SỬA ĐỔI BỔ XUNG MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT NHẰM KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VÀ HIỆU QUẢ VSATTP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SỬA ĐỔI BỔ XUNG MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT NHẰM KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VÀ HIỆU QUẢ VSATTP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI":

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật bài tập nhóm xây dựng văn bản pháp luật A. MỞ ĐẦU Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp. Như vậy, để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cần phải có đầy đủ các khâu đoạn trong đó có việc thẩm định. Thực chất của công tác thẩm định là khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để hiểu hơn về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động này nhóm chúng em chọn đề tài: “Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Cho ví dụ minh họa” . B. NỘI DUNG I. Thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. 1. Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản pháp luật. Hiện nay thuật ngữ thẩm định có nhiều cách hiểu khác nhau. Với cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng”. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra cách hiểu: “Thẩm định có ý nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện ... Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ, thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ...”. Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc loại, tính chất của văn bản. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái có thể có trong dự thảo. Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 052007QĐTTG ngày 1012007 của Thủ tướng Chính phủ: Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật. Như vậy, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động thuộc quy trình xây dựng văn bản. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành, nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn. 2. Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động thẩm định có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản. Trước hết, hoạt động thẩm định là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật, đóng vai trò đi trước, là phương thức mang tính chất phòng ngừa và đạt hiệu quả rất cao. Hoạt động thẩm định góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành. Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu chất lượng của Báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý cũng như đối tượng điều chỉnh. Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất có trọng tâm đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất cơ bản trung thực khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng chỉ dẫn và cung cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo cũng như chủ thể soạn thảo. Trong qúa trình thẩm định cơ quan thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiểu quan điểm trái chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để xem xét ban hành văn bản. Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để Báo cáo thẩm định có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Trên thực tế nếu Báo cáo thẩm định thực sự khách quan có căn cứ khoa học hợp lý văn bản được ban hành sẽ có hiệu lực và hiệu quả cao. Bên cạnh đó thẩm định còn là cơ hội để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức. Có thể người có kiến thức luật nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về đối tượng điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại. Qua đó, có thể nâng cao chất lượng xây dựng văn bản. II. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, song Báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện. Báo cáo thẩm định là văn bản giúp Hội đồng thẩm định ghi chép và tổng kết lại kết quả của quá trình thẩm định. Báo cáo thẩm định được xây dựng khoa học thì mới phản ánh được chính xác và đầy đủ tất cả những vấn đề của hoạt động thẩm định. Nếu hoạt động thẩm định tốt mà báo cáo thẩm định không tốt thì nhiệm vụ thẩm định để xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật cũng không đạt được kết quả cao. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định được pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định. Đối với cơ quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban hành văn bản và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp. Dưới góc độ pháp lý quy định như vậy rất chặt chẽ, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tham mưu, tư vấn của hoạt động thẩm định trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định còn được thể hiện thông qua chất lượng của Báo cáo thẩm định. Chất lượng của Báo cáo thẩm định phải thể hiện được cả giá trị tham mưu, tư vấn cả về mặt pháp lý và giá trị thực tế, nếu không hoạt động thẩm định chỉ được coi là hoạt động mang tính hình thức, làm cho đúng thủ tục chứ không có vị trí quan trọng. Trong khi đó trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính khả thi là một tiêu chí không bắt buộc thẩm định, làm giảm giá trị tham mưu về khả năng thực thi đối với báo cáo thẩm định. III.Ví dụ về hoạt động thẩm định và báo cáo thẩm định dự thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 1. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Dự thảo BLLĐ mới sẽ gồm 17 chương với 276 điều (BLLĐ hiện hành có 198 điều), tại mỗi chương, dự thảo quy định từng vấn đề thành các mục riêng rất cụ thể, chi tiết, trong đó có riêng một điều (Điều 5) giải thích một số thuật ngữ nhằm làm rõ thêm những vấn đề trước đây đang còn nhiều cách hiểu khác nhau. Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động lao động do Bộ tư pháp tiến hành. Ngày 06 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1165QĐBTP về việc thành lập Hội đồng thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định bao gồm 11 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp do đồng chí Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Hội đồng đã tiến hành thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định và tập trung vào các vấn đề sau: sự cần thiết ban hành Bộ luật; phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự án Bộ luật; sự phù hợp của dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính khả thi của dự án Bộ luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề khác có liên quan đến dự án Bộ luật. 2. Báo cáo thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Trên cơ sở hoạt động thẩm định dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi được tiến hành bắt đầu từ ngày 08072011 thì ngày 11 7 2011 Hội đồng thẩm định đã trình Báo cáo số 111 BCHĐTĐ về việc thẩm định dự án Bộ luật lao động sửa đổi. Báo gồm một số nội dung sau: I. Về sự cần thiết ban hành Bộ luật Lao động; II. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụngIII. Về sự phù hợp của nội dung dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của dự án Bộ luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; IV. Về tính khả khi của dự án Bộ luật; V. Về các vấn có ý kiến còn khác nhau; VI. Về nội dung của dự án Bộ luật; IX. Nhận xét chung; VII. Về hồ sơ và trình tự soạn thảo 3.Ý nghĩa của hoạt động dự thảo Bộ luật lao động và ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Hoạt động thẩm định đã xem xét, đánh giá dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi trên nhiều mặt khác nhau, việc thẩm định sẽ giúp tìm ra những điểm hợp lí và không hợp lí, những vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận, phương hướng giải quyết. Qua đó sẽ tư vấn giúp những nhà lập pháp xây dựng được một Bộ luật lao động tiến bộ, chặt chẽ và khoa học, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật lao động hiện hành, đồng thời theo kịp và dự liệu được các tình huống sẽ xảy ra trong thực tế liên quan đến những vấn đề mà Bộ luật lao động điều chỉnh. Cũng từ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí khoa học, đúng đắn, thúc đẩy đất nước phát triển. Mặt khác hoạt động thẩm định còn tạo ra cơ chế giám sát giữa các cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan thanh tra, giám sát, các cơ quan có liên quan.... Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định đã ghi chép, tổng kết đầy đủ, chính xác hoạt động thẩm định dự thảo văn Bộ luật lao động sửa đổi. Báo cáo thẩm định cũng là cơ sở để trình lên Chính phủ, Bộ lao động thương binh và xã hội về hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định, qua đó góp phần xây dựng được Bộ luật lao động mới tốt hơn. C. KẾT LUẬN Thẩm định là hoạt dộng đánh giá, góp phần hoàn thiện nội dung cũng như hình thức dự thảo văn bản pháp luật. Chất lượng thẩm định dự thảo văn bản pháp luật có ý nghĩa đối với công tác xây dựng văn bản pháp luật, đặc biệt là chất lượng xây dựng văn bản. Ngược lại, nếu thẩm định không chính xác, hời hợt có thể làm mất giá trị, ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Tuy nhiên, trong công tác thẩm định dự thảo văn bản pháp luật hiện nay còn tồn tại những hạnchế nhất định như: nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chất lượng thẩm định đôi khi không đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thẩm định chưa khoa học, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định chưa chặt chẽ…
Xem thêm

Đọc thêm

Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thương mại qua thực tiễn tỉnh Thái Bình

Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thương mại qua thực tiễn tỉnh Thái Bình

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trải qua 70 năm hình thành và phát triển, từ năm 1946 đến nay công tác thi hành án dân sự đã đạt được nhiều thành công, khẳng định được vị thế trong đời sống pháp luật, xã hội và ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Hoạt động thi hành án dân sự từ chỗ chỉ có nhân viên thi hành, sau đó hình thành Chấp hành viên thuộc Tòa án, đến năm 1993 cơ quan Thi hành án tách ra từ Tòa án và cho đến nay là hệ thống Thi hành án dân sự độc lập. Thi hành án kinh doanh, thương mại là một loại việc trong thi hành án dân sự. Những năm gần đây, cả nước nói chung và tại tỉnh Thái Bình nói riêng, số vụ việc thi hành án kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều, số tiền phải thi hành chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền thi hành án dân sự. Việc tổ chức thi hành loại án này gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, như: người phải thi hành án hầu hết đều liên quan đến doanh nghiệp, tài sản phải xử lý cũng hết sức đa dạng, phong phú, mang tính đặc thù, như: nhà xưởng, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, đất đai… Để thi hành loại án này nhất là phải áp dụng biện pháp kê biên cần thiết phải có sự tham gia phối hợp tích cực của rất nhiều cơ quan hữu quan và liên quan đến nhiều quy định pháp luật khác nhau. Việc tiếp cận với án kinh doanh, thương mại của Chấp hành viên cơ quan Thi hành án còn nhiều hạn chế, trình tự thủ tục và các vấn đề liên quan đến tổ chức thi hành án cũng còn nhiều bất cập. Hiện nay, tỷ lệ thi hành án kinh doanh, thương mại kết quả rất thấp, đặc biệt số tiền phải thi hành chuyển kỳ sau rất lớn, dẫn đến việc một số năm gần đây nhiều cơ quan thi hành án không hoàn thành chỉ tiêu thi hành án về tiền, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân không được đảm bảo. Xuất phát từ những trăn trở về công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành án kinh doanh, thương mại nói riêng, mong muốn nâng cao nhận thức cho bản thân và hy vọng sẽ đóng góp được một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả trong hoạt động thi hành án kinh doanh, thương mại, nhất là công tác này ở tỉnh Thái Bình, tôi đã chọn đề tài “Kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh, thương mại qua thực tiễn tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định Nhà nước cộng hòa xã chủ nghĩa Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Để đảm bảo những yêu cầu đó, trong nhà nước pháp quyền phải có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp và có cơ chế giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được áp dụng chuẩn xác, nhưng không mất đi sự linh hoạt, tính sáng tạo. Trong những năm vừa qua, công tác thi hành án dân sự đã từng bước được xây dựng và trưởng thành cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng. Với các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự như Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, các văn bản hướng dẫn thi hành ngày càng được cải cách và phù hợp với thực tiễn hơn. Văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Bộ luật dân sự 2015, Luật Đất đai 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2014 …. và các văn bản dưới luật với những điểm mới, hoàn thiện và tiến bộ đã giúp cho việc tổ chức thi hành án dân sự được thực hiện một cách có hiệu quả trong thực tiễn. Trước đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân sự thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là: - Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án. - Luận án tiến sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008; - Luận văn Thạc sỹ “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình” của tác giả Đỗ Thị Lý, năm 2011; - Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự và một số khuyến nghị - Tác giả: Ths. Trần Công Thịnh, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội;
Xem thêm

Đọc thêm

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lý luận Nhà nước và pháp luật Bài tập học kỳ Lý luận Nhà nước và pháp luật. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mọi người với những biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp đó là sử dụng pháp luật để quản lí và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết.Nhận thức được tính cần thiết của việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Em xin mạnh dạn chọn đề tài: Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” làm bài tập học kì của mình I.Cơ sở lý luận của vai trò pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam. 1. khái niệm: Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng. Môi trường gồm toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội. Tại khoản 1 điều 3 luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua ngày 29112005 (sửa đổi). Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đén đời sống sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật. Còn Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt nam gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hộ liên quan trức tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí và bảo vệ các yếu tố môi trường.Các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo các trình tự thủ tục nhất định là nguồn chính của pháp luật bảo vệ môi trường.Có các văn bản như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật khoáng sản năm 2010,Luật thuế tài nguyên năm 2010....... 2.Đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường. Pháp luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí, bảo vệ môi trường.Qua đó, ta thấy pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác.Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt nam thì pháp luật bảo vệ môi trường là lĩnh vực mới nhất. Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ra những thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay. Trong thời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất......Vì vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến. Thứ hai pháp luật bảo vệ môi trường có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước tuy nhiên nó cũng đặt ra cho nước ta những vấn đề to lớn về môi trường và sự pháp triển bền vững. Thứ ba pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của việt nam. Hoạt động môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước cộng đồng và xã hội. Nhà nước là chủ thể thay mặt nhân dân quản lí bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng. Thứ tư pháp luật bảo vệ môi trường chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường. Đây là một đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta. Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường của Việt nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượng tác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã là thành viên.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó. Có thể thấy qua quá trình xây dựng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nhằm có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, có tính khả thi hơn. 3. Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường: Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo. Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là văn bản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo cho nó được thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật. Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật bảo vệ Việt nam, pháp luật bảo vệ môi trường cũng có các vai trò của phap luật nói chung và cũng có những vai trò riêng của nó. Đó là pháp trong luật quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác bảo vệ môi trường. Nó được thể hiện như sau: Thứ nhất là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Có thể thấy pháp luật bảo vệ môi trường có một vai trò quan trọng đối với lĩnh vực môi trường.Hệ thống cơ quan quản lí môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương. Thứ hai là, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực môi trường là cơ sở pháp lí quy định hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vức bảo vệ môi trường. Thứ ba là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và sử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường.Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên , định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lí vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Thứ tư, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có thể thấy, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng. Nó thể hiện được sự quan tâm của nhà nước tới vấn đề môi trường ngày càng được nâng cao II. Thực trạng pháp luật trong bảo vệ môi trường ở Việt nam hiện nay. 1. Những thành tựu. Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt nam đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cụ thể như sau: Thứ nhất, hệ thống cơ chế chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đã được hoàn thiện một bước. Giai đoạn 20052010 được coi là giai đoạn thành công nhất trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường, được đánh dấu bằng việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Năm 2008 Luật Đa dạng sinh học đả được Quốc hội thông qua.Cho tới nay có tổng cộng 66 văn bản luật dưới luật được xây dựng và ban hành. Thứ hai, hệ thống cơ quan quản lí bảo vệ môi trường được tăng cao. Sau 5 năm thực hiện luật bảo vệ môi trường năm 2005, hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định.Ở trung ương, Thủ tướng chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyênMôi trường. Ở địa phương, đã thành lập các chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở tài nguyên môi trường. Thứ ba, công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lí chất thải được tăng cao, cụ thể. Hoạt động kiểm soát môi trường khu công nghiêp đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ: Nhiều địa phương đã có lộ trình, kế hoạch về xây dựng trạm sử lí nước thải.Hoạt động của ban quản lí các khu công nghiệp bài bản hơn.Hoạt động quan trắc môi trường ở cả trung ương và địa phương tiếp tục được duy trì và phát triển. Thứ tư: hoạt động phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường dã được đẩy mạnh. Nhiều mỏ than sau khi khai thác được cải tạo phục hồi môi trường thành các khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái hoặc phục hồi đất trồng cây..Tính tới nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường quan trọng phải hoàn thiện việc xử lí thì đã có 325 cơ sở không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng(chiếm 74%) và 114 cơ sở đang triển khai thực hiệ biện pháp khắc phục(chiếm 26%) Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn góp phần năng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường. Thứ sáu, công tác kiểm tra sử lí vi phạm pháp luật về môi trường cũng được tăng cường. Năm 2010 theo kết quả thanh tra, kiểm tr 9 tháng đầu năm, các Đoàn thanh tra đã lập 133 biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có đề nghị các cơ quan có thẩm quyền phạt 9.666.700.000đồng đến 15.269.000đồng.Hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. 2. Những hạn chế: Đầu tiên là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa hoàn thiện,còn sơ sài. Các văn bản pháp luật về môi trường chưa được rà soát kĩ. Các hoạt động giám sát cần phải được rà soát để tránh luật bảo vệ môi trường ban hành phải chờ các văn bản hưỡng dẫn thi hành làm cho luật khó điu vào đời sống. Thứ hai là pháp luật môi trường còn quy định khá học thuật, rất phức tạp và khó hiểu nên người dân khó có thể nắm bắt được hết ý đồ của nhà nước,. Thứ ba là từ góc độ quản lí của nhà nước thì công tác bảo vệ môi trường dù luôn được nêu ra nhưng vẫn còn ở hàng thứ yếu khi xử lí đối kháng lợi ích, vẫn tập trung ưu tiên phát triển kinh tế. Thứ tư là nhận thức của cán bộ về vấn đề môi trường còn rất hạn chế,quy trình thủ tục còn tồn tại quá nhiều bất cập, việc giám sát thực hiện chưa đi liền với sử lý các vi phạm pháp luật về môi trường, mức phạt thấp,, chỉ phạt tiền rồi yêu cầu khắc phục. Cư như vậy, sau khi phạt xong thì tiếp tục vi phạm tiếp. Thứ năm là các quyết định xử ;lí vi phạm đo không được theo dõi chặt chẽ nên dễ để cho một số đối tượng lợi dụng cố tình không chấp hành . GIẢI PHÁP Để pháp luật bảo vệ môi trường có những hiệu quả cao hơn thì phải tiến hành khắc phục những nhược điểm hiện có, đang tồn tại trong hệ thống pháp luật môi trường hiện nay, cụ thể như sau: Thứ nhất là hoàn thiện các quy định pháp lí (trách nhiệm hành vi, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự) đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Thứ hai hoàn thiện cơ chế tổ chức và đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.Tăng cường nắm bắt tình hình, thanh tra kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường. Thứ ba là tang cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thuwch hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.Đẩy mạnh hợp tác song phương. Thứ tư là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội. KẾT LUẬN Nhìn chung, pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường đã tạo hành lang pháp lí để các chủ thể trong xã hội thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật hiên nay cần phải được nghiên cứu tổng thể, đánh giá toàn diện nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Xem thêm

Đọc thêm

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Trong xã hội hiện đại, nền kinh tế là sự tổng hợp các hoạt động xã hội nhiều chiều với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong đó có sự luân chuyển tiền vốn, nguồn hàng từ nơi này đến nơi khác, từ hoạt động này sang hoạt động khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Do vậy việc mất cân đối giữa các thành phần kinh tế, giữa các khu vực là khó có thể tránh khỏi. Một trong các hoạt động chủ yếu của các tổ chức tín dụng là huy động vốn và cấp tín dụng đã phần nào tạo ra sự cân đối và ổn định về vốn trong nền kinh tế, nhờ đó đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Do vậy hệ thống các tổ chức tín dụng của một quốc gia được coi như mạch máu trong nền kinh tế cuả quốc gia đó. Do tính chất đặc biệt hoạt động tín dụng và vai trò quan trò quan trọng của hệ thống Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường nên hoạt động này được Nhà nước quản lý rất chặt chẽ bằng các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay nhằm bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng, tạo ra xu thế hoạt động ổn định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, góp phần giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định. Trong quá trình thực tập tại sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, được sự giúp đỡ của thầy giáo Nguyễn Vũ Hoàng, cô giáo Nguyễn Thị Huế, Ban Giám đốc sở giao dịch I cùng toàn thể các cán bộ phòng tín dụng II, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của các chế độ pháp luật về bảo đảm tiền vay, tôi xin chọn đề tài CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM nhằm nghiên cứu các chế định pháp luật và viêc áp dụng bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng nói chung và tại sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam nói riêng, từ đó đề xuất một số ý kiến và biện pháp cụ thể nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng Việt Nam. Chuyên đề gồm ba chương: Chương I: Những vấn đề pháp lý về việc bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng. Chương II: Áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay tại sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các cán bộ ngân hàng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Xem thêm

112 Đọc thêm

Báo cáo tổng hợp về công tác hạch toán kế toán của Xí nghiệp Chế biến thuỷ đặc sản Hà Nội

BÁO CÁO TỔNG HỢP VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN CỦA XÍ NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ ĐẶC SẢN HÀ NỘI

Sự đổi mới sâu sắc về cơ chế quản lý kinh tế đòi hỏi nền kinh tế quốc gia phải được tiếp tục đổi mới một cách toàn diện nhằm tạo ra sự ổn định về môi trường kinh tế hệ thống pháp luật tài chính lành mạnh hoá các quan hệ và hoạt động kinh tế. Khi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước các doanh nghiệp được coi là các chủ thể độc lập được quyền tự chủ về mặt tài chính tự chủ xác định phương án sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm đảm bảo dùng thu nhập bù đắp chi phí có lãi và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Trong kinh doanh các doanh nghiệp được tự do theo khuôn khổ pháp luật tự do chuyển hướng kinh doanh lấy thị trường làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch tác nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không có con đường nào khác là phải chú ý đến hiệu quả sản xuất kinh doanh coi trọng chất lượng sản phẩm và giữa chữ tín với khách hàng. Các vấn đề này liên quan trực tiếp đến công tác kế toán. Trong cơ chế quản lý kinh tế mới hạch toán kế toán luôn là tổng hoà các mối quan hệ tổng thể các nội dung và giải pháp tài chính nhất là trong nền sản xuất hàng hoá sản xuất ra sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của các ngành sản xuất vật chất nói chung nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng của xã hội. Hiện nay chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi và từng bước hoàn thiện một nền kinh tế thị trường có điều tiết việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh mới theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi các doanh nghiệp một mặt phải tự trang trải được toàn bộ các chi phí bằng thu nhập đồng thời phải có lãi. Do vậy việc hạch toán tổng hợp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty trong sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các công ty phải tăng cường các biện pháp quản lý kinh tế trong sản xuất kinh doanh để cho quá trình sản xuất kinh doanh đó đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế với tư cách là công cụ quản lý kinh tế: Hạch toán kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế đảm nhiệm tạo lập và cung cấp thông tin có ích cho các giai đoạn kinh tế. Nhận thức được vai trò quan trọng của hạch toán kế toán tổng hợp đối với ngành công nghiệp nước ta một ngành sản xuất giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, sự phát triển của nó có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng đất nước là xây dựng nền sản xuất hiện đại quản lý theo phương thức tiên tiến. Ngày nay các công ty đang từ cơ cấu tài chính bao cấp chuyển sang môi trường kinh tế mới hoạt động theo cơ chế thị trường cho nên nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quy luật kinh tế thị trường qui luật cung cầu, quy luật cạnh tranh gay gắt. Những năm gần đây do nền kinh tế phát triển và sự đổi mới của cơ chế quản lý, hệ thống kế toán doanh nghiệp cũng đã kịp thời có những thay đổi và bổ xung không ngừng hoàn thiện góp phần phục vụ tốt yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế của đất nước. Hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo quyết định 1141 - TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của bộ tài chính quy định cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực mọi thành phần kinh tế được thực hiện thống nhất trong cả nước từ ngày 01/1/1996. Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp nói riêng và các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên các bộ ngành đơn vị tiến hành nghiên cứu cụ thể hoá và vận dụng phù hợp với đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của tửng ngành từng lĩnh vực hoạt động từng thành phần kinh tế. Trong đó xuất nhập, xuất nhập khẩu thuỷ đặc sản Hà Nội là một đơn vị thuộc ngành sản xuất hạch toán kế toán độc lập vừa là nơi sản xuất vừa là nơi giao dịch, nó là một xí nghiệp thuộc công ty Thuỷ sản Hà Nội, công ty Nhà nước, vận dụng hệ thống kế toán cho toàn bộ công ty phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty. Trong quá trình thực tập ở xí nghiệp, em đã tìm hiểu quá trình hạch toán kế toán tại Xí nghiệp Chế biến thuỷ đặc sản Hà Nội bao gồm: "Báo cáo tổng hợp về công tác hạch toán kế toán của Xí nghiệp Chế biến thuỷ đặc sản Hà Nội" Nội dung báo cáo thực tập gồm: - Khái quát về Xí nghiệp Chế biến thuỷ đặc sản Hà Nội . - Báo cáo kế toán tổng hợp. - Một số ý kiến nhận xét đánh giá tình hình tổ chức hạch toán kế toán và phương hướng hoàn thiện công tác kế toán ở công ty.
Xem thêm

84 Đọc thêm

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính Bài tập học kỳ Luật Tài chính có đáp án. A, MỞ ĐẦU Đất nước ta ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu hướng phát triển chung của tất cả các quốc gia. Pháp luật thuế nhập khẩu phản ánh rõ nhất mức độ hội nhập cũng như sự bảo hộ của nhà nước đối với nền kinh tế.Đây không chỉ là chính sách thuế của nhà nước mà còn thể hiện chính sách ngoại giao của nước ta. Thuế nhập khẩu được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ( Luật TXK, TNK) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong năm 2013, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, tuy đã có một hệ thống pháp luật tương đối cụ thể nhưng việc thực thi trên thực tế ngoài những thành tựu đạt được thì còn gặp rất nhiều khó khăn.Pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam cần được hoàn thiện để đảm bảo cho việc hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả hơn nữa. Để đi sâu nghiên cứu vấn đề này, em xin chọn đề tài : “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trong năm 2013; ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu”. Trong quá trình làm bài, do hiểu biết của em còn hạn chế và vấn đề mang tính thực tiễn cao, nên bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, để hướng nhìn nhận vấn đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn B, NỘI DUNG I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU 1, Khái quát về thuế nhập khẩu Khái niệm thuế nhập khẩu: Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, còn nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu: Xét trên phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bang tiền của tổ chức cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước. Xét trên phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước ( người thu thuế ) với tổ chức, cá nhân ( người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lí cho các bên trong quá trình thu thuế nhập khẩu. Các đặc trưng cơ bản của thuế nhập khẩu: + Thứ nhất: Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới. + Thứ hai: Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu. + Thứ ba: Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ nền sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu. 2, Khái quát pháp luật về thuế nhập khẩu Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng kí, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu, phát sinh giữa nhà nước và người nộp thuế. Xét về phương diện hình thức, pháp luât về thuế nhập khẩu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội; nghị định và nghị quyết của Chính phủ; quyết định chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ…Xét về phương diện nội dung, pháp luật về thuế nhập khẩu lại bao hàm các vấn đề chủ yếu như: phạm vi áp dụng; căn cứ tính thuế nhập khẩu; trình tự, thủ tục tiến hành thu thuế nhập khẩu; chế độ miễn giảm thuế nhập khẩu và hoàn thuế nhập khẩu; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về thuế nhập khẩu. Có quan điểm cho rằng nội hàm của khái niệm pháp luật về thuế nhập khẩu không chỉ là các quy định trong pháp luật quốc gia mà còn bao hàm cả các quy định trong pháp luật quốc tế có liên quan trực tiếp đến vấn đề thuế nhập khẩu, như Hiệp định CEPT; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định GATT…Như vậy, cần phải quan niệm nội hàm của khái niệm pháp luật về thuế nhập khẩu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ các quy định trong pháp luật quốc gia mà còn bao gồm cả các quy định trong pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu. Quan điềm này là thích hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại trong giai đoạn hiện nay của thế giới. II, THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU NĂM 2013 1, Những mặt đã đạt được Thứ nhất, thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và sản xuất trong nước Luật TXK, TNK năm 2005 ra đời đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối ngoại và yêu cầu về thu ngân sách nhà nước. Sau một thời gian thực hiện Luật TXK, TNK năm 2005 và Luật Hải Quan ( sửa đổi) đã phát huy tích cực, góp phần vào hiệu quả hoạt động hải quan. Ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013 đã được nâng lên, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, giảm thiếu nợ thuế.Năm 2013, nước ta vẫn tiếp tục thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới.Pháp luật nhập khẩu đã tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thúc đẩy quan hệ ngoại giao của nước ta. Trong năm 2013, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI. Về thị trường, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức 23,7 tỷ USD .Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng từ Trung Quốc tăng so với năm 2012: Máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 25,5% (1,2 tỷ USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 73,6% (2,3 tỷ USD); máy vi tinh sản phẩm điện từ và linh kiện tăng 36,8% (1,1 tỷ USD). Thị trường ASEAN ước tính đạt 21,4 tỷ USD, tăng 2,8% (589 triệu USD) với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 56,3% (1,2 tỷ USD); máy móc thiết bị và phụ tùng tăng 7,9% (16,9 tỷ USD). Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc ước tính đạt 20,8 tỷ USD, tăng 34,1% (5,3 tỷ USD) với các sản phẩm chủ yếu như: Máy vi tính tăng 60,3% (1,8 tỷ USD); máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 62,8% (993 triệu USD); điện thoại các loại và linh kiện tăng 78,2% (918 triệu USD). Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 11,6 tỷ USD, giảm 0,18% (21 triệu USD). Thị trường EU ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,2% (373 triệu USD). Hoa Kỳ đạt 5,1 tỷ USD, tăng 6,1% (296 triệu USD). Thứ hai, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Bảng 1: Số liệu thu ngân sách và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2011 – 2013 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tổng thu ngân sách nhà nước 674.500 741.500 790.800 Tổngthu từ hoạt động xuất nhập k khẩu 155.765 223.900 237.500 Tỉ trọng từ hoạt động xuất nhập khẩu so với tổng thu ngân sách nhà nước (%) 23,09 30,19 30,03 Từ bảng số liệu trên, ta có thể thấy tỉ trọng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu so với tổng thu ngân sách luôn đạt tỉ trọng khá cao, cụ thể năm 2013 là 30,03 %. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012.Tính từ đầu năm đến hết tháng 12 năm 2013, tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt hơn 132,13 tỷ USD, tăng 16,1% so với nhập khẩu năm 2012, tương ứng tăng 18,35 tỷ USD về số tuyệt đối. Biều đồ 1: Trị giá nhập khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong 12 tháng2013 và 12 tháng2012 Thứ ba: Bảo hộ nền sản xuất trong nước Về tổng thể, năm 2013 là năm chạm đáy khó khăn chung của cả nền kinh tế thế giới. Các dự báo kinh tế của hầu hết các tổ chức và quốc gia vẫn thường xuyên bị điều chỉnh theo hướng giảm xuống, xu hướng cải thiện nhẹ về tăng trưởng kinh tế sẽ đậm dần ở hầu hết các khu vực, khối và quốc gia. Thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm trong nước còn chưa đủ mạnh thì chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước có vai trò vô cùng quan trọng. Ví dụ: Thuế NK thang máy đã bảo hộ cho sản xuất trong nước Đó là khẳng định của Bộ Tài chính trước kiến nghị ưu tiên sử dụng thang máy trong nước của Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam. Doanh nghiệp đề nghị Bộ Tài chính duy trì mức thuế suất nhập khẩu cao nhất có thể.Trả lời Công ty cổ phần thang máy Thiên Nam về mức thuế suất nhập khẩu, Bộ Tài chính cho hay, theo Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư 1932012TTBTC của Bộ Tài chính, mặt hàng thang máy nâng hạ theo chiều đứng (bao gồm thang máy kiểu dân dụng, mã số 8428.10.10; thang máy sử dụng trong xây dựng, mã số 8428.10.21; thang máy nâng hạ loại khác, mã số 8428.10.29) được quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 10% bằng cam kết WTO năm 2013. Khung thuế suất do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định là 010% .Như vậy, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi MFN của các mặt hàng thang máy nâng hạ đã được quy định mức cao nhất có thể để bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất thang máy trong nước. Hay nâng thuế nhập khẩu đường để bảo hộ nền sản xuất trong nước.Thông tư số 1932012TTBTC có hiệu lực thi hành từ ngày 112013 Bộ Tài chính vừa quyết định nâng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với đường thô từ 15% lên 25%; nâng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các loại đường khác từ 15% lên 40%. thuế nhập khẩu là bảo hộ sản xuất trong nước cùng với mục tiêu quan trọng là bảo vệ và khuyến khích ngành sản xuất mía đường trong nước phát triển, khuyến khích việc tiêu dùng đường sản xuất trong nước và góp phần cân đối cung cầu của mặt hàng đường. 2, Những tồn tại, hạn chế Quá trình áp dụng Luật TXK, TNK năm 2005 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Tạo kẽ hở cho các nhà nhập khẩu trốn thuế, làm thất thu ngân sách nhà nước. Lợi dụng tình hình kinh tế khó khăn, không ít DN sử dụng nhiều “mánh” để gian lận thuế. Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, năm 2013, hàng loạt vụ việc trốn thuế, lách thuế bị phát giác với những con số cực kỳ lớn, gắn với những danh hiệu đình đám thậm chí rất nhiều án trốn thuế thuế khủng lại do chính những DN nghiệp lớn, luôn tự hào về thành công kinh doanh thực hiện. hàng chục những tên tuổi khác cũng bị cơ quan thuế bắt lỗi với mức trung bình cũng vài tỷ đồng mỗi đơn vị, như công ty cổ phần Sông Đà, Cao su Sao Vàng, nước giải khát Chương Dương… Không chỉ giới DN tư nhân, đến cả những DNNN kinh doanh hàng thiết yếu nhất cũng vướng vào án “trốn thuế”. Đó là ngành xăng dầu với con số 470 tỷ đồng thuế nhập khẩu mà Kiểm toán Nhà nước vừa phát hiện.Vụ việc thực tế đã gây ồn ào từ tháng 4 năm nay. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng không thoát tai tiếng về nộp thuế. Số thuế bị phát giác khai thiếu không lớn, chỉ hơn 1 tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu điện.Lỗi chính bắt nguồn từ việc, EVN đã không báo trước cho hải quan việc tính sản lượng điện mua của Trung Quốc hồi năm 2007 chỉ là tạm thời. Có 7 doanh nghiệp cùng các sản phẩm sữa có giá khai báo thấp so với cơ sở dữ liệu giá. Các sản phẩm này đã bị Hải quan điều chỉnh tăng giá áp thuế nhập khẩu với mức điều chỉnh từ 2 65%. Tháng 9 năm 2013, Tổng cục Hải quan vừa chính thức công bố với các cơ quan truyền thống danh sách một số doanh nghiệp nhập khẩu sữa bị nghi ngờ khai thấp giá nhập khẩu để trốn thuế nhập khẩu. Và mặt hàng sữa cũng là mặt hàng được Tổng cục Hải quan đưa vào danh sách có nguy cơ cao hay những mặt hàng cần được kiểm tra chặt chẽ về giá do doanh nghiệp tự kê khai để tránh nguy cơ trốn thuế. Để tìm ra căn nguyên của những tình trạng trên, về cả những mặt làm được và chưa làm được, sau đây e sẽ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013. III, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU TRONG NĂM 2013 Trong điều kiện nước ta ngày càng hội nhập với nền kinh tế quốc tế, pháp luật thuế nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, sau đây, em xin đi sâu phân tích những yếu tố cơ bản nhất: 1, Yếu tố tích cực Thứ nhất,trên tinh thần hội nhập và hoàn thiện các quy định của pháp luật, Luật TXK, TNK 2005 tỏ ra minh bạch và hiệu quả hơn những luật thuế trước đây. Luật đã có những quy định phù hợp với Luật Hải quan như các quy định về trị giá hải quan, kiểm tra hải quan.Luật quy định mở rộng hơn về đối tượng không chịu thuế và miễn thuế, phát huy tinh thần tích cực và chủ động của các chủ thể nộp thuế, tạo môi trường bình đẳng cho hàng hóa nhập khẩu vào nước ta… Có một hệ thống pháp luật và chúng phù hợp với thực tế là cơ sở để thực thi tốt pháp luật thuế xuất khẩu. Năm 2013, nhiều văn bản về thủ tục hải quan và quản lý thuế đã được ban hành mới, thay thế hoặc sửa đổi bổ sung văn bản cũ nhằm tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa Hải quan. Ngày 28102013, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Hải quan (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. Dự án Luật Hải quan (sửa đổi) được đánh giá là dự án Luật quan trọng, có các quy định tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế trong nước và quá trình hội nhập quốc tế. Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ thay đổi toàn diện hoạt động hải quan.Dự kiến Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII và có hiệu lực từ ngày 112015.Có một hệ thống pháp luật và chúng phù hợp với thực tế là cơ sở để thực thi tốt pháp luật thuế xuất khẩu. Thứ hai, tiếp tục mở cửa thị trường theo cam kết trong ASEAN, WTO: Trong năm 2013, một số cam kết về mở cửa thị trường, giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong ASEAN và WTO tiếp tục được thực hiện. Do đó, hàng hóa nước ngoài được đưa vào thị trường Việt Nam nhiều hơn, làm tăng lượng cung ứng hàng hóa trên thị trường và có thể khiến giá cả hàng hóa, đặc biệt là giá hàng tiêu dùng sẽ giảm xuống. Việc giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường là một yếu tố làm giảm đáng kể lạm phát trong năm 2013. Thứ ba, các giải pháp tăng thu đã đem lại nhiều hiệu quả: Theo Cục Thuế xuất nhập khẩu Tổng cục Hải quan, số thu TXK TNK của ngành Hải quan tăng mạnh trong tháng 72013 có nguyên nhân từ việc áp dụng Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung (có hiệu lực từ 172013), cho phép thu ngay các khoản ân hạn thuế của các tờ khai XNK trong tháng 62013. Bên cạnh đó, khoản thuế thu từ các tờ khai phát sinh trong tháng 7 cũng tăng khá, do hoạt động XNK của doanh nghiệp có xu hướng hồi phục.Mặc dù nền kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy nhiên trong tháng 72013, hoạt động XNK, có dấu hiệu hồi phục, giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của ngành Hải quan ”bớt căng” hơn . Theo Cục Thuế xuất nhập khẩu (Tổng cục Hải quan),các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, chống thất thu ngân sách của ngành Hải quan triển khai từ đầu năm đến nay đã và đang phát huy tác dụng, tạo tiền đề thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế. Cục Thuế XNK cho biết, ngành Hải quan đang tiếp tục triển khai các đoàn công tác đến các tỉnh, thành phố cùng với các đơn vị hải quan nắm bắt tình hình và đánh giá hiệu quả của Luật Quản lý thuế tác động đến nhiệm vụ thu ngân sách. Ngành sẽ tiến hành rà soát, xác định lại chỉ tiêu thu ngân sách giao cho từng địa phương trên cơ sở số thực thu 2012 và theo nguyên tắc những địa phương được giao chỉ tiêu thấp hơn tỷ lệ chung thì trình Bộ Tài chính có văn bản giao chỉ tiêu bổ sung. Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) sẽ rà soát, sửa đổi chính sách liên quan đến quản lý hải quan đối với xăng dầu, xe ngoại giao, tài sản di chuyển; Quản lý hải quan đối với dầu thô nhập khẩu, nhập khẩu xăng dầu, máy móc thiết bị của hoạt động dầu khí…bảo đảm quản lý, giám sát được việc nhập khẩu dầu thô để thu đúng, đủ các loại thuế. Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Thứ tư, trong 10 sự kiện nổi bật của ngành Hải quan năm 2013, không thể không kể đến những sự kiện là những tín hiệu đáng mừng đối với việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Từ ngày 112013, thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) được thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước theo Nghị định 872012NĐCP của Chính phủ và Thông tư 1962012TTBTC của Bộ Tài chính. Sự kiện này đánh dấu kết thúc giai đoạn thực hiện thí điểm (theo Quyết định 1492005QĐTTg năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ) và mở rộng thí điểm (theo Quyết định 1032009QĐTTg năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ). Sau 1 năm, cả nước có hơn 45.000 DN tham gia, chiếm trên 95% tổng số DN đang thực hiện thủ tục hải quan. Năm 2013, ngành Hải quan triển khai nhiều chuyên đề, kế hoạch trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại . Thứ năm, tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách TNK và nội dung pháp luật thực định về TNK trong giai đoạn đó. Nhìn chung tuy nằm trong khó khăn chung của kinh tế toàn cầu nhưng năm 2013 có nhiều sắc hổng được thể hiện trong báo cáo kinh tế năm 2013, chính trị trong nước khá ổn định. Pháp luật TNK có mục tiêu quan trọng là công cụ khuyến khích, hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. 2, Yếu tố tiêu cực 2.1, Hệ thống văn bản pháp luật tuy đã khá hoàn thiện nhưng còn một số bất cập Hệ thống pháp luật còn thiếu sót. Hiện nay, hoạt động thương mại ngày càng được mở rộng, mức độ cạnh tranh ngày càng cao, hàng hóa được nhập khẩu vào nước ta từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau với giá cả cạnh tranh. Luât TXK, TNK đã quy định các biện pháp về thuế bổ sung như thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế chống trợ cấp và thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới ban hành ba pháp lệnh: Pháp lênh thuế tự vệ năm 2002, Pháp ệnh thuế chống bán phá giá năm 2004 và Pháp lệnh chống trợ cấp năm 2004. Nhưng đến nay, mới chỉ có một nghị định hướng dẫn cho thuế chống bán phá giá. Đối với thuế chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa chưa có một văn bản nào quy định cụ thể mà mới chỉ tồn tại trong Luật TXK, TNK. Với sự thiếu sót ấy đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật thuế xuất khẩu. Hiện nay, một số quy định trong Luật TXK,TNK không phù hợp với những nội dung mà VN đã cam kết trong đàm phán quốc tế. Để đảm bảo tính minh bạch cho hệ thống luật VN, phải làm rõ một số qui định khác của luật hiện không còn phù hợp với luật thương mại của thế giới Ngoài một số qui định chưa phù hợp của luật hiện hành, còn có những qui định chưa rõ ràng, gây hiểu nhầm cho DN nước ngoài. Ông Stuart P Seidiel, cố vấn pháp luật của Dự án hỗ trợ Thương mại Star người có 30 năm quản lý trong ngành Hải quan tại Hoa Kỳ cho hay, ông đã nghiên cứu nhiều về Luật thuế XNK, Luật hải quan của VN. Rất khó để tìm kiếm 1 điều khoản qui định nào trong Luật thuế XNK, Luật hải quan của VN để áp dụng được vào trường hợp cụ thể của DN. Điều mà các bạn cần làm ngay là làm rõ tính minh bạch của luật và công khai luật trước công chúng. Tính minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho việc XNK của DN cũng như giúp Nhà nước bảo đảm được nguồn thu ngân sách” ông Stuart P Seidiel nói. Một số quy định của Luật còn chưa thông nhất: điểm c khoản 2 điều 10 của luật quy định thuế suất thông thường là không quá 70% thuế suất ưu đãi, điều này dễ gây hiểu nhầm cho những người đọc luật rằng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, chỉ bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170%. Bộ Tài chính có thể quy định một mức thuế suất trong khung lớn từ 100% đến 170% so với thuê suất ưu đãi của hàng hóa tương ứng, nhưng lại tỏ ra cứng nhắc khi quy định thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo điểm b khoản 3 điều 92 Thông tư 1942010ttbtc. Ngoài ra còn có sự mâu thuẫn như điều 70 trong Luật hải quan mâu thuẫn với điều 2 10 của Luật TXK, TNK.Sự mâu thuận này gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên thực tế. Pháp luật chưa có cơ chế nào để kiểm soát việc mang hàng hóa từ nước ngoài về nước của các phi công, tiếp viên hàng không, thủy thủ…do vậy, họ ngang nhiên mang hàng “xách tay” về nước, các hàng hóa này khi được xách tay về nước đã trốn được thuế nhập khẩu, do vậy gây thất thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước.Gần nhất là vào rạng sáng 22.9.2013, trên chuyến bay VN106, một tiếp viên phó của VNA bị lực lượng an ninh sân bay Nội Bài phát hiện mang trái phép 50 chiếc iPhone 5S còn nguyên đai nguyên kiện, khi bay từ Paris (Pháp) về sân bay quốc tế Nội Bài. Người vi phạm là Bùi Ngọc Tuấn (sinh năm 1977), được tuyển dụng vào đoàn tiếp viên VNA từ năm 2005 . 2.2,Đội ngũ cán bộ, công chức hải quan còn yếu về cả số lượng chất lượng, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức: nhân lực ở các đơn vị hải quan còn thiếu và yếu. Do yếu tố lịch sử, phần lớn nguồn cán bộ được biên chế vào ngành trước đây là từ các ngành như công an, quân đội, thuế...chuyển sang, tuy có nhiệt huyết với nghề nhưng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do biên chế ít và chính sách đãi ngộ chưa hợp lý nên hải quan địa phương rất khó thu hút nhân tài, tuyển dụng được các đối tượng có trình độ cao, giỏi công nghệ thông tin. Điều đó đã tạo nên hiện tượng thừa người hưởng lương, nhưng thiếu những người giỏi. Đơn cử tại Cục Hải quan Hà Nội trong 5 năm qua số biên chế chỉ tăng khỏang 20% so với yêu cầu, trong khi lượng công việc tăng gần chục lần, tại Cục Hải quan Long An, đơn vị quản lý hải quan tại 3 tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, đây là cửa ngõ giao thương khu vực miền Tây và một phần của vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ nhưng chỉ có 107 biên chế, lực lượng cán bộ quá mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ nên nhiều bộ phận phải bố trí làm việc kiêm nhiệm. Thiếu số lượng và không đồng đều về chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất phục vụ làm việc không tăng đang là bất cập hạn chế hiệu quả hiện đại hóa và cải cách thủ tục hải quan. Tháng 102013 VBF đã thực hiện một cuộc khảo sát DN tại Việt Nam để biết tham nhũng ảnh hưởng thế nào đến họ mỗi ngày và nghe những đề xuất cải thiện. Những người tham gia xác định 3 lĩnh vực mà Chính phủ cần ưu tiên chống tham nhũng, xếp đầu tiên là Hải quan với 55,2% tiếp đó là đến thuế 46,2%. Trên thực tế, thời gian qua có hàng trăm cán bộ ngành Hải quan đã bị xử lý vì liên quan đến tham nhũng và hối lộ. Tháng 62013, TAND tỉnh Lào Cai xử các bị cáo Trần Minh Thượng, sinh năm 1964, nguyên Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu Mường Khương 20 năm tù và Nguyễn Văn Cường 12 năm tù về tội nhận hối lộ gần 1,5 tỷ đồng của 1 DN, để làm dịch vụ cho một số đơn vị có hàng tạm nhập tái xuất, qua cửa khẩu Mường Khương cả trong và ngoài giờ hành chính . Ngay cả những vụ nhập ụ nổi do 83M do Dương Chí Dũng nguyên là Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) thực hiện cũng có những vấn đề của nhân viên Hải quan. Kết luận của Cơ quan điều tra cho thấy, mặc dù biết rõ ụ nổi 83M là tàu biển, có tuổi thọ 43 năm, đã cũ nát, hư hỏng nặng, không hoạt động được, không đủ điều kiện nhập khẩu nhưng một số cán bộ thuộc Chi cục Hải quan Vân Phong không báo cáo lãnh đạo mà vẫn làm thủ tục đề nghị cho thông quan, nhập khẩu. Nếu cán bộ Hải quan thực hiện đúng có thể Vinalines không nhập khẩu được ụ nổi và không gây thiệt hại hơn 335 tỷ đồng. Thứ hai, cơ sở vật chất:nhìn chung các đơn vị hải quan cơ sở đã được đầu tư theo chiều rộng nếu tính đến các số liệu như số máy tính trên tỷ lệ cán bộ, số lượng phần mềm quản lý, đầu mối đơn vị kết nối mạng Internet…Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của sự đầu tư này chưa cao, thậm chí còn dàn trải, gây lãng phí. Qua thực tế các đơn vị hải quan ở vùng xa, vùng biên giới như Móng Cái (Quảng Ninh), Cha Lo (Quảng Bình), La Lay (Quảng Trị) và Cầu Treo ( Hà Tĩnh)…chất lượng đường truyền dữ liệu chưa được tốt, công tác truyền, nhận thông tin nội bộ đến các đơn vị hải quan cửa khẩu này cũng hay gặp lỗi, thường xuyên trục trặc. Cùng với đó là nhà làm việc, trang thiết bị ở hải quan cơ sở phần lớn được xây dựng từ trước, có chỗ, có nơi không phù hợp với trang bị hiện đại hóa.không thể phủ nhận cơ cở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện, nhưng còn nhiều thiếu thốn là yếu tố trở ngại đến việc đảm bảo thực thi pháp luật.Các doanh nghiệp cũng như cán bộ hải quan vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đường truyền hải quan điện tử bị nghẽn, việc đưa container qua máy soi,…công tác bắt hàng lậu trên biển, các đối tượng dùng xuồng có công suất lớn nên cán bộ hải quan khó tiếp cận được… 2.3, Ý thức của chủ thể nộp thuế nhìn chung còn chưa tốt Chủ thể nộp thuế nhập khẩu cũng như các chủ thể nộp thuế khác, rất ít khi họ tự nguyện nộp thuế mà họ dựa vào các quy định của pháp luật để tìm ra mọi cách để trốn thuế, giảm số thuế phải nộp.Trong năm 2013, những thủ đoạn đó là một trong những yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Trong điều kiện các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời, các hành vi gian lận về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng gia tăng đáng kể về hình thức gian lận, số vụ gian lận và quy mô số thuế gian lận. Theo thống kê của cơ quan Hải quan, gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng gia tăng trong năm 2013 và có diễn biến phức tạp với các phương thức, thủ đoạn gian lận thuế ngày càng tinh vi, thay đổi theo hướng lợi dụng những bất cập trong quy trình thủ tục hải quan và sự thay đổi chính sách mặt hàng... Trong đó, phổ biến nhất là các hành vi buôn lậu, gian lận, trốn thuế về mặt hàng, số lượng, mã hàng, xuất xứ, trị giá tính thuế hay lợi dụng các chính sách ưu đãi, ân hạn thuế hoặc nợ thuế để trốn thuế. Cụ thể như sau: Một là, buôn lậu Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá cấm, không khai báo, tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa vụ thuế. Thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp.Sau khi nhập lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được xé nhỏ, vận chuyển bằng xe khách, xe tải và được hợp pháp hoá bằng hệ thống hoá đơn mua qua bán lại giữa các DN. Bên cạnh hoạt động buôn lậu nêu trên, lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục hải quan, nhiều chủ hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không khai báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu để không phải nộp thuế. Điển hình năm 2013, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án đối với Công ty CP Thực phẩm Sài Gòn, khai xuất khẩu 3.000 thùng thuốc lá, trị giá hàng hóa 23,6 tỷ đồng, nhưng kết quả hàng hóa qua kiểm tra thực tế là 20 tấn gạo. Đây là hoạt động buôn lậu, chiếm đoạt tiền thuế có tổ chức và diễn ra trong thời gian dài. Hai là, khai sai chủng loại hàng hoá Với sự gia tăng của khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong khi nguồn lực của cơ quan hải quan có hạn và thực hiện yêu cầu đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi trong thủ tục hải quan, cơ quan hải quan chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa khi có nghi vấn hoặc có mức độ rủi ro cao. Do đó, việc phân loại, khai báo và áp mã hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để tính thuế phụ thuộc rất lớn vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế. Thực tế thời gian qua, nhiều chủ hàng đã lợi dụng các vấn đề trên để thực hiện gian lận thuế nhập khẩu bằng việc khai báo sai tên hàng, sai mã số hàng hóa.Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Các hành vi thường gặp là: Thứ nhất, Cố tình khai sai tên hàng hóa, chủng loại hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp.Tháng 52013, Cục Hải quan Hải Phòng đã phát hiện Công ty CP Minh Châu khai sai tên chủng loại, nhãn hiệu mặt hàng xe đạp điện, giá nhập về chỉ 60 USDchiếc. Cơ quan hải quan đã yêu cầu DN phải điều chỉnh giá xe đạp điện lên gấp 3 lần (khoảng 150 USDchiếc) và nộp bổ sung hơn 2 tỷ đồng tiền thuế . Thứ hai, Người nộp thuế gian lận thuế bằng cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp của hàng linh kiện. Ba là, khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu Thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Lợi dụng việc áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với các hàng hóa có xuất xứ từ các nước, vùng lãnh thổ, khu vực thị trường đã có thỏa thuận về ưu đãi tối huệ quốc hay ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, các chủ hàng hóa cố tình khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất xứ (CO) giả để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt. Bốn là, gian lận giá tính thuế Gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thông qua giá tính thuế là hành vi rất phổ biến hiện nay. Các hành vi gian lận thường được các chủ hàng thực hiện dưới các hình thức sau: Thứ nhất, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với những mặt hàng chịu thuế suất cao. Vụ gian lận giá hàng hóa điển hình bị Chi cục hải quan Cảng Sài Gòn KV 4 (TP. Hồ Chí Minh) phát hiện gần đây là lô hàng mang nhãn hiệu Pierre Cardin do Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Hoa Mặt Trời (trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh) NK vào tháng 52013. Theo khai báo của DN, hàng hóa gồm váy, quần lót, áo ngực… có giá nhập về chỉ từ 6.000 16.000 đồngchiếc. Trong khi đó, các sản phẩm này được bán trong các cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại lớn, như: Vincom, Parkson với giá khoảng 300.000 400.000 đồngchiếc, tức là gấp 25 lần giá kê khai của DN. Tương tự, khi làm thủ tục mở tờ khai hải quan, Công ty Tiến Thành khai báo những đôi giầy da hiệu Valentino có xuất xứ từ Trung Quốc, giá trị rất bèo, chỉ từ 16.000 300.000 đồngđôi.Thực tế, giá thị trường của loại giầy này vào khoảng 3 5 triệu đồngđôi, cao gấp chục lần giá khai báo. Với giá trị lô hàng giầy Valentino là 1,8 tỷ đồng, nếu làm thủ tục trót lọt thì DN đã né được khoản tiền thuế vài trăm triệu đồng. Thứ hai, chủ hàng dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan hải quan để khai báo thấp trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai báo thấp dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập khẩu trước. Bằng hành vi này, chủ hàng đã lợi dụng các quy định về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo phương pháp trị giá giao dịch hàng nhập khẩu giống hệttương tự để được tính thuế với mức giá thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế. thời điểm cuối năm 2013 những tín đồ thời trang sẽ không khỏi giật mình khi biết đôi giày hiệu Valentino trị giá vài triệu đồng lại có giá nhập khẩu (NK) rất bèo bọt: chỉ từ 16.000 300.000 đồng. Bằng chiêu khai gian giảm giá trị hàng, nhiều doanh nghiệp (DN) NK quần áo, giầy dép, xe đạp, sắt thép... đã trốn hàng tỷ đồng tiền thuế. Thứ ba, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với lô hàng nhập thử để thăm dò thái độ của cơ quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý, chủ hàng đã tiến hành giải thể DN hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh. Thứ tư, do theo chính sách thuế đối với linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu thấp hơn hàng nguyên chiếc nên DN thực hiện việc “down” giá bằng thủ đoạn tháo rời hàng nguyên chiếc thành linh kiện hoặc nguyên liệu nhập khẩu. Điều này được thực hiện qua việc chủ hàng thành lập nhiều công ty khác nhau hoặc tiến hành móc nối với nhiều công ty để mỗi công ty tiến hành nhập khẩu một bộ phận cấu thành của hàng nguyên chiếc về các cửa khẩu khác nhau trong nhiều thời điểm khác nhau để tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan. Thứ năm, chủ hàng lợi dụng các quy định về chiết khấu, giảm giá hoặc không khai báo tiền bản quyền, phí giấy phép, các khoản trợ giúp, phí hoa hồng hoặc các khoản thanh toán gián tiếp để làm giảm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu. Thứ sáu, chủ hàng khai tăng trị giá tính thuế so với giá trị thực tế của hàng hóa nhập khẩu để tăng vốn đầu tư và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài… Năm là, giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế Chứng từ thường hay được các chủ hàng giả mạo với mục gian lận thuế thường là các chứng từ nộp thuế (nhằm giải tỏa cưỡng chế thuế của cơ quan hải quan) hoặc các hồ sơ hải quan (để hợp thức hóa các lô hàng nhập lậu). Trong đó, các trường hợp phổ biến là gian lận thuế qua việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư; gian lận qua việc lợi dụng chính sách quản lý đối với hàng gia công; gian lận thông qua việc lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập... Điển hình nhất là vụ buôn lậu xăng A92 lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất, trị giá ước tính 27 tỷ đồng tại vùng biển Thanh Hoá; hành vi buôn lậu của Công ty TNHH một thành viên xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) dưới hình thức lợi dụng tạm nhập tái xuất xăng dầu qua cửa khẩu đường bộ để buôn lậu 296,6 tấn xăng A92, trị giá khoảng 8 tỷ đồng, số thuế DN gian lận ước tính 2,5 tỷ đồng. Cũng theo thống kê của Hải quan, trong những năm qua đã có 500 ôtô nhập vào Việt Nam theo hình thức tạm nhập tái xuất nhưng đến nay chỉ có 100 chiếc làm thủ tục xuất và nhập trở lại. Nghĩa là còn 400 chiếc không làm thủ tục xuất và nhập trở lại mà lưu hành trong nội địa gây thất thu số tiền thuế rất lớn cho Nhà nước. Ngoài ra, nhiều chủ hàng lợi dụng quy định chuyển cửa khẩu để gian lận thuế; lợi dụng chính sách ân hạn thuế để nợ thuế sau đó tẩu tán bán hàng và bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh mà không làm thủ tục giải thể DN để tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế... Sáu là, lợi dụng Hải quan điện tử để trốn thuế Theo Tổng cục Hải quan, trong năm 2013 lợi dụng hình thức khai báo thủ tục hải quan điện tử, xuất hiện một số doanh nghiệp sử dụng thủ đoạn tinh vi, giả mạo chứng từ hồ sơ hải quan bao gồm hợp đồng, giấy phép chuyên ngành, con dấu, chữ ký công chức hải quan… bằng cách chỉnh sửa (theo hình thức scan) các nội dung này trong quá trình chuyển đổi chứng từ, từ chứng từ giấy sang chứng từ điện tử. Có trường hợp doanh nghiệp lấy vận đơn, invoice, packing list gốc đem photo che phần ghi hàng hóa thực sau đó dùng thủ đoạn bắn tên hàng không thuế vào và scan lại, đóng dấu sao y để nộp hồ sơ giấy cho hải quan có nội dung khớp với phần khai hải quan điện tử . III, Ý KIÊN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Để đảm bảo cho việc thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu trong thời gian tới, trên cơ sở những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như em đã phân tích ở trên trong năm 2013, theo em chúng ta cần thực hiện tốt những công việc sau: 1, Hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu Trên cơ sở những cam kết, hiệp định mà chúng ta đã tham gia, các nhà làm luật cần xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, phù hợp với pháp luật quốc tế và có tính khả thi. Một là, việc gia nhập WTO và các cam kết của AFTA đang buộc chúng ta cắt giảm hàng rào thuế quan.Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra, Luật Hải quan hiện hành phải được sửa đổi để nội luật hóa các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên như Công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Hiệp định về việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và góp phần cơ sở pháp lý để tham gia đàm phán các Hiệp định…Việc xây dựng, hoàn thiện quy định, văn bản hướng dẫn các loại thuế nhập khẩu bổ sụng để điều tiết kinh doanh, bảo hộ nền kinh tế trong nước như thuế tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa là rất cần thiết. Mặc dù đã có quy định nhưng trên thực tế tính khả thi của chúng là rất thấp. Hai là, cần thay đổi cách diễn đạt về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu đã phân tích ở phần trên cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc văn bản luật.Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khác phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thuế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ. Ba là, Luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế là tiêu chí xác định thời hạn nộp thuế. Như vậy vừa phù hợp với Luật Hải quan sửa đổi bổ sung vừa khuyến khích sự chủ động, tự tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên tiêu chí là mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật vơi những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi trốn thuế. Bốn là, đơn giản hoá và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế. Thông qua cải cách các quy trình, thủ tục về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế, đảm bảo tính đơn giản, minh bạch, công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp và cơ quan quản lý thu thuế. Năm là, Cân sửa đổi, bổ sung pháp luật nhằm tăng cường quản lý, đưa ra những biện pháp chế tài phù hợp nhằm ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm. Chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan có liên quan phối hợp tốt hơn trong hoạt động quản lý hải quan, xây dựng quy chế phối hợp để hoạt động có hiệu quả hơn trong phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và thu hồi nợ thuế. 2, Nâng cao cả về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hải quan cũng như nâng cao chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật Để nâng cao chất lượng đội ngũ hải quan trong thời gian tới cần: Tiếp tục triển khai Kế hoạch cải cách phát triển hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 20112015 và Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020. Thực hiện tốt công tác tham mưu cho Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan; Phấn đấu không để chậm, tồn đọng công việc; Nâng cao chất lượng đề xuất, tham gia xây dựng văn bản; Cố gắng hoàn thành 100% các đề án, chương trình công tác đã đăng ký. Rà soát, hoàn thiện tổ chức bộ máy, chuẩn bị nguồn nhân lực sẵn sàng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan, thực thiện Dự án VNACCSVCIS và triển khai Luật Hải quan sửa đổi. Không ngừng trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng giải quyết công việc; Rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, thực hiện Tuyên ngôn phục vụ khách hàng của ngành Hải quan gắn với việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, văn minh, văn hóa công sở theo các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về tăng cường kỷ cương, kỷ luật khi thi hành công vụ. Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Hưởng ứng các phong trào thi đua hướng tới chuẩn bị kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan.Chú trọng công tác bồi dưỡng, phát triển, tuyên truyền nhân rộng điển hình tiên tiến trong toàn Ngành . Về nâng cao chất lượng cơ sở vật chất: những đối tượng trốn thuế, buôn lậu,… ngày càng sử dụng những thủ đoạn tinh vi, phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ. Nếu cán bộ hải quan vẫn phải tiến hành kiểm tra theo cách truyền thống, thô sơ thì rất khó phát hiện được hành vi sai phạm và rất khó khăn trong hoạt động chống buôn lậu ở nước ta. Vì thế, việc đầu tư vào các thiết bị kiểm tra, phương tiện truy bắt…là điều kiện thiết yếu để cán bộ hải quan thực thi tốt pháp luật thuế nhập khẩu. 3, Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế Cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, chỉ đạo chính sách thuế nhập khẩu cho người dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu để nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế nhập khẩu, từ đó phần nào đảm bảo cho hoạt động thu, nộp thuế nhập khẩu được tiến hành dễ dàng, hiệu quả hơn. Kèm theo đó, pháp luật cần quy định các chế tài đủ mạnh đối với các hành vi trốn thuế, gian lận thuế...để răn đe, buộc họ phải chấp hành các quy định của pháp luật nghiêm chỉnh hơn. C, KẾT LUẬN Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu năm 2013 chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau, từ sự ảnh hưởng của các yếu tố khác quan như tình hình kinh tế xá hội trong nước cũng như nhiều quốc gia khác, sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế của quốc gia cho đến việc xây dựng, ban hành một hệ thống pháp luật đáp ứng đòi hỏi thực tế, năng lực của đội ngũ cán bộ thu thuế... Điều này phụ thuốc vào các nhà làm luật, trình độ lập pháp cũng như những cam kết quốc tế mà nước ta tham gia kí kết.Yêu cầu đặt ra trong những năm tới là phải tìm ra những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực để từ đó tìm ra giải pháp khác phục kịp thời, có như thế mới có thể đưa pháp luật thuế nhập khẩu vào thực tiễn đạt được hiệu quả cao.
Xem thêm

Đọc thêm

Quảng cáo khuyến mại rượu trong luật Thương mại

Quảng cáo khuyến mại rượu trong luật Thương mại

Quảng cáo, khuyến mại rượu Bài tập học kỳ Luật Thương mại 2 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Thương mại 2 A.Mở đầu Rượu bia là thức uống rất phổ biến trong cộng đồng. Tuy nhiên, rượu bia đem lại những tác hại về nhiều mặt kể cả kinh tế từ việc mua bia rượu, điều trị các bệnh có liên quan đến bia rượu, ngộ độc rượu hay những thiệt hại về mặt xã hội như rạn vỡ quan hệ gia đình, bạo lực gia đình... cũng lớn không kém. Chính vì thế, việc quảng cáo, khuyến mại rượu được pháp luật quy định cụ thể. Trong bài tập lần này, em xin trình bày để tài: “Trình bày hiểu biết của em về quảng cáo, khuyến mại rượu” B.Nội dung I. Khái quát chung về quảng cáo, khuyến mại. 1. Quảng cáo. a. Định nghĩa. Theo khoản 1 Điều 2 Luật quảng cáo: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” Theo quy định tại Điều 102 Luật Thương mại 2005: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình” b. Đặc điểm. Quảng cáo thương mại thực chất là một hoạt động quảng cáo, vì vậy, quảng cáo thương mại mang những đặcđiểm chung của quảng cáo: Quảng cáo là một loại thông tin phải trả tiền; Quảng cáo mang tínhđơn phương, chỉ có thông tin từ phía người quảng cáo; Quảng cáo không chỉ dành riêng cho cá nhân đơn lẻ mà quảng cáo hướng tới toàn thể mọi người nhằm mục tiêu đãđịnh của người quảng cáo; Quảng cáo phải thông qua phương tiện trung gian để truyền tải thông tin đến các đối tượng. Quảng cáo thương mại ngoài những đặcđiểm chung vốn có của hoạt động quảng cáo thì còn có các đặcđiểm pháp lý sau: Thứ nhất,Chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mạiđể hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận. Thứ hai, về tổ chức thực hiện: Thương nhân có thể tự mình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác thông qua hợp đồng dịch vụ. Do quảng cáo có tác động rất lớn đến hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảng cáo để khuếch trương hàng hóa, dịch vụ của mình. Trong trường hợp tự mình quảng cáo không đạt hiệu quả mong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân khác thực hiện việc qunagr cáo cho mình và phải trả chi phí dịch vụ vì việc đó. Thứ ba, về cách xúc tiến thương mại. Trong hoạt động quảng cáo thương mại, thương nhân sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng. Thứ tư, mụcđích trực tiếp của quảng cáo là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân. Như vậy, thông qua quảng cáo, thương nhân có thể tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng hóa, dịch vụ; có thể thu hút khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vục của công ty khác thông qua việc nhấn mạnh đặcđiểm và những lợiích của một nhãn hiệu cụ thể hoặc thông qua việc so sánh tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại c. Vai trò của quảng cáo thương mại. Thứ nhất, đối với thương nhân: Nhờ có quảng cáo, các thương nhân có thểđưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng, tạo ra nhu cầu đối với sản phẩm, tăng sức mua, mở rộng thị phần của mình trên thị trường, nâng cao thương hiệu của doanh nghiệp bằngcách tạo ra một sự hiện diện thương hiệu trong tâm trí khách hàng bằng việc nâng cao tần suất và mật độ quảng cáo cho sản phẩm của mình của thương nhân. Ngoài ra, quảng cáo còn góp phần hỗ trợ cho việc bán hàng của thương nhân, giảm được một lượng lớn chi phí phải bỏ ra trong việc phân phối sản phẩm vì khách hàng sẽ tự tìm đến mua sản phẩm của thương nhân. Nếu các thương nhâ làm tốt công việc truyền tải thông tin về sản phẩm, gây đượcấn tượng tốt cho người tiêu dùng về sản phẩm của mình thì thương nhân đó có thể sẽ khai thác được thị trườngđó một cách hiệu quả nhất. Quảng cáo thương mại cũng giúp duy trì thương hiệu của thương nhân trong mắt người tiêu dùng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hìnhảnh của thương nhân trước các thương nhân khác. Thứ hai,đối với người tiêu dùng: Quảng cáo đem đến cho người tiêu dùng những thông tin cần thiết về sản phẩm, dịch vụ; mang đến cho họ sự lựa chọn có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ hay không; giúp họ biết đến thương hiệu, giá cả, địađiểm mua bán sản phẩm... Quảng cáo thương mạiđã góp phầnđịnh hướng cho người tiêu dùng sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Hoạt động quảng cáo mang đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ thông qua việc tiếp cận với các thông tin về sản phẩm từ quảng cáo thương mại. Thứ ba, đối với xã hội: Quảng cáo là phương tiện truyền tải thông tin chủ yếu về hàng hóa, dịch vụ đến với người tiêu dùng. Chính vì thế, khi nguồn thông tin quảng cáo đượcđưa tới khách hàng sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của họ, thương nhân sẽ bán được nhiều hàng hóa hơn, có thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Từđó, góp phần nâng cao tổng sản phẩm quốc nội. Quảng cáo thương mại cũng góp phần hình thành nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng và thương nhân. Hoạt động quảng cáo phát triển mạnh sẽ dẫn đến việc hình thành ngành nghề quảng cáo với tư cách là một hoạt động thương mại độc lập. Chính ngành nghềnày sẽ thu hút được một lượng lớn lao động góp phần tạo ra thu nhập cho các thương nhân, người lao động hoạt động trong lĩnh vực này nói riêng và tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước. 2. Khuyến mại. a. Định nghĩa. Khoản 1 Điều 88 Luật thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.” b. Đặc điểm. Khuyến mại có một số đặcđiểm sau: Thứ nhất, Về chủ thể thực hiện khuyến mại: là thương nhân.Khoản 2 Điều 88 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh; b. Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó” Như vậy, để tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân có thể tự mình tổ chức thực hiện khuyến mại, cũng có thể lựa chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh. Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ. Thứ hai, về cách thức thực hiện: Dành cho khách hàng những lợiích nhấtđịnh. Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào điều kiện kinh phí hay tùy thuộc vào tình hình thương trường mà thương nhân dành cho khách hàng những lợiích nhất định qua các hình thức khác nhau. Các hình thức này được quy định tạiĐiều 92 Luật Thương mại 2005. Phải kể đến một số hình thức như: hàng mẫu để dùng thử, tặng quà, giảm giá... một số lợiích phi vật chất khác. Thứ ba,về mụcđích của khuyến mại. Khuyến mại có hai mục đích chính: Xúc tiến việc bán hàng và cungứng dịch vụ; Tăng thị phần hoặc chiếm lĩnh thị trường. Khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới... Thông qua đó làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. Thứ tư, đối tượng được khuyến mại. Khách hàng hoặc trung gian phân phối nhưđại lý bán hàng sẽ làđối tượng được khuyến mại. c. Các hình thức khuyến mại. Điều 92 Luật Thương mại 2005 quy định các hình thức khuyến mại. Theo đó, chúng ta thấy rằng, có nhiều hình thức khác nhau để thương nhân dành cho khách hàng của mình những lợiích nhất định, có thể là vật chất nhưng cũng có thể là lợiích phi vật chất. Cụ thể: Thứ nhất, Hàng mẫu: Thương nhân sẽđưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền. Thứ hai, Quà tặng: Tặng quà được thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ của thương nhân. Hàng hóa, dịch vụ làm quà tặng có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác. Thứ ba, Giảm giá: Đây là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ưng dịch vụ thường trước đó đượcáp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đãđăng ký hoặc thông báo. Thứ tư, Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi. Theo đó, khách hàng có thể hưởng những lợiích nhất định theo những phương thức khác nhau. Thứ năm, Tổ chức các sự kiện để thu hút khách hàng. Các sự kiện này có thể gắn liền hoặc tách rời với việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của khách hàng. Ngoài ra, pháp luật không cấm thương nhân sử dụng các hình thức khác để khuyến mại nhưng khi tiến hành phải được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận. II. Quảng cáo, khuyến mại rượu theo quy định của pháp luật hiện nay. 1. Sơ lược về tác hại của Rượu. Việc sử dụng rượu đã trở thành thói quen, một nét văn hóa truyền thống của rất nhiều quốc gia trên thế giới, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên, sử dụng rượu lại rất có hại đối với sức khỏe con người, thậm chí uống rượu còn có khả năng gây nghiện, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với người sử dụng rượu mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng. Tác hại của Rượu đối với sức khỏe con người là rất lớn. Chính vì thế, Hiện nay chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh hay những khuyến cáo hạn chế sử dụng các sản phẩm có hại cho sức khỏe như rượu. Do những hậu quảđáng tiếc mà rượu mang lại cho sức khỏe con người vàảnh hưởng đến môi trường nên Nhà nước không khuyến khích sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm này. Chúng ta có thể thấy tác hại của rượu đến sức khỏe con người như sau: Trước hết, thậm chí chỉ với lượng nhỏ, rượu có thể có những tác động tiêu cực lên sức khỏe, chẳng hạn như:Làm chậm hoạt động của não, ảnh hưởng tới sự tỉnh táo, sự phối hợp và thời gian phản ứng; Ảnh hưởng tới giấc ngủ và chức năng tình dục; Đau đầu; Tăng huyết áp; Ợ nóng.... Uống rượu nhiều cònlàm tăng nguy cơ bị tai nạn và đột quỵ. Theo thời gian, uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ:Bị bệnh gan, thận, phổi và bệnh tim; Đột quỵ; Loãng xương; Tăng huyết áp; Béo phì... Ngoài ra, Uống rượu quá mức cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư miệng, họng, thanh quản, thực quản, ung thư gan và ung thư vú. Khi kết hợp với hút thuốc lá, uống rượu quá mức làm tăng nguy cơ bị nhiều dạng ung thư khác. Rượu có thể tương tác với nhiều thuốc. Rượu làm giảm tác dụng của một số thuốc và có thể gây nguy hiểm nếu dùng với thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc kháng histamin hoặc thuốc giảm đau.Nếu kết hợp rượu với thuốc kháng sinh, có nguy cơ cao bị chảy máu dạ dày.Nếu uống rượu khi đang dùng acetaminophen (Tylenol, và những thuốc khác), làm tăng nguy cơ tổn thương gan. Như vậy, rượu cóảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe con người. Nên những quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu được pháp luật quy định khá chi tiết, nhằm bảo vệ sức khỏe cho con người. 2. Quảng cáo rượu. Đểđảm bảo lợiích của Nhà nước, của người tiêu dùng và của các thương nhân, pháp luật quy định một số hoạt động quảng cáo bị cấm. Trong đó, việc quảng cáo rượu cũng bị cấm. Hiện nay, có một số văn bản pháp lý quy định về việc cấm quảng cáo rượu. Theo đó, phải kể đến: Theo khoản 4 Điều 109 Luật Thương mại quy định về các quảng cáo thương mại bị cấm: “Quảng cáo thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên và các sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo” Theo khoản 3, Mục 2 Thông tư số 432003TTBVHTT ngày 1672003 hướng dẫn thực hiện Nghịđịnh 242003NĐCP ngày 1332003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh quảng cáo: “Quảng cáo rượu a) Các loại rượu có độ cồn từ 15 độ trở xuống chỉ được quảng cáo trên báo in, báo điện tử, Đài phát thanh, Đài truyền hình, mạng thông tin máy tính như các hàng hoá khác quảng cáo trên phương tiện đó; b) Các loại rượu có độ cồn trên 15 độ chỉ được quảng cáo trong phạm vi địa giới doanh nghiệp sản xuất rượu, bên trong các cửa hàng, đại lý tiêu thụ rượu nhưng phải đảm bảo người ở bên ngoài địa giới doanh nghiệp, cửa hàng, đại lý không đọc được, không nghe được, không thấy được; c) Các loại rượu thuốc được thực hiện theo quy định tại Quy chế thông tin về thuốc chữa bệnh cho người của Bộ Y tế; d) Ngoài những quy định tại các điểm a, b, c khoản này, nghiêm cấm quảng cáo rượu dưới bất kỳ hình thức nào khác” Khoản 3 Điều 7 Luật quảng cáo 2012 quy định về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo: “Rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên”. Như vậy, không phải tất cả các loại rượu đều bị cấm quảng cáo. Đối với các loại rượu có độ cồn trên 15 độ chỉđược quảng cáo trong phạm vi địa giới doanh nghiệp sản xuất rượu, bên trong các cửa hàng, đại lý tiêu thụ rượu nhưng phảiđảm bảo ngườiở ngoàiđịa giới doanh nghiệp, cửa hàng, đại lý không đọc được, không nghe được, không thấy được. Còn đối với rượu có độ cồn từ 15 độ trở xuống thì pháp luật cho phép quảng cáo nhưng hạn chế. Trường hợp này, pháp luật chỉ cho phép quảng cáo trên báo in, báo điện tửđài phát thanh, đài truyền hình, mạng thông tin máy tính như các hàng hóa khác quảng cáo trên phương tiệnđó. Pháp luật quy định quảng cáo thương mại bị cấm nhằm bảo vệ lợiích cho Nhà nước, xã hội và lợiích của thương nhân khác, của khách hàng, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền cạnh tranh lành mạnh. Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 372006NĐCP của Chính phủ ngày 442006 quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại: “Cơ quan quản lý nhà nước về thương mại phối hợp với cơ quan cấp phép thực hiện quảng cáo đình chỉ quảng cáo thương mại trong trường hợp phát hiện nội dung sản phẩm quảng cáo vi phạm quy định của pháp luật” Theo Điều 51 Nghị định 562006NĐCP của Chính phủ ngày 662006 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin: “Điểm đ, khoản 5 quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đối với một trong các hành vi sau: đ) Quảng cáo rượu có độ cồn trên 15 độ; Khoản 8. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3, các điểm d và đ khoản 4, các điểm a và b khoản 5, các khoản 6 và 7 Điều này. Khoản 9. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ sản phẩm quảng cáo vi phạm đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này” Như vậy, hiện nay, pháp luật nước ta quy định khá chặt chẽ, đầyđủ các quy định về quảng cáo rượu và các biện pháp xử lý đối với hành vi quảng cáo trái pháp luật. Theo Điều 22 Nghị định số 942012NĐCP về Sản xuất và kinh doanh rượu thìRượu thuộc nhóm hàng hoá nhà nước hạn chế kinh doanh, do những tác hại khôn lường của rượu mà Nhà nước ta đã quy định cấm quảng cáo rượu cóđộ cồn trên 15 độ, kể cả rượu cóđộ cồn dưới 15 độ cũng chỉ được quảng cáo ở một số hình thức nhất định. Cũng dễ nhận thấy rằng trên các phương tiện truyền thông, thường chúng ta sẽ không bắt gặp được những quảng cáo về rượu. Tuy chưa hoàn thiện nhưng những quy định về quảng cáo rượu cũngđã có những hiệu quả nhất định trong quá trìnháp dụng. 3. Khuyến mại rượu. Chúng ta có thể thấy, mục tiêu của khuyến mại là thu hút hành vi mua sắm và sử dụng dịch vụ của khách hàng nên thương nhân có thể vì lợi nhuận tốiđa mà vượt qua giới hạn cần thiết, gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội và môi trường kinh doanh. Pháp luật cũngđã quy định một số hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại. Đối vớimặt hàng rượu, pháp luật cũng có những quy định về khuyến mại mặt hàng này. Cụ thể: Khoản 3, 4 Điều 100 Luật Thương mại 2005 quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại: “3. Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi. 4. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.” Theo đó, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc khuyến mại rượu cho người dưới 18 tuổi người chưa thành niên. Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầyđủ về thể chất cũng như về tâm – sinh lí. Họ luôn có xu hướng muốn tự khẳngđịnh, đượcđánh giá, được tôn trọng, hiếu thẳng, dễ bị kích động, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội. Nhưđã phân tích ban đầu, rượu có hại cho sức khỏe, càng không tốt cho người chưa thành niên. Chính vì thế, pháp luật nước ta nghiêm cấm khuyến mại rượu cho người dưới 18 tuổi. Ngoài ra, đối với rượu cóđộ cồn từ 30 độ trở lên, pháp luật nghiêm cấm khuyến mại dưới mọi hình thức. Như vậy, liệu có phảiđối với các loại rượu có nồng độ cồn dưới 30 độ vẫn được phép khuyến mại? Theo khoản 2 Điều 100 Luật Thương mại 2005: “Sử dụng hàng hóa, dịch vụ để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng” Theo Điều 22 Nghị định số 942012NĐCP về Sản xuất và kinh doanh rượu: “Rượu thuộc nhóm hàng hoá nhà nước hạn chế kinh doanh. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm rượu (phân phối, bán buôn, bán lẻ) phải có giấy phép, trừ trường hợp sản xuất rượu thủ công để bán cho các doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại.” Như vậy, do rượu thuộc nhóm hàng hóa Nhà nước hạn chế kinh doanh, nên chiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Thương mại, thì không được dùng rượuđể khuyến mại trong mọi trường hợp. Nếu vi phạm quy định về khuyến mại: Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 372006NĐCP của Chính phủ ngày 442006 quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đình chỉ việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần chương trình khuyến mại của thương nhân nếu phát hiện ra có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Vi phạm các quy định tại Điều 100 Luật Thương mại và Điều 4 Nghị định này; b. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các nội dung trong thể lệ chương trình khuyến mại đã đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về thương mại có thẩm quyền” Theo khoản 5 Điều 23 Nghị định 1752004NĐCP của Chính phủ ngày 10102004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại. “Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: d) Sử dụng rượu, bia để làm hàng khuyến mại đối với trẻ em dưới 16 tuổi” Theo khoản 8 Điều 29 Nghị định 062008NĐCP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, “hành vi khuyến mãi cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh… sẽ bị phạt tiền từ 25 đến 30 triệu đồng”. Mức phạt tiền này cũng được áp dụng đối với hành vi“khuyến mãi hoặc sử dụng rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mãi dưới mọi hình thức”. Ngoài mức phạt tiền trên đây, cơ quan chức năng còn có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính như tạm giữ tang vật vi phạm hành chính, cụ thể trong trường hợp này là rượu, sản phẩm khuyến mãi và các vật phẩm có chứa, thể hiện sản phẩm khuyến mãi. Nếu tái phạm, cơ sở kinh doanh có thể bị rút giấy phép kinh doanh. Như vậy, việc quy định khuyến mại rượu dường như chặt chẽ hơn quy định quảng cáo rượu. Pháp luật hiện hành nghiêm cấm khuyến mại rượu dưới mọi hình thức. Nếu có vi phạm về khuyến mại rượu thìáp dụng xử lý theo quy định trên. II. Thực trạng việc áp dụng quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu và giải pháphoàn thiện. 1. Thực trạng. Nhìn chung, pháp luậtđã có những quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu khá đầyđủ. Tuy nhiên, trong quá trìnháp dụng vẫn không thể tránh khỏi những bất cập, hạn chế. Cụ thể: a. Về khía cạnh quy định pháp luật. Điều dễ thấy nhấtđó là quy định về nồng độ cồn trong rượu mà pháp luật không cho phép quảng cáo. Theo Luật Thương mại 2005, quy định nồng độ này là trên 30 độ. Tuy nhiên, Luật quảng cáo cũng như văn bản pháp luật khác lại quy định là 15 độ. Như vậy, chưa có sự thống nhất giữa các văn bản, dẫn đến tình trạng khóáp dụng. Tiếp đó, các quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu còn rải rác, ở nhiều văn bản khác nhau, từ khái niệm rượu cho đến việc quy định sản xuất, kinh doanh hay áp dụng chế tài khi có vi phạm xảy ra đều nằmở các văn bản khác nhau. Theo đó, muốnáp dụng, tìm hiểu bắt buộc ngườiđọc phải tìm, đọc hết các văn bản mới có thể hiểu rõ. Rượu là hàng hóa hạn chế kinh doanh, cộng với việc những tác hại to lớn mà rượu mang lại, thiết nghĩ nên có một văn bản riếng quy định về hành vi quảng cáo, khuyến mại rượu. Ngoài ra, việc quy định mức tiền phạt còn quáít. Đối với vi phạm quy định quảng cáo rượu, chỉ phạt từ 3.000.000 đến 5.000.00 đồng; Vi phạm khuyến mại rượu thì sẽ xử phạt 25 đến 30 triệu. Theo đó, mức tiền phạt còn quáít, chưa đủ sức răn đe các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Ví dụ, vi phạm quảng cáo chỉ bị phạt từ 3 đến 5 triệu, nhưng nếu thông qua quảng cáo đó mà nhiều người biết đến hơn và đổ xô đến mua hàng thì doanh nghiệp đấy sẽ thu được số tiền hơn rất nhiều lần số tiền phải nộp phạt. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ sẵn sàng chịu mất cái nhỏ để được cái lớn hơn. Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định đối với trường hợp thương nhân kinh doanh rượuở các hội chợ, triển lãm thương mại. Phải chăng đây cũng là một hình thức quảng cáo mà pháp luật chưa dự liệu hết? Nếu tại hội chợ, triển lãm thương mại, có thương nhân không cóđủ bằng chứng chứng minh mặt hàng rượu của mình được tham gia hội chợ thì sẽ phải xử lý như thế nào? Trường hợp này, pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể. Pháp luật cũng chưa có quy định về việc ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợpvi phạm các quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu. b. Trong quá trình áp dụng vào thực tiễn. Hiện nay, tuy pháp luậtđã có quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu, nhưng các doanh nghiệp vẫn luôn tìmđủ mọi cách để quảng bá sản phẩm của mình. Thứ nhất, trong lĩnh vực quảng cáo, pháp luật chuyên ngành (Luật quảng cáo) quy định về nồng độ cồn trong rượu được phép quảng cáo. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có rất nhiều hình thức quảng cáo trá hình. Quảng cáo mặt hàng này nhưng cũng có luôn hình ảnh của rượuở đấy, hay các công ty sản xuất rượu tài trợ cho các hoạt động văn hóa, xã hội, thể thao, thông quađó, họ quảng bá được thương hiệu cho mình. Thứ hai, hiện nay, hành vi bán rượu có kèm sản phẩm khuyến mãi là ly thủy tinh, dụng cụ mở rượu, bóp ví hoặc các sản phẩm khác trong hộp quà tết diễn ra ngày càng nhiều.Vào những ngày giáp tết, rất dễ bắt gặp những tình huống như trên, tuy các cơ quan chức năng cũngđã xử lý nhưng vẫn rất khó để xử lý triệt để được hành vi này. 2. Giải pháp hoàn thiện. Trên cơ sở những hạn chế trên, cần có những giải pháp để giải quyết được những tồn tại, yếu kém. Theo đó: Thứ nhất, Cần có một văn bản pháp lýđiều chỉnh riêng về quảng cáo, khuyến mại rượu, văn bản có tính thống nhất, quy định đầyđủ những vấn đề liên quan để giúp cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng hơn, thống nhất hơn, tránh tình trạng quy định khác nhau ở các văn bản khác nhau. Thứ hai,nên có quy định cụ thể về chủ thể chịu trách nhiệm nếu có hành vi vi phạm xảy ra khi áp dụng sai quy định pháp luật. Nếu doanh nhân nhập khẩu bán rượu cho đại lý, nhà phân phối có kèm sản phẩm khuyến mãi thì doanh nhân nhập khẩu sẽ bị phạt.Nếu đại lý, nhà phân phối bán rượu cho người bán lẻ, hộ kinh doanh cá thể có sản phẩm khuyến mãi thì đại lý, nhà phân phối sẽ bị xử phạt. Tương tự như vậy, siêu thị, cửa hàng, người bán lẻ, hộ kinh doanh cá thể mà bán rượu cho người tiêu dùng có sản phẩm khuyến mãi thì siêu thị, cửa hàng, người bán lẻ, hộ kinh doanh cá thể có thể bị xử phạt. Thứ ba, nên tăng tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo, khuyến mại rượu để răn đe các chủ thể phải thực hiệnđúng, đầyđủ quy định pháp luật. Thứ tư,Bên cạnh những giải pháp trên, chúng ta có thểáp dụng một số giải pháp như sau: quy định về độ tuổi được mua bán rượu; nghiêm cấm quảng cáo rượu trên các phương tiện thông tin đại chúng; đánh thuế cao hơn đối với rượu; ... C.Kết luận Hiện nay, là vấn đềquảng cáo, khuyến mại rượuđang được pháp luật và xã hội quan tâm, nhất trong dự thảo đề cương Chính sách quốc gia phòng chống tác hại lạm dụng rượu, bia giai đoạn 2010 2020, sẽ cấm quảng cáo, khuyến mãi rượu, bia dưới mọi hình thức. Theo đó, nhà nước sẽ tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, quy định về thời gian và mật độ các điểm bán lẻ rượu, bia, cấm trẻ em dưới 18 tuổi và phụ nữ mang thai sử dụng rượu, bia. Hy vọng hệ thống pháp luật về quảng cáo, khuyến mại rượu sẽ hình thành và tạo tiền đề cho sự phát triển của đấtnước.
Xem thêm

Đọc thêm

Quảng cáo so sánh bài tập cá nhân luật Thương mại

Quảng cáo so sánh bài tập cá nhân luật Thương mại

Quảng cáo so sánh Bài tập cá nhân Luật Thương mại 2 Người ta thường nói trong kinh doanh nếu không biết biết đến hoạt động xúc tiến thương mại thì không phải là người kinh doanh. Quảng cáo là một nghệ thuật cũng như là một chiến trường giữa các thương nhân. Một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay là quảng cáo so sánh. Vậy sau đây tôi xin trình bày vấn đề quảng cáo so sánh theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1, Định nghĩa quảng cáo so sánh. Quảng cáo so sánh (comparative advertising) đã xuất hiện ở Mỹ và Tây âu từ lâu. Theo tuyên bố của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ thì: “Quảng cáo so sánh được định nghĩa như là quảng cáo mà so sánh những nhãn hiệu hàng hóa khác theo những thuộc tính khách quan có thể kiểm chứng hoặc giá cả và là sự làm nhận ra nhãn hiệu hàng hóa khác bởi tên, minh họa bằng hình ảnh hoặc thông tin riêng biệt khác”. Theo Liên minh Châu âu thì: “Quảng cáo so sánh là mọi quảng cáo làm nhận ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một doanh nghiệp cạnh tranh hoặc các sản phẩm hoặc các dịch vụ mà một doanh nghiệp cạnh tranh cung ứng”. Còn ở Việt Nam, quảng cáo so sánh được đề cập đến trong Luật Thương mại 1997 tại Đ192. Nhưng cả Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Cạnh tranh 2004 hay Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001…đều không định nghĩa quảng cáo so sánh. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu quảng cáo so sánh là“Quảng cáo so sánh là quảng cáo làm nhận ra một hoặc một vài đối thủ cạnh tranh hoặc các sản phẩm hay các dịch vụ cùng loại mà đối thủ cạnh tranh sản xuất, cung ứng hay phân phối và đáp ứng được một số điều kiện khác do pháp luật quy định”. 2. Điều kiện trở thành quảng cáo so sánh: Không phải bất kỳ hành vi quảng cáo nào có thông tin, có sự so sánh với một doanh nghiệp hay hàng hóa, dịch vụ khác cũng đều trở thành quảng cáo so sánh. Sự so sánh này được biểu hiện ở khía cạnh: Một là, sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm cùng loại. Lý luận về cạnh tranh đã chỉ rõ rằng các sản phẩm chỉ có thể được coi là cạnh tranh với nhau khi chúng cùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loại của hai doanh nghiệp khác nhau thì mới là so sánh. Hai là, sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất hoặc kinh doanh. 3, Quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo so sánh: Thứ nhất, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 không cấm quảng cáo so sánh nhưng quảng cáo so sánh lại bị cấm theo quy định tại Nghị định 242003NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 13032003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này (khoản 7 Điều 3): “7. Quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của người khác;…” Thứ hai, Luật Cạnh tranh năm 2004 coi quảng cáo so sánh trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cấm thực hiện tại khoản 1 Điều 45: “Cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây: 1. So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác…” Thứ ba, quảng cáo so sánh nằm trong danh mục quảng cáo thương mại bị cấm theo quy định tại khoản 6 Điều 109 LDN 2005 theo đó: “Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác” Thứ tư, Điều 37 Nghị định 372006NĐCP hướng dẫn Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để so sánh”. Như vậy, ta có thể thấy hiện nay hành vi quảng cáo so sánh ở Việt Nam được điều chỉnh bởi khá nhiều văn bản của pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh.Tuy nhiên, thì Luật Cạnh tranh năm 2004 vẫn là văn bản điều chỉnh có tính chất chuyên ngành nhất. 4. Nhận xét các quy định của pháp luật hiện hành về quảng cáo so sánh: Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa xây dựng định nghĩa quảng cáo so sánh. Đây là một thiếu sót cơ bản của Luật Cạnh tranh (2004) về nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Bất cứ một hiện tượng pháp lý nào cũng cần được định nghĩa để có thể xác định được bản chất pháp lý và các yếu tố cấu thành nên hiện tượng đó nhằm định hướng cho các quy định cụ thể cho hiện tượng đó trong các văn bản pháp luật. Thứ hai, về phạm vi các chủ thể bị cấm tiến hành hoạt động quảng cáo so sánh trực tiếp vẫn còn những quan điểm khác nhau do tính không rõ ràng của Luật Cạnh tranh (2004). Khoản 1 Điều 45 của Luật này có quy định: quảng cáo“so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” thì bị cấm; Khoản 6 Điều 109 Luật Thương mại (2005) quy định cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác”. Có thể nhận thấy cụm từ “của mình” đã dẫn đến các cách giải thích luật khác nhau về vấn đề chủ thể này dẫn đến hình thành nên hai cách hiểu về hàng hóa, dịch vụ “của mình” trong quy định của pháp luật Việt Nam. Có ý kiến cho rằng chỉ có nhà sản xuất, nhà cung ứng mới có hàng hóa, dịch vụ “của mình” nên Luật Cạnh tranh không điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhà phân phối, vô hình chung tạo ra lỗ hổng ngoài ý muốn và sự phân biệt đối xử. Thứ ba, quy định về đối tượng so sánh còn có sự chưa thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp (2005) (“hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”) và Luật Cạnh tranh (2004) (“hàng hóa, dịch vụ”). Hơn nữa, quy định cấm so sánh trực tiếp “hàng hóa, dịch vụ” nhưng không nói rõ là chỉ cấm so sánh những tính chất căn bản hay là tất cả tính chất của hàng hóa, dịch vụ đó. Thứ tư, Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh (2004) cấm “so sánh trực tiếp” nhưng cả Luật Cạnh tranh (2004) và các văn bản khác có liên quan như: Nghị định số 1162005NĐCP ngày 15092005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Nghị định số 242003NĐCP ngày 13032003 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quảng cáo không nêu được đặc điểm để nhận diện như thế nào là “sự so sánh trực tiếp”. Từ đó dẫn đến một vấn đề khó xác định là cấm quảng cáo dùng phương pháp so sánh trực tiếp hay là cấm quảng cáo có nội dung so sánh trực tiếp. Bên cạnh đó, Luật Thương mại (2005) cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp” nhưng cũng không hướng dẫn thêm về vấn đề thế nào là dùng phương pháp so sánh trực tiếp. 5, Vai trò và những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ quảng cáo so sánh Ta có thể thấy, tuy quảng cáo so sánh là một hành vi nhỏ trong hệ thống pháp luật nhưng nó lại mang những điểm đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Điều đó được thể hiện qua những vai trò của hành vi quảng cáo so sánh như: Trước hết, quảng cáo so sánh là một trong những phương thức thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các hàng hóa,dịch vụ cùng loại với nhau của các thương nhân để từ đó tạo nên sự phát triển trong cả nền kinh tế, dịch vụ hàng hoá. Thứ hai, quảng cáo so sánh cho phép thương nhân chứng minh một cách khách quan sự xứng đáng của sản phẩm mà họ có; không những vậy, quảng cáo so sánh vừa tạo ra một hệ thống thông tin phong phú và đặc sắc cho người tiêu dùng vừa góp phần làm nên những “nhà tiêu dùng thông thái” trong nền kinh tế thị trường. Thứ ba, quảng cáo so sánh phát huy chức năng của cạnh tranh trong nền kinh tế. Và cũng thông qua sự thúc đẩy cạnh tranh của quảng cáo so sánh, quyền lợi của người tiêu dùng sẽ ngày càng được bảo vệ tốt hơn, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bảo vệ người tiêu dùng hơn nữa. Thứ tư, quảng cáo so sánh góp phần thúc đẩy tốc độ phát triển của thương mại và môi trường kinh doanh. Bên cạnh những vai trò trên thì quảng cáo so sánh cũng gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực như sau: Quảng cáo so sánh gây ra những bất lợi cho thương nhân hoặc hàng hoá,dịch vụ của thương nhân được so sánh. Ảnh hưởng này được xem xét dưới góc độ những quảng cáo so sánh trung thực, không vi phạm pháp luật. Các thương nhân lợi dụng quảng cáo so sánh để quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Những biểu hiện của hành vi này có thể đề cập đến như: quảng cáo so sánh sai sự thật, gây nhầm lẫn, không khách quan,… Qua đó, ta nhận thấy rằng: Quảng cáo so sánh là vấn đề khá phức tạp bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng chứa đựng nhiều nội dung cần điều chỉnh và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, cũng phải công nhận rằng quảng cáo so sánh sẽ luôn giữ vững được vai trò vốn có của mình là một phương thức xúc tiến thương mại hữu hiệu, một công cụ đắc lực cho thương nhân trên thương trường. 6, Quảng cáo so sánh theo Luật quảng cáo 2012 có hiệu lực ngày 112013. Như ta đã biết Luật quảng cáo sắp có hiệu lực tại Khoản 10 Điều 8 Luật quảng cáo năm 2012 quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo: “10. Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.” Như vậy có thể thấy rằng luật quảng cáo cũng đã quy định cấm quảng cáo so sánh trên 2 điều kiện: thứ nhất, trực tiếp trên các phương diện như so sánh về giá cả; so sánh chất lượng tốt hơn hay tốt nhất; hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và thứ hai, quảng cáo đó phải trực tiếp so sánh với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
Xem thêm

Đọc thêm

Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận từ thực tiễn thành phố Hà Nội

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tư pháp có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm duy trì và bảo vệ công lý và trật tự pháp luật, góp phần bảo vệ các thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Công tác tư pháp có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bởi vậy hệ thống các cơ quan tư pháp được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo hiệu quả cho công tác tư pháp trong đó có phòng Tư pháp. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật [1, tr.13]. Trong những năm gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi cải cách tư pháp, tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận trong đó có phòng Tư pháp trên địa bàn Hà Nội đã có những thay đổi để làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, thực trạng tổ chức và hoạt động đó còn chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, còn bộc lộ một số hạn chế như hiệu quả thực hiện một số mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của phòng Tư pháp quận chưa cao, trong tổ chức bộ máy phòng Tư pháp ở quận chưa phát huy hết khả năng của cán bộ, công chức làm công tác tư pháp. Bởi vậy, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động phòng Tư pháp quận cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó là rất cần thiết, giúp cho chúng ta thấy được những mặt ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong quản lý nhà nước.Trên cơ sở đó xác định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay.Mặt khác, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận với tư cách một vấn đề khoa học. Với lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quậntừ thực tiễn thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc s luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận đang được coi là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả tại nhiều diễn đàn. Vấn đề này đã và đang được đề cập tới trong nhiều nguồn thông tin khác nhau. Chúng tôi xin dẫn ra một số công trình khoa học của các cá nhân, các nhóm tác giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn: "Công tác tư pháp hộ tịch ở cấp xã những vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Hữu Đính, năm 2008. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập tới những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác tư pháp ở cấp hành chính là cấp xã, nêu ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả công tác tư pháp hộ tịch cấp xã; "Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật", TS.Trương Đắc Linh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003. Tác giả đề cập tới vai trò của chính quyền địa phương trong bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, nêu ra những giải pháp để bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn gắn với phát huy vai trò của chính quyền cơ sở.
Xem thêm

Đọc thêm

báo cáo thực tập tại Công ty Cổ phần Việt Nhật

báo cáo thực tập tại Công ty Cổ phần Việt Nhật

LỜI MỞ ĐẦU Công ty Cổ phần Việt Nhật là công ty chuyên về sản xuất và phân phối đồ uống không cồn, nước khoáng với đầy đủ tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo an toàn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công ty đã khá thành công trong hoạt động kinh doanh thương mại của mình, song cũng phải chịu sự tác động của rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Để mở rộng tầm hiểu biết của bản thân về thực tiễn thực hiện pháp luật em đã xin được thực tập tại công ty. Trong quá trình thực tập tại công ty, em đã có cơ hội được tiếp cận về các văn bản pháp luật tác động trực tiếp đến hoạt động của công ty và có cơ hội được nhận xét đánh giá về việc thực hiện pháp luật của công ty. Trên nền tảng những kiến thức đã được đào tạo trong nhà trường cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong công ty và sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, bản báo cáo thực tập này đã nêu ra được một số vấn đề như sau: - Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Việt Nhật. - Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty. - Thực trạng thực hiện các quy định của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt động kinh doanh của công ty. - Đánh giá chung về thực trạng thực hiện và những tác động của hệ thống các văn bản pháp luật đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. - Những vấn đề đặt ra cần giải quyết. - Đề xuất đềtài khóa luận. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị trong Công ty Cổ phần Việt Nhật đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại công ty và Th.s Phạm Minh Quốc là giảng viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài báo cáo này. Nhờ có sự giúp đỡ và hướng dẫn đó, em đã có thêm nhiều hiểu biết về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ảnh hưởng tới hoạt động của công ty cũng như việc áp dụng những quy định đó trong thực tiễn. Do một số hạn chế trong quá trình làm bài và kiến thức chưa đủ sâu rộng nên bài báo cáo khó tránh khỏi nhiều thiếu sót, kính mong các thầy cô chỉ bảo và góp ý chỉnh sửa để bài được hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn!
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong chính sách đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước. Sau 30 năm đổi mới và sau 10 năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), quá trình hội nhập của Việt Nam đã diễn ra ngày càng sâu rộng và có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh tế càng trở nên mạnh mẽ hơn với việc ký kết và thực hiện các Hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới, không chỉ nhằm mở cửa thị trường mà còn là bước đi quan trọng khẳng định cam kết của Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Tiến trình này đã tác động đến thể chế hải quan với vai trò là lực lượng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ quan hải quan đứng trước yêu cầu thông quan nhanh hàng hóa để tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời vẫn phải đảm bảo quản lý chặt chẽ chính sách chế độ, chống gian lận thương mại, bảo vệ sản xuất nội địa và không để thất thu thuế. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm đổi mới, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp. Phát biểu tại Diễn đàn phát triển Việt Nam 2016 (VDF 2016), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Chính phủ xây dựng hệ thống hành chính quốc gia thống nhất, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu lực, hiệu quả, chất lượng, công tác quản lý nhà nước, với giải pháp tập trung cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về đầu tư, kinh doanh [43]... Những yêu cầu của hội nhập kinh tế và cải cách thủ tục hành chính đã và đang có những tác động đòi hỏi sự hoàn thiện của thể chế hải quan hiện đại mà trước hết là các quy định pháp luật về hải quan để tạo cơ chế pháp lý cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được hoạt động thuận lợi, bình đẳng, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Một trong những nội dung đáp ứng đòi hỏi này là hoàn thiện pháp luật về kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), nhằm đảm bảo thủ tục hải quan thông thoáng tại cửa khẩu, thông quan nhanh chóng cho hàng hóa xuất nhập khẩu và chuyển thời hiệu, mở rộng phạm vi và đối tượng kiểm tra khi hàng hóa đã thông quan. Pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam được hình thành và phát triển kể từ khi Luật Hải quan 2001 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2002. Qua 15 năm thực hiện, KTSTQ đã đem lại hiệu quả tích cực cho hoạt động của Ngành Hải quan, góp phần chống gian lận thương mại hiệu quả toàn diện hơn mà vẫn giải phóng hàng nhanh; đồng thời, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, truy thu hàng ngàn tỷ đồng từ công tác KTSTQ.... Tuy nhiên, pháp luật về KTSTQ cũng đang thể hiện nhiều hạn chế cần được hoàn thiện nhằm đảm bảo môi trường pháp lý cho Hải quan Việt Nam tổ chức và triển khai hoạt động KTSTQ. Một số nội dung quy định của pháp luật về KTSTQ còn chưa phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế về KTSTQ; thiếu đồng bộ giữa các văn bản Luật, giữa văn bản luật và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành; còn thiếu vắng những quy định về trách nhiệm của cán bộ công chức hải quan ở khâu thông quan đối với những sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm tra sau thông quan; về các ưu đãi hải quan trong trường hợp người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật, quy định về KTSTQ đối với một số loại hình liên quan chính sách thương mại và số thuế khai báo; về KTSTQ trong thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lý luận pháp luật về KTSTQ còn nhiều hạn chế. Ở phạm vi nghiên cứu khoa học luật, khái niệm KTSTQ cũng như pháp luật về KTSTQ còn là vấn đề mới, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu nên chưa hình thành được hệ thống tư duy đầy đủ, vững chắc của pháp luật về KTSTQ.
Xem thêm

Đọc thêm

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là nhân tố hết sức quan trọng trong việc đảm bảo điều kiện lao động an toàn, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giúp cho doanh nghiệp khai thác đá xây dựng hoạt động hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội, môi trường bền vững. 2. Nội dung quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng: 1) Xây dựng, hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; 2) Xây dựng, hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch khai thác gắn với an toàn, vệ sinh lao động và tiết kiệm nguồn tài nguyên đá xây dựng; 3)Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; 4) Tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến và giáo dục về an toàn, vệ sinh lao động; 5) Tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn, vệ sinh lao động. 3. Những hạn chế cơ bản của công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng: 1) Quy hoạch, kế hoạch khai thác đá xây dựng gắn với an toàn, vệ sinh lao động chưa tốt; 2) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong khai thác đá xây dựng còn nhiều và nghiêm trọng; 3) Sử dụng tài nguyên còn lãng phí; 4) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng chưa phù hợp và kém hiệu quả; 5) Chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng thấp; 6) Tuyên truyền, huấn luyện chưa hiệu quả; 7) Thanh tra, kiểm tra còn ít và xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm... 4. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng ở Việt Nam: 1) Đổi mới và hoàn thiện mô hình, hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý an toàn, vệ sinh lao động; 2) Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp khai thác đá xây dựng gắn kết chặt chẽ hiệu quả với an toàn, vệ sinh lao động của doanh nghiệp; 3) Bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; 4) Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện; nâng cao nhận thức cho các cấp, cách ngành về sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; 5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về an toàn, vệ sinh lao động đối với các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng; 6) Các giải pháp khác: Công nghệ, thiết bị, vốn, đánh giá rủi ro, văn hóa phòng ngừa, khen thưởng kỷ luật
Xem thêm

28 Đọc thêm

Luận án tiến sĩ kinh tế quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng ở việt nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là nhân tố hết sức quan trọng trong việc đảm bảo điều kiện lao động an toàn, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giúp cho doanh nghiệp khai thác đá xây dựng hoạt động hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội, môi trường bền vững. 2. Nội dung quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng: 1) Xây dựng, hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; 2) Xây dựng, hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch khai thác gắn với an toàn, vệ sinh lao động và tiết kiệm nguồn tài nguyên đá xây dựng; 3)Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; 4) Tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến và giáo dục về an toàn, vệ sinh lao động; 5) Tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn, vệ sinh lao động. 3. Những hạn chế cơ bản của công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng: 1) Quy hoạch, kế hoạch khai thác đá xây dựng gắn với an toàn, vệ sinh lao động chưa tốt; 2) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong khai thác đá xây dựng còn nhiều và nghiêm trọng; 3) Sử dụng tài nguyên còn lãng phí; 4) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng chưa phù hợp và kém hiệu quả; 5) Chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp khai thác đá xây dựng thấp; 6) Tuyên truyền, huấn luyện chưa hiệu quả; 7) Thanh tra, kiểm tra còn ít và xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm... 4. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng ở Việt Nam: 1) Đổi mới và hoàn thiện mô hình, hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý an toàn, vệ sinh lao động; 2) Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp khai thác đá xây dựng gắn kết chặt chẽ hiệu quả với an toàn, vệ sinh lao động của doanh nghiệp; 3) Bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; 4) Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện; nâng cao nhận thức cho các cấp, cách ngành về sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; 5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về an toàn, vệ sinh lao động đối với các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng; 6) Các giải pháp khác: Công nghệ, thiết bị, vốn, đánh giá rủi ro, văn hóa phòng ngừa, khen thưởng kỷ luật
Xem thêm

184 Đọc thêm

Vấn đề áp dụng pháp luật đấu thầu xây lắp tại Công ty Xây dựng Lắp máy Điện Nước Hà nội

VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẤU THẦU XÂY LẮP TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC HÀ NỘI

Cùng với sự phát triển liên tục của nền kinh tế, quy mô hoạt động xây dựng của nước ta ngày càng được mở rộng, thị trường xây dựng ngày càng trở lên sôi động. Những năm gần đây ngành xây dựng nước ta đã phát triển rất mạnh và trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ, về quy mô, số lượng, chất lượng, chủng loại trong mọi lĩnh vực, mọi chuyên ngành từ xây dựng các cơ sở hạ tầng như: đường sắt, cầu cống, sân bay, hầm mỏ, đê đập, hồ chứa, trường học, bệnh viện... Có thể thấy ở mọi nơi từ đô thị đến nông thôn, đâu đâu trên đất nước ta cũng có những công trường và công trình xây dựng. Đất nước trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá thì ngành xây dựng còn phát triển không ngừng và ngày càng lớn mạnh. Có thể nói hơn 15 năm thực hiện đường lối của Đảng, ngành xây dựng đã góp phần xứng đáng làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Bằng sự hợp tác quốc tế và sự nỗ lực của chính mình, chúng ta đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm, áp dụng nhiều công nghệ mới; trình độ lập quy hoạch, thiết kế kiến trúc và quản lý xây dựng được nâng lên rõ rệt, từng bước tạo ra các điều kiện và yếu tố để hội nhập với các nước trên khu vực và thế giới. Với mục đích tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến hoạt động đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành hàng loạt các văn bản nhằm thống nhất quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế. Hoạt động xây dựng cơ bản cũng vậy, nó bị bó buộc bởi các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được độc lập tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư xây dựng cũng vì thế mà thông thoáng hơn. Để sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư của xã hội, đáp ứng những đòi hỏi về tiến độ thi công, cũng như nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm của các bên trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phát huy tối đa vai trò tự chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nhiệp xây dựng, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản đã xuất hiện phương thức mới: Đấu thầu. Phương thức đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, là hình thức thể hiện tính cạnh tranh trên thị trường xây dựng. Phương thức đấu thầu là phương pháp tiên tiến hiện nay, nhằm chống lãng phí, thất thoát tiền của và tiêu cực trong xã hội, bởi vậy đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng từ lâu, được thể hiện bằng Luật đấu thầu FIDIC hay còn gọi là “ Điều kiện hợp đồng thi công các công trình xây dựng dân dụng’’ do Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn soạn thảo và được ban hành từ năm 1982, đến năm 1986 có bổ sung sửa đổi. Nội dung và kết cấu của Luật FIDIC rất chặt chẽ, có thể coi là Luật chuẩn của thế giới trong việc đấu thầu hiện nay. Ở nước ta, tuy chưa hình thành Luật đấu thầu, nhưng những văn bản liên quan đến đấu thầu thì được Nhà nước rất quan tâm nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn. Điều đó thể hiện ở chỗ: Hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước theo hướng ngày càng giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nhiệp. Đầu tiên là Quy chế đấu thầu xây lắp được ban hành năm 1991 dưới hình thức Quyết định số 24 BXDVKT của Bộ trưởng Bộ xây dựng và được thay thế bằng Quyết định 60BXDVKT năm 1994. Năm 1996 Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định 43CP văn bản này có tính pháp lý cao hơn và phạm vi điều chỉnh rộng hơn. Năm 1999 Nghị định 43CP được thay thế bằng Nghị định 88CP. Ngày 552000, Nghị định này được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 14CP. Đến nay công tác đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghị định 88CP và Nghị định 14CP. Công tác quản lý Nhà nước về đấu thầu trong xây dựng ngày càng hoàn thiện phù hợp dần với thông lệ quốc tế, đã thể hiện một sự nỗ lực, cố gắng lớn của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, do phương thức đấu thầu được áp dụng ở nước ta không lâu, cho nên những văn bản pháp lý liên quan đến công tác dấu thầu vẫn bộc lộ nhiều hạn chế thiếu sót. Nhưng sự ra đời của Dự thảo lần 6 (dự thảo mới nhất) Pháp lệnh đấu thầu đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện để trình Chính phủ và Dự thảo Luật Xây dựng tháng 2 2003 với những quy định cụ thể và thống nhất hoạt động xây dựng nói chung và hoạt động đấu thầu nói riêng đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công tác đấu thầu. Điều đó chứng tỏ sự quyết tâm đẩy mạnh việc thực hiện công tác đấu thầu ở Việt Nam và khẳng định đây là hình thức không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của nước ta. Nhận thức rõ được ý nghĩa của vấn đề nêu trên, với mong muốn hiểu sâu hơn về phương thức đấu thầu các dự án trong nước và quốc tế và qua quá trình thực tập tại Công ty Xây dựng Lắp máy Điện Nước Hà nội, bài Luận văn này đi sâu nghiên cứu đề tài : “ Vấn đề áp dụng pháp luật đấu thầu xây lắp tại Công ty Xây dựng Lắp máy Điện Nước Hà nội’’. Về mặt kết cấu, ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì Chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề pháp lý chung về đấu thầu và đấu thầu xây lắp. Chương 2: Áp dụng pháp luật đấu thầu xây lắp tại Công ty Xây dựng Lắp máy Điện Nước Hà nội. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp lý về đấu thầu xây lắp .
Xem thêm

104 Đọc thêm

Bình luận quy định của pháp luật việt nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài

BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài Hiện nay, trọng tài quốc tế đã trở thành một phương thức phổ biến trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, đặc biệt là các tranh chấp thương mại quốc tế. Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp tư, được lựa chọn bởi các bên tranh chấp như là một phương thức hiệu quả làm chấm dứt tranh chấp giữa họ mà không cầu viện đến tòa án. Thỏa thuận trọng tài là “nền móng” của tố tụng trọng tài. Đây là yếu tố không thể thiếu giữa các bên nếu muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại. Nói cách khác, sẽ không có tố tụng trọng tài nếu không có Thỏa thuận trọng tài1. Luật Trọng tài Thương mại 2010 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh và bổ sung những quy định mới, hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm quyền tự định đoạt của các doanh nhân trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp2, đặc biệt cũng có những sửa đổi bổ sung liên quan tới thỏa thuận trọng tài. Bài học kì dưới đây sẽ: “Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài”.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN, bồi DƯỠNG NGHIỆP vụ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY và cứu nạn, cứu hộ

TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN, bồi DƯỠNG NGHIỆP vụ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY và cứu nạn, cứu hộ

Luật Phòng cháy và chữa cháy (PCCC) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 22 tháng 11 năm 2013. Luật PCCC và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC ban hành nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước và đề cao trách nhiệm của toàn dân đối với hoạt động PCCC; bảo đảm an ninh và trật tự xã hội. Để góp phần đưa Luật PCCC vào cuộc sống có hiệu quả, Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật PCCC và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC.Tài liệu tập huấn phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Dùng cho các nhà trường và cơ sở giáo dục) do Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy TP Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo biên soạn là tài liệu bổ ích cho các nhà trường, cơ sở giáo dục đào tạo và những người quan tâm tìm hiểu, tra cứu về công tác phòng cháy và chữa cháy.Nội dung tài liệu gồm: Phần I: Các văn bản quy phạm pháp luật và tính chất, nguyên tắc của công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Phần II: Thực trạng công tác PCCC và các biện pháp đảm bảo an toàn PCCC trong các Trường học, cơ sở giáo dục đào tạo. Phần III: Các hành vi vi phạm an toàn PCCC thường gặp Phần IV: Kiến thức cơ bản về PCCC Phần V: Kiến thức chung về an toàn PCCC Phần VI: Một số trang thiết bị PCCC cơ bản Phần VII: Kiến thức cơ bản về sơ cấp cứu người bị nạnTài liệu tập trung đi sâu vào những nội dung thiết thực hướng dẫn người đứng đầu, lực lượng PCCC các nhà trường, cơ sở giáo dục đào tạo vận dụng triển khai thực hiện những nội dung cơ bản có liên quan đã được quy định trong Luật PCCC và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC; những văn bản hướng dẫn thi hành … Tuy nhiên, tài liệu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và những hạn chế, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của các cơ quan và bạn đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất Bài tập học kỳ Luật Hành chính Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước. Việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, chức năng, địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ giúp chúng ta phân biệt chúng với các cơ quan Nhà nước khác và để thấy được vì sao cơ quan hành chính Nhà nước lại là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước. Do đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích khái niêm, đặc điểm của các cơ quan hành chính Nhà nước. Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất”. NỘI DUNG I – KHÁI NIỆM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Định nghĩa Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổchức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. 2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước 2.1. Đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, các biện pháp cưỡng chế nhà nước và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng. Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện A kí hợp đồng xây mới trụ sở ủy ban nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch ủy ban nhân dân là người kí kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, …. Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện quyền lực theo nguyên tắc: Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phối hợp giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giống như cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; có quyền thực hiện các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế; có quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm… Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008. 2.2. Đặc điểm đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước. (hoạt động chấp hànhđiều hành). Hoạt động chấp hànhđiều hành được hiểu là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và áp dụng luật vào thực tế đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.Đây là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan nhà nước.Các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hoàn thành chức năng cơ bản của mình.Ví dụ: Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm ông Trần Quốc Vương vào chức viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động này nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của hệ thống tư pháp nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tốt hơn… Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở và tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, sau đó là các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp.Giữa các cơ quan hành chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng cơ quan hành chính cấp trên.Ví dụ: Bộ và cơ quan ngang bộ phải chịu sự quản lý của Chính phủ. Chính phủ lãnh đạo công tác của bộ và cơ quan ngang bộ, quy định về cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp thực hiện của bộ và cơ quan ngang bộ. Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Chính phủ có thẩm quyền chung đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong nước. Ủy ban nhân dân các cấp chỉcó thẩm quyền trong phạm viđịa phương mà mình quản lý. Ví dụ: Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà mình quản lý, nếu ra ngoài phạm vi của mình quản lý thì quyết định đó không còn hiệu lực. Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra. Ví dụ: Quốc hội trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ tướng chính phủ, phê chuẩn đề nghị của thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra… Mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực. Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo, các bệnh viện trực thuộc Bộ y tế; các tổng công ty, công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công thương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải…Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, bảo đảm công bằng, vì lợi ích chung của xã hội. II – CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THỂ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT 1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan chức năng khác nhau và cơ quan chức năng của cơ quan hành chính nhà nước được xác định là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành điều hành).Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý thường xuyên trên mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý của nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về xã hội…. thông qua các hình thức được pháp luật quy định. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính khác nhau. Đó có thể là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc cũng có thể là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn có chức năng quản lý hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong một phạm vi rất hẹp khi cần thiết, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng công tố và kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… và việc thực hiện hoạt động đó nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước. Các cán bộ nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, liên tục trong nhiệm kì công tác của họ. Nhưng hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà họ đang công tác, không thể có chuyện cán bộ có quyền độc lập, vượt quá thẩm quyền pháp luật quy định cho cơ quan họ đang công tác. Một số cá nhân và tổ chức cũng được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng họ chỉ được trao quyền ấy trong một số trường hợp cụ thể, như cơ trưởng máy bay khi đang bay, thuyền trưởng tàu, thuyền đang hoạt động trên biển… 2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất Các quan hệ thuộc phạm vi quản lí hành chính được chia thành 3 nhóm cơ bản sau: + Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhóm quan hệ thứ nhất.Bởi lẽ đây là nhóm quan hệ khá phong phú, diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó, cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.Ví dụ: Trong khi Quốc hộicơ quan quyền lực nhà nước cao nhất họp một năm hai kì (Luật tổ chức Quốc hội 2001) để ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, luật và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thì Chính phủcơ quan hành chính nhà nước cao nhất họp thường kì mỗi tháng một lần (Luật tổ chức Chỉnh phủ 2001) để giải quyết những vấn đề phát sinh đang xảy ra hàng ngày trong thực tiễn đời sống xã hội. Đó là những hoạt động quản lí của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (như Chính phủ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (như Chính phủ với Bộ công an) hay với cơ quan chuyên môn trực thuộc của nó; của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương đó (như Ủy ban nhân dân quận Đống Đa với Trường Học Viện hành chính); của cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc (như Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật Hà Nội); của cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội, kinh tế; và hoạt động quản lí của cơ quan hành chính với công dân người nước ngoài, người không quốc tịch (như giữa cơ quan có thẩm giải quyết khiếu nại với người khiếu nại)....Các hoạt động quản lí nhà nước nêu trên luôn diễn ra hàng ngày hàng giờ, để đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên để xây dựng đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Hơn nữa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân) có sự thống nhất c hặt chẽ với nhau, lại được trao trong tay quyền hành pháp nên đương nhiên là chủ thể quản lí hành chính thường xuyên nhất. Đối với nhóm quan hệ thứ 2, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình ví dụ như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức...Hoạt động này chỉ tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình. Nhóm quan hệ thứ 3 cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong một số trường hợp pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan nhà nước khác, hay các tổ chức cá nhân...nhưng đây không phải là hoạt động quản lí hành chính nhà nước thường xuyên mà chỉ khi được pháp luật quy định. Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo ( Điều 39 Luật xử lí vi phạm hành chính). 3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay gồm có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ). + Ủy ban nhân dân các cấp: + UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là cấp tỉnh) + UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (hiện nay có 48 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 quận, 46 thị xã và 556 huyện – gọi chung là cấp huyện) + UBND xã, phường, thị trấn (hiện nay có 1366 phường, 625 thị trấn, 9121 xã gọi chung là cấp xã) Bên cạnh đó, để giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình còn có một đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước. 4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước Các hình thức quản lí hành chính nhà nước bao gồm: Hình thức mang tính chất pháp lí: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý. Hình thức không mang tính pháp lý: áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có quyền năng thực hiện tất cả các hình thức quản lý trên. Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành chứa những quy định mang tính khái quát cao. Trong khi hoạt động quản lí hành chính nhà nước bao hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, rất rộng lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ cụ thể hóa thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: Chính phủ được ban hành nghị quyết (như nghị quyết Nghị quyết số 13NQCP của Chính phủ : Về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường), nghị định (Nghị định 1292013NĐCP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế); bộ trưởng được ban hành thông tư (Thông tư 092013TTBTC của Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của quản lí thị trường); ủy ban nhân dân được ban hành quyết định, chỉ thị (Quyết định số 212011QĐUBND của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai). Về hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: chủ tịch ủy ban nhân dân được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về hoạt động khác mang tính chất pháp lý: áp dụng các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật; đăng kí những sự kiện nhất định; lập và cấp một số giấy tờ nhất định. Ví dụ: ủy ban nhân dân xã cấp giấy đăng kí khai sinh, giấy đăng kí kết hôn,... Về áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp: đảm bảo sự kết hợp đúng đắn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách trong hoạt động của Chính phủ, ủy ban nhân dân; chuẩn bị và tiến hành các phiên họp của Chính phủ,... Về thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật: chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành nghị định, làm báo cáo, công tác lưu trữ hồ sơ,...Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) không ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, không thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý. Cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát tuy cũng thực hiện các hình thức trên nhưng không nhiều như cơ quan hành chính nhà nước và chủ yếu để thực hiện chức năng chính của các cơ quan đó (xét xử, kiểm sát). Chẳng hạn, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất hạn chế, chỉ được quy định cho Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và văn bản do các chủ thể này ban hành cũng rất hạn chế, thường là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. KẾT LUẬN Tóm lại, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước, là chủ thể quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lí hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, về cơ cấu tổ chức, xác định mục tiêu, về đội ngũ cán bộ, công chức…, các cơ quan này còn có những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lí. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tích cực đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải cách cơ cấu tổ chức của các cơ quan này, đồng thời mỗi người dân cũng có ý thức tham gia hoạt động quản lý ở địa phương một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài..
Xem thêm

Đọc thêm

Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Quảng Trị Hiện Nay

Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Quảng Trị Hiện Nay

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 111 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỞ ĐÂU ..................................................................................................... .. 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TÍNH ....................................................... .. 7 1.1. Khái niệm, vai trò của hoạt động giám Sát của HĐND cấp tính ............ ..7 1.2. Hìnhthức và nội dung hoạt động giám Sát của HĐND tỉnh ................ .. 15 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tính24 Chương 2: HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND TỈNH QUẢNG TRỊ THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ................................... .. 29 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ cấu tổ chức của HĐND ảnh hưởng đến hoạt động giám Sát của Hội đồng nhân dân tỉnh ........................ .. 29 2.2 Kết quá, hạn chế trong hoạt động giám Sát của HĐND tỉnh Quảng Trị.. 38 2.3. Nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt ra ..................... ..59 Chương 3: NHUNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND TỈNH QUẢNG TRỊ ................................................... ..70 3.1. Các giải pháp CƠ bản tăng cường hoạt động giám Sát của HĐND ........ .. 70 3.2. Mộtsố kiến nghị ................................................................................. ..89 KẾT LUẬN ............................................................................................... ..97 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC l.Tính cấp thiết của đề tài Giám sát là một chức năng theo luật dinh, tức là Hội đồng nhân dân (HĐND) có trách nhiệm và quyền hạn được đảm bảo bởi những phương thức hoạt động và công cụ đặc thù, hiệu quả hoạt động giám sát thể hiện vi thế của HĐND và đại biểu HĐND trong việc thực hiện chức, năng nhiệm vụ của mình. Hoạt động giám sát của HĐND là nhằm đánh giá hiệu quả, năng lực chỉ đạo, điều hành và hoạt động của chính quyền địa phương trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND và chấp hành các quy định của pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội, đơn vi vũ trang và của công dân. Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND. Hoạt động giám sát của HĐND bắt nguồn từ tính quyền lực nhà nước và tính đại diện của HĐND. Thực hiện tốt chức năng giám sát không những cho phép HĐND kiềm tra, đánh giá hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc tuân thủ Hiển pháp, pháp luật, các nghị quyết của HĐND, mà còn cho phép HĐND phát hiện được sự không phù họp, thiếu thực tế của nghị quyết do HĐND ban hành để sửa đổi, bổ sung. Ket quả giám sát là căn cứ để HĐND thực hiện quyền bãi miễn, miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt do HĐND bầu, đồng thời là căn cứ để HĐND bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp, những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp. Sau giám sát, HĐND đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù họp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không ngừng cải thiện đòi sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Những năm qua, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị đã góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, xã hội; góp phần duy trì, bảo đảm trật tự toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên địa bàn. 2 Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã giành được, HĐND tỉnh đang đứng trước những khó khăn, thách thức trong việc đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng mới. Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế cả về nội dung cũng như hình thức giám sát, vi vậy chưa đáp ứng đầy đủ sự mong muốn của cử tri. Hoạt động này vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao; tình trạng né tránh, nể nang, ngại va chạm của một số đại biểu HĐND đang còn phổ biến, chưa được khắc phục, trách nhiệm của người đại biểu, của các đoàn giám sát chưa cao trong quá trình tiến hành giám sát. Vi vậy, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương ở tỉnh Quảng Trị. HĐND được nhân dân ủy quyền thay mặt nhân dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, nhưng trong thực tế hiệu lực và hiệu quả giám sát của HĐND còn thấp. Nhân dân địa phương còn hoài nghi về tính thực quyền của HĐND nhất là tính hiệu lực và hiệu quả giải quyết các kiến nghị sau giám sát của HĐND. Vai trò của một số đại biểu còn mờ nhạt, chưa thực sự là người đại diện đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương. De tránh khả năng sai phạm và sự tùy tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, không có cách nào khác hơn là phải tăng cường kiểm soát quyền lực, nhất lả trong điều kiện chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền. Mặt khác, tỉnh Quảng Trị thuộc diện một trong mười tỉnh, thành của cả nước thực hiện chủ trương của Nhà nước về thí điểm bỏ HĐND huyện, phường do đó, nó có ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh. Sau khi tiếp cận những lý luận cơ bản về nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước thuộc chuyên ngành Chính trị học, trên cơ sở tình hình hoạt động giám sát của HĐND ở tỉnh Quảng Trị thời gian qua, đề tài “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị hiện nay” di sâu nghiên 3 cứu về lĩnh vực giám sát của HĐND tỉnh với tu cách là chức năng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với vai trò của HĐND trong việc thực thi quyền lực nhà nuớc ở địa phuong. 2. Tình nghiên cứu liên quan đến đề tài Với vai trò và vi trí của HĐND nói chung và hoạt động giám sát nói riêng, nên đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học có các công trình nghiên cứu, các bài viết về giám sát duới những khia cạnh khác nhau nhu: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) Những vẩn đề về Hien phap và sửa đổi Hien pháp, NXB Dân trí, 2013. Cuốn sách gồm nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng viên Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung các bài viết tập trung vào những vấn đề liên quan đến sửa đổi Hiển pháp năm 1992. Các tác giả di sâu nghiên cứu, phân tích từng vấn đề co bản của Hiến pháp quy định về tổ chức bộ máy nhà nuoc, tổ chức kiểm soát quyền lực nhà nuoc; giới hạn quyền lực nhà nuoc w... Nguyễn Sỹ Dũng Quyen giám sát của Quốc hội nội dung và thực tiễn, NXB Tu pháp, Hà Nội 2004. Nguyễn Nam Hà Chat lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Su thật, Hà Nội 2013. Cuốn sách di sâu nghiên cứu về quá trình phát triển và chất luong hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đồng thòi đua ra các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất luong hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh theo yêu cầu của Nhà nuoc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuốn sách: Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới giới NXB Chính trị quốc gia, năm 2001 do Nguyễn Văn Kim chủ biên. 4 Sách do nhiều tác giả công tác tại Thanh tra nhà nước lược dịch và biên soạn. Nội dung các bài viết nhằm cung cấp tài liệu tham khảo kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tác thanh tra, giám sát của một số nước trên thế giới để công tác thanh tra, giám sát phát huy hon nữa nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Ngoài ra, còn có một số sách, bài viết của một số tác giả như: Nguyễn Như Du Hoạt động giám sát của Quốc hội và cuộc sống, Tạp chỉ Van hóa và tư tưởng số 12 2002 tr 19 22. Trương Quang Được Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, chống thất thoát trong xây dựng cơ bản, Tạp chí Cộng sản sổ 7, 2005, tr 36. Phạm Ngọc Kỳ (2007), Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản, NXB Tư pháp, Hà Nội. Nguyễn Văn Mạnh: “Tăng cường hoạt động giám sat của Quốc hội nước ta ”, đề tài khoa học cấp Bộ năm 2000 2001 Nguyễn Đình Quyền Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò giám sát nhà nước của nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lậppháp sổ 5 675, tháng 6 2006, tr 3 8. Đỗ Đình Tân Viện Chính trị học HVCTHCQGHCM vấn đề nhân dân giám sát đại biểu dân cử, NXB Chính trị Quốc gia 2008. Sách: “Giám sat và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện n a y của tập thể tác giả do Đào Trí úc và Võ Khánh Vinh đồng chủ biên (2003). Hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập các quan điểm và phương pháp nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội, của HĐND ở nước ta và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Thụy Điển...Các tác giả tiếp cận giám sát dưới góc độ quyền lực giám sát của nhân dân đối với các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử cũng như nghiên cứu 5 phương pháp tổ chức giám sát một số lĩnh vực cụ thể như xây dựng cơ bản, đánh giá đầu tư... Các công trình nghiên cứu đó có ý nghĩa phương pháp luận nhằm vận dụng nghiên cứu lĩnh vực giám sát của HĐND các cấp. 3. Mụ• c đích và nhiệ• m vu• của đề tài Trên cơ sở làm rõ lý luận về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua, luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động giám sát của HĐND tỉnh trong thời gian tới. Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: 1 Nghiên cứu làm rõ co sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND. 2 Phân tích và làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị hiện nay. 3 Đề xuất những giải pháp, kien nghị nhằm tăng cường hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị trong những năm tới. 2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Luận văn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Tri. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Trị từ năm 2004 (nhiệm kỳ V) den nay (nhiệm kỳ VI). 3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác Lenin, kết hợp sử dụng các phương pháp: lịch sử lô gich; phân tích, tổng hợp; khảo sát thực tế, đối chiếu, so sánh... trong quá trình thực hiện đề tài. 6 6. Đóng góp của đề tài 3 Cung cấp cơ sở phương pháp luận, giúp cán bộ, công chức trong các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước nhìn nhận đúng đắn về vai trò và vi trí pháp lý của HĐND cũng như chức năng giám sát trong việc kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương. 4 Góp phần tăng cường hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát của HĐND tỉnh nói riêng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội bảo đảm trật tự kỷ cương, tạo sự công bằng xã hội ở địa phương. 5 De tài có giá trị làm tư liệu tham khảo đối với đội ngũ làm công tác chuyên trách trong các co quan chuyên môn của HĐND. De tài cũng là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở Trường Chính trị Lê Duẩn Quảng Trị trong chương trình Bồi dưỡng chuyên viên, chuyên viên chính và Trung cấp lý luận chính trị hành chính. 7. Ket cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu 3 chương, 9 tiết với 97 trang. 7 Chương 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH LL KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỎNG NHÂN DÂN CÁP TỈNH 1.1.1. Khai niệm giam sát, giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 1.1.1.1. Giám sát Theo Từ điển Luật học thì giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực, để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát di đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được thực hiện từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh. Giám sát có hình thức mang tính kỹ thuật, là sự quan sát theo dõi quy trình, quy phạm trong quá trình sản xuất hay trong đầu tư xây dựng, quản lý môi trường... theo những tiêu chuẩn và quy phạm kỳ thuật nghiêm ngặt. Cũng có hình thức giám sát mang tính chất kinh tể chính tri xã hội pháp luật, là sự quan sát, theo dõi về việc thực hiện các chế độ chính sách, pháp luật nhà nước, nghị quyết của co quan lãnh đạo và co quan quản lý nhà nước. Các hình thức giám sát trên có quan hệ mật thiết với nhau nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là việc “theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ” hoặc “là một quan chức thời phong kiến trông coi một công việc nhất định” 11, tr21. Trong khoa học hành chính thì, “giám sát dùng để chỉ hoạt động của các co quan quyền lực nhà nước, tòa án, các to chức xã hội và công dân nhằm bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội”. 8 Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003, tại Khoản 1 Điều 2 giải thích “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban Thuong vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của co quan, to chức, cá nhân chiu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”. Như vậy, giám sát được xem là một quyền giành cho một chủ thể có vi trí nhất đinh nhằm theo dõi, kiểm tra viec thuc hiên nhiêm vu của mot đối tượng được xác định trước. Với các quan niệm trên thì giám sát có đặc trưng sau: Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định. Chủ thể giám sát có thể là cá nhân hay to chức, có quyền theo dõi, xem xét, đánh giá một việc đã được thực hiện là đúng hay sai so với những điều quy định. Giám sát luôn gắn với đối tượng bi giám sát. Tức là phải trả lời câu hỏi, giám sát ai và giám sát việc gi. Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở quyền và nghĩa vụ của chủ thế giám sát và đối tượng chịu sự giám sát. Giám sát được tiến hành dựa trên những căn cứ nhất định. Những căn cứ này có thể là quy định của pháp luật, chính sách, nhiệm vụ... mà đổi tượng chịu sự giám sát phải thực hiện. Đây chính là co so, chuẩn mực để chủ thể thực hiện việc giám sát đưa ra những nhận xét, đánh giá về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát. 1.1.1.2. Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: HĐND thực hiện quyền giám sát đổi với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện các 9 Nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tô chức kỉnh te, tổ chức xã hội, đơn vi vũ trang nhân dân và của công dân địa phương. Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND. Trong Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã dành một chuong (Chương III) quy định về hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND. De thực hiện chức năng giám sát thì bản thân HĐND và các Ban của HĐND phải có năng lực, khả năng giám sát, có hình thức và phương pháp giám sát một cách khoa học, họp lý. Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND nhân danh nhà nước để giám sát việc chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND đối với mọi cơ quan nhà nước ở địa phương. Hoạt động giám sát của HĐND bắt nguồn từ tính quyền lực nhà nước và tính đại diện của HĐND. Hoạt động giám của HĐND nói chung và của HĐND cấp tỉnh nói riêng khác với hoạt động giám sát của các tổ chức xã hội ở tính chất quyền lực nhà nước và tính chất đại diện trong hoạt động giám sát của HĐND và những hệ quả pháp lý do hoạt động giám sát có thể dẫn đến. Hoạt động giám sát của các tổ chức xã hội chỉ mang tính tác động về mặt xã hội để gây dư luận, áp lực về mặt xã hội đối với các đối tượng chịu sự giám sát mà không mang tính nhà nước. Theo Điều 57 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, giám sát của HĐND bao gồm: Giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HDND; giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND. Chất lượng hiệu quả giám sát của HĐND tùy thuộc vào chất lượng hiệu quả các hoạt động giám sát này. 10 Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND, thông qua hoạt động giám sát chúng ta có thể kiểm chứng lại tính đúng đắn, sự phù họp về các quy dinh của pháp luật đã, đang đuợc áp dụng trong cuộc sống và những chủ trương biện pháp mà HĐND đã quyết nghị; giúp chúng ta phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc và kịp thời có những giải pháp tháo gỡ để thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động. Hoạt động giám sát còn là co sở để thực hiện công tác thẩm tra và di đến quyết định vấn đề một cách chính xác, bảo đảm các nghị quyết ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Trong Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, tuy không định nghĩa cụm từ giám sát, nhưng các nội dung trong Chương III của Luật này quy định cụ thể nội dung mà HĐND tiến hành giám sát bao gồm: giám sát tổ chức hoạt động của các CO quan do HĐND bầu ra và giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND thông qua các hình thức: xem xét báo cáo công tác của những đối tượng theo quy định pháp luật; xem xét trả lời chất vấn của những đối tượng này; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND. Giám sát của HĐND cấp tỉnh được hiểu là tổng thể các hoạt động của HĐND, TTHĐND, các ban của HĐND và các đại biểu HĐND nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, cũng như nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, từ đó đưa ra các ket luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn che, phát huy mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và ll tinh thần của nhân dân địa phuong, làm tròn nghĩa vụ của địa phuong đối với cả nuoc. Tu các vấn đề chung về giám sát trên, căn cu đối tuợng giám sát của HĐND cấp tỉnh, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND cấp tỉnh nhu sau: Gicun sát của HĐND cap tỉnh là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nham quan sát, theo d0i, kiêm tra, phat hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành nghị quyết HĐND của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cap; của cơ quan nhá nước, tổ chức kỉnh tế, tô chức xã hội, đơn vi vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương theo quy định củapháp luật. Giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động của HĐND, TTHĐND, các ban của HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nuớc, các tổ chức, các cá nhân chịu su giám sát trong việc chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nuớc cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Nhu vậy, giám sát của HĐND cấp tỉnh thực chất là hoạt động nhằm kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nuớc. Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra, trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tuợng, mọi văn bản, hồ so theo cầu giám sát. Hậu quả pháp lý sau giám sát là ban hành các văn bản kiến nghị, yêu cầu co quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nuoc, tập thể và công dân. Giám sát thể hiện trực tiếp tính đại diện cho ý chí, nguyện vọng và thực thi quyền lực của nhân dân ở địa phuong. 12 1.1.2. Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Điều 1, Luật Tổ chức HĐND và UBND cho thấy giám sát của HĐND là một công cụ đặc thù thể hiện đặc tính cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Điều này cho thấy vai trò giám sát của HĐND rất quan trọng đối với việc kiểm soát quyền lực nhà nước tại địa phương. Từ lý luận và thực tiễn có thể khẳng định rằng, kiểm soát quyền lực nhà nước không những chỉ được hiểu ở nghĩa chế ước phạm vi hoạt động của chính quyền, mà còn được hiểu ở nghĩa chính quyền phải chịu trách nhiệm về những hoạt động của các quan chức nhà nước. Vai trò quan trọng trong hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh thể hiện: Thứ nhat, đảm bảo cho HĐND tỉnh thực sự là cơ quan đại diện cho nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đạo luật cơ bản nhất của nước Cộng hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã quy định tại Điều 113 về vi trí và tính chất pháp lý của HĐND: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đây cũng là nội dung được quy định tại Điều 1, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Như vậy, HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng có 2 tính chất pháp lý cơ bản: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; và là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương. Giám sát việc tuân theo hiến pháp, pháp luật của HĐND cấp tỉnh là một trong những biện pháp cần thiết và không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Chính thông qua hoạt động giám sát của HĐND bảo đảm cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ 13 chức và công dân ở địa phương đặt dưới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhân dân địa phương, tăng cường pháp chế XHCN, đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Đây là điều kiện quan trọng bảo đảm cho quyền lực của nhân dân được thực hiện trong thực tế. Khi nào mọi hoạt động của co quan nhà nước, của cán bộ, công chức đặt dưới sự giám sát của HĐND thì khi ấy quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thứ hai, bảo đảm cho hiến pháp, pháp luật được thực hiện thống nhất, nghiêm chỉnh trong phạm vi địa phương, góp phần nâng cao năng lực lập quy của chính quyền địa phương. Việc bảo đảm cho hiến pháp, pháp luật được thực hiện đầy đủ, đúng đắn trong phạm vi địa phương là nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, trong đó hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh giữ vai trò quan trọng. Qua hoạt động giám sát, HĐND phát hiện kịp thời những việc làm sai trái của các co quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước làm thiệt hại đến lợi ích nhà nước, tập thể và công dân để yêu cầu chấm dứt hoặc đề nghị xử lý theo pháp luật. Bảo đảm tính nghiêm minh và thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hạn che và loại trừ những hanh vi vi phạm hiến pháp, pháp luật ở địa phương. Đồng thời, cũng qua hoạt động giám sát này giúp HĐND nhanh chóng phát hiện những văn bản pháp luật của co quan nhà nước ở địa phương trái với hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn...cần hủy bỏ, sửa đổi. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát góp phần nâng cao năng lực lập quy của HĐND, UBND và HĐND cấp dưới. Thông qua việc xem xét các báo cáo, xem xét các văn bản quy phạm của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới, nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, huyện, quyết định, chỉ thị của UBND các cấp, khắc phục những sai sót về thẩm quyền, thể thức, căn cứ pháp lý và nội dung văn bản theo quy định của pháp luật làm cho hoạt động lập quy của chính quyên địa phương đi vào nên nếp, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời, hoạt động giám sát có vai trò to lớn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương. Việc nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của HĐND có tác dụng trực tiep nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND, UBND, các cơ quan tư pháp, bảo đảm cho đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh tại địa phương. Thứ ha, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND nói riêng và của bộ máy nhà nước ở địa phương nói chung. HĐND có hai chức năng quan trọng là chức quyết định và chức năng giám sát. Hai chức năng này có quan hệ chặt chẽ, tác động trực tiếp lẫn nhau. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những trong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho các quyết định của HĐND được thực hiện nghiêm túc. Đồng thời, giám sát không chỉ cho phép HĐND cấp tỉnh kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà trong việc tuân thủ pháp luật, các nghị quyết của HĐND mà còn giúp HĐND cấp tỉnh phát hiện những điểm không phù hợp, thiếu thực tế trong các nghị quyết của HĐND để sửa đổi, bổ sung kịp thời. Ket quả giám sát là căn cứ để HĐND cấp tỉnh thực hiện quyền bãi nhiệ•m,7 miễn nhiệ• m các chức vu• chủ chốt do HĐND bầu hoặ• c đó là căn cứ để HĐND cấp tỉnh bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp, những nghi quyết sai trái của HĐND cấp huyện. Ngược lại, các quyết định của HĐND là cơ sở cho hoạt động giám sát được tôn trọng trên thực tê, tạo định hướng cho hoạt động giám sát tập trung vào các vấn đề cấp bách ở địa phương.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết Bài tập học kỳ Xây dựng văn bản pháp luật Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật MỞ ĐẦU Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu quản lí xã hội bằng pháp luật ngày càng cao thì yêu cầu với các văn bản pháp luật được ban hành phải hoàn thiện là điều tất yếu. Hiện nay văn bản pháp luật khi được áp dụng trên thực tế gặp không ít khó khăn khách quan và chủ quan dẫn tới những bất hợp pháp và bất hợp lý đã nảy sinh. Do đó đi cùng việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội là một hệ thống các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết. Việc xử lí các văn bản pháp luật khiếm khuyết càng trở nên quan trọng và cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trên cơ sở kiến thức tiếp nhận từ thầy cô, giáo trình và tài liệu tham khảo, với bài tập học kì môn Xây dựng văn bản pháp luật, em xin chọn đề tài “Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết” với mong muốn được hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này. Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em. NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận chung về văn bản pháp luật khiếm khuyết 1. Văn bản pháp luật khiếm khuyết: VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí và được nhà nước đảm bảo thực hiện. VBPL khiếm khuyết được hiểu là văn bản pháp luật “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Xử lí VBPL khiếm khuyết là hoạt động của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong việc ra phán quyết đối với những văn bản pháp luật khiếm khuyết. Các hình thức xử lí VBPL khiếm khuyết bao gồm: biện pháp hủy bỏ, biện pháp bãi bỏ, đình chỉ thi hành, tạm đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung. 2. Những khiếm khuyết của VBPL: Trên cơ sở những yêu cầu về chất lượng của VBPL (yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi… của VBPL), có thể xác định VBPL khiếm khuyết là văn bản có một trong những biểu hiện sau đây: Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về chính trị: đó là các VBPL ( chủ yếu là các VBQPPL) có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của đảng. Các VBPL có nội dung không phù hợp với ý chí và lợi ích chính đáng của nhân dân cũng bị coi là khiếm khuyết về chính trị. Các VBPL không đáp ứng yêu cầu về pháp lí bao gồm: + VBPL vi phạm thẩm quyền ban hành: VBPL vi phạm thẩm quyền bao gồm vi phạm thẩm quyền về nội dung và vi phạm thẩm quyền về hình thức. + VBPL có nội dung trái với quy định của pháp luật: là những văn bản có nội dung là những quy phạm hoặc những mệnh lệnh không đúng với pháp luật hiện hành. + VBPL có nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia. +Văn bản pháp luật có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban hành. VBPL không đáp ứng được yêu cầu về khoa học bao gồm: + VBPL có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận động của đời sống xã hội. + VBPL có sự khiếm khuyết về kĩ thuật pháp lí. II. Các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết: Dựa vào tính chất, mức độ khiếm khuyết của VBPL và bản chất của mỗi biện pháp xử lí, chủ thể có thẩm quyền lựa chọn một trong các biện pháp dưới đây để xử lí VBPL khiếm khuyết: 1. Biện pháp hủy bỏ: Hủy bỏ là ra quyết định làm mất hiệu lực cả về trước của một văn bản pháp lí kể từ khi văn bản đó được ban hành. Hủy bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm phủ nhận hoàn toàn hiệu lực pháp lí của VBPL kể từ thời điểm văn bản đó được ban hành. Hủy bỏ là biện pháp xử lí được áp dụng với toàn bộ hoặc một phần VBPL bao gồm cả VBQPPL, VBADPL và VBHC có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành. VBPL bị hủy bỏ sẽ hết hiệu lực pháp luật kể từ khi văn bản đó được quy định là có hiệu lực pháp lí . Điều đó có nghĩa là nhà nước hoàn toàn không thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản bị hủy bỏ ở mọi thời điểm, cho dù trên thực tế trước khi bị hủy bỏ nó đã từng được coi là có hiệu lực và có thể đã được thi hành. Hủy bỏ VBPL là một biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã được pháp luật quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhìn chung các quy định này khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong vấn đề quy định về trách nhiệm của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ còn có một số điểm chưa hợp lí đó là: việc quy định trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ chỉ được xác định với VBADPL. Nếu VBPL bị hủy bỏ là VBQPPL và văn bản hành chính thì pháp luật không quy định về trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn chủa chủ thể ban hành, đây là một điểm bất hợp lí. Trên thực tế khi một văn bản QPPL sai trái được áp dụng vào cuộc sống nó sẽ gây ảnh hưởng xấu trên diện rộng và có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn là một VBADPL chính vì vậy tôi cho rằng cần quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với cả VBQPPL và văn bản hành chính. 2. Biện pháp bãi bỏ: Bãi bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm chấm dứt hiệu lực pháp lí của một VBPL đang được thi hành trên thực tế kể từ thời điểm văn bản đó bị bãi bỏ. Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản là các VBQPPL có một trong các dấu hiệu khiếm khuyết. Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc tình hình kinh tế xã hội thay đổi.( khoản 2 điều 29 nghị định Chính phủ 402010NĐCP) Văn bản pháp luật bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản xử lí nó có hiệu lực pháp luật. Như vậy pháp luật vẫn thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản pháp luật bị bãi bỏ trước khi văn bản xử lí văn bản đó có hiệu lực pháp lí. Do vậy VBPL bị bãi bỏ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL sai trái đó. Các quy định của pháp luật về bãi bỏ VBPL khiếm khuyết được quy định trong nhiều văn bản pháp luật tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào quy định một cách đầy đủ và rõ ràng và phân biệt giữa biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ VBPL. Chính vì tình trạng pháp luật quy định chung chung dẫn tới các cơ quan nhà nước khi xử lí VBPL tùy nghi lựa chọn một trong hai biện pháp này thậm chí còn sử dụng chưa nhất quán.Mặc dù tại điều 29 nghị dịnh Chính phủ số 402010NĐCP đã có sự tách riêng giữa biện pháp bãi bỏ và hủy bỏ VBPL nhưng mới chỉ nêu được sự khác nhau về trường hợp áp dụng mà thôi. Chính vì vậy tôi mong rằng sẽ sớm có những quy định cụ thể và chi tiết hơn về biện pháp bãi bỏ VBPL để phân biệt với biện pháp hủy bỏ VBPL. 3. Biện pháp thay thế: Thay thế VBPL là dùng một văn bản pháp luật mới thay thế cho một VBPL cũ không còn phù hợp.Biện pháp thay thế được áp dụng với VBPL có dấu hiệu khiếm khuyết( không có vi phạm pháp luật). Thay thế được áp dụng trong trường hợp nội dung của VBPL không còn phù hợp với thực tiễn, không phù hợp với đường lối của Đảng. VBPL bị thay thế hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản mới được ban hành hết hiệu lực. Thay thế là biện pháp xử lí VBPL được sử dụng khá phổ biến hiện nay tuy nhiên pháp luật chưa có một quy định riêng nào về biện pháp này, mà chỉ được quy định cùng các biện pháp khác tại điều 9 luật ban hành VBQPPL 2008. 4. Biện pháp đình chỉ thi hành Đình chỉ thi hành VBPL là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định dừng thực hiện, làm mất hiệu lực của VBPL một cách tạm thời. Đình chỉ việc thi hành (một phần hoặc toàn bộ văn bản) áp dụng đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Quyết định đình chỉ việc thi hành VBQPPL phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khác với các hình thức xử lý khác, đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản không làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bảnquy định bị đình chỉ, mà chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. Đây như là một “biện pháp khẩn cấp tạm thời” để làm nhưng hiệu lực pháp lý của các quy định trái pháp luật. Sau khi đình chỉ việc thi hành văn bản, tuỳ theo tính chất, mức độ sai trái của văn bản, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp xử lý đối với văn bản trái pháp luật. Như vậy, đối với VBQPPL của UBND thì người có thẩm quyền đình chỉ cũng đồng thời là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý văn bản trái pháp luật; còn đối với VBQPPL của HĐND thì người có thẩm quyền đình chỉ (Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND) không có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật, mà phải trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Thủ tướng Chính phủ), trình HĐND cùng cấp (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Chủ tịch UBND) ra quyết định xử lý. 5. Biện pháp tạm đình chỉ thi hành: Tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lí được áp dụng đối với các VBADPL trong một số trường hợp nhất định. Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm đình chỉ bao gồm: Trường hợp thứ nhất:Chủ thể không có thẩm quyền xử lí VBADPL nhưng có cơ sở cho rằng VBPL đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên quyết định tạm dừng thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí. Trường hợp thứ hai: khi có cơ sở cho rằng việc thi hành VBPL có thể gây cản trở hoạt động công quyền thì chủ thể có thẩm quyền quyết định việc tạm dừng thi hành văn bản trong thời gian nhất định để hoạt động công quyền được diễn ra thuận lợi. VBPL bị tạm đình chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp thứ nhất hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ; tiếp thục có hiệu lực khi cấp trên có thẩm quyền tuyên bố không bãi bỏ, hủy bỏ văn bản đó. VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp hai sẽ tiếp tục có hiệu lực khi người ra quyết định tạm đình chỉ ra văn bản bãi bỏ việc tạm đình chỉ. Nhận thấy biện pháp ‘tạm đình chỉ thi hành’ chỉ là một phần của biện ‘pháp đình chỉ thi hành’ vì vậy việc tách riêng hai biện pháp là không hợp lí, nên hợp nhất hai biện pháp để việc áp dụng vào xử lí VBPL thuận tiện hơn. 6. Biện pháp sửa đổi, bổ sung: Sửa đổi VBPL là việc ra văn bản để làm thay đổi một phần nội dung VBPL hiện hành trong khi vẫn giữ nghuyên những nội dung khác. Bổ sung VBPL là việc ra văn bản để thêm vào nội dung VBPL những quy định mới trong khi vẫn giữ nguyên nội dung vốn có của VBPL đó. Sửa đổi bổ sung là biện pháp được áp dụng với các VBPL( bao gồm VBQPPL, VBADPL và văn bản hành chính) khi tính chất và mức độ khiếm khuyết của văn bản rất nhỏ. Biện pháp sửa đổi được áp dụng với VBADPL trong trường hợp tại thời điểm ban hành thì văn bản đó đúng thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, có nội dung phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, với tình hình kinh tế xã hội địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và cần phải có quy định khác thay các nội dung không còn phù hợp đó. Biện pháp bổ sung được áp dụng trong trường hợp VBQPPL phù hợp với VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, tuy nhiên, nội dung của văn bản chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa toàn diện... nên cần thiết phải có quy định thêm để cho việc quy định trong VBQPPL được rõ ràng, toàn diện hơn, hiệu quả thi hành cao hơn. Sau khi sửa đổi thì văn bản bị sửa đổi vẫn tiếp tục có hiệu lực, chỉ có những điều, khoản bị sửa đổi là hết hiệu lực và được thay bằng các quy định mới của văn bản sửa đổi. Thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản sửa đổi phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Một văn bản có thể sửa đổi nhiều VBPL khác nhau. Khác với hình thức “sửa đổi” là thay một số quy định cũ bằng quy định mới do không còn phù hợp, thì hình thức “bổ sung” không làm mất đi bất cứ quy định nào của văn bản bị bổ sung, mà thêm vào một số quy định cho toàn diện hơn. Chính vì vậy bổ sung không làm mất hiệu lực của VBPL được bổ sung, nhưng nó làm phát sinh hiệu lực của phần bổ sung. Biện pháp sửa đổi, bổ sung VBPL là một hình thức được áp dụng phổ biến, đây là cách thức được sử dụng chủ yếu cho các VBPL có chứa các QPPL ở dạng điều khoản và có phạm vi tác động rộng. Tuy nhiên trong quy định của pháp luật, khái niệm “sửa đổi” và “bổ sung” thường hay đi liền với nhau, tuy nhiên cần phân biệt khi nào thì dùng khái niệm nào, khi nào có thể dùng cả 2 khái niệm (trường hợp chỉ “sửa đổi”, “bổ sung” hoặc vừa “sửa đổi”, vừa “bổ sung”). Hiện nay pháp luật đã quy định tại luật BHVBQPPL năm 2008 cho phép sử dụng một văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều VBPL khác nhau. Đây là một điểm mới đáng mừng, giúp cho việc sửa đổi, bổ sung VBPL đỡ mất thời gian hơn, giảm kinh phí và những thủ tục không cần thiết. KẾT LUẬN Có thể nói, các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã góp phần rất lớn vào công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết đôi khi còn có những hạn chế. Hy vọng rằng trong thời gian tới pháp luật sẽ quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa, để các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết có thể phát huy tốt hơn vai trò và ý nghĩa của mình hướng tới một hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cũng là lúc nhiều vấn đề mới trong xã hội phát sinh và cần được giải quyết. Một công cụ quan trọng để Nhà nước tiến hành hoạt động quản lí, kiểm tra, giám sát của mình đối với xã hội chính là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân. Để có một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế thì phải trải qua rất nhiều giai đoạn trong đó không thể không kể đến hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một giai đoạn nhỏ nằm trong giai đoạn soạn thảo văn bản pháp luật nhưng có những ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động xây dựng văn bản pháp luật sau đây nhóm em xin lựa chọn đề tài số 2 làm bài tập nhóm của mình: “Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”. NỘI DUNG I. Một số vấn đề chung. 1. Khái niệm VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống. 2. Khái quát quy trình xây dựng VBQPPL Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua những bước sau: a, Lập chương trình kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chủ thể sáng kiến có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu Quốc hội, HĐND. Cơ sở đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản, các chủ thể đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản pháp luật dựa vào 3 cơ sở sau: Cơ sở thực tiễn: là thực trạng đời sống kinh tếxã hội của đất nước, dựa vào đó các chủ thể tìm ra các nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tiễn để đưa ra đề nghị. Cơ sở pháp lí: là những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người đề xuất sáng kiến phải dựa trên cơ sở những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để đưa ra sáng kiến Cơ sở chính trị: Người đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản dựa vào những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng để thể chế hóa thành quy định của pháp luật đảm bảo sự tác động của pháp luật đúng định hướng của Đảng. Nội dung của chương trình kế hoạch xây dựng VB QPPL, gồm: Tên danh mục VBQP được ban hành; Cơ quan chủ trì soạn thảo; Dự kiến thời gian hoàn thành; Dự kiến nguồn kinh phí. b, Soạn thảo VB QPPL Trước tiên phải thành lập ban soạn thảo. Thành phần ban soạn thảo gồm trưởng ban là lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo và tổ biên tập gồm những người am hiểu về chuyên môn, nhà pháp lí, nhà pháp lí, nhà khoa học,… Nhiệm vụ của ban soạn thảo: Khảo sát và đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan đến nội dung dự thảo để thu thập thông tin. Nghiên cứu những thông tin thực tiễn đã thu thập được; chủ trương, chính sách của Đảng để chế hóa cho phù hợp; quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; Các tài liệu có liên quan. Sau đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp; Đánh giá dự báo tác động của văn bản; Xây dựng đề cương cho dự thảo văn bản từ sơ bộ đến chi tiết; Soạn thảo văn bản. c, Lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Cơ quan thực hiện chính là cơ quan chủ trì soạn thảo,lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước có liên quan; cá nhân, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; Tổ chức xã hội, trong đó Mặt trận tổ quốc Việt Nam là bắt buộc. Cơ quan thực thực có thể lấy ý kiến bằng các phương thức như tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc họp, hội thảo về chuyên môn; thông qua văn bản; Đăng tải trên Internet. Kết quả thu được sẽ đóng góp cho dự thảo, trên cơ sở đó cơ quan chủ trì sẽ tổng hợp ý kiến và chỉnh sửa dự thảo. d, Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Thẩm tra, thẩm định dự thảo là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pháp pháp luật. e, Trình dự thảo VBQPPL Sau khi dự thảo đã được hoàn thiện, đã có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dư thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo. Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng dự thảo. f, Thông qua, kí, ban hành văn bản QPPL. VB QPPL đã được thông qua cần được ban hành bằng cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau để nhân dân và những đối tượng có liên quan biết và thực hiện. Việc công bố văn banrQPPL là cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, do đó cần được chú ý thực hiện trên thực tế. 3. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo Đây là một bước nằm trong quá trình soạn thảo VBQPPL đòi hỏi các nhà làm luật phải có được những nhận định, đánh giá ban đầu khi soạn dự thảo. Mặc dù, khi lập chương trình kế hoạch xây dựng VBQPPL các nhà làm luật đã phải dựa trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, tuy nhiên khi đi vào cụ thể chi tiết các quy phạm lại phải được đánh giá kiểm tra lần nữa để đảm bảo sự hiệu quả, tính hợp pháp hợp lí của văn bản QPPL. II. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL. 1. Vai trò của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Thứ nhất, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản. Việc dự báo những tác động tích cực hay tiêu cực của dự thảo văn bản là rất cần thiết bởi vì tùy vào từng thời điểm xã hội, tình hình kinh tế, giáo dục mà xem xét có nên hay không ban hành văn bản qui phạm pháp luật và khi nó ra đời thì có những mặt nào đáp ứng được, mặt nào còn có vướn mắc. Ví dụ như cần có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo ban hành Luật Dân số để quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, phân bố dân số, lồng ghép dân số trong phát triển, biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Qua đó, chúng ta xem xét trên thực tế có giải quyết được tình trạng mật độ tình trạng của dân cư trên các thành phố lớn hay không, hay chất lượng đời sống dân cư có được ổn định không.... Nếu không có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản thì việc ban hành những văn bản không cần thiết sẽ dẫn đến sự lãng phí công sức, tiền bạc,... mà đôi khi những bất cập của xã hội thì chưa được giải quyết triệt để. Thứ hai, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục trước và sau khi ban hành. Không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối đối với hiệu quả của VBQPPL, cho dù đã cố gắng hết sức để nghiên cứu, tìm ra những phương án tối ưu nhất song ít nhiều có những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi. Để văn bản quy phạm pháp luật ban hành có hiệu quả thì trước hết phải chú trọng tới việc dự liệu những phương án giải quyết các vấn đề trước và sau khi VBQPPL được ban hành. Trong đó có những vấn đề cần giải quyết, phương hướng giải quyết, cơ quan thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các vấn đề khác như đội ngũ cán bộ, kinh phí thực hiện,… Việc hoạch định ra những dự liệu này không chỉ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật mà còn phải dựa trên những nhu cầu khách quan và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Có như vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật ra đời, văn bản quy phạm pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, có tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống. Ngoài ra, đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phải nêu lên được những tác động kinh tế xã hội, nội dung, chính sách cơ bản của văn bản,… Cùng với đó, phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập và thực hiện chương trình bằng cách quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm đối với các cơ quan tham gia xem xét dự kiến chương trình; với cơ quan đề nghị xây dựng văn bản thì cần phải có trách nhiệm giải trình và bảo vệ dự kiến chương trình do mình đề xuất. Thứ ba, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL là cơ sở để so sánh, đánh giá tác động của VBQPPL đối với xã hội trước và sau khi ban hành. Đây là yếu tố quan trọng mà các nhà làm luật phải cố gắng đạt được khi tiến hành soạn thảo VBQPPL bởi vì điều người dân quan tâm không phải là việc quá trình các nhà làm luật soạn thảo VBQPPL như thế nào, họ đã làm những gì để tạo nên một VBQPPL mà quan trọng đối với họ là việc sau khi VBQPPL ra đời nó đem lại những lợi ích gì cho xã hội, khắc phục được vẫn đề gì so với trước đó. Cụ thể, các nhà làm luật phải nhìn nhận, so sánh khả năng VBQPPL sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực gì đến những mặt cụ thể nào. II. Ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác động vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài nên cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL có ý nghĩa trong việc hoàn thiện VBQPPL trước khi ban hành. Bởi như đã nói, VBQPPL là loại văn bản được sử dụng trong một thời gian dài, đối tượng điều chỉnh là các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một VBQPPL hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và công đoạn. Việc đánh giá tác động của dự thảo văn bản trước khi văn bản đó được ban hành sẽ hạn chế những sai sót, hạn chế của văn bản. Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL còn nâng cao tính chủ động, bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của văn bản sau khi được ban hành đưa vào thực tiễn sử dụng. Việc xây dựng, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật cần rất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội. Vì vậy, một dự thảo văn bản có tính khoa học và chính xác càng cao sẽ hạn chế tối đa được việc sửa đổi, hủy bỏ sau khi ban hành. Việc này sẽ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác xây dựng và ban hành văn bản qu Trong quá trình soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ban hành ra nó theo dõi và đánh giá những kết quả đạt được đối với quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá tác động của dự thảo là hoạt động nhằm đưa ra những mặt lợi, mặt hại của dự thảo khi được áp dựng trên thực tế. Việc đánh giá tác động của dự thảo giúp cơ quan nhà nước có được cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, khách quan về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Mặt khác, các cơ quan có thể phát hiện ra những điểm chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến văn bản quy ph ạm đang được theo dõi, đánh giá. Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thể lập được những chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới với những nội dung phù hợp thực tiễn và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. KẾT LUẬN Trên đây là phần phân tích về vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động này đối với việc xây dựng và hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, có hiệu quả khi thực thi trên thực tế. Các cơ quan có thẩm quyền nên tiến hành hoạt động này một cách cẩn trọng, tỉ mỉ và trách nhiệm để tránh tình trạng chưa đánh giá đúng cũng như những điểm thiếu xót trong văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ tốt hoạt động quản lí nhà nước.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề