HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN LÀ GÌ

Tìm thấy 4,886 tài liệu liên quan tới từ khóa "HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN LÀ GÌ":

HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT

HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN TRÊN ĐẤT

Việc thế chấp tài sản theo hợp đồng này có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết Hợp đồng cho đến khi tất cả các nghĩa vụ được bảo đảm và các nghĩa vụ khác của bên thế chấp với tư cách là bên vaybên được bảo lãnh quy định tại điều 1 Hợp đồng này chấm dứt hoặc bên vaybên được bảo lãnhbên thế chấp đã có biện pháp bảo đảm thay thế được Quỹ tín dung nhân dân Minh Dân chấp thuận theo quy định tại điều 13 của Hợp đồng này hoặc tài sản thế chấp đã được xử lý;
Xem thêm

9 Đọc thêm

MẪU HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN CHO KHOẢN VAY ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH

MẪU HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN CHO KHOẢN VAY ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH

3.4.7) Chấp nhận sự kiểm tra theo định kỳ hoặc kiểm tra đột xuất của Bên A trong quátrình bảo quản, sử dụng tài sản;3.4.8) Mua bảo hiểm vật chất đối với tài sản thế chấp trong thời gian đảm bảo nghĩa vụ(theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của Bên A) và hợp đồng bảo hiểm nêu rõngười thụ hưởng là Bên A; Trường hợp Bên B đã mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp thìkhoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm theoHợp đồng bảo hiểm thuộc về Bên A. Bên B đảm bảo rằng Bên A được ghi tên trong cáchợp đồng bảo hiểm sau thời điểm ký kết Hợp đồng này với tư cách là bên thụ hưởng bảohiểm đầu tiên. Thời hạn bảo hiểm không được ít hơn thời hạn thế chấp. Mức bảo hiểmkhông thấp hơn giá thị trường của tài sản cùng loại tại thời điểm ký kết hợp đồng bảohiểm. Tiền bảo hiểm được thụ hưởng được sử dụng để thu nợ (kể cả trước hạn) của Bên Btrừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.Bên A xem xét chuyển tiền bảo hiểm cho Bên B hưởng và sử dụng khi Bên B đảm bảothực hiện đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng vay được Chính phủbảo lãnh và các Hợp đồng khác có liên quan tới khoản vay được Chính phủ bảo lãnh đãký với Bên B tại thời điểm nhận tiền bảo hiểm:a) Trong giai đoạn xây dựng và giá trị tiền bảo hiểm được nhận dưới 5% giá trị công trình,Bên A chuyển trả tiền bảo hiểm cho Bên B để khắc phục hậu quả;b) Khi đã hoàn thành giai đoạn xây dựng, Bên A chuyển một phần tiền bảo hiểm nhậnđược từ cơ quan bảo hiểm cho Bên B để khắc phục sự cố tùy theo từng trường hợp cụ thểnhưng tối thiểu phải giữ lại số tiền bảo hiểm bằng nghĩa vụ của một kỳ trả nợ kế tiếp.3.4.9) Phải bảo quản an toàn, áp dụng các biện pháp cần thiết kể cả phải ngừng việc khaithác công dụng của tài sản, nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặcgiảm sút giá trị tài sản thế chấp; nếu làm mất, hư hỏng thì phải sửa chữa khôi phục giá trị,bổ sung tài sản thế chấp, thay thế bằng tài sản khác được Bên A chấp nhận hoặc thực hiệnnghĩa vụ trước hạn cho Bên A;3.4.10) Phối hợp với Bên A tiến hành các thủ tục nhận tiền bảo hiểm từ tổ chức bảo hiểmđể thực hiện nghĩa vụ đối với Bên A trong trường hợp tài sản thế chấp mất, hư hỏng mà
Xem thêm

12 Đọc thêm

QUY CHE HUONG DAN GIAO DICH KY QUY

QUY CHE HUONG DAN GIAO DICH KY QUY

Điều 9. Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ1. Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ đồng thời là hợp đồng tín dụngcho các khoản vay trên tài khoản giao dịch ký quỹ.2. Nội dung Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ do Công ty chứngkhoán và khách hàng thoả thuận nhưng tối thiểu phải bao gồm các nội dung chínhsau:a) Thông tin về khách hàng như: họ và tên, ngày tháng năm sinh, số chứngminh nhân dân, địa chỉ liên lạc, thư điện tử, fax (nếu có), số điện thoại liên hệ;b) Mục đích vay: mua chứng khoán ký quỹ;c) Tỷ lệ ký quỹ ban đầu;d) Tỷ lệ ký quỹ duy trì;e) Thời hạn và phương thức thanh toán theo lệnh yêu cầu bổ sung thế chấp;f) Hạn mức cho vay;g) Lãi suất cho vay;h) Thời hạn hợp đồng, thời điểm hợp đồng có hiệu lực và thời điểm bắt đầutính lãi cho vay;i) Phương thức xử lý tài sản thế chấp trên tài khoản giao dịch ký quỹ củakhách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng và thứ tự ưu tiên sửdụng tiền bán chứng khoán thế chấp của khách hàng;j) Quy định bảo vệ quyền lợi của các bên ký hợp đồng;k) Phương thức giải quyết khi có tranh chấp phát sinh;l) Phương thức thanh lý Hợp đồng;m) Cam kết của khách hàng về việc đã được công ty chứng khoán giải thíchrõ về các rủi ro phát sinh khi thực hiện giao dịch trên tài khoản giao dịch ký quỹ.CHƯƠNG IVCHỨNG KHOÁN ĐƯỢC PHÉP GIAO DỊCH MUA KÝ QUỸĐiều 10. Chứng khoán được giao dịch ký quỹChứng khoán đủ điều kiện giao dịch ký quỹ bao gồm: cổ phiếu, chứng chỉquỹ đầu tư niêm yết giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán, không bao gồm cácchứng khoán đăng ký niêm yết giao dịch trên hệ thống giao dịch UpCom và không
Xem thêm

19 Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Dân sự: Tình huống về tuyên bố mất tích

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ: TÌNH HUỐNG VỀ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH

Tình huống về tuyên bố mất tích Bài tập nhóm Luật Dân sự 1 MỞ ĐẦU – TÌNH HUỐNG Cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến nhất của quan hệ pháp luật dân sự. Có thể nói, cá nhân tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự, dù có là các quan hệ pháp luật dân sự của pháp nhân, tổ hợp tác hay hộ gia đình cũng phải thông qua hành vi của cá nhân. Trong quan hệ pháp luật dân sự, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc một người vắng mặt ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người đó còn sống hay đã chết không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp họ mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan khác. Chính vì vậy, để bảo vệ những quyền này, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm tư cách chủ thể của cá nhân dưới nhiều hình thức, một trong số đó là “ Tuyến bố mất tích”. Thông qua tình huống về một quyết định tuyên bố mất tích thực tiễn và trả lời những câu hỏi liên quan sau đây, chúng ta có thể rõ hơn phần nào những quy định của Luật dân sự Việt Nam về vấn để này: “Ông Nguyễn D.T và anh Nguyễn D.K là anh em ruột, có xác nhận của chính quyền địa phương. Từ khi sinh ra cho tới nay, ông T và ông K chỉ sinh sống và làm ăn ở xã Y, huyện X thành phố Hà Nội. Từ đầu năm 1989, anh K (chưa có vợ và con) bỏ nhà đi biệt tích không bàn bạc, thông báo gì cho ông T và gia đình. Bản thân ông T và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về anh K. Ngày 2542013, ông T ( là anh của anh K) có đơn yêu cầu của Tòa án tuyên bố anh K mất tích. Tòa án nhân dân huyện T đã đăng tin nhắn tìm anh K trên đài tiếng nói Việt Nam (phát sóng vào lúc 17 giờ 50 phút ngày 14, 15, 16 tháng 5 năm 2013) và đăng tin trên báo Nhân dân số 21058 ngày 1252013, số 21059 ngày 1352013, số 21060 ngày 1452013) đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 mà không có tin tức gì của anh K. Xét thấy, lời khai của ông Nguyễn D.T phù hợp với xác nhận của chính quyền địa phương xã Y về việc anh Nguyễn D.K bỏ nhà đi biệt tích từ đầu năm 1989 đến nay không có tin tức gì. Từ thời điểm Tòa án nhân dân huyện X đăng tin nhắn tìm anh K lần đầu tiên cho tới ngày 30 tháng 9 năm 2013, đã hết thời hạn 4 tháng nhưng anh K vẫn không có bất kỳ liên lạc nào với Tòa án hoặc có tin tức về cho gia đình. Tại phiên họp, ông T vẫn giữ yêu cầu tuyên bố anh K mất tích. Đối chiếu quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự về điều kiện tuyên bố mất tích, Tòa án nhận yêu cầu của ông T về việc tuyên bố anh Nguyễn D.K mất tích như quan điểm đề nghị của Viện Kiểm sát. Ông T không có yêu cầu đề nghị nào khác nên Tòa không xét. Quyết định: Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 311, 316, 317, 331, 332 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 78 Bộ luật dân sự; Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn D.T. Tuyên bố anh Nguyễn D.K (sinh năm 1970, nơi cư trú cuối cùng: xã Y, huyện X, Hà Nội) mất tích.” Câu hỏi: 1. Các điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích trong trường hợp trên? Nhận xét về các điều kiện được áp dụng trong trường hợp trên. 2. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cá nhân bị tuyên bố mất tích? Những ai bị ảnh hưởng đến lợi ích và bị ảnh hưởng như thế nào khi cá nhân bị tuyên bố mất tích trong trường hợp trên? 3. Giả sử cá nhân bị tuyên bố mất tích là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng có đòi nợ khi đến hạn được không? Chỉ rõ các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho lập luận của mình. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Các điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích? Nhận xét về các điều kiện được áp dụng. Tại Khoản 1 Điều 78 Bộ Luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành quy định: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.” Điều 330 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi. bổ sung năm 2011) quy định: “Khi làm đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đương sự phải gửi kèm đơn là chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.” Vậy, để Tòa án nhân dân có thể ra quyết định tuyên bố một người mất tích, đồng thời tạm dừng mọi năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân khi thỏa mãn ban điều kiện: nhận được đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, có chứng cứ chứng minh thời gian biệt tích là hai năm trở lên và đã đăng thông báo tìm kiếm trên các phương tiện, thông tin đại chúng. Trước hết, về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố mất tích, đó là người có quyền và lợi ích liên quan, là những người có mối liên hệ nào đó mà quyền lợi và nghĩa vụ của họ bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của người mất tích. Trong trường hợp này là ông T – anh ruột của K đã viết đơn nộp cho Tòa án theo quy định của pháp luật và có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố em trai mình mất tích. Xét về không gian, Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật dân sự Việt Nam hiện hành quy định: “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống”. Từ khi sinh ra đến khi bỏ nhà đi, anh K chỉ sống ở xã Y, huyện X thành phố Hà Nội. Vậy, nơi cư trú cuối cùng của anh K là xã Y, huyện X thành phố Hà Nội, ông T có thể làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện X để Tòa án xem xét các điều kiện theo đúng quy định của pháp luật và đưa ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Về việc xét đơn yêu cầu, Điều 331 Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định các điều kiện về Chuẩn bị xét đơn yêu cầu: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Toà án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Nội dung thông báo và công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Trong thời hạn công bố thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Toà án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.” Xét về mặt thời gian, Điều 74 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự...” Sau khi anh K bỏ nhà đi năm 1989, gia đình cũng đã báo cáo chính quyền địa phương và cũng được xác nhận sự việc. Từ đầu năm 1989 đến ngày 2542013 là ngày ông T đệ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích là hơn 24 năm mà ông T và gia đình không nhận được bất kì tin tức xác thực nào về việc H còn sống hay đã chết nên theo Điều 74 Bộ Luật dân sự, ông T có quyền “yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt”. Tới ngày 1252013, Tòa án đã bắt đầu đăng tin tìm anh K trên phương tiện thông tin đại chúng. Điều đó có nghĩa là Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm trong thời hạn 20 ngày theo đúng luật định (Khoản 1 Điều 331 bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành). Bên cạnh đó, ông T cũng đã tìm kiếm anh K ở nhiều nơi trong suốt thời gian K biệt tích nhưng không có kết quả. Nhưng đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 nghĩa là hơn 24 năm, ông T và gia đình vẫn không có tin tức xác thực về việc anh K còn sống hay đã chết nên theo yêu cầu của ông T, Toà án nhân dân huyện T sẽ xem xét và có thể ra quyết định tuyên bố K mất tích (Điều 78 Bộ Luật dân sự). Trong suốt thời gian từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu đến ngày Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, ông T không rút lại đơn yêu cầu và anh K không trở về nên Tòa án chấp nhận tuyên bố yêu cầu mất tích của ông T. Vậy, trong trường hợp đang xét, tất cả các điều kiện để tuyên bố một người mất tích đều đầy đủ nên việc Tòa án ra quyết định tuyên bố anh K mất tích là hợp lý. II. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cá nhân bị tuyên bố mất tích? Những ai bị ảnh hưởng đến lợi ích và bị ảnh hưởng như thế nào khi cá nhân bị tuyên bố mất tích trong trường hợp trên? Việc tuyên bố một người là mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Thứ nhất, về quan hệ nhân thân. Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của các nhân hay tổ chức. Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận. Quyền nhân thân là quyền không đo lường được, không thể chuyển giao được người khác, hoặc uỷ quyền cho người giam hộ. Có hai loại quan hệ nhân thân là quan hệ nhân thân không gắn với tài sản và quan hệ nhân thân gắn liền tài sản. Trường hợp đang xét là quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản, là những giá trị nhân thân được xác lập làm phát sinh các quyền tài sản. Anh K bỏ nhà đi từ đầu năm 1989 được hơn 20 năm, mặc dù gia đình đã tìm kiếm cộng với sự giúp sức của tòa án, nhưng vẫn không tìm ra, đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 Tòa án tuyên bố mất tích. Vậy, K tạm thời bị đình chỉ tư cách chủ thể. Tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể của K mà chỉ tạm thời bị đình chỉ cho tới khi tuyên bố mất tích chấm dứt, nghĩa là tới khi có thông tin chi tiết về việc anh K còn sống hay đã chết. Quan hệ nhân thân giữa ông T với anh K không thay đổi (quan hệ gia đình). Việc tuyên bố anh K mất tích đồng thời với việc toàn bộ tài sản của K được giao cho cá nhân có mặt khác quản lý theo quy định của pháp luật. Thứ hai, về quan hệ tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Điều 163 có định nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quy định của Tòa án được quy định tại các điều 75, 76, 77, 79 Bộ luật Dân sự 2005 về quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. Điều 79 có ghi: “Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.” Điều 75 quy định: “1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý: a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý; b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý; c) Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý. 2. Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.” Áp dụng vào tình huống đang xét thì khi Tòa án tuyên bố anh K mất tích thì quan hệ tài sản của K được xử lý như sau: Tài sản của K tại nơi cư trú do người được K ủy quyền trước khi mất tích quản lí. Trong tình huống anh K không ủy quyền cho ai quản lí tài sản, nếu là tài sản thuộc sở hữu chung thì sẽ do chủ sở hữu chung còn lại quản lí. Vì anh K chưa kết hôn, không bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự nên tài sản riêng của K do Tòa án chỉ định một trong những người thân thích của K quản lí, có nghĩa là cha, mẹ ông T hoặc ông T hay anh, chị khác của K (nếu có hay còn sống) quản lý, theo phán quyết của Tòa án. Vậy, trong trường hợp này, ông T là anh ruột của K nên là người có lợi ích ảnh hưởng trực tiếp tới việc K bị tuyên bố mất tích. Toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của K sẽ do cha, mẹ của K và ông T hoặc ông T quản lý. Cha, mẹ hoặc ông T, người quản lý tài sản của K phải có trách nhiệm đối với tài sản đó theo Điều 76, 77 Bộ luật Dân sự hiện hành. Cụ thể: “Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây: 1. Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình; 2. Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng; 3. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Toà án; 4. Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Toà án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.” (Điều 76). Và “Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây: 1. Quản lý tài sản của người vắng mặt; 2. Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt; 3. Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản.”(Điều 77). III. Giả sử cá nhân bị tuyên bố mất tích là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng có đòi nợ khi đến hạn được không? Chỉ rõ các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho lập luận của mình. Trên thực tế, anh K đã được Tòa án nhân dân huyện X tuyên bố mất tích. Giả sử, anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền Ngân hàng thì Ngân hàng có căn cứ pháp lý để có thể đòi được nợ khi đến hạn. Khẳng định trên đây là hoàn toàn có căn cứ pháp lý: Về vấn đề thế chấp: Khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự có quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai…” Theo tình huống được giả sử, trước khi mất tích, anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng. Theo Khoản 1 Điều 342, anh K đã thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (Ngân hàng). Tuy nhiên, khi chưa thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách đầy đủ đối với Ngân hàng thì anh K đã bỏ nhà đi biệt tích từ đầu năm 1989 đến năm 2013, và đã được Tòa án nhân dân huyện X tuyên bố mất tích. Như vậy, lúc này Ngân hàng (là bên nhận thế chấp tài sản) có quyền “Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 355 hoặc khoản 3 Điều 324 của Bộ luật này và được ưu tiên thanh toán” (Quy định tại Khoản 7, Điều 351 Bộ luật Dân sự). Điều 355 về xử lý tài sản thế chấp: “Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 336 và Điều 338 của bộ luật này”. Điều 336 Bộ luật Dân sự về xử lý tài sản cầm cố: “Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố”. Điều 338 Bộ luật dân sự về thanh toán tiền bán tài sản cầm cố: “Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó” . Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào những điều trên thì Ngân hàng hoàn toàn có thể đòi được nợ của anh K khi đến hạn cho dù anh K đã mất tích. Tuy nhiên, còn một vấn đề chúng ta cần chú ý nữa. Đó là vấn đề về thừa kế, theo khoản 2 Điều 75 Bộ luật dân sự: “Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Ðiều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản”. Trong trường hợp nếu đã thanh toán khoản nợ Ngân hàng bằng khoản tiền bán tài sản cầm cố mà chưa đủ thì người quản lý tài sản có nghĩa vụ phải trả tiếp khoản nợ còn thiếu đó trong khuôn khổ tài sản của người mất tích (trong trường hợp này là anh K). Điều này được quy định trong khoản 3 Điều 76 Bộ luật Dân sự: “Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án” Dựa vào tất cả những căn cứ pháp lý như trên, trong trường hợp anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng hoàn toàn có thể đòi được nợ khi đến kỳ hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự của bên thế chấp đồng thời là bên vay tiền. KẾT LUẬN Việc tuyên bố một cá nhân mất tích có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần đảm bảo lợi ích và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan, giải quyết những hậu quả pháp lý liên quan tới việc giải quyết tài sản, quan hệ nhân thân của người đó… Việc xác định đúng điều kiện và hậu quả pháp lí của các tuyên bố này là cơ sở để đảm bảo công bằng quyền lợi cho các chủ thể, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật. Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rất cụ thể về các điều kiện cũng như trình tự, thủ tục giải quyết và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố mất tích, cụ thể là trong Bộ luật dân sự và Luật tố tụng dân sự. Vậy, ta có thể đưa ra kết luận rằng Luật dân sự Việt Nam hiện hành đã góp phần giải quyết những vấn đề dân sự phát sinh đời sống hằng ngày, đảm bảo xã hội phát triển ổn định, đời sống nhân dân cải thiện, ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn.
Xem thêm

11 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP MÔN DKTK

ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP MÔN DKTK

Câu 1, Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận : 1. Giấy chứng nhận được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận chung cho các thửa đất đó. 2. Thửa đất có nhiều người sử dụng đất, nhiều chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng người sử dụng đất, từng chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất. 3. Giấy chứng nhận được cấp cho người đề nghị cấp giấy sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính liên quan đến cấp Giấy chứng nhận, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật; trường hợp Nhà nước cho thuê đất thì Giấy chứng nhận được cấp sau khi người sử dụng đất đã ký hợp đồng thuê đất và đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đã ký. Câu 2, Các trường hợp được chứng nhận quyền sử dụng đất: 1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn; 2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất; 5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành; 6. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; 7. Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật này; 8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở; 9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
Xem thêm

20 Đọc thêm

DỰ THẢO LUẬT DÂN ĐẦY ĐỦ NHẤT

DỰ THẢO LUẬT DÂN ĐẦY ĐỦ NHẤT

MỤC LỤC DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) PHẦN THỨ NHẤT. QUY ĐỊNH CHUNG 23 CHƯƠNG I. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ 23 Mục 1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 23 Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 23 Điều 2. Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự 23 Điều 3. Nguyên tắc bình đẳng 23 Điều 4. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận 24 Điều 5. Nguyên tắc thiện chí, trung thực 24 Điều 6. Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp 24 Điều 7. Nguyên tắc tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác 24 Điều 8. Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm dân sự 24 Điều 9. Nguyên tắc hòa giải 24 Mục 2. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ 25 Điều 10. Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan 25 Điều 11. Áp dụng tập quán 25 Điều 12. Áp dụng tương tự pháp luật 25 CHƯƠNG II. XÁC LẬP, THỰC HIỆN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ 25 Điều 13. Căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự 25 Điều 14. Thực hiện quyền dân sự 26 Điều 15. Giới hạn việc thực hiện quyền dân sự 26 Điều 16. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự 26 Điều 17. Tự bảo vệ quyền dân sự 27 Điều 18. Bồi thường thiệt hại 27 Điều 19. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền 27 Điều 20. Hủy bỏ quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức 27 CHƯƠNG III. CÁ NHÂN 28 Mục 1. NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ, NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN 28 Điều 21. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 28 Điều 22. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 28 Điều 23. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 28 Điều 24. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân 28 Điều 25. Người thành niên 28 Điều 26. Người chưa thành niên 28 Điều 27. Mất năng lực hành vi dân sự 29 Điều 28. Hạn chế năng lực hành vi dân sự 29 Điều 29. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 29 Mục 2. QUYỀN NHÂN THÂN 30 Điều 30. Quyền nhân thân 30 Điều 31. Quyền đối với họ, tên 30 Điều 32. Quyền thay đổi họ, tên 30 Điều 33. Quyền xác định dân tộc 31 Điều 34. Quyền được khai sinh, khai tử 32 Điều 35. Quyền đối với quốc tịch 32 Điều 36. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh 32 Điều 37. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể 32 Điều 38. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín 33 Điều 39. Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác 33 Điều 40. Quyền xác định lại giới tính 34 Điều 41. Quyền được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân 34 Điều 42. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình 34 Điều 43. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở 35 Điều 44. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 35 Điều 45. Quyền tự do đi lại và cư trú 35 Điều 46. Quyền lao động 35 Điều 47. Quyền tự do kinh doanh 35 Điều 48. Quyền tiếp cận thông tin 35 Điều 49. Quyền lập hội 35 Điều 50. Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo 35 Điều 51. Các quyền nhân thân khác 36 Mục 3. NƠI CƯ TRÚ 36 Điều 52. Nơi cư trú 36 Điều 53. Nơi cư trú của người chưa thành niên 36 Điều 54. Nơi cư trú của người được giám hộ 36 Điều 55. Nơi cư trú của vợ, chồng 36 Điều 56. Nơi cư trú của quân nhân 36 Điều 57. Nơi cư trú của người làm nghề lưu động 37 Mục 4. GIÁM HỘ 37 Điều 58. Giám hộ 37 Điều 59. Người được giám hộ 37 Điều 60. Người giám hộ 37 Điều 61. Điều kiện để cá nhân làm người giám hộ 38 Điều 62. Điều kiện để pháp nhân làm người giám hộ 38 Điều 63. Người giám hộ của người chưa thành niên 38 Điều 64. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 38 Điều 65. Nghĩa vụ của người giám hộ 38 Điều 66. Quyền của người giám hộ 39 Điều 67. Quản lý tài sản của người được giám hộ 39 Điều 68. Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 40 Điều 69. Giám sát việc giám hộ 40 Điều 70. Điều kiện đối với người giám sát việc giám hộ 40 Điều 71. Quyền, nghĩa vụ của người giám sát 40 Điều 72. Thẩm quyền, thủ tục cử người giám hộ, người giám sát 40 Điều 73. Thay đổi người giám hộ, người giám sát 41 Điều 74. Chuyển giao việc giám hộ, giám sát 41 Điều 75. Chấm dứt việc giám hộ 41 Điều 76. Hậu quả chấm dứt việc giám hộ 42 Điều 77. Trách nhiệm của người thân thích không phải là người giám hộ 43 Điều 78. Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giám hộ, giám sát 43 Mục 5. THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ, TUYÊN BỐ MẤT TÍCH, TUYÊN BỐ CHẾT 43 Điều 79. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó 43 Điều 80. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú 43 Điều 81. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú 44 Điều 82. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú 44 Điều 83. Tuyên bố mất tích 44 Điều 84. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích 44 Điều 85. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích 45 Điều 86. Tuyên bố chết 45 Điều 87. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết 46 Điều 88. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết 46 CHƯƠNG IV. PHÁP NHÂN 47 Điều 89. Pháp nhân 47 Điều 90. Các loại pháp nhân 47 Điều 91. Hội 47 Điều 92. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện 47 Điều 93. Điều lệ của pháp nhân 48 Điều 94. Tên gọi của pháp nhân 48 Điều 95. Trụ sở của pháp nhân 48 Điều 96. Quốc tịch của pháp nhân 49 Điều 97. Tài sản của pháp nhân 49 Điều 98. Thành lập, đăng ký pháp nhân 49 Điều 99. Cơ cấu tổ chức của pháp nhân 49 Điều 100. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân 49 Điều 101. Cơ quan điều hành của pháp nhân 50 Điều 102. Đại diện của pháp nhân 50 Điều 103. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân 50 Điều 104. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân 50 Điều 105. Hợp nhất pháp nhân 51 Điều 106. Sáp nhập pháp nhân 51 Điều 107. Chia pháp nhân 51 Điều 108. Tách pháp nhân 51 Điều 109. Chuyển đổi hình thức của pháp nhân 51 Điều 110. Giải thể pháp nhân 51 Điều 111. Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể 52 Điều 112. Phá sản pháp nhân 52 Điều 113. Chấm dứt pháp nhân 52 Điều 114. Cung cấp thông tin và công bố về việc pháp nhân được thành lập, tổ chức lại, chuyển đổi hình thức và pháp nhân bị chấm dứt 52 CHƯƠNG V. SỰ THAM GIA CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG VÀ Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀO CÁC QUAN HỆ DÂN SỰ 53 Điều 115. Địa vị pháp lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong quan hệ dân sự 53 Điều 116. Đại diện tham gia quan hệ dân sự 53 Điều 117. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự 53 Điều 118. Trách nhiệm dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự với một bên là Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài 54 CHƯƠNG VI. SỰ THAM GIA CỦA HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC VÀ CÁC TỔ CHỨC KHÁC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀO QUAN HỆ DÂN SỰ 54 Điều 119. Địa vị pháp lý của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự 54 Điều 120. Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân 55 Điều 121. Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân 55 CHƯƠNG VII. TÀI SẢN 55 Điều 122. Tài sản 55 Điều 123. Đăng ký tài sản 55 Điều 124. Bất động sản và động sản 55 Điều 125. Vật 56 Điều 126. Hoa lợi, lợi tức 56 Điều 127. Vật chính và vật phụ 56 Điều 128. Vật chia được và vật không chia được 56 Điều 129. Vật tiêu hao và vật không tiêu hao 56 Điều 130. Vật cùng loại và vật đặc định 56 Điều 131. Vật đồng bộ 57 Điều 132. Quyền tài sản 57 CHƯƠNG VIII. GIAO DỊCH DÂN SỰ 57 Điều 133. Giao dịch dân sự 57 Điều 134. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 57 Điều 135. Mục đích của giao dịch dân sự 58 Điều 136. Hình thức giao dịch dân sự 58 Điều 137. Giao dịch dân sự có điều kiện 58 Điều 138. Giải thích giao dịch dân sự 58 Điều 139. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội 59 Điều 140. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo 59 Điều 141. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi xác lập, thực hiện 59 Điều 142. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn 60 Điều 143. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép 60 Điều 144. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi 61 Điều 145. Giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức 61 Điều 146. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần 61 Điều 147. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu 61 Điều 148. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 62 CHƯƠNG IX. ĐẠI DIỆN 63 Điều 149. Đại diện 63 Điều 150. Căn cứ xác lập quyền đại diện 63 Điều 151. Đại diện theo pháp luật của cá nhân 63 Điều 152. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân 63 Điều 153. Đại diện theo ủy quyền 64 Điều 154. Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện 64 Điều 155. Thời hạn đại diện 64 Điều 156. Phạm vi quyền đại diện 65 Điều 157. Giới hạn quyền đại diện 65 Điều 158. Thông báo về phạm vi quyền đại diện 66 Điều 159. Đại diện lại 66 Điều 160. Không có quyền đại diện 66 Điều 161. Hậu quả của giao dịch dân sự do bên không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 67 CHƯƠNG X. THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU 67 Mục 1. THỜI HẠN 67 Điều 162. Thời hạn 67 Điều 163. Áp dụng cách tính thời hạn 68 Điều 164. Quy định về thời hạn, thời điểm tính thời hạn 68 Điều 165. Thời điểm bắt đầu thời hạn 68 Điều 166. Kết thúc thời hạn 69 Mục 2. THỜI HIỆU 69 Điều 167. Thời hiệu 69 Điều 168. Thời hiệu hưởng quyền dân sự 69 Điều 169. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự 70 Điều 170. Thực hiện, bảo vệ quyền bằng thời hiệu 70 Điều 171. Cách tính thời hiệu 70 Điều 172. Hiệu lực của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự 70 Điều 173. Tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự 70 Điều 174. Thời gian không tính vào thời hiệu 70 Điều 175. Bắt đầu lại thời hiệu 71 Điều 176. Thời hiệu yêu cầu giao dịch dân sự vô hiệu 71 Điều 177. Thời hiệu đối với quyền sở hữu và các vật quyền khác có đối tượng là bất động sản 72 Điều 178. Thời hiệu đối với quyền sở hữu và các vật quyền khác có đối tượng là động sản 72 Điều 179. Thời hiệu xác lập quyền sở hữu 72 Điều 180. Thời hiệu yêu cầu thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ nghĩa vụ, yêu cầu bồi thường thiệt hại 73 PHẦN THỨ HAI. QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC VẬT QUYỀN KHÁC 73 CHƯƠNG XI. QUY ĐỊNH CHUNG 73 Mục 1. CĂN CỨ XÁC LẬP, CHẤM DỨT, ĐIỀU KIỆN ĐỐI KHÁNG 73 Điều 181. Xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác 73 Điều 182. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, các vật quyền khác và hiệu lực đối kháng với người thứ ba 73 Điều 183. Các vật quyền khác 74 Mục 2. BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC VẬT QUYỀN KHÁC 74 Điều 184. Bảo vệ quyền sở hữu và các vật quyền khác 74 Điều 185. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu và các vật quyền khác 74 Điều 186. Đòi lại tài sản từ người chiếm hữu trái pháp luật 75 Điều 187. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình 75 Điều 188. Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu và các vật quyền khác 75 Điều 189. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại 75 Mục 3. HẠN CHẾ QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC VẬT QUYỀN KHÁC 75 Điều 190. Giới hạn quyền sở hữu và các vật quyền khác 75 Điều 191. Nghĩa vụ của chủ sở hữu, chủ thể có vật quyền khác trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết 76 Điều 192. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường 76 Điều 193. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội 76 Điều 194. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng 76 Điều 195. Ranh giới giữa các bất động sản 76 Điều 196. Mốc giới ngăn cách các bất động sản 77 Điều 197. Bảo đảm an toàn đối với cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ gây thiệt hại cho bất động sản liền kề 77 Điều 198. Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề 78 CHƯƠNG XII. CHIẾM HỮU 78 Điều 199. Khái niệm chiếm hữu 78 Điều 200. Chiếm hữu của chủ sở hữu 78 Điều 201. Chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu 79 Điều 202. Chiếm hữu ngay tình 79 Điều 203. Chiếm hữu không ngay tình 79 Điều 204. Chiếm hữu liên tục 79 Điều 205. Chiếm hữu công khai 79 Điều 206. Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu 79 Điều 207. Bảo vệ sự chiếm hữu 80 CHƯƠNG XIII. QUYỀN SỞ HỮU 80 Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG 80 Điều 208. Quyền sở hữu 80 Điều 209. Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu 80 Điều 210. Chịu rủi ro về tài sản 80 Điều 211. Căn cứ xác lập quyền sở hữu 80 Điều 212. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu 81 Điều 213. Hình thức sở hữu 81 Mục 2. NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU 82 I QUYỀN CHIẾM HỮU 82 Điều 214. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu 82 Điều 215. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý vật 82 Điều 216. Quyền chiếm hữu của người được giao vật thông qua giao dịch dân sự về chuyển quyền chiếm hữu, chuyển quyền sử dụng 82 II QUYỀN SỬ DỤNG 82 Điều 217. Quyền sử dụng 82 Điều 218. Quyền sử dụng của chủ sở hữu 83 III QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT 83 Điều 219. Quyền định đoạt 83 Điều 220. Điều kiện định đoạt 83 Điều 221. Quyền định đoạt của chủ sở hữu 83 Điều 222. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu 83 Điều 223. Hạn chế quyền định đoạt 83 Mục 3. SỞ HỮU TOÀN DÂN, SỞ HỮU RIÊNG, SỞ HỮU CHUNG 84 I SỞ HỮU TOÀN DÂN 84 Điều 224. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân 84 Điều 225. Thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân 84 Điều 226. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân 84 Điều 227. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước 84 Điều 228. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang 84 Điều 229. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội 85 Điều 230. Quyền của tổ chức, cá nhân đối với việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữu toàn dân 85 Điều 231. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý 85 II SỞ HỮU RIÊNG 85 Điều 232. Tài sản thuộc sở hữu riêng 85 Điều 233. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng 85 III SỞ HỮU CHUNG 86 Điều 234. Các loại sở hữu chung 86 Điều 235. Xác lập quyền sở hữu chung 86 Điều 236. Sở hữu chung theo phần 86 Điều 237. Sở hữu chung hợp nhất 86 Điều 238. Sở hữu chung của cộng đồng 86 Điều 239. Sở hữu chung của các thành viên gia đình 86 Điều 240. Sở hữu chung của vợ chồng 87 Điều 241. Sở hữu chung trong nhà chung cư 87 Điều 242. Sở hữu chung hỗn hợp 88 Điều 243. Chiếm hữu tài sản chung 88 Điều 244. Sử dụng tài sản chung 88 Điều 245. Định đoạt tài sản chung 88 Điều 246. Chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung 89 Điều 247. Chấm dứt sở hữu chung 89 Mục 4. XÁC LẬP, CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU 89 I XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU 89 Điều 248. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp 89 Điều 249. Xác lập quyền sở hữu theo thoả thuận 90 Điều 250. Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức 90 Điều 251. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập 90 Điều 252. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp trộn lẫn 90 Điều 253. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp chế biến 91 Điều 254. Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu 91 Điều 255. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy 92 Điều 256. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên 92 Điều 257. Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc 93 Điều 258. Xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc 93 Điều 259. Xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước 93 Điều 260. Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế 93 Điều 261. Xác lập quyền sở hữu theo bản án, quyết định của Toà án, trọng tài hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác 94 II CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU 94 Điều 262. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác 94 Điều 263. Từ bỏ quyền sở hữu 94 Điều 264. Tài sản mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu 94 Điều 265. Xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu 94 Điều 266. Tài sản bị tiêu huỷ 95 Điều 267. Tài sản bị trưng mua 95 Điều 268. Tài sản bị tịch thu 95 CHƯƠNG XIV. CÁC VẬT QUYỀN KHÁC 95 Mục 1. ĐỊA DỊCH 95 Điều 269. Khái niệm địa dịch 95 Điều 270. Hiệu lực của địa dịch 95 Điều 271. Nguyên tắc thực hiện địa dịch 95 Điều 272. Thay đổi việc thực hiện địa dịch 96 Điều 273. Thoát nước 96 Điều 274. Lối đi qua bất động sản liền kề 97 Điều 275. Mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác 97 Điều 276. Các quyền địa dịch khác 97 Điều 277. Chấm dứt địa dịch 97 Mục 2. QUYỀN HƯỞNG DỤNG 98 Điều 278. Khái niệm quyền hưởng dụng 98 Điều 279. Đối tượng của quyền hưởng dụng 98 Điều 280. Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng 98 Điều 281. Thời hạn của quyền hưởng dụng 98 Điều 282. Quyền của người hưởng dụng 98 Điều 283. Nghĩa vụ của người hưởng dụng 98 Điều 284. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vật 99 Điều 285. Thu hoa lợi, lợi tức từ vật 99 Điều 286. Quy định riêng về quyền hưởng dụng đối với cổ phần, phần vốn góp vào công ty 99 Điều 287. Quy định riêng đối với quyền hưởng dụng có đối tượng là vật cùng loại 100 Điều 288. Chấm dứt quyền hưởng dụng 100 Điều 289. Hoàn trả vật khi hết thời hạn của quyền hưởng dụng 100 Điều 290. Quyền dùng vật của người khác và quyền ở nhà của người khác 100 Mục 3. QUYỀN BỀ MẶT 101 Điều 291. Khái niệm quyền bề mặt 101 Điều 292. Căn cứ xác lập quyền bề mặt 101 Điều 293. Đối tượng của quyền bề mặt 101 Điều 294. Nội dung của quyền bề mặt 101 Điều 295. Chấm dứt quyền bề mặt 102 Điều 296. Xử lý vật khi quyền bề mặt chấm dứt 102 Điều 297. Quyền của chủ sở hữu căn hộ chung cư 102 Mục 4. QUYỀN ƯU TIÊN 103 Điều 298. Khái niệm quyền ưu tiên 103 Điều 299. Quyền ưu tiên chung 103 Điều 300. Nguyên tắc áp dụng quyền ưu tiên chung 103 Điều 301. Quyền ưu tiên đối với động sản 103 Điều 302. Quyền ưu tiên đối với bất động sản 104 Điều 303. Thứ tự thực hiện quyền ưu tiên trong trường hợp nhiều chủ thể có quyền ưu tiên 105 PHẦN THỨ BA. NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG 105 CHƯƠNG XV. QUY ĐỊNH CHUNG 105 Mục 1. CĂN CỨ PHÁT SINH VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA NGHĨA VỤ 105 Điều 304. Khái niệm, căn cứ phát sinh nghĩa vụ 105 Điều 305. Đối tượng của nghĩa vụ 106 Mục 2. THỰC HIỆN NGHĨA VỤ 106 Điều 306. Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ 106 Điều 307. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ 106 Điều 308. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ 106 Điều 309. Thực hiện nghĩa vụ giao vật 107 Điều 310. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền 107 Điều 311. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc 107 Điều 312. Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ 107 Điều 313. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba 107 Điều 314. Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện 108 Điều 315. Thực hiện nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn 108 Điều 316. Thực hiện nghĩa vụ thay thế được 108 Điều 317. Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ 108 Điều 318. Thực hiện nghĩa vụ liên đới 108 Điều 319. Thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới 109 Điều 320. Thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần 109 Điều 321. Thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần 109 Mục 3. CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ 109 I QUY ĐỊNH CHUNG 109 Điều 322. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 109 Điều 323. Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm 110 Điều 324. Tài sản bảo đảm 110 Điều 325. Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ 110 Điều 326. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba 111 Điều 327. Thứ tự ưu tiên thanh toán 111 Điều 328. Xử lý tài sản bảo đảm 112 Điều 329. Quyền nhận lại tài sản bảo đảm 112 Điều 330. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm 112 Điều 331. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm 113 Điều 332. Bán, thay thế, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, thế chấp 113 Điều 333. Quyền yêu cầu bên mua, bên nhận trao đổi, bên nhận tặng cho, bên thuê, bên mượn giao lại tài sản cầm cố, thế chấp để xử lý 114 Điều 334. Chấm dứt biện pháp bảo đảm 114 II CẦM CỐ TÀI SẢN 114 Điều 335. Cầm cố tài sản 114 Điều 336. Xác lập quyền cầm cố 115 Điều 337. Cầm cố quyền đòi nợ 115 Điều 338. Cầm cố chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác và thẻ tiết kiệm 115 Điều 339. Nghĩa vụ của bên cầm cố 116 Điều 340. Quyền của bên cầm cố 116 Điều 341. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố 116 Điều 342. Quyền của bên nhận cầm cố 116 Điều 343. Bên nhận cầm cố tạm thời không chiếm giữ tài sản 117 III THẾ CHẤP TÀI SẢN 117 Điều 344. Thế chấp tài sản 117 Điều 345. Phạm vi hiệu lực về đối tượng của quyền thế chấp 117 Điều 346. Xác lập quyền thế chấp 117 Điều 347. Nghĩa vụ của bên thế chấp 117 Điều 348. Quyền của bên thế chấp 118 Điều 349. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp 118 Điều 350. Quyền của bên nhận thế chấp 118 Điều 351. Thay thế, sửa chữa tài sản thế chấp 118 Điều 352. Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất 119 Điều 353. Thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất 119 IV CẦM GIỮ TÀI SẢN 119 Điều 354. Nội dung cầm giữ 119 Điều 355. Thời hạn cầm giữ 119 Điều 356. Quyền của bên cầm giữ 120 Điều 357. Nghĩa vụ của bên cầm giữ 120 Điều 358. Chấm dứt cầm giữ 120 V BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU 120 Điều 359. Bảo lưu quyền sở hữu 120 Điều 360. Tài sản là đối tượng của quyền bảo lưu 120 Điều 361. Quyền đòi lại tài sản 121 Điều 362. Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản 121 Điều 363. Chấm dứt thỏa thuận bảo lưu quyền sở hữu 121 VI ĐẶT CỌC, KÝ CƯỢC, KÝ QUỸ 121 Điều 364. Đặt cọc 121 Điều 365. Ký cược 122 Điều 366. Ký quỹ 122 VII BẢO LÃNH 122 Điều 367. Bảo lãnh 122 Điều 368. Hình thức bảo lãnh 122 Điều 369. Phạm vi bảo lãnh 122 Điều 370. Thù lao 123 Điều 371. Nhiều người cùng bảo lãnh 123 Điều 372. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh 123 Điều 373. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh 123 Điều 374. Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh 123 Điều 375. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh 124 Mục 4. TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 124 Điều 376. Trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ 124 Điều 377. Quyền yêu cầu thực hiện trách nhiệm do không thực hiện đúng nghĩa vụ 124 Điều 378. Lỗi trong trách nhiệm dân sự 125 Điều 379. Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ 125 Điều 380. Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật 125 Điều 381. Trách nhiệm do không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền 126 Điều 382. Trách nhiệm do không được thực hiện một công việc 126 Điều 383. Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ 126 Điều 384. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng nghĩa vụ 126 Điều 385. Thiệt hại do không thực hiện đúng nghĩa vụ 127 Điều 386. Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại 127 Điều 387. Giảm mức bồi thường thiệt hại 127 Điều 388. Miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ 127 Mục 5. CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU VÀ CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ 127 Điều 389. Chuyển giao quyền yêu cầu 127 Điều 390. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ 128 Điều 391. Không chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao quyền yêu cầu 128 Điều 392. Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 128 Điều 393. Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ 128 Điều 394. Chuyển giao nghĩa vụ 129 Điều 395. Chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm 129 Mục 6. CHẤM DỨT NGHĨA VỤ 129 Điều 396. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ 129 Điều 397. Hoàn thành nghĩa vụ 130 Điều 398. Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ 130 Điều 399. Chấm dứt nghĩa vụ theo thoả thuận 130 Điều 400. Chấm dứt nghĩa vụ do được miễn thực hiện nghĩa vụ 130 Điều 401. Chấm dứt nghĩa vụ do được thay thế bằng nghĩa vụ khác 130 Điều 402. Chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ 130 Điều 403. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ 131 Điều 404. Chấm dứt nghĩa vụ do hoà nhập bên có nghĩa vụ và bên có quyền 131 Điều 405. Chấm dứt nghĩa vụ do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ 131 Điều 406. Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt 131 Điều 407. Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn 131 Điều 408. Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản 131 Mục 7. HỢP ĐỒNG 131 I GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 131 Điều 409. Khái niệm hợp đồng và áp dụng pháp luật 131 Điều 410. Đề nghị giao kết hợp đồng 132 Điều 411. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng 132 Điều 412. Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng 132 Điều 413. Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 133 Điều 414. Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng 133 Điều 415. Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất 133 Điều 416. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 133 Điều 417. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng 133 Điều 418. Trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự 134 Điều 419. Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự 134 Điều 420. Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng 134 Điều 421. Nội dung của hợp đồng 134 Điều 422. Địa điểm giao kết hợp đồng 134 Điều 423. Thời điểm giao kết hợp đồng 135 Điều 424. Hiệu lực của hợp đồng 135 Điều 425. Các loại hợp đồng chủ yếu 135 Điều 426. Hợp đồng theo mẫu 135 Điều 427. Phụ lục hợp đồng 136 Điều 428. Điều kiện giao dịch chung 136 Điều 429. Hợp đồng vô hiệu 136 Điều 430. Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được 137 II THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG 137 Điều 431. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng 137 Điều 432. Thực hiện hợp đồng đơn vụ 137 Điều 433. Thực hiện hợp đồng song vụ 137 Điều 434. Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ 138 Điều 435. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ 138 Điều 436. Nghĩa vụ không thể thực hiện được do lỗi của bên có quyền 138 Điều 437. Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên 138 Điều 438. Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba 138 Điều 439. Quyền từ chối của người thứ ba 138 Điều 440. Không được sửa đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba 139 Điều 441. Thoả thuận phạt vi phạm 139 Điều 442. Bồi thường thiệt hại 139 Điều 443. Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi 139 III SỬA ĐỔI, CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG 140 Điều 444. Sửa đổi hợp đồng 140 Điều 445. Chấm dứt hợp đồng 140 Điều 446. Huỷ bỏ hợp đồng 140 Điều 447. Huỷ bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ 141 Điều 448. Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ có kỳ hạn 141 Điều 449. Huỷ bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện 141 Điều 450. Huỷ bỏ hợp đồng khi có nhiều bên tham gia hợp đồng 141 Điều 451. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản là đối tượng của hợp đồng bị mất, hư hỏng 141 Điều 452. Hậu quả của việc huỷ bỏ hợp đồng 142 CHƯƠNG XVI. MỘT SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG 142 Mục 1. HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN 142 Điều 453. Hợp đồng mua bán tài sản 142 Điều 454. Đối tượng của hợp đồng mua bán 142 Điều 455. Chất lượng của tài sản mua bán 142 Điều 456. Giá và phương thức thanh toán 143 Điều 457. Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán 143 Điều 458. Địa điểm giao tài sản 144 Điều 459. Phương thức giao tài sản 144 Điều 460. Trách nhiệm do giao vật không đúng số lượng 144 Điều 461. Trách nhiệm do giao vật không đồng bộ 144 Điều 462. Trách nhiệm giao vật không đúng chủng loại 145 Điều 463. Nghĩa vụ trả tiền 145 Điều 464. Thời điểm chuyển quyền sở hữu 145 Điều 465. Thời điểm chịu rủi ro 145 Điều 466. Chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu 146 Điều 467. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng 146 Điều 468. Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán 146 Điều 469. Bảo đảm chất lượng tài sản mua bán 147 Điều 470. Nghĩa vụ bảo hành 147 Điều 471. Quyền yêu cầu bảo hành 147 Điều 472. Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành 147 Điều 473. Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành 148 Điều 474. Mua bán quyền tài sản 148 Điều 475. Bán đấu giá tài sản 148 Điều 476. Mua sau khi sử dụng thử 149 Điều 477. Mua trả chậm, trả dần 149 Điều 478. Chuộc lại tài sản đã bán 150 Điều 479. Mua bán theo phương thức trao đổi tài sản 150 Mục 2. HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN 150 Điều 480. Hợp đồng tặng cho tài sản 150 Điều 481. Tặng cho động sản 150 Điều 482. Tặng cho bất động sản 150 Điều 483. Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình 151 Điều 484. Thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho 151 Điều 485. Tặng cho tài sản có điều kiện 151 Mục 3. HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 151 Điều 486. Hợp đồng vay tài sản 151 Điều 487. Quyền sở hữu đối với tài sản vay 151 Điều 488. Nghĩa vụ của bên cho vay 152 Điều 489. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay 152 Điều 490. Sử dụng tài sản vay 152 Điều 491. Lãi suất 152 Điều 492. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn 153 Điều 493. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn 153 Điều 494. Họ, hụi, biêu, phường 153 Mục 4. HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN 154 I QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN 154 Điều 495. Hợp đồng thuê tài sản 154 Điều 496. Giá thuê 154 Điều 497. Thời hạn thuê 154 Điều 498. Cho thuê lại 154 Điều 499. Giao tài sản thuê 154 Điều 500. Nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê 155 Điều 501. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê 155 Điều 502. Nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê 155 Điều 503. Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích 156 Điều 504. Trả tiền thuê 156 Điều 505. Trả lại tài sản thuê 156 II HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN TÀI SẢN 156 Điều 506. Hợp đồng thuê khoán tài sản 156 Điều 507. Đối tượng của hợp đồng thuê khoán 157 Điều 508. Thời hạn thuê khoán 157 Điều 509. Giá thuê khoán 157 Điều 510. Giao tài sản thuê khoán 157 Điều 511. Trả tiền thuê khoán và phương thức trả 157 Điều 512. Khai thác tài sản thuê khoán 158 Điều 513. Bảo quản, bảo dưỡng, định đoạt tài sản thuê khoán 158 Điều 514. Hưởng hoa lợi, chịu thiệt hại về súc vật thuê khoán 158 Điều 515. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán 158 Điều 516. Trả lại tài sản thuê khoán 159 Mục 5. HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN 159 Điều 517. Hợp đồng mượn tài sản 159 Điều 518. Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản 159 Điều 519. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản 159 Điều 520. Quyền của bên mượn tài sản 159 Điều 521. Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản 160 Điều 522. Quyền của bên cho mượn tài sản 160 Mục 6. HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 160 Điều 523. Quyền về chuyển quyền sử dụng đất 160 Điều 524. Nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất 160 Điều 525. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất 161 Điều 526. Giá chuyển quyền sử dụng đất 161 Điều 527. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất 161 Mục 7. HỢP ĐỒNG HỢP TÁC 161 Điều 528. Hợp đồng hợp tác 161 Điều 529. Nội dung của hợp đồng hợp tác 161 Điều 530. Tài sản chung của các thành viên hợp tác 162 Điều 531. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác 162 Điều 532. Thực hiện hợp đồng 162 Điều 533. Trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác 163 Điều 534. Rút khỏi hợp đồng hợp tác 163 Điều 535. Gia nhập hợp đồng hợp tác 163 Điều 536. Chấm dứt hợp đồng hợp tác 163 Mục 8. HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ 164 Điều 537. Hợp đồng dịch vụ 164 Điều 538. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ 164 Điều 539. Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ 164 Điều 540. Quyền của bên thuê dịch vụ 164 Điều 541. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ 164 Điều 542. Quyền của bên cung ứng dịch vụ 165 Điều 543. Trả tiền dịch vụ 165 Điều 544. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ 165 Điều 545. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ 166 Mục 9. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN 166 I HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH 166 Điều 546. Hợp đồng vận chuyển hành khách 166 Điều 547. Hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách 166 Điều 548. Nghĩa vụ của bên vận chuyển 166 Điều 549. Quyền của bên vận chuyển 166 Điều 550. Nghĩa vụ của hành khách 167 Điều 551. Quyền của hành khách 167 Điều 552. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển, hành khách. 167 Điều 553. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng vận chuyển hành khách 168 II HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÀI SẢN 168 Điều 554. Hợp đồng vận chuyển tài sản 168 Điều 555. Hình thức hợp đồng vận chuyển tài sản 168 Điều 556. Giao tài sản cho bên vận chuyển 168 Điều 557. Cước phí vận chuyển 169 Điều 558. Nghĩa vụ của bên vận chuyển 169 Điều 559. Quyền của bên vận chuyển 169 Điều 560. Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển 169 Điều 561. Quyền của bên thuê vận chuyển 170 Điều 562. Trả tài sản cho bên nhận tài sản 170 Điều 563. Nghĩa vụ của bên nhận tài sản 170 Điều 564. Quyền của bên nhận tài sản 170 Điều 565. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển, bên thuê vận chuyển 171 Mục 10. HỢP ĐỒNG GIA CÔNG 171 Điều 566. Hợp đồng gia công 171 Điều 567. Đối tượng của hợp đồng gia công 171 Điều 568. Nghĩa vụ của bên đặt gia công 171 Điều 569. Quyền của bên đặt gia công 171 Điều 570. Nghĩa vụ của bên nhận gia công 172 Điều 571. Quyền của bên nhận gia công 172 Điều 572. Trách nhiệm chịu rủi ro 172 Điều 573. Giao, nhận sản phẩm gia công 173 Điều 574. Chậm giao, chậm nhận sản phẩm gia công 173 Điều 575. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công 173 Điều 576. Trả tiền công 173 Điều 577. Thanh lý nguyên vật liệu 173 Mục 11. HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN 174 Điều 578. Hợp đồng gửi giữ tài sản 174 Điều 579. Nghĩa vụ của bên gửi tài sản 174 Điều 580. Quyền của bên gửi tài sản 174 Điều 581. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản 174 Điều 582. Quyền của bên giữ tài sản 174 Điều 583. Trả lại tài sản gửi giữ 175 Điều 584. Chậm giao, chậm nhận tài sản gửi giữ 175 Điều 585. Trả tiền công 175 Mục 12. HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN 176 Điều 586. Hợp đồng uỷ quyền 176 Điều 587. Hình thức hợp đồng ủy quyền 176 Điều 588. Nghĩa vụ của bên được uỷ quyền 176 Điều 589. Quyền của bên được uỷ quyền 176 Điều 590. Nghĩa vụ của bên uỷ quyền 176 Điều 591. Quyền của bên uỷ quyền 177 Điều 592. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền 177 Mục 13. HỨA THƯỞNG VÀ THI CÓ GIẢI 177 Điều 593. Hứa thưởng 177 Điều 594. Rút lại tuyên bố hứa thưởng 178 Điều 595. Trả thưởng 178 Điều 596. Thi có giải 178 CHƯƠNG XVII. THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ UỶ QUYỀN 178 Điều 597. Thực hiện công việc không có ủy quyền 178 Điều 598. Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền 178 Điều 599. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện 179 Điều 600. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại 179 Điều 601. Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền 179 CHƯƠNG XVIII. NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT 180 Điều 602. Nghĩa vụ hoàn trả 180 Điều 603. Tài sản hoàn trả 180 Điều 604. Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức 180 Điều 605. Quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả 181 Điều 606. Nghĩa vụ thanh toán 181 CHƯƠNG XIX. TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 181 Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG 181 Điều 607. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 181 Điều 608. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 181 Điều 609. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 182 Điều 610. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra 182 Điều 611. Bồi thường thiệt hại do tài sản gây thiệt hại 182 Mục 2. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI 182 Điều 612. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 182 Điều 613. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm 183 Điều 614. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 183 Điều 615. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 183 Điều 616. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm 184 Mục 3. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ 184 Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 184 Điều 618. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết 184 Điều 619. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra 185 Điều 620. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra 185 Điều 621. Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 185 Điều 622. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, cơ quan khác trực tiếp quản lý 185 Điều 623. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra 186 Điều 624. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 186 Điều 625. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 187 Điều 626. Bồi thường thiệt hại do động vật gây ra 187 Điều 627. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra 187 Điều 628. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 187 Điều 629. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể 188 Điều 630. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả 188 Điều 631. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 188 PHẦN THỨ TƯ. THỪA KẾ 188 CHƯƠNG XX. QUY ĐỊNH CHUNG 188 Điều 632. Quyền thừa kế của cá nhân 188 Điều 633. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân 189 Điều 634. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế 189 Điều 635. Di sản 189 Điều 636. Người thừa kế 189 Điều 637. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế 189 Điều 638. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 189 Điều 639. Người quản lý di sản 190 Điều 640. Nghĩa vụ của người quản lý di sản 190 Điều 641. Quyền của người quản lý di sản 191 Điều 642. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm 191 Điều 643. Từ chối nhận di sản 191 Điều 644. Người không được quyền hưởng di sản 191 Điều 645. Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước 192 Điều 646. Thời hiệu thừa kế 192 CHƯƠNG XXI. THỪA KẾ THEO DI CHÚC 192 Điều 647. Di chúc 192 Điều 648. Người lập di chúc 192 Điều 649. Quyền của người lập di chúc 193 Điều 650. Hình thức của di chúc 193 Điều 651. Di chúc bằng văn bản 193 Điều 652. Di chúc miệng 193 Điều 653. Di chúc hợp pháp 193 Điều 654. Nội dung của di chúc 194 Điều 655. Người làm chứng cho việc lập di chúc 194 Điều 656. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng 194 Điều 657. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng 195 Điều 658. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực 195 Điều 659. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã 195 Điều 660. Người không được công chứng, chứng thực di chúc 195 Điều 661. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực 196 Điều 662. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở 196 Điều 663. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc 196 Điều 664. Di chúc chung của vợ, chồng 196 Điều 665. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 197 Điều 666. Gửi giữ di chúc 197 Điều 667. Di chúc bị thất lạc, hư hại 197 Điều 668. Hiệu lực pháp luật của di chúc 197 Điều 669. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng 198 Điều 670. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 198 Điều 671. Di sản dùng vào việc thờ cúng 198 Điều 672. Di tặng 199 Điều 673. Công bố di chúc 199 Điều 674. Giải thích nội dung di chúc 200 CHƯƠNG XXII. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 200 Điều 675. Thừa kế theo pháp luật 200 Điều 676. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật 200 Điều 677. Người thừa kế theo pháp luật 201 Điều 678. Thừa kế thế vị 201 Điều 679. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ 201 Điều 680. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế 201 Điều 681. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác 201 CHƯƠNG XXIII. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN 202 Điều 682. Họp mặt những người thừa kế 202 Điều 683. Người phân chia di sản 202 Điều 684. Thứ tự ưu tiên thanh toán 202 Điều 685. Phân chia di sản theo di chúc 203 Điều 686. Phân chia di sản theo pháp luật 203 Điều 687. Hạn chế phân chia di sản 203 Điều 688. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế 204 PHẦN THỨ NĂM. PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 204 CHƯƠNG XXIV. QUY ĐỊNH CHUNG 204 Điều 689. Phạm vi áp dụng 204 Điều 690. Lựa chọn pháp luật áp dụng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 205 Điều 691. Các trường hợp loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài 205 Điều 692. Dẫn chiếu 205 Điều 693. Áp dụng tập quán 206 Điều 694. Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật 206 Điều 695. Áp dụng pháp luật nước ngoài 206 Điều 696. Thời hiệu 206 CHƯƠNG XXV. PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁ NHÂN, PHÁP NHÂN 206 Điều 697. Căn cứ áp dụng pháp luật đối với người không quốc tịch, người có hai hay nhiều quốc tịch 206 Điều 698. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 207 Điều 699. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân 207 Điều 700. Tuyên bố một người mất tích hoặc chết 207 Điều 701. Năng lực pháp luật dân sự và điều lệ của pháp nhân 207 CHƯƠNG XXVI. PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ TÀI SẢN, NHÂN THÂN 207 Điều 702. Quyền sở hữu và các vật quyền khác 207 Điều 703. Thừa kế theo pháp luật 208 Điều 704. Thừa kế theo di chúc 208 Điều 705. Giám hộ 208 Điều 706. Hợp đồng 208 Điều 707. Hình thức của hợp đồng 209 Điều 708. Hành vi pháp lý đơn phương 210 Điều 709. Hưởng lợi không có căn cứ pháp luật và thực hiện công việc không có ủy quyền 210 Điều 710. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 210 PHẦN THỨ SÁU. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH 210 Điều 711. Hiệu lực thi hành 210 Điều 712. Điều khoản chuyển tiếp 210
Xem thêm

197 Đọc thêm

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC HỢP ĐỒNG CỦA BỘ LUẬT HAMMURABI

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC HỢP ĐỒNG CỦA BỘ LUẬT HAMMURABI

Đánh giá những nội dung cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng của Bộ luật Hammurabi Bài tập học kỳ Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới 8 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới Nền kinh tế hang hóa ở Lưỡng Hà xuất hiện rất sớm và phát triển vào bậc nhất ở Phương Đông cổ đại. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi để Lưỡng Hà cổ đại trở thành một trong những quốc gia cổ đại ở Phương Đông có pháp luật thành văn sớm. Với bộ luật nổi tiếng Hammurabi, quy định về tất cả các lĩnh vực trong xã hội, lĩnh vực hợp đồng là 1 trong những lĩnh vực được quan tâm nhất khi các nhà lập pháp soạn thảo ra bộ luật Hammurabi. Để hiểu rõ hơn về các quy định trong lĩnh vực hợp đồng thì e xin chọn đề tài 02: “ Đánh giá những nội dung cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng của Bộ luật Hammurabi” làm đề tài cho bài tập học kỳ. NỘI DUNG I, Khái quát chung về Bộ luật Hammurabi và những nội dung cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng: 1, Khái quát chung về Bộ luật Hammurabi: Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xume, người Amôrít. Bộ luật được ghi bằng văn tự hình đinh xưa nhất trên tấm đá badan cao 2,25m và đường kính đáy gần 2mcó khắc hình vua Hammurabi đứng trước thần Samát (Thấn Mặt trời). Bộ luật bao gồm ba phần: phần mở bài, phần nội dung và phần kết luận. Phần mở đầu nhà vua Hammurabi đã khẳng định quyền lực và công đức của nhà vua; Phần nội dung là phần chứa đựng các điều khoản của bộ luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong xã hội, gồm 282 điều; Phần kết luận, nhà vua Hammurabi khẳng định lại mục đích ban hành Bộ luật và tuyên bố sẽ trừng phạt bất cứ ai vi phạm các điều khoản trong Bộ luật. Bộ luật chưa có sự phân chia thành các ngành luật nhưng các nhà làm luật đã có ý thức sắp xếp các điều khoản điều chỉnh một loại quan hệ pháp luật trong xã hội liền kề nhau. 2, Những nội dung cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng: Trong xã hội lúc bấy giờ, việc trao đổi, mua bán, vay mượn, thuê mướn hàng hóa, nhân công cũng như tài sản ở Lưỡng Hà phát triển rất mạnh đã làm cho những quan hệ có tính phức tạp dần phát sinh. Do đó, Bộ luật Hammurabi đã có những điều khoản điều chỉnh mối quan hệ này bằng khế ước hay hợp đồng. Thông qua các điều khoản quy định trong bộ luật, những loại hợp đồng thông dụng được đề cập đến là : hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay mượn, hợp đồng cho thuê tài sản. Nội dung của các loại hợp đồng này được quy định rải rác trọng Bộ Luật. II, Đánh giá những nội dung cơ bản trong từng loại hợp đồng thuộc lĩnh vực hợp đồng được quy định trong Bộ luật Hammurabi: 1, Hợp đồng mua bán tài sản: Hợp đồng mua bán tài sản là loại giao dịch dân sự phổ biến trong xã hội Lưỡng Hà cổ đại. Trong Bộ luật Hammurabi đã đưa ra các điều kiện bắt buộc để hợp đồng mua bán có hiệu lực. Các điều kiện đó là : + Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản phải là tài sản hợp pháp. Khi đó, hợp đồng mua bán sẽ vô hiệu khi tài sản đem ra mua bán k rõ nguồn gốc hoặc là đồ ăn cắp (điều 8, 9, 10 Bộ luật). + Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng: Người tham gia mua bán phải là người có năng lực chủ thể và là chủ sở hữu hợp pháp hoặc là người được chủ sở hữu ủy quyền tham gia giao kết hợp đồng (điều 7, 117 Bộ luật). + Hình thức của hợp đồng: hợp đồng mua bán phải được thể hiện dưới hình thức thích hợp. Thông thường, việc giao kết hợp đồng phải được lập thành văn bản và có người làm chứng. Trong trường hợp, giao kết mà không có người làm chứng, nếu xuất hiện tranh chấp thì các bên tham gia quan hệ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm (điều 9 Bộ luật). Ngoài ra, Bộ luật còn có những quy định riêng về trường hợp tài sản được đem ra mua bán là nô lệ. Về bản chất, nô lệ được coi là một loại hàng hóa đặc biệt được đem ra trao đổi, mua bán. Giá trị của nô lệ thường được thể hiện ở “sức lao động” của họ. Do đó, việc mua bán nô lệ mang tính rủi ro cao, các nhà lập pháp thường hướng tới bảo vệ quyền lợi của người mua hơn là người bán và nô lệ ( điều 278, 279 Bộ luật). Trong việc mua bán, người bán phải chịu trách nhiệm đối với đối tượng được đem ra giao dịch.  Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì hợp đồng sẽ không có giá trị. Tuy nhiên, người vi phạm hợp đồng này sẽ bị xử phạt rất nặng, có khi phải đánh đổi cả mạng sống. Mặc dù vậy, có thể thấy được rằng, những quy định này rất tiến bộ và chặt chẽ, nhằm hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi của người mua và tránh gian lận trong buôn bán. Điều này thể hiện rõ giá trị thực tiến cao trong các quy định của bộ luật. Đây cũng là điểm tiến bộ hơn của bộ luật so với các bộ luật cùng thời kỳ. 2, Hợp đồng vay mượn tài sản: Hợp đồng vay mượn tài sản cũng là loại hợp đông rất phổ biến trong xã hội Lưỡng Hà cổ đại. Đối với loại hợp đồng này, các nhà lập pháp Lưỡng Hà cổ đại đều chú ý đến quyền và nghĩa vụ của hai bên vay nợ, trước hết là quyền lợi của chủ nợ. Điều đáng quan tâm ở đây đó là để đảm bảo cho khoản vay được trả, chủ nợ thường buộc con nợ phải cầm cố ruộng đất hay các hình thức xiết nợ khác. Vấn đề được đặt ra đó là khi con nợ cầm cố ruộng đất, trong thời gian cầm cố ruộng đất đó thu được hoa lợi, vậy hoa lợi này sẽ thuộc về quyền sở hữu của con nợ hay chủ nợ?. Để giải quyết vấn đề này, các nhà lập pháp cũng đã đưa ra các quy định về vấn đề này trong Bộ luật Hammurabi, cụ thể là ở điều 49 Bộ luật.  Điểm tiến bộ đó là Bộ luật đã quy định mức lãi suất đối với hợp đồng vay mượn, bên cạnh đó, luật còn quy định mức lợi tức tối đa khác nhau đối với từng loại: vay tiền thì lợi tức tối đa là 20%, vay thóc thì lợi tức tối đa là 33%. Nếu người cho vay lấy lãi suất cao hơn mức quy định thì sẽ mất vật cho vay (điều 91 Bộ luật). Mặt khác, luật cũng quy định, khi cho vay dùng con người còn sống làm vật thế chấp để đảm bảo hợp đồng (điều 115, 116,117 Bộ luật). Đây là những quy định tiến bộ, một phần bảo vệ quyền lợi người đi vay, một phần bảo đảm cho việc vay mượn được diễn ra một cách công bằng, tránh hiện tượng cho vay nặng lãi, không phù hợp với giá trị của vật cho vay. 3, Hợp đồng cho thuê mướn ruộng đất: Trong hợp đồng được ký kết bằng hình tức văn bản, quyền và nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì sẽ theo quy định của pháp luật. Giá thuê ruộng được ấn định bằng tiền hoặc một phần hoa lợi (12 hay 13 tổng số thóc thu được) được quy định tại điều 45, 46 Bộ luật. Điều 42, 43, 44 của luật cũng quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trong trường hợp lười biếng, bỏ hoang ruộng đất không canh tác. Trừ trường hợp hoàn cảnh khách quan gây ra (điều 45, 46 Bộ luật). Nếu không cày cấy mà để ruộng bỏ hoang, thì người này phải căn cứ theo người bên cạnh để nộp thóc cho chủ ruộng và còn phải cày bừa ruộng đã bỏ hoang cho bằng phẳng rồi trả lại cho ruộng.  Quy định này đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được đều đặn, tránh hiện tượng láng phí ruộng đất, bởi sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của không chỉ Lưỡng Hà mà còn của hầu hết các quốc gia cổ đại Phương Đông khác. Do đó, luật pháp cũng đã có nhiều quy định ddooid với những việc kiên quan đến phát triển sản xuất nông nghiệp. Ai cố tình vi phạm sẽ bị xử lý, bồi thường, nếu không có tài sản thì phải bán than để bồi thường thiệt hại do họ gây ra. III, Nhận xét của cá nhân: Bên cạnh những điểm tiến bộ đã được phân tích ở trên thì những quy định của Bộ luật Hammurabi về lĩnh vực hợp đồng luôn có sự hình sự hóa các hình phạt, đây là hạn chế lớn nhất của Bộ luật. Mặc dù, những quy định về lĩnh vực hợp đồng có đối tượng là tài sản, nhưng những hình phạt đưa ra cũng có thể khiến những chủ thể tham gia quan hệ bị giết, chịu hậu quả pháp lý rất nặng nề. Những hình phạt xử lý vi phạm khá hà khắc và nghiêm ngặt như vậy vẫn được đặt ra để đảm bảo cho sự quản lý xã hội một cách chặt chẽ. KẾT LUẬN Tóm lại, như những đánh giá ở trên, Bộ luật Hammurabi đã được các nhà lập pháp kết hợp một cách hoàn chỉnh và thống nhất tạo nên sự chặt chẽ giữa thần quyền, vương quyền và pháp quyền, khiến cho bộ luật đạt được mục đích tối cao là giúp vua cai trị vương quốc. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng đã giúp cho sự phát triển của xã hội Lưỡng Hà thời kỳ này đặc biệt là trong lĩnh vực hợp đồng. Cho đến ngày nay, Bộ luật Hammurabi được coi là một “giá trị lịch sử pháp lý” cần được tôn trọng và kế thừa nhưng giá trị phù hợp với xã hội hiện nay.
Xem thêm

5 Đọc thêm

07 vấn đề cảnh báo rủi ro tác nghiệp trong hoạt động công chứng

07 VẤN ĐỀ CẢNH BÁO RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

những vấn đề cần lưu ý khi công chứng hợp đồng.07 vấn đề cảnh báo rủi ro tác nghiệp trong hoạt động công chứng , ngân hàng; 07 khả năng rủi ro khi ký hợp đồng với người được ủy quyền 07 trường hợp cảnh báo có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được thế chấp. Hoạt động công chứng gắn liền với hoạt động ngân hàng trong giao dịch bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản để vay vốn tại ngân hàng. Trong bài viết này, tác giả sẽ đưa ra một số vấn đề “nóng” cần cảnh báo trong việc thẩm định các hợp đồng tín dụng, công chứng hợp đồng thế chấp tài sản để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn các hợp đồng thế chấp tài sản có vi phạm pháp luật dẫn đến gia tăng nợ xấu của các ngân hàng tăng cường an toàn pháp lý trong các giao dịch dân sự, kinh tế.
Xem thêm

8 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG

CHƯƠNG I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIVÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3 1.1. khái niệm ngân hàng thương mại 3 1.1.1. Khái niệm 3 1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 4 1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại 7 1.2.1 Nghiệp vụ tài sản nợ 7 1.2.1.1. Các nghiệp vụ ký gửi 8 1.2.1.2. Các nghiệp vụ tiết kiệm 9 1.2.1.3. Các hình thức huy động tiền gửi khác 9 1.2.2. Các nghiệp vụ bên có 10 1.2.2.1. Nghiệp vụ tín dụng 10 1.2.2.2. nghiệp vụ đầu tư của ngân hàng thương mại 18 1.2.3. Nghiệp vụ trung gian 20 1.2.3.1. Các nghiệp vụ ngoại tệ tiền mặt và kim loại quý, đá quý 20 1.2.3.2. nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 21 1.2.3.3. Nghiệp vụ thanh toán 21 1.2.3.4. Nghiệp vụ đại lý uỷ thác mua bán hộ chứng khoán 22 1.2.3.5. Nghiệp vụ đại lý phát hành chứng khoán 23 1.2.3.6. Các dịch vụ ngân hàng khác 24 II. VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24 2.1. Sự cần thiết của đảm bảo an toàn vốn 24 2.2. Khái niệm và mục đích đảm bảo an toàn vốn 25 2.3. Các hình thức đảm bảo 26 2.3.1. Trước hết bản thân các ngân hàng thương mại phải tự bảo vệ nguồn vốn kinh doanh của mình thông qua việc thực hiện đầy đủ về an toàn vốn do ngân hàng trung ương ban hành 26 2.3.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng 26 2.3.2.1. Bảo đảm đối nhân với hình thái bảo lãnh 28 2.3.2.2. Đảm bảo đối vật 30 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO TIỀN VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 36 I. VÀI NÉT VỀ CHI NHÁNH NHNOPTNT THĂNG LONG………36 1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh NHNoPTNT Thăng Long 36 1.2. Mô hình tổ chức của Chi nhánh NHNoPTNT Thăng Long 36 1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Thăng Long năm 2004 38 1.3.1. Công tác huy động vốn 38 1.3.2. Công tác sử dụng vốn (cho vay) 40 1.3.3. Một số hoạt động khác 41 1.3.3.1. Kinh doanh ngoại tệ 41 1.3.3.2. Hoạt động kế toán, thanh toán 41 1.3.3.3. Hoạt động kiểm tra, kiểm toán 41 1.4.Các loại hình đảm bảo tín dụng đang được thực hiện 41 1.4.1. Thế chấp 41 1.4.2. Cầm cố 42 1.4.3. Bảo lãnh 42 II. TÌNH HÌNH VỀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 43 2.1. Chất lượng tín dụng ở NHNoPTNT Thăng Long, những vấn đề đặt ra cần quan tâm 43 2.1.1. Chất lượng tín dụng ở NHNoPTNT Thăng Long 43 2.1.2 Định hướng năm 2005 45 2.2. Tình hình sử dụng thế chấp vay vốn ngân hàng tại NHNoPTNT Thăng Long 45 2.2.1. Thế chấp nhà 46 2.2.1.1. Quyền sở hữu của tài sản thế chấp là nhà đất 47 2.2.1.2. Quyền thừa kế của tài sản thế chấp là nhà đất 48 2.2.1.3. Một số vấn đề liên quan 49 2.2.2. Thế chấp ô tô xe máy 50 2.2.3. Thế chấp vật tư hàng hóa 51 2.3. Một số tồn tại trong hình thức đảm bảo tín dụng bằng thế chấp 51 2.3.1. Những tồn tại thuộc về phương diện hành chính pháp luật 51 2.3.2. Những tồn tại thuộc về phương diện áp dụng của bản thân ngân hàng 53 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 55 3.1. Các giải pháp thuộc về hành chính và pháp luật 55 3.2. Các giải pháp thuộc về hoàn thiện và mở rộng hình thức thế chấp tài sản 58 3.3. Các giải pháp khác 59 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem thêm

65 Đọc thêm

Cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu có nên xếp vào biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không

CẦM GIỮ, BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU CÓ NÊN XẾP VÀO BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ HAY KHÔNG

Cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu có nên xếp vào các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không Giao dịch dân sự là hoạt động tất yếu và phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội. Nhằm mục đích đảm bảo và khắc phục rủi ro, vi phạm, bội ước và tranh chấp, không đảm bảo được quyền lợi của người có quyền khi người vi phạm nghĩa vụ không có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ, giao dịch đảm bảo đã được quy định trong mục 5: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của phần thứ III trong BLDS 2005. Đồng thời nó còn tạo cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ có được thế chủ động trong thực tế hưởng quyền dân sự. Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không thể thiếu được trong các hệ thống pháp luật. Pháp luật của chúng ta và các hệ thống pháp luật mà chúng tôi biết chia các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thành hai phần là phần các quy định chung và phần những quy định cụ thể đối với từng loại biện pháp bảo đảm. Điều 318 BLDS là điều luật đầu tiên về Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và có 02 khoản. Khoản 1 có nội dung là “các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: a) Cầm cố tài sản; b) Thế chấp tài sản; c) Đặt cọc; d) Ký cược; đ) Ký quỹ; e) Bảo lãnh; g) Tín chấp” và khoản 2 có nội dung là “trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về biện pháp bảo đảm thì người có nghĩa vụ phải thực hiện.biện.pháp.bảo.đảm.đó”. Điều 318 nêu trên đưa ra 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và trong phần sau BLDS đưa ra quy định cho từng biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo lãnh, tín chấp). Thuật ngữ “bao gồm” này theo hướng giới hạn các biện pháp bảo đảm và do đó các bên không thể thỏa thuận biện pháp bảo đảm khác. Trong thực tế, có trường hợp các bên thỏa thuận biện pháp bảo đảm không được BLDS dự liệu nhưng Tòa án đã không chấp nhận như cầm giữ giấy tờ không là tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, đăng ký xe máy…) hay chuyển quyền sở hữu tài sản nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay. Câu hỏi đặt ra là ngoài 07 biện pháp được quy định trong phần biện pháp bảo đảm của BLDS, các bên có thể thỏa thuận tạo ra một biện pháp bảo đảm mới không? Sau đây, nhóm chúng tôi xin đưa ra 1 số ý kiến bàn luận về “cầm giữ”, “bảo lưu quyền sở hữu” có nên xếp vào “các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự” hay không? 2. Cầm giữ 2.1.Khái niệm cầm giữ Trong các chế định được ghi nhận tại Bộ Luật Dân sự thì nghĩa vụ và hợp đồng là chế định chiếm một vị trí quan trọng vì nó điều chỉnh chủ yếu các giao lưu dân sự diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Để tồn tại và phát triển, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, các chủ thể quan hệ pháp luật đều chủ động tích cực tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự mà hợp đồng là một trong những giao dịch dân sự chủ yếu. Khi tham gia xác lập hợp đồng để thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần, các chủ thể thông thường thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách tự giác, nhưng cũng có trường hợp chủ thể nghĩa vụ không tự giác thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình trước chủ thể quyền. Điều này dẫn đến tình trạng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền không được bảo đảm, thậm chí còn ảnh hưởng cả đến lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ khác. Bên cạnh đó, việc không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ còn là nhân tố kìm hãm sự phát triển giao lưu dân sự nói riêng cũng như kìm hãm sự phát triển của xã hội nói chung. Để bảo đảm cho quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng được thực hiện, Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 đã bổ sung tại Mục 7 chương 17 phần nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự. Các biện pháp bảo đảm này nhằm góp phần bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng được thực hiện, nói cách khác đảm bảo cho các quan hệ hợp đồng được thực hiện đúng pháp luật và đúng thỏa thuận. Đây chính là một trong những cơ sở để xây dựng một xã hội ổn định và phát triển về mọi mặt... Một trong những biện pháp bảo đảm mà Bộ Luật Dân sự ghi nhận là cầm giữ. Cầm giữ tài sản (jus retentionnis) là một quyền năng theo đó bên có quyền được nắm giữ tài sản chừng nào bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ở Việt Nam, theo các nhà bình luận, “ Quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ là quy định mới được đưa vào Bộ luật Dân sự 2005 so với quy định tại Bộ luật dân sự 1995”. Theo Khoản 1 Điều 416 Bộ luật Dân sự 2005: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận”. Khi bên có quyền cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không có khả năng khai thác và hưởng lợi từ tài sản này một cách trọn vẹn. Chính vì vậy mà cầm giữ tài sản tạo được sức ép cho bên có nghĩa vụ: nếu bên có nghĩa vụ muốn khai thác, hưởng lợi một cách đầy đủ tài sản của mình thì họ phải thực hiện đứng nghĩa vụ của mình để bên cầm giữ giao tài sản. Ví dụ như A là người sửa chữa xe máy, A được giữ chiếc xe mà mình đã sửa cho đến khi người yêu cầu sửa xe thanh toán toàn bộ tiền sửa xe. Đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn mới trong BLDS 2005, biện pháp này được áp dụng rộng rãi trong giao lưu dân sự kinh tế ở các nước và đã từng được đề cập trong Luật dân sự La Mã. Hình thức bảo đảm mới này là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tế. Vì là một biện pháp bảo đảm mới cho nên chỉ qui định hết sức chung chung, chính điều này có thể dẫn đến nhận thức không chính xác nội dung pháp lý của nó, cho nên có thể sẽ có những nhầm lẫn tai hại trong việc áp dụng pháp luật. 2.2. Nội dung của cầm giữ. 2.2.1. Đặc điểm Cầm giữ có ba đặc điểm cơ bản: Thứ nhất: Đây là một biện pháp bảo đảm duy nhất trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được áp dụng mà không dựa trên sự thoả thuận của các bên liên quan. Vì đây là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của bên có quyền.Pháp luật là cơ sở trực tiếp phát sinh quyền được cầm giữ tài sản, nếu như trước đó các bên không có thoả thuận không áp dụng biện pháp này.Trong khi đó các biện pháp thế chấp, bảo lãnh, cầm cố chỉ áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận.Chính yếu tố này mà trong các tài liệu pháp luật nước ngoài khi đề cập đến biện pháp này thường sử dụng thuật ngữ “quyền chiếm giữ”.Cầm giữ tài sản là cách thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là quyền được pháp luật qui định của người có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ.Song đây không là hình thức “xiết nợ” thường gặp trong thực tiễn. Ví dụ: Ngày 1152013, A mang tivi đến cửa hàng của V để sửa chữa. Hai bên thỏa thuận 1 tuần sau là ngày 185 A sẽ đến lấy tivi và trả tiền sửa chữa. Đến hạn trên, A tới cửa hàng của V để lấy tivi nhưng lại chưa có tiền để thanh toán. Trong trường hợp này, ta nhận thấy: V có quyền cầm giữ tài sản của A là chiếc tivi cho đến khi A đến trả hết tiền sửa chữa mặc dù trước đó A và V không hề thỏa thuận về việc này. Thứ hai: Quyền cầm giữ tài sản chỉ được thực hiện nếu đồng thời hội đủ ba yếu tố sau: a) Vật cầm giữ đang được bên có quyền nắm giữ nhưng vật ấy thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ, tức bên cầm giữ có nghĩa vụ phải chuyển giao cho chủ sở hữu (cho bên có nghĩa vụ) hoặc cho bên thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu. b) Nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ của người chủ sở hữu vật ấy và nghĩa vụ ấy phải phát sinh trực tiếp từ vật ấy. Ví dụ: nghĩa vụ trả chi phí chăm sóc, chi phí thức ăn trong trường hợp chăm sóc súc vật nuôi, nếu như chủ sở hữu vật nuôi không chi trả chi phí này thì bên chăm sóc có quyền chiếm giữ chính vật nuôi đó cho đến khi nào chủ sở hữu chi trả xong. Những nghĩa vụ không phát sinh một cách trực tiếp từ vật cầm giữ thì bên có quyền không được cầm giữ nó. Ví dụ: A mượn của B cái nồi cơm điện trong một ngày. Đến ngày hôm sau B sang đòi lại nồi cơm, A không trả vì B còn nợ A 300 nghìn đồng và đòi B phải trả số tiền trên thì A mới trả nồi. Yêu cầu trên của A là trái pháp luật về cầm giữ tài sản vì nghĩa vụ trả tiền của B không phát sinh một cách trực tiếp từ chiếc nồi cơm điện nên A không được cầm giữ nó. Tuy nhiên pháp luật một số nước qui định rằng không áp dụng yêu cầu này nếu việc chiếm giữ có liên quan đến các chủ thể là các chủ thể kinh doanh, ví dụ: doanh nghiệp A mở tài khoản và nhận các dịch vụ tại Ngân hàng nhưng không thực hiện việc chi trả các khoản tiền phí dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng được được quyền phong toả tài khoản cho đến khi nào khách hàng trả xong nợ. c) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực hiện bởi người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết. Thứ ba: Chiếm giữ tài sản là một biện pháp có những nội dung pháp lý đồng nhất với biện pháp cầm cố vì vậy các qui định về nghĩa vụ bảo quản tài sản trong cầm giữ, xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ chính… có thể dẩn chiếu sang các điều luật tương tự trong phần cầm cố. Ngoài ra, ta còn nhận thấy cầm giữ còn có một số đặc điểm thường thấy sau: Cầm giữ tài sản áp dụng thông dụng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện các nghĩa vụ của mình trong các quan hệ hợp đồng: vận tải, gia công, thuê, ký gửi, ủy thác, sửa chữa tàu biển… Về tài sản được cầm giữ: có một số loại tài sản thường không được phép cầm giữ như một số loạitàisản dễ hư hỏng trong thời gian ngắn, cácloạitàisảnbiếnchất theo thời gian, các loại tài sản phục vụ cho các việc cứu người khẩn cấp, công vụ khẩn và đang trên đường thực hiện việc đó. Ví dụ: Ngày 2352013, bệnh viện M mang một chiếc xe cứu thương đi bảo dưỡng tại cửa hàng sửa chữa ô tô của anh N và hẹn ngày 285 sẽ đến lấy và thanh toán tiền. Đến ngày đã hẹn người của bệnh viện M tới lấy chiếc xe để sử dụng ngay cho một ca chở bệnh nhân đi cấp cứu cách đó 10km nhưng chưa có tiền thanh toán. Lúc này anh N không thể lấy cớ bệnh viện M chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền bảo dưỡng xe để cầm giữ chiếc xe đó vì chiếc xe cần sử dụng để phục vụ ngay cho việc khẩn cấp là cứu người. Người cầm giữ tài sản có vị thế rất mạnh trong quan hệ đối trọng với người có nghĩa vụ và những người có quyền khác. Người cầm giữ tài sản chỉ phải giao tài sản sau khi khoản nợ của mình được thanh toán hết. Nếu người có nghĩa vụ bán tài sản thì người cầm giữ tài sản có quyền không giao tài sản cho người mua nếu khoản nợ của mình chưa được thanh toán. Tương tự, nếu những người có quyền khác tiến hành kê biên tài sản thì người cầm giữ tài sản có thể phản đối việc kê biên chừng nào khoản nợ của mình chưa được thanh toán. Trong trường hợp phá sản doanh nghiệp, người cầm giữ tài sản cũng được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ khác. Như vậy, quyền cầm giữ tài sản là biện pháp được sử dụng để gây áp lực để người cầm giữ tài sản được thanh toán trước các chủ nợ khác, kể cả chủ nợ có bảo đảm. Ví dụ: C nhờ P nuôi hộ 2 con lợn con và hứa sẽ trả tiền công chăm sóc và tiền thức ăn cho P. Năm tháng sau, C bán 2 con lợn trên cho S nhưng C lại chưa trả tiền công chăm sóc và tiền thức ăn cho P. Như vậy P có quyền giữ lại và không giao 2 con lợn trên cho S cho đến khi P nhận được tiền công chăm sóc và tiền thức ăn. Quyền cầm giữ trao cho người cầm giữ quyền tuyệt đối chừng nào người đó còn giữ tài sản. Điều đó có nghĩa là nếu người cầm giữ tài sản khởi xướng việc kê biên, bán tài sản để thu hồi khoản nợ thì sẽ rơi vào một tình thế bất lợi vì lúc đó, sẽ không được hưởng hàng ưu tiên cao hơn các chủ nợ có thế chấp, cầm cố khác. 2.2.2.Điều kiện áp dụng. Thứ nhất: đối tượng của quyền cầm giữ phải là tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ. Đối tượng của quyền cầm giữ trong bộ luật dân sự hiện nay là “tài sản” mà theo bộ luật dân sự 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (điều 163), theo nghị định áp dụng bộ luật dân sự về phần biện pháp bảo đảm thì “giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch” (khoản 9, điều 3). Suy ra, theo bộ luật dân sự hiện hành những gì không phải tài sản thì không thuộc quyền cầm giữ. Tuy nhiên, trong luật thương mại, phạm vi của đối tượng thuộc quyền cầm giữ rộng hơn, điều 149 luật thương mại: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại diện có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao để bảo đảm việc thanh toán các khoản thù lao và chi phí đã đến hạn”, điều 239 luật thương mại: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền cầm giữ một số lượng hàng hóa nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hóa để đòi tiền nợ đã đế hạn của khách hàng”. Ví dụ thực tế: chủ cửa hàng xe máy Thanh Sang (bà Liên) và chủ cửa hàng xe máy Đông Trang (ông Quang) ký hợp động mua bán xe gắn máy với nội dung, bà Liên giao xe cho ông Quang, ông Quang bán được chiếc xe nào thì trả đủ tiền chiếc xe đó. Một thời gian sau đôi bên có tranh chấp. Trong quá trình tố tụng, ông Quang cho rằng bà Liên phải chịu trách nhiệm về việc bà Liên đã giữ 44 bộ đăng kiểm xe là trái pháp luật. Tuy nhiên, theo bản án số 812009DSST ngày 1552009 của tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, theo thỏa thuận của các bên thì “khi ông Quang trả tiền xong chiếc xe nào thì bà Liên sẽ giao phiếu đăng kiểm chiếc xe đó cho ông Quang, như vậy do ông Quang còn thiếu tiền bà Liên nên bà Liên giữ lại phiếu đăng kiểm là đúng, không vi phạm pháp luật”. Trong vụ việc trên, bà Liên đã giữ phiếu đăng kiểm xe máy để gây sức ép cho ông Quang, chừng nào ông Quang chưa thanh toán tiền xe thì bà Liên chưa đưa giấy đăng kiểm. Như vậy, đối tượng được cầm giữ không phải tài sản nhưng lại rất hiệu quả đối với bên cầm giữ. Quyền cầm giữ cũng chỉ giới hạn trong tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ, và như vậy, những gì không phải đối tượng của hợp đồng song vụ thì không có khả năng được cầm giữ. Chúng ta chưa có quy định nào về cầm giữ tài sản đối với quan hệ song vụ không phải là quan hệ “hợp đồng song vụ”. Hiện chưa có quy định đối với nghĩa vụ của cùng hai bên nhưng xuất phát từ hai hợp đồng khác nhau hay từ một cơ sở pháp lý khác. Ví dụ: A thực hiện công việc không có ủy quyền đối với một tài sản của B. Theo luật hiện hành, B phải trả cho A một khoản tiền và A phải trả cho B tài sản vì tài sản này là của B. Giữa A và B không có hợp đồng song vụ nhưng có quan hệ song vụ: cả 2 đều có nghĩa vụ với nhau. Nếu chỉ áp dụng điều 416, bộ luật dân sự 2005 thì khi B không trả tiền cho A, A sẽ không được cầm giữ tài sản của B, như vây, B sẽ gặp bất lợi. Cũng tương tự, theo điều 243, bộ luật dân sự 2005: “Trong trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc, mà người khác bắt được thì người bắt phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Chủ sở hữu nhận lại gia cầm bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được”. Vậy, nếu người có gia cầm bị thất lạc không thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác thì bên bắt được có được quyền cầm giữ gia cầm không? Hiện nay chúng ta không thể áp dụng trực tiếp điều 416 được vì các bên có quan hệ song vụ nhưng không có hợp đồng song vụ. Vì những lý do trên, chúng ta nên mở rộng cả quyền cầm giữ cho cả quan hệ song vụ khác quan hệ hợp đồng. Để đạt được điều này, chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật “áp dụng tương tự pháp luật” được quy định tại điều 3, bộ luật dân sự.(Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, TS. Đỗ Văn Đại, NXB chính trị quốc gia) Thứ hai: Tài sản cầm giữ đang được bên có quyền nắm giữ hợp pháp (đang kiểm soát, quản lý tài sản đó được sự cho phép của chủ sở hữu) nhưng tài sản ấy thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ, tức bên cầm giữ có nghĩa vụ phải chuyển giao cho chủ sở hữu (cho bên có nghĩa vụ) hoặc cho bên thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu. Thứ ba: Nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ của người chủ sở hữu tài sản và nghĩa vụ ấy phải phát sinh trực tiếp từ tài sản ấy.Những nghĩa vụ không phát sinh một cách trực tiếp từ tài sản cầm giữ thì bên có quyền không được cầm giữ nó. Tuy nhiên pháp luật một số nước qui định rằng không áp dụng yêu cầu này nếu việc chiếm giữ có liên quan đến các chủ thể là các chủ thể kinh doanh, ví dụ: doanh nghiệp A mở tài khoản và nhận các dịch vụ tại Ngân hàng nhưng không thực hiện việc chi trả các khoản tiền phí dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng được quyền phong toả tài khoản cho đến khi nào khách hàng trả xong nợ. Thứ tư: Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực hiện bởi người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết. Ví dụ: T thuê H chở một lô hàng quần áo mà T đặt mua ở cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) đến cửa hàng của T ở Hà Nội. Khi H chuyển số hàng trên đến nơi thì T chưa có tiền để thanh toán phí vận chuyển cho H. Ta thấy ở tình huống trên: H đang nắm giữ lô quần áo mà H có nghĩa vụ chuyển cho T. Lô quần áo trên thuộc sở hữu của T và T có nghĩa vụ phải trả tiền vận chuyển số quần áo đó từ Lạng Sơn đến Hà Nội cho H. Tuy nhiên T lại chưa có tiền để trả phí vận chuyển đó cho H. Như vậy trong tình huống này, H có quyền cầm giữ lô quần áo cho tới khi T trả tiền. 2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên. Bên cầm giữ có quyền và nghĩa vụ: Cầm giữ toàn bộ hoặc một phần tài sản. Thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên cầm giữ không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm giữ. Theo quy định của bộ luật dân sự hiện hành thì ngoài việc được thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ dùng để bù trừ nghĩa vụ thì bên cầm giữ không có quyền định đoạt tài sản cầm giữ. Tuy nhiên, trong luật thương mại, ở một số trường hợp, bên cầm giữ có quyền định đoạt đối với hàng hóa: khoản 2, điều 239 luật thương mại có ghi nhận, “Sau thời hạn bốn mươi lăm ngày kể từ ngày thông báo cầm giữ hàng hóa hoặc chứng từ liên quan đến hàng hóa, nếu khách hàng không trả tiền nợ thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền định đoạt hàng hóa ngay khi có bất kỳ khoản nợ đến hạn nào của khách hàng”. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của bên cầm giữ khi bên có nghĩa vụ quá chậm trong việc hoàn thành nghĩa vụ thì luật dân sự nên cho phép bên có quyền cầm giữ định đoạt tài sản, đặc biệt đối với tài sản có dấu hiệu bị hư hỏng. Bảo quản giữ gìn tài sản cầm giữ, nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ thì phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu. Yêu cầu bên có tài sản bị cầm giữ thanh toán các chi phí cần thiết cho việc bảo quản. Trả lại tài sản cầm giữ khi bên có tài sản bị cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ. Bên có tài sản bị cầm giữ có quyền và nghĩa vụ: Không được phản đối việc giữ lại tài sản thuộc sở hữu của mình của bên có quyền cầm giữ. Được bồi thường thiệt hại nếu bên cầm giữ tài sản làm mất, hư hỏng tài sản của mình. Phải trả cho bên cầm giữ khoản chi phí cho việc bảo quản tài sản của mình trong quá trình tài sản bị cầm giữ. Được yêu cầu bên cầm giữ tài sản trả lại tài sản sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ với bên cầm giữ. Ví dụ: Công ty sửa chữa tàu biển Đông Hải nhận sửa chữa 10 chiếc tàu đánh cá của công ty đánh bắt hải sản Đại Ngư. Theo hợp đồng, công ty Đông Hải sẽ sửa chữa 10 chiếc tàu trong 2 tháng với giá 3 triệu đồng1 chiếc tàu. Đến ngày hẹn giao tàu, công ty Đại Ngư chỉ có đủ tiền trả cho 5 chiếc tàu là 15 triệu đồng. Phân tích quyền và nghĩa vụ của 2 công ty trong ví dụ trên: Quyền và nghĩa vụ của công ty Đông Hải: Giữ lại 5 chiếc tàu trong số 10 chiếc tàu mà công ty Đại Ngư chưa có tiền để thanh toán. Bảo quản, giữ gìn 5 chiếc tàu, không được để 5 chiếc tàu bị hỏng hóc, mất mát. Nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải sửa chữa, bồi thường tương ứng cho công ty Đại Ngư. Trong quá trình cầm giữ, nếu phải bỏ chi phí cho việc bảo quản thì khi công ty Đại Ngư thực hiện nốt nghĩa vụ thanh toán thì có thể yêu cầu công ty này thanh toán cả khoản chi phí bảo quản trên. Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn 5 chiếc tàu. Trả lại 5 chiếc tàu khi công ty Đại Ngư hoàn thành xong việc trả tiền 5 chiếc tàu. Quyền và nghĩa vụ của công ty Đại Ngư: Chấp nhận để công ty Đông Hải giữ lại 5 chiếc tàu mà mình chưa có tiền để thanh toán cho việc sửa chữa. Nếu công ty Đông Hải làm mất, hư hỏng 5 chiếc tàu trên thì được bồi thường thiệt hại. Nếu công ty Đông Hải phải bỏ cho phí cho việc bảo quản 5 chiếc tàu thì phải thanh toán chi phí trên cho công ty Đông Hải. Được trả lại 5 chiếc tàu sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ thanh toán với công ty Đông Hải. 2.3.Chấm dứt cầm giữ. Quyền cầm giữ chấm dứt trong các trường hợp sau đây: Theo thỏa thuận của các bên: tức là bên cầm giữ đồng ý trả tài sản mà mình đang cầm giữ cho bên có nghĩa vụ. Để đạt được thỏa thuận này có thể xuất phát từ sự tin cậy giữa hai bên giao kết hợp đồng hoặc bên có nghĩa vụ phải đáp ứng các điều kiện khác do hai bên thỏa thuận. Bên cầm giữ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ. Xuất phát từ tài sản cầm giữ chính là đối tượng của hợp đồng, bên cầm giữ có nghĩa vụ giao tài sản này cho bên bị cầm giữ nếu bên bị cầm giữ không vi phạm hợp đồng, nên khi thực hiện quyền cầm giữ, nếu bên cầm giữ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ sẽ là một trong các trong các trường hợp chấm dứt quyền cầm giữ của bên có quyền. Trong BLDS năm 2005 không nêu rõ giải quyết trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo quản cầm giữ này ra sao. Do đó, nếu quyền cầm giữ không còn thì bên cầm giữ phải giao tài sản lại cho bên bị cầm giữ tài sản, mỗi bên đều phải chịu sự trách nhiệm của mình theo hợp đồng đã kí kết hoặc theo quy định của pháp luật. Bên có tài sản bị cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ. Khi bên có tài sản cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng thì chấm dứt quyền cầm giữ của bên có quyền, vì lúc này điều kiện phát sinh quyền cầm giữ đã không còn. Ví dụ: L mang đến cửa hàng kim hoàn của anh K một viên đá quý yêu cầu anh K chế tác nó thành một chiếc nhẫn hình trái tim. Hai bên thoả thuận một tháng sau, anh K giao hàng còn L thanh toán tiền công. Đến ngày hẹn, anh K mang chiếc nhẫn hình trái tim đã được chế tác từ viên đá quý đến nhà L, tuy nhiên L lại chưa có tiền trả cho K. Vì vậy, K đã giữ lại chiếc nhẫn. Trong tình huống trên, quyền cầm giữ chiếc nhẫn của K sẽ chấm dứt khi một trong những trường hợp sau xảy ra: Khi L và K có thỏa thuận với nhau là K giao chiếc nhẫn cho L và L sẽ trả tiền sau dựa trên sự tin tưởng của 2 bên với nhau. Trong lúc cầm giữ K đã làm hư hỏng chiếc nhẫn của L. L đã trả tiền chế tác cho K. 2.4. So sánh với cầm cố Giống nhau: đều có mục đích đảm bảo cho nghĩa vụ được thực hiện đúng. Khác nhau: Nội dung Cầm giữ Cầm cố Thờiđiểm phát sinh Sau khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng Trước hoặc ngay từ khi giao kết hợp đồng, thờiđiểm nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì tài sản cầm cố đượcđưa ra xử lý Cơ sở phát sinh Pháp luật quy định Theo thỏa thuận của các bên tham gia nghĩa vụ Tài sản cầm cố hoặc cầm giữ Chính là đối tượng của hợp đồng song vụ. Bên có quyền có thể tự mình cầm giữ hoặc giao cho người thứ ba mà không cần sự thỏa thuận của bên bị cầm giữ tài sản. Bên cầm giữ không có quyền xử lý tài sản cầm giữ, được thu hoa lợi và lợi tức từ tài sản cầm giữ; được dùng số hoa lợi, lợi tức này để bù trừ nghĩa vụ. Là tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố hoặc tài sản được hình thành trong tương lai. Các bên thỏa thuận bên cầm cố hoặc người thứ ba giữ tài sản cầm cố. Bên nhận cầm cố tài sản có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thứcđã thỏa thuận, không được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồngý. Số lượng Điều luật trong BLDS Một điều luật (Điều 416). 16 điều luật (từĐiều 326 đếnĐiều 341). Ví Dụ A thiếu tiền ăn chơi nên đã vay tiền B hẹn 1 tuần trả. 1 tuần sau A chưa trả, A và B thỏa thuận B giữ chiếc đồng hồ của B cho đến khi A trả hết nợ. A thiếu tiền ăn chơi nên đã đến tiệm cầm đồ và cầm cố chiếc xe máy của mình ở lại tiệm với giá X đồng và hẹn 1 tuần sau sẽ quay lại chuộc xe. 2.5. So sánh với Nhật Bản Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, một trong những vấn đề quan trọng, có nhiều ý kiến khác nhau đó là cơ chế pháp lý giữa chủ nợ có bảo đảm trong vật quyền bảo đảm pháp định với chủ nợ có bảo đảm trong vật quyền bảo đảm ước định. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản (đất nước có quy định về vật quyền bảo đảm pháp định để hạn chế các quy định có thể dẫn đến bất bình đẳng giữa các chủ nợ có bảo đảm). Giống nhau: + Biện pháp bảo đảm do pháp luật quy định. + Mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ + Người cầm giữ có vị thế rất mạnh trong quan hệ cầm giữ Khác nhau Nội dung Việt Nam Nhật Bản Điều kiện áp dụng Sau khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng Người có trái quyền phải đang chiếm hữu vật bị cầm giữ. Trái quyền được bảođảm phải đến hạn thanh toán. Giữa trái quyền và đối tượng của trái quyền (vật) phải có quan hệ khăng khít Quyền các bên Bên cầm giữ không có quyền xử lý tài sản cầm giữ, được thu hoa lợi và lợi tức từ tài sản cầm giữ; được dùng số hoa lợi, lợi tức này để bù trừ nghĩa vụ. Thừa nhận quyền chiếm hữu tài sản của bên có quyền, nhưng không công nhận quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản (nghĩa là bên có quyền cầm giữ không đương nhiên được bán tài sản để thanh toán cho trái quyền). Tài sản cầm giữ Chính là đối tượng của hợp đồng song vụ. Không phải chuyển quyền sở hữu Bắt buộc phải thuộc quyền sở hữu của bên có nghĩa vụ hay có thể thuộc sở hữu của người khác, nhất là trong quan hệ giữa các thương nhân). Tính chất trái quyền vật quyền 2.6. Đánh giá Nói tới “Chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của Hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản”, ta có thể hiểu như sau : Hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản là dạng hợp đồng song vụ có yếu tố: Bên có quyền được “chiếm giữ” một tài sản nào đó nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ . Do đó, trước khi giao kết hợp đồng, các bên sẽ phải nhất trí chọn ra một món tài sản để làm vật bảo đảm. Cho đến khi bên kia không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ, bên có quyền sẽ được chiếm giữ món tài sản bảo đó. Vật bảo đảm đó chính là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản Ta có thể xét đến một số văn bản trên thế giới về cầm giữa như: CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CẦM GIỮ VÀ CẦM CỐ HÀNG HẢI 1993 (Tổ chức tại Palais des Nations, Geneva, từ 19 tháng 4 đến 6 tháng 5 năm 1993), theo đó quyền cầm giữ hàng chỉ được thực hiện khi: Món nợ phải là tiền cước, phí hay những khoản tiền khác của chính lô hàng đang trở trên tàu. Cầm giữ hàng đang trên tàu hoặc hàng đã dỡ xuống kho cảng nhưng vẫn còn nằm trong sự kiểm soát của người chuyên chở. Những trường hợp nằm ngoài 2 điều kiện kể trên chủ tàu không được áp dụng điều khoản cầm giữ hàng cho dù hợp đồng hay vận đơn có đề cập đến điều khoản cầm giữ hàng hay không. Ở một số nước, quyền cầm hàng hóa không được hệ thống pháp luật công nhận và cho phép, ví dụ như ở những nước mà việc nhập khẩu hàng hóa đều do Chính phủ hoặc những cơ quan dịch vụ của Chính phủ đảm nhận. Ở những nước này, hàng hóa là thuộc sở hữu của Nhà nước, chủ tàu khó thực hiện được quyền cầm giữ hàng hóa. Còn ở Việt Nam, ngày 22 tháng 2 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 112012NĐCP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 1632006NĐCP ngày 29 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về giao dịch bảo đảm (các điều từ 318 đến 373). Quyền cầm giữ tài sản có phạm vi khá hẹp vì chỉ phát sinh trong quan hệ hợp đồng song vụ và chưa được coi là một biện pháp bảo đảm (điều 416 Bộ luật Dân sự). Tuy vậy, Nghị định mới đã cải thiện đáng kể vị thế của bên cầm giữ khi quy định bên cầm giữ chỉ phải giao tài sản mà mình đang cầm giữ cho bên nhận thế chấp để xử lý sau khi bên nhận thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ đã hoàn thành nghĩa vụ đối với bên cầm giữ (điều 21, Nghị định 163). Như vậy, chừng nào bên cầm giữ tài sản còn chưa được thanh toán thì bên này vẫn có quyền cầm giữ tài sản. Duy chỉ có điều Nghị định mới không nói rõ nguyên tắc này có được áp dụng hay không trong trường hợp bên thế chấp tài sản cầm giữ lâm vào tình trạng phá sản. Nếu thừa nhận bên cầm giữ tiếp tục được thực hiện quyền cầm giữ trong trường hợp này sẽ tăng cường hiệu quả của biện pháp cầm giữ tài sản. 3. Bảo lưu quyền sở hữu Anh A mua một chiếc xe máy giá 33 triệu đồng tại cửa hàng X, tuy nhiên anh A không trả một lần mà trả tiền cho cửa hàng X dưới hình thức trả góp. Lúc này việc mua xe của anh A là hình thức bảo lưu quyền sở hữu. 3.1. Khái niệm Bảo lưu là “Giữ lại ý kiến riêng của mình khác với ý kiến của đa số nghị quyết để tiếp tục làm sang tỏ sự đúng, sai trong những lần sau.Bảo lưu là cách tránh sự áp đặt ý kiến vẫn phải phục tùng tuyệt đối và hành động theo quyết định của tập thể và không được chống lại.” “Pháp nhân khi tham gia hoặc kí kết một điều ước tổ chức tuyên bố không chấp nhận một số điều khoản nhất định, không chịu ràng buộc về mặt pháp lý bởi nội dung một số điều khoản của điều ước ấy.” “Quyền sở hữu”: là quyền dân sự, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. “Quyền sở hữu tài sản”: quyền sở hữu tài sản hữu hình là quyền đầy đủ nhất đối với tài sản vì người chủ tài sản có 3 quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. 2.Các hình thức sở hữu gồm sở hữu toàn dân , sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trịxã hội, sở hữa tập thể, tư nhân, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, sở hữu hỗn hợp, sở hữu chung. 3. Chủ sở hữu có thể là : cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác có ba quyền nói trên Trong Bộ luật dân sự 2005 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được đề cập đến trong điều 461 Mua trả chậm, trả dần như một trường hợp riêng của hợp đồng mua bán tài sản, dạng hợp đồng này được giao kết với điều kiện trì hoãn, bảo lưu quyền sở hữu của các bên đối với tài sản đã bán. Vậy đây là cơ sở pháp lý trọng tâm mà từ điều luật này chúng ta có thể xem xét một cách toàn diện vấn đề Bảo lưu quyền sở hữu là một hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính thức, chứ không phải là một hình thức đặc biệt, một trường hợp đơn giản bằng một điều luật của hợp đồng mua bán tài sản. Có thể hiểu mua trả chậm là việc bên mua sẽ trả toàn bộ tiền cho bên bán sau một thời gian nhất định sau khi giao kết hợp đồng và mua bán tài sản. Còn mua trả dần là phương thức thanh toán nhiều lần( sô tiền trả trong một lần và thời ginan được trả dần theo thỏa thuận của các bên) mặc dù tài sản mua bán được chuyển giao ngay cho người mua ngay sau khi kí kết hợp đồng mua bán. 3.2. Nội dung bảo lưu quyền sở hữu 3.2.1. Đặc điểm • Bên mua đã nhận vật nhưng quyền sở hữu vật vẫn thuộc bên bán. Lúc này việc mua bán vẫn chưa làm phát sinh quyền sở hữu với người mua mà chỉ xảy ra khi bên mua đã đồng ý lấy vật và thực hiện xong nghĩa vụ. • Khi nhận được tài sản mua bán và có quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng, còn bên bán vẫn được sở hữu tài sản. • Theo đó bên bán có thể bán được tài sản, còn bên mua có cơ hội có được tài sản mà mình mong muốn khi họ chưa thể đủ tiền mua ngay. • Khác với các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, kỹ quỹ, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ) bên nhận vật lại là bên có nghĩa vụ phải thực hiện công việc, hành vi nào đó. Việc quy định vấn đề bảo lưu quyền sở hữu nhằm giúp cho bên mua khi nhận được tài sản họ phải sử dụng tài sản một cách có hiệu quả, có ý thức bảo vệ tài sản và có trách nhiệm thanh toán tiền cho bên bán khi đến hạn. Còn bên bán được quyền ưu tiên thanh toán khi mà bên mua có rủi ro, đảm bảo quyền lợi cho bên bán có thể nhận được đầy đủ giá trị tài sản khi giao tài sản cho bên mua. 3.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong bảo lưu quyền sở hữu. Ngoài quyền và nghĩa vụ chung của các bên trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng, tuân thủ các quy định chung về hợp đồng mua bán tài sản, thì các bên trong hợp đồng co quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây: • Bên mua Có nghĩa vụ thanh toán đúng theo thỏa thuận (trả tiền đủ, đúng hạn). Ngoài ra còn phải chịu rủi ro khi sử dụng sản phẩm. Bên mua có quyền sử dụng khai thác công dụng của tài sản là đối tượng mua bán. • Bên bán Có quyền đòi lại tài sản đã bán nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán (như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, trả tiền không đúng hạn…). bên bán còn quyền sở hữu với tài sản. Như vậy, trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu bên bán là bên nhận bảo đảm vì thông qua biện pháp này bên bán được bảo đảm là chắc chắn sẽ bán được hàng cho bên mua, chắc chắn giao dịch mua bán sẽ được diễn ra, sự trì hoãn quyền bảo lưu của bên bán đối với tài sản là đối tượng mua bán để đảm bảo cho người bán bán được hàng và thu được đúng số tiền mà bên mua phải trả. Trong khi đó bên bảo đảm là bên mua, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu vẫn làm cho bên bảo đảm tuy chưa chính thức trở thành chủ sở hữu tài sản bảo đảm nhưng được giữ tài sản và khai thác công dụng của tài sản đó, và nghĩa vụ trả tiền thuộc về bên bảo đảm, rủi ro trong thời gian sử dụng đối tượng bảo đảm thuộc về bên bảo đảm. 3.2.3. Phương thức thực hiện Hợp đồng mua trả chậm trả dần phải được lập thành văn bản với hình thức được quy định chặt chẽ. Do việc thực hiện nghĩa vụ của các bên không phát sinh và chấm dứt ngay mà đó là cả một quá trình rất phức tạp dễ xảy ra tranh chấp. Hợp đồng ngoài quy dịnh về đối tượng, giá cả, thời gian chậm thanh toán, các bên phải thỏa thuận về hậu quả pháp lý khi bên mua vi phạm nghĩa vụ với bên bán. Đối tượng thường là những tài sản có đăng ký quyền sở hữu (như ô tô, xe máy, nhà…). Bên bán chọn một trong hai phương thức: không tạo điều kiện để bên mua làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu hoặc cùng bên mua làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài sản cho bên mua nhưng bên bán giữ lại bản gốc. 3.2.4. Yêu cầu về hình thức của hợp đồng mua trả chậm, trả dần • Theo Khoản 2 Điều 461: Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Do đó, Hợp đồng mua trả chậm, trả dần phải được lập thành văn bản. Quy định hình thức chặt chẽ cho hợp đồng mua bán tài sản trả chậm, trả dần xuất phát từ cơ sở: trong hình thức mua bán này, việc thực hiện nghĩa vụ của các bên không phát sinh và chấm dứt ngay mà là cả một quá trình. Theo thông tư số 042007TT BTP ngày 17052007 Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ . Việc hợp đồng mua trả chậm, trả dần được thành lập bằng văn bản như vậy sẽ giúp cho bên bán dễ thực hiện quyền yêu cầu của mình, nâng cao trách nhiệm của bên mua đối với việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết Giá trị của đăng ký đối với các bên. “Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm” (khoản 1 Điều 2 Nghị định số 83 năm 2010). Trong thực tế chúng ta gặp không hiếm trường hợp biện pháp bảo đảm không được đăng ký và, khi có tranh chấp giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm (không có tranh chấp với người thứ ba), câu hỏi đặt ra là giao dịch bảo đảm không đăng ký có giá trị pháp lý không? Điều 13. Nghị định 163CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm “ Điều 13. Trường hợp tài sản bảo đảm không thuộc sở hữu của bên bảo đảm 1. Trong trường hợp bên bảo đảm dùng tài sản không thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản theo quy định tại các Điều 256, 257 và 258 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều này. 2. Trong trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê có thời hạn từ một năm trở lên của doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh gồm máy móc, thiết bị hoặc động sản khác không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu và hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê thì bên bán có bảo lưu quyền sở hữu, bên cho thuê có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm; nếu không đăng ký hoặc đăng ký sau thời hạn trên và sau thời điểm giao dịch bảo đảm đã đăng ký thì bên nhận bảo đảm được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm. 3. Tổ chức, cá nhân nhận bảo đảm bằng tài sản mua trả chậm, trả dần, tài sản thuê sau thời điểm đăng ký hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê không được coi là bên nhận bảo đảm ngay tình” 3.3. So sánh mua trả chậm, trả dần và mua sau khi sử dụng Tiêu chí Mua sau khi sử dụng thử (Điều 460) Mua trả chậm, trả dần (Điều 461) Khái niệm Mua sau khi sử dụng thử là việc sau khi sử dụng thử bên mua quyết định mua vật. Trả chậm là việc thanh toán một lần nhưng không phải là thanh toán ngay.(Bên mua sẽ trả tiền một thời gian nhất định sau khi giao kết hợp đồng và nhận tài sản). Mua trả dần là thanh toán nhiều lần mặc dù tài sản mua bán được chuyển giao ngay cho người bán sau khi kí hợp đồng mua bán. (Bên mua trả thành nhiều lần và số tiền trả trong một lần do thỏa thuận các bên). Hình thức hợp đồng Có thể hợp đồng hoặc không có Có hợp đồng bằng văn bản Quyền các bên Trong thời hạn dùng thử, vật vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán. Bên mua có quyền sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Bên bán có quyền đòi lại tài sản đã bán nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán (như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, trả tiền không đúng hạn…). bên bán còn quyền sở hữu với tài sản. Nghĩa vụ Bên bán phải chịu mọi rủi ro xảy ra đối với vật nếu không có thỏa thuận khác, không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên mua chưa trả lời Bên mua nếu không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và bồi thường thiệt hại nếu làm mất mát, hư hỏng vật dùng thử Bên mua có nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Hiệu lực sau khi giao kết Chưa phát sinh hiệu lực mà còn phải chờ sự trả lời chấp nhận hay không chấp nhận mua sau một thời gian dùng thử của bên mua. Phát sinh hiệu lực ngay khi chấp nhận mua vật. 3.4. Thực tế áp dụng Quy định về bảo lưu quyền sở hữu mới chỉ được đề cập đến như một trường hợp đặc biệt của hợp đồng mua bán, cụ thể tại điều 461 hợp đồng mua trả chậm, trả dần, thuộc II một số quy định riêng về mua bán tài sản, mục 1 Hợp đồng mua bán Bộ luật dân sự 2005. Như vậy bảo lưu quyền sở hữu chưa được công nhận là một biện pháp đảm bảo chính thức trong luật. Bộ luật quy định về việc hạn chế quyền sở hữu trong trường hợp mua trả chậm, trả dần (Điều 461) cùng với thông tư số 042007TTBTP ngày 17052007 của Bộ Tư pháp, nhưng lại không quy định và không có biện pháp ràng buộc, nên đã dẫn đến tình trạng người mua trả chậm trả dần tài sản có thể mang bán, cầm cố, thế chấp tài sản đó, và người mua, người nhận cầm cố, thế chấp sẽ bị thiệt hại do tài sản vẫn thuộc sở hữu của người bán đầu tiên. Nước ta hình thức này coi là một phương thức khuyến khích bán hàng của nhiều doanh nghiệp. Ví dụ: sản phẩm đầu tiên được bán theo hình thức này trên thị trường việt nam là xe máy “Angle” của SYM. Thông thường lãi xuất trong trường hợp mua tài sản trả chậm, trả dần là lãi xuất ưu đãi mang tính chất hỗ trợ cho bên mua tài sản trả chậm, trả dần. Tuy nhiên có vấn đề khi chưa thành toán hết tiền cho bên bán, bên mua có quyền bán, tặng, cho, cho thuê… hay nói cách khác có quyền định đoạt với tài sản hay không? Trên thực tế vẫn xảy ra dù điều 461 không quy định khi bên bán đồng ý. Đây là các biện pháp còn có ý kiến khác nhau, do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn các nội dung cần điều chỉnh. Có ý kiến cho rằng cầm giữ tài sản không phải là biện pháp bảo đảm. mà là hậu quả pháp lý do pháp luật quy định khi xảy ra vi phạm trong một số hợp đồng nhất định, ví dụ: hợp đồng giử giữ tài sản, dịch vụ… Do đó, cũng có thể không để các điều từ Điều 350 đến Điều 352 tại phần các biện pháp bảo đảm, mà chuyển vào phần thực hiện hợp đồng để áp dụng cho các trường hợp pháp luật có quy định về cầm giữ tài sản. Một số trường hợp trong thực tiễn hiện nay có thể coi là một thiếu sót của Bộ luật dân sự hiện hành khi để biện pháp bảo lưu quyền sở hữu ngoài danh sách những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ pháp định ngoài ý chí. mà pháp luật Việt Nam chưa dự liệu đến, cần nghiên cứu thêm một số trường hợp có thể xảy ra đối với tài sản khi tồn tại quan hệ bảo lưu quyền sở hữu. Ví dụ một người mua một căn nhà trả góp, thực chất đây là việc bên mua nợ bên bán một khoản tiền và bên bán vẫn đứng tên là chủ sở hữu để đảm bảo việc bên mua sẽ trả đủ tiền, bên mua đã được giao nhà và sử dụng nhà, vấn đề đặt ra là trong trường hợp xảy ra rủi ro do bất khả kháng (mưa, bão) làm căn nhà bị sập, vậy bên nào sẽ là người chịu rủi ro? Theo quy định tại Điều 158 thì rõ ràng người chủ sở hữu (người bán nhà) phải chịu thiệt hại, điều này không phù hợp với bản chất của vấn đề, từ hợp đồng mua bán nhà phát sinh hợp đồng vay nợ được bảo đảm bằng việc bảo lưu quyền sở hữu, trên thực tế quyền sở hữu căn nhà thực chất đã thuộc bên mua nhà. Do đó nên quy định ngoại lệ của thời điểm chuyển dịch rủi ro trong trường hợp bảo lưu quyền sở hữu. Việc nghiên cứu để đưa chế định này vào Bộ luật dân sự như là một biện pháp đảm bảo là việc cần thiết trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên việc đưa vào giao dịch đảm bảo cũng cần nghiên cứu một cách kĩ lưỡng bởi hệ quả của nó kéo theo rất lớn, sẽ có thể gây chồng chéo với các biện pháp đảm bảo khác…. Chế định này có ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế hiện nay, nó sẽ thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triền, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các bên một cách tốt nhất. Do đó cần đẩy mạnh nghiên cứu để quy định chế định này trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự tới đây. 3.5. Một số tham chiếu luật pháp các nước về vấn đề bảo lưu quyền sở hữu Bảo lưu quyền sở hữu động sản theo BLDS Pháp: Là điều khoản bảo đảm rất phổ biến trong hợp đồng mua bán tài sản là động sản theo đó bên bán được bảo lưu quyền sở hữu cho tới khi bên mua thanh toán hết giá trị hợp đồng, ngay cả khi tài sản đã được giao cho bên mua. Do quyền sở hữu được bảo lưu gắn liền với quyền yêu cầu thanh toán nên kéo theo hai hệ quả sau: Nếu quyền đòi nợ này được chuyển nhượng thì quyền sở hữu được bảo lưu cũng đi theo quyền đòi nợ; Nếu bên mua bán lại tài sản thì quyền sở hữu được bảo lưu cũng đi theo tài sản. Nếu bên mua không có khả năng thanh toán thì phải trả lại tài sản. Nếu tại thời điểm trả lại tài sản, giá trị của tài sản lớn hơn số tiền nợ được bảo đảm thì bên bán phải trả lại cho bên mua phần chênh lệch. Việc bảo lưu quyền sở hữu được một số nước coi là biện pháp bảo đảm an toàn tín dụng như CHLB Đức, vì chậm thanh toán hoặc thanh toán theo định kỳ là một trong các hình thức tín dụng rất phổ biến trong mua bán, cung ứng hàng hóa, trong đó bên mua và bên nhận cung ứng hàng hóa được trả chậm, trả dần. Do đó, các bên thường áp dụng cơ chế bảo lưu quyền sở hữu. Cũng có ý kiến cho rằng trong trường hợp này, các bên nên áp dụng cơ chế thế chấp tài sản sẽ phù hợp và thuận tiện hơn, vì BLDS đã có quy định rõ ràng về thế chấp. 4. Tổng kết Trên đây là nhưng thông tin, ý kiến về Cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu – hai chế định đã được quy định trong BLDS 2005 tuy chưa được chính thức ghi nhận tại điều 318 BLDS 2005 nhưng đã có vai trò, đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế từ trước đến nay 2 biện pháp này đã được áp dụng rất phổ biến và đem lại hiệu quả cao. Đây cũng là hai biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thông dụng được các nước trên thế giới ghi nhận và áp dụng rộng rãi, điển hình như ở Nhật Bản. Vì vậy, việc ghi nhận 2 biện pháp này trong BLDS 2005 của VN là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, với cách quy định của BLDS 2005 ta lại thấy rằng 2 biện pháp này chưa được ghi nhận tài Điều 318: “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Quy định như vậy dường như đã làm mất đi phần nào vị thế, tầm quan trọng của nó trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy 2 biện pháp này là biện pháp bảo đảm ngoài ý chí nhưng cũng như các biện pháp khác, chúng cần được đánh giá một cách đúng đắn hơn, xem xét một cách cụ thể hơn. Vì thế, cần thiết phải quy định lại, đánh giá đúng đắn tầm quan trọng của 2 biện pháp này.
Xem thêm

29 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH HÀ TĨNH

luật về các biện pháp bảo đảm nói chung, nhằm xây dựng hệ thống pháp luậtViệt Nam thống nhất, hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Thế chấp quyền sử dụng đất qua thực tiễn tạitỉnh Hà Tĩnh” cho luận văn cao học chuyên ngành luật của mình.1. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thế chấp quyềnsử dụng đất đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận án thạc sỹnhư: Luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Thanh Hằng về “Thế chấp quyền sử dụngđất bảo đảm hợp đồng tín dụng Ngân hàng ở nước ta hiện nay”; Luận vănthạc sỹ của Nguyễn Thị Dung về “Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sỹ về “Hợp đồng thế chấp quyềnsử dụng đất ở” của Vũ Minh Tuấn….Ngoài ra, liên quan đến nghiên cứu cácquy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất còn được một số tác giảkhác như Phạm Công Lạc, Trương Thị Kim Dung, Nguyễn Quang Tuyến,Hoàng Thị Hải Yến, Nguyễn Thanh Hương…đề cập trong các luận văn thạcsỹ nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, một số sinh viênlàm khóa luận tốt nghiệp và một số bài viết đăng trên các tạp chí như nghiêncứu lập pháp, Luật học, Nhà nước và Pháp luật…. Các công trình, bài viếttrên đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất,thế chấp tài sản, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể cả về lýluận và thực tiễn thế chấp quyền sử dụng đất, cũng như việc giải quyết cáctranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại địa phươngHà Tĩnh.1. 3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:Đề tài “Thế chấp quyền sử dụng đất qua thực tiễn tại tỉnh Hà Tĩnh”được nghiên cứu trong phạm vi khái quát theo các nội dung: Khái niệm, ýnghĩa, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, trình tự, thủ tục…. về thế chấp
Xem thêm

94 Đọc thêm

VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG THUÊ TÀI CHÍNH

VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG THUÊ TÀI CHÍNH

1.Nhanh chóng tiếp cận nguồn vốn đổi mới máy móc thiết bị; phương tiện,dây chuyền sản xuất…Các doanh nghiệp thiếu vốn có thể lựa chọn giải pháp thuê tài chính, thay vìmua thiết bị. Thuê tài chính giúp cho bạn tiếp cận được với rất nhiều loại thiếtbị, từ những thiết bị văn phòng đơn giản như máy photocopy, máy tính, xe tải,xe ô tô cho tới các dây chuyền sản xuất hiện đại. Mặc dù thuê tài chính khôngtrực tiếp chuyển vốn cho bạn, hình thức này hoàn toàn có thể giúp bạn giảmlượng tiền bạn cần để khởi sự hoặc mở rộng doanh nghiệpThuê tài chính cũng giúp doanh nghiệp bắt kịp với công nghệ. Điều này đặcbiệt quan trọng nếu ngành kinh doanh của bạn phải dựa nhiều vào các côngnghệ tân tiến như thế hệ máy tính mới nhất, các công cụ truyền thông, dâychuyền công nghệ mới hoặc các thiết bị khác. Kênh tín dụng này cũng cho phépdoanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn máy móc thiết bị,nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng loại phù hợp với yêu cầu của doanhnghiệp mình, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tận dụngđược cơ hội kinh doanh.Nhiều hợp đồng thuê ngắn hạn có thể sẽ tiết kiệm hơn là việc sau một hai nămlại mua thiết bị mới.2.Thủ tục đơn giản và yêu cầu về tín dụng thấpNếu bạn cần có máy móc, thiết bị ngay lập tức, việc đi thuê sẽ được chấp thuậnnhanh hơn nhiều so với các khoản vay tín dụng, và không cần nhiều thủ tục giấytờ phiền hà, các yêu cầu về tín dụng cũng dễ chịu hơn. Nhất là với các doanhnghiệp đang ở giai đoạn khởi đầu3.Việc thuê tài chính sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc đi vay ngân hàng.Thông thường đối với các khoản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàngthương mại luôn đòi hỏi tài sản đảm bảo (thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vaytối đa là 80% tổng chi phí thực hiện dự án, nhưng với kênh cho thuê tài chính,doanh nghiệp chẳng những không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp
Xem thêm

17 Đọc thêm

 5 XÂY DỰNG MỘT BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CÓ ĐỐITƯỢNG LÀ CÔNG VIỆC PHẢI THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN ĐỂ QUA ĐÓ XÁCĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN KHI CÓ SỰ VI PHẠM NGHĨA VỤ THEO NHỮNG DỮKIỆN TRONG TÌNH HUỐNG

5 XÂY DỰNG MỘT BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CÓ ĐỐITƯỢNG LÀ CÔNG VIỆC PHẢI THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN ĐỂ QUA ĐÓ XÁCĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN KHI CÓ SỰ VI PHẠM NGHĨA VỤ THEO NHỮNG DỮKIỆN TRONG TÌNH HUỐNG

2Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sựĐại học Luật Hà NộiTrần Tú Giang MSSV 340262Hợp đồng giữa 2 bên được ký kết ngày 21-5-2009 và đi kèm là một hợpđồng thế chấp tài sản. Theo đó thì ông A yêu cầu công ty B chuyển những giấytờ chứng nhận quyền sở hữu mảnh đất. Công ty B giao những giấy tờ chứngthực quyền sở hữu mảnh đất bên cạnh cho ông A, và nếu như nghĩa vụ khôngthực hiện được hoặc thực hiện không đúng thì công ty B sẽ phải giao mảnh đấtcho ông A kem theo một số tiền là 200 triệu đồng theo thỏa thuận, còn ông A sẽtrao lại mảnh đất của mình (mảnh đất đang yêu cầu xây dựng) cho công ty B.Sau 2 tháng, tuy gặp sự cố trông vấn đề thi công công trình và một số thayđổi về nhân sự, nhưng công ty A vẫn giao nhà đúng hạn cho ông A. Nhưng khikiểm tra nhà thì ông A phát hiện tầng 2 của ngôi nhà có quá nhiều điểm khácbiệt so với mẫu thiết kế ban đầu của ông.C) Quyền và nghĩa vụ của các bên1) Quyền và nghĩa vụ của ông A :Quyền mà ông A được nhận khi có sự vi phạm hợp đồng: ông A có quyềnyêu cầu công ty B phải chuyển giao ngay quyền sở hữu mảnh đất thế chấp vàtrả ngay số tiền 200 triệu đồng theo thỏa thuận ban đầu được ghi trong hợpđồng.Nghĩa vụ àm ông A phải thực hiện là trao quyền sử hữu mảnh đất hiện tạicủa ông cho công ty B theo đúng thỏa thuận ban đầu được ghi trong hợpđồng.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành

BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành Một số vấn đề lí luận và thực tiễn Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1 Lời mở đầu Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, bán đấu giá tài sản đã dần trở nên phổ biến và quen thuộc. Đi cùng với việc bán đấu giá tài sản ngày càng phát triển là sự ra đời của những qui định pháp luật xoay quanh vấn đề này. Bộ luật dân sự 2005 có qui định về bán đấu giá tài sản, song kèm theo đó còn có các văn bản pháp luật có hiệu lực khác cùng qui định về vấn đề này để nhằm đảm bảo có một cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất và chặt chẽ trong việc thực hiện bán đấu giá tài sản. Bài viết dưới đây với chủ đề: “Bán đấu giá tài sản theo qui định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.”, trình bày một phần nào đó những vấn đề liên quan tới bán đấu giá tài sản. Nội dung 1.Những vấn đề cơ bản của bán đấu giá tài sản 1.1.Khái niệm bán đấu giá tài sản Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai để cho nhiều người có thể được tham gia trả giá mua một tài sản. Những người tham gia mua tài sản bán đấu giá phải nộp một khoản lệ phí theo pháp luật qui định. Khoản tiền này nhằm ràng buộc người đã đăng kí phải tham gia mua tài sản đấu giá. Nếu người đã đăng kí mà không tham gia đấu giá hoặc không mua tài sản thì số tiền này không được lấy lại. Nếu họ có tham gia đấu giá nhưng không mua được thì được nhận lại số tiền mà mình đã đóng. Khi tham gia đấu giá tài sản, người nào trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm thì người đó được mua tài sản. Nếu trong cuộc bán đấu giá mà không ai trả giá cao hơn giá khời điểm thì cuộc bán đấu giá xem như không thành và sẽ được tổ chức lại. Thông qua hình thức bán đấu giá tài sản, quyền lợi của người có tài sản được thỏa mãn một cách tốt nhất, còn người mua sẽ mua được tài sản với giá cả phù hợp, các quyền lợi của người mua liên quan đến tài sản đã mua được đáp ứng một cách nhanh chóng. 1.2.Chủ thể của bán đấu giá tài sản 1.2.1.Người bán đấu giá tài sản Người bán đấu giá tài sản là trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản do sở tư pháp trực tiếp quản lí hoặc các tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá có tư cách pháp nhân. Người bán đấu giá có nghĩa vụ thông báo, niêm yết công khai, đầy đủ, chính xác thông tin cần thiết có liên quan đến tài sản đấu giá. Các thông tin về bán đấu giá (như: thời gian bán đấu giá, loại tài sản, giá khởi điểm…) phải được niêm yết tại trụ sở của tổ chức bán đấu giá. Nếu tài sản là bất động sản hoặc động sản có giá khởi điểm từ 10 triệu đồng trở lên buộc phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng 2 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày, nhằm mục đích thu hút nhiều người biết về việc bán đấu giá tài sản hơn cũng như đảm bảo tính khách quan hơn. Người bán đấu giá phải bảo quản tài sản được giao, không được sử dụng tài sản, nếu làm hư hỏng, mất mát thì phải bồi thường thiệt hại. Trước khi bán đấu giá phải trưng bày, cho xem hồ sơ tài sản bán đấu giá. Đặc biệt đối với tài sản như nhà ở, quyền sử dụng đất phải có đầy đủ các giấy tờ hợp pháp về sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất. Người bán đấu giá phải đảm bảo quyền sở hữu cho người mua về nhà ở, đảm bảo quyền sử dụng đất cho người mua theo các qui định về chuyển quyền sử dụng đất trong BLDS và các qui định của pháp luật đất đai. Sau khi bán đấu giá, người bán đấu giá phải giao ngay cho người mua tài sản đấu giá nếu là động sản. Đối với tài sản phải đăng kí quyền sở hữu, người bán đấu giá phải giao cho người mua sau khi người mua thanh toán xong tiền mua. Người bán đấu giá có nghĩa vụ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho người mua. Các chi phí làm thủ tục chuyển quyền sở hữu được trừ vào tiền bán đấu giá tài sản kể cả lệ phí công chứng, văn bản bán đấu giá và lệ phí trước bạ sang tên. Vì vậy, khi định giá khởi điểm bán đấu giá cần phải tính thêm vào giá trị tài sản để tránh thiệt hại cho người có tài sản. Người bán đấu giá có quyền yêu cầu người bán tài sản cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin liên quan đến tài sản bán đấu giá và chịu trách nhiệm về các thông tin đó. Thông thường, nếu người bán tài sản tựu nguyện bán đấu giá thì các thông tin do họ cung cấp sẽ đầy đủ, chính xác. Tuy nhiên, người bán đấu giá vẫn cần xem xét, kiểm tra tính đúng đắn và hợp pháp của thông tin đó. Trường hợp người có tài sản bị cưỡng chế bán tài sản để thi hành án thì việcxác định thông tin về tình hình tài sản sẽ gặp nhiều khó khăn vì tính hợp pháp của tài sản khó xác định. Nếu tài sản bán đấu giá là phi pháp khiến người mua sau khi mua bị khởi kiện và đòi lại tài sản thì người bán đấu giá phải bồi thường thiệt hại cho người mua tài sản. Đặc biệt những tài sản cầm đồ là động sản rất khó xác định nguồn góc. Vì rủi ro của người bán đấu giá là rất lớn, cho nên người bán đấu giá cần phải kiểm tra cẩn thận nguồn gốc của tài sản bán đấu giá. Người bán đấu giá có quyền yêu cầu người mua phải thực hiện đúng hợp đồng đã kí kết. Thời điểm kí kết hợp đồng bán đấu giá chính là thời điểm khi người điều hành bán đấu giá tuyên bó giá cao nhất lần thứ ba mà không ai tham gia trả giá nữa. Người mua phải thực hiện nghĩa vụ, nếu họ không thực hiện nghĩa vụ thì người bán đấu giá có quyền xử lí tiền lệ phí bán đấu giá mà người mua đã đóng. 1.2.2.Người bán tài sản đấu giá Người bán tài sản đấu giá là chủ sở hữu tài sản hoặc là người được chủ sở hữu ủy quyền bán hoặc người có quyền bán tài sản của người khác theo qui định của pháp luật. Người bán tài sản kí kết hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản cho người bán đấu giá. Các bên bàn bạc định giá khởi điểm bán đấu giá. Giá khởi điểm bán đấu giá do người bán tài sản quyết định, nhưng cần tham khảo ý kiến của người bán đấu giá nhằm định giá tài sản phù hợp với giá thị trường để có thể tổ chức bán đấu giá thành công. Trường hợp bán đấu giá để thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án sẽ là người bán tài sản và kí hợp đồng ủy quyền bán đấu giá với người bán đấu giá. Trong trường hợp này, vì người phải thi hành án dân sự không tự nguyện thực hiện quyết định, bản án của tòa án, cho nên theo yêu cầu của người được thi hành án cơ quan thi hành án cưỡng chế bán đấu giá tài sản để thi hành án và kí hợp đồng uỷe quyền bán đấu giá tài sản để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trường hợp xử lí tài sản cầm cố, thế chấp để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người bán hàng là người cầm cố, thế chấp và người nhận cầm cố, thế chấp. Nếu khi kí hợp đồng cầm cố, thế chấp mà các bên có thỏa thuận về xử lí cầm cố, thế chấp bằng biện pháp bán đấu giá thì cả hai bên cùng kí hợp đồng ủy quyền bán đấu giá với người bán đấu giá. Người cầm cố, thế chấp và người nhận cầm cố, thế chấp là một bên của hợp đồng ủy quyền bán đấu giá, vì vậy họ đều có quyền tham gia định giá khởi điểm bán đấu giá. Nếu trong hợp đồng cầm cố, thế chấp mà các bên có thỏa thuận xử lí tài sản bằng biện pháp bán đấu giá và ngừoi cầm cố, thế chấp không chịu kí hợp đồng ủy quyền bán đấu giá thì người nhận cầm cố, thế chấp sẽ là người bán tài sản. Để đảm bảo quyền lợi của người nhận cầm cố, thế chấp trong trường hợp người cầm cố, thế chấp cố ý gây khó khắn cho việc xử lí tài sản cẩm cố, thế chấp, pháp luật cho phép họ được kí hợp đồng ủy quyền bán đấu giá để thu hồi nợ. Người bán tài sản có nghĩa vụ chuyển tài sản cho bên bán đấu giá nếu là động sản. Nếu là bất động sản, phải chuyển toàn bộ giấy từ chứng minh quyển sở hữu về tài sản, nếu bán đấu giá để thi hành án thì người bán tài sản cần phải chuyển giao văn bản hợp đồng, văn bản thế chấp, cầm cố hoặc quyết định của cơ quan thi hành án. Ngoài ra, người bán tài sản đấu giá có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản bán đấu giá. Người bán tài sản phải nộp tiền lệ phí bán đấu giá theo qui định của pháp luật. 1.2.3.Người mua tài sản đấu giá Người mua có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có nguyện vọng tham gia đấu giá tài sản. Trong số những người đã tham gia đấu giá thì người nảo trả giá cao nhất, ngừoi đó sẽ được mua tài sản đấu giá. Khi tiến hành bán đấu giá, những người tham gia đấu giá tài sản sẽ trả giá nhưng không được thấp hơn giá khởi điểm. Sau khi những người tham gia đấu giá tài sản trả giá thì người điều hành bán đấu giá nhắc 3 lần giá cao nhất, mỗi lần cách nhau 30 giây, nếu không ai trả giá cao hơn thì người trả giá cao nhất sẽ được mua tài sản đấu giá. Trong trường hợp nhiều người cùng trả một giá thì người tiến hành bán đấu giá sẽ tổ chức bốc thăm giữa những người đó và công bố ai là người được mua tài sản đấu giá. Tại cuộc bán đấu giá, nếu ngừoi đã trả giá cao nhất rút lại gái được trả khi người điều hành bán đấu giá tuyên bố được mua tài sản thì cuộc bán đấu giá tiếp tục và bắt đầu từ giá liền kề. Người rút lại giá không được hoàn trả tiền đặt trước, số tiền này thuộc về người có tài sản. Trường hợp người trả giá cao nhất đã được mua tài sản đấu giá, sau đó từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề, nếu người được ưu tiên không mua tài sản thì cuộc bán đấu giá không thành. Người trả giá cao nhất không mua mất tiền đặt trước. Số tiền này thuộc về người có tài sản. Đây được coi là số tiền bảo đảm cho việc giao kêý hợp đồng nhưng không phải đặt cọc, vì kể từ thời điểm người tiến hành bán đấu giá công bố ngừơi được mua tài sản thì hợp đồng được kí kết. Nếu người được mua tài sản từ chối mua có nghĩa là đã vi phạm thỏa thuận. Người có tài sản vẫn phải trả chi phi bán đấu giá (số tiền chi phí bán đấu giá không phải là thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ). Người có tài sản hưởng số tiền đặt trước để thanh toán chi phí thưucj tế bán đấu giá. Tiền đặt trước là một biện pháp mang tính bảo đảm cho nghĩa vụ trong bán đấu giá tài sản. Người mua tài sản có quyền sở hữu tài sản kể từ khi nhận tài sản là động sản, hay sau khi đăng kí trước bại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tài sản là bất động sản. Vì vậy, nếu gặp ruit ro gây thiệt hại về tải sản trước thời điểm đăng kí quyền sở hữu thì người bán tài sản chịu rủi ro. Nếu người bán tài sản là cơ quan thi hành án hoặc người nhận cầm cố, thế chấp thì chủ sở hữu chịu rủi ro. 2.Bán đấu giá tài sản theo qui định của pháp luật hiện hành 2.1.Một số vấn đề lý luận và thực tiễn 2.1.1.Những vướng mắc nảy sinh từ các văn bản quy phạm pháp luật Sau khi Bộ luật dân sự có hiệu lực từ ngày 171996, ngày 19121996 Chính phủ bản hành Nghị định số 86CP hướng dẫn thi hành Điều 454 về quy chế bán đấu giá tài sản. Sau đó gần 10 năm, ngày 1812005 Chính phủ ban hành Nghị định số 052005NĐCP về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị định số 86CP ngày 19121996. Trong khi đó, tại kì họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật dân sự mới vào ngày 1462005, có hiệu lực từ ngày 112006. Trong quá trình áp dụng thực tế đã cho thấy các văn bản qui phạm chưa thống nhất. Một minh chứng cụ thể là những điều “chênh nhau” trong khoản 3 điều 455 thuộc Bộ Luật Dân sự cũ và khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới. Tại khoản 3 điều 455 (luật cũ) đã hạn chế hành vi mua bán bất động sản qua bán đấu giá bằng việc quy định phải có chứng nhận của công chứng nhà nước và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tại khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới lại quy định: “Việc mua bán đấu giá bất động sản được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc được đăng ký nếu pháp luật có quy định”. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất động sản nào được bán đấu giá khi trao đổi mua bán giữa các chủ thể dân sự cũng phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy quy định như khoản 5 điều 459 Bộ Luật Dân sự mới là phù hợp với thực tiễn trong các quan hệ giao dịch dân sự về mua bán bất động sản. Chẳng hạn, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi bán đấu giá phải đăng ký, còn nhà ở thuộc sở hữu cá nhân, tư nhân thì khi mua bán thông qua đấu giá không phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần công chứng, chứng thực là hợp pháp. Vì vậy, nếu không có văn bản hướng dẫn vấn đề này trong luật dân sự sẽ tạo nên nhiều hệ luỵ không đáng có. Một điểm khác, theo Nghị định 86 trước đây và Nghị định 05 hiện nay, thì người điều hành bán đấu giá tài sản chỉ có quyền và nhiệm vụ yêu cầu những người tham gia đấu giá tài sản trả giá chứ không có quyền cấm người tham gia đấu giá trả lần đầu thấp hơn giá khởi điểm vì hai lý do chính sau đây: Một là, Nghị định 86 và Nghị định 05 đều không quy định nhận người tham gia đấu giá bắt buộc phải trả giá lần đầu không được thấp hơn giá khởi điểm. Hai là, Nghị định 86 và Nghị định 05 đều quy định cuộc bán đấu giá coi như không thành trong trường hợp người trả giá cao nhất và cuối cùng thấp hơn giá khởi điểm. Do vậy, cần hiểu rằng quy định của Chính phủ đã không cấm người tham gia đấu giá tài sản được trả giá thấp hơn giá khởi điểm. Nghị định số 052005NĐCP ngày 1812005 của Chính phủ về bán đấu giá bất động sản đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực bán đấu giá bất động sản. Hậu quả làm cho hoạt động bán đấu giá tài sản thiếu minh bạch, xuất hiện nhiều tiêu cực (thông đồng, dàn xếp kết quả, cò trong hoạt động bán đấu giá tài sản...). Trước tình trạng đó, Chính phủ đã thông qua dự thảo và ban hành Nghị định số 172010NĐCP về bán đấu giá tài sản nhẳm thay thế Nghị định 052005NĐCP đã bộc lộ một số hạn chế cần tháo gỡ sau nhiều năm triển khai. Nghị định 172010NĐCP của Chính phủ ban hành ngày 432010 có hiệu lực thi hành từ ngày 172010. Hiện nay, thủ tục bán đấu giá tài sản được qui định và thực hiện theo Nghị định này. 2.1.2.Những vướng mắc thực tế Hoạt động bán đấu giá tài sản ở nước ta chưa mạnh là do các chế tài đối với các hành vi vi phạm qui định về bán đấu giá còn nhẹ, chưa cụ thể và thiếu tính răn đe. Tình trạng mạnh ai nấy làm, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng không nắm hết, quản hết được tổ chức, hoạt động của một số doanh nghiệp bán đấu giá tài sản diễn ra khá phổ biến. Hoạt động bán đấu giá tài sản hiện nay chỉ tập trung sôi động ở một số trung tâm tại các thành phố lớn (Hà Nội, TP.HCM...), còn phần lớn là hoạt động cầm chừng. Đa số các doanh nghiệp đăng ký hoạt động bán đấu giá tài sản như một ngành nghề phụ, thậm chí đăng ký nhưng không hiếm khi có hoạt động bán đấu giá tài sản. Đây là hậu quả của việc luật quá mở để các địa phương thành lập nhiều tổ chức, doanh nghiệp đa ngành nghề thực hiện việc bán đấu giá tài sản tại địa phương. Không những thế, thực trạng này còn khiến hoạt động bán đấu giá được thực hiện không thống nhất và khó quản lý. Ngoài ra, vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên trình tự, thủ tục bán đấu giá không thống nhất giữa các địa phương. Ví như ở một số địa phương chuyển giao tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện qua biên bản bàn giao tang vật, phương tiện vi phạm. Trong khi tại nhiều địa phương khác lại áp dụng hình thức ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản giữa Sở Tài chính với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Đấy là chưa kể đến nhiều trường hợp, người mua được tài sản mặc dù đã thanh toán đủ tiền nhưng không nhận được tài sản bán đấu giá. Nguyên do là các qui định về bàn giao tài sản thi hành án cho người mua được tài sản chưa được nhất quán. Điều 17 Nghị định số 05 quy định: Người bán đấu giá tài sản có thể lựa chọn một trong các hình thức đấu giá sau đây để tiến hành cuộc bán đấu giá tài sản: đấu giá trực tiếp bằng lời nói, đấu giá bằng bỏ phiếu, đấu giá thông qua mạng internet, các hình thức đấu giá khác do người có tài sản bán đấu giá và người bán đấu giá tài sản thỏa thuận. Với nhiều hình thức bán đấu giá tài sản như vậy đã làm nảy sinh tình trạng thông đồng ép giá. Thực tế, do chưa có qui định để ngăn chặn các bên thông đồng, dìm giá tài sản bán đấu giá, nên dù đã áp dụng nhiều qui định để hạn chế liên lạc trong khi diễn ra bán đấu giá (cấm sử dụng điện thoại) nhưng trước đó, các bên tham gia bán đấu giá đã thống nhất với nhau mức giá trả để một bên có thể mua được tài sản theo ý muốn. Trong những năm gần đây, thực tiễn công tác bán đấu giá quyền sử dụng đất vẫn không thu được kết quả như mong muốn. Nguyên nhân của hiện tượng nợ đọng tiền sử dụng đất trong bán đấu giá có nhiều, nhưng chủ yếu là do thị trường nhà đất rớt giá và trầm lắng khiến cho nhiều chủ đầu tư tuy trúng giá nhưng lại mất khả năng thanh toán. Thậm chí, có những chủ đầu tư không đủ khả năng tài chính cũng tham gia đấu giá. Công tác khảo sát, tìm hiểu khả năng tài chính của các đối tác của Hội đồng đấu giá còn nhiều hạn chế cũng dẫn đến tình trạng “bỏ của chạy lấy người” như báo chí đã nêu. Nhìn vào thực tế các phiên đấu giá cho thấy, có những doanh nghiệp bỏ giá quá cao so với thực lực của các công ty làm cho các chuyên gia, doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng đô thị cũng phải lắc đầu. Không những vậy, thực tế đang có tình trạng đua nhau nâng giá quyền sử dụng đất lên cao đến mức phi lí, ngoài khả năng tài chính để được trúng giá rồi mới tính chuyện hợp tác làm ăn. Đây là một thực tế tồn tại vướng mắc của luật pháp điều chỉnh về quan hệ bán đấu giá tài sản. Ngoài các văn bản luật, nghị định, thông tư hướng dẫn, các tỉnh thành phố còn có quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất. Các văn bản này còn chưa sát với thực tiễn gây ra tình trạng lãng phí tiền của nhà nước. 2.2.Những điểm mới của Nghị định số 172010NĐCP của Chính phủ qui định về bán đấu giá tài sản Nghị định quy định rõ hơn về đối tượng tài sản phải áp dụng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, bao gồm: Tài sản để thi hành án; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước; tài sản bảo đảm được xử lý bằng bán đấu giá; tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, trong trường hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn bán đấu giá tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp thì trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này cũng được áp dụng. Nâng cao tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên Nghị định 052005NĐCP quy định điều kiện được cấp thẻ đấu giá viên tương đối đơn giản, chưa tương xứng với nhiệm vụ, trách nhiệm của đấu giá viên (quy định người có bằng đại học trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có thể trở thành đấu giá viên mà không cần phải qua đào tạo, bồi dưỡng). Nhằm nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ đấu giá viên, Nghị định mới quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên. Theo đó, đấu giá viên phải là người đã tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế và đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá. Do tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề đối với đấu giá viên được nâng lên, nên trách nhiệm pháp lý của họ cũng được nâng cao. Cụ thể, đấu giá viên được sử dụng quyền của mình để xử lý trực tiếp, kịp thời các hành vi thông đồng dìm giá hoặc vi phạm nội quy bán đấu giá của những người tham gia đấu giá. So với Nghị định 05, Nghị định mới còn bổ sung quy định về việc cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề nhằm quản lý chặt chẽ hơn hoạt động của đội ngũ đấu giá viên. Quy định rõ hơn về tổ chức bán đấu giá tài sản Thực hiện chủ trương tiếp tục xã hội hoá về tổ chức bán đấu giá tài sản, Nghị định xác định rõ hơn các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp gồm có: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản. Hiện nay, trong cả nước đã có 63 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do UBND tỉnh thành lập và 104 doanh nghiệp bán đấu giá tài sản được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Ngoài các tổ chức bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp, còn có 2 loại Hội đồng: Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện được thành lập để thực hiện bán tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt được thành lập để bán đấu giá tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị lớn, phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá. Với quy định rõ ràng như trên sẽ góp phần khắc phục tình trạng thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản một cách tràn lan ở các địa phương. Tăng mức tiền đặt trước Nghị định quy định, người tham gia đấu giá tài sản phải nộp phí tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước. Theo quy định cũ, khoản tiền đặt trước do tổ chức bán đấu giá và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận không quá 5% giá khởi điểm là quá thấp, nhiều trường hợp tiền đặt cọc quá nhỏ dẫn đến bỏ cuộc. Vì vậy, Nghị định nâng mức tiền đặt trước cao hơn (tối thiểu là 1% và tối đa không quá 15%) nhằm khắc phục tình trạng những người tham gia đấu giá liên kết với nhau để dìm giá hoặc họ sẵn sàng chịu mất số tiền đặt trước trong trường hợp từ chối mua tài sản với mục đích gây khó khăn cho người có quyền và lợi ích liên quan hoặc vì mục đích vụ lợi. Đồng thời, quy định mức trần với sự linh hoạt nhất định vẫn bảo đảm phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Hạn chế thông đồng trong đấu giá tài sản Nghị định 05 quy định trong trường hợp người điều hành cuộc bán đấu giá đã công bố người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề ít nhất bằng giá khởi điểm. Nếu người liền kề không đồng ý mua hoặc giá liền kề thấp hơn giá khởi điểm thì cuộc bán đấu giá không thành và khoản tiền đặt trước của người từ chối mua thuộc về người có tài sản bán đấu giá. Tuy nhiên, quy định này đã bị lợi dụng trên thực tế, có tình trạng cố tình trả giá rất cao, được tuyên bố là người mua được tài sản rồi lại từ chối mua để người liền kề mua được tài sản và hai bên chia nhau số tiền chênh lệch. Ngoài ra, khả năng cuộc bán đấu giá không thành là rất cao vì người trả giá liền kề có thể không đồng ý mua. Do đó, Nghị định mới đã sửa đổi theo hướng quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với người từ chối mua và hạn chế sự thông đồng giữa một số người tham gia đấu giá. Cụ thể, người từ chối mua tài sản không được hoàn trả khoản tiền đặt trước và khoản tiền này thuộc về người có tài sản bán đấu giá. Đồng thời, tài sản chỉ được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối mua. Quy định như trên sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi của người có tài sản, không làm giảm giá trị của tài sản bán đấu giá và bảo đảm cuộc bán đấu giá thành. Kết luận Bán đấu giá tài sản là một hoạt động ngày cảng trở nên phổ biến, góp phần đem lại nguồn lợi cho đất nước. Việc có những văn bản qui phạm thống nhất, chặt chẽ qui định việc bán đấu giá tài sản không chỉ góp phần phát huy điểm lợi của bán đấu giá tài sản mà còn củng cố một niềm tin vào hành lang pháp lý của Nhà nước, đồng thời cũng dần hạn chế những mặt bất cập của nó. Việc tìm hiểu bán đấu giá tài sản theo qui định pháp luật hiện hành cùng những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh là cần thiết, không chỉ mở mang thêm kiến thức cho bản thân người tìm hiểu mà từ đó còn thúc đẩy họ suy nghĩ và đóng góp để hoàn thiện cơ chế quản lý bán đấu giá tài sản.
Xem thêm

15 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT QUÝ 4 NĂM 2010 CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG BIÊN HÒA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT QUÝ 4 NĂM 2010 CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG BIÊN HÒA

9.250.000.00028.118.231.08440.262.942.396Các khoản vay bao gồm :a) Khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng TMCP Ngoại thương VN-CN Biên Hòa theo hai HĐ tín dụng sau :+ HĐ tín dụng số 65/10/VCB-BH ngày 4/5/2010 với hạn mức 20 tỷ đồng (trong đó hạn mức cho vaylà 15 tỷ đồng) với mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động SX kinh doanh . Khoản vay đượcđảm bảo tài sản thế chấp là toàn bộ khoản phải thu khách hàng theo BB định giá số 01/092/DG-KPTngày 27/8/2009 là 30 tỷ đồng . Lãi suất cho vay trong hạn được xác định trên giấy nhận nợ theothông báo lãi suất của ngân hàng tại từng thời điểm rút vốn với lãi suất 13,2% / năm .Thời hạn cho vay là 4 tháng+ HĐ tín dụng số 95/10/VCB-BH ngày 8/6/2010 với hạn mức 5 tỷ đồng với mụcđích bổ sung vốn lưuđộng để thực hiện gói thầu cung cấp cọc BTCT 350*350 cho dự án xây dựng KTX sinh viên ĐHQGTP. HCM.Khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấphợp đồng thực hiện cung cấp cọc đại tràBTCT 350*350 cho dự án xây dựng KTX đại hoc Quốc gia TP.HCM .Lãi suất cho vay trong hạn đượcxác định trên giấy nhận nợ theo thông báo lãi suất của ngân hàng tại từng thời điểm rút vốnvới lãi suất 13,2% / năm . Thời hạn cho vay là 6 tháng .b) Vay ngắn hạn ngân hàng VID PUBLIC _ Chi nhánh Bình Dương theo HĐ vay số :CDG/FL/09/068 vàBDG/LC/TR/RC/09/069 ngày 1/7/2009 với hạn mức 5 tỷ đồng , mục đích để nhập khẩu nguyên vật liệu,phụ liệu phục vụ cho hoạt động SX kinh doanh của công ty . Khoản vay được đảm bảo bằng tài sảnthế chấp theo HĐ thế chấp tài sảnhợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đấtsố BDG/LC/FL/2008/157 ngày 5/5/2008. Lãi suất được xác định bằng lãi suất liên NH (hoặc lãi suấttiền gửi) kỳ hạn 6 tháng cộng 2,5% mỗi năm .Kỳ hạn của mỗi lần vay tối đa không quá 120ngày kể từ ngày của tờ Hải quan của các khoản nhập khẩu đó . Thời hạn vay 7 năm .c) Khoản vay vốn cá nhân được thực hiện theo các HĐ huy động vốn ký kết với từng cá nhân vớithời hạn hoàn trả vốn theo yêu cầu của bên cho vay chậm nhất là 7 ngày tính từ ngày bên cho vay yêucầu. Lãi suất tính bằng lãi suất cho vay tại thời điểm mà Ngân hàng Công ty giao dịch và tiền lãi đượcthanh toán mỗi 3 tháng .
Xem thêm

13 Đọc thêm

Các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Đánh giá các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành Bài tập học kỳ Luật Dân sự 2 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 2 Giao dịch bảo đảm là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy thiết chế này được xây dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng, góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đúng nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ. Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao dịch này. Áp dụng biện pháp bảo đảm, bên có quyền không chỉ có quyền theo hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ dùng để bảo đảm. Để hiểu rõ hơn về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, những ưu điểm, hạn chế cũng như những định hướng hoàn thiện, em xin được trình bày qua đề bài: “Đánh giá các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành ( nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)”. NỘI DUNG I. Những quy định chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành. 1.Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. 1.1 Khái niệm. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp trong đó một bên sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bảo đảm) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chủ thể mình hoặc của chủ thể khác (gọi là bên bảo đảm). 1.2 Đặc điểm. Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính. Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự. Thứ ba, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất. Thứ tư, pham vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính. Thứ năm, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ. Thứ sáu, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thỏa thuận giữa các bên. 2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩavụ dân sự được quy định trong khoản 1 điều 318 BLDS 2005: “1.Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm câm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lãnh, tín chấp”. 2.1 Cầm cố tài sản. +) Khái niệm. Cầm cố tài sản là việc một bên ( sau đây gọi là bên cầm cố ) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia ( sau đây gọi là bên nhận cầm cố ) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ( điều 326 BLDS 2005 ). +) Hình thức của cầm cố tài sản. Theo quy định của pháp luật, ý chí của các chủ thể cầm cố phải thể hiện thông qua một hình thức duy nhất: văn bản. Có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. +) Đối tượng của cầm cố tài sản. Đối tượng của cầm cố tài sản chỉ có thể là tài sản. Bản chất của cầm cố là việc bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ nên tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập. +) Hiệu lực và thời hạn của cầm cố tài sản. Hiệu lực của cầm cố tài sản phát sinh từ thời điểm bên cầm cố đã nhận tài sản cầm cố. Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không có thỏa thuận thì thời hạn cầm cố tài sản được tính từ thời điểm bên cầm cố nhận tài sản cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố. +) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong cầm cố tài sản. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản được quy định trong điều 333, 332 BLDS 2005: bên nhận cầm cố có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản, bên nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố hoàn trả tài sản đó, được thanh toán các chi phí bảo quản tài sản cầm cố hợp lí khi trả lại tài sản cho bên cầm cố… Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản được quy định trong điều 330, 331 BLDS 2005: bên cầm cố có nghĩa vụ phải giao tài sản cầm cố theo đúng thỏa thuận, bên cầm cố phải thông báo cho bên nhận cầm cố biết về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố phải hoàn trả tài sản cầm cố sau khi nghĩa vụ đã được thực hiện, bên cầm cố có quyền yêu cầu bên giữ tài sản cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố… +) Xử lí tài sản cầm cố và chấm dứt cầm cố. Xử lí tài sản cầm cố được quy định trong điều 336 BLDS 2005. Theo đó, khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện kông đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lí tài sản cầm cố để bù đắp cho mình các khoản lợi ích mà bên kia không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ. Việc chấm dứt cầm cố tài sản được quy định trong điều 339 BL DS2005. Việc cầm cố tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây: nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt, việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng hiện pháp bảo đảm khác, tài sản cầm cố đã được xử lí, theo thỏa thuận của các bên… +) Ví dụ về cầm cố tài sản. A cầm cố 1 chiếc xe máy cho B để lấy 10tr đồng. 2.2 Thế chấp tài sản. +) Khái niệm. Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp ( Điều 342 BLDS 2005 ). +) Hình thức thế chấp tài sản. Việc thế chấp phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. +) Đối tượng của thế chấp. Tài sản thế chấp có thể là vật, quyền tài sản, giấy tờ có giá, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản đang cho thuê, cho mượn cũng được dùng để thế chấp. +) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong thế chấp tài sản. Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản được quy định trong điều 348, 349 BLDS 2005: bên thế chấp có nghĩa vụ phải bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, bên thế chấp có quyền được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho các bên liên quan biết… Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản được quy định trong điều 350, 351 BLDS 2005: bên nhận thế chấp có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài sản thế chấp chấm dứt khi chấm dứt thế chấp, bên nhận thế chấp có nghĩa vụ yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp, yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn giá trị của tài sản… +) Xử lí tài sản thế chấp và chấm dứt việc thế chấp. Xử lí tài sản thế chấp được quy định trong điều 355 BLDS 2005. Theo đó, nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lí để thực hiện nghĩa vụ. Về nguyên tắc, việc xử lí tài sản thế chấp được thực hiện thông qua phương thức bán đấu giá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chấm dứt thế chấp tài sản được quy định trong điều 357 BLDS 2005. Việc thế chấp tài sản được coi là chấm dứt khi tài sản đã được xử lí, theo thỏa thuận của các bên, nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp đã được thực hiện xong. 2.3 Đặt cọc. +) Khái niệm. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác ( gọi là tài sản đặt cọc ) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự ( khoản 1 điều 358 BLDS 2005 ). +) Hình thức của đặt cọc. Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản. Pháp luật quy định chặt chẽ như vậy nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Khi lập văn bản đặt cọc phải nói rõ số tiền (vật) giao cho bên có quyền là để đặt cọc hay để trả trước. +) Đối tượng của đặt cọc. Đối tượng của đặt cọc là những vật có giá trị hoặc các vật thông thường khác mà một bên giao trực tiếp cho bên kia. Đối tượng đặt cọc nếu là tiền thì vừa mang chức năng bảo đảm, vừa mang chức năng thanh toán. +) Nội dung của đặt cọc. Trong trường hợp các bên đã thực hiện đúng mục đích đặt cọc thì bên nhận đặt cọc phải trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc, nếu bên đặt cọc là bên có nghĩa vụ trả tiền thì tài sản đặt cọc được coi là khoản tiền thanh toán trước. Trong trường hợp bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương với giá trị của tài sản đặt cọc. +) Xử lí tài sản đặt cọc. Xử lí tài sản đặt cọc chỉ áp dụng nếu có một trong hai bên không thực hiện các điều khoản đã cam kết hoặc không thực hiện hợp đồng. +) Ví dụ về đặt cọc. Khi ta mua 1 mảnh đất, chúng ta chưa có đủ tiền và cần thời gian để gom tiền, chúng ta lại muốn giữ để người chủ mảnh đất không bán cho người khác, ngược lại, người chủ đất cũng muốn chúng ta giữ lời và phải thực hiện hợp đồng mua bán. Bên mua sẽ đặt lại 1 khoản tiền để giữ lại mảnh đất. Số tiền này gọi là tiền đặt cọc. 2.4 Kí cược. +) Khái niệm. Kí cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác ( sau đây gọi là tài sản kí cược ) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê ( khoản 1 điều 359 BLDS 2005 ). +) Hình thức của kí cược. Bộ luật dân sự 2005 không quy định kí cược phải được lập thành văn bản. Dó đó, việc kí cược không nhất thiết phải lập thành văn bản mà có thể thỏa thuận miệng cũng có giá trị pháp lí. Tuy nhiên, trong thực tế nếu tài sản kí cược có giá trị lớn, các bên thường phải xác lập bằng hình thức văn bản. +) Đối tượng của kí cược. Tài sản kí cược chỉ bao gồm tiền, các vật là động sản hiện có, không thể là các quyền tài sản, bất động sản, vật hình thành trong tương lai. +) Nội dung của kí cược. Trong trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên cho thuê phải hoàn trả tài sản kí cược sau khi đã được bên kí cược thanh toán tiền thuê. Trong trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thuê thì tài sản kí cược thuộc về bên cho thuê. +) Ví dụ về kí cược. Khi chúng ta đi mua 1 bình ga du lich, hay 1 thùng bia chai, nếu chúng ta không có vỏ bình ga, hoặc vỏ bia. Chủ cửa hàng thường bắt chúng ta đặt cược lại tiền vỏ. Số tiền cược vỏ do chủ quán qui định. Số tiền này sẽ được giữ lại để đảm bảo việc người mua, sẽ phải hoàn trả lại số vỏ kia. Số tiền này được gọi là tiền kí cược. 2.5 Kí quỹ. +) Khái niệm. Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự ( khoản 1 điều 360 BLDS 2005 ). +) Hình thức của kí quỹ. Hình thức kí quỹ được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng. +) Đối tượng của kí quỹ. Tài sản dùng để kí quỹ bao gồm tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền. Quyền tài sản không được dùng để kí quỹ. +) Nội dung của kí quỹ. Với biện pháp ký quỹ 2 bên có thể mở một tài khoản tại ngân hàng nhưng không được dùng tài khoản khi chưa chấm dứt hợp đồng. Mặc dù vẫn là chủ của tài khoản đó nhưng bên có nghĩa vụ không được thực hiện bất kỳ một giao dịch rút tiền nào từ tài khoản đó bởi số tài khoản ký quỹ đó được xác định để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trước bên có quyền. Ngân hàng có quyền thu một khoản chi phí dịch vụ ngân hàng từ tài khoản đó trước khi thực hiện việc thanh toán và bồi thường. +) Ví dụ về kí quỹ. Trong hoạt động đưa người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động tại nước ngoài phải thực hiện việc ký quỹ tại ngân hàng thương mại để giải quyết trường hợp phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người đi làm việc tại nước ngoài. Người lao động phải thực hiện tiền ký quỹ tại ngân hàng thương mại để bảo đảm thực hiện đưa hợp đồng đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài. Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng tiền ký quỹ được doanh nghiệp sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp, nếu tiền ký quỹ không đủ người lao động phải nộp bổ sung, còn thừa trả lại cho người lao động. tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi thanh lý hợp đồng. Thủ tục kí quỹ được quy định tại thông tư 022006TTNHNN. 2.6 Bảo lãnh. +) Khái niệm. Bảo lãnh là việc người thứ ba ( sau đây gọi là bên bảo lãnh ) cam kết với bên có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh ) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh ), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ ( điều 361 BLDS 2005 ). +) Hình thức của bảo lãnh. Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực ( điều 362 BLDS 2005 ). +) Đối tượng của bảo lãnh. Đối tượng của biện pháp bảo lãnh có thể là tài sản hoặc công việc tùy theo nghĩa vụ được đảm bảo là nghĩa vụ thanh toán tiền hay nghĩa vụ thực hiện 1 công việc nhất định. +) Nội dung của bảo lãnh. Khi đến hạn mà bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay đối với bên nhận bảo lãnh trong phạm vi đã xác định. Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ hoàn lại đối với mình, nếu không có thỏa thuận khác. +) Xử lí tài sản của bên bảo lãnh và chấm dứt việc bảo lãnh. Trường hợp đã đến hạn thực nghĩa vụ bảo lãnh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho việc bảo lãnh. Việc bảo lãnh chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh chấm dứt, việc bảo lãnh được hủy bỏ với sự đồng ý của bên nhận bảo lãnh hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác… +) Ví dụ về bảo lãnh. Ví dụ: B bảo lãnh cho A ký hợp đồng với C, Theo đó A có nghĩa vụ phải chuyển giao cho C 500 triệu đồng, sau khi C bàn giao công việc và yêu cầu A thanh toán khoản tiền trên thì A không có khả năng thanh toán. Lúc này phát sinh nghĩa vụ của B trong việc trả cho C 500 triệu đồng (nghĩa vụ bảo lãnh). 2.7 Tín chấp. +) Khái niệm. Tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở cở có thể bảo đảm bằng uy tín của mình để cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ ( điều 372 BLDS 2005 ) Theo khoản 1 điều 49 nghị định số 1632006NĐCP ngày 29 12 2006: “Tín chấp là việc tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.” +) Hình thức của tín chấp. Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền…( điều 373 BLDS 2005 ). +) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp. Quyền của tổ chức chính trị xã hội: tổ chức chính trị xã hội có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu tổ chức chính trị xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ. Nghĩa vụ của bên vay vốn: sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay, trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng. +) Nội dung của tín chấp. Theo khoản 1, điều 49 Nghị định số 1632006NĐCP ngày 29 12 2006: cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị xã hội quy định tại Điều 50 Nghị định này. Tổ chức chính trị xã hội bảo đả bằng tín chấp bao gồm: Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ( điều 50 Nghị định số 1632006NĐCP ngày 29 12 2006 ). Bên có quyền ( bên cho vay ): chủ yếu là các ngân hàng chính sách – xã hội thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của Nhà nước. Thông qua biện pháp này các tổ chức chính trị xã hội có thể bảo lãnh cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền nhỏ tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. II. Đánh giá các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành ( nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật ). 1.Những ưu điểm trong các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Từ những tranh chấp trong thực tế cuộc sống, BLDS 2005, Nghị định 1632006NĐ – CP ngày 29122006 về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 112012NĐ – CP ngày 22022012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1632006NĐ – CP này 29122006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã đặt ra các quy định tương đối cụ thể và chi tiết về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có những sự thay đổi hợp lí và cụ thể hơn so với BLDS 1995. +) Tại điểm 2 khoản 2 điều 1 của Nghị định số 112012NĐ – CP ngày 22022012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1632006NĐ – CP này 29122006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định về tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: tài sản được hình thành từ vốn vay, tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm…So với việc quy định tài sản hình thành trong tương lai còn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể rõ ràng tại Nghị định 1632006NĐ CP thì Nghị định số 112012NĐ CP đã quy định rất rõ ràng tài sản hình thành trong tương lai bao gồm những tài sản như thế nào nhằm giúp việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ tài sản hình thành trong tương lai một cách dễ dàng hơn. +) Tại Bộ luật dân sự năm 1995 phân biệt biện pháp cầm cố và thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ở các đặc điểm sau: Nếu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là động sản thì đó là biện pháp cầm cố tài sản, nếu bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là bất động sản thì được gọi là biện pháp thế chấp tài sản. Tuy nhiên trên thực tế lại có những tài sản là động sản nhưng được dùng để thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ( Vd: tàu bay, tàu biển…) Ở biện pháp cầm cố, tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố giữ, ở biện pháp thế chấp, tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Quy định của BLDS 1995 không phân biệt rõ sự khác nhau của hai biện pháp bảo đảm này và trên thực tế đối với tài sản là động sản có đăng kí quyền sở hữu có những tài sản được sử dụng để thế chấp hoặc cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ( tàu bay, tàu biển ), có những tài sản lại chỉ được sử dụng để cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ( xe máy, oto…). Để khắc phục nhược điểm của BLDS 1995, BLDS 2005 phân biệt hai biện pháp cầm cố và thế chấp không phụ thuộc vào tài sản là động sản hay bất động sản mà phụ thuộc ở đặc điểm tài sản đó có chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ hay không. Nếu tài sản bảo đảm được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì hai bên đã thỏa thuận áp dụng biện pháp cầm cố tài sản. +) Điều 328 BLDS 2005 quy định về hiệu lực của cầm cố tài sản: Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. Đây là điều luật mới được ghi nhận tại BLDS 2005 mà BLDS 1995 chưa có. Biện pháp cầm cố tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm khá đơn giản mà tài sản dùng để cầm cố có thể dễ dàng chuyển giao cho bên nhận cầm cố. Chính vì thế, thời điểm có hiệu lực của cầm cố tài sản là thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. +) Khoản 1 điều 332 BLDS 2005 quy định về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản: bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố. Trước đây, tại điều 334 BLDS 1995 chỉ quy định mức độ giữ gìn tài sản cầm cố của bên nhận cầm cố là “ như tài sản của chính mình ”. Mục đích của quy định tại BLDS 2005 như vậy nhằm xác định trách nhiệm của bên nhận cầm cố khi tài sản cầm cố bị mát hoặc làm giảm sút giá trị. BLDS 1995 không quy định bên nhận cầm cố phải chịu trách nhiệm về tài sản cầm cố trong bất cứ trường hợp nào mà chỉ phải thực hiện gìn giữ, bảo quản tài sản cầm cố như đối với tài sản của mình. Quy định của BLDS 1995 sẽ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên nhận cầm cố đối với tài sản cầm cố khi tài sản bị mất mát, hư hỏng mà bên nhận cầm cố đã thực hiện việc bảo quản tài sản cầm cố như đối với tài sản của mình. Quy định này sẽ là bất hợp lí, không bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của bên cầm cố. Chính vì thế quy định của BLDS 2005 nhằm nâng cao trách nhiệm của bên nhận cầm cố trong giao dịch cầm cố tài sản. +) Điều 337 quy định về xử lí tài sản cầm cố trong trường hợp có nhiều tài sản cầm cố: Trong trường hợp tài sản được dùng để cầm cố có nhiều vật thì bên nhận cầm cố được chọn tài sản cụ thể để xử lí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác…). Quy định về xử lí tài sản cầm cố trong trường hợp tài sản cầm cố có nhiều vật là quy định mới được bổ sung vào BLDS 2005 mà BLDS 1995 chưa quy định. Quy định này là cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cả hai bên trong giao dịch. +) Khoản 2 điều 346 quy định về thế chấp tài sản được bảo hiểm. Đây là nội dung mới được quy định trong BLDS 2005 mà trước đây chưa từng có trong BLDS 1995 Theo đó, bên nhận thế chấp có trách nhiệm thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết tài sản bảo hiểm đã được sử dụng làm tài sản thế chấp, thì khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán vứi bên nhận thế chấp. +) Tại khoản 1 điều 353 BLDS 2005 quy định về quyền của người thứ ba giữ tài sản thế chấp. Theo quy định của khoản 1 điều 353 BLDS 2005, quyền của người thứ ba giữ tài sản thế chấp được mở rộng hơn so với quy định của BLDS 1995. Trước đây, theo quy định tại điều 355 BLDS 1995, người thứ ba không có quyền hưởng lợi tức từ tài sản thế chấp. Tức là người thứ ba giữ tài sản thế chấp được hưởng những sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại ( Vd: được ăn trái cây trong vườn cây ăn quả ), chứ không được hưởng các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản ( không được bán hoa quả trong vườn để lấy tiền ). Quy định này là bất hợp lí. Vì vậy, BLDS 2005 đã quy định ngoài quyền được khai thác công dụng của tài sản thế chấp, nếu các bên trong giao dịch thế chấp tài sản có thỏa thuận đồng ý cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, thì người thứ ba có quyền được hưởng. +) Khoản 4 điều 1 tại Nghị định số 112012N Đ – CP ngày 22022012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1632006NĐ – CP này 29122006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai đã bổ sung thêm trường hợp tài sản hình thành trong tương lai bị xử lí để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ kết quả xử lí tài sản bảo đảm để thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận tài sản ngay khi có kết quả xử lí tài sản bảo đảm. So với điều 8 của Nghị định 1632006NĐ – CP thì nhà làm luật đã dự liệu thêm trường hợp tài sản hình thành trong tương lai bị xử lí để thực hiện nghĩa vụ dân sự. +) Theo quy định tại điều 4 khoản 1 Nghị định 1632006NĐ CP được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 112012NĐ CP thì tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Nghị định mới đã thay thế khái niệm tài sản được phép giao dịch bằng khái niệm tài sản mà pháp luật không cấm giao dịch. Giải pháp này là phù hợp bởi thông thường quy định pháp luật chỉ nêu danh sách các tài sản bị cấm hay hạn chế giao dịch chứ không thể liệt kê được hết các tài sản được phép giao dịch nhất là các loại tài sản mới ra đời, đặc biệt là các tài sản vô hình. +) Nghị định 112012NĐ CP bổ sung điều 8a về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong tương lai theo đó trong hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch, các bên không bắt buộc phải thỏa thuận cụ thể về phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khi nghĩa vụ được hình thành, các bên không phải đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký. Quy định mới này thật sự là một bước đột phá so với quy định hiện hành. Bộ luật dân sự và Nghị định 1632006NĐ CP chỉ nêu nguyên tắc có thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nghĩa vụ trong tương lai ( khoản 2, điều 319, Bộ luật dân sự 2005 ) tức là nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết (khoản 6, điều 3, Nghị định 1632006NĐ CP). Nghị định 112012NĐ CP đi xa hơn khi chỉ rõ không nhất thiết phải miêu tả cụ thể (bao gồm phạm vi và thời hạn) nghĩa vụ phát sinh trong tương lai. Đây là một ngoại lệ mới so với nguyên tắc chung về đối tượng của nghĩa vụ dân sự được quy định tại khoản 2 điều 282 của Bộ luật dân sự 2005 theo đó đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể. +) Khoản 2 điều 68 Nghị định 1632006NĐ CP mới chỉ dừng lại ở việc quy định trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất theo đó khi xử lý tài sản thế chấp, người mua, người nhận chính tài sản gắn liền với đất đó được tiếp tục sử dụng đất và quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong hợp đồng về quyền sử dụng đất giữa bên thế chấp và người sử dụng đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính tài sản gắn liền với đất. Điều 68 của Nghị định 1632006NĐ CP được bổ sung hai khoản mới tại khoản 19 điều 1 Nghị định số 112012NĐ CP phân biệt cụ thể hai trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất : Nếu người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản gắn liền với đất được xử lý đồng thời với quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản để có cơ sở xác định giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được thanh toán trước cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này tháo gỡ được khó khăn đặt ra trong thực tế xử lý tài sản thế chấp, đặc biệt khi tại thời điểm thế chấp chưa có cơ sở hạ tầng trên đất. Tuy vậy, để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình, bên nhận thế chấp nên loại bỏ khả năng không xử lý tài sản gắn liền với đất khi xử lý quyền sử dụng đất ngay khi xác lập hợp đồng thế chấp. Nếu người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất theo như thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quyền và nghĩa vụ giữa bên thế chấp và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính quyền sử dụng đất. Quy định mới tăng cường độ an toàn pháp lý cho các hợp đồng thuê quyền sử dụng đất vì bên đi thuê sau khi đã xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thuê có thể yên tâm sẽ được tiếp tục sử dụng đất theo như thỏa thuận trong hợp đồng cũ trừ khi các bên có thỏa thuận khác. 2. Những hạn chế trong các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. +) Chưa tạo lập hành lang pháp lý an toàn để chủ sở hữu khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm Bộ luật Dân sự năm 2005 mới chỉ đề cập đến khái niệm vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 320), mà chưa đề cập đến khái niệm tài sản bảo đảm. Trong khi đó, đối tượng của giao dịch không chỉ có vật, mà còn có quyền tài sản. Do đó, khái niệm về vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo pháp luật hiện hành chưa bao quát đầy đủ, chưa giúp phát huy giá trị kinh tế của các tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Theo quy định của BLDS năm 2005, thì bên thế chấp tài sản có quyền “bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý” (khoản 4 Điều 349). Trong khi đó, BLDS của nhiều nước quy định về quyền theo đuổi của bên nhận bảo đảm, cụ thể là chủ sở hữu tài sản được quyền chuyển dịch tài sản cho người thứ ba, song trong trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo đảm, thì bên nhận bảo đảm vẫn được quyền tiếp cận, thu hồi và xử lý tài sản đó. Quy định nêu trên của BLDS Việt Nam là một giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp, song trên thực tế, khi bên thế chấp chuyển dịch quyền sở hữu tài sản thế chấp, thì bên nhận thế chấp lại khó có thể “truy đòi” tài sản do pháp luật thiếu cơ chế pháp lý để thực thi hiệu quả, đồng thời lại dẫn đến một hệ quả không mong muốn là hạn chế khả năng lưu chuyển, khai thác minh bạch giá trị kinh tế của chủ sở hữu tài sản. +) Quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa đầy đủ và chưa rõ ràng Quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Điều 323 BLDS năm 2005 vẫn còn một số hạn chế như sau: Thứ nhất, BLDS Nhật Bản, Pháp, Đức hay Điều 9 Hội đồng mã thống nhất (UCC) của Hoa Kỳ đều quy định đăng ký không phải là phương thức duy nhất để bên nhận bảo đảm công bố các quyền và xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Về lý luận cũng như kinh nghiệm lập pháp cho thấy, việc bên nhận bảo đảm chiếm giữ, kiểm soát tài sản bảo đảm cũng chính là một cách thức để công bố quyền, xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Do vậy, quy định đăng ký giao dịch bảo đảm là cách thức duy nhất để công bố các quyền và xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba trong BLDS năm 2005 là không phù hợp với thông lệ quốc tế, vì chỉ phù hợp đối với trường hợp bên nhận bảo đảm không chiếm giữ, kiểm soát tài sản bảo đảm. Thứ hai, xét về bản chất, thì việc đăng ký phải là đăng ký quyền, không phải là đăng ký giao dịch hợp đồng như hiện nay. Do đó, quy định về đăng ký hợp đồng, giao dịch trong BLDS dẫn đến hệ quả là có những hợp đồng đã được công chứng, giao kết hợp pháp ( ví dụ: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ), nhưng chưa đăng ký, thì dẫn đến hệ quả là hợp đồng thế chấp chưa phát sinh hiệu lực, mặc dù bên cho vay có thể đã chuyển tiền và bên vay đã nhận tiền; đồng thời, khi có sự thay đổi về hình thức hợp đồng, các bên buộc phải thực hiện đăng ký lại, trong khi thời điểm đăng ký của hợp đồng được quy định là thời điểm xác định thứ tự ưu tiên khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh liên quan đến tài sản. Thứ ba, BLDS năm 2005 quy định giao dịch bảo đảm được đăng ký “có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký”. Song, thế nào là “giá trị pháp lý” và “người thứ ba” gồm những chủ thể nào? Ngoài ra, Điều 325 BLDS năm 2005 quy định về “thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các giao dịch bảo đảm”, tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ giải quyết mối quan hệ giữa các bên cùng nhận bảo đảm trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Trong khi liên quan đến thứ tự ưu tiên, thì còn rất nhiều chủ thể khác, ví dụ: thứ tự ưu tiên giữa Nhà nước (ví dụ như trong quan hệ về thuế) với bên nhận bảo đảm; giữa người lao động với bên nhận bảo đảm; giữa người sửa chữa, nâng cấp tài sản người bảo quản tài sản với bên nhận bảo đảm; giữa người mua tài sản với bên nhận bảo đảm...? Điều 342 BLDS năm 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” và Điều 361 BLDS năm 2005 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”, trong khi đó, theo khoản 2 Điều 718 BLDS năm 2005, thì “bên thế chấp có quyền nhận tiền vay do thế chấp quyền sử dụng đất theo phương thức đã thỏa thuận”. Các quy định nêu trên dẫn đến vướng mắc trong quá trình áp dụng, cụ thể như sau: Trong thời gian gần đây, áp dụng Điều 342 BLDS năm 2005, khi khách hàng và tổ chức tín dụng đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba, thì các hợp đồng này đã bị một số Tòa án tuyên vô hiệu với lý do là có sự nhầm lẫn về hình thức hợp đồng. Theo lập luận tại bản án, thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba thực chất là quan hệ bảo lãnh, vì bên vay và bên bảo đảm là hai chủ thể khác nhau. Do đó, các bên phải ký kết hợp đồng bảo lãnh chứ không phải hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba. Việc các bên ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba là không đúng với tính chất của giao dịch dân sự có biện pháp bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh và quy định của BLDS năm 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 122), hình thức giao dịch dân sự (Điều 124), hình thức bảo lãnh (Điều 362). Đi sâu cụ thể vào từng điều luật thì các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những hạn chế sau: +) Tại khoản 3 điều 349 quy định về quyền của bên thế chấp tài sản: “Được bán, thay thế tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh…” và khoản 1 điều 20 Quyền của bên nhận thế chấp trong trường hợp bên thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp”, Nghị định số 1632006NĐCP cũng quy định bên nhận thế chấp chỉ có quyền thu hồi tài sản thế chấp trong trường hợp bên thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp”. Tài sản thế chấp là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dù đã được đăng ký thế chấp và các bên thoả thuận chỉ được bán khi có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, nhưng bên thế chấp có thể bán bất kỳ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Các quy định trên đã đương nhiên cho phép bên thế chấp được bán tài sản thế chấp và loại trừ hoàn toàn quyền của bên nhận thế chấp đối với việc thu hồi tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp hợp pháp bị bán trái với thoả thuận. Như vậy bên mua tài sản thế chấp luôn được bảo vệ, không cần biết có ngay tình hay không và dù cho tài sản thế chấp có hay không được đăng ký thế chấp. Với những quy định như trên, pháp luật đã mặc nhiên phủ nhận ý chí thoả thuận của các bên và đã vô hiệu hoá ý nghĩa, tác dụng của cơ chế đăng ký thế chấp tài sản là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. +) Tại khoản 1 điều 3 của Nghị định số 112012NĐ CP liệt kê danh sách các đối tượng có thể là bên bảo đảm gồm bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm đảm. Danh sách này vô tình bỏ qua quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên là một loại quyền tài sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự được nêu tại khoản 3 điều 322 của Bộ luật dân sự. Tuy khoản này có liệt kê ngay sau đó rằng bên bảo đảm gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp, có nghĩa là bên thế chấp quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng được coi là một bên bảo đảm, song việc không nhắc tới quyền tài sản này ít nhiều tác động tới tâm lý của bên nhận bảo đảm và rõ ràng mâu thuẫn với quy định của Bộ luật dân sự là văn bản luật mà Nghị định 163 hướng dẫn. +) Theo quy định tại khoản 2 điều 1 Nghị định số 112012NĐ CP, tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất và bao gồm 3 loại sau đây : Tài sản được hình thành từ vốn vay (tài sản có được từ việc sử dụng vốn vay để đầu tư) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm (gồm các tài sản mà việc hình thành hay tạo lập về mặt vật chất đang diễn ra tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, ví dụ các công trình xây dựng đang được thi công); Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật. Quy định cũ lấy tiêu chí thời điểm sở hữu tài sản bảo đảm để xác định tài sản hình thành trong tương lai, tức là tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Quy định mới có ưu điểm là liệt kê một cách rõ ràng danh sách các tài sản hình thành trong tương lai. Song danh sách này có vẻ chỉ hướng đến các tài sản hữu hình chứ chưa bao quát hết các loại tài sản có thể coi là tài sản hình thành trong tương lai, đặc biệt là các quyền tài sản vốn có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chẳng hạn nếu sử dụng danh sách này rất khó có thể xác định được loại quyền đòi nợ nào có thể được coi là tài sản hình thành trong tương lai để trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp. Thực ra quyền đòi nợ tương lai là quyền đòi nợ còn chưa phát sinh do giao dịch hay sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh quyền đòi nợ này còn chưa diễn ra. +) Nghị định số 112012NĐ CP được bổ sung một điều 47a quy định riêng về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo lãnh và giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận ký quỹ. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 của điều này bên nhận tài sản bảo đảm sẽ được ưu tiên thanh toán trước bên nhận bảo lãnh nếu giao dịch bảo đảm bằng tài sản được đăng ký và nếu không thì thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm. Thông thường, khi nhận bảo lãnh, ngân hàng thường yêu cầu bên bảo lãnh dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh. Điều 44 của Nghị định 1632006NĐ CP công nhận giá trị pháp lý của các giao dịch bảo đảm bằng tài sản đó và về nguyên tắc các giao dịch này hoàn toàn có thể được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Không có lý do gì để có thể coi trong trường hợp này quyền của bên nhận bảo lãnh chỉ được thực hiện sau quyền của các bên nhận bảo đảm bằng tài sản khác, mà khi đó phải áp dụng điều 325 của Bộ luật dân sự 2005 theo đó giao dịch bảo đảm nào đăng ký trước thì sẽ được ưu tiên thanh toán trước và nếu không có giao dịch bảo đảm nào được đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm. Hơn nữa, bảo lãnh theo quy định của pháp luật hiện hành là chế định bảo vệ tối đa quyền lợi của bên nhận bảo lãnh nên có vẻ quy định này đi ngược lại tinh thần của Bộ luật dân sự. 3.Phương hướng hoàn thiện. Thứ nhất, về kết cấu trong BLDS phần về giao dịch bảo đảm. Kết cấu các quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS, nếu dựa trên 2 phần chính là vật quyền và trái quyền, thì cần có những nội dung: quy định chung về giao dịch bảo đảm, quy định cụ thể về từng biện pháp bảo đảm có tính chất của vật quyền và trái quyền, trong đó tập trung vào các vấn đề như: cách thức xác lập biện pháp nội dung, phạm vi quyền và nghĩa vụ của từng biện pháp, nguyên lý được áp dụng riêng đối với vật quyền bảo đảm nguyên lý được áp dụng riêng đối với trái quyền bảo đảm, căn cứ chấm dứt. Thứ hai , cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề cụ thể. +) Mở rộng đối tượng các quyền liên quan đến tài sản cần được đăng ký, công khai hóa về tình trạng pháp lý đối với người thứ ba Theo quy định của BLDS năm 2005, thì các biện pháp bảo đảm thuộc đối tượng đăng ký gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ. Bảo lãnh và tín chấp là biện pháp bảo đảm đối nhân nên không thuộc đối tượng đăng ký. Trong khi đó, tham khảo BLDS của một số nước cho thấy, ngoài việc đăng ký giao dịch bảo đảm ( vật quyền bảo đảm ), thì trong BLDS cũng quy định đăng ký đối với các quyền ưu tiên khác. Do đó, cần nghiên cứu mở rộng phạm vi đối tượng đăng ký nhằm giúp cho tình trạng pháp lý của tài sản được minh bạch, công khai với người thứ ba, từ đó tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân xác lập, thực hiện giao dịch về tài sản được an toàn. +) Về vật quyền bảo đảm. Bổ sung quy định về điều kiện bắt buộc để thiết lập vật quyền bảo đảm, cụ thể là phải đáp ứng 03 điều kiện: Phải có thỏa thuận làm phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm, nghĩa là bên nhận bảo đảm phải “cung cấp” một giá trị nghĩa vụ nhất định ( có thể hiện tại hoặc trong tương lai ). Hợp đồng bảo đảm đã được giao kết, trong đó có mô tả về tài sản bảo đảm. Bên bảo đảm có quyền sở hữu ( quyền chiếm hữu ) hợp pháp tài sản bảo đảm. Theo quy định tại Điều 328 BLDS năm 2005, thì “cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố”. Do đó, BLDS sửa đổi phải làm rõ vấn đề như: Biện pháp cầm cố được áp dụng đối với những loại tài sản nào ( phải là động sản hữu hình hay tài sản nói chung )? Trường hợp nào chỉ cần “chuyển giao” đã phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba? Trường hợp nào phải đăng ký để có giá trị pháp lý đối với người thứ ba? BLDS sửa đổi cần quy định căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm ( ví dụ: Thời điểm đăng ký và thời điểm chiếm hữu tài sản bảo đảm ), xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các chủ thể có chung tài sản bảo đảm ( giữa bên nhận bảo đảm trong quan hệ vật quyền với bên nhận bảo đảm trong quan hệ trái quyền, giữa bên nhận bảo đảm trong biện pháp bảo đảm theo thỏa thuận với bên nhận bảo đảm trong biện pháp bảo đảm theo luật định hoặc theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ). BLDS năm 2005 quy định tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm đã hạn chế khả năng huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội. Trên thực tế, mặc dù tài sản bảo đảm không thuộc sở hữu của bên bảo đảm nhưng bên bảo đảm vẫn có quyền quản lý, sử dụng và các bên thỏa thuận nhận chính tài sản đó. Do đó, BLDS cần sửa đổi theo hướng tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của bên bảo đảm hoặc thuộc quyền quản lý, sử dụng (chiếm giữ) hợp pháp của bên bảo đảm. Ngoài ra, BLDS hiện hành mới chỉ tập trung điều chỉnh đối tượng là tài sản hữu hình, mà chưa có quy định cụ thể đối với các loại tài sản vô hình ( ví dụ: “quyền từ hợp đồng”, “quyền tài sản hình thành trong tương lai” ) như: Nội hàm của loại tài sản này? Căn cứ chứng minh quyền thuộc sở hữu, sử dụng của bên bảo đảm? Cách thức bảo vệ bên nhận bảo đảm trong trường hợp tài sản bảo đảm là các loại quyền… Thực tiễn cho thấy, các quyền từ hợp đồng nói riêng và tài sản sản vô hình nói chung ngày càng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong giao dịch dân sự, thương mại. Do đó, BLDS sửa đổi cần quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về loại tài sản bảo đảm đặc thù này, cụ thể là: Các loại tài sản này là đối tượng của các loại vật quyền nào? Cơ chế để công khai (xác lập hiệu lực) đối với bên thứ ba? Cách thức bên nhận bảo đảm kiểm soát tài sản này? +) Về trái quyền bảo đảm Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân, do đó cần xây dựng chế định này dựa trên những nguyên lý của trái quyền. Thiết kế của BLDS năm 2005 chưa thể hiện rõ nguyên tắc xuyên suốt này nên dẫn đến cách hiểu thiếu thống nhất, dễ gây nhầm lẫn cho các bên khi ký kết hợp đồng bảo lãnh để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Rà soát, bãi bỏ những quy định chưa thực sự hợp lý trong chế định về bảo lãnh của BLDS, ví dụ như: Quy định về “các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình” (Điều 361), vì về nguyên tắc, bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên được bảo lãnh đã dùng toàn bộ tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh hoặc quy định về việc “bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh” (Điều 369)... Rà soát, bổ sung một số quy định về bảo lãnh mà BLDS Việt Nam hiện còn thiếu, ví dụ như: Quy định nhằm bảo vệ người bảo lãnh, quy định về việc bên có quyền phải có nghĩa vụ thông tin đối với bên bảo lãnh, nghĩa vụ này có thể là tư vấn hoặc thậm chí là cảnh báo, bên bảo lãnh có thể viện dẫn tất cả những vi phạm về hình thức mà bên được bảo lãnh có thể viện dẫn để không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền, các trường hợp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt đối với biện pháp bảo lãnh; giới hạn của biện pháp bảo lãnh so với giá trị của nghĩa vụ được bảo lãnh, trường hợp bên bảo lãnh không có tài sản để bù trừ nghĩa vụ được bảo lãnh thì giải quyết hậu quả pháp lý như thế nào... Thứ ba, về những hạn chế cụ thể đối với từng vấn đề được quy định trong Nghị định 1632006NĐ – CP và Nghị định số 112012NĐ – CP. Đối với từng hạn chế ở trên, pháp luật cần xem xét, cân nhắc, đặt nó trong thực tế cuộc sống, từ đó điều chỉnh lại thành một Nghị định hoàn chỉnh về giao dịch bảo đảm trong thời gian gần nhất nhằm hạn chế hết mức có thể những tranh chấp, những vấn đề khó khăn mà nguyên nhân xuất phát là từ những hạn chế của những quy định trên. Thứ tư, cần có sự bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể liên quan đến tài sản bảo đảm BLDS cần có quy định cụ thể về thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo đảm với bên thứ ba khi xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể là: Nếu xác định bên thứ ba bao gồm cả các cơ quan công quyền, thì thứ tự ưu tiên giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân phải được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về mặt lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm. Với việc pháp luật quy định rõ ràng, chính xác và công bằng, lợi ích hợp pháp của các chủ thể ( bao gồm cả Nhà nước ) có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các giao dịch trong xã hội. Ngoài ra, BLDS cũng cần có các quy định để có thể giải quyết thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác, ví dụ như: Giữa bên nhận bảo đảm với bên mua tài sản thế chấp; giữa bên nhận bảo đảm với bên có quyền cầm giữ; giữa bên nhận bảo đảm trong quan hệ vật quyền bảo đảm với bên nhận bảo đảm trong quan hệ trái quyền... KẾT LUẬN Mỗi một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với những ưu điểm riêng, góp phần hoàn thiện thêm về chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Hiểu rõ về tính chất, nhược điểm của mỗi biện pháp giúp ta ứng dụng vào thực tế cuộc sống một cách dễ dàng hơn, từ đó giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những biện pháp biện pháp bảo đảm này. Phương hướng hoàn thiện được đề ra chỉ là định hướng khái quát từ những hạn chế của các biện pháp trên, không phải là cách giải quyết chi tiết, cụ thể đối với mỗi biện pháp. PHỤ LỤC Để hiểu một cách chi tiết về các biện pháp bảo đảm, em xin được đưa ra môt vài vụ án cụ thể đồng thời cũng đưa ra những bình luận của cá nhân đối với mỗi vụ án. 1) Tranh chấp có đối tượng cầm cố là tài sản động sản. +) Vụ việc: Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Lan, trú tại Quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh. Bị đơn: bà Nguyễn Quỳnh Anh – chủ cửa hàn
Xem thêm

46 Đọc thêm

thời điểm chuyển rủi ro

THỜI ĐIỂM CHUYỂN RỦI RO

Trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa từ người bán sang người mua có ý nghĩa pháp lý hết sức quan trọng, không những cho các bên của hợp đồng mà còn cho người thứ ba. Ý nghĩa pháp lý của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa thể hiện ở chỗ, sau thời điểm chuyển quyền sở hữu, người bán hết quyền định đoạt hàng hóa, còn người mua có được thẩm quyền của người chủ sở hữu đối với hàng hóa, tức là có thể bán lại cho người thứ ba, thế chấp ngân hàng hay trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng thì chỉ có chủ sở hữu mới có quyền yêu cầu người gây ra tổn thất hay công ty bảo hiểm (nếu hàng hóa có bảo hiểm) bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, sau thời điểm đó, hàng hóa trở thành tài sản của người mua và chủ nợ của người mua có thể có quyền yêu cầu đối với tài sản đó. Cuối cùng, sau thời điểm đó, người mua phải chịu trách nhiệm trước người thứ ba về những tổn thất do hàng hóa gây ra.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Đầu tư CFD bằng công cụ TWS

ĐẦU TƯ CFD BẰNG CÔNG CỤ TWS

CFD là gì? CFDs là viết tắt của Contract For Difference ( Hợp Đồng Cho Sự Khác Biệt là một thỏa thuận để trao đổi mức chênh lệch về giá trị của một tài sản cụ thể (cổ phần, chỉ số chứng khoán và hợp đồng hàng hóa tương lai giữa thời gian bắt đầu hợp đồng và thời gian kết thúc hợp đồng. Đó là sự phái sinh cho ph p các nhà giao dịch tiên đoán giá của tài sản đang mua bán. Một CFD trên chỉ số chứng khoán ch ng hạn như N SD Q 100 đưa ra ý tưởng về giá giao ngay của chỉ số thị trường trong tổng số của nó. Khi giao dịch các hợp đồng CFD trên chỉ số chứng khoán, bạn thật sự không sở hữu tài sản đang mua bán, bạn chỉ tiên đoán xu hướng tương lai của nó.CFD trên chỉ số chứng khoán được giao dịch tương tự như các hợp đồng tiền tệ. Các hợp đồng CFD có thể được xem như những công cụ dùng để giao dịch hầu hết các sản ph m tài chính trên nền tảng chênh lệch. Như là một sản ph m chênh lệch, CFD giúp nhà đầu tư giao dịch sử dụng t suất (t lệ được ấn định bởi nhà môi giới của bạn giữa mức thế chấp quy định và độ lớn hợp đồng .
Xem thêm

90 Đọc thêm

Pháp luật về giao dịch bảo đảm: bài tập nhóm đạt 9 điểm

Pháp luật về giao dịch bảo đảm: bài tập nhóm đạt 9 điểm

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm chúng tôi xin được giải quyết một tình huống cụ thể và từ đó rút ra được những bài học thực tiễn.
Xem thêm

Đọc thêm

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VÀ 379 ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VÀ 379 ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015MỤC LỤCPHẦN THỨ NHẤT: QUY ĐỊNH CHUNG18Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG18Điều 1. Phạm vi điều chỉnh18Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự18Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự18Điều 4. Áp dụng Bộ luật dân sự18Điều 5. Áp dụng tập quán19Điều 6. Áp dụng tương tự pháp luật19Điều 7. Chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự19Chương II: XÁC LẬP, THỰC HIỆN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ19Điều 8. Căn cứ xác lập quyền dân sự19Điều 9. Thực hiện quyền dân sự19Điều 10. Giới hạn việc thực hiện quyền dân sự19Điều 11. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự20Điều 12. Tự bảo vệ quyền dân sự20Điều 13. Bồi thường thiệt hại20Điều 14. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền20Điều 15. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền20Chương III: CÁ NHÂN20Mục 1. NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ, NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN20Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân20Điều 17. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân21Điều 18. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân21Điều 19. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân21Điều 20. Người thành niên21Điều 21. Người chưa thành niên21Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự21Điều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi21Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự22Mục 2. QUYỀN NHÂN THÂN22Điều 25. Quyền nhân thân22Điều 26. Quyền có họ, tên22Điều 27. Quyền thay đổi họ23Điều 28. Quyền thay đổi tên23Điều 29. Quyền xác định, xác định lại dân tộc23Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử24Điều 31. Quyền đối với quốc tịch24Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh24Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể25Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín25Điều 35. Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác25Điều 36. Quyền xác định lại giới tính26Điều 37. Chuyển đổi giới tính26Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình26Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình26Mục 3. NƠI CƯ TRÚ26Điều 40. Nơi cư trú của cá nhân26Điều 41. Nơi cư trú của người chưa thành niên27Điều 42. Nơi cư trú của người được giám hộ27Điều 43. Nơi cư trú của vợ, chồng27Điều 44. Nơi cư trú của quân nhân27Điều 45. Nơi cư trú của người làm nghề lưu động27Mục 4. GIÁM HỘ27Điều 46. Giám hộ27Điều 47. Người được giám hộ27Điều 48. Người giám hộ28Điều 49. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ28Điều 50. Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ28Điều 51. Giám sát việc giám hộ28Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên29Điều 53. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự29Điều 54. Cử, chỉ định người giám hộ29Điều 55. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi30Điều 56. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi30Điều 57. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi30Điều 58. Quyền của người giám hộ30Điều 59. Quản lý tài sản của người được giám hộ30Điều 60. Thay đổi người giám hộ31Điều 61. Chuyển giao giám hộ31Điều 62. Chấm dứt việc giám hộ31Điều 63. Hậu quả chấm dứt việc giám hộ31Mục 5. THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ, TUYÊN BỐ MẤT TÍCH, TUYÊN BỐ CHẾT32Điều 64. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó32Điều 65. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú32Điều 66. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú32Điều 67. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú32Điều 68. Tuyên bố mất tích32Điều 69. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích33Điều 70. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích33Điều 71. Tuyên bố chết33Điều 72. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết34Điều 73. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết34Chương IV: PHÁP NHÂN34Điều 74. Pháp nhân34Điều 75. Pháp nhân thương mại34Điều 76. Pháp nhân phi thương mại35Điều 77. Điều lệ của pháp nhân35Điều 78. Tên gọi của pháp nhân35Điều 79. Trụ sở của pháp nhân35Điều 80. Quốc tịch của pháp nhân35Điều 81. Tài sản của pháp nhân35Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân35Điều 83. Cơ cấu tổ chức của pháp nhân36Điều 84. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân36Điều 85. Đại diện của pháp nhân36Điều 86. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân36Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân36Điều 88. Hợp nhất pháp nhân36Điều 89. Sáp nhập pháp nhân37Điều 90. Chia pháp nhân37Điều 91. Tách pháp nhân37Điều 92. Chuyển đổi hình thức của pháp nhân37Điều 93. Giải thể pháp nhân37Điều 94. Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể37Điều 95. Phá sản pháp nhân38Điều 96. Chấm dứt tồn tại pháp nhân38Chương V: NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG, Ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ38Điều 97. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự38Điều 98. Đại diện tham gia quan hệ dân sự38Điều 99. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự38Điều 100. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự với một bên là nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài39Chương VI: HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC VÀ TỔ CHỨC KHÁC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ39Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân39Điều 102. Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân39Điều 103. Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân39Điều 104. Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện40Chương VII: TÀI SẢN40Điều 105. Tài sản40Điều 106. Đăng ký tài sản40Điều 107. Bất động sản và động sản40Điều 108. Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai40Điều 109. Hoa lợi, lợi tức40Điều 110. Vật chính và vật phụ40Điều 111. Vật chia được và vật không chia được41Điều 112. Vật tiêu hao và vật không tiêu hao41Điều 113. Vật cùng loại và vật đặc định41Điều 114. Vật đồng bộ41Điều 115. Quyền tài sản41Chương VIII: GIAO DỊCH DÂN SỰ41Điều 116. Giao dịch dân sự41Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự41Điều 118. Mục đích của giao dịch dân sự42Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự42Điều 120. Giao dịch dân sự có điều kiện42Điều 121. Giải thích giao dịch dân sự42Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu42Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội42Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo42Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện43Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn43Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép43Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình43Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức43Điều 130. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần44Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu44Điều 132. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu44Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu44Chương IX: ĐẠI DIỆN45Điều 134. Đại diện45Điều 135. Căn cứ xác lập quyền đại diện45Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân45Điều 137. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân45Điều 138. Đại diện theo ủy quyền45Điều 139. Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện45Điều 140. Thời hạn đại diện46Điều 141. Phạm vi đại diện46Điều 142. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện47Điều 143. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện47Chương X: THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU47Mục 1. THỜI HẠN47Điều 144. Thời hạn47Điều 145. Áp dụng cách tính thời hạn48Điều 146. Quy định về thời hạn, thời điểm tính thời hạn48Điều 147. Thời điểm bắt đầu thời hạn48Điều 148. Kết thúc thời hạn48Mục 2. THỜI HIỆU49Điều 149. Thời hiệu49Điều 150. Các loại thời hiệu49Điều 151. Cách tính thời hiệu49Điều 152. Hiệu lực của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự49Điều 153. Tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự49Điều 154. Bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự50Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện50Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự50Điều 157. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự50PHẦN THỨ HAI: QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN50Chương XI: QUY ĐỊNH CHUNG51Mục 1. NGUYÊN TẮC XÁC LẬP, THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN51Điều 158. Quyền sở hữu51Điều 159. Quyền khác đối với tài sản51Điều 160. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản51Điều 161. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản51Điều 162. Chịu rủi ro về tài sản51Mục 2. BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN51Điều 163. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản52Điều 164. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản52Điều 165. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật52Điều 166. Quyền đòi lại tài sản52Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình52Điều 168. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình52Điều 169. Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản53Điều 170. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại53Mục 3. GIỚI HẠN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN53Điều 171. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết53Điều 172. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường53Điều 173. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội53Điều 174. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng53Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản53Điều 176. Mốc giới ngăn cách các bất động sản54Điều 177. Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại54Điều 178. Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề54Chương XII: CHIẾM HỮU54Điều 179. Khái niệm chiếm hữu55Điều 180. Chiếm hữu ngay tình55Điều 181. Chiếm hữu không ngay tình55Điều 182. Chiếm hữu liên tục55Điều 183. Chiếm hữu công khai55Điều 184. Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu55Điều 185. Bảo vệ việc chiếm hữu55Chương XIII: QUYỀN SỞ HỮU55Mục 1. NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU55Tiểu mục 1. QUYỀN CHIẾM HỮU56Điều 186. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu56Điều 187. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản56Điều 188. Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự56Tiểu mục 2. QUYỀN SỬ DỤNG56Điều 189. Quyền sử dụng56Điều 190. Quyền sử dụng của chủ sở hữu56Điều 191. Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu56Tiểu mục 3. QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT56Điều 192. Quyền định đoạt56Điều 193. Điều kiện thực hiện quyền định đoạt56Điều 194. Quyền định đoạt của chủ sở hữu56Điều 195. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu56Điều 196. Hạn chế quyền định đoạt57Mục 2. HÌNH THỨC SỞ HỮU57Tiểu mục 1. SỞ HỮU TOÀN DÂN57Điều 197. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân57Điều 198. Thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân57Điều 199. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân57Điều 200. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp57Điều 201. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân57Điều 202. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp57Điều 203. Quyền của cá nhân, pháp nhân đối với việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữu toàn dân58Điều 204. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý58Tiểu mục 2. SỞ HỮU RIÊNG58Điều 205. Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng58Điều 206. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng58Tiểu mục 3. SỞ HỮU CHUNG58Điều 207. Sở hữu chung và các loại sở hữu chung58Điều 208. Xác lập quyền sở hữu chung58Điều 209. Sở hữu chung theo phần58Điều 210. Sở hữu chung hợp nhất58Điều 211. Sở hữu chung của cộng đồng58Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình59Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng59Điều 214. Sở hữu chung trong nhà chung cư59Điều 215. Sở hữu chung hỗn hợp59Điều 216. Quản lý tài sản chung60Điều 217. Sử dụng tài sản chung60Điều 218. Định đoạt tài sản chung60Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung60Điều 220. Chấm dứt sở hữu chung61Mục 3. XÁC LẬP, CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU61Tiểu mục 1. XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU61Điều 221. Căn cứ xác lập quyền sở hữu61Điều 222. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ61Điều 223. Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng61Điều 224. Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức61Điều 225. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập61Điều 226. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp trộn lẫn62Điều 227. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp chế biến62Điều 228. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu62Điều 229. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy63Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên63Điều 231. Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc64Điều 232. Xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc64Điều 233. Xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước64Điều 234. Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế64Điều 235. Xác lập quyền sở hữu theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác64Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật64Tiểu mục 2. CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU65Điều 237. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu65Điều 238. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác65Điều 239. Từ bỏ quyền sở hữu65Điều 240. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác65Điều 241. Xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu65Điều 242. Tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu huỷ65Điều 243. Tài sản bị trưng mua65Điều 244. Tài sản bị tịch thu66Chương XIV: QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN66Mục 1. QUYỀN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ66Điều 245. Quyền đối với bất động sản liền kề66Điều 246. Căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề66Điều 247. Hiệu lực của quyền đối với bất động sản liền kề66Điều 248. Nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề66Điều 249. Thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề66Điều 250. Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa66Điều 251. Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải66Điều 252. Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề66Điều 253. Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác67Điều 254. Quyền về lối đi qua67Điều 255. Mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác67Điều 256. Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề67Mục 2. QUYỀN HƯỞNG DỤNG67Điều 257. Quyền hưởng dụng67Điều 258. Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng67Điều 259. Hiệu lực của quyền hưởng dụng67Điều 260. Thời hạn của quyền hưởng dụng68Điều 261. Quyền của người hưởng dụng68Điều 262. Nghĩa vụ của người hưởng dụng68Điều 263. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản68Điều 264. Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức68Điều 265. Chấm dứt quyền hưởng dụng68Điều 266. Hoàn trả tài sản khi chấm dứt quyền hưởng dụng69Mục 3. QUYỀN BỀ MẶT69Điều 267. Quyền bề mặt69Điều 268. Căn cứ xác lập quyền bề mặt69Điều 269. Hiệu lực của quyền bề mặt69Điều 270. Thời hạn của quyền bề mặt69Điều 271. Nội dung của quyền bề mặt69Điều 272. Chấm dứt quyền bề mặt69Điều 273. Xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt70Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ70Điều 276. Đối tượng của nghĩa vụ70Mục 2. THỰC HIỆN NGHĨA VỤ70Điều 277. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ70Điều 278. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ71Điều 279. Thực hiện nghĩa vụ giao vật71Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền71Điều 281. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc71Điều 282. Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ71Điều 283. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba71Điều 284. Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện71Điều 285. Thực hiện nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn71Điều 286. Thực hiện nghĩa vụ thay thế được72Điều 287. Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ72Điều 288. Thực hiện nghĩa vụ liên đới72Điều 289. Thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới72Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần72Điều 291. Thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần72Mục 3. BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ72Tiểu mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG72Điều 292. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ72Điều 293. Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm73Điều 294. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai73Điều 295. Tài sản bảo đảm73Điều 296. Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ73Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba74Điều 298. Đăng ký biện pháp bảo đảm74Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm74Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm74Điều 301. Giao tài sản bảo đảm để xử lý74Điều 302. Quyền nhận lại tài sản bảo đảm74Điều 303. Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp74Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp75Điều 305. Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm75Điều 306. Định giá tài sản bảo đảm75Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp75Điều 308. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm75Tiểu mục 2. CẦM CỐ TÀI SẢN76Điều 309. Cầm cố tài sản76Điều 310. Hiệu lực của cầm cố tài sản76Điều 311. Nghĩa vụ của bên cầm cố76Điều 312. Quyền của bên cầm cố76Điều 313. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố76Điều 314. Quyền của bên nhận cầm cố77Điều 315. Chấm dứt cầm cố tài sản77Điều 316. Trả lại tài sản cầm cố77Tiểu mục 3. THẾ CHẤP TÀI SẢN77Điều 317. Thế chấp tài sản77Điều 318. Tài sản thế chấp77Điều 319. Hiệu lực của thế chấp tài sản77Điều 320. Nghĩa vụ của bên thế chấp78Điều 321. Quyền của bên thế chấp78Điều 322. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp78Điều 323. Quyền của bên nhận thế chấp78Điều 324. Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp79Điều 325. Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất79Điều 326. Thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất79Điều 327. Chấm dứt thế chấp tài sản79Tiểu mục 4. ĐẶT CỌC, KÝ CƯỢC, KÝ QUỸ80Điều 328. Đặt cọc80Điều 329. Ký cược80Điều 330. Ký quỹ80Tiểu mục 5. BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU80Điều 331. Bảo lưu quyền sở hữu80Điều 332. Quyền đòi lại tài sản80Điều 333. Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản80Điều 334. Chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu80Tiểu mục 6. BẢO LÃNH81Điều 335. Bảo lãnh81Điều 336. Phạm vi bảo lãnh81Điều 337. Thù lao81Điều 338. Nhiều người cùng bảo lãnh81Điều 339. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh81Điều 340. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh81Điều 341. Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh82Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh82Điều 343. Chấm dứt bảo lãnh82Điều 344. Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị xã hội82Điều 345. Hình thức, nội dung tín chấp82Tiểu mục 8. CẦM GIỮ TÀI SẢN82Điều 346. Cầm giữ tài sản82Điều 347. Xác lập cầm giữ tài sản82Điều 348. Quyền của bên cầm giữ82Điều 349. Nghĩa vụ của bên cầm giữ83Điều 350. Chấm dứt cầm giữ83Mục 4. TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ83Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ83Điều 352. Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ83Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ83Điều 354. Hoãn thực hiện nghĩa vụ83Điều 355. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ84Điều 356. Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật84Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền84Điều 358. Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc84Điều 359. Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ84Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ84Điều 361. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ84Điều 362. Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại85Điều 363. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi85Điều 364. Lỗi trong trách nhiệm dân sự85Mục 5. CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU VÀ CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ85Điều 365. Chuyển giao quyền yêu cầu85Điều 366. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ85Điều 367. Không chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao quyền yêu cầu85Điều 368. Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ85Điều 369. Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ86Điều 370. Chuyển giao nghĩa vụ86Điều 371. Chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm86Mục 6. CHẤM DỨT NGHĨA VỤ86Điều 372. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ86Điều 373. Hoàn thành nghĩa vụ86Điều 374. Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ86Điều 375. Chấm dứt nghĩa vụ theo thoả thuận86Điều 376. Chấm dứt nghĩa vụ do được miễn thực hiện nghĩa vụ87Điều 377. Chấm dứt nghĩa vụ do được thay thế bằng nghĩa vụ khác87Điều 378. Chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ87Điều 379. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ87Điều 380. Chấm dứt nghĩa vụ do hoà nhập bên có nghĩa vụ và bên có quyền87Điều 381. Chấm dứt nghĩa vụ do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ87Điều 382. Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại87Điều 383. Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn87Điều 384. Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản87Mục 7. HỢP ĐỒNG87Tiểu mục 1. GIAO KẾT HỢP ĐỒNG88Điều 385. Khái niệm hợp đồng88Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng88Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng88Điều 388. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực88Điều 389. Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng88Điều 390. Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng88Điều 391. Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng88Điều 392. Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất89Điều 393. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng89Điều 394. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng89Điều 395. Trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi89Điều 396. Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi89Điều 397. Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng89Điều 398. Nội dung của hợp đồng89Điều 399. Địa điểm giao kết hợp đồng90Điều 400. Thời điểm giao kết hợp đồng90Điều 401. Hiệu lực của hợp đồng90Điều 402. Các loại hợp đồng chủ yếu90Điều 403. Phụ lục hợp đồng90Điều 404. Giải thích hợp đồng91Điều 405. Hợp đồng theo mẫu91Điều 406. Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng91Điều 407. Hợp đồng vô hiệu91Điều 408. Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được92Tiểu mục 2. THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG92Điều 409. Thực hiện hợp đồng đơn vụ92Điều 410. Thực hiện hợp đồng song vụ92Điều 411. Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ92Điều 412. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ92Điều 413. Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên92Điều 414. Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên92Điều 415. Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba92Điều 416. Quyền từ chối của người thứ ba93Điều 417. Không được sửa đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba93Điều 418. Thoả thuận phạt vi phạm93Điều 419. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng93Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản93Tiểu mục 3. SỬA ĐỔI, CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG94Điều 421. Sửa đổi hợp đồng94Điều 422. Chấm dứt hợp đồng94Điều 423. Huỷ bỏ hợp đồng94Điều 424. Huỷ bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ94Điều 425. Huỷ bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện95Điều 426. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng95Điều 427. Hậu quả của việc huỷ bỏ hợp đồng95Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng95Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng95Chương XVI: MỘT SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG96Mục 1. HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN96Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản96Điều 431. Đối tượng của hợp đồng mua bán96Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán96Điều 433. Giá và phương thức thanh toán96Điều 434. Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán96Điều 435. Địa điểm giao tài sản97Điều 436. Phương thức giao tài sản97Điều 437. Trách nhiệm do giao tài sản không đúng số lượng97Điều 438. Trách nhiệm do giao vật không đồng bộ97Điều 439. Trách nhiệm giao tài sản không đúng chủng loại97Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền97Điều 441. Thời điểm chịu rủi ro98Điều 442. Chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu98Điều 443. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng98Điều 444. Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán98Điều 445. Bảo đảm chất lượng vật mua bán98Điều 446. Nghĩa vụ bảo hành99Điều 447. Quyền yêu cầu bảo hành99Điều 448. Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành99Điều 449. Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành99Điều 450. Mua bán quyền tài sản99Điều 451. Bán đấu giá tài sản99Điều 452. Mua sau khi sử dụng thử99Điều 453. Mua trả chậm, trả dần100Điều 454. Chuộc lại tài sản đã bán100Điều 455. Hợp đồng trao đổi tài sản100Điều 456. Thanh toán giá trị chênh lệch100Mục 3. HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN101Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản101Điều 458. Tặng cho động sản101Điều 459. Tặng cho bất động sản101Điều 460. Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình101Điều 461. Thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho101Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện101Mục 4. HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN101Điều 463. Hợp đồng vay tài sản101Điều 464. Quyền sở hữu đối với tài sản vay101Điều 465. Nghĩa vụ của bên cho vay102Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay102Điều 467. Sử dụng tài sản vay102Điều 468. Lãi suất102Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn102Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn103Điều 471. Họ, hụi, biêu, phường103Mục 5. HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN103Tiểu mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN103Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản103Điều 473. Giá thuê103Điều 474. Thời hạn thuê103Điều 475. Cho thuê lại103Điều 476. Giao tài sản thuê103Điều 477. Nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê104Điều 478. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê104Điều 479. Nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê104Điều 480. Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích104Điều 481. Trả tiền thuê104Điều 482. Trả lại tài sản thuê104Tiểu mục 2. HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN TÀI SẢN105Điều 483. Hợp đồng thuê khoán tài sản105Điều 484. Đối tượng của hợp đồng thuê khoán105Điều 485. Thời hạn thuê khoán105Điều 486. Giá thuê khoán105Điều 487. Giao tài sản thuê khoán105Điều 488. Trả tiền thuê khoán và phương thức trả105Điều 489. Khai thác tài sản thuê khoán106Điều 490. Bảo quản, bảo dưỡng, định đoạt tài sản thuê khoán106Điều 491. Hưởng hoa lợi, chịu thiệt hại về gia súc thuê khoán106Điều 492. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán106Điều 493. Trả lại tài sản thuê khoán106Mục 6. HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN106Điều 494. Hợp đồng mượn tài sản106Điều 495. Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản106Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản106Điều 497. Quyền của bên mượn tài sản107Điều 498. Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản107Điều 499. Quyền của bên cho mượn tài sản107Mục 7. HỢP ĐỒNG VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT107Điều 500. Hợp đồng về quyền sử dụng đất107Điều 501. Nội dung của hợp đồng về quyền sử dụng đất107Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất107Điều 503. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất108Mục 8. HỢP ĐỒNG HỢP TÁC108Điều 504. Hợp đồng hợp tác108Điều 505. Nội dung của hợp đồng hợp tác108Điều 506. Tài sản chung của các thành viên hợp tác108Điều 507. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác108Điều 508. Xác lập, thực hiện giao dịch dân sự108Điều 509. Trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác109Điều 510. Rút khỏi hợp đồng hợp tác109Điều 511. Gia nhập hợp đồng hợp tác109Điều 512. Chấm dứt hợp đồng hợp tác109Mục 9. HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ109Điều 513. Hợp đồng dịch vụ109Điều 514. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ109Điều 515. Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ109Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ110Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ110Điều 518. Quyền của bên cung ứng dịch vụ110Điều 519. Trả tiền dịch vụ110Điều 520. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ110Điều 521. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ110Mục 10. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN111Tiểu mục 1. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH111Điều 522. Hợp đồng vận chuyển hành khách111Điều 523. Hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách111Điều 524. Nghĩa vụ của bên vận chuyển111Điều 525. Quyền của bên vận chuyển111Điều 526. Nghĩa vụ của hành khách111Điều 527. Quyền của hành khách111Điều 528. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại112Điều 529. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng vận chuyển hành khách112Tiểu mục 2. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÀI SẢN112Điều 530. Hợp đồng vận chuyển tài sản112Điều 531. Hình thức hợp đồng vận chuyển tài sản112Điều 532. Giao tài sản cho bên vận chuyển112Điều 533. Cước phí vận chuyển112Điều 534. Nghĩa vụ của bên vận chuyển112Điều 535. Quyền của bên vận chuyển113Điều 536. Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển113Điều 537. Quyền của bên thuê vận chuyển113Điều 538. Giao tài sản cho bên nhận tài sản113Điều 539. Nghĩa vụ của bên nhận tài sản113Điều 540. Quyền của bên nhận tài sản113Điều 541. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại114Mục 11. HỢP ĐỒNG GIA CÔNG114Điều 542. Hợp đồng gia công114Điều 543. Đối tượng của hợp đồng gia công114Điều 544. Nghĩa vụ của bên đặt gia công114Điều 545. Quyền của bên đặt gia công114Điều 546. Nghĩa vụ của bên nhận gia công114Điều 547. Quyền của bên nhận gia công114Điều 548. Trách nhiệm chịu rủi ro115Điều 549. Giao, nhận sản phẩm gia công115Điều 550. Chậm giao, chậm nhận sản phẩm gia công115Điều 551. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công115Điều 552. Trả tiền công115Điều 553. Thanh lý nguyên vật liệu115Mục 12. HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN116Điều 554. Hợp đồng gửi giữ tài sản116Điều 555. Nghĩa vụ của bên gửi tài sản116Điều 556. Quyền của bên gửi tài sản116Điều 557. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản116Điều 558. Quyền của bên giữ tài sản116Điều 559. Trả lại tài sản gửi giữ116Điều 560. Chậm giao, chậm nhận tài sản gửi giữ117Điều 561. Trả tiền công117Mục 13. HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN117Điều 562. Hợp đồng uỷ quyền117Điều 563. Thời hạn ủy quyền117Điều 564. Ủy quyền lại117Điều 565. Nghĩa vụ của bên được uỷ quyền117Điều 566. Quyền của bên được uỷ quyền117Điều 567. Nghĩa vụ của bên uỷ quyền118Điều 568. Quyền của bên uỷ quyền118Điều 569. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền118Chương XVII: HỨA THƯỞNG, THI CÓ GIẢI118Điều 570. Hứa thưởng118Điều 571. Rút lại tuyên bố hứa thưởng118Điều 572. Trả thưởng118Điều 573. Thi có giải119Chương XVIII: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ UỶ QUYỀN119Điều 574. Thực hiện công việc không có ủy quyền119Điều 575. Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền119Điều 576. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện119Điều 577. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại119Điều 578. Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền120Chương XIX: NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT120Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả120Điều 580. Tài sản hoàn trả120Điều 581. Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức120Điều 582. Quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả120Điều 583. Nghĩa vụ thanh toán121Chương XX: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG121Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG121Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại121Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại121Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân121Điều 587. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra122Điều 588. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại122Mục 2. XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI122Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm122Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm122Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm122Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm123Điều 593. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm123Mục 3. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ123Điều 594. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng123Điều 595. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết123Điều 596. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra123Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra124Điều 598. Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra124Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý124Điều 600. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra124Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra124Điều 602. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường124Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra125Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra125Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra125Điều 606. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể125Điều 607. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả125Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng125PHẦN THỨ TƯ: THỪA KẾ126Chương XXI: QUY ĐỊNH CHUNG126Điều 609. Quyền thừa kế126Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân126Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế126Điều 612. Di sản126Điều 613. Người thừa kế126Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế126Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại126Điều 616. Người quản lý di sản126Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản127Điều 618. Quyền của người quản lý di sản127Điều 619. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm127Điều 620. Từ chối nhận di sản127Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản128Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế128Điều 623. Thời hiệu thừa kế128Chương XXII: THỪA KẾ THEO DI CHÚC128Điều 624. Di chúc128Điều 625. Người lập di chúc128Điều 626. Quyền của người lập di chúc128Điều 627. Hình thức của di chúc129Điều 628. Di chúc bằng văn bản129Điều 629. Di chúc miệng129Điều 630. Di chúc hợp pháp129Điều 631. Nội dung của di chúc129Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc129Điều 633. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng130Điều 634. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng130Điều 635. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực130Điều 636. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã130Điều 637. Người không được công chứng, chứng thực di chúc130Điều 638. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực130Điều 639. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở131Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc131Điều 641. Gửi giữ di chúc131Điều 642. Di chúc bị thất lạc, hư hại131Điều 643. Hiệu lực của di chúc131Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc132Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng132Điều 646. Di tặng132Điều 647. Công bố di chúc132Điều 648. Giải thích nội dung di chúc133Chương XXIII: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT133Điều 649. Thừa kế theo pháp luật133Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật133Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật133Điều 652. Thừa kế thế vị134Điều 653. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ134Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế134Điều 655. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác134Chương XXIV: THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN134Điều 656. Họp mặt những người thừa kế134Điều 657. Người phân chia di sản134Điều 658. Thứ tự ưu tiên thanh toán134Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc135Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật135Điều 661. Hạn chế phân chia di sản135Điều 662. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế135PHẦN THỨ NĂM: PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI136Chương XXV: QUY ĐỊNH CHUNG136Điều 663. Phạm vi áp dụng136Điều 664. Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài136Điều 665. Áp dụng điều ước quốc tế đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài136Điều 666. Áp dụng tập quán quốc tế136Điều 667. Áp dụng pháp luật nước ngoài136Điều 668. Phạm vi pháp luật được dẫn chiếu đến136Điều 669. Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật137Điều 670. Trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài137Điều 671. Thời hiệu137Chương XXVI: PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁ NHÂN, PHÁP NHÂN137Điều 672. Căn cứ xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch137Điều 673. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân137Điều 674. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân137Điều 675. Xác định cá nhân mất tích hoặc chết138Điều 676. Pháp nhân138Chương XXVII: PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ TÀI SẢN, QUAN HỆ NHÂN THÂN138Điều 677. Phân loại tài sản138Điều 678. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản138Điều 679. Quyền sở hữu trí tuệ138Điều 680. Thừa kế138Điều 681. Di chúc138Điều 682. Giám hộ139Điều 683. Hợp đồng139Điều 684. Hành vi pháp lý đơn phương139Điều 685. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật139Điều 686. Thực hiện công việc không có ủy quyền140Điều 687. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng140PHẦN THỨ SÁU: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH140Điều 688. Điều khoản chuyển tiếp140Điều 689. Hiệu lực thi hành140Toàn bộ điểm mới Bộ luật dân sự 2015141
Xem thêm

212 Đọc thêm

Cùng chủ đề