THƠ PHẠM NGŨ LÃO

Tìm thấy 6,067 tài liệu liên quan tới từ khóa "THƠ PHẠM NGŨ LÃO":

NGHỊ LUẬN BÀI TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGŨ LÃO

NGHỊ LUẬN BÀI TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGŨ LÃO

Bài 1: Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”. Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Hoành sóc giang san kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu. Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý. Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc: -“Thuyền bè muôn đội; Tinh kỳ phấp phới Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” (Bạch Đằng giang phú) Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã: “Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông). “Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”. Bài 2: I. Mở bài : - Nhắc đến Phạm Ngũ Lão,chúng ta liền nhớ đến người anh hùng xuất thân ở tầng lớp bình dân,ngồi đa sọt mà lo việc nước.Về sau,chàng trai làng PHù Ủng ấy đã trở thành nhân vật lịch sử từng có công lớn trong kháng chiến chống quân Nguyên-Mông,giữ địa vị cao ở đời Trần. - Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn.Văn thơ của ông để lại không nhiều,nhưng Thuật hoài là bài thơ nổi tiếng hừng hực hào khí Đông A của lịch sử giai đoạn thế kỷ X đến XV. II. Thân bài : 2.1. Hoàn cảnh sáng tác : Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1282 quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành,nhưng thực ra định xâm lược nước ta.Trước tình hình ấy,vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kế hoạch đánh giặc.Sau đó,Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng được cử lên biên ải phía Bắc đẻ trấn giữ đất nước.Hoàn cảnh lịch sử chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều đến hào khí trong bài thơ. 2.2 Tựa đề: - Thuật có nghĩa là bầy tỏ , hoài là mang trong lòng .Thuật hoài nghĩa là bầy tỏ khát vọng , hoài bão. Đây là đề tài quen thuộc trong thơ cổ. Điều đáng chú ý của baìo thơ này ở chỗ người tỏ lòng là một vị tướng đang giữ trọng trách nặng nề nơi biên ải. 2.3 Hai câu đầu: - Câu 1 khắc hoạ hình ảnh người tráng sĩ qua tư thế và hành động .Hoành sóc nghĩa là cặp ngang ngọn giáo .Người trai càm giáo đã mấy thu sẵn sàng bảo vệ non sông đất nước . Tư thế ấy lại đặt trong không gian kỳ vĩ của giang san.Tất cả những chi tiết trên đã dựng lên bức chân dung oai phong lẫm liệt của người trai thời loạn. - Câu 2 là hình ảnh ba quân.Ngày xưa ,quân lính thường chia làm ba đội gọi là tiền quân , trung quan ,hậu quan.Vì thế , câu thơ nói đến ba quân là ca ngợi sức mạnh của toàn dân tộc . Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu ,câu thơ có thể hiểu theo hai cách.Khí thôn Ngưu là khí thế nuốt được cả con trâu (chú giải của sách giáo khoa),cũng có thể hiểu là nuốt cả con ngưu.Cả hai cách hiểu đều nói đến khí thế mạnh mẽ của dân tộc . Đây là hình ảnh ước lệ quen thuộc thường gặp trong thơ cổ nhưng đặt trong hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm ,hình ảnh này lại gợi lên những cảm xúc chân thực vì phản ảnh hào khí của thời đại. - Hai câu thơ là hai hình ảnh bổ sung vẻ đẹp cho nhau.Thời đại hào hùng tạo nên những con người anh hùng , ngược lại mỗi cá nhân đóng góp sức mạnh làm nên hào khí của thời đại.Câu thơ bộc lộ niềm tự hào của tác giả về quân đội của mình , về con người và thời đại của mình.Tác giả nói về chính mình vừa nói tiếng nói cho cả thế hệ. 2.4 Hai câu sau: - Đến đây bài thơ mới bầy tỏ hoài bão của nhân vật trữ tình . Đó là lập công danh nam tử, tức là công danh của đấng làm trai theo lý tưởng phong kiến .Người xưa quan niệm ,làm trai là phải có sự nghiệp và danh tiếng để lại muôn đời .Chí làm trai được coi là món nợ phải trả của đấng nam nhi .Phạm Ngũ Lão đã bầy tỏ khát vọng được đóng góp cho đất nước , xứng đáng là kẻ làm trai .Khát vọng thật đẹp và cao cả. - Nhưng thật bất ngờ , câu kết bài thơ lại là nỗi thẹn: Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu) Vũ Hầu là Gia Cát Lượng , quân sư nổi tiếng đã giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán.Phạm Ngũ Lão thẹn vì thấy mình tài giỏi như Vũ Hầu để lập công giúp nước . Đây là nỗi thẹn cao cả , cái thẹn làm nên nhân cách .Vì sao? Phạm Ngũ Lão là người có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ đất nước , đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.Vậy mà ông vẫn còn cảm thấy mình vương nợ với đời , còn phải thẹn lhi nghe thuyết Vũ Hầu . Điều đó nói nên khát vọng muốn đóng góp nhiều hơn cho đất nước. - Nếu hai câu đầu của bài thơ khắc hoạ chân dung người trai Đại Việt với vẻ đẹp oai phong bao năm bền bỉ bảo vệ đất nước thì hai cau sau bộc lộ chí lớn và cái tâm cao cả của người tráng sĩ. III. Kết luận: - Bài thơ súc tích , ít lời nhưng đã nói nên lí tưởng nhân sinh của kẻ làm trai: lập công danh không phải chỉ để vinh thân vì phì gia,mà vì đan tộc ;khi đã có công danh , còn phải phấn đấu vươn lên không ngừng. - Bài thơ súc tích , lời ít , chi tiết có sức gợi , tiêu biểu quy luật kết tinh nghệ thuật của văn học trung đại ST
Xem thêm

3 Đọc thêm

CẢM NHẬN VỀ HÌNH ẢNH TRANG NAM NHI THỜI TRẦN TRONG BÀI THUẬT HOÀI PHẠM NGŨ LÃO

CẢM NHẬN VỀ HÌNH ẢNH TRANG NAM NHI THỜI TRẦN TRONG BÀI THUẬT HOÀI PHẠM NGŨ LÃO

hoàn toàn đúng. “Hoànhngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là *cầm ngang ngọn giáo (bảo vệ) non sông đã mấymùa thu. Chỉ cần 7 chữ nhưng câu th ơ trên đây tả g ợi được hình ảnh của ng ười trai đời Trần và cũngchính là của Phạm Ngũ Lão với tư thế hùng düng, luôn kiên c ường,sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc,lập nên những chiến công huy hoàng. Dẫu họ đã ngoan cườ ng chiến đấu bao năm tháng trải mấy thâu” –mấy mùa thu rồi) nh ưng vẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất. Hình ảnhngườ i tráng sĩ càng trở nên chói lọi bởi hùng khí của ba quân Ba quân chính là hình ảnh của cả thế hệPhạm Ngũ Lão, của cả dân tộc đang sống trong hào khí Đông A. Sức mạnh của “ba quân’ được ví nh ưsức mạnh ghê gớm của hổ báo làm át sao Ngưu. Còn một cách hiểu khác không kém phần ý nghĩa :Sứcmạnh của ba quân như hổ báo có thể nuốt trôi được cả trâu. Nh ư vậy, câu th ứ nhất nói về cá nhân ngườ itrai đời Trần câu thứ hai nói về dân tộc, về cộng đồng. Cá nhân có vẻ đẹp hiên ngang của đất trời, sôngnúị, vượ t qua mọi thử thách của thời gian, cộng đồng, dân tộc có tầm vóc , sức mạnh của vũ trụ. Cánhân với cộng đồng, với dân tộc có quan hệ mật thiết hài hòa. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng tạo nênkhi thế ngất trời của ba quân; đồng thời khí thế của ba quân lại Làm cho hình ảnh ng ười tráng s ĩ thêmlộng lẫy Mỗi con ngườ i đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là một thờiđại cao đẹp của những con người cao đẹp!Như vậy, chỉ bằng hai câu thơ, Phạm Ngũ Lão đã phác họa thành công tư thế của nhân vật tr ữ tình –chàng trai đờỉ Trần và tư thế của dân tộc ta trong một th ời điểm lịch s ử v ới một tầm vóc lớn và quyết tâmlớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang vẻ đẹp sử thi, tầm vóc sử thi .Phạm Ngũ Lão không chỉ phátngôn nhân danh cá nhân mình mà ông còn nhân danh cả dân tộc, cả thời đạiHình ảnh ngườ i tráng sĩ cắp giáo tung hoành n ơi trận mạc, hình ảnh ba quân khí thế ngất trời ta đã gặpnhiều trong văn học trung đại của Việt Nam cũng như của Trung Quốc,(Chàng chinh phu trong Chinh phụngâm của Đặng Trần Côn cũng từng “Múa gươm r ượu tiễn chưa tàn – ngang l ưng ngọn giáo vào ngànhang beo”. Nói về tướ ng sĩ trong bài Thập gi ới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông cũng có câu “Miệngthòm thèm giươ ng dạ nuốt trâu – Chí hăm h ở dang tay bắt v ượn”). Song, nếu ở nh ững câu v ừa dẫn lànhững hình ảnh ướ c lệ nặng tính chất ngao du khoa tr ương, thì trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão lànhững hình ảnh tuy cũng thật kì vĩ nhưng là nh ững hình ảnh chân th ực, hiện th ực, b ởi ng ười đọc biết
Xem thêm

3 Đọc thêm

Học bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão, có bạn cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì. Ngược lại, có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao

HỌC BÀI THƠ "THUẬT HOÀI" CỦA PHẠM NGŨ LÃO, CÓ BẠN CHO RẰNG: SỰ HỔ THẸN CỦA TÁC GIẢ LÀ QUÁ ĐÁNG, KIÊU KÌ. NGƯỢC LẠI, CÓ BẠN NGỢI CA VÀ CHO RẰNG ĐÓ LÀ BIỂU HIỆN MỘT HOÀI BÃO LỚN LAO

Đề 9. Học bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão, có bạn cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì. Ngược lại, có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước. Hãy cho biết ý kiến của anh (chị). Bài viết Nhà Trần đã ghi vào cuốn Việt sử những trang sử vô cùng chói lọi vói ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông và một sự phát triển thịnh vượng của đất nước. Nền văn minh của dân tộc Việt đã có một bước tiến dài dưới các triều đại nhà Trần. Những trang sử hào hùng đó của nhà Trần có được là nhờ tinh thần vua tôi một lòng vì dân vì nước. Vì nhà Trần có những tướng lĩnh tài năng như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… Những tướng lĩnh tài ba ấy đã góp phần làm nên cái "hào khí Đông A" trong văn học thời Trần. Sau những tháng năm chinh chiến và đã có được rất nhiều công ao đối với cuốc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Phạm Ngũ Lão - một tướng lĩnh tài ba của Trần Hưng Đạo - đã tổng kết lại cuộc đời chinh chiến của mình: Múa giáo non sông trải mấy thâu Ba quân hùng khí át sao Ngưu Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. Trên thực tế, những gì nhà Trần đã làm được cho lịch sử dân tộc Việt Nam là một điều rất đáng tự hào, không chỉ của riêng những tướng lĩnh nhà Trần mà còn là của cả dân tộc. Theo quan niệm công danh của Nho giáo thì việc "Múa giáo non sông trải mây thâu" ấy cũng đã là một sự nghiệp công danh đáng tự hào, người quân tử đã thực hiện đủ nghĩa vụ "tề gia trị quốc bình thiên hạ". Thế nhưng, người tướng lĩnh trongh bài thơ này lại có tâm sự "Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu". Công lao của Vũ Hầu (Gia Cát Lượng) đối với nhà Thục là điều không thể tranh cãi. Sự nghiệp của Gia Cát Lượng đã trở thành lý tưởng sống của các bậc chính nhân quân tử theo tư tưởng Nho gia. Việc thua kém Vũ Hầu về công lao binh nghiệp là lẽ đương nhiên, không có gì đáng hổ thẹn. Trong bài thơ này, tác giả cũng không có ý so sánh sự nghiệp của mình với Gia Cát Lượng. "Chuyện Vũ Hầu" được nhắc đến không phải để so sánh mà nó có ý nghĩa tượng trưng cho lí tưởng về trách nhiệm của đấng nam nhi đối với xã hội. Vì thế sự hổ thẹn của tác giả trong bài thơ này không phải "là quá đáng, kiêu kì". Đó là sự băn khoăn, trăn trở day dứt của một con người về trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Đó chính là biểu hiện sâu sắc nhất của tình yêu quê hương đất nước. Hướng đến sự nghiệp của Vũ Hầu là hướng đến một lí tưởng sống cao đẹp, "đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước". Sống ở trên đời này, không phải ai cũng biết thẹn, thẹn với bản thân mình và thẹn với tất cả mọi người. Biết thẹn nghĩa là còn biết sống, còn biết thế nào là phải trái, tốt xấu. Nỗi "then" của Phạm Ngũ Lão là nỗi thẹn của một con người có nhân cách cao cả. Đây không phải là sự xấu hổ của một người trót làm điều xấu, cũng không phải sự tự ti của một người vô tích sự, vô nghĩa trước cuộc đời. Người tướng lĩnh ấy đã "Múa giáo non sông trải mấy thâu" và đã góp nhiều công lớn, đã góp phần làm nên cái "hùng khí nuốt sao Ngưu", điều đó đã đủ làm nên sự vẻ vang cho một cuộc đời.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI PHƯỜNG PHẠM NGŨ LÃO THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI PHƯỜNG PHẠM NGŨ LÃO THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

nên không đa dạng về các loại sản phẩm, mang tính rủi ro cao cho người sảnxuất. Hơn hết rau an toàn vẫn chưa thực sự có chỗ đứng trên thị trường bởimới chỉ có một bộ phận nhỏ người tiêu dùng chấp nhận nó còn phần đông vẫnbăn khoăn về giá cả, nguồn gốc, chất lượng và nhiều yếu tố khác. Chính vìvậy việc lựa chọn sản xuất rau an toàn là một lựa chọn khá liều lĩnh, cần có2một nguồn vốn và một nguồn thị trường ổn định- một bài toán khá khó đốivới người sản xuất.Mặc dù là một nhu cầu thiết yếu của con người trong mỗi bữa ăn nhưngvới thói quen, tập tính của người Việt Nam nói chung và người Hải Dươngnói riêng thì việc hiểu biết, tìm mua, tiêu thụ sản phẩm rau an toàn rất hạnchế. Bên cạnh đó những nhà sản xuất rau an toàn cũng không có chiến lượctiếp cận, tìm hiểu về người tiêu dùng để có thể quảng bà giới thiệu rộng hơnvề sản phẩm rau an toàn của mình. Trước tình trạng cung và cầu về rau antoàn đều thiếu, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “NGHIÊN CỨU CÁC YẾUTỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA RAU AN TOÀN CỦANGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI PHƯỜNG PHẠM NGŨ LÃO- THÀNH PHỐHẢI DƯƠNG”.1.2 Mục tiêu nghiên cứu1.2.1 Mục tiêu chungNghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua rau an toàn tạiphường Phạm Ngũ Lão- Thành phố Hải Dương từ đó tìm ra các giải phápthúc đẩy phát triển sản xuất tiêu dùng rau an toàn tại địa bàn thành phố.1.2.2 Mục tiêu cụ thểĐể tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi tập trung vào ba mục tiêu cụthể:1. Góp phần hệ thống hóa cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận về quyết định
Xem thêm

96 Đọc thêm

phân tích sự hổ thẹn của phạm ngũ lão trong tỏ lòng

phân tích sự hổ thẹn của phạm ngũ lão trong tỏ lòng

Điđơrô từng nói: “Không có khát vòng lớn thì cũng không có sự nghiệp lớn”. Sống phải có ước mơ và ước mơ đó phải gắn khát vọng của bản thân với lợi ích của quốc gia dân tộc. Chúng ta có thể gặp lí tưởng sống cao đẹp ấy ở mọi thời đại. Đó có thể là lòng căm thù giặc sâu sắc, cũng có thể là lòng tự hào dân tộc, nhưng lí tưởng sống được thể hiện qua “nỗi thẹn” thì thật khác thường. Nếu Nguyễn Khuyến “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” thì Phạm Ngũ Lão một danh tướng đời Trần lại “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”. Có bạn cho rằng sự hổ thẹn của tác giả Phạm Ngũ Lão là quá kiêu kì, thái quá; ngược lại có bạn ca ngợi và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn của người thanh niên yêu nước. Vậy, ý kiến nào đúng? Thuật hoàilà một trong những tác phẩm của văn học thời Lí Trần, với thể Đường luật ngắn gọn, súc tích, bài thơ đã nói lên được ước mơ của trang nam nhi trong xã hội phong kiến:
Xem thêm

Đọc thêm

TỎ LÒNG THUẬT HOÀI PHẠM NGŨ LÃO

TỎ LÒNG THUẬT HOÀI PHẠM NGŨ LÃO

- Bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi:+ Xây dựng hình tượng lớn lao, kì vĩ.+ Hào khí thời đại, tầm vóc, chí hướng của người anh hùng.- Hình ảnh giàu sức biểu cảm.C. Ý NGHĨA VĂN BẢN:Thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão,khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời kì oanh liệt, hào hùngcủa lịch sử dân tộc.III. Tổng kết: (ghi nhớ sgk)*CỦNG CỐ:1/ Vẻ đẹp của con người thời Trần thể hiện như thế nào quabài thơ?-Tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ.-Chí lớn lập công danh gắn với sự nghiệp cứu nước, cứu dân;cái tâm mang giá trị nhân cách, nỗi thẹn tôn lên vẻ đẹp conngười.2/Vẻ đẹp của thời đại thể hiện như thế nào qua bài thơ?Khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến, quyết thắng.3/Thành công nghệ thuật của bài thơ?-Thủ pháp gợi thiên về ấn tượng bao quát, đạt độ súc tích cao-Bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi và hình tượngthơ lớn lao, kì vĩ.Dặn dò:-Viết một đoạn văn nói lên cảm nhận của em về Hàokhí Đông A qua bài thơ Tỏ lòng.
Xem thêm

23 Đọc thêm

CẢM T­ƯỞNG CỦA ANH (CHỊ) VỀ BÀI THƠ TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGŨ LÃO.

CẢM T­ƯỞNG CỦA ANH (CHỊ) VỀ BÀI THƠ TỎ LÒNG CỦA PHẠM NGŨ LÃO.

Tỏ lòng là bài thơ nói về chí làm trai theo quan niệm Nho giáo xưa. Bài thơ đã xây dựng nên một hình tượng đẹp về người anh hùng thời loạn: một tráng sĩ hiên ngang tay cắp ngang ngọn giáo, đánh đông dẹp bắc để lập công danh. Bài thơ khiến ta nhớ đến bài ca dao: Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng Đó là tiêu chuẩn lí tưởng của người đàn ông trong bất cứ thời đại nào. Trong thời loạn, chí khí ấy lại càng cần thiết. Phạm Ngũ Lão đã hình tượng hoá quan niệm của Nho gia về đáng nam nhi. Đây là một quan niệm dúng đắn và cao đẹp. Là con người, dù là đàn ông hay đàn bà, dù là già hay trẻ đều phải có trách nhiệm với đất nước, với quê hương, với cộng đồng, huống chi là người tráng sĩ sinh ra trong thời loạn. Họ phải biết mang sức lực, tài trí của mình ra giúp dân, giúp nước, bảo vệ sự ổn định của xã hội. Với những bậc quân tử xưa, đền nợ nước, báo ơn vua là lí tưởng và mục đích sống của họ. Như Nguyễn Công Trứ từng nói: Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông Nếu họ không thực hiện được con đường công danh ấy, họ sẽ cảm thấy hổ thẹn với mọi người. Cả cuộc đời người quân tử chỉ có một lí tưởng duy nhất để theo đuổi đó là lập công danh. Con đường mà Nho giáo đã vạch sẵn cho tất cả các đấng nam nhi là "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Tư tưởng này đã trở thành một động lực thôi thúc các nhà Nho phát huy tài trí của mình ra giúp nước. Nhà Nho tiến bộ của thế kỷ XX – Phan Bội Châu- cũng đã từng thể hiện một cách hùng hồn và đầy nhiệt huyết cái chí khí ấy của người anh hùng thời loạn: Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển rời Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thủa há không ai? Tư tưởng ấy đã làm nên một hình tượng đẹp thể hiện khát vọng cứu nước trong văn học Việt Nam: Muốn vượt biển đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, đất nước ta đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc. Một đất nước nhỏ bé luôn đứng trước nguy cơ bị xâm lược nên ý thức giữ nước đã trở thành ý thức có tính chất bản năng của mỗi người dân. Vì thế mà hình tượng đẹp nhất về người anh hùng bao giờ cũng là người anh hùng thời loạn. Trong đó hình tượng người tráng sĩ trong Tỏ lòng là một hình tượng có vẻ đẹp lí tưởng, bởi thời kì lịch sử ấy, nhà Trần với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông đã viết lên những trang sử vô cùng chói lọi trong thiên sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.. Sau người tráng sĩ ấy còn biết bao hình tượng đẹp nữa, trong đó không thể không kể đến những anh bộ đội cụ Hồ, những anh vệ quốc quân trong kháng chiến chống Pháp, những anh giải phóng quân – chàng Thạch Sanh  của thế kỉ XX – trong kháng chiến chống Mĩ… Người anh hùng với lí tưởng cao đẹp đã từng đánh đông dẹp bắc, từng làm nên cái khí thế "nuốt sao Ngưu" dũng mãnh ấy, khi nhìn lại sự nghiệp của mình vẫn mang những niềm trăn trở day dứt: Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu Đây là cái thẹn của một nhân cách cao đẹp. Như thế vẫn chưa thoả mộng công danh, người quân tử không có điểm dừng trong sự nghiệp công danh của mình. Phạm Ngũ Lão với Tỏ lòng đã thể hiện một nhân cách cao đẹp của người tướng lĩnh, con người suốt cuộc đời khao khát lập công, khao khát mang sức lực và tài trí của mình ra giúp nước. Bài thơ là niềm tự hào của mỗi chúng ta về truyền thống đạo đức, truyền thống yêu nước của cha ông ta.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ TỎ LÒNG

Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”. Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Hoành sóc giang san kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu. Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý. Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc: -“Thuyền bè muôn đội; Tinh kỳ phấp phới Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” (Bạch Đằng giang phú) Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã: “Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông). “Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”. ST
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Thuật Hoài ( Tỏ Lòng ) của Phạm Ngũ Lão

PHÂN TÍCH BÀI THƠ THUẬT HOÀI ( TỎ LÒNG ) CỦA PHẠM NGŨ LÃO

             Việt Nam, đất nước tuy bé nhỏ đầy những gian lao vất vả nhưng rất đỗi anh hùng đã trải qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước với những mốc son chói lọi trong lịch sử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời đời được ghi lại trong những áng văn chương kiệt xuất như: "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn, "Bạch Đằng giang phú" của Trương Hán Siêu, v.v… Đặc biệt và nổi bật hơn hết cả là tác phẩm "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ là một khúc tráng ca hào hùng và mang nặng nỗi niềm của tác giả.Phạm Ngũ Lão(1255-1320) trong thời kì loạn lạc với cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên của đất nước. Bên cạnh một nhà quân sự tài giỏi, ông còn là một nhà thơ vĩ đại với hai tác phẩm "Thuật hoài" và "Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương" còn vang vọng mãi với non sông. Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng: "Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu"                     Bước vào thời đại chiến tranh ấy, cái thời mà ngọn lửa như thiêu đốt cả tâm hồn quyết tâm diệt tan kẻ thù xâm lăng bờ cõi, khẳng định lại một lần nữa: "Nam quốc sơn hà Nam Đế cư"! Và khi đó, xuất hiện tư thế hiên ngang của người anh hùng đất Việt "hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu". Câu thơ đầu tiên đã vẽ nên hình tượng oai phong lẫm liệt của người tráng sĩ với tư thế cầm ngang ngọn giáo sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tư thế ấy mang đậm tính tự hào rằng mình là người con đất Việt và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bờ cõi Việt, bảo vệ nhân dân Việt, bảo vệ non sông gấm vóc ngàn thu này. Hình ảnh lớn lao của người chiến sĩ đã sánh với tầm vóc bao la hùng vĩ của đất trời, lấn át cả khí thế của quân giặc. Đó còn biểu trưng cho lối sống cao đẹp cống hiến hết sức để bảo vệ đất nước một cách kiên trì, nhẫn nại. Dù bao nhiêu năm đi chăng nữa thì lí tưởng bảo vệ, khôi phục non sông vẫn mãi trường tồn.Chỉ qua câu thơ dầu đã cho ta thấy được hào khí Đông A.Ở đây hào khí Đông A chính là hào khí thời trần ,theo chữ Hán chữ “Đông” và 1 bộ phận của chữ “A” ghép thành. Qua hào khí đó thể hiện niềm tự hào về sức mạnh của thời đại. Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kỳ vĩ mang tầm vóc vũ trụ mà hơn cả là hào khí “Đong A” thì câu thơ thứ hai     như tô đậm hào khí “Đông A” , tô đậm hình ảnh "ba quân" tượng trưng cho sức mạnh của quân đội nhà Trần và sức mạnh dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ. "Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"                 Đội quân "Sát Thát" ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. "Khí thôn ngưu" nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời xuất phát từ câu "khí thôn Ngưu đẩu" hay đó chính là khí thể hùng mạnh có thể nuốt trôi trâu của tam quân thời Trần. Biện pháp nghệ thuật cường điệu hoá sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, có tính sử thi. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: "Tam quân tì hổ…"  không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân "Sát Thát" bất khả chiến bại mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc.                             Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ: "Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu" Thời xưa, Nho giáo đã nêu lên triết lí kẻ làm trai từ lúc sinh ra đã gánh nợ công danh. Người đàn ông phải hướng đến "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" lấy đó là lí tưởng, là cái đích phải hướng tới.  Thời Trần, cái chí làm trai ấy là "Phá cường địch, báo hoàng ân" của vị anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản, là câu nói quả quyết của Thái sư Trần Thủ Độ: "Đầu thần còn chưa rơi xuống xin bệ hạ đừng lo" hay đó là vị Quốc Công tiết chế với "Hịch tướng sĩ" mang đậm hào khí anh hùng: "…dẫu cho thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng". Ấy chính là khát vọng được gánh vác vận mệnh đất nước, dân tộc, lập chiến công hiển hách, là lý tưởng lập công danh sự nghiệp của nam nhi thời loạn lạc. "Công danh" mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ "công danh" tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm.              Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp lớn lao. Phạm Ngũ Lão cũng từ cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân tộc chiến đấu chống xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm. Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái nợ đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn. Phạm Ngũ Lão "thẹn" chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì so với cha ông mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là quân sư của Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Vì thế "luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu" thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Với Phạm Ngũ Lão, tuy là một nhà thao lựơc kiệt xuất, có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần hai, ba nhưng ông vẫn tự thấy hổ thẹn. Ông thẹn vì chưa khội phục được giang sơn, vì kém cỏi chưa được như Vũ hầu, chưa báo được Hoàng ân. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người. Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường. Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng. Ẩn sau cái thẹn cao cả, khiêm tốn và ấy là cả một nỗi niềm khao khát được cống hiến hơn nữa cho Tổ quốc, cho dân tộc, để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững:  "Non sông nghìn thuở vững âu vàng".            Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng. Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần, là sản phẩm của "hào khí Đông A". Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao. Con người ấy vì ai mà xông pha, quyết chiến? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình. Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm, con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những biểu hiện của con người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước.           Thuật hoài là một bài thơ Đường luật ngắn gọn nhưng hàm súc với thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng, khái quát kết hợp với bút pháp hoành tráng mang âm hưởng sử thi đã khắc họa vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang, hùng dũng với sức mạnh lý tưởng lớn lao cao cả, tâm hồn sáng ngời nhận cách cùng khí thế hào hùng, quyết chiến quyết thắng của "hào khí Đông A"-hào khí thời Trần. Ngày nay, việc "cứu nước phò nguy" đâu phải là không cần thiết nữa vì vậy, mỗi thanh niên chúng ta cần học tập thật tốt, rèn luyện nhân cách đạo đức, xác định cho mình lí tưởng sống đúng đắn và quan trọng hơn là phải biết ước mơ và hành động vì sự nghiệp đất nước, đưa Việt Nam sánh ngang tầm với các cường quốc khắp năm châu.
Xem thêm

2 Đọc thêm

tổng hợp các bài văn phát biểu cảm tưởng phần i

tổng hợp các bài văn phát biểu cảm tưởng phần i

Hướng dẫn soạn bài : Cha Tôi (Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục). Soạn bài: Tính thống nhất chủ đề của văn bản. Thư gửi ba ở Trường Sa. Viết một văn (từ 8 đến 10 câu) về cảnh đẹp của quê hương em, trong đó có sử dụng dấu ngoặc kép. Phân tích hình ảnh chiếc thuyền trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” Của Nguyễn Minh Châu. Phân tích tâm trạng chú hổ trong bài Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích nhân vật con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Cảm nhận đoạn thơ sau: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suốiTa đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” Giới thiệu Tác phẩm Nhớ rừng và nhà thơ Thế Lữ Nhận xét ” Thế Lữ như một vị tướng điều khiển đội quân Việt ngữ…” Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ đắt nhất trong “Nhớ rừng” Phân tích “ào đâu những đêm vàng bên bờ suối Than ôi Thời oanh liệt nay còn đâu” Tâm trạng chú hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích cái hay của hình ảnh thơ: Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay Giá trị biểu cảm của 2 câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu” Phân tích bài thơ Ông đồ của tác giả Vũ Đình Liên Đọc hiểu bài ” Nhàn ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Nỗi lòng sâu thẳm của Nguyễn Trãi qua bài thơ Cảnh ngày hè Cảm nhận về “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Cảm nhận về bài Bánh trôi nước Cảm tưởng của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Biểu cảm: Tôi thấy mình đã khôn lớn Bình giảng đoạn thơ trong đoạn trích Đất Nước Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của nhà thơ Lí Bạch Bình giảng đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm Cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện đã học mà anh (chị) không thể nào quên Bình luận câu tục ngữ ‘Có chí thì nên’ Soạn bài Vào phủ chúa trịnh Lê Hữu Trác Cảm nghĩ của em về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” Cảm nghĩ về bố Cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ “Việt Bắc” Bình giảng tác phẩm ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu Thơ thiên nhiên trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Cảm nghĩ về cái kết truyện Cô bé bán diêm Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu Truyện người con gái Nam Xương và tấm lòng nhân hậu của nhà văn Nguyễn Dữ Cảm nhận đoạn trích Hai cây phong của Aimatop Viết cảm nhận của mình về nắng Sài Gòn Soạn bài Thu điếu Nguyễn Khuyến Sóng – Xuân Quỳnh Cảm nhận của em về khổ đầu trong bài thơ Nói Với con của Y Phương Hãy tưởng tượng rằng mình được gặp người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Kể về cuộc gặp gỡ với các chú bộ đội nhân ngày 2212 Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh Lê Thanh Hải – Một nốt trầm xao xuyến Cảm nghĩ về bản sắc văn hóa Việt Nam
Xem thêm

Đọc thêm

Đặc điểm nhân vật anh hùng trong truyền thuyết người việt

Đặc điểm nhân vật anh hùng trong truyền thuyết người việt

Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm là một mảng rất lớn trong truyền thuyết Việt Nam. Đó là truyền thuyết kể về các anh hùng từ thời Thánh Gióng, An Dương Vương đến Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão,.... Các truyền thuyết ấy đã nuôi dưỡng và cổ vũ tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta từ xưa đến nay. Với truyền thuyết và nghệ thuật xây dựng nhân vật theo các mô tuýp: sinh nở thần kì, chiến công phi thường và hóa thân là ba mô tuýp tiêu biểu cùng với màu sắc tưởng tượng, hư cấu…đã góp phần giúp cho những tấm gương anh hùng chống quân xâm lược sống mãi trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam. Qua từng giai đoạn, nghệ thuật xây dựng nhân vật có sự thay đổi ít nhiều, các yếu tố hư cấu dường như cũng ít đi tuy nhiên những mô tuýp căn bản để xây dựng nhân vật trong truyền thuyết vẫn được biểu hiện rất rõ. Qua truyền thuyết, giúp chúng ta biết bồi đắp thêm truyền thống yêu nước, biết trân trọng, giữ gìn những giá trị văn hóa, giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

Lập luận so sánh

LẬP LUẬN SO SÁNH

. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Lập luận so sánh là một thao tác nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc các mặt trong cùng một sự vật. So sánh để thấy sự giống nhau, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng. So sánh gồm so sánh tương phản và so sánh tương đồng. 2. Tác dụng Lập luận so sánh trong bài văn nghị luận là rất cần thiết. Sáng tạo văn học nghệ thuật là sáng tạo độc đáo. So sánh là để thấy được vẻ riêng, thấy được giá trị nổi bật của tác phẩm, từ đó đánh giá những thành công và đóng góp của nhà văn. 3. Yêu cầu So sánh phải cùng một tiêu chí, chung một bình diện, có thể so sánh các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, có thể là nhân vật, tác phẩm, tác giả và phong cách… So sánh phải có mục đích cụ thể là để làm sáng tỏ hoặc khẳng định một vấn đề nào đó. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đọc đoạn văn (tr. 174 SGK) và chỉ ra cách so sánh cùng với những nhận xét, đánh giá cụ thể của tác giả. Trong đoạn văn trên: - Tác giả dùng hai cách so sánh: So sánh tương đồng “một dân tộc”; So sánh tương phản: “Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi” “một khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy” và “khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang.” - Đánh giá, nhận xét của tác giả: Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu vừa có điểm giống vừa có điểm khác áng “thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi. Từ đó ca ngợi sự anh dũng hiên ngang của người nghĩa sĩ Cần Giuộc và vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm 2. Khi phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có thể so sánh với hình tượng người tráng sĩ trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão và hình tượng người lính trong những tác phẩm văn học: “Tây Tiến” (Quang Dũng), “Đồng chí” (Chính Hữu), “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi); hình ảnh người lính trong một số bài thơ của Tố Hữu “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, hình tượng người chiến sĩ cộng sản trong thơ Hồ Chí Minh, …  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài 2 - Nghe và kể lại câu chuyện “Chàng trai làng Phù Ủng”

BÀI 2 - NGHE VÀ KỂ LẠI CÂU CHUYỆN “CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG”

Quân lính đi trước dẹp đường, chiêng, trống, loa, kèn inh ỏi, vậy mà chàng trai vẫn mải mê đan sọt ĐỀ BÀI Nghe và kể lại câu chuyện “Chàng trai làng Phù Ủng”. BÀI THAM KHẢO Có một chàng trai ở làng Phù Ủng ngồi dưới nắng bên vệ đường đan sọt. Sáng ấy, đoàn quân của Trần Hưng Đạo đi ngang qua. Quân lính đi trước dẹp đường, chiêng, trống, loa, kèn inh ỏi, vậy mà chàng trai vẫn mải mê đan sọt không hề hay biết gì. Quân lính mở đường tức giận lấy giáo đâm vào đùi, máu chảy, chàng trai cũng không biết. Đến lúc, kiệu của Trần Hưng Đạo đi qua, chàng trai mới sực tỉnh, vội đứng dậy vái chào. Trần Hưng Đạo hỏi: -      Nhà ngươi bị giáo đâm như thế mà không biết sao? Chàng trai đáp:                                     , -     Tôi đang mải nghĩ về mấy câu trong cuốn “Binh thư” nên không để ý. Xin Đại vương lượng thứ cho. Sau khi hỏi tên tuổi và một số câu trong phép dùng binh, được chàng trai trả lời rành rọt lưu loát, Hưng Đạo rất cảm mến, nên ông cho đi theo về kinh đô. Về sau, Phạm Ngũ Lão trở thành một tướng tài và lập được nhiều công lớn trong việc chống giặc Nguyên Mông bảo vệ biên cương đất Việt.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : LẬP LUẬN SO SÁNH

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : LẬP LUẬN SO SÁNH

LẬP LUẬN SO SÁNH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Lập luận so sánh là một thao tác nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc các mặt trong cùng một sự vật. So sánh để thấy sự giống nhau, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng. So sánh gồm so sánh tương phản và so sánh tương đồng. 2. Tác dụng  Lập luận so sánh trong bài văn nghị luận là rất cần thiết. Sáng tạo văn học nghệ thuật là sáng tạo độc đáo. So sánh là để thấy được vẻ riêng, thấy được giá trị nổi bật của tác phẩm, từ đó đánh giá những thành công và đóng góp của nhà văn. 3. Yêu cầu  So sánh phải cùng một tiêu chí, chung một bình diện, có thể so sánh các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, có thể là nhân vật, tác phẩm, tác giả và phong cách... So sánh phải có mục đích cụ thể là để làm sáng tỏ hoặc khẳng định một vấn đề nào đó. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đọc đoạn văn (tr. 174 SGK) và chỉ ra cách so sánh cùng với những nhận xét, đánh giá cụ thể của tác giả. Trong đoạn văn trên: - Tác giả dùng hai cách so sánh: So sánh tương đồng “một dân tộc”; So sánh tương phản: “Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi” “một khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy” và “khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang.” - Đánh giá, nhận xét của tác giả: Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu vừa có điểm giống vừa có điểm khác áng “thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi. Từ đó ca ngợi sự anh dũng hiên ngang của người nghĩa sĩ Cần Giuộc và vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm 2. Khi phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có thể so sánh với hình tượng người tráng sĩ trong bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão và hình tượng người lính trong những tác phẩm văn học: “Tây Tiến” (Quang Dũng), “Đồng chí” (Chính Hữu), “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi); hình ảnh người lính trong một số bài thơ của Tố Hữu “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, hình tượng người chiến sĩ cộng sản trong thơ Hồ Chí Minh, ...
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI 1 - NGHE VÀ KỂ LẠI CÂU CHUYỆN “CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG”

BÀI 1 - NGHE VÀ KỂ LẠI CÂU CHUYỆN “CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG”

Chuyện xảy ra ở thời nhà Trần vào một buổi sáng. Có một chàng trai làng Phù Ủng ngồi giữa nắng, bên vệ đường mải mê đan sọt. ĐỀ BÀI Nghe và kể lại câu chuyện “Chàng trai làng Phù Ủng”. BÀI THAM KHẢO Chuyện xảy ra ở thời nhà Trần vào một buổi sáng. Có một chàng trai làng Phù Ủng ngồi giữa nắng, bên vệ đường mải mê đan sọt. Lúc ấy, có đoàn quân của Trần Hưng Đạo đi qua làng. Đoàn quân đông đúc võng xe chật đường loa thét inh ỏi, vậy mà chàng trai vẫn mải miết đan sọt không hề hay biết gì cả. Quân dẹp đường cứ tưởng chàng là một kẻ ngang bướng, muốn cản đựờng, bèn lấy giáo đâm vào đùi chàng trai. Máu chảy ra lênh láng, chàng trai vẫn cắm cúi đan sọt, không ngẩng mặt lên. Lúc ấy, kiệu của Trần Hưng Đạo vừa tới. Như sực tỉnh, chàng vội đứng dậy vái chào. Hưng Đạo hỏi: -      Đùi bị đâm chảy máu thế mà ngươi không biết sao? -     Tôi đang mải nghĩ về mấy câu trong “Binh thư” nên không hay, xin Đại vương xá cho. Trần Hưng Đạo hỏi tiếp đến phép dùng binh, chàng trai trảlời thông suốt cả. Ông cảm mến chàng trai thôn dã này mà đưa về kinh đô. Về sau, Phạm Ngũ Lão trở thành một vị tướng tài dưới trướng Trần Hưng Đạo và lập được nhiều công lao.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH

CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn bản thuyết minh nhằm giới thiệu, trình bày chính xác, khách quan về  cấu tạo, tính chất, quan hệ, giá trị,… của một sự vật, hiện tượng, một vấn đề nào đó. Có nhiều loại văn bản thuyết minh. 2. Văn bản thuyết minh có thể có nhiều loại hình thức kết cấu khác nhau : - Kết cấu theo trình tự thời gian : trình bày sự vật theo quá trình hình thành, vận động và phát triển. - Kết cấu theo trình tự không gian : trình bày sự vật theo tổ chức vốn có của nó (bên trên - bên dưới, bên trong - bên ngoài, hoặc theo trình tự quan sát,…). - Kết cấu theo trình tự lôgic : trình bày sự vật theo các mối quan hệ khác nhau (nguyên nhân - kết quả, chung - riêng, liệt kê các mặt, các phương diện,…). - Kết cấu theo trình tự hỗn hợp : trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khác nhau. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Hình thức kết cấu của văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân : a) Đối tượng và mục đích thuyết minh : - Đối tượng : Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân. - Mục đích : nhằm giới thiệu cho người đọc về thời gian, địa điểm và diễn biến của hội thổi cơm thi và ý nghĩa văn hoá của nó trong đời sống tinh thần của người lao động vùng đồng bằng Bắc Bộ. b) Các ý chính của văn bản : - Thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội. - Diễn biến lễ hội : + Thi nấu cơm : làm thủ tục bắt đầu cuộc thi, lấy lửa trên ngọn cây chuối, nấu cơm. + Chấm thi : các tiêu chuẩn chấm thi, cách chấm để đảm bảo chính xác, công bằng. - Ý nghĩa văn hoá của lễ hội đối với đời sống tinh thần của người dân lao động. 2. Hình thức kết cấu của văn bản Bưởi Phúc Trạch : a) Đối tượng và mục đích thuyết minh : - Đối tượng : bưởi Phúc Trạch - một loại trái cây nổi tiếng ở Hà Tĩnh. - Mục đích : giúp người đọc hình dung, cảm nhận được đặc điểm (hình dáng, màu sắc, hương vị hấp dẫn, giá trị bổ dưỡng) của bưởi Phúc Trạch. b) Các ý chính của văn bản : - Về hình dáng bên ngoài của bưởi Phúc Trạch. - Về hương vị đặc sắc của bưởi Phúc Trạch. - Về sự hấp dẫn và bổ dưỡng của bưởi Phúc Trạch. - Danh tiếng của bưởi Phúc Trạch. 3. Về cách sắp xếp ý của hai văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân và Bưởi Phúc Trạch. - Văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân tổ chức kết cấu theo trình tự thời gian, xen lẫn lời kể và lời tả. - Văn bản Bưởi Phúc Trạch tổ chức kết cấu theo trình tự quan hệ không gian (từ ngoài vào trong), trình tự quan hệ lôgic (các phương diện khác nhau của quả bưởi : hình dáng, màu sắc, hương vị, giá trị bổ dưỡng) và trình tự quan hệ nhân quả (giữa ý thứ nhất, thứ hai và ý thứ ba ; giữa ý thứ ba và ý thứ tư). 4. Nếu cần thuyết minh bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, có thể tổ chức kết cấu như sau : - Giới thiệu khái quát về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng. - Thuyết minh về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ : + Giá trị nội dung của bài thơ. + Giá trị nghệ thuật của bài thơ. Chú ý : Có thể thuyết minh giá trị nghệ thuật của bài thơ trước rồi mới thuyết minh giá trị nội dung hoặc đan xen. - Khẳng định về giá trị của bài thơ. 5. Nếu phải thuyết minh một di tích, một thắng cảnh của đất nước, có thể giới thiệu dựa theo gợi ý sau : - Giới thiệu chung về di tích hoặc thắng cảnh : tên gọi, giá trị nổi bật,… - Thuyết minh cụ thể về đặc điểm, giá trị các mặt của di tích hoặc thắng cảnh : vị trí, quang cảnh, sự tích, đặc điểm và giá trị tiêu biểu,… Có thể thuyết minh theo trình tự thời gian, không gian, quan hệ lôgic,… hoặc phối hợp một cách linh hoạt, tự nhiên các trình tự kết cấu. - Khẳng định, nhấn mạnh về đặc điểm cũng như giá trị của đối tượng đã thuyết minh.
Xem thêm

3 Đọc thêm

GIÁO ÁN ĐỌC VĂN CẢNH NGÀY HÈ

GIÁO ÁN ĐỌC VĂN CẢNH NGÀY HÈ

Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới 43) Nguyễn Trãi A Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: Cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè. Qua bức tranh thiên nhiên là vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi với tình yêu thiên nhiên, yêu đời, nặng lòng với nhân dân, đất nước. Có kĩ năng phân tích một bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi: chú ý những câu thơ sáu chữ dồn nén cảm xúc, cách ngắt nhịp 34 trong câu bảy chữ có tác dụng nhấn mạnh. Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình cảm gắn bóa với cuộc sống của người dân. B Tiến trình dạy học: 1 ổn định tổ chức: 2 Kiểm tra bài cũ: ? Hào khí Đông A được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão.
Xem thêm

Đọc thêm

Tìm hiểu tác phẩm Thuật hoài

TÌM HIỂU TÁC PHẨM THUẬT HOÀI

Tác giả Phạm Ngũ Lão (1255-1320) quê ở làng Phù Ủng, Hải Dương. Là danh tướng thời Trần trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Còn lưu lại hai bài thơ "Thuật Hoài" và "Vân thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương". Chủ đề Bài thơ "Thuật Hoài" nói lên chí khí và khát vọng công danh anh hùng của đấng nam nhi trong thời loạn- khi Tổ Quốc bị xâm lăng. Lời bình Cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ thơ đanh thép hùng hồn. Trong đạo quân mạnh như hổ báo, chí khí lẫm liệt làm át, làm mờ cả sao Ngưu trên bầu trời, thì người chiến sĩ thời Trần đã cầm ngang ngọn giáo để bảo vệ giang sơn. Ngọn giáo ấy mang tầm vóc kì vĩ đo bằng kích thước non sông. Hình tượng người anh hùng "Sát Thát" được thể hiện bằng ngôn ngữ tráng lệ, kì vĩ khác nào người anh hùng thần thoại, người dũng sĩ trong sử thi xa xưa? Người anh hùng thuở "Bình Nguyên" nung nấu trong lòng, cháy bỏng tâm hồn niềm khao khát: đánh giặc lập công để đền ơn vua báo nợ nước. Mang nặng nợ công danh cũng là khát vọng anh hùng cao đẹp. Tự tin và tự hào khi nhà thơ khẳng định. "Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu" Bài thơ là khúc tráng ca của người anh hùng Phạm Ngũ Lão trăm trận trăm thắng. Cùng với "Hịch tướng sĩ " (Trần Quốc Tuấn), "Tụng giá hoàn kinh sư" (Trần Quang Khải)... bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão sáng ngời Hào khí Đông - Á.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Tỏ lòng

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TỎ LÒNG

TỎ LÒNG (Thuật hoài) PHẠM NGŨ LÃO I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hào khí Đông A Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên- Mông). Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực  của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình. Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A : Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,… 2. Tỏ lòng là một bài thơ ngắn nh­ưng lại mang đậm dấu ấn của cả một thời (dấu ấn về âm hư­ởng của hào khí Đông A). Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình t­ượng ngư­ời anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tư­ởng và nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng. II. RÈN KĨ NĂNG 1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ "múa giáo" chư­a thể hiện đư­ợc hết ý nghĩa của hai từ "hoành sóc". "Hoành sóc" là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hư­ởng, từ "hoành sóc" đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn. Trong câu thơ đầu này, con ngư­ời xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngư­u thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con ngư­ời cầm cây tr­ường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại đư­ợc đặt trong một không gian, thời gian như­ thế thì thật là kì vĩ. Con ng­ười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con ng­ười vũ trụ, non sông. 2. Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu : Thứ nhất, ta có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Nhưng cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất. 3. Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính vì thế, món "nợ công danh" mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa có ý "ch­ưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước". Theo quan niệm lí tưởng của trang nam nhi thời phong kiến thì công danh đư­ợc coi là một món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nư­ớc. Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn "thẹn" vì mình ch­a đ­ược như­ Vũ Hầu Gia Cát Lư­ợng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nư­ớc giúp đời. 4. Trong câu thơ cuối, nỗi "thẹn" đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của ngư­ời anh hùng. Phạm Ngũ Lão "thẹn" vì chư­a có đ­ược tài năng m­ưu l­ược như­ Vũ Hầu Gia Cát Lư­ợng (Khổng Minh - đời Hán) để giúp dân cứu nư­ớc, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nư­ớc còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách - nỗi thẹn của những con ngư­ời có trách nhiệm với đất n­ước, non sông. 5. Ngư­ời xư­a nói "Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách". Câu nói ấy quả rất đúng với tinh thần của bài thơ "Tỏ lòng". Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta có thể cảm nhận rât rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm h­ưởng anh hùng ca của thời đại do những con ngư­ời ấy tạo nên và cũng chính âm h­ưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ lối sống tầm th­ường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cứu n­ước, cứu dân. Tinh thần và ý chí ngoan cư­ờng của những con ng­ười ấy sẽ vẫn mãi là lí t­ưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tập làm văn: Nghe và kể lại câu chuyện chàng trai làng phù Ủng

TẬP LÀM VĂN: NGHE VÀ KỂ LẠI CÂU CHUYỆN CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG

Câu hỏi.Nghe và kể lại câu chuyện chàng trai làng phù Ủng Câu hỏi.Nghe và kể lại câu chuyện chàng trai làng phù Ủng Bài làm Phạm Ngũ Lão là một tướng giỏi thời nhà trần. Ông có tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc. Thời trai trẻ của ông cũng thật đáng khâm phục. Câu chuyện kể về ông như sau : Một buổi sáng, bên vệ đường làng Phù ủng có một chàng trai ngồi đan sọt. Chàng mải miết với công việc và đăm chiêu suy nghĩ về việc nước nên không hề hay biết những cảnh vật xung quanh mình. Giữa lúc ấy, đoàn quân đưa kiệu Trần Hưng Đạo đi ngang qua làng. Lối hẹp, quân đông võng xe chật đường, loa phát thanh náo nhiệt. Thế nhưng, chàng trai vẫn ngồi điềm nhiên đan sọt. Quân mở đường giận quá bèn lấy giáo đâm vào đùi chàng trai, máu chảy lai láng nhưng chàng trai vẫn không hay biết. Kiệu Hưng Đạo Vương đến gần. Lúc ấy, chàng trai mới sực tỉnh và vội đứng dậy vái chào. Hưng Đạo Vương hỏi: -  Đùi bị đâm chảy máu thế kia ngươi không biết sao ? Chàng trai đáp : -  Tôi đang mải nghĩ mấy câu trong sách Binh thư nên không để ý, xin Đại vương xá cho. Trần Hưng Đạo hỏi tên, chàng trai xưng Phạm Ngũ Lão. Hỏi đến chiến thuật dùng binh, chàng trai trả lời trôi chảy. Hưng Đạo tỏ lòng mến trọng người tài, đưa theo về kinh đô. Sau đó, Phạm Ngũ Lão cầm quân đánh giặc và lập được chiến công lớn.
Xem thêm

1 Đọc thêm