TỈ LỆ MẮC MỘT SỐ BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HOÁ 100 000 DÂN NG TKYT 05

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỈ LỆ MẮC MỘT SỐ BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HOÁ 100 000 DÂN NG TKYT 05":

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tim ngày càng trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng với tỷ lệ mắc bệnh là 1-2% dân số ở nƣớc đã phát triển. Cùng với sự tăng dần của tuổi thọ và các bệnh tim mạch nhƣ tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hóa, tỷ lệ bệnh nhân suy tim mới mắc hàng năm ngày càng tăng. Hội Tim mạch Châu Âu dự báo đến năm 2040 có 77,2 nghìn ngƣời trên 65 tuổi bị suy tim. Ở Mỹ số bệnh nhân mới đƣợc chẩn đoán suy tim là 870.000 ca/ năm (ARIC 2005 – 2011) [1]. Dự báo số bệnh nhân suy tim ở Mỹ sẽ tăng thêm 46% từ năm 2012 đến năm 2030, đạt mức hơn 8 triệu ngƣời từ 18 tuổi trở lên [2]. Tỉ lệ mắc suy tim là 10/1000 dân Mỹ trên 65 tuổi [3]. Tỉ lệ này tăng theo tuổi và khác nhau giữa hai giới. Lứa tuổi từ 65 – 75 là 15,2/1000 ngƣời nam và 8,2/1000 ngƣời nữ. Từ 75-84 tuổi là 31,7/1000 ngƣời nam và là 19,8/1000 ngƣời nữ. Con số này tăng vọt lên 65,2/1000 ngƣời nam và 45,6/1000 ngƣời nữ khi tuổi thọ trên 85 tuổi [4]. Mặc dù đã có rất nhiều loại thuốc mới nhƣ ức chế men chuyển, chẹn beta giao cảm hay các thuốc ức chế phosphodiestes đƣợc phát minh trong điều trị suy tim song vẫn không thể kiểm soát đƣợc tỷ lệ tử vong cũng nhƣ cải thiện chất lƣợng cuộc sống của nhiều ngƣời bệnh. Ngay ở nƣớc phát triển nhƣ Hoa Kì, năm 2011 vẫn có tới 58 309 ngƣời tử vong do suy tim [5]. Dù đã đƣợc cải thiện nhiều [6] nhƣng vẫn có tới 29,6% bệnh nhân suy tim tử vong trong năm đầu và 50% các trƣờng hợp tử vong trong vòng 5 năm kể từ ngày đƣợc phát hiện [7]. Bên cạnh đó, chi phí điều trị suy tim còn cao hơn bệnh ung thƣ hay nhồi máu cơ tim, tiêu tốn khoảng 1-2% tổng số nguồn ngân sách ở các nƣớc đã phát triển, khoảng 244 đô la/ ngƣời dân Mỹ [2]. Tại Việt Nam, bệnh tim mạch tăng nhanh trong những năm gần đây. Khoảng 25% ngƣời trên 25 tuổi có bệnh tim mạch. Trong đó, suy tim chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Bệnh nhân mắc suy tim nằm điều trị nội trú tại Viện Tim mạch năm 2007 là 1962 bệnh nhân chiếm 19,8% tổng số bệnh nhân nhập viện [8]. Theo thống kê của bộ y tế năm 2010 tỉ lệ mắc là 43,7% trong đó tỉ lệ tử vong là 1,2%. Theo niên giám thống kê của cục quản lí khám chữa bệnh Bộ Y tế (2015), tỉ lệ tử vong do suy tim năm 2013 là 0,51% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân, đứng thứ 10 trong các nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam. Nhiều phƣơng pháp điều trị liên tục đƣợc nghiên cứu nhằm hạ tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ tử vong và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho bệnh nhân suy tim. Phƣơng pháp cấy máy tạo nhịp 3 buồng tái đồng bộ tim (CRT) ra đời những năm 1990 đã mở ra một thời đại mới trong điều trị suy tim. Nhiều nghiên cứu cho thấy CRT giúp cải thiện huyết động, cải thiện phân số tống máu thất trái từ đó cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối so với điều trị bằng thuốc (36% so với 20%, p
Xem thêm

Đọc thêm

Bệnh Bại Liệt (Poliomyelitis)

Bệnh Bại Liệt (Poliomyelitis)

- Bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus bại liệt gây ra.  - Đường lây truyền được coi là trực tiếp hay gián tiếp qua đường phân - miệng.  + Đường hô hấp → thứ yếu (thời kì đầu của bệnh) + Đường tiêu hoá ↔ chủ yếu - Tác nhân: Virut bại liệt (Poliovirus) - Nguồn bệnh của PV(*): Con người (Một số súc vật cũng có thể mang virus PV nhưng không có khả năng truyền sang người) - Bệnh thường xảy ra vào mùa hè và gặp phải ở trẻ em dưới 3 tuổi là cao nhất, giảm dần ở lứa tuổi sắp đi học. - Có thể lan truyền thành dịch.
Xem thêm

Đọc thêm

đáp án trắc nghiệm đề cương dịch tễ

đáp án trắc nghiệm đề cương dịch tễ

1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP Câu 1: Các cấu thành quan trọng trong định nghĩa dịch tễ học, chọn câu sai: a. tần suất của bệnh. b. nguyên nhân của bệnh. c. sự phân bố bệnh. d. Lý giải sự phân bố bệnh Câu 2: Xác định sự phân bố bệnh tật nhằm trả lời câu hỏi, chọn câu sai: a. Ai mắc bệnh này. b. Bệnh này xuất hiện khi nào. c. Bệnh này xuất hiện ở đâu. d. Tại sao bệnh đó xảy ra. Câu 3: Trong tiếp cận dịch tễ học, đốitượng của dịch tễ học là: a. Một người bệnh. b. Môt hiện tượng sức khỏe trong cộng đồng. c. Một nhóm dân số trong cộng đồng. d. Một nhóm đối tượng có nguy cơ trong cộng đồng. Câu 4: Tỷ suất bệnh mới trong quần thể là 51000 ngườinăm, điều này có nghĩa: a. Tỷ lệ hiện mắc trong quần thể tại một thời điểm là 0.005. b. Tỷ lệ mới mắc trong thời khoảng là 0.005. c. Cứ 1000 người quan sáttrong một năm có 5 người phát triển thành bệnh. d. Cứ 1000 người quan sát thì có 5 người mắc bệnh. Câu 5: Sự khác nhau giữa nghiên cứu quan sát và nghiên cứu can thiệp là: a. Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng khác nhau về cỡ mẫu b. Nghiên cứu là nghiên cứu tiền cứu c. Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng luôn so sánh được với nhau d. Nhà nghiên cứu sẽ quyết định ai sẽ phơi nhiễm và ai không phơi nhiễm. Câu 6: Điều nào sau đây không đúng với nghiên cứu thuần tập:2. a. Dễ thực hiện b. Chi phí cao c. Thời gian kéo dài d. Đo lường trực tiếp được yếu tố nguy cơ. Câu 7: Tỷ suất mắc bệnh thay đổitheo nhóm tuổi là do, ngoại trừ: a. Tính nhạy cảm và tính miễn dịch của bệnh b. Tăng sự tiếp xúc với yếu tố độc hại. c. Các đặc điểm di truyền của cha mẹ d. Khác biệt về lối sống và thói quen. Câu 8: Một ví dụ về một tỷ lệ hiện mắc, chọn câu đúng: a. Số lần bị viêm họng ở trẻ 3 tuổi hang năm b. Số trường hợp mới bị ung thư tiền liệt tuyến trên 100.000 dân c. Số bệnh nhân bị đái tháo đường tại một trường đại học d. Tổng số bệnh nhân bị xơ cứng lan tỏa trên 100.000dân. Câu 9: Tìm câu đúng.Căn cứ vàovị trí cảm nhiễm, cácbệnhlâyqua đườnghô hấp thuộcphân nhóm4 gồm có: A. viêm não lưu hành B. quai bị, bạch hầu Đ C. ho gà, cúm D. đậu mùa, thuỷđậu câu 10: Tìm câu đúng. Các bệnh lây theo đường hô hấp có các đặc tính sau đây: A. Các tác nhân gây bệnh lây theo đường hô hấp không sống lâu ở môi trường ngoài. B. Các tác nhân gây bệnh đường hô hấp được bài tiết theo chất tiết của đường hô hấp. C. Các giọt nước bọt có kích thước nhỏ thì rơi xuống đất nhanh tạo thành bụi. D. Yếu tố truyền nhiễm của bệnh hô hấp là không khí, vật dụng (bát, đĩa), bụi. Đ Câu 11: Tìm câu đúng. Các biện pháp phòng chống áp dụng đối với bệnh lây truyền qua đường hô hấp gồm: A. Uống thuốc dự phòng khi tiếp xúc với người bệnh và người nhà của họ. B. Khử trùng tốt chất thải (đờm dãi, nước bọt, chất nôn), khử trùng các đồ dùng cá nhân của bệnh nhân Đ C. Tiêu diệt các vector truyền bệnh để hạn chế sự lây lan từ người bệnh sang người lành. D. Diệt khuẩn nơi ở, thực hiện các biện pháp vệ sinh thường thức như ăn chín, uống sôi. Câu 12: Các câu sau đây phù hợp với đặc điểm dịch tễ của bệnh sởi, NGOẠI TRỪ: A. Bệnh sởi là bệnh của trẻ em vì 75% trường hợp mắc bệnh sởi xảy ra ở trẻ
Xem thêm

Đọc thêm

Cách phát hiện thai dị tật mẹ không thể bỏ qua

CÁCH PHÁT HIỆN THAI DỊ TẬT MẸ KHÔNG THỂ BỎ QUA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng cao, các biện pháp chẩn đoán trước sinh phát triển. Vì vậy, các dị tật của thai nhi (kể cả những dị tật không nhìn thấy được bằng mắt thường) được phát hiện sớm (bệnh Down, song thai dính nhau, thai có khối u ở mặt cổ...). Ngoài ra, một số thông tin cũng chỉ ra rằng việc sử dụng một số hoá chất tổng hợp, chế độ dinh dưỡng không hợp lý cũng có thể gây nên các bất thường về cấu trúc và sự phát triển của thai. Vì vậy, để sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh, các bà mẹ cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn về chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và được quản lý thai có hệ thống. Những dị tật có thể được phát hiện sớm Bất thường về nhiễm sắc thể: Đây là những bất thường về di truyền (bệnh Down, hội chứng Turner...), những bất thường này thường để lại những hậu quả nặng nề cho cuộc sống sau này của đứa trẻ. Hiện nay, để phát hiện những bất thường này cần phải làm rất nhiều xét nghiệm sàng lọc như siêu âm sớm (đo độ dày da gáy thai lúc 12-14 tuần), xét nghiệm về máu (double tests, triple tests...), chọc dò nước ối... Bất thường về hệ thần kinh thai: Nhiều dị tật liên quan đến hệ thần kinh, có những dị tật có thể phát hiện được sớm trong 3 tháng đầu (thai vô sọ, não úng thủy, não lộn ngoài...), có những dị tật phát hiện muộn hơn như não nhỏ, bất thường về cấu trúc não... Các dị tật này có thể phát hiện được trong 3 tháng giữa của thai kỳ bằng siêu âm, xét nghiệm máu, chụp cộng hưởng từ. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho rằng việc dùng axít folic (vitamin B9) trước thời kỳ có thai khoảng 1-2 tháng sẽ làm giảm một số bất thường về ống thần kinh.   Chọc dò ối thường được thực hiện vào tuần thứ 16-18 của thai kỳ. (ảnh minh họa) Bất thường về hệ tim mạch: chiếm tỉ lệ 0,4-0,8% trẻ đẻ ra, thường được phát hiện vào 3 tháng giữa thời kỳ mang thai. Các dị tật về tim thường có tính chất gia đình, vì vậy, cần phải có thăm khám kỹ đối với những người có tiền sử gia đình và bản thân mắc bệnh. Những bệnh thường gặp là thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, đảo gốc động mạch... Bất thường về xương: thường hay gặp chiếm khoảng 1% trẻ đẻ ra, nếu không phối hợp với các bất thường khác thì có thể điều trị được sau khi sinh. Ngoài ra, còn có thể phát hiện được rất nhiều các dị tật ở các cơ quan khác thông qua thăm khám và các sàng lọc trước sinh. Phòng tránh những dị tật này bằng cách nào? Theo thống kê, tỉ lệ thai mắc các dị tật chiếm khoảng 2 - 3% các trường hợp trẻ đẻ ra, tuy nhiên, phần lớn là các dị tật có thể điều trị được (sứt môi, hở hàm ếch, một số dị tật về tim, hệ tiêu hoá, xương khớp...). Với sự phát triển của khoa học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện được nhiều dị tật rất sớm từ khi tuổi thai còn nhỏ và có thể điều trị được một số dị tật mà trước đây không can thiệp được. Điều này có thể giúp cho các thầy thuốc quyết định sớm cách xử trí đúng đắn để giảm thiểu các tai biến cho mẹ và con. Những phụ nữ trước khi chuẩn bị mang thai cần đi khám sức khỏe toàn diện, điều trị dứt điểm những bệnh đang mắc, cần được theo dõi chặt chẽ những bệnh mạn tính như tim mạch, hen, dị ứng... trong suốt quá trình mang thai và sau sinh. Nên tiêm phòng những loại bệnh dễ gây dị tật thai nhi như cúm, thủy đậu, Rubella 3 tháng trước khi có thai. Trong thời gian có thai, cần kiểm tra sức khỏe thai nghén định kỳ, nếu phát hiện những bất thường sẽ được tư vấn, nếu dị tật có thể điều trị được thì sau khi sinh cần được đưa trẻ đến các trung tâm phẫu thuật nhi để được điều trị sớm. Một yếu tố quan trọng nữa là những phụ nữ mang thai cần được ăn uống đầy đủ dưỡng chất, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh lao động quá sức, tránh stress.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Số người Việt mắc đái tháo đường tăng vọt

SỐ NGƯỜI VIỆT MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TĂNG VỌT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 10 năm tỷ lệ người mắc bệnh tăng gấp đôi TS Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc, BV Nội tiết trung ương cho biết: “Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cộng đồng tại Việt Nam cao hơn hẳn so với thế giới. Theo đó, từ năm 2002-2012 tỉ lệ mắc đái tháo đường tăng từ 2,7% lên 5,7% (tăng gấp hơn 2 lần). Con số này đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm thì tỷ lệ mắc đái tháo đường mới tăng gấp đôi. Việt nam là nước có tốc độ phát triển bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới”. Đây cũng là lần đầu tiên BV Nội tiết trung ương công bố chi tiết kết quả điều tra tỷ lệ người dân mắc đái tháo đường tại 6 vùng sinh thái trên cả nước gồm Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Kết quả cho thấy, Tây Nam Bộ có tỉ lệ cao nhất với 7,2% dân số và thấp nhất là khu vực tây Nguyên với 3,8% dân số. Nữ giới cũng là đối tượng có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao hơn nam giới gần 5%. Bên cạnh đó, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 cao hơn những người dưới 45. Những người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc đâí tháo đường tuýp 2 cao hơn những người khác hơn 3 lần. Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cũng cao hơn 2,6 lần. Điều tra cũng chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm là tỷ lệ người bệnh đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện là 63,6% cao hơn nhiều so với tỷ lệ được phát hiện trên thế giới là 50%; 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp bệnh đái tháo đường.    Bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại BV Nội tiết trung ương (Ảnh Mai Hương) Lối sống làm gia tăng số người mắc bệnh Số người bị bệnh đái tháo đường đến khám và điều trị tại BV Nội tiết trung ương tiếp nhận ngày mỗi năm một tăng mạnh. Bệnh viện cũng đã phát hiện một vài trường hợp mắc đái tháo đường tuýp 2 xảy ra ở vị thành niên có thừa cân béo phì. Nguy hại hơn cả là bệnh nhân thường biết bệnh khi đã muộn, có biến chứng và có thể tử vong ở độ tuổi 50-60, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cá nhân và chi phí của gia đình, xã hội. Theo tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, một thực trạng đáng quan tâm là tỷ lệ người bệnh đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện ở nước ta là gần 64%, trong đó Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm hơn 72%. Như vậy tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng tại Việt Nam cũng cao hơn hẳn so với thế giới. Trên thế giới, cứ một bệnh nhân đái tháo đường được quản lý điều trị thì sẽ có 1 người đái tháo đường trong cộng đồng không được chẩn đoán (50%). Điều này đặt ra cho Dự án mục tiêu quốc gia phòng chống đái tháo đường cần đầu tư nhiều hơn cho vấn đề sàng lọc phát hiện sớm tại cộng đồng để quản lý điều trị phòng ngừa biến chứng. Lý giải nguyên nhân số người mắc đái tháo đường trong nước tăng quá nhanh, TS Quang cho rằng thủ phậm là việc thay đổi lối sống và áp dụng chế độ ăn quá nhiều thịt. “Người Việt ăn quá nhiều thịt, ăn nhiều thức ăn nhanh nên cơ thể thừa năng lượng, protein, lipid, các chất tồn dư bảo quản nhưng lại thiếu chất xơ, vitamin trầm trọng. Việc kết hợp giữa chế độ ăn mất cân đối và lười hoạt động thể lực là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường, cũng như một loạt các bệnh lý và hội chứng nguy hiểm khác như béo phì, tăng huyết áp …”, TS Quang nói.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và tập tính ăn uống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015 (FULL TEXT)

Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và tập tính ăn uống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015 (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa carbonhydrat mạn tính do thiếu hụt insulin tuyệt đối hoặc tương đối. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, chất khoáng gây nhiều biến chứng cấp và mạn tính [1], [2]. Hiện nay ĐTĐ là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Theo Hiệp hội bệnh đái tháo đường quốc tế, bệnh đái tháo đường tưp 2 ngày càng có xu hướng xuất hiện ở những người ở độ tuổi lao động và ở lứa tuổi trẻ hơn; chi phí khổng lồ cho việc chăm sóc đái tháo đường sẽ là gánh nặng cho nhiều nước đang phát triển trong tương lai tới [3], [4]. Việc phát hiện sớm và quản lý bệnh đái tháo đường trong cộng đồng là thực sự cần thiết. Nhiều y văn đã chứng minh rằng bệnh đái tháo đường hoàn toàn có thể phòng và quản lý được, những người mắc bệnh đái tháo đường nếu được quản lý, tư vấn truyền thông và điều trị kịp thời bằng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập hợp lý sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng do bệnh gây nên [5], [6]. Tại Việt Nam, hiện nay mô hình bệnh tật cũng thay đổi, ngoài mô hình bệnh ở các nước đang phát triển: Suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và bệnh nhiễm khuẩn nước ta còn xuất hiện mô hình bệnh tật ở các nước phát triển. Bệnh mạn tính không lây ngày càng tăng như ĐTĐ, thừa cân, béo phì, ung thư, tim mạch là những bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay. Trong đó bệnh ĐTĐ- nhất là ĐTĐ týp 2 là bệnh khá phổ biến có ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi với những mức độ khác nhau, cao nhất ở lứa tuổi sau 50 và hiện nay độ tuổi mắc bệnh này đang trẻ dần và tỷ lệ tăng nhanh tới mức báo động. Theo một số kết quả điều tra năm 1990 ở Hà Nội có tỷ lệ ĐTĐ 1,2%, Huế 0,96%, Thành Phố Hồ Chí Minh 2,52% đến nay tỉ lệ ĐTĐ ở Việt Nam là5,7% và ở các thành phố lớn tỷ lệ này cao hơn.Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn tới mắc bệnh này đặc biệt là lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực và chế độ ăn giàu năng lượng là nguyên nhân quan trọng của bệnh. Để điều trị bệnh này cần kiểm soát đường huyết trong giới hạn bình thường, ngăn ngừa biến chứng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống từ đó đưa bốn cách để quản lý ĐTĐ týp 2 [7]: Quản lý dinh dưỡng bằng chế độ ăn hợp lý; tăng cường vận động thích hợp; điều trị bằng thuốc khi cần thiết theo chỉ định của bác sĩ; bệnh nhân tự theo dõi. Dinh dưỡng là phương pháp điều trị cơ bản, cần thiết cho người bệnh ĐTĐ týp 2 ở bất kỳ loại hình điều trị nào. Một chế độ ăn cân đối và điều hòa, hoạt động thể lực hợp lý không những rất hữu ích nhằm kiểm soát đường huyết mà còn ngăn ngừa các biến chứng và duy trì chất lượng cuộc sống của người bệnh ĐTĐ týp 2. Đó cũng là nguyên tắc hành vi thói quen cho một cuộc sống khỏe mạnh. Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du miền núi phía bắc trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện cùng với lối sống công nghiệp thì tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tại các cơ sở khám chữa bệnh đang gia tăng, được cộng đồng quan tâm. Câu hỏi đặt ra rằng liệu những người ĐTĐ typ 2 tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thế nào? Chính vì vậy mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và tập tính ăn uống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015” là nơi chưa có nghiên cứu trên người bệnh đái tháo đường ở bệnh viện với mục tiêu sau: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015. 2. Mô tả khẩu phần và tập tính ăn uống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015.
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận các phương pháp bảo quản thực phẩm để tránh ngộ độc do vi sinh vật

Tiểu luận các phương pháp bảo quản thực phẩm để tránh ngộ độc do vi sinh vật

Ngộ dộc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng trong số đó vi sinh vật là lý do trên 50% các vụ ngộ dộc thực phẩm. Cũng chính vì vậy mà vi sinh vật là đối tượng của nhiều chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm. Triệu chứng ngộ độc thường gặp là các rối loạn tiêu hoá (đau bụng, tiêu chảy phân có máu) hoặc những triệu chứng nghiêm trọng hơn như nôn mửa, sốt, cơ thể mất nhiều nước. Bệnh thường xảy ra có tính chất đột ngột, nhiều người cùng mắc phải do ăn cùng một loại thức ăn. Để công tác phòng ngừa ngộ độc do vi sinh vật được hữu hiệu, chúng ta cần nắm vững tính chất của vi sinh vật là đối tượng gây ngộ độc
Xem thêm

Đọc thêm

Nước giải khát có đường làm tăng nguy cơ tiểu đường type 2

NƯỚC GIẢI KHÁT CÓ ĐƯỜNG LÀM TĂNG NGUY CƠ TIỂU ĐƯỜNG TYPE 2

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trước đây, béo phì thường liên quan đến bệnh tiểu đường type 2. Nhưng hiện nay, các nhà nghiên cứu thấy rằng ngay cả những người có cân nặng bình thường cũng có nguy cơ bị bệnh này nếu họ uống nước giải khát có đường. Những người uống nước giải khát có đường mỗi ngày (trung bình 250ml/ngày) tăng 18% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2. Sau khi bỏ những người béo phì ra khỏi nghiên cứu, kết quả cho thấy những người có cân nặng bình thường cũng tăng 13% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu từ 38.250 người trong 17 nghiên cứu trước đó. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí British Medical. Gần 55% người dân Mỹ và 50% người dân Anh thường uống các nước giải khát có ga có đường. Trong 10 năm qua, nghiên cứu cho thấy, nước uống có đường có liên quan đến 1,8 triệu ca tiểu đường type 2 (bao gồm cả những người không béo phì) ở Mỹ; 79.000 ca tiểu đường type 2 ở Anh. Simon Stevens, CEO của Dịch vụ Y tế quốc gia của Vương quốc Anh (NHS England), nói rằng tuyệt đối không có lý do nào để cho trẻ uống nước giải khát có ga.   Các nhà nghiên cứu thấy rằng ngay cả những người có cân nặng bình thường cũng có nguy cơ bị bệnh này nếu họ uống nước giải khát có đường. (Ảnh minh họa) Nghiên cứu này được hoan nghênh bởi các chuyên gia mặc dù ĐH Cambridge chỉ mới phát hiện ra mối liên hệ mang tính chất thống kê chứ không chứng minh cụ thể được nguyên nhân và hệ quả. TS Alasdair Rankin, Giám đốc nghiên cứu bệnh tiểu đường ở Anh nói: “Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng rằng nước giải khát có đường là có hại cho sức khỏe và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường type 2… Chúng tôi khuyên mọi người nên hạn chế sử dụng các nước giải khát có đường để giảm nguy cơ mắc bệnh này.”
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì

Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường ở một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ giao động trong một giới hạn nhất định.Tuy vậy, hiện nay, thừa cân và béo phì là một bệnh dinh dưỡng thường gặp nhất và mang tính chất toàn cầu. Tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển tỉ lệ mắc và tần suất của bệnh đang gia tăng một cách rõ rệt và đáng báo động. Béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người béo phì trên thế giới lên đến 1,5 tỉ người. Tại Việt nam, năm 2006 Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam đã công bố kết quả điều tra về thừa cân béo phì trên quy mô toàn quốc gồm 7600 hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (25 đến 64 tuổi) cho thấy có 16,8% người thừa cân béo phì [39]. Theo tác giả Trần Hữu Dàng, Nguyễn Đức Hoàng qua nghiên cứu 50 đối tượng béo phì tại Huế cho thấy: Tăng huyết áp chiếp tỉ lệ 70%, đái tháo đường chiếm tỉ lệ 16%, rối loạn dung nạp glucose chiếm tỉ lệ 16%. Có sự tương quan giữa tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Tác giả cho thấy những triệu chứng trên liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Đái tháo đường cũng như rối loạn đường huyết gia tăng ở béo phì, gia tăng với tuổi tác. Tỉ lệ béo phì tăng cao ở những người vừa tăng huyết áp vừa đái tháo đường nhất là đái tháo đường type 2 [9]. Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI, đo vòng bụng và chỉ số vòng bụng/vòng mông, trong đó vòng bụng được ưu tiên hơn do liên quan mô mỡ dưới da bụng và nội tạng. Được xem như béo phì dạng nam khi mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng, tỉ lệ vòng eo/vòng mông ≥ 1 [42]. Hiện nay mô mỡ được xem là một cơ quan nội tiết phóng thích nhiều adipokine gây kháng insulin và phóng thích nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch. Về phương diện lâm sàng, gần đây người ta chú ý đến tỉ lệ mỡ cơ thể (Body Fat Percentage = BFP) và mức mỡ nội tạng (Visceral Fat Level = VFL). Hai thông số này được xem như những chỉ số nhân trắc tương đương với BMI và vòng bụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch [40]. Đề kháng insulin (KI) được định nghĩa là tình trạng của (tế bào, cơ quan hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh học bình thường. Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulin tăng cao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Có thể nói cách khác KI xảy ra khi tế bào của tổ chức đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào của tổ chức đích chống lại sự gia tăng của insulin máu [42]. Năm 1998 TCYTTG (WHO) đã đưa ra định nghĩa thống nhất: “Được xem là KI khi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhât trong nhóm chứng”.Theo những thống kê mới nhất từ NHANES III (National Health and Nutrition Examination Survey III), 35% người trưởng thành và hơn 40% người ngoài 50 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa [7]. Hội chứng chuyển hóa ảnh hưởng 20-30% dân số ở độ tuổi trung niên và tỉ lệ này ngày càng tăng do sự gia tăng của béo phì và lối sống tĩnh tại. Kể từ khi hội chứng chuyển hóa được định hình năm 1998, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau đồng thời tỉ lệ đái tháo đường , nhất là đái tháo đường type 2, béo phì, tăng huyết áp cũng gia tăng trên mọi quốc gia. Tỉ lệ đái tháo đường típ 2 tăng bùng nỗ ở các nước công nghiệp mới phát triển ở Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên các nghiên cứu dùng hình ảnh học cho thấy dù chỉ số khối cơ thể (BMI) như nhau nhưng khối lượng mỡ tạng của người Châu Á (Ấn Độ) cao hơn người Châu Âu. Ngoài ra các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch bắc đầu gia tăng ở mức BMI và vòng eo thấp hơn người da trắng nhiều [7]. Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, cũng như mối tương quan giữa các chỉ số mỡ với tình trạng đề kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. Trước thực tế khách quan đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì”. Nhằm 2 mục tiêu: 1) Đánh giá tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. 2) Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì.
Xem thêm

Đọc thêm

Thủy đậu, zona và thai kỳ – tổng hợp những thông tin cần biết

Thủy đậu, zona và thai kỳ – tổng hợp những thông tin cần biết

Phần lớn những người trưởng thành đều đã từng tiếp xúc với thủy đậu từ nhỏ, tỉ lệ cao phát hiện thấy kháng thể kháng virus thủy đậu (VZV IgG) trong cơ thể, đặc biệt như có đến 90% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có kháng thể này trong cơ thể. Chính vì vậy, rất ít khi xảy ra bệnh cảnh nhiễm virus nguyên phát ở phụ nữ mang thai, tỉ lệ ước tính khoảng 231000 thai kỳ. Nếu như bạn mắc phải bệnh lý này trong thai kỳ, dường như bạn sẽ hồi phục hoàn toàn được, tuy nhiên, một số biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra trong một số nhỏ trường hợp. Nếu như bạn mang thai và chưa từng bị thủy đậu trước đó (hoặc không chắc đã bị hay chưa) mà tiếp xúc với một ai đó bị thủy đậu hoặc zona, hãy đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt khi có thể. Nếu như bạn không có miễn dịch chống lại bệnh thì việc can thiệp điều trị có thể làm giảm nguy cơ cho cả bạn và em bé của bạn. Và một khi phát hiện bệnh trong thời gian mang thai, hãy gặp bác sĩ ngay để được tư vấn điều trị và theo dõi thích hợp.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị ở trẻ em và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2013-2015

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị ở trẻ em và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2013-2015

Quai bị (tiếng Anh: Mumps) là một bệnh toàn thân do vi-rút gây ra, biểu hiện bằng sưng một hay nhiều tuyến nước bọt, thường gặp nhất là các tuyến mang tai. Khoảng 1/3 các trường hợp nhiễm bệnh không gây nên các triệu chứng sưng tuyến nước bọt rõ ràng trên lâm sàng. Thời kỳ lây truyền mạnh nhất là 2 ngày trước khi có sưng tuyến mang tai và 5 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng này. Bệnh lây trực tiếp bằng đường hô hấp, tiếp xúc khi gần bệnh nhân nói, ho hoặc hắt hơi hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên, đặc biệt những người sống trong các tập thể như trường mẫu giáo, trường học nhất là các trường nội trú, bán trú, trại tập trung, trại lính, trại trẻ mồ côi. Kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Trầm tại Tiền Giang cho thấy rằng, mắc quai bị ở tuổi 11 - 15 chiếm 91%,[ traam]. Bệnh tuy lành tính nhưng có khả năng gây biến chứng viêm tinh hoàn ở nam giới hoặc viêm buồng trứng ở nữ giới và có thể dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sống. Theo nghiên cứu của Tạ Văn Trầm tại Tiền Giang trong số các trường hợp có viêm tinh hoàn thì viêm tinh hoàn 1 bên chiếm 78,8%, viêm 2 bên tinh hoàn là 21,2% [15]. Nhiễm vi-rút quai bị trong quý 1 của thai kỳ có thể làm tăng khả năng sẩy thai tự nhiên. [ ]. Là một bệnh truyền nhiễm thường xảy ra vào mùa đông - xuân, tuy nhiên ngày nay biểu hiện theo mùa không còn rõ ràng nữa, nghĩa là bệnh có thể xảy ra quanh năm. [1],[10]. Hàng năm, dịch quai bị vẫn xảy ra trên toàn thế giới không chỉ ở những quốc gia chưa có vắc-xin bao phủ mà thậm chí ở cả những quốc gia vắc-xin quai bị đã được đưa vào chương trình tiêm chủng thường xuyên từ rất lâu. Tại Bhutan năm 1999 có đến 25.554 trường hợp mắc quai bị, tại Việt Nam năm 1999 có 18.008 trường hợp, tại Trung Quốc năm 2004 có 226.619 trường hợp. Tại Anh với 2 vụ dịch lớn xảy ra trong 2 năm liên tiếp 2004-2005 với tổng số 56.000 trường hợp mắc quai bị được báo cáo. Điều này được giải thích là do không có vắc-xin quai bị, hoặc vắc-xin quai bị mới được đưa vào tiêm chủng gần đây, hoặc đã được đưa vào từ lâu nhưng độ bao phủ thấp hoặc miễn dịch bảo vệ giảm theo thời gian và không bảo vệ được quần thể khỏi nhiễm vi-rút quai bị [14]. Tại Việt nam, vắc-xin ngừa quai bị chưa được đưa vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng nên bệnh còn lưu hành khá cao, thường gây nên những vụ dịch nhỏ. Hiện nay, quai bị là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao, xếp hàng 7 trong số 24 bệnh truyền nhiễm gây dịch được quản lý tại Việt Nam [ ], tỷ lệ mắc trung bình trong 10 năm (1991-2000) là 20,6/100.00 dân và tỷ lệ này cũng khác nhau giữa các miền, trong đó miền Bắc có tỷ lệ mắc cao nhất là 32,5/100.000 dân[13]. Tử vong do quai bị rất thấp, ước tính khoảng 1,6 đến 3,8 trên 10.000 trường hợp nhiễm bệnh.[ ]. Tuy nhiên, số lượng mắc bệnh, thời gian điều trị, các tổn thương khác do bệnh đã và đang trở thành vấn đề sức khỏe, vấn đề kinh tế xã hội đáng được quan tâm. Bệnh đã có vắc-xin tiêm phòng, tuy nhiên người dân chưa chú trọng trong việc chủ động tiêm vắc-xin phòng bệnh. Hiện nay có rất ít các nghiên cứu đề tài này, do đó nghiên cứu này được tiến hành nhằm để hiểu thêm về đặc điểm dịch tễ học của bệnh và có giải pháp tăng cường truyền thông, góp phần quan trọng trong hoạch định các chiến lược về kiểm soát dịch bệnh và tiêm phòng vắc-xin quai bị trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là đối tượng trẻ em, nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị ở trẻ em và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2013-2015”. Nhằm đạt được 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2013-2015 2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh quai bị tại địa bàn nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

giáo án địa lí 6 tuần 4

giáo án địa lí 6 tuần 4

I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức: Học sinh cần nắm: Tỉ lệ bản đồ là gì? Ý nghĩ hai loại dạng bản đồ: số tỉ lệ và thước tỉ lệ 2. Kĩ năng Nâng cao kĩ năng tính khoảng cách thực tế dựa vào tỉ lệ số và tỉ lệ thước theo đường chim bay II. CHUẨN BỊ: 1. Giáo viên: Bản đồ có tỉ lệ khác nhau Hình 8 SGK 2. Học sinh: Chuẩn bị bài ở nhà 3. Phương pháp PP: Quan sát, đàm thoại, trao đổi nhóm, vấn đáp tìm tòi,… III. CÁC HOẠT ĐỘNG 1. Kiểm tra sĩ số: (01 phút) 2. Kiểm tra bài cũ: (05 phút) Xác định các đường kinh tuyến đông, kinh tuyến tây, vĩ tuyến bắc, vĩ tuyến nam? Xác định nửa cầu đông, nửa cầu tây, nửa cầu bắc, nửa cầu nam?
Xem thêm

Đọc thêm

Ung thư vú đe dọa phụ nữ trẻ

UNG THƯ VÚ ĐE DỌA PHỤ NỮ TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, nếu năm 2010 chỉ phát hiện 1 ca ung thư vú ở tuổi 24 thì đến năm 2012, con số này là 24, trong đó nhiều chị em chỉ mới 19-20 tuổi. Bệnh diễn tiến âm thầm Chị C.V (ngụ Đồng Nai) dù mới 22 tuổi nhưng đã phải gác lại bao dự định vì căn bệnh ung thư vú. Làm chuyên viên PR cho một tập đoàn nước ngoài, chưa lập gia đình, giờ đây V. phải khóc thầm do sự chủ quan của mình. Kể cho bác sĩ nghe về căn bệnh khởi phát, V. cho biết lúc đầu sờ thấy một u nhỏ trong ngực cỡ hạt đậu phộng nhưng nghĩ là bình thường nên không quan tâm, đến khi cái u phát triển, V. mới nghĩ đến việc đi khám. Tại bệnh viện, sau khi làm các chẩn đoán, xét nghiệm, bác sĩ xác định V. bị ung thư vú giai đoạn 3. Chị phải trải qua đợt phẫu thuật bảo tồn vú! Theo GS-BS Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nhiều người bệnh thường không biết thời kỳ khởi phát ung thư rất im lìm, tưởng hiền lành mà lại rất hiểm.   Tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, nếu năm 2010 chỉ phát hiện 1 ca ung thư vú ở tuổi 24 thì đến năm 2012, con số này là 24, trong đó nhiều chị em chỉ mới 19-20 tuổi. TS-BS Phạm Xuân Dũng, Phó Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho biết cách đây 10 năm, mỗi tháng bệnh viện chỉ có khoảng 100 trường hợp đến điều trị ung thư vú nhưng hiện nay, con số này tăng gấp 3 lần (gần 300 trường hợp/tháng). Ung thư vú thường gặp ở phụ nữ có độ tuổi trên 55, tuy nhiên xu hướng trẻ hóa bệnh nhân là thực tế đáng lo ngại. “Trong 15 năm trở lại đây, số ca mắc ung thư vú liên tục tăng nhanh, vượt qua ung thư cổ tử cung để xếp thứ nhất trong các loại bệnh ung thư ở phụ nữ” - BS Dũng nhấn mạnh. Người bệnh trẻ dễ tử vong hơn Theo Hội Ung thư Việt Nam, xu hướng mắc bệnh ung thư vú không những tăng ở Việt Nam mà ở hầu hết trên thế giới. Mỗi năm, toàn cầu có khoảng 14,1 triệu người mắc bệnh ung thư và 8,2 triệu người tử vong vì căn bệnh này. Tại Việt Nam, mỗi năm ước tính có khoảng 12.000 ca mắc với hơn 4.000 người tử vong, chiếm 20% trong tổng số các loại bệnh ung thư. Phần lớn người bệnh ung thư ở Việt Nam đến khám, chữa bệnh ở giai đoạn muộn và rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, ngay cả với bệnh nhân có BHYT. Ung thư vú hiện đang đứng ở hàng thứ nhất về suất độ và đứng thứ ba về tử vong. Ung thư vú nếu được phát hiện sớm (giai đoạn 1), khả năng điều trị khỏi có thể đạt tới 80%-90%. Nếu phát hiện trễ, tỉ lệ điều trị khỏi là rất thấp (dưới 20%). Giới chuyên môn cho biết tỉ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư vú trẻ tuổi thấp hơn so với bệnh nhân ung thư vú lớn tuổi ở bất kỳ giai đoạn nào. Tỉ lệ sống còn 5 năm là 58% ở tuổi 20 đến 24, bệnh nhân trên 40 tuổi là 76%; ở giai đoạn di căn, tỉ lệ sống còn của phụ nữ trẻ gần như bằng 0% trong khi phụ nữ trên 40 tuổi là 27%. Dẫn ra những tác nhân gây bệnh, PGS Paul Mainwaring, chuyên gia ung thư đến từ Úc, cho rằng ở xã hội công nghiệp phát triển, lối sống thay đổi, ít vận động…  khiến con người đứng trước nguy cơ mắc nhiều loại bệnh, trong đó có ung thư. “Phụ nữ cần tập thói quen vận động, ăn uống hợp lý, nếu phát hiện bệnh sớm thì việc điều trị sẽ đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, do ít hiểu biết về bệnh, người bệnh thường đến bệnh viện quá muộn nên hiệu quả điều trị hạn chế” - ông lưu ý.
Xem thêm

1 Đọc thêm

UNG THU DAI CUONG

UNG THU DAI CUONG

- Đối với ung thư vú, sự gia tăng chậm dần sau tuổi mãn kinh và tỉ lệ mới mắc ung thư cổtử cung rất thấp sau 50 tuổi.Khi so sánh tỉ lệ mới mắc của các bệnh ung thư giữa các quốc gia đòi hỏi tỉ lệ này phải được chuẩnhóa theo một quần thể dân cư thuần nhất và cấu trúc tuổi của các nước rất khác nhau, dân số chuẩn đượcsử dụng rộng rãi nhất là dân số thế giới. Đây là một quần thể dân cư giả định có cấu trúc tuổi nằm giữaquần thể “ già “ của các nước phát triển và quần thể “ trẻ “ của các nước đang phát triển.3.2. GiớiNam giới có tỉ lệ mắc ung thư cao hơn nữ giới đối với phần lớn các loại ung thư ngoại trừ ung thưtuyến vú, đường mật, mắt, đại tràng và tuyến nước bọt. Sự khác biệt này thường được quy kết do sự khácbiệt về tính mẫn cảm mà cơ chế chưa giải thích được.3.3. Chủng tộcSự khác biệt về tình hình mắc ung thư của các chủng tộc khác nhau trong cùng một quốc gia chothấy tính mẫn cảm di truyền và các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư. Phối hợp cácnghiên cứu di cư có thể phân lập được vai trò của từng loại yếu tố này.3.4. Tôn giáoNhững người theo một tôn giáo nào đó có những nếp sống đặc biệt ảnh hưởng tới đặc điểm bệnhung thư ở nhóm người này. Ví dụ tỉ lệ mắc ung thư vú cao ở các nữ tu sĩ và các bà xơ. Ung thư dương vậtvà ung thư cổ tử cung rất thấp ở người Do Thái do luật cắt bao quy đầu lúc còn trẻ.3.5. Nghề nghiệpViện ung thư quốc gia về an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ năm 1978 đã công bố rằng 30% bệnh ungthư có liên quan đến môi trường làm việc, trong đó 4-8% trường hợp ung thư là do môi trường côngnghiệp. Ở Pháp, hàng năm có thêm 7000-8000 trường hợp ung thư mới mắc do nghề nghiệp.Mỗi người nên thực hiện đúng quy tắc bảo hộ lao động của nghề mình đang làm sẽ hạn chế đượcnguy cơ mắc ung thư.3.6. Hoàn cảnh kinh tế xã hộiGồm nhiều yếu tố quan hệ tương hỗ: nền giáo dục, mức thu nhập, chế độ ăn uống, môi trường sốngvà làm việc, chất lượng các dịch vụ tư vấn và chăm sóc sức khoẻ…cũng chưa chứng minh một cách rõ rệtcác chỉ số về hoàn cảnh ảnh hưởng nhiều đến nguy cơ mắc bệnh ung thư.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tuyển tập đề thi ôn toán nội trú ( có lời giải )

Tuyển tập đề thi ôn toán nội trú ( có lời giải )

Đề số 1(Đề thi năm 1999)Câu 1: Theo dõi phát triển dân số một địa phương thu được số liệu sau:x (số dân): 73.000 74.000 75.000 77.000sc : 21,6 18,6 18,8 18,0Lập phương trình y=ax + b trong đó y=sc (CTFTDS: %o)xiyiuiviui.viui 73.000 21,60140074.00018,6111175.00018,8200477.00018,0441616 791721TB1,752,254,255,25x =73.000 y =18,8 a = . = = 0,0007486b = a. = 75,20785KL: phương trình cần tìm là y = 0,0007486x + 75,20785Câu 2: Xác suất mắc bệnh viêm gan B là 0.0016. Khám cho 100 người. Tìm sao cho có 1 người bị bệnh, biết rằng xác suất đó lớn nhất.Gọi x = số người bị bệnh trong 100 người được khám. X tuân theo quy luật nhị thức với n=100, p=0,00016.P(x) max nên x= mod = (n+1)p = (100+1).0,00016= 0,1616=0,1616n=100 đủ lớn Mx= 100.0,00016=0,16 Dx= 100.0,00016(10,00016)=0,15975.Câu 3: Khám lao cho 100000 người thấy 89 người bị lao. Xác suất bị lao là 0.001 có đúng không? (Kiểm định một phía, lấy =0,03)Câu 4: Dùng một phản ứng chẩn đoán bệnh B, phản ứng có xác suất dương tính là 0.3 và giá trị dương tính là 0.92. Tỷ lệ bị bệnh tại phòng khám là 0,36. Tìm xác suất chẩn đoán đúng.Câu 5: Một phản ứng có xác suất dương tính là 0,89, xác suất sai là 0,1 và xác suất bị bệnh của nhóm đúng là 0,91. Thực hiện chẩn đoán bệnh cho 400 người. Giá trị dương tính của phương pháp có bằng giá trị âm tính của phương pháp không? Lấy =0,05Câu 6: Trong một phòng khám, tỷ lệ mắc bệnh B là 0,808. Dùng một phản ứng chẩn đoán, phản ứng có xác suất dương tính là 0,768 và xác suât dương tính của nhóm đúng là 0,86. Tính độ đặc hiệu của phản ứng.Câu 7: Dưới đây là trọng lượng của 2 nhóm trẻ gái 9 tuổiNhóm 1: 22 20 20 21 20 21 22 nNhóm 2: 22 23 20 21 22 mVới độ tin cậy (5%, có thể cho rằng hai nhóm trọng lượng trên có cùng phương sai hay không?Câu 8: Di truyền phân tính ở thế hệ F2 có phân phối xác suất kiểu gene và kiểu hình như sau: Kiểu gene: AA Aa aaXác xuất : 0,25 0,5 0,25Kiểu hình: Trội LặnXác suất : 0,75 0,25Hãy tính độ không xác định của mỗi phân phối xác suất nêu trên và nêu ý nghĩa của kết quả.Câu 9: Nhình chung 200 người có 10 người mắc bệnh B. Điều tra tình hình mắc bệnh này làm phản ứng . Nsú bị bệnh B thì phản ứng có kết quả dương tính, nếu không bị bệnh B thì phản ứng có kết quả 50% dương tính. Tính lượng tinh của việc mắc hay khồng mắc bệnh B chứa trong kết quả của phản ứng .
Xem thêm

Đọc thêm

BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN HEO

BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN HEO

Chương 3: BỆNH HEO Bài 1: BỆNH DỊCH TẢ HEO (Pestis suum) Hog Cholera, Classical swine fever, Swine fever, Swine pest, Pest porcine. Là bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh, gây ra do virus, tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ chết cao 6090%. Bệnh đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết trên da, thận, lách, hạch lâm ba.... I. LỊCH SỬ VÀ ĐỊA DƯ BỆNH LÝ Bệnh lần đầu tiên được phát hiện ở bang Ohio ở Bắc Mỹ, 1883. 1885, Salmon và Smith cho rằng bệnh gây ra do một loại vi khuẩn và đặt tên là Bacillus cholera suis. 1903, De Schweinitz và Dorset chứng minh căn bệnh là virus Bệnh có hầu khắp các nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, Bắc Mỹ, Đan Mạch, Anh, Nhật, Pháp, Châu Phi,.... Hiện nay một số nước đã thanh toán được bệnh này như: Canada, Úc, Bắc Ailen, Đan mạch, Anh, Mỹ, Nhật Bản.... Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào giữa thế kỷ 20 và bệnh đã gây nhiều đợt dịch nghiêm trọng. Ở Miền Nam bệnh phát ra mạnh vào những năm 19751980. Từ sau 1980, do tác động của tiêm phòng, bệnh đã giảm và chỉ còn những ổ dịch lẻ tẻ. II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH Virus dịch tả heo được xếp vào chi Pestivirus, họ Flaviviridae. Virus có vỏ, virion có đường kính 4050nm, nucleocapsid có đường kính 29nm. Cấu trúc di truyền là một chuỗi ARN đơn dài khoảng 12kb (Moormann and Hulst, 1988). Có nhiều nhóm virus với đặc tính kháng nguyên khác nhau. Trong thực địa virus dịch tả heo có độc lực khác nhau. Những chủng độc lực cao gây ra những bệnh cấp tính với tỉ lệ chết cao, chủng độc lực vừa gây ra những bệnh bán cấp tính hoặc mãn tính, chủng độc lực yếu chỉ gây bệnh nhẹ hoặc không có triệu chứng. Tuy nhiên những chủng này gây chết phôi, thai và heo con sơ sinh. Virus chịu đựng được khoảng pH từ 510. Trong máu đã ly trích sợi huyết ở nhiệt độ 680C sau 30 phút virus vẫn không bị vô hoạt, trong dịch tế bào virus bị vô hoạt sau 10 phút. Những dung môi hòa tan lipid như ether, chloroform và deoxycholate vô hoạt virus nhanh chóng. Các chất sát trùng, đặc biệt là sud (NaOH) có tác dụng diệt virus tốt. Trong thịt và các sản phẩm của thịt, virus có thể sống lâu và là nguồn lây bệnh quan trọng. III. TRUYỀN NHIỄM HỌC 1. Loài vật mắc bệnh Heo mọi giống, mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, nặng nhất là heo con, heo sau cai sữa. Heo nái nhiễm bệnh có thể truyền virus qua nhau đến bào thai ở tất cả các giai đoạn có chửa. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự cảm nhiễm của heo: lứa tuổi, những bệnh truyền nhiễm khác làm giảm sức đề kháng, stress làm giảm khả năng sản xuất kháng thể. 2. Cách lây lan Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, ngoài ra bệnh có thể lây qua niêm mạc mắt, đường sinh dục hoặc vết thương. 3. Cơ chế sinh bệnh Thời gian nung bệnh từ 220 ngày. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus gây nhiễm và phát triển trong các tế bào biểu mô của hạch hạnh nhân, sau đó theo đường lâm ba lan tỏa ra các hạch lâm ba xung quanh, vào hệ thống mạch quản ngoại vi đến lách, tủy xương, hạch lâm ba nội tạng, cấu trúc lâm ba ở ruột non. Virus phát triển trong các tế bào bạch cầu, với mật độ virus trong máu rất cao. Thời gian từ khi virus xâm nhập vào đến khi lan tràn khắp cơ thể khoảng 56 ngày. Trong trường hợp nhiễm virus độc lực cao trong thể cấp tính, virus gây tổn thương thành mạch quản, gây giảm tiểu cầu trầm trọng và rối loạn tổng hợp tơ huyếtogen dẫn đến xuất huyết và nhồi huyết ở các cơ quan phủ tạng. Đối với heo bị nhiễm virus độc lực trung bình, diễn biến bệnh chậm hơn, nồng độ virus trong máu và các cơ quan nội tạng thấp hơn, thường giới hạn ở hạch hạnh nhân, tuyến nước bọt, hồi tràng và thận. Sự nhân lên của virus trong bạch cầu và trong các tế bào hệ thống lưới nội mô dẫn đến giảm bạch cầu làm cho heo có thể bị nhiễm vi khuẩn kế phát. Ngoài ra, nếu heo nái mang thai bị nhiễm những chủng virus độc lực cao, có thể bị sẩy thai hoặc đẻ ra heo con mắc bệnh và chết sau một thời gian ngắn. Sự lây truyền qua nhau với những chủng có độc lực thấp có thể dẫn đến thai khô, hoặc heo con yếu ớt, một số heo con có vẻ khoẻ mạnh nhưng mang trùng kéo dài do hiện tượng dung nạp miễn dịch và những heo này sẽ không đáp ứng miễn dịch khi được tiêm phòng. IV. TRIỆU CHỨNG Thời gian nung bệnh từ 2 12 ngày (trung bình 6 8 ngày). 1. Thể quá cấp Sốt cao 41 420 C, đờ đẫn bỏ ăn, ở những vùng da mỏng, mặt trong đùi đỏ ửng lên rồi tím, co giật. Con vật chết sau 12 ngày. Heo mắc bệnh xuất huyết ở da, co giật Heo con bệnh có cảm giác lạnh, run 2. Thể cấp tính Sốt cao 41 420C, sốt lên xuống. Khi gần chết nhiệt độ hạ. Con vật kém ăn, heo con run rẩy nằm chồng chất lên nhau, táo bón, ói mữa, co giật. Viêm kết mạc mắt, mắt nhiều ghèn 2 mí mắt dính lại nhau. Giai đoạn cuối đi đứng siêu vẹo, bại liệt chân sau. Trên da có những nốt xuất huyết ở tai, mõm, bụng và 4 chân. Bệnh kéo dài 815 ngày. Tỉ lệ chết 8595%. Heo con chết nhiều hơn heo trưởng thành. Heo mắc bệnh thở khó, ngồi giống như chó 3. Thể mãn tính Bệnh kéo dài trên 30 ngày. Con vật kém ăn, sốt, táo bón, ho và tiêu chảy kéo dài heo có thể khỏi nhưng chậm lớn. Heo cái mang thai mắc bệnh do các chủng có độc lực trung bình và thấp có thể dẫn đến sẩy thai, thai khô, đẻ non, heo con yếu ớt, có thể rụng lông và phù nề, thủy thủng dưới da và chết sau đó. Tiêu chảy phân vàng V. BỆNH TÍCH 1. Thể quá cấp Không rõ, chỉ thấy niêm mạc viêm đỏ, vỏ thận xung huyết, hạch lâm ba sưng đỏ. 2.Thể cấp tính Xuất huyết ở nhiều mô và cơ quan của cơ thể, nhiều nhất là ở hạch lâm ba.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG LÂM SÀNG NỘI TIÊU HÓA

BÀI GIẢNG LÂM SÀNG NỘI TIÊU HÓA

Tại Việt Nam, các bệnh về đường tiêu hóa đứng đầu nhóm các bệnh nội khoa. Trong đó, rối loạn tiêu hóa là vấn đề thường gặp nhất song nhiều người vẫn chưa biết cách phòng tránh. Theo các kết quả nghiên cứu, hệ tiêu hoá của con người là một ống cơ dài đi từ miệng tới hậu môn và các cơ quan phụ đổ chất tiết vào ống tiêu hóa. Đó là các tuyến nước bọt, túi mật và tuyến tuỵ. Bộ máy tiêu hóa có bốn công việc chính: vận chuyển, nhào trộn thức ăn với dịch tiêu hoá; tiêu hóa thức ăn thành những phần nhỏ hơn; hấp thụ thức ăn đã tiêu hóa (chủ yếu diễn ra ở ruột); chuyển hoá các thức ăn đã được hấp thụ thành những dưỡng chất cần thiết cho cơ thể (chủ yếu diễn ra ở gan).
Xem thêm

63 Đọc thêm

Bài tập kĩ thuật lập trình

Bài tập kĩ thuật lập trình

Bài 1: Dùng cấu trúc lựa chọn switch, vẽ flowchart và viết chương trình cho máy nạp tiền điện thoại tự động. Hiện máy có thể nạp tiền cho các thuê bao: Mobifone, Vinaphone, Viettel, Sfone và Beeline. Số tiền mà người sử dụng có thể nạp: 10 000, 20 000, 50 000, 100 000, 200 000 và 500 000. Người nạp tiền sẽ chọn nhà cung cấp dịch vụ (tương ứng từ 1 đến 5) và chọn số tiền muốn nạp (tương ứng từ 1 đến 6). Tiếp theo, người dùng sẽ nhập số tiền của mình vào máy. Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ, máy sẽ xuất ra tên nhà cung cấp dịch vụ mà khách hàng chọn và trả lại số tiền thừa (nếu có). Bài 2: Một chương trình nhận một đường tròn tâm O(xo,yo) bán kính R. Mô tả giải thuật kiểm tra một điểm A(x,y) nằm trên, trong hay ngoài đường tròn. Vẽ flowchart và viết chương trình cho giải thuật đó.
Xem thêm

Đọc thêm

TP.HCM: Nắng nóng, trẻ ùn ùn nhập viện

TP.HCM: NẮNG NÓNG, TRẺ ÙN ÙN NHẬP VIỆN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngoài các bệnh về đường hô hấp, hiện thêm các chứng bệnh đầu hè như quai bị, sởi, sốt xuất huyết, tiêu hóa,... Trung bình mỗi ngày, BV Nhi Ðồng 1 tiếp nhận khoảng 4.500 -  5.000 trẻ đến khám, trong đó có khoảng 1.000 trẻ phải nằm điều trị. Lượng bệnh nhi đến khám đông dẫn đến các phòng khám gần như quá tải, bệnh nhi nằm tràn hành lang.   Bệnh tay chân miệng đang bùng phát trở lại với mức độ nguy hiểm hơn. Trong ảnh, bệnh nhi bị bệnh tay chân miệng điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Tình cảnh cũng diễn ra tương tự tại BV Nhi Ðồng 2. Theo thống kê của phòng Kế hoạch tổng hộp BV Nhi Đồng 2, từ cuối tháng 2 đến nay, số lượng trẻ em đến khám và điều trị tại BV cũng đã tăng nhanh, trung bình mỗi ngày có khoảng 4.000 bệnh nhi đến khám, thậm chí có ngày lên đến 4.500. Số lượng bệnh nhân tới khám bệnh trong những ngày tháng 3 cũng cao hơn tháng 2 khoảng 100 - 200 bệnh nhân/ngày, so với cùng kỳ và thời điểm trước Tết thì lượng bệnh nhân nhập viện đã tăng gần gấp đôi. Theo đánh giá của các bệnh viện, lượng bệnh nhi tăng nhanh từ sau Tết đến nay là do thời tiết nắng nóng kéo dài. Cảnh báo của các bác sĩ, nếu thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài như hiện nay, số lượng bệnh nhi mắc các bệnh về hô hấp, tiêu hóa sẽ tiếp tục gia tăng. Bởi trong mùa nắng nóng sức đề kháng của trẻ em rất yếu nên rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp, tiêu chảy, tay chân miệng..., nhất là trẻ sinh non tháng, suy dinh dưỡng.   Nắng nóng kéo dài, bệnh nhi gia tăng khiến các bệnh viện quá tải, bệnh nhi phải nằm tràn hành lang. Ðể phòng tránh những bệnh mùa nắng nóng, phụ huynh nên giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, không nên đưa trẻ đến những nơi đông người, tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột, cung cấp đầy đủ nước và chất dinh dưỡng cho trẻ nhằm tăng cường sức đề kháng. Bên cạnh đó, mùa nắng nóng, đồ ăn rất dễ bị ôi thiu nên cha mẹ tránh cho trẻ ăn ở các quán hàng rong, vỉa hè; đồng thời thực hiện ăn chín, uống sôi. Trong những tuần qua, dịch bệnh tay chân miệng (TCM) tại TP.HCM cũng đã bùng phát trở lại. Bắt đầu từ tháng 3, số bệnh nhi mắc TCM gia tăng, một số nơi bệnh diễn tiến theo chiều hướng đặc biệt nguy hiểm. Tại bệnh viện (BV) Bệnh Nhiệt Đới, trong số hơn 50 ca đang nằm viện có tới 10 ca bệnh nặng từ độ IIB trở lên. Ghi nhận tại BV Nhi Đồng 1 cho thấy, hiện có hơn 30 ca TCM, trong đó có 1 ca độ 3. Tại BV Nhi Đồng 2, có 48 ca, trong đó có 1 ca nặng độ IIB. Tại BV Bệnh Nhiệt Đới số ca bệnh TCM nặng tăng đột biến theo chiều hướng nguy hiểm. Trong số 10 ca bệnh nặng có 6 ca mắc bệnh độ IIB; 3 ca độ III và 1 ca độ IV phải thở máy, lọc máu trong tình trạng nguy kịch...
Xem thêm

1 Đọc thêm

đề cương ôn tập vật lí 9 học kì 2

đề cương ôn tập vật lí 9 học kì 2

Câu 13: Một số bài tập ví dụ về máy biến áp: Bài 1: Một máy biến thế gồm cuộn sơ cấp có 500 vòng, cuộn thứ cấp 40 000 vòng, đựợc đặt tại nhà máy phát điện. a Cuộn dây nào của máy biến thế được mắc vào 2 cực máy phát ? vì sao? b Đặt vào hai đầu cuộn sơ cấp hiệu điện thế 400V.Tính HĐT ở hai đầu cuộn thứ cấp? c Dùng máy biến thế trên để tăng áp rồi tải một công suất điện 1 000 000 W bằng đường dây truyền tải có điện trở là 40 W. Tính công suất hao phí do toả nhiệt trên đường dây ?Tóm tắt: n¬1 = 500 vòng, n¬2 = 40000 vòng, U1 = 400V , U2 = ? (V) P = 1 000 000 W; R = 40 W Php = ?( W) Giải: a Cuộn 500 vòng được mắc vào 2 cực của máy phát điện.Vì n1 < n2 : máy biến thế là máy tăng thế. Sử dụng máy tăng thế để tăng HĐT truyền tải trên đường dây làm giảm hao phí vì tỏa nhiệt trên đường dây.b Hiệu điện thế giữa hai đầu cuộn thứ cấp: U1U2 = n1n2 → U2 = n2 n1 . U1 = 40000 500 . 400 =32000(V)c Công suất hao phí trên đường dây tải điện: . Bài 2: Cuộn sơ cấp của một máy biến thế có 1000 vòng, cuộn thứ cấp có 5000 vòng đặt ở một đầu đường dây tải điện. Biết hiệu điện thế ở hai đầu cuộn thứ cấp là 100kV. Tính hiệu điện thế đặt vào hai đầu cuộn sơ cấp ?GiảiTóm tắt : n1 = 1000 vòng , n2 = 5000 vòng U2 = 100kV = 100 000V Tính U1 = ? a,Ta có : => U1 = = 20 000(V)Bài 3: Một máy biến thế có số vòng dây ở cuộn sơ cấp là 1000 vòng, cuộn thứ cấp là 2500 vòng. Cuộn sơ cấp nối vào nguồn điện xoay chiều có hiệu điện thế 110V.a) Tính hiệu điện thế hiệu dụng ở hai đầu cuộn thứ cấp khi mạch hở?b) Nối hai đầu cuộn thứ cấp với điện trở 100W. Tính cường độ dòng điện chạy trong cuộn sơ cấp và thứ cấp. Bỏ qua điện trở của các cuộn dây?c) Người ta muốn hiệu điện thế ở hai đầu cuộn thứ cấp (khi mạch hở) bằng 220V, thì số vòng dây ở cuộn thứ cấp phải bằng bao nhiêu? Giải a) Từ biểu thức = 275V b) Cường độ dòng điện chạy trong cuộn thứ cấp là: = 2,75A. Do hao phí không đáng kể, nên công suất ở hai mạch điện bằng nhau: U1 I1 = U2 I2 ® = 6,8A c) Từ biểu thức = 2000 vòngBài 4: Một máy phát điện xoay chiều cho một hiệu điện thế xoay chiều ở hai cực của máy là 220V. Muốn tải điện đi xa người ta phải tăng hiệu điện thế 15400V. a. Hỏi phải dùng loại máy biến thế với các cuộn dây có số vòng dây theo tỷ lệ như thế nào? Cuộn dây nào mắc với hai đầu máy phát điện? b. Dùng một máy biến thế có cuộn sơ cấp 500 vòng để tăng hiệu điện thế ở trên. Hỏi sô svongf dây của cuộn thứ cấp? Giải a. Từ công thức: Cuộn dây có ít vòng dây mắc với hai đầu máy phát điện. b. Từ công thức , vì là máy tăng thế n2 là cuộn sơ cấp và n1 là cuộn thứ cấp. Số vòng dây của cuộn thứ cấp là: n1 = 70n2 = 35000 vòngCâu 15:Một số bài tập về máy ảnh: Một người cao 1,8 m đứng cách máy ảnh 3m thì cho ảnh rõ nét trên phim. Tính độ cao của ảnh biết khoảng cách từ vật kính đến phim trong máy ảnh là 5cm . Tóm tắt:AB = 1,8mOA = 3mOA’=5cm =0,05mA’B’ = ?Giải :Ta có: ABO A’B’O => =>A’B’ = = = 0,03(m) = 3(cm) TL : Vậy độ cao ảnh là 3 cm Một vật cao 40cm đặt cách máy ảnh 1m thì cho ảnh rõ nét trên phim cao 2 cm. Tính khoảng cách từ vật kính đến phim trong máy ảnh?( Tương tự câu trên)Câu 18: Bài tập ví dụ về TKHT: Đặt một vật AB có dạng mũi tên cao 1cm vuông góc với trục chính của một thấu kính hội tụ, Có điểm A nằm trên trục chính và cách thấu kính 3cm. Thấu kính có tiêu cự 2cm. a. Vẽ ảnh của vật qua thấu kính. Nhận xét tính chất của ảnh. b. Tính độ cao của ảnh và khoảng cách từ ảnh đến thấu kính Tóm tắt: AB = 1cm.d = OA = 3cm. f = OF = 2cm.Hỏi: a. Dựng ảnh A’B’. Nhận xét tính chất của ảnh. b. d’=OA’=? A’B’=? B Ia. Vẽ hình ∆ F’ A’ A F O B’Nhận xét: Ảnh A’B’ là ảnh thật, ngược chiều và lớn hơn vật.b. Ta có: OAB ~ OA’B’ => (1) Ta lại có: F’OI ~ F’A’B’ => (2)Từ (1) và (2) suy ra: (3)Mà F’A’ = OA’ OF’ (3) => ( 4) Thay OA = 3cm, OF’ = 2cm vào (4) ta được: OA’ = 6cm. Thay vào(1) ta được A’B’ = 2cm.Vậy: Khoảng cách từ ảnh tới thấu kính là 6cm và chiều cao của ảnh là 2cm.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề