lãng quên của người đời càng làm cho nỗi đau dồn tụ lại, nén chặt lại trong lòng người vợ góa - người cô phụ! Đã bao nhiêu đêm dài, bao năm tháng dằng dặc, nàng đợi chờ người chồng xấu số. Tuổi xuân đã trôi qua. Trong lúc người đời bận rộn với công việc làm ăn (chài lưới, cày ruộng…) “chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa” thì chỉ có người vợ góa đau khổ “bơ phờ mỏi mắt” buồn tủi, đau xót thương nhớ người chồng thân yêu đi biệt mãi. Mọi kỉ niệm đẹp một thời bi phủ dưới “lớp tro tàn” của thời gian được người vợ nhắc lại trong nỗi đau tê tái: “Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay Những người vợ bơ phờ mỏi mắt Kể về anh, khêu lớp tro tàn Của lòng đau và của lo than!” Hình ảnh “lớp tro tàn”, “lòng đau”, “lò than” cực tả nỗi đau khôn nguôi trong lòng người cô phụ. Đau trong nỗi đau cô đơn, chỉ mình nàng biết, chỉ mình nàng hay! Trong phần hai của bài thơ “Biển đêm”, tứ thơ vận động theo quy luật thời gian và dòng đời. Khổ 3, nói về sự nhớ thương của cha me… Khổ 4, người thân yêu nhắc lại những hình ảnh và kỉ niệm về những kẻ viễn du trên những con tàu đi mãi chưa về. Khổ 5, nói về sự quên lãng của người đời đối với các anh. Khổ 6 nói về thương nhớ, đau xót không nguôi của những người vợ goá trong những đêm dài. Có thể nói tiếng thơ của Huygô đã diễn tả một cách sâu sắc, cảm động nỗi đau trong 9 tầng sâu của lòng người - những người vợ có chồng đã chết thê thảm trong bão tố giữa mịt mùng biển đêm. 3. Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ… Hai khổ cuối diễn tả nỗi lòng nhà thơ đối với những thủy thủ vĩnh viễ vùi xác dưới các đại dương. Thủ phát nghệ thuật tương phản được vận dụng thần tình để làm nổi bật tấm lòng nhân đạo bao la của tác giả. Sự lãng quên vĩnh viễn về số phận bi thảm của những người bị đắm tàu là qui luật khắc nghiệt của thời gian và sự bận rộn của cuộc đời. Sau khi những người vợ góa qua đời thì cảm thương thay, chẳng còn một ai nhắc đến tên các anh. Hòn đá, cây liễu, người hành khất và bài hát buồn… nào ai còn nhớ đến anh đâu! Cỏ cây… và lòng người đều quên lãng. Các thuyền viên, thuyền trưởng đều trở thành cô hồn giữa đại dương: “Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh Cả gốc liễu mùa thu trút lá Và cả người hành khất bên cầu Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu!” Rồi nhà thơ xúc động cất lên lời than. Huygô như đang nhìn vào nơi đây sâu thẳm đại dương mà đau xót: Ôi! Đâu hết những người thủy thủ Chìm trong đêm, bi thảm đời người” Sóng thủy triều mỗi buổi chiều dâng lên như đang cùng nhà thơ đối thoại và chia sẻ với bao nỗi thương tâm. Sóng như một chứng nhân về thảm họa một đêm không trăng trên đại dương thuở nào đang thầm thì với nhà thơ. Chỉ có sóng - tượng trưng cho thiên nhiên vĩnh hằng, chiều chiều cùng với thủy triều dâng lên như những bài ca bất tận về những người đã khuất trên biển đêm. Sóng đại dương mãi mãi chia sẻ với nhà thơ nỗi đau lòng, thương cảm đối với những người bất hạnh vùi thân dưới đáy đại dương mịt mùng. Sóng đã được nhân hóa, sóng đang cùng nhà thơ cảm thương đau xót, kể lại nhưng câu chuyện đau lòng cho những người mẹ đang quỳ gối nguyện cầu. Vần thơ mang sắc điệu trữ tình rung lên như một tiếng lòng nức nở thể hiện đằm thắm, thiết tha chủ nghĩa nhân đạo bao la của Huygô: “Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi! Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ Những tiếng người tuyệt bọng kêu la Mỗi chiều về, lại đến cùng ta!” Những người biết tiếng Pháp chút ít, mỗi lần đọc đến câu thơ cuối bài, rất lấy làm thú vị về âm điệu, nhạc điệu ngân rung được Huygô diễn tả một cách tinh tế qua các điệp thanh, các phụ âm “v” dồn dập như những làn sóng biển: “Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!” “Biển đêm” là một bài thơ chứa chan tinh thần nhân đạo. Cái chết bi thảm của những thủy thủ trên đại dương để lại bao lỗi đau lòng thương nhớ không nguôi trong lòng người. Trong dòng chảy của cuộc đời và thời gian, dù họ có bị quên lãng đi trong lòng người, thì Huygô và ngàn năm sóng vỗ vẫn xót thương không cùng đối với họ. Huygô là nhà thơ tiêu biểu nhất của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Lấy “Biển đêm”, lấy màn đêm để lột tả thiên nhiên bí ẩn, hãi hùng, để diễn tả nỗi đau âm thầm, để nhà thơ chìm sâu trong suy tưởng để trầm ngâm hoặc đối thoại với lòng mình về nỗi đau nhân thế và số phận đau thương của con người, về cái chết và nỗi đau trên cõi đời, về cái mất và cái còn trong dòng chảy thời gian. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong “Biển đêm” cho ta nhiều ám ảnh về nỗi thương đau. Phải chăng “Biển đêm” trong thơ Huygô cũng là “bể trầm luân” trong văn học cổ Việt Nam, trong thơ Nguyễn Du?
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG KIỂM SOÁT Ô NHIỄM

ĐỀ CƯƠNG KIỂM SOÁT Ô NHIỄM

KIỂM SOÁT Ô NHIỄM Chương 1: Tổng quan Thế nào là môi trường biển? Ô nhiễm môi trường biển ? Môi trường biển: là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới đáy biển, không khí trên mặt biển và hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật. Ô nhiễm môi trường biển: là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến môi trường biển gây ra những tác hại cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng và làm suy giảm các giá trị cảnh quan môi trường biển. 1. Các chất gây ô nhiễm biển, nguồn và tác hại ? Các nguồn gây ô nhiễm biển: A. Nguồn ô nhiễm từ đất liền B. Nguồn ô nhiễm từ các hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương. C. Hoạt động đổ thải các chất độc hại trên biển. D. Nguồn ô nhiễm từ hoạt động vận tải hàng hải. E. Nguồn ô nhiễm từ không khí. F. Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rỏ rỉ dầu tự nhiên… Các chất gây ô nhiễm biển: Rác thải. Chất dinh dưỡng NP. Kim loại. Dầu và các hợp chất liên quan. Chất phóng xạ. Thuốc trừ sâu DDT Các hoát chất hữu cơ công nghiệp PCB. Khí nhà kính Ô nhiễm nhiệt. Tác hại của ô nhiễm môi trường biển: 1. Tác động sinh thái: Tác động gây chết: o Chết san hô o Ảnh hưởng thảm cỏ biển, rừng ngập mặn. o Cá chết do nhiệt: Tác động dưới mức chết: ảnh hưởng khả năng sinh sản, hấp thụ, lấy thức ăn, thở. Tác động thứ cấp: kim loại năng độc tố được tích tụ trong chuỗi thức ăn. ảnh hưởng đến các động vật bậc cao. 2. Tác động kinh tế xã hội: Giảm sản lượng nuôi trồng thủy sản. Giảm lượng khách du lịch Giảm lượng tàu thuyển giải trí. Giảm công ăn việc làm. Giảm sản lượng đánh bắt. 3. Tác động lên sức
Xem thêm

13 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KHOA HỌC BIỂN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KHOA HỌC BIỂN

Câu 1: Vẽ chu trình thủy văn (vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên). Trình bày quá trình chuyển động của nước trong chu trình thủy văn? Trả lời: • Tự vẽ • Chu trình thủy văn thiên nhiên có thể chia làm 2 loại 1 Vòng tuần hoàn lớn: nước bốc hơi từ đại dương và biển được gió vận chuyển vào lục địa tạo mưa. Nước mưa rơi xuống đất tạo thành dòng chảy theo các sông đổ ra biển, duy trì cân bằng nước trên biển và lục địa. 2 Vòng tuần hoàn nhỏ: nước trên mặt biển hoặc trên mặt lục địa bốc hơi vào khí quyển thành mây sinh ra mưa rơi xuống ngay mặt biển hoặc trên lục địa Câu 2: Nêu các quá trình hình thành dòng chảy trên sườn dốc? Phân tích quá trình mưa và quá trình tổn thất. Trả lời: • Quá trình hình thành dòng chảy trên sườn dốc: Cường độ mưa i< cường độ thấm f khi đó toàn bộ lượng mưa bị tổn thất do thấm vào trong đất. Trường hợp này xảy ra khi cường độ mưa quá bé hoặc giai đoạn đầu của trận mưa trước thời điểm t0, thời điểm này phụ thuộc vào cường độ mưa và độ ẩm ở trong đất. Cường độ mưa i< cường độ thấm f lượng nước dư thừa tập trung vào các điểm trũng, sau khi chứa đầy các điền trũng nước bắt đầu chảy qua các ngưỡng tràn theo độ dốc tập trung thành các dòng nhỏ và dần dần hợp thành các dòng chảy lớn dần cho tới khi đổ vào khe suối nhỏ để chảy vào hệ thống sông Quá trình tập trung dòng chảy sườn dốc là một quá trình phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mưa, độ dốc, độ dài sườn dốc, đặc điểm bề mặt của nó. • Quá trình mưa: ¬Sông ngòi là sản phẩm của khí hậu mà nhâ tố chính của khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy trên sông. Mưa là một quá trình quan trọng đóng vai trò chính trong sự hình thành dòng chảy trong lưu vực. Lượng mưa và quá trình mưa quyết định đến lưu lượng và quá trình dòng chảy.
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG địa lý HK2

ĐỀ CƯƠNG ĐỊA LÝ HK2

Câu 1: Trình bày sự thay đổi của nhiệt độ không khí theo vị trí gần hay xa biển, theo độ cao của địa hình và theo vĩ độ? Trả lời:Nhiệt độ không khí ở những miền nằm gần biển và miền nằm sâu trong lục địa cũng khác nhau Theo độ cao: Trong tầng đối lưu, càng lên cao nhiệt độ không khí càng giảm. Theo vĩ độ: Không khí ở các vùng vĩ độ thấp nóng hơn không khí ở các vùng vĩ độ cao Câu 2: Khí áp là gì? Tại sao lại có khí áp? Trả lời: Khí áp là sức ép của không khí lên bề mặt Trái Đất. Không khí tuy nhẹ nhưng vẫn có trọng lượng. Vì khí quyển rất dày nên trọng lượng của nó cũng tạo ra một sức ép rất lớn lên bề mặt Trái Đất. Sức ép đó gọi là khí áp Câu 3: Taị sao có không khí, có độ ẩm? Nhiệt độ chứa hơi nước trong không khí có quan hệ như thế nào? Trả lời: Không khí bao giờ cũng chứa một lượng hơi nước nhất định, lượng hơi nước đó làm không khí có độ ẩm. Nhiệt độ không khí càng cao, lượng hơi nước chứa được càng nhiều; nhiệt độ không khí thấp, lượng hơi nước chứa được càng thấp. Câu 4:Thế nào là hệ thống sông, lưu vực sông và lưu lượng nước sông? Sông và hồ khác nhau như thế nào? Trả lời: Hệ thống sông bao gồm: Các phụ lưu  dòng sông chính  chi lưu Lưu vực sông: Là vùng đất đai cung cấp nước thường xuyên cho 1 con sông. Lưu lượng là: Lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một địa điểm nào đó trong 1 giây đồng hồ. (m3s) Sông và hồ khác nhau: Vì hồ là những khoảng nước đọng tương đối rộng và sâu trong đất liền còn sông là dòng nước chảy thường xuyên, tương đối ổn định trên bề mặt lục địa. Câu 5:Độ muối của nước biển do đâu mà có? Vì sao độ muối trong các biển và trong đại dương lại khác nhau? Cho VD chứng minh Trả lời: Độ muối đó là do nước sông hòa tan các loại muối từ đất, đá trong lục địa đưa ra. Độ muối của nước trong các biển không giống nhau, tùy thuộc vào nguồn nước sông chảy vào nhiều hay ít và độ bốc hơi lớn hay nhỏ. VD: Độ muối của biển Việt Nam là 33%0 ; Độ muối của biển Hồng Hải là 41%0 . Câu 6: Phân biệt các vân động sóng, thủy triều, các dòng biển và cho biết nguyên nhân sinh ra chúng? Vận động Sóng Thủy triều Dòng biển Khái niệm Là sự dao động tại chỗ của nước biển và đại dương . Là hiện tượng nước biển có lúc dâng lên , lấn sâu vào đất liền , có lúc rút xuống, lùi tít ra xa. Là hiện tượng chuyển động của lớp nước biển trên mặt tạo thành các dòng chảy trên biển và đại dương Nguyên nhân hình thành Chủ yếu do gió Động đất ngầm dưới đáy biển sinh ra sóng thần Do sức hút của Mặt Trăng và một phần của Mặt Trời Chủ yếu là các loại gió thổi thường xuyên trên Trái Đất: Tín phong, Tây ôn đới. Câu 7: Độ phì của đất là gì? Nêu vai trò của tầng đá mẹ, sinh vật và khí hậu trong quá trình hình thành đất? Trả lời: Độ phì của đất là khả năng cung cấp nước, nhiệt, khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật sinh trưởng và phát triển. Đá mẹ: Nguồn gốc sinh ra thành phần khoáng trong đất. Đá mẹ có ảnh hưởng đến màu sắc và tính chất của đất. Sinh vật: Nguồn gốc sinh ra thành phần hữu cơ. Khí hậu (đặc biệt là nhiệt độ, lượng mưa): tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho quá trình phân giải chất khoáng và hữu cơ trong đất. Câu 8: Lớp vỏ sinh vật là gì? Nêu mối quan hệ giữa thực vật và đông vật? Trả lời: Là các sinh vật sống trên bề mặt Trái Đất Sinh vật xâm nhập trong lớp đất, đá, khí quyển và thủy quyển Thực vật và động vật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thực vật là nguồn thức ăn cho các loài động vật. Có động vật ăn có mới có động vật ăn thịt. Vì vậy, sự phân bố của thực vật ảnh hưởng đến sự phân bố của động vật ăn cỏ, động vật ăn cỏ sẽ quyết định số lượng của động vật ăn thịt. Câu 9: Trình bày hưởng của con người đến sự phân bố thực vật, động vật? Tích cực Tìm giống cây trồng, vật nuôi phù hợp để mở rộng sự phân bố Cải tạo giống > hiệu quả kinh tế cao Tiêu cực Phá rừng, săn bắt thú, ô nhiễm môi trường
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bốn khổ thơ để làm nổi rõ sức gợi cảm phong phú, bất ngờ của hình tượng sóng trong sự liên hệ, đối sánh với nhân vật trữ tình em.

PHÂN TÍCH BỐN KHỔ THƠ ĐỂ LÀM NỔI RÕ SỨC GỢI CẢM PHONG PHÚ, BẤT NGỜ CỦA HÌNH TƯỢNG SÓNG TRONG SỰ LIÊN HỆ, ĐỐI SÁNH VỚI NHÂN VẬT TRỮ TÌNH EM.

Sóng là bài thơ tình tuyệt bút của Xuân Quỳnh (1942-1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn thiên trường gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung. Sóng  là bài thơ tình tuyệt bút của Xuân Quỳnh (1942-1988). Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn thiên trường gồm có 38 câu thơ. Qua hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung. Bốn khổ thơ dưới đây trích trong phần đầu bài thơ. Hình tượng “sóng” trong sự liên hệ đối sánh với nhân vật trừ tình “em” đã đem đến cho tâm hồn ta bao gợi cảm phong phú bất ngờ: Ôi  con sóng ngày xưa (…) Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. Sóng  là hiện tượng muôn đời của đại dương bao la. Còn vũ trụ, đất trời thì còn có đại dương; đại dương còn thì còn “muôn trùng sóng bể”. Sóng là sức sống hằng, kì diệu của biển, trường tồn trong dòng chảy thời gian: “Ôi con sóng  ngày xưa - và ngày sau vẫn thế”. Từ “ôi” cảm thán cất lên đầy xúc động ngây ngất của một nỗi niềm. Sóng của biển cũng như tình yêu là chuyện muôn đời của lứa đôi, là “khát vọng’’ của trai gái xưa nay. Sóng reo, sóng vỗ trên biển cả mênh mông cũng như “con sóng” tình yêu biến hóa vô cùng, lúc “dữ dội và dịu êm”, lúc thì “ồn ào và lặng lẽ”, làm cho trái tim tuổi trẻ lay động, xao xuyến, “bồi hồi”: Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Hình tượng “sóng” trong những vần thơ ngọt ngào thiết tha đầy gợi cảm mang  tính nhân văn. “Trước muôn trùng sóng bể” của đại dương mênh mông,lớp lớp sóng liên hồi, vô tận, thiếu nữ “bồi hồi” nghĩ về quy luật của sự sống,về sự  trường tồn của đại dương, về nguyên nhân kì diệu nào mà có “sóng lên”.Rồi thiếu nữ bâng khuâng nghĩ về mối nhân duyên của mình, về tình yêu của “em” “anh”. Điệp ngừ: “Em nghĩ về... Em nghĩ về...”, kết hợp với câu hòi tu từ. “Từ nơi nào sóng lên?” đã làm cho giọng thơ nồng nàn, say đắm, cảm xúc bâng khuâng triền miền dào dạt dâng lên. Hình tượng “sóng” và sự liên tưởng phong phú được diễn tả một cách thi vị:         Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn  Từ nơi nào sóng lên? Hỏi sóng rồi hỏi gió: “Gió bắt đầu từ đâu?” Rồi thiếu nữ lại tự hỏi trái tim mình, tự hỏi lòng mình: “Khi nào ta yêu nhau". Đó là tâm trạng cùa “em’’, của bất cứ chàng trai cô gái nào trong tình yêu. Và phải là mối tình đầu mới có câu hỏi ấy. Tình yêu đã đến với “em” tự bao giờ, nhưng cái khắc khoải “thắm lại” của hai tâm hồn “anh” và “em”, đâu dễ trả lời. Ông chúa thơ tình Xuân Diệu đã viết: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”... Tuy không trả lời được câu hỏi: “Khi nào ta yêu nhau?”, nhưng cái khoảnh khắc thần tiên của mối tình đầu mãi mãi được ghi sâu trong lòng người: Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy    Nghìn năm chưa dễ đã ai quên? (Thế Lữ) Sức gợi cảm của hình tượng “sóng” thật phong phú và bất ngờ. Sóng tồn tại trong trạng thái “động”, trong mọi không gian “dưới lòng sâu” hay “trên mặt nước”, tầng tầng lớp lớp “muôn trùng sóng bể”. Có sóng ngầm và nhấp nhô sóng biếc. Sóng được nhân hóa, sóng thao thức suốt đêm ngày trong mọi thời gian: “Sóng nhớ bờ”, trong mọi trạng thái: “Sóng không ngủ được”. Sóng được cảm nhận bằng thính giác, bằng thị giác, bằng tri giác và cả bằng tâm hồn. Hình tượng “sóng” càng trở nên thơ mộng, gợi cảm:        Con sóng dưới lòng sâu       Con sóng trên mặt nướ  Ôi con sóng nhớ bờ             Ngày đêm không ngủ được. Cấu trúc song hành, đối xứng: “dưới lòng sâu // trên mặt nước”, “ngày // đêm”, nhớ bờ // không ngủ được” và điệp ngữ “con sóng” đã làm cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, âm điệu, nhạc điệu thơ nhịp nhàng, uyển chuyển, say đắm và ngọt ngào. Nhạc cùa thơ vị ngọt tình yêu như được hòa quyện trong không gian, trong thời gian, và cả trong lòng người. Xuân Quỳnh có lúc mượn “thuyền" và “biển” làm ẩn dụ để nói lên nỗi nhớ thương của lứa đôi:      Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ     Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn rỡ... (Thuyền và biển) Từ hiện tượng “sóng nhớ bờ”, nữ sĩ liên tưởng đến nỗi nhớ “em nhớ đến anh”, một nỗi nhớ da diết, triền miên, bồi hồi khôn xiết kể, cả trong cõi thực và cả trong mơ, trong ý thức và cả trong tiềm thức: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. Sóng là quy luật vận động của vũ trụ, của dại dương. Tưởng tượng “sóng nhớ bờ” rồi liên hệ, đối sánh với “em”, với nỗi niềm “lòng em nhớ anh...” thật bất ngờ, thú vị. Ca dao nói nhiều về nỗi nhớ của trai gái làng quê. Có nỗi nhớ day dứt khôn nguôi: “Nhớ ai nhớ mãi thế này? - Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”. Có nỗi nhớ bồn chồn, ngẩn ngơ: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi - Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”. Qua đó, ta mới cảm thây nỗi nhớ của “em”,nhân vật trữ tình trong bài thơ Sóng: “Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức” là sâu sắc, bất ngờ, mới mẻ. Năm 1962, thi sĩ Xuân Diệu viết bài thơ tình “Biển”, trong đó hình tượng sóng là ẩn dụ về chàng trai đa tình, yêu say đắm, nồng nhiệt:  Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm    Hôn êm đềm mãi mãi... Bài thơ “Biển" là một thử thách lớn đối với Xuân Quỳnh. Năm năm sau, bài Sóng ra đời, ẩn dụ “sóng” nói về thiếu nữ trong mối tình đầu với bao phẩm chất tốt đẹp. Đó là sáng tạo, có thế nói là “bất ngờ”. Người thiếu nữ trong bài thơ Sóng đã “tự hát” về nỗi khao khát được yêu thương, được sống thủy chung trong tình yêu hạnh phúc. Hình tượng “sóng” gợi lên bao cảm xúc mạnh mẽ, nồng nàn, phong phú và bất ngờ. Sóng thật mãnh liệt. Em thật nồng nàn say mê bởi lẽ với em thì tình yêu là “khát vọng”. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phú Quốc - vẻ đẹp diệu kì.

PHÚ QUỐC - VẺ ĐẸP DIỆU KÌ.

Phú Quốc là huyện đảo ngoài khơi lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang. Phú Quốc là huyện đảo ngoài khơi lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang. Thị trấn Dương Đông - huyện đảo cách thị xã Rạch Giá 120km và cách Hà Tiên 45km. Đảo chính Phú Quốc rộng 578km, dài 51km và hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau tạo thành một quần thể đáo xanh tươi, thơ mộng ngay giữa đại dương. Eo biển xanh Phú Quốc được ví như Vịnh Hawai trữ tình nổi tiếng của Mĩ với những bờ biển đẹp vào bậc nhất Việt Nam. Bãi Trường nằm phía Tây đảo kéo dài từ Dương Đông tới An Thới khoảng 20km là bãi tắm sầm uất nhất và là bải biển duy nhất ở Việt Nam nơi bạn có thể ngắm mặt trời lặn xuống biển. Nhửng bãi tắm khác ở Phú Quốc như bãi Kem, bãi Đầm, bãi Cửu cần, bãi Đại, bãi Sao... nước trong vắt, cát trắng mịn như kem, cũng đầy hấp dẫn; có thể mang lại cho du khách những giây phút vui đùa, thư giản thoải mái nhất giữa cảnh đẹp hoang sơ, khí hậu trong lành, sự bình yên hiếm có. Phú Quốc nổi tiếng với đặc sản nước mắm, có vị ngon thơm đặc biệt, chế biến từ cá cơm, có độ đạm cao, khác hẳn với nước mắm những vùng biển khác. Mỗi năm, hàng trăm cơ sở sản xuất nước mắm của Phú Quốc cho ra thị trường 8 triệu lít nước mắm với sự hỗ trợ cả 2.200 tàu đánh cá, sản lượng đánh bắt trung bình 40.000 tấn/năm. Nghề làm mắm ở Phú Quốc có lịch sử phát triển trên 200 năm, người dân ở đây tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp thủ công truyền thống dể đảm bảo chất lượng, vệ sinh của đặc sản địa phương mình. Cá cơm còn tươi nguyên được ướp muối (muối vùng Bà Rịa Vũng Tàu hoặc Cà Ná - Phan Thiết) ngay trên thuyền. Nước mắm được lên men trong thùng gỗ, từ 12 đến 15 tháng. Mắm Phú Quốc khi đó có màu cánh gián, nhẹ mùi, không tanh, không gắt, có vị ngọt dịu đặc biệt. Vì thế mắm Phú Quốc không chỉ được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà đã chinh phục cả những người nội trợ ở Pháp, Bỉ, Mĩ, Thái Lan... Người ta ví, Phú Quốc như một cô gái trẻ, căng đầy sức sống, có vẻ đẹp bí ẩn, càng khám phá càng thấy lí thú, hấp dẫn của những vạt rừng nguyên sinh; lại vừa có vẻ đẹp quyến rũ, nồng nàn của đại dương hoang sơ. Cánh rừng nguyên sinh của Phú Quốc nằm ở trung tâm hòn đảo, rộng tới 37.000 ha, là nơi sinh sống của nhiều loài gỗ; chim muông quý. Tuyến du lịch đang được ưa chuộng nhất trên đảo là Dương Đông - Hàm Ninh. Con đường chính của tuyến du lịch này được làm từ thời Pháp, uốn lượn quanh những ngọn đồi bạt gió. Du khách sẽ được thăm chùa Sư Môn, lội suối Tranh, thăm làng chài cổ Hàm Ninh, leo núi hoặc đến cơ sở nuôi cấy ngọc trai ở Nam Đảo. Tuyến du lịch Dương Đông - An Thới cũng rất hấp dẫn khi dẫn tới một quần đảo gồm 15 hòn lớn nhỏ, nằm rải rác ở phía nam, dài khoảng 40km. Quần đảo An Thới là một địa điểm lí tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Các thắng cảnh: Dương Đông - Dinh Cậu, bãi Bàn, bãi Kem, lăng ông Hải, nhà tù Phú Quốc, cảng An Thới đều là những điềm tham quan đầy ấn tượng. Hoặc bạn sẽ đi câu mực thẻ đêm, câu cá rồi nướng ngay trên biển hay tham gia tour lặn biển, thăm vương quốc san hô hùng vĩ, nhiều màu sắc lung linh nhưng thật tinh khôi trong lòng đại dương Phú Quốc. Câu lạc bộ bơi lặn của Công ty du lịch Sài Gòn - Phú Quốc sẽ giúp bạn khám phá thế giới ngầm của hòn đảo đáng yêu này. Bạn sẵn sàng chưa? Trích: loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 17 LỚP VỎ KHÍ

BÀI 17 LỚP VỎ KHÍ

Có lớp Ôdôn có tác dụng ngăn cảnnhững tia bức xạ có hại cho sinhvật và con người.c. Các tầng cao của khí quyển:Xác định độ cao? Không khí ở tầng nàycó đặc điểm gì?-Từ 80km trở lên-Không khí cực loãng.Như vậy lớp vỏ khí có vai trò nhưthế nào đến đời sống con người?-Điều hoà khí hậu trên Trái Đất.-Đốt cháy các thiên thạch trên khôngtrung khi va vào Trái Đất.-Giúp sinh vật trên Trái Đất tồn tại.III. Các khối khí.Dựa vào bảng các khối khí;kể tên các khối khí.Các khối khí-Khối khí nóng hình thành trên các vùng vĩ độ thấp,có nhiệt độtương đối cao.-Khối khí lạnh hình thành trên các vùng vĩ độ cao,có nhiệt độ tươngđối thấp.-Khối khí đại dương hình thành trên các biểnđại dương,có độ ẩmlớn.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Quản lý tổng hợp Tài nguyên biển

QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN BIỂN

Tài nguyên biển, hải đảo là các dạng tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật, tài nguyên vị thế và các dạng tài nguyên khác tái tạo, không tái tạo trên các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo. Quản lý tài nguyên và môi trường biển (gọi tắt là quản lý biển) gồm tổ hợp các giải pháp và công cụ pháp luật, thể chế chính sách, kĩ thuật, kinh tế và xã hội nhằm duy trì chất lượng môi trường biển và bảo vệ tài nguyên biển, cũng như phát triển tối ưu hiệu quả kinh tế xã hội biển và đại dương nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng.
Xem thêm

23 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu Từ những tri thức lý luận và thực tiễn có được, tác giả nhận thấy biển và kinh tế biển có vai trò đặc biệt quan trọng đối với kinh tế các quốc gia có biển. Đặc biệt, thế kỷ XXI được đánh giá là “Thế kỷ của đại dương”, các quốc gia có biển đã và đang xây dựng cho mình một chiến lược biển quốc gia với nhiều tham vọng theo hướng “lấy đại dương nuôi đất liền”. Trước xu hướng đó việc triển khai một công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế biển nói chung và kinh tế biển Hải Phòng nói riêng để kinh tế biển đóng góp tối đa vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững chủ quyền biển đảo là một vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Thực tiễn đó kết hợp với niềm đam mê nghiên cứu khoa học và những hiểu biết mà tác giả có được; tác giả quyết định chọn đề tài “Phát triển kinh tế biển ở thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu với mong muốn đóng góp phần công sức nhỏ bé cùng tập thể các nhà khoa học luận giải một số vấn đề lý luận về kinh tế biển, cũng như đề xuất các quan điểm, giải pháp để phát triển kinh tế biển. Trong quá trình nghiên cứu, luận án có sự kế thừa chọn lọc các quan điểm, công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước dưới sự hướng dẫn, định hướng của các thầy hướng dẫn và sự nỗ lực rất lớn của bản thân tác giả. 2. Lý do lựa chọn đề tài Trong xu hướng chung của thế giới, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX Đảng ta đã nhận thức rõ vị trí chiến lược và tầm quan trọng của biển, hải đảo và kinh tế biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất; nhận thức được chuyển hóa thành quyết tâm chính trị chiến lược trong phát triển kinh tế biển, đảo. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển ”. Nằm trong chiến lược phát triển kinh tế biển chung của cả nước, Hải Phòng có vị trí địa chiến lược, là cửa ngõ, cầu nối cực kỳ quan trọng trong giao thương với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Thành phố Hải Phòng có chiều dài bờ biển khoảng 125 km, thềm lục địa rộng trên 100.000 km2, vùng biển Hải Phòng có diện tích khoảng 4.000 km2, gấp 2,6 lần diện tích đất liền… Tất cả các yếu tố trên đã tạo cho Hải Phòng những lợi thế to lớn trong phát triển kinh tế biển. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, những năm qua, Đảng bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng đã thực sự coi trọng đầu tư phát triển kinh tế biển; coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn, đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng của thành phố. Tổng kết thực tiễn cho thấy, Hải Phòng đã bước đầu thu hút được các nguồn lực cho đầu tư phát triển, khai thác được tiềm năng thế mạnh và lợi thế của kinh tế biển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo việc làm cho người lao động, từng bước thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế biển ở thành phố Hải Phòng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Cơ chế chính sách phát triển kinh tế biển chưa thực sự đồng bộ và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn; chất lượng các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế biển còn thấp; hiệu quả phát triển kinh tế biển chưa thật sự tương xứng với tiềm năng. Về mặt lý luận, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển ở thành phố Hải Phòng. Thực tế đó cho thấy hiệu quả và sự kỳ vọng phát triển của các ngành kinh tế biển ở Hải Phòng hoàn toàn chưa tương xứng với tiềm năng mà Hải Phòng đang có. Để khắc phục một cách triệt để những tồn tại rào cản trên, tất yếu cần phải triển khai những nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ thực tiễn đó, NCS lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế biển ở thành phố Hải phòng” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu Luận giải một số vấn đề về lý luận, thực tiễn và đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế biển ở thành phố Hải Phòng đến năm 2030.
Xem thêm

176 Đọc thêm

Tả cảnh biển buổi sáng

TẢ CẢNH BIỂN BUỔI SÁNG

Cảnh biển buổi sáng mới đẹp và hấp dẫn làm sao ! Ông mặt trời từ từ nhô lên, lơ lửng như một quả cam chín mọng tỏa nguồn sáng và truyền sức sống xuống biển cả. Vạn vật như được bừng lên, sôi động sau một đêm ngủ dài.Xa tít đường chân trời là những mảng mây màu tím như được dâng lên từ biển, phủ trên là dải mây xanh như còn mơ màng lưu luyến màn đêm. Những lọn mây trắng bồng bềnh sáng dần trên bàu trời duyên dáng soi bóng xuống mặt nước khiến những đàn chim chao liệng ngất ngây vui mừng chào đón ngày mới. Biển hiền hòa nâng sóng êm ả vỗ vào mạn thuyền. Gió sớm nhẹ thổi. Các thuyền đánh cá căng buồm ra khơi. Trên thuyền ngư dân vừa chuẩn bị kéo lưới, vừa chuyện trò rôm rả. Ai cũng phấn khởi vì thời tiết thuận lợi, hứa hẹn chuyến ra khơI trở về với những khoang thuyền đầy ắp cá.Ngắm cảnh biển, em tự nhủ: “Mình phải học thật giỏi, lớn lên sẽ điều khiển con tàu đến với đại dương bao la.” loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

tiểu luận công pháp qgn

TIỂU LUẬN CÔNG PHÁP QGN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO THỦ TỤC TÒA ÁN VỀ LUẬT BIỂN QUỐC TẾ ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO PHỤ LỤC VI CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM. A. MỞ ĐẦU: Biển và đại dương chiếm tỉ lệ cao hơn so với đất liền, có vai trò quan trọng và là nguồn lợi ích rất lớn cho các quốc gia ven biển, đại dương. Chính vì lợi ích mà nó đem lại rất lớn nên ngày càng nhiều các vụ tranh chấp có tính chất phức tạp xảy ra giữa các quốc gia. Để giải quyết tình hình này, công ước Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994 là một bước phát triển quan trọng nhất trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế. Công ước không chỉ thiết lập nên một Tòa án quốc tế mới, Tòa án Luật biển quốc tế mà còn xác lập các thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến các quốc gia, các cơ quan quyền lực dưới đáy đại dương và các chủ thể khác. Việc nghiên cứu đề tài “giải quyết tranh chấp theo thủ tục tòa án về luật biển quốc tế được thành lập theo phụ lục VI của công ước luật biển 1982 và khả năng áp dụng tại việt nam” sẽ làm rõ hơn về thủ tục giải quyết tranh chấp về biển của Tòa án Luật biển quốc tế, từ đó đưa đến những kinh nghiệm cho Việt Nam trong vấn đề giải quyết tranh chấp về biển. Với vốn kiến thức còn hạn chế và cách tiếp cận vấn đề chưa sâu nên bài viết này không thể tranh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của thầy để bài viết được hoàn tiện hơn. B. NỘI DUNG: CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN VÀ TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982. 1.1. Giải quyết tranh chấp về biển; 1.1.1. Khái niệm tranh chấp về biển. Tranh chấp quốc tế về biển là những bất đồng, xung đột giữa các chủ thể luật quốc tế, trong quá trình xác lập và phân định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với các vùng biển theo quy định của Luật biển quốc tế. Từ trước đến nay, trên thế giới đã xảy ra rất nhiều tranh chấp giữa các quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia. So với các tranh chấp quốc tế nói chung, tranh chấp quốc tế về biển có các đặc điểm cơ bản sau: • Về chủ thể của tranh chấp quốc tế về biển cũng như chủ thể của Luật quốc tế nói chung, chủ thể của tranh chấp về biển chính là các chủ thể của Luật quốc tế, trước tiên và chủ yếu là các quốc gia. Bên cạnh đó, tranh chấp quốc tế về biển cũng có thể xảy ra giữa các chủ thể không phải là quốc gia được CƯLB 1982 trù định, đó là: các tổ chức quốc tế theo Khoản 1 điều 157 CƯLB 1982 là “… tổ chức mà qua nó, các quốc gia thành viên tổ chức và kiểm soát các hoạt động tiến hành trong Vùng”. • Phạm vi của nội dung tranh chấp quốc tế về biên có nội dung phạm vi hẹp hơn so với tranh chấp quốc tế. • Khách thể của tranh chấp quốc tế về biển là chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển cũng như các quyền liên quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia
Xem thêm

14 Đọc thêm

BÀI 18. CHÂU Á (TIẾP THEO)

BÀI 18. CHÂU Á (TIẾP THEO)

Thứ hai, ngày 11 tháng 01 năm 2016Địa lýBài 9 : Châu Á (tiết 2 )A. Hoạt động cơ bảnHoạt động 5. Thảoluận về hoạt động kinhtế của châu ÁKý Hoạt độnghiệukinh tếPhân bố(các nước, khu vực)Trồng lúa mìCA- DẮC –XTAN, ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐCTrồng lúa gạoĐÔNG NAM Á, TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘTrồng bôngCA- DẮC –XTAN, ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC

24 Đọc thêm

Bụng bầu đẹp long lanh dưới làn nước trong veo

BỤNG BẦU ĐẸP LONG LANH DƯỚI LÀN NƯỚC TRONG VEO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Adam Opris (Nam Florida) là một nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh cưới và phong cảnh thiên nhiên. Anh có một tình yêu đặc biệt với đại dương và anh luôn muốn đưa các nhân vật của mình vào những nhưng ảnh mới lạ, tuyệt diệu nhất. Lần này, anh đã biến những khách hàng của mình thành những nàng tiên cá đẹp lỗng lẫy và nếu bạn nghĩ nàng tiên cá không thể mang bầu thì bạn đã nhầm đấy! Cùng ngắm bộ ảnh bụng bầu dưới nước tuyệt đẹp của nhiếp ảnh gia Adam Opris:   Dưới làn nước trong veo, cơ thể mẹ bầu trở lên thật quyến rũ.   Đây có lẽ là xu hướng chụp ảnh mới lạ với các mẹ bầu.   Bồng bềnh và thư thái trong nước.     Bố thể hiện tình yêu thương với bé con trong bụng mẹ.   Một nàng tiên cá bầu     Con ở trong bụng mẹ bồng bềnh trong bọc ối và mẹ cũng đang bồng bềnh giữa biển nước mênh mông.       Mẹ sẽ lưu giữ mãi khoảnh khắc tuyệt đẹp này.         Một cảm giác thư thái, nhẹ nhàng chờ đón con chào đời.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lập một dàn ý tả biển vào một buổi sáng đẹp trời

LẬP MỘT DÀN Ý TẢ BIỂN VÀO MỘT BUỔI SÁNG ĐẸP TRỜI

Mở bài: Giới thiệu cảnh biển mà em tả là ở đâu?Nhân dịp nào em đến đây và đến cùng với ai?                      Hai cha con bước đi trên cát                      Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh                      Bóng cha dài lênh khênh                      Bónq con tròn chắc nịch                      Sau trận mưa đêm rả rích                      Cát càng mịn, biển càng trong                      Cho dắt con đi dưới ánh mai hồng. (Hoàng Trung Thông)    Dựa vào những hình ảnh trong bài thơ trên, em hãy tưởng tượng và lập một dàn ý tả biển vào một buổi sáng đẹp trời với tâm trạng vui sướng của người con lần đầu tiên được cha cho đi nghỉ ở biển.    Dàn ý    - Mở bài: Giới thiệu cảnh biển mà em tả là ở đâu?    Nhân dịp nào em đến đây và đến cùng với ai?    - Thân bài:    + Tả bao quát cảnh biển vào buổi sáng (ánh mặt trời như lòng quả trứng gà, biển như dải lụa đào rực rỡ).    + Cảnh biển khi mặt trời lên cao (nước biển lóng lánh, biển rực rỡ).    + Bãi cát vàng in bóng hai cha con.    + Những đàn hải âu chao liệng - biển hiền lành.    + Nêu sơ lược về nguồn lợi của biển dưới tầm mắt của em.    Kết bài: Nêu những suy nghĩ của em lần đầu tiên được cha cho đi nghỉ ở biển. Bài làm tham khảo    Chuyến đi nghỉ ở biển Vũng Tàu cùng với bố đã để lại trong em nhiều ấn tượng đẹp.    Mùa hè năm vừa rồi là một mùa hè có nhiều thú vị. Bố cùng em từ Sài Gòn đến Vũng Tàu trong thời gian ba tiếng đồng hồ. Xe khởi hành vào lúc bốn giờ nên bảy giờ sáng em và bố đã có mặt tại đây.    Đúng là: Khi ra biển mới thấy biển đẹp                Khi ngắm biển, mới thấy biển hiền.    Vào một buổi sáng mùa hè mát mẻ, em được ngắm biển. Ôi! Biển tuyệt đẹp. Phải chăng cái đẹp ấy là do tạo hoá ban tặng cho con người.    Ánh mặt trời chiếu nghiêng lên những gợn sóng nhấp nhô dang xô vào bờ trông như những núi vàng nho nhỏ, vừa rực rỡ vừa sâu thẳm, ông mặt trời đỏ hồng như lòng quả trứng gà. Biển đầy sức sống, ào dậy với niềm tin mãnh liệt đón chào ngày mới. Phía tít trời xa, biển như một dải lụa đào rực rỡ. Nhưng lùi dần về phía bờ biển là một dải băng vĩ đại tô nhuộm bởi một màu xanh biếc.    Mặt trời càng lên cao, nước biển càng lóng lánh.    Biển lộng lẫy trong bộ áo vàng rực rỡ. Muôn vàn hạt bụi li ti nhảy nhót ung táng trên đầu ngọn sóng. Dưới ánh nắng, bãi cát vàng rực lên. Hai cha con bước đi trên cát. Bóng cha em cao dài lênh khênh, bóng em thì tròn hắc nịch. Thật thích thú biết bao! Cha dắt em đi trong nắng mai hồng. Trong các kẽ đá, tiếng nước biển va đập rì rầm như lời tâm sự. Những cánh hải âu chao liệng như muốn dang rộng đôi cánh ôm ấp lòng đại dương.    Tuy được ngắm biển trong thời gian ngắn, nhưng em đã cảm thấy biển như người bạn thân thiết gần gũi. Người bạn ấy vừa chân thật hiền hoà vừa chia sẻ những nỗi niềm tâm tư vui buồn với em. Phong cảnh ở đây thật hữu tình. Nhìn ra xa có núi lớn, núi nhỏ tô điểm thêm cho sắc màu của biển.    Em đã say với biển, say với những cảm giác khoan khoái, dễ chịu mà biển đã đem lại cho em. Nếu có dịp, em sẽ về lại với biển, với quê hương Vũng Tàu yêu dấu.  
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghị luận &quot;Điều chúng ta biết là một giọt nước. Điều chúng ta không biết là cả một đại dương&quot;

NGHỊ LUẬN &QUOT;ĐIỀU CHÚNG TA BIẾT LÀ MỘT GIỌT NƯỚC. ĐIỀU CHÚNG TA KHÔNG BIẾT LÀ CẢ MỘT ĐẠI DƯƠNG&QUOT;

“Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước. Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương” (Newton) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận có độ dài 400/600 từ để bàn luận về vấn đề trên? I. GTVĐ. Kho tri thức về tự nhiên, xã hội của con người ngày nay là một đại dương bao la. Nhưng những gì mà con người chưa khám phá ra còn nhiều hơn gấp ngàn lần những điều ta biết. Cho dù chúng ta học trong nhà trường và ngoài xã hội có nhiều đến đâu thì những điều ta biết vẫn là bé nhỏ so với biển trời kiến thức mà nhân loại đã có được và chưa có được. Chính vì thế mà nhà bác học nổi tiếng I.Newton đã phát biểu thật đúng rằng: “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước. Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”. II. GQVĐ. 1. Giải thích câu nói. - “Các điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những hiểu biết của chúng ta về những gì nhân loại đã khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên, xã hội loài người cũng chỉ bằng một giọt nước trong đại dương bao la. Một giọt nước là quá nhỏ bé so với cả đại dương mênh mông bao la. Vậy những điều mà chúng ta biết là vô cùng hạn chế, ít ỏi so với những điều ta chưa biết. - “Các điều chúng ta không biết là cả một đại dương”: có nghĩa là, muốn nhấn mạnh đến những gì mà chúng ta chưa biết, không biết về vũ trụ, trái đất, tự nhiên và xã hội còn rất nhiều như là cả một đại dương mênh mông bao la. So với một giọt nước thì đại dương là quá to lớn. Vậy những điều mà chúng ta chưa biết, không biết còn rất nhiều so với những gì mà chúng ta đã biết. - Sự đối lập giữa điều đã biết chỉ là 1 giọt nước còn những điều chưa biết là cả một đại dương bao la đã là một động lực rất lớn để thôi thúc chúng ta khám phá, tìm hiểu về vũ trụ, tự nhiên và xã hội. Đây là một vấn đề lớn mà chúng ta cần phải nhìn nhận thật rõ ràng và để có những hành động cụ thể như học tập, nghiên cứu, tìm hiểu trong các ngành khoa học tự nhiên cũng như xã hội. 2. Phân tích, chứng minh, bình luận. a. Phân tích. - Bằng thực tiễn trong học tập, nghiên cứu và công tác của chúng ta. Khi ta càng học tập, khám phá ra những điều mới mẻ trong đại dương bao la kiến thức của nhân loại thì ta lại càng thấy những điều ấy còn quá nhỏ bé, ít ỏi và hạn chế biết chừng nào,... - Dẫn chứng: trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, những vấn đề văn hoá xã hội khác,... - Tác động của câu nói đó với việc học tập của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học là rất tích cực, nó giúp cho mọi người nhìn nhận lại chính mình, về những hiểu biết của mình còn hạn chế. Để từ đó có hành động cụ thể để luôn luôn nâng cao những hiểu biết của mình và những người khác. b. Chứng minh. - Bằng chính bản thân mình trong quá trình học tập, nghiên cứu... - Bằng kinh nghiệm của những người lớn tuổi,... c. Bình luận. - Khi ta học càng cao thì ta càng phải khiêm tốn vì cho dù những hiểu biết của ta có nhiều đến đâu cũng là quá bé nhỏ so với những điều mà chúng ta chưa biết. - Để từ đó tránh thái độ tự mãn, tự kiêu tự đại cho rằng mình đã hiểu biết nhiều, đã giỏi rồi mà không học tập, nghiên cứu, tìm hiểu nữa... - Vì thế V.Lênin cũng có phát biểu rằng: Học, học nữa, học mãi! 3. Mở rộng. III. KTVĐ. - Khẳng định sự đúng đắn lời phát biểu của I.Newton. ý nghĩa, tác dụng giáo dục đối với chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường, giảng đường đại học,... - Bài học cho bản thân, bạn bè,... (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề