XUẤT KHẨU CÁ TRA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "XUẤT KHẨU CÁ TRA":

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA VÀO THỊ TRƯỜNG EU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HÙNG VƯƠNG PPT

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA VÀO THỊ TRƯỜNG EU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HÙNG VƯƠNG PPT

600Triệu USDHình 2.4: Kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam vàoEU năm 2010- 6/2013142. TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU2.3 Tổng quan HVG.• Thành lập 2003 tại khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnhTiền Giang. Vốn điều lệ 32 tỷ đồng, 7/2013 vốn điềulệ gần 792 tỷ đồng.• 2003 doanh số 8 tỷ, 400 CBCNV đến 2012 doanh số8000 tỷ (tăng 1000 lần); 12000 CBCNV (tăng 30 lần)• Sản phẩm xuất khẩu chính: cá tra fillet đông lạnh.152. TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU2.3 Tổng quan HVG.Chiến lƣợc đầu tƣ bền vững thông qua chuỗi liên kết dọcThức ăn thủy sảnCon giống
Xem thêm

34 Đọc thêm

CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra, cá basa xuất khẩu vào thị trường mỹ thực trạng và giải pháp

78 Đọc thêm

BÁO CÁO TỔNG KẾT BỘ NN VÀ PTNT NĂM 2013

BÁO CÁO TỔNG KẾT BỘ NN VÀ PTNT NĂM 2013

tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Đến hết tháng 10/2013, nguồn thutừ phí dịch vụ môi trường rừng đạt 875 tỷ đồng (quỹ Trung ương thu được 724tỷ đồng, vượt kế hoạch thu năm 2013 (101%); quỹ cấp tỉnh thu được 151 tỷđồng). Công tác trồng rừng được chỉ đạo tích cực và thực hiện tốt các chính sáchhỗ trợ nên diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 205,1 ngàn ha, tăng 9,7% sonăm 2012; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 50 triệu cây, tương đương năm2012.Tỷ lệ che phủ từ cây rừng và cây có tán như cây rừng ước đạt 41,1%(trong đó, diện tích che phủ bằng cây rừng đạt 40,2%; cây công nghiệp, cây đặcsản trồng trên đất lâm nghiệp, có tán che như cây rừng đạt 0,9%).2.4. Thủy sảnTrong năm, hoạt động nuôi trồng thủy sản có những diễn biến trái chiều.Đầu năm, thời tiết nắng nóng bất thường ở ĐBSCL, nhu cầu tiêu thụ thủy sảncủa các thị trường chính (EU và Hoa Kỳ) bị sụt giảm mạnh, đặc biệt là giá cátra. Phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh thủy sản, xuất khẩu cá tra khó tiêuthụ hàng hóa, tồn kho và nợ đọng kéo dài nên giảm thu mua cá nguyên liệu,người nuôi bị thua lỗ, bỏ nuôi khá nhiều. Cuối năm, thị trường thế giới có dấuhiệu khả quan hơn, giá đã tăng, tiêu thụ tốt. Ngược lại, nghề nuôi tôm lại “đượcmùa, trúng giá” cộng với dịch bệnh được kiểm soát tốt nên hiệu quả và thu nhậpcủa người nuôi tôm khá cao.Công tác chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn khung mùa vụ nuôi trồng, phòngchống thiên tai, dịch bệnh được quan tâm, tăng cường giám sát chất lượng các4yếu tố đầu vào (giống, thức ăn, thuốc thú y,...) song song với việc kiểm soát vàthực hiện các giải pháp hỗ trợ thị trường...Trong hoạt động khai thác, thời tiết và ngư trường khá thuận lợi, nhiềuloại hải sản có giá trị kinh tế lớn xuất hiện, kết hợp với các chính sách hỗ trợ ápdụng khoa học kỹ thuật, đầu tư máy móc, thiết bị bảo quản, tăng hiệu quả và
Xem thêm

30 Đọc thêm

các giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy xuất khẩu tôm sang thị trường Hoa Kỳ

CÁC GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TÔM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 0.1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM ,WTO. Cùng với đó là nhiều hiệp định thương mại đa phương, song phương giữa Việt Nam và các nước, khu vực đã được kí kết. Năm 2015, kinh tế Việt Nam sẽ hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới, hiệp định TPP đã được kí kết và cuối năm nay sẽ hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN . Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức là một cơ hội để đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển và đây cũng là một xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, nó cũng đem đến những thách thức không nhỏ. Nếu chúng ta hội nhập thành công với nền kinh tế thế giới, chúng ta có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, ngược lại chúng ta sẽ ngày càng tụt hậu và lâm vào khó khăn. Để thành công cần phải có những biện pháp đồng bộ từ Nhà nước đến các tất cả doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi tham gia vào thị trường quốc tế, các doanh nghiệp trong nước đã và đang gặp phải nhiều khó khăn về kinh nghiệm cũng như khả năng hoạt động kinh doanh chưa theo kịp với tình hình thị trường thế giới. Một trong những nguyên nhân của các vấn đề trên là do các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam chưa nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác Marketing. Thủy sản là một trong những ngành hàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Thủy sản nói chung và hải sản nói riêng hiện đang cung cấp một nguồn thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng trong nước và góp phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước nhà… Trong gần 20 năm (1995 – 2014), giá trị xuất khẩu của thủy sản đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ và đạt được những bước tiến vượt bậc. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 550 triệu (năm 1995) và tăng lên mứ c 6,8 tỷ USD (năm 2013) và đạt 7,836 tỷ USD (năm 2014) với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 15%. Mức tăng trưởng ấn tượng đã đưa Việt Nam trở thành nước dẫn đầu khu vực cũng như thế giới về nguồn cung thủy sản toàn cầu. GVDH: Ths. Hà Đức Sơn SVTH: Biện Khắc Huy Trang 2 Trong đó, tôm mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhất của ngành thủy sản Việt Nam (năm 2014 xuất khẩu tôm đạt 3.952 triệu USD chiếm 50,43% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản, cá tra xếp thứ 2 đạt khoảng 1.768 triệu USD chiếm 22,56% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản (ThS. Nguyễn Tiến Hưng, 2015). Tuy nhiên trong thời gian gần đây thủy sản nói chung và tôm nói riêng cũng rơi vào tình trạng liên tục gặp phải những khó khăn. Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, trong 10 tháng đầu năm 2015, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đạt 5,45 tỷ USD, giàm gần 18% so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,4 tỷ USD, giảm 28% (Kim Thu, 2015). Bên cạnh đó là các rào cản thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC), những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm…Ngoài ra, tôm Việt Nam tuy đã có mặt tại rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng đa phần lại mang thương hiệu của các nhà nhập khẩu nước ngoài, vì vậy tuy được tiêu thụ rộng khắp nhưng không được nhiều người tiêu dùng biết điều này. Điều này không chỉ làm cho năng lực cạnh tranh của tôm Việt Nam giảm mà về lâu dài, đây là một tổn thất nghiêm trọng vì có thể gặp những bất lợi nếu nhà nhập khẩu nước ngoài tìm được nguồn cung khác. Nguyên nhân của những vấn đề như vậy là do công tác marketing của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Với thị trường tiêu thụ rộng lớn và giàu có, Hoa Kỳ hiện là nước nhập khẩu thủy hải sản lớn nhất thế giới và có nhiều tiềm năng, cơ hội xuất khẩu cho ngành thủy sản Việt Nam . Đây cũng chính là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam nói chung và con tôm nói riêng. Tuy nhiên, trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ chỉ đạt 373,8 triệu USD, giảm 50% so với cùng kỳ 2014 (Thi Hà, 2015). Một trong những nguyên nhân là do áp lực cạnh tranh về giá và nguồn cung từ các nước như Ấn Độ, Indonesia. Cùng với đó trong thời gian tới khi Hiệp định TPP có hiệu lực đòi hỏi chúng ta phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm và những quy định do phía Mỹ đề ra. Ngoài ra, làn sóng ồ ạt xuất khẩu vào Mỹ sẽ gây áp lực lên ngành tôm nội GVDH: Ths. Hà Đức Sơn SVTH: Biện Khắc Huy Trang 3 địa của họ, từ đó Chính phủ nước này có thể nghĩ tới những biện pháp bảo hộ. Đây thực sự là những thách thức cho ngành thủy sản nói chung và con tôm nói riêng. Vì vậy đề tài “Các giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy xuất khẩu tôm sang thị trường Hoa Kỳ” là một vấn đề hết sức cần thiết, nhằm tìm câu trả lời cho những khó khăn hiện tại và hướng phát triển cho con tôm Việt Nam tại thị trường tiềm năng – Hoa Kỳ.
Xem thêm

146 Đọc thêm

NGHIEN CUU UNG DUNG MO CA DA TRON - HOANG NGOC SONG

NGHIEN CUU UNG DUNG MO CA DA TRON - HOANG NGOC SONG

Nghiên cứu hướng ứng dụng mỡ cá da trơn.GVHD : TS. Trần Bích LamKhô ăn liềnĐồ hộp sốt càHiện nay thò trường xuất khẩu của cá Tra, cá Basa Việt Nam vẫn chưa ổnđònh và còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy cần điều chỉnh lại mục tiêu để ổn đònh vàphát triển nghề nuôi loại cá này tại Việt Nam. Nuôi cá Tra và cá Basa trước hếtdành cho xuất khẩu, nhưng đã đến lúc cần quan tâm hơn đến thò trường nội đòa. Sauvụ kiện bán phá giá cá Basa, cá Tra năm 2003 doanh số nội đòa đã thật sự bùng nổ,nhiều doanh nghiệp nhận đònh thò trường nội đòa rất tiềm năng trong khi chỉ mới có4 công ty là Agifish, Tuấn Anh, Vónh Hoàng và Afiex tham gia khai thác thông quahệ thống các đại lý và hệ thống siêu thò… Theo ông Ngô Phước Hậu, tổng giám đốccông ty Agifish, “thò trường nội đòa không thể nào thay thế được thò trường xuấtkhẩu đối với con cá Tra, cá Basa, nhưng nếu doanh nghiệp không xây dựng đượcthương hiệu cho sản phẩm ngay trên sân nhà thì khó có hi vọng một ngày nào đócá Tra, cá Basa mang thương hiệu Việt Nam được người tiêu dùng nước ngoài biếtđến”.Ngoài ra việc nghiên cứu chế biến tận dụng các thành phần phụ phẩm, phếphẩm khác của cá Basa, cá Tra ngoài thành phần có giá trò là fillet cũng phải đượcchú trọng và phát triển song song. Đây là một bộ phận quan trọng không thể táchrời trong việc phát triển sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường đồng thời cũng giúpgiảm giá thành của chính phẩm một cách đáng kể.2.
Xem thêm

86 Đọc thêm

ĐO AN MAY VA THIET BỊ THUY SAN

ĐO AN MAY VA THIET BỊ THUY SAN

(năm 2011). Giá thành hiện dao động từ 21.500 - 23.000đ/kg, giá bán khoảng từ24.000 - 27.000đ/kg, người nuôi có lời khoảng 4.000đ/kg. Tuy nhiên, chi phí đầu tưcho 1ha nuôi cá da trơn rất cao (khoảng 4 tỷ đồng). Trong thời gian thu hoạch 6 tháng,nếu thả mật độ 60 con/m2 thì sản lượng thu hoạch 350 tấn/ha, nếu thả mật độ 30con/m2 thì sản lượng đạt 195 tấn/ha.Ngành nông nghiệp đã chủ động thực hiện một số công việc để phát triển tốt nghềnuôi cá tra. Đó là: Hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng quy trình nuôi theo tiêu chuẩnGlobalGAP, đáp ứng theo yêu cầu của thị trường xuất khẩu (có 13 doanh nghiệp đượccấp giấy chứng nhận); hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp nhận đàn cá tra bố mẹ đã được cảitạo di truyền từ Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II để thay thế đàn cá bố mẹ trướcđây nhằm tạo ra nguồn giống tốt, đảm bảo chất lượng cung ứng cho nghề nuôi cá tracủa tỉnh và các tỉnh lân cận.Thực hiện đánh số vùng nuôi để làm cơ sở cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.Hướng dẫn các cơ sở nuôi xây dựng hệ thống ao nuôi đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y,bảo vệ môi trường, thả giống với mật độ vừa phải nhằm hạn chế dịch bệnh, tăng hiệuquả trên nguồn vốn đầu tư, tăng cường kiểm tra và tổ chức lấy mẫu thức ăn, hóa chấtđể kiểm tra chất lượng nuôi. Thu mẫu kiểm tra dư lượng chất độc hại trong cá nuôiđịnh kỳ hàng tháng. Tác động các ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cáccơ sở nuôi vay vốn.Định hướng phát triển nghề nuôi cá tra trong thời gian tới là sản xuất cá tra đảm bảochất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, hạn chế rủi ro do dịch bệnh, hạn chế ô nhiễmmôi trường. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ tập trung thựchiện một số giải pháp như: quản lý phát triển nuôi cá tra theo quy hoạch, khảo sát vịtrí và lập dự án xây dựng Trung tâm sản xuất giống cá tra cấp vùng theo đề án pháttriển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hướng dẫn các cơ sở nuôi hoàn thiện hệ thốngao nuôi để đạt điều kiện vệ sinh thú y và cấp giấy chứng nhận, tiếp tục hỗ trợ cácdoanh nghiệp và các cơ sở nuôi áp dụng tốt các quy phạm thực hành nuôi tốt:VietGAP, GlobalGAP.
Xem thêm

48 Đọc thêm

NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tài Trải qua 25 năm đổi mới và nhất là trong 10 năm trở lại đây, nền thủy sản Việt Nam phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Cùng với sự tăng trưởng trong sản xuất, công nghiệp chế biến thủy sản đã có những bước tiến đáng kể, đã hình thành và phát triển hệ thống chế biến gắn kết với vùng nguyên liệu, một số ngành có công nghệ và thiết bị tương đối hiện đại. Xuất khẩu thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nhập siêu của cả nước, mang lại việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân. Thủy sản đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD, nhiều mặt hàng chiếm giữ vị thế sản lượng và xuất khẩu cao trên thế giới như cá tra, cá basa, cá ngừ… Tuy nhiên, sản phẩm thủy sản nước ta chưa tạo dựng được vị trí vững chắc trên thị trường thế giới, giá trị gia tăng (GTGT) của thủy sản hàng hoá chưa cao, thể hiện ở những mặt sau: Sản xuất thiếu bền vững, luôn tiềm ẩn nguy cơ không đảm bảo an toàn thực phẩm; Cơ cấu sản phẩm chế biến chưa hợp lý, xuất khẩu chủ yếu ở dạng sơ chế nên giá trị gia tăng thấp. Sản phẩm có chất lượng chưa cao, thiếu tính cạnh tranh, giá thường thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực từ 510%;Thị trường tiêu thụ hàng hoá thuỷ sản chưa được khai thác tốt, thiếu định hướng lâu dài, nhất là thị trường nội địa; chưa tạo dựng được thương hiệu uy tín trên thị trường, ngay cả với những sản phẩm có thế mạnh. Để chiếm lĩnh được vị thế trên thị trường, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao nâng cao giá trị gia tăng cho hàngthủy sản. Chính vì các lý do đó, em thực hiện đề tài: “Nâng cao giá trị gia tăng hàngthủy sản xuất khẩu của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau: Nghiên cứu tổng quan về lợi thế và tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam. Đánh giá thực trạng giá trị gia tăng hàng thủy sản xuất khẩu của nước ta Phân tích một số quan điểm và mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng hàng thủy sản Việt Nam Trên cơ sở lý luận và phân tích đánh giá về thực trạng, tiềm năng, cũng như các quan điểm và mục tiêu về nâng cao gia trị gia tăng hàng thủy sản chuyên đề thực tập đề xuất một số nội dung, giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao giá trị gia tăng hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng giá trị gia tăng của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến 2013 và đề xuất giải pháp cho đến năm 2020 4. Phương pháp nghiên cứu Chuyên đề thực tập sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu. Các phương pháp nghiên cứu cụ thế được áp dụng trong chuyên đề bao gồm: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh... kết hợp với việc minh họa bằng sơ đồ, bảng, biểu số liệu được thu thập qua các năm gần đây nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên trực quan hơn. Bên cạnh đó, chuyên đề nghiên cứu những kinh nghiệm từ những tình huống phát sinh thực tế tại các doanh nghiệp trong nước cũng như trên thế giới, từ đó rút ra được những bài học cần thiết, vận dụng trong nghiên cứu. 5. Kết cấu chuyên đề thực tập Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, chuyên đề thực tập được chia thành ba chương: Chương 1: Tổng quan lợi thế và tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam Chương 2: Thực trạng giá trị gia tăng hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Xem thêm

79 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG. I.Thực trạng nông sản Việt Nam hiện nay: 1. Khái quát tình hình nông sản Việt Nam Việt Nam cất cánh từ nền kinh tế nông nghiệp, nông sản chiếm 30% xuất khẩu, chiếm 26% GDP cả nước với 65% dân số sống ở nông thôn Một số mặt hàng nông sản chủ lực đem về nguồn kinh tế lớn cho cả nước như: gạo, cà phê, hồ tiêu, các loại hoa quả,… Kim ngạch xuất khẩu nông sản 11 tháng đầu năm 2018 đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Điểm nổi bật của xuất khẩu nông sản năm 2018 là thị phần xuất khẩu đều duy trì, củng cố và mở rộng, 5 thị trường XK các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN và Hàn Quốc chiếm thị phần lần lượt là 22,9% (giá trị tăng 3,6% so với năm 2017), 17,9% (tăng 9,4%), 19,1% (tăng 7,1%); 10,64% (tăng 11,0%) và 6,9% (tăng 29,4%). Các thị trường mới nổi, thị trường ngách (Trung Đông, châu Phi, Đông Âu) đều được lực chọn phát triển bài bản, có tính bổ trợ cho các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng. Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng phải chịu áp lực giảm giá mạnh trong năm 2018, tuy nhiên cũng có những mặt hàng có sự tăng giá trên thị trường thế giới, điển hình là gạo, rau quả, cá tra, đồ gỗ và lâm sản. Cụ thể: đối với mặt hàng gạo, khối lượng gạo XK 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đó là rau quả với giá trị XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017, cá tra đạt trên 2 tỷ USD tăng 27,4%. 2. Vấn đề xuất thô nông sản: Các mặt hàng nông sản chủ yếu được sản xuất thô: Hàng nông sản của VN chỉ tham gia ở khâu ít giá trị gia tăng, rủi ro cao và nhiều lệ thuộc. Cao su, tiêu, cà phê hay điều VN tuy chiếm giữ thị phần xuất khẩu không nhỏ trên thế giới nhưng chủ yếu ở khâu trồng cấy và thu gom sản phẩm thô. Những sản phẩm này được xuất cho các công ty nước ngoài. Họ chế biến, chắt lọc, phân đoạn làm nhiều tầng, thu nhiều khoản lời và đóng nhãn mác của họ bán cho người tiêu dùng. Vì chiếm giữ những phần ít rủi ro, lại nắm được thông tin đầu nguồn nên họ chủ động tránh được thiệt hại. Phần bất lợi đẩy về phía những khu vực sản xuất như nông dân Trong xã hội tự cung tự cấp, những biến động thị trường, thậm chí những biến động của toàn nền kinh tế, cũng khó đe dọa được sự sống còn của nông dân. Bởi vì chỉ cần canh tác tốt, nông dân không cần mua bán giao thương cũng có thể sống được nhờ vào sản vật nuôi trồng của mình. Nhưng hiện nay nông sản là sản phẩm hàng hóa và chịu sự chi phối của thị trường chung thì nông dân cũng là thành viên của xã hội thị trường. Nếu như các lực lượng khác có thể tự bảo vệ được mình bởi những sức mạnh mà họ thu được từ thị trường, thì nông dân lại không thu được nguồn lợi đủ để bảo vệ mình khi rủi ro mà thị trường đem lại. Nói cách khác, nông dân và người làm công ăn lương khi tham gia xã hội thị trường đã trở thành một lực lượng nghèo tiềm tàng vì cơ hội và rủi ro của họ không tỉ lệ thuận. Hệ thống thị trường nông sản của chúng ta gần như bị tách rời quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà sản xuất, tức là nông dân và nhà kinh doanh các DN thu mua, xuất khẩu. Các DN này thực chất chỉ chọn công đoạn đơn giản nhất trong chu trình phân phối sản phẩm tức là thu mua. Họ có thể sơ chế đơn giản rồi bán sang tay cho các nhà chế biến nước ngoài. Người nông dân gánh chịu các biến động rủi ro của toàn bộ hệ thống vật tư, nguyên liệu đầu vào như giống, phân bón, đất đai, thời tiết... cho ra đời sản phẩm thô với mức lợi nhuận khá thấp. DN thương mại cơ bản chủ động được giá mua, khối lượng, thời điểm và cả đầu ra. Vì vậy họ có điều kiện và luôn cố thủ một tỉ lệ lợi nhuận. Khi giá đầu ra cao, họ điều chỉnh giá thu mua cao hơn một chút. Nhưng khi giá đầu ra xuống thấp, hàng thừa thì DN thu mua vẫn giữ tỉ lệ lợi nhuận cố định đó, đẩy thiệt thòi về phía nông dân. Xuất thô ngông sản của Đồng Nai: Năm 2018, 4 loại nông sản xuất khẩu chính của Đồng Nai gồm: điều, cà phê, tiêu, cao su đều tăng sản lượng từ 5,569% so với năm trước đó, nhưng giảm mạnh về giá. Tuy những nông sản trên đang đứng đầu về sản lượng xuất khẩu nhưng không chi phối được thị trường vì chủ yếu vẫn xuất hàng thô, chưa xây dựng được thương hiệu. Nông dân bị ảnh hưởng lớn nhất vì khó về đầu ra khiến nhiều loại nông sản buộc phải bán dưới giá thành sản xuất. Tăng giá nhưng giảm lời Năm 2018, Đồng Nai xuất khẩu 37 ngàn tấn nhân hạt điều với kim ngạch 329 triệu USD, tăng 5,5% về lượng so với năm trước nhưng giá chỉ bằng 98% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, cà phê xuất khẩu trên 221 ngàn tấn được 388,7 triệu USD, tăng 24% về lượng nhưng giá chỉ đạt 90,5%. Hạt tiêu xuất khẩu tăng 69% về lượng nhưng giá chỉ đạt trên 99%. Cao su xuất khẩu tăng 14% về lượng nhưng giá giảm gần 200 USDtấn. Lệ thuộc lớn vì xuất thô Hiện nông sản của Việt Nam hầu hết là xuất thô, nhiều loại chưa xuất được trực tiếp nên giá trị gia tăng chưa cao. Điểm yếu này càng bộc lộ rõ khi thị trường nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam đang rơi vào cảnh cung vượt cầu. .
Xem thêm

Đọc thêm

Xuất khẩu thủy sản quý II 2013 thủy sản trường phát

XUẤT KHẨU THỦY SẢN QUÝ II 2013 THỦY SẢN TRƯỜNG PHÁT

Làcuốn Báo cáo quý duy nhất về ngành thủy sản Việt Nam, có các đánh giá tổng hợp và dữ liệu cập nhật gồm: 1. Thông tin mới nhất và tổng hợp đầy đủ nhất về tình hình sản xuất và xuất khẩu trong quý II năm 2013 toàn ngành thủy sản và từng ngành hàng chủ lực: cá tra, tôm, hải sản(cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua, ghẹ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, giáp xác, cá các loại) 2. Số liệu thống kê qua các bảng, biểu chi tiết về diễn biến giá nguyên liệu, số liệu cập nhật và chính thống về XK từng mặt hàng chủ lực sang từng thị trường; số liệu XK của các nước đối thủ và số liệu NK của các thị trường chủ lực trong Quý II/2013. 3. Tổng hợp và nhận định sát thực các vấn đề nổi bật về tình hình nguyên liệu, giá cả, chi phí sản xuất, biến động của thị trường nhập khẩu, xu hướng của các đối thủ cạnh tranh tại các thị trường chính, các thuận lợi và khó khăn trong cơ chế, chính sách quản lý trong Quý II/2013. 4. Dự báo cụ thể về tình hình sản xuất và xuất khẩu trong quý tiếp theo của năm 2013, chi tiết tới từng ngành hàng và thị trường (khối lượng nguyên liệu, giá nguyên liệu, giá trị xuất khẩu…) 5. Danh sách các nhà nhập khẩu thủy sản tại 10 thị trường chính. Quý Doanh nghiệp và Bạn đọc quan tâm đến Báo cáo xin vui lòng liên hệ: Trung tâm Đào tạo & Xúc tiến Thương mại VASEP (VASEP.PRO) Tel: 04 3835 4496 (Ext: 212) – Fax: 04 3771 9015 - Mobile: 0944 883 548 Ms Phạm Thị Kiều Oanh – Email: kieuoanh@vasep.com.vn – Skype: kieuoanhvasep Hoặc truy cập vào website: www.vasep.com.vn – www.pangasius-vietnam.com để biết thêm chi tiết
Xem thêm

36 Đọc thêm

KHẢO SÁT KHÍA CẠNH KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG AO NUÔI CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS) THÂM CANH Ở HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG

KHẢO SÁT KHÍA CẠNH KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG AO NUÔI CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS) THÂM CANH Ở HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG

(chỉ tiêu đặt ra cho năm 2010), tăng 34,4% so với năm 2006.Theo Nguyễn Chính (2005) thì diện tích nuôi loài cá này tăng hơn 7 lần, sản lượngtăng hơn 44 lần, giá trị xuất khẩu tăng hơn 50 lần. Việt Nam đã trở thành một trongmười nước xuất khẩu hàng đầu thế giới có giá trị hàng năm trên 2 tỉ USD.2.3.3 Tình hình nuôi cá da trơn ở Đồng Bằng Sông Cửu LongĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất ngập nước rộng lớn ở cuối nguồncủa sông Mekong, có tiềm năng lớn cho sự phát triển của nuôi trồng thủy sản. Trongnăm 2005 vùng này đã đóng góp hơn 68% tổng sản lượng thủy sản của cả nước (LêAnh Tuấn, 2007) và ĐBSCL là vùng nuôi cá tra lớn nhất ở Việt Nam cả về diện tíchvà sản lượng (NACA, 2008, được trích bởi Nguyễn Thị Huyền, 2008).Nghề nuôi cá tra đã phát triển từ năm 1940, bắt đầu từ việc nuôi cá tra trong hệ thốngao hầm nhỏ lẻ. Hàng năm vào đầu mùa lũ ngư dân khai thác cá bột các loài cá tra,basa về ương trong ao đất đến cỡ cá giống để bán cho người nuôi ở khắp vung nướcngọt của ĐBSCL (Phạm Văn Khánh, 1996). Trong thập niên 60 nghề nuôi cá da trơntrong bè đã du nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên, lúc này nghề nuôi cá da trơn cũng chưathật sự phát triển mà còn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên và thị trườngtiêu thụ sản phẩm chủ yếu là trong nước. Đây chính là những nguyên nhân làm hạnchế sự phát triển của nghề nuôi cá da trơn trong thời điểm này (Nguyễn ThanhPhương, 1996, được trích bởi Nguyễn Thị Huyền, 2008).Theo Simon (2008), được trích bởi Nguyễn Thị Huyền (2008) nhận định rằng nghềnuôi cá da trơn ở ĐBSCL có trên 50 năm, giữa thập niên 1980 đã xuất khẩu dạng filletsang thị trường Úc, đến năm 1990 xuất sang châu Âu và Mỹ và từ năm 2004, nhiều thịtrường khác bắt đầu nhập khẩu cá tra và ba sa của Việt Nam.Năm 2006, sản lượng nuôi cá tra, basa sạch ở tỉnh An Giang đạt hơn 100.000 tấn, ởCần Thơ khoảng 45.000 tấn và Đồng tháp 50.000 tấn, gấp khoảng 2,5 lần so với năm2005 (Hiệp hội nghề cá tỉnh An Giang, 2006, được trích bởi Trần Minh Đức (2010)).Năng suất nuôi tăng vọt do sự thâm canh hóa và sản lượng có thể đạt đến 166 kg/m3nuôi bè, 345 tấn/ha nuôi đăng quầng và 212 tấn/ha nuôi ao (Nguyễn Thanh Phương vàcsv., 2004). Hiện nay, theo NACA (2008), được trích bởi Nguyễn Thị Huyền (2008)cho rằng diện tích và sản lượng cá ba sa và cá tra phát triển nhanh, mật độ nuôi cũng
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA Ở HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE

Sau khi tiến hành nghiên cứu, tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra tại Châu Thành cho thấy:Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, dồi dào nguồn nước ngọt, vài năm gần đây, diện tích nuôi cá tra ở Châu Thành phát triển nhanh chóng.Nghề nuôi góp phần tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả diện tích đất bãi bồi, đất trồng cây ăn trái kém hiệu quả.Tạo nguồn nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu của địa phương.Đổi mới bộ mặt nông thôn, mang lại sự giàu có cho nhiều chủ đầu tư ở Châu Thành, góp phần giải quyết công ăn việc làm, ổn định xã hội tăng thu nhập cho nhân dân lao động trên địa bàn.Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bộ thuận tiện cũng giúp cho việc vận chuyển nguyên vật liệu cho cá được dễ dàng và kịp thời.Bên cạnh những thuận lợi đó, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong ngành cá tra ở Châu Thành:Phong trào phát triển thiếu quy hoạch dẫn đến tình trạng thừa thiếu cá trong từng thời điểm, nguy cơ suy thoái môi trường và dịch bệnh phát triển.Con giống chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng do huyện chưa có trại sản xuất giống cá tra phục vụ cho nghề nuôi. Với những người nuôi nhỏ lẻ thì phải đặt mua con giống chở từ Đồng Tháp hoặc Châu Đốc (An Giang), còn người nuôi có qui mô lớn thì mua cá bột về ương, khi cá lớn mới thả nuôi đồng loạt.Trước tình hình lạm phát có chiều hướng gia tăng, ngân hàng hạn chế cho vay đối với người nuôi cá và các doanh nghiệp, cá tra không thể ngưng cho ăn một ngày nhưng ngân hàng đã chậm giải ngân, làm cho nhiều người nuôi cá gặp khó khăn, nhất là những người phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng.Chi phí đầu vào nuôi cá (thức ăn thủy sản, thuốc thú y, các dịch vụ…) liên tục tăng làm giá thành nuôi cá tra tăng lên.Quy trình nuôi cá tra an toàn sinh học chưa được chú trọng do đòi hỏi vốn đầu tư cho mô hình khá lớn. Hầu hết người nuôi cá tra hiện nay không quan tâm nhiều đến ô nhiễm, dịch bệnh.
Xem thêm

79 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ cơ chế quản lý kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc. Cùng với chiến lược kinh tế hội nhập và phát triển của Đảng, thương mại quốc tế trở thành một bộ phận quan trọng có vai trò quyết định đến sự phát triển của quốc gia. Đối với một nước đang phát triển, có sự khan hiếm về vốn để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như Việt Nam thì việc phát triển các ngành kinh tế tận dụng được lợi thế vốn có của quốc gia là một điều vô cùng quan trọng. Đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi có một mạng lưới sông ngòi dày đặc và bờ biển dài với những loài thuỷ sản phong phú và có giá trị cao.Tiềm năng nguồn lợi tài nguyên sinh vật biển và vùng nước nội địa Việt Nam rất phong phú và có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sự giàu có về tài nguyên, khí hậu, đa dạng về sinh thái đã khiến cho ngành thuỷ sản nước ta có nhiều ưu thế phát triển. Trải qua những bước thăng trầm, ngành thuỷ sản, từ một lĩnh vực kinh tế nhỏ bé thuộc khối nông nghiệp, đã vươn lên trở thành một ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của đất nước. Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, tận dụng được điều kiện tự nhiên xã hội đất nước, ngành thuỷ sản đã có sự phát triển vượt bậc, mỗi năm đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn phục vụ tái đầu tư thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm qua, xuất khẩu thuỷ sản đã có những đóng góp hết sức to lớn, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thuỷ sản phát triển nói riêng và sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung. Do đó, thị trường xuất khẩu là một vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới kim ngạch xuất khẩu của ngành. Xuất khẩu thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ hậu cần khác của ngành.Tuy nhiên bên cạnh đó ngành xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như vệ sinh an toàn thực phẩm, ý thức của người kinh doanh,giá cả nguyên liệu đầu vào không ổn định,các chế tài bảo vệ người sản xuất thủy sản. Bên cạnh việc tăng số lượng xuất khẩu cũng cần quan tâm đến chất lượng và thị hiếu người tiêu dùng mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Để hiểu rõ hơn về xuất khẩu thuỷ sản cùng với những cơ hội và thách thức của ngành, chúng em đã chọn đề tài “Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản taij Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để thấy được thực trạng của ngành từ đó có những giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong bổi cảnh hiện nay, có sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường thế giới đặc biệt khi nước ta gia nhập vào tổ chức thương mại quốc tế WTO. 2. Mục đích nghiên cứu Mỗi đề tài nghiên cứu khi được tiến hành luôn chứa đựng những mục đích cụ thể cần đạt được. Tiến hành nghiên cứu đề tại này, chúng tôi đã hướng tới mục đích sau: - Khái quát và tổng hợp một cách có hệ thống về xuất khẩu thủy sản. - Phân tích để hiểu rõ thực trạng xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam, vai trò và tiềm năng phát triển trong tương lai. - Tình hình sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản trong những năm qua, cơ cấu thị trường và khả năng cạnh tranh từ đó rút ra bài học, đưa biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng thủy sản trong thời gian sắp đến. 3. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu, quan sát, thu thập số liệu, phân tích thống kê, xử lý số liệu, phân tích tổng hợp. - Nguồn dữ liệu sử dụng là nguồn thông tin thứ cấp, thông tin chủ yếu từ mạng internet, sách báo,… 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tại Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014 5. Nội dung nghiên cứu Bài báo cáo nêu tổng quan về vấn đề xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam từ đó đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản và đưa ra phương hướng, một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của việt nam trong thời gian tới. PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM 1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu 1.1.1. Khái niệm - Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. - Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. - Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia 1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 1.1.2.1. Yếu tố kinh tế Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng, do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát, tình hình lãi suất. 1.1.2.2. Yếu tố môi trường văn hóa – xã hội Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết định mua hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. 1.1.2.3. Yếu tố môi trường chính trị - pháp luật Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của một nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. 1.1.2.4. Yếu tố cạnh tranh Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp, các công ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường xuất khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình. 1.2. Vai trò và tiềm năm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 1.2.1. Vai trò của xuất khẩu thủy sản trong nền kinh tế Trong nền kinh tế nước ta, thủy sản là một trong những ngành có nhiều khả năng và tiềm lực huy động để phát triển, có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao vào những năm tới và tiến kịp các nước trong khu vực nếu có các chính sách thích hợp và được đầu tư thỏa đáng. Sự giàu về tài nguyên, khí hậu thuận lợi, đa dạng sinh thái đã khiến cho ngành thủy sản nước ta có nhiều ưu thế phát triển quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngành thủy sản từ một lĩnh vực nhỏ bé thuộc một khối nông nghiệp đã vươn lên thành một ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của đất nước. Xuất khẩu thủy sản đã có những đóng góp hết sức to lớn, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thủy sản phát triển nói riêng và sự tăng trưởng kinh tế tế Việt Nam nói chung. Hằng năm, xuất khẩu thủy sản đã đem lại nguồn ngoại tệ rất lớn cho đất nước và trỏ thành một trong bốn ngành dẫn đầu về kim gạch xuất khẩu. Như vậy cùng với các mặt hàng xuất khẩu khác, thủy sản đã góp phần rất lớn trong việc tạo ra nguồn vốn cho sự công nghiêp hóa – hiện đại hóa. Từ một lĩnh vực còn yếu về kĩ thuật, ngành thủy sản đã vươn lên, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, sản xuất hàng hóa phát triển, lấy xuất khẩu làm mũi nhọn. Trong khai thác hải sản, nghề cá nhân dân đã được tổ chức quản lý và hợp tác theo đơn vị truyền nghề, khuyến khích trang bị tàu thuyền có công suất lớn, có khả năng đánh bắt ở vùng biển khơi. Do đó không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị và bảo vệ an ninh đất nước. Bên cạnh đó, phong trào nuôi trồng thủy sản đã phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước, các hình thức nuôi thâm canh, nuôi xen canh tôm – lúa, tôm – cá được thực hiện rộng rãi. Mạng lưới sản xuất giống cũng đã được hình thành ở hầu hết các tỉnh ven biển, đáp ứng yêu cầu sản xuất của dân. Như vậy, nuôi trồng thủy sản đã trở thành một ngành sản xuất chính, có vị trí quan trọng trọng tạo ra việc làm, sản xuất mặt hàng xuất khẩu. Thêm vào đó, công nghiệp chế biến thủy sản với 172 cơ sở đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Sự ra đời hàng loạt nhà máy chế biến thế hệ mới bên cạnh các nhà máy được nâng cấp với quy mô lớn, công nghệ hiện đại đã góp phần đưa công nghệ chế biến thủy sản Việt Nam lên thứ hạn cao trên thế giới. Ngoài ra, do yêu cầu của thị trường thế giới và cũng do cạnh tranh khốc liệt mà các đơn vị hàng thủy sản luôn tìm tòi, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường. Từ đó góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường nội địa, đóng góp sự tăng trưởng GDP của đất nước. 1.2.2. Tiềm năm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 1.2.2.1. Tiềm năng về điều kiện tự nhiên Nằm trong khu vực Biển Đông, Việt Nam đã sớm là một quốc gia biển, đánh bắt hải sản, vận tải biển và buôn bán trên biển là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa ngay từ thuở khai sinh. Biển Việt Nam có tính chất như một vùng biển kín. Vịnh Bắc Bộ tương đối nông, mức sâu không quá 90 mét, đây là biển bằng phẳng nằm trong khu vực Biển Đông. Bờ biển dài 3260km, có vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ. Nhờ đặc điểm địa hình, biển nước ta thuộc loại giàu hải sản. Riêng vùng biển đặc quyền kinh tế với độ rộng hơn 200 hải lý và có khoảng hơn 2000 loài cá biển, trong đó có hơn 100 loài tôm biển, 53 loài mực, 650 loài rong biển, 12 loài rắn biển và có 4 loài rùa biển, ngoài ra còn có nhiều loại đặc sản quý hiếm khác: yến sào, sò huyết, ngọc trai, san hô đỏ. Hàng năm cung cấp khoảng 1.7 triệu tấn hải sản các loại chưa kể hàng răm ngàn tấn nhuyển thể vỏ cứng. Theo tài liệu điều tra nguồn lợi thủy sản của viện nghiên cứu Hải Phòng, thì tổng trữ lượng thủy sản từ các nguồn rong biển trong vùng nước thuộc quyền tài sản của Việt Nam hiện ước tính khoảng 1.2 đến 1.5 triệu tấn/ năm. Về môi trường, nếu biết tận dụng mặt nước của các ao, vịnh, biển, các vùng đất nhiễm mặn ven biển và đất hoang hóa cao triều để mở rộng thêm diện tích nuôi kết hợp với đầu tư chuyển đổi công nghệ, nâng cao năng suất nuôi trồng thì trong những năm về sau ta sẽ thu được nguồn sản lượng lớn. Việt Nam có vị trí địa lý mà ở đó có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để các loại thủy sinh vật quy tụ, sinh sôi, nẩy nở. Mặc dù có đôi nét khác biệt giữa ba vùng Bắc, Trung, Nam nhưng nhìn chưng cả nước mang sắc thái 2 mùa mưa khô rất rõ nét. Mỗi vùng lại tập trung nhiều loại hải sản khác nhau làm cho nguồn hải sản nước ta ngày càng đa dạng và phong phú hơn chẳng hạn: Trung Bộ có rất nhiều cá, tôm hùm…Bắc Bộ có tôm he, cá…Nam Bộ có nhiều mực. Tuy vậy nguồn lợi biển không phải là vô tận, do đó nếu chúng ta không chính sách và biện pháp khai thác hợp lý, đúng đắn thì nguồn lợi hải sản sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng. 1.2.2.2. Tiềm năng về nguồn nhân lực Về nhân lực, chúng ta có lao động nghề cá lên đến 4 triệu người sống tập trung tại các vùng có tiềm năng về thủy sản. Số doanh nghiệp chế biến thủy sản ngày một tăng dã thu hút nhiều hơn nữa số lao động vào trong ngành .Có thể nói Việt Nam là quốc gia có lợi thế về nguồn nhân lực so với nhiều nước khác. Chi phí lao động cho nông dân nuôi cá ở Việt nam chỉ bằng 1/10 chi phí lao động cho nông dân nuôi cá ở Mỹ. Lợi dụng được lợi thế này, Việt nam đã giảm thiểu được chi phí đầu vào cho sản xuất, chế biến thủy sản, nhờ đó có thể giảm giá thành, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao kim ngạch hàng năm như đã thấy.Tuy nhiên cũng phải lưu ý một điểm, lao động của ta chủ yếu chỉ là lao động phổ thông,trình độ nhận thức còn kém, cho nên việc nâng cao Trình độ cho lao động nghề cá cũng là yêu cầu bức thiết trong điều kiện cạnh tranh gay gắt . Bộ thủy sản đang có những biện pháp đẩy mạnh và khuyến khích người dân đánh bắt xa bờ, từ đó tăng sản lương và qui mô khai thác lâu dài. 1.3. Kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản của một số nước 1. Những bất cập trong hoạt động XTTM thủy sản Việt Nam  Trước đây, hoạt động XTTM thủy sản chủ yếu tập trung vào các thị trường quan trọng như Nhật Bản, Mỹ, EU và các thị trường mới (như: Nga, Hàn Quốc, Canada, Úc) khiến thị phần xuất khẩu của những quốc gia này tăng vọt. Tuy nhiên, sau sự kiện tôm Việt Nam bị kiện chống bán phá giá, Nhà nước đã tạo hành lang thuận lợi cho các doanh nghiệp tự chủ động thực hiện XTTM, trong đó có việc tìm hiểu thông tin thương mại, quảng bá sản phẩm, lập trung tâm dữ liệu (hỗ trợ doanh nghiệp), tư vấn xuất khẩu, phát triển thương mại điện tử.  Tại thị trường nội địa, các mặt hàng thủy sản đa dạng và phong phú hơn, nhưng chủ yếu tập trung ở các khu đô thị lớn và cung cấp cho tầng lớp trung lưu trở lên. Trong khi đa số người dân Việt Nam sống ở vùng nông thôn (chiếm gần 70%) và có thu nhập không cao. Nhìn chung, hoạt động XTTM ở thị trường trong nước còn nhiều hạn chế: chủ yếu đang dựa vào hệ thống các siêu thị, chưa có chương trình XTTM cho thị trường nội địa, thông tin chưa đến được với đa số người tiêu dùng.  Về bộ máy quản lý thương mại thủy sản hiện nay đang do nhiều Bộ ngành thực hiện: Bộ Công Thương chủ trì việc ban hành chính sách thương mại, quản lý cạnh tranh, hạn ngạch xuất nhập khẩu, thị trường; Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì việc quản lý và xử lý các vấn đề về rào cản thương mại, rào cản kỹ thuật; Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì và phối hợp thực hiện trong phạm vi quản lý của mình (Cục Chế biến nông lâm thủy sản và Nghề muối thực hiện quản lý Nhà nước về chế biến và thương mại thủy sản). Sở Công thương quản lý các cơ sở chế biến, thương mại thủy sản ở địa phương. 2. Bài học kinh nghiệm từ các nước quốc tế - Nhằm tăng cường quan hệ thương mại song phương và đa phương, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thành lập các Tổ chức XTTM (thường là các cơ quan của Chính phủ). Kinh phí hoạt động của Tổ chức được lấy từ ngân sách Nhà nước và huy động một phần đóng góp từ các doanh nghiệp. Theo đó, phần lớn hoạt động XTTM được các doanh nghiệp thực hiện trực tiếp, trong khi Tổ chức XTTM chỉ đóng vai trò hỗ trợ.  Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan: Thái Lan trở thành một trong những quốc gia có công nghệ XTTM mạnh nhất trong khu vực.Bên cạnh đó, công tác XTTM thủy sản của Thái Lan được tiến hành với sự tham gia của các công ty tiếp thị đa quốc gia, thực hiện việc nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm và đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ toàn bộ các khâu trong chuỗi sản xuất. Ví dụ: với sản phẩm tôm nuôi, Thái Lan đã tổ chức liên kết chuỗi nhằm phát triển đồng bộ ngành công nghiệp nuôi tôm. Một số công ty thương mại lớn của Thái cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tài chính cho các hoạt động nghiên cứu, xây dựng chiến lược XTTM.  Các nước khác trên thế giới: cũng có chương trình và hoạt động XTTM thủy sản hiệu quả, phù hợp với đặc thù sản phẩm của mỗi quốc gia. Nhờ đó, từng bước tạo được thương hiệu chung cho các sản phẩm chủ lực của quốc gia và dần chiếm lĩnh được các thị trường khó tính nhất. Điển hình là bài học kinh nghiệm của Na-Uy với chiến lược phối hợp Nhà nước và cộng đồng trong việc xây dựng, phát triển thương hiệu chung cho các sản phẩm thủy sản của Na-Uy và thương hiệu quốc gia cho sản phẩm cá hồi; đồng thời, tiến hành tiếp cận thị trường Nhật Bản. Đối với mặt hàng vẹm thì Tây Ban Nha và Hiệp hội Vẹm (Bắc Mỹ) đã sử dụng chiến lược hướng dẫn người tiêu dùng và các đầu bếp ở nhà hàng cách thức chế biến và thưởng thức những món ăn ngon làm từ vẹm. Nhờ đó, làm giảm sự e ngại cho các đối tượng sử dụng khi phải xử lí thủy sản có vỏ, còn sống. 3. Một số kết quả đạt được khi tiếp thu học hỏi ý kiến các nước quốc tế - Với những kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn áp dụng của các nước trên thế giới, Việt Nam đã có những định hướng hoàn thiện chính sách XTTM thủy sản (nhằm khuyến khích hoạt động này phát triển mạnh tại Việt Nam) trên nguyên tắc: Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản là chủ thể thực hiện hoạt động XTTM; Nhà nước sẽ đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc xây dựng và thực hiện các chính sách khuyến khích, đầu tư cho hoạt động XTTM; Và giữ vững các thị trường truyền thống (trước khi mở rộng ra các thị trường mới). Bên cạnh đó, hình thành Quỹ Phát triển thị trường xuất khẩu - sao cho tương xứng với yêu cầu thực tế. Xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ về các sản phẩm thủy sản Việt Nam, đồng thời, cung cấp thông tin cập nhật về các thị trường nhập khẩu. - Việt Nam cần xây dựng, phát triển năng lực nghiên cứu thị trường, thành lập các cơ sở dữ liệu chính thống để cung cấp thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp trong nước, và thực hiện nghiêm việc kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu theo chuỗi, đẩy mạnh đầu tư công nghệ, tích cực áp dụng các tiêu chuẩn Quốc gia, Quốc tế để nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng thâm nhập thị trường cho các mặt hàng thủy sản Việt Nam. Ngoài ra, cần đặc biệt lưu ý việc quảng bá hình ảnh của sản phẩm thủy sản - gắn với đặc tính "an toàn" và "thân thiện môi trường" trong tất cả các khâu của chuỗi sản xuất đến tiêu dùng. - Nhanh chóng cải tiến chiến lược XTTM, đẩy mạnh năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm thủy sản của Việt Nam (tôm và cá tra ở ĐBSCL, cá ngừ ở miền Trung, nhuyễn thể ở Đồng bằng sông Hồng). Chỉ như vậy mới đảm bảo tính bền vững cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam bước vào thị trường Quốc tế, đối chọi được với sự lớn mạnh không ngừng của rất nhiều đối thủ tiềm năng trên thế giới. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010- 2014 2.1. Tình hình sản xuất thủy sản ở nước ta Trong giai đoạn 2010-2014, sản lượng sản xuất thủy sản nhìn chung tăng qua các năm, đóng góp rất lớn vào GDP cả nước. Tuy việc khai thác nuôi trồng gặp không ít khó khăn do điều kiện thời tiết, dịch bệnh, vốn và áp lực thị trường thế giới nhưng đã kịp thời khắc phục, ngành thủy sản đã có nhiều khởi sắc: Bảng 1: Tổng sản lượng thủy sản giai đoạn 2010-2014 Đơn vị: ngàn tấn Năm 2010 2011 2012 2013 2014 Tổng sản lượng 5.142,7 5.447,4 5.820,7 6.019,7 6.332,5 Sản lượng khai thác 2.414,4 2.514,3 2.705,4 2.803,8 2.919,2 Sản lượng nuôi trồng 2.728,3 2.933,1 3.115,3 3.215,9 3.413,3 Nguồn: Tổng cục Thống Kê Biểu đồ 1: Sản lượng thủy sản giai đoạn 2010 - 2014 - Năm 2010: Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thủy sản năm 2010 ước đạt 5.157,6 ngàn tấn, tăng 6,4% so với năm 2009; trong đó, sản lượng khai thác đạt 2.450,8 ngàn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch năm; sản lượng nuôi trồng đạt 2.706,8 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch năm. - Năm 2011 + Về khai thác thủy sản Theo báo cáo tổng hợp của các địa phương, 10 tháng đầu năm 2011, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt gần 2.165 nghìn tấn. Trong đó, sản lượng khai thác hải sản ước đạt 2013 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ. Sản lượng cá Ngừ đại dương đạt gần 12,8 nghìn tấn. + Về nuôi trồng thủy sản Tháng 10/2011, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 250 nghìn tấn, đưa tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm lên trên 2,4 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2010. Sản lượng nuôi trồng nước mặn, lợ tăng 7% trong khi sản lượng nuôi trồng nước ngọt có mức tăng cao hơn, đạt 12,3%, trong đó cá tra tăng 10% - Năm 2012 Năm 2012, tình hình sản xuất thủy sản gặp nhiều khó khăn nhưng ngành thủy sản vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao hơn so với năm 2011. Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, năm 2012, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 5,92 triệu tấn, tăng 7,9% so với năm 2011 và tăng 2,9% so với kế hoạch. Tổng sản lượng khai thác thủy sản đạt hơn 2,65 triệu tấn (tăng 6,0% so với cùng kỳ), trong đó, khai thác hải sản đạt 2,44 triệu tấn, tăng gần 6,1% so với năm 2011. Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt hơn 3,27 triệu tấn, tăng 8,99% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,3% so với kế hoạch đề ra. - Năm 2013 Theo Tổng cục Thống kê, ước tính giá trị sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2013 (tính theo giá so sánh 2010) ước đạt 131.350,3 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó giá trị nuôi trồng thủy sản ước đạt 80.068,6 tỷ đồng và giá trị khai thác thủy sản ước đạt 51.281,8 tỷ đồng. Bảng 2: Ước giá trị sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2013 (theo giá so sánh 2010) Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 9 tháng 2012 Ước 9 tháng 2013 So sánh cùng kỳ Tổng giá trị SXTS 126.997,7 131.350,3 103,4 1. Nuôi trồng TS 77.152.4 80.068,6 103,8 2. Khai thác TS 49.845,3 51.281,8 102,9 + KT hải sản 46.052,3 47.113,4 102,3 + KT nội địa 3.793 4.168,4 109,9 Nguồn: Tổng cục Thống kê Bảng 3: Ước sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2013 TT Chỉ tiêu ĐV tính KH năm Sản lượng So sánh cùng kỳ I Tổng sản lượng thủy sản 1.000 tấn 5.700 4.493,5 102,66 1 Sản lượng khai thác 1.000 tấn 2.400 2.140,5 103,30 SL khai thác hải sản 1.000 tấn 2.200 1.997,0 103,10 SL khai thác nội địa 1.000 tấn 200 145,0 107,33 2 Sản lượng nuôi trồng 1.000 tấn 3.300 2.353,0 102,08 a Thủy sản mặn, lợ 1.000 tấn 1.050 111,6 Trong đó: Tôm sú 1.000 tấn 340 150 95,7 Tôm thẻ 1.000 tấn 190 110 148 b Thủy sản nước ngọt 1.000 tấn 2.250 Trong đó: Cá tra 1.000 tấn 1.200 810 95,1 Nguồn: Trung tâm Thông tin Thủy sản, Vụ NTTS + Khai thác thủy sản 9 tháng đầu năm 2013, ngành khai thác biển diễn ra thuận lợi, sản lượng tăng cao so với năm trước. Thời tiết nhìn chung diễn biến thuận lợi cho khai thác hải sản. Mặc dù có đến 8 cơn bão ảnh hưởng đến vùng biển nước ta nhưng không có cơn bão nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Sản xuất cá ngừ thuận lợi về đầu năm nhưng sau đó gặp phải khó khăn do giá mua nguyên liệu giảm. Sản lượng cá ngừ tăng cao trong những tháng đầu năm nhưng chững lại và có xu hướng giảm vào tháng 5, tháng 6 do giá liên tục ở mức thấp. + Nuôi trồng thủy sản Hoạt động nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm đối mặt với nhiều khó khăn. Thời tiết không thực sự thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản.Rét đậm đầu năm tại miền Bắc làm chết nhiều cá nuôi tại các địa phương. Nắng nóng và thay đổi nhiệt độ bất thường vào giữa năm cũng làm tăng dịch bệnh và gây thiệt hại cho nhiều mặt hàng như ngao, tôm. Trong quý III, ảnh hưởng những con bão lớn số 6 và số 7 khiến nhiều địa phương bị thiệt hại nặng. Ngoài ra, những bất ổn và rào cản từ thị trường xuất khẩu như thuế chống bán phá giá áp với mặt hàng cá tra vào Mỹ, thay đổi chính sách nhập khẩu ngao của Trung quốc… cũng gây khó khăn đáng kể cho hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản. - Năm 2014 Theo Tổng cục Thống kê, ước tính giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 (tính theo giá so sánh 2010) ước đạt gần 188 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, giá trị nuôi trồng thủy sản ước đạt hơn 115 nghìn tỷ đồng và giá trị khai thác thủy sản ước đạt hơn 73 nghìn tỷ đồng. Bảng 4: Giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 theo giá so sánh 2010 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 So sánh 2014/2013 Giá trị sản xuất thủy sản 176.548,0 188.083,9 106,5 - Nuôi trồng thủy sản 106.570,1 115.060,6 108,0 - Khai thác thủy sản 69.977,9 73.023,3 104,4 Nguồn: Tổng cục Thống kê Năm 2014 được đánh giá là năm thuận lợi cho hoạt động sản xuất và nuôi trồng thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 ước đạt 6,3 triệu tấn, tăng 4,4% so với năm 2013 và tăng 1,7% so với kế hoạch đề ra, trong đó, sản lượng khai thác thủy sản đạt 2,68 triệu tấn, tăng 3,9% và nuôi trồng thủy sản đạt 3,62 triệu tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ. 2.2. Tình hình chế biến thủy sản xuất khẩu ở nước ta Những năm 80 của thế kỷ trước, chế biến thủy sản chủ yếu là thủ công và bán cơ giới, thì nay công nghiệp chế biến thuỷ sản của Việt Nam đã tiếp cận với trình độ công nghệ tiên tiến của khu vực. Vì vậy nhiều loại sản phẩm thuỷ sản chế biến đã đủ tiêu chuẩn vào các thị trường lớn là EU, Mỹ, Nhật Bản. Đến hết năm 2012, cả nước có 564 cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu đạt các điều kiện an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam . Trong đó, 91 cơ sở là doanh nghiệp nhà nước, 292 cơ sở là doanh nghiệp tư nhân, 159 cơ sở là công ty cổ phần, 9 cơ sở liên doanh và 13 cơ sở 100% vốn nước ngoài, 153 doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản được công nhận vào danh sách xuất khẩu vào thị trường EU; 255 cơ sở đạt tiêu chuẩn vào Thuỵ Sỹ và Ca na đa; 222 cơ sở đạt tiêu chuẩn vào Hàn Quốc… Ngoài doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp chế biến tư nhân cũng phát triển khá mạnh, trong đó một số doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu đạt tới 100 triệu USD mỗi năm. Các cơ sở tập trung chủ yếu ở Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long - là những nơi có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu khai thác, nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh những thế mạnh về năng lực chế biến, hiện nay, ngành chế biến thủy sản đang phải đối mặt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, khi người dân và một số doanh nghiệp thủy sản đang lạm dụng hóa chất trong hoạt động nuôi trồng và bảo quản
Xem thêm

54 Đọc thêm

tìm hiểu công ty cổ phần Hùng Vương

tìm hiểu công ty cổ phần Hùng Vương

1.1 Giới thiệu chung về công ty Tiền thân Công ty Cổ phần Hùng Vương là công ty TNHH Hùng Vương, được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2003 tại khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Sau hơn 10 năm hoạt động, công ty CP Hùng Vương tự hào trở thành doanh nghiệp chế biến cá da trơn xuất khẩu lớn nhất Việt Nam và là doanh nghiêp duy nhất ở Việt Nam có quy trình sản xuất khép kín từ sản xuất thức ăn chăn nuôi đến nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu và cũng là đơn vị dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN HÙNG VƯƠNG Tên giao dịch quốc tế : Hung Vuong Corporation Tên ngắn gọn : HV corp Mã chứng khoán : HVG Vốn điều lệ tính đến tháng 92015: 1.891.893.320.000. Giấy phép đăng ký kinh doanh : số 1200507529 ; thay đổi lần 10 ngày 05102012 Ngành nghề kinh doanh : • Nuôi trồng thủy sản nội địa; • Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản; • Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản; • Tư vấn, môi giới, đấu giá Bất động sản, đấu giá quyền sử dụng đất • Kinh doanh kho lạnh, Kiểm nghiệm hóa sinh. Nhân sự : Hơn 17.000 lao động Thị trường xuất khẩu: Châu Âu, Brazil, Mexico, Úc, Mỹ, Trung Đông và các nước Châu Á. Địa chỉ : Lô 44 khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam 1.2 Lịch sử hình thành Công ty Cổ phần Hùng Vương tiền thân là Công ty TNHH Hùng Vương được thành lập và đi vào họat động sản xuất tại Khu Công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2003 với ngành nghề chính là chế biến cá tra fillet đông lạnh xuất khẩu. Vốn điều lệ ban đầu là 32 tỉ đồng với công suất là 50tấn nguyên liệungày và 500 cán bộ công nhân viên. Năm 2004, Công ty phát triển nhà máy thứ 2 tại KCN Mỹ Tho, nâng công suất chế biến lên gấp 3 lần đạt 150 tấnngày. Năm 2005, Công ty mua đấu giá nhà máy thủy sản Tiền Giang và thành lập Công ty TNHH An Lạc – Tiền Giang. Công suất của nhà máy là 50 tấnngày. Đồng thời, Công ty cũng đầu tư xây dựng vùng nuôi có diện tích là 40 ha ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang và Huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre. Năm 2006, Hùng Vương thành lập mới Công ty TNHH Châu Á ở KCN Mỹ Tho, Tiền Giang và mua lại Công ty Chế biến Thủy sản Vĩnh Long (đổi tên là Công ty TNHH Hùng Vương –Vĩnh Long). Tổng công suất của Châu Á và Hùng Vương – Vĩnh Long là 160 tấnngày. Tháng 12007, Hùng Vương chính thức trở thành công ty cổ phần với vốn điều lệ 120 tỉ đồng và nâng lên 250 tỷ để hợp nhất các công ty con. Trong năm 2007, công ty tiến hành chào báo cổ phiếu thêm 2 đợt nữa, tăng vốn điều lệ từ 250 tỷ lên 300 tỷ đồng và sau đó lên 350 tỷ đồng Trong năm 2008, Công ty phát hành riêng lẻ cho các nhà đầu tư lớn nâng vốn điều lệ từ 350 tỷ đồng lên 420 tỷ đồng, thu về thặng dư vốn hơn 800 tỷ đồng và phát hành cổ phiếu để trả cổ tức tăng vốn điều lệ lên 495 tỷ đồng. Trong quý 32009, Hùng Vương tiếp tục phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và phát hành cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên, tăng vốn điều lệ lên 600 tỷ đồng. Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 8 ngày 21062010, vốn điều lệ của công ty là 659.980.730.000 đồng. Theo Giấy chứng nhận ĐKKD thay đổi lần thứ 10 từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh TIền Giang, vốn điều lệ của Công ty tăng lên 791.976.870.000 đồng thông qua phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu trong tháng 92012. Tháng 72013, Công ty nâng vốn điều lệ lên 1.199.999.930.000 đồng thông qua hình thức phát hành cổ phiếu cho CBCNV và thưởng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu Tháng 82014, Vốn điều lệ được nâng lên 1.319.998.100.000 đồng thông qua hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu. Tháng 92015, Vốn điều lệ được nâng lên 1.891.893.320.000 đồng.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TẬP SGK MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9 (45)

BÀI TẬP SGK MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9 (45)

CÂU 2 TRANG 134 SGK ĐỊA LÍ 91. Những thế mạnh để phát triển ngành thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long:+ Về tự nhiên:- Giáp vùng biển có ngư trường lớn Cà Mau - Kiên Giang, vùng biển có nhiều bãi tôm,bãi cá với trữ lượng lớn (chiếm hơn 1/2 trữ lượng hải sản của cả nước). Nội địa có nguồnlợi thủy sản phong phú của mạng lưới sông rạch dày đặc- Có diện tích mặt nước thích hợp để nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước (hơn 50 vạn ha):• Ven biển có nhiều bãi triều, rừng ngập mặn, vùng cửa sông thích hợp cho việc nuôitrồng thủy sản nước lợ, nước mặn (tôm sú, cua biển, sò huyết ....)• Nội địa có nhiều diện tích mặt nước của sông rạch, ao hồ thích hợp để nuôi thủy sảnnước ngọt (cá ba sa, cá tra, tôm càng xanh ...)- Thời tiết tương đối ổn định, ít xảy ra tai biến thiên nhiên- Có nhiều nguồn gien thủy sản với nhiều loại thủy sản có giá trị cao (tôm càng xanh, cátra )+ Về kinh tế - xã hội:- Nguồn lao động có truyền thống, nhiều kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng thủy sảnđông đảo, năng động, thích ứng linh hoạt với nền kinh tế thị trường- Có nhiều cơ sở sản xuất giống và chế biến thủy sản - Có đội tàu thuyền đánh bắt thủy sản rất lớn- Có thị trường tiêu thụ rộng lớn trong nước (tại chỗ của hơn 17 triệu dân, Đông NamBộ ..ệ.) và nước ngoài (các thị trường EU, Bắc Mĩ, Nhật Bản ....)- Được sự khuyến khích và chú trọng đầu tư của Nhà nước2/ Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh đặc biệt trong nghề nuôi tôm và nuôi cátra, cá ba sa xuất khẩu vì:+ Môi trường tự nhiên có nhiều lợi thế hơn các vùng khác trong nước:- Diện tích mặt nước có thể sử dụng để nuôi tôm lớn nhất nước (cả ở ven biển, ven đảo vànội địa)- Nắng ấm quanh năm, thời tiết ít biến động, ít thiên tai- Có nguồn gien tôm giống có giá trị kinh tế cao (cá ba sa, cá tra, tôm càng xanh, tôm sú)
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH THÁI CỦA CÁ TRA PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG VÀ CÁ GIỐNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH THÁI CỦA CÁ TRA PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG VÀ CÁ GIỐNG

du cỡ nhỏ như luân trùng, trứng nước. Cá hoạt động rất mạnh, chúng ăn tất cả các loạithức ăn trên đường đi kể cả những thức ăn có kích cỡ lớn hơn cỡ miệng của chúng nhưcá bột đồng loại (Dương Nhựt Long, 2003). Theo Nguyễn Văn Kiểm (2005), cá tra saukhi nở 60 – 62 giờ thì có răng, có khả năng bắt mồi nên chúng ăn nhau rất nhiều. Tínhhung dữ của cá giảm dần và sau khoảng 10 ngày tuổi thì khả năng sát hại không đángkể.Cá tra có dạ dày phình to hình chữ U và có thể co giãn được, ruột cá tra ngắn khônggấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục.Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyểnđổi thức ăn. Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn như mùnbã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật. Trong ao nuôi, cá tra có khả năng thích ứngcao với các loại thức ăn khác nhau như cám, rau muống, động vật đáy ngoài ra cá cònsử dụng tốt các loại thức ăn công nghiệp do con người cung cấp (Trương Thủ Khoa vàTrần Thị Thu Hương, 1993; Phạm Văn Khánh, 2004; Dương Nhựt Long và ctv.,2014).2.1.5 Đặc điểm sinh trưởngTốc độ tăng trưởng của cá tra tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài, cá2 tháng đạt chiều dài 10 – 12cm (14- 15g). Cá từ 0,3 – 0,4 kg/con tăng nhanh về chiềudài và trọng lượng, cá từ 2,5 kg/con trở đi mức tăng trọng nhanh hơn so với tăng chiềudài cơ thể và cá trên 10 tuổi tăng trọng rất ít (Nguyễn Chung, 2008). Theo Lê NhưXuân và ctv (1994), trong điều kiện nuôi dưỡng dưới dạng truyền thống, bình quân sau1 năm nuôi khối lượng của cá có thể đạt từ 0,7 – 0,8 kg/con, sau khoảng 3 – 4 nămnuôi, khối lượng của cá có thể đạt khối lượng đến 2,5 – 3,5 kg/con và sau 10 – 12 nămcá tra nuôi trong ao có thể đạt khối lượng đến 20 – 25 kg. Ngược lại, khi sử dụng thứcăn viên công nghiệp với chất lượng dinh dưỡng cao, hàm lượng protein dao động từ 18– 28%, khẩu phần cung cấp cho cá ăn thích hợp với các giai đoạn phát triển, khốilượng của cá có thể đạt từ 1,0 – 1,2 kg/con/vụ nuôi 6 tháng; Thực nghiệm nuôi cá trathương phẩm trong ao đất của Bộ môn nuôi cá nước ngọt, Khoa Thủy sản – Đại họcCần Thơ từ năm 2001 – 2003 cho thấy trong điều kiện nhiệt độ nước dao động từ 28 –30,5ºC, độ trong 10 – 20cm, pH từ 6,5 – 7,0, hàm lượng oxygen 2,6 – 6,0 ppm, N–
Xem thêm

41 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI CÔNG TY CP XNK THUỶ SẢN CỬU LONG AN GIANG ACL

BÁO CÁO THỰC TẬP TẠI CÔNG TY CP XNK THUỶ SẢN CỬU LONG AN GIANG ACL

I.Đánh giá ngành Thuỷ sản.1.Tổng quan về ngành TS.Với bờ biển trải dài trên 3260 km và vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có 4000 hònđảo lớn nhỏ với nhiều vịnh, vũng; khoảng 2860 con sông, ngòi và có nhiều hồ tự nhiên lạinằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên rất thuận lợi cho việc phát triển thuỷ sản cả trên hailĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Không phải bất cứ quốc gia nào cũng có đượcđiều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thuỷ sản như Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2diện tích đất liền lại có 1km chiều dài bờ biển, đây là tỉ lệ rất cao trong số các quốc gia vàvùng lãnh thổ có bờ biển.Trứơc đây sản lượng ngành thuỷ sản chủ yếu dụa vào khai thác thuỷ hải sản nhưngtrong nhưng năm gần đây thì sản lượng nuôi trồng đang vươn lên ngang tầm đảm bảonguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về mở rộng quanhệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới. Năm 1996, ngành thuỷ sảnmới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001,quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùnglãnh thổ, đến năm 2007 là 130 quốc gia.Trong những năm gần đây, thuỷ sản đã đóng một vai trò quan trọng và trở thànhngành kinh tế mũi nhọn chiếm 8,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước với tốc độ tăngtrưởng cao, bình quân 18,4%/ năm, là một trong 4 ngành hàng có gía trị xuất khẩu hơn 3 tỷUSD và được Chính phủ khuyến khích đầu tư phát triển. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 7trên thế giới về xuất khẩu thuỷ sản và là một trong các cường quốc về thuỷ sản của thế giới2.Thực trạng ngành TS.Năm 2007, sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 3,9 triệu tấn trong đó khai thácđạt 1,95 triệu tấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD, tăng12% so với năm 2006 ,Việt Nam trở thành một trong 10 nước có giá trị xuất khẩu thuỷ sảnhàng đầu thế giới. Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt mức 4,5 tỷUSD vào năm 2008.. Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản phẩmxuất khẩu ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, cơ cấu; ngoài sản phẩm đông lạnh còn córất nhiều loại sản phẩm chế biến sẵn; mặt hàng chủ lực là tôm chỉ còn chiếm tỷ trọng gần
Xem thêm

25 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ TRA Ở TỈNH AN GIANG (LV THẠC SĨ)
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN VĂN KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KẾT DÍNH TỪ GELATIN TỪ DA CÁ TRA TRONG LÀM THỨC ĂN CHO TÔM

LUẬN VĂN KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KẾT DÍNH TỪ GELATIN TỪ DA CÁ TRA TRONG LÀM THỨC ĂN CHO TÔM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THAM KHẢO :KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KẾT DÍNH TỪ GELATIN TỪ DA CÁ TRA TRONG LÀM THỨC ĂN CHO TÔM

35 Đọc thêm

KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NƯỚC TRONG NGÀNH NUÔI TRỒNG CÁ TRA Ở KHU VỰC ĐBSCL

KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NƯỚC TRONG NGÀNH NUÔI TRỒNG CÁ TRA Ở KHU VỰC ĐBSCL

Kiểm soát ô nhiễm nước trong ngành nuôi trồng cá tra ở khu vực ĐBSCL

61 Đọc thêm

Luận văn kinh tế nông nghiệp

LUẬN VĂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 20112013 Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra giai đoạn 20112013 Đánh giá chung về mặt hàng cá tra hiện nay và tìm ra điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức. Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết những khó khăn, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho cá tra. 1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu Sử dụng phương pháp phân tích số liệu để thấy được tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra của Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2013 nhằm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ cá tra Dùng phương pháp liệt kê, so sánh và phân tích để thấy được tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra tại Việt Nam từ năm 20112013. Dùng phương pháp phân tích, thống kê để tìm ra thế mạnh và điểm yếu của cá tra, những cơ hội và thách thức đối với cá tra trên thế giới. Dùng phương pháp suy luận và tổng hợp để đề xuất giải pháp giúp việc XK cá tra có kết quả cao. Đồng thời, giúp nâng cao thu nhập cho người nông dân nuôi cá.
Xem thêm

52 Đọc thêm

Cùng chủ đề