E HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG HÌNH ẢNH THƠ TRÊN QUA ĐÓ TA CẢM NHẬN MỘT CUỘC SỐNG NHƯƯ THẾ NÀO TRÊN VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "E HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG HÌNH ẢNH THƠ TRÊN QUA ĐÓ TA CẢM NHẬN MỘT CUỘC SỐNG NHƯƯ THẾ NÀO TRÊN VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC":

Anh (chị) suy nghĩ gì về tinh cảm quê hương

ANH (CHỊ) SUY NGHĨ GÌ VỀ TINH CẢM QUÊ HƯƠNG

Quê hương nêu ai không nhớ.Sẽ không lớn nối thành người(Đỗ Trung Quân).Hai câu thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về tinh cảm quê hương Bài làm Trời chiều, nếu để ý những chú chim, ta sẽ thấy những chùm khế ngọt ngào, đã nối những đường làng khúc khuỷu, đã níu sợi dây diều biếc xanh, chiếc nón mẹ trắng nghiêng che thành một quê hương trong tiềm thức đủ sức lay động những tâm hồn nhạy cảm hay khiến cảm giác bùi ngùi ùa về. Con người là một trong những tâm sinh thể bí ẩn bậc nhất của tự nhiên và của cuộc đời. Đời sống tinh thần phong phú là một trong những điều khẳng định sự phức tạp đó. Con người có mối ràng buộc mật thiết với cuộc sống đang diễn ra xung quanh, với những gì đã từng gắn bó, từ đó tạo nên tính cách, thói quen, bổn phận của mỗi con người. Tôi chợt nhớ mây câu thơ Chế Lan Viên: Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát Có cánh cò đang bay... (Con cò) Có con cò rập rờn bay trong câu ca của mẹ, có quê hương xanh biếc trong từng lời ru hời thuở bé, mẹ đưa nôi và bé ngủ rất sâu, trong giấc mơ bé lại gặp quê hương của mình... Một ngày kia, bé lớn lên trong vòng tay chở che của và của quê hương ngọt ngào. Không chỉ những yếu tố vật chất, mà cả những yếu tố  tinh thần dìu dắt con người trưởng thành. Trong những tình cảm ấy, giống như gia đình cho ta nơi trở về sau hành trình dài, cho ta một nơi luôn là ấm áp, chở che, nếu như bạn bè cùng ta bước đi trong cuộc sống với những : thấu hiểu, sẻ chia, cùng ta san bớt gánh nặng mỗi khi cuộc đời trút xuống hay mỗi khi bạn mình cười thì tình quê hương, tuy khó khăn hơn để cảm nhận nhưng lại là một tình cảm hết sức thiêng liêng và khó thể thay thế.  Có người từng nói về một số nhà thơ trong phong trào Thơ mới: "Nêu như Anh Thơ thạo về cảnh quê, Đoàn Văn Cừ giỏi vế nếp quê, Bàng Bá Lân nghiêng về đời quê thì Nguyễn Bính lại đậm hồn quê". Thì ra, quê hương vừa bao hàm những yếu tố cụ thể là cây đa, bến nước, mái đình, là con đò, làng xóm, bờ tre, gốc rạ... Tức là quê hương vừa có cảnh quê, vừa có hồn quê. Mỗi đều được sinh ra, lớn lên từ những điều kiện vật chất, tinh thần ấy. Vậy "Quê hương là gì hở mẹ - Mà cô giáo dạy phải yêu"? Mỗi con người được sinh ra từ một vùng quê cụ thể đều có một quê hương. Mỗi người muốn hay không đều thừa hưởng những giá trị vật chất, tình thần của quê mình. Nói dù muốn hay không là bởi lẽ, có những con người vì thiển cận chối bỏ điều không thể chối bỏ - quê hương. Những nét đẹp văn hoá, những thuần phong mĩ tục của quê hương góp phần hình thành nhân cách, lối sống của mỗi người. Chính vì thế mỗi người đều ít nhiều mang dấu ấn của vùng quê nơi mình sinh ra. Nhắc đến Chủ tịch Hổ Chí Minh, không thể không nói đến quê hương xứ Nghệ nơi hội tụ những truyền thống bất khuất đã hun nên phẩm chất người con ưu tú của dân tộc. Với các nhà văn, quê hương và ảnh hưởng lớn đến phong cách sáng tạo của họ, làm nên những dâu ấn rõ trong tác phẩm của mỗi người. Đó là một Xuân Diệu với hồn thơ dạt dào, nồng nàn như sóng biển Quy Nhơn; đó là một Hoàng Cẩm đa tài, đa tình với lá diêu bông mơ ảo của quê hương Kinh Bắc; đó là một Thạch Lam trầm tĩnh, tâm với hoàng lan Hà Nội và đó là một Nam Cao luôn day dứt, ăn năn bên những mành đời đang bị tha hoá, bần cùng hoá vùng chiêm trũng Hà Nam Cách mạng tháng Tám... Chắc hẳn chừng nào Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm còn được yêu thích thì chừng đó hoàn cảnh ra đời cùa bài thơ còn được nhắc đến. Ấy là khi giả cùa nó đối mặt với một bối cảnh đặc biệt cho phép bộc lộ rõ ràng tình với quê hương. Sự liên tưởng ấy cũng cho phép người đọc nghĩ đến một điều : Ngày nay, chúng ta làm gì để thê hiện tình cảm với quê hương? Ớ đây, muốn nói đêh những hành động cụ thê’ đế góp phần xây dựng, làm giàu quê hương. Bạn có thể làm giàu cho quê hương trên chính mảnh đất mình ra, bạn cũng có thể đang sinh sống, học tập và lao động ở một vùng trời a nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, nếu bạn luôn phấn đấu để làm rạng danh cho quê hương, luôn hướng về quê hương bằng nhũng hành động cụ thể khi ấy bạn hoàn toàn có thể tự hào rằng, bạn chính là một phần máu thịt quê hương rồi đây!   "Anh đi anh nhó quê nhà - Nhớ canh rau muông, nhớ cà dầm tương…” Quê hương trong nỗi nhớ của những kẻ xa quê thật sâu sắc, thấm thìa, ngọt ngào. Đó có thể là một câu hò, mùi hương lúa chín, một áng mây, một vạt nắng, khi chi là một cảm giác vu vơ mơ hồ nhưng đủ sức gợi và đưa ta đi miền trong kí ức, xuôi ngược giữa quá khứ với hiện tại trong êm đềm. Quê hương góp phần tạo nên những tiền đề đầu tiên để ta vững bước vào đời. Quê hương cùng là điểm tựa tinh thần khi ta gặp những khó khăn, trở ngại trên đường đời. Hạnh phúc biết mấy sau bao tháng ngày rong ruổi nơi đất khách quê người được nghe một giọng nói quê hương. Thi vị biết mấy khi chợt bắt gặp một tà áo dài Việt bay giữa kinh đô Pa-ri hoa lệ. Cảm nhận được những giá trị to lớn của quê hương, sống xứng đáng với quê hương, khi đó, mỗi người sự trưởng thành, trở thành những nhân cách cao đẹp. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, quê hưong là một khái niệm rộng. Đó còn là một ngôi làng cụ thể, cũng có thể là một vùng miền rộng lớn hơn, và khi quê hương chính là đất nước, là Tổ quốc. Tình yêu quê hương cũng vì thế mà gắn liền với tình yêu gia đình, yêu giang sơn, yêu đất nuớc: "Lòng nước ban đầu là lòng yêu nhũng vật tầm thường nhất [...]. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc" (I-lia Ê-ren-bua). Hai tiếng Tổ quốc rung lên trong tim chúng ta thật thiêng liêng và rất tự hào. Tổ quốc chính là đất nước mình được gọi lên một cách trân trọng, thân thương. Những tiếng "Tổ quốc tôi" vang lên trìu mến và gần gũi như "mẹ của tôi" hay "cha của tôi", "quê hương của tôi"... Quê hương vang vọng trong thơ của Đỗ Trung Quân, quê hương nằm trong trái tim mỗi con người. Nguyễn Hạnh Lê - Lớp 12 Văn, Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tổng hợp các bài văn nghị luận phàn 1

Tổng hợp các bài văn nghị luận phàn 1

Phân tích Ngô Tử Văn trong chuyện chức phán sự đền Tản Viên. Phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ Viếng lăng Bác. Tính cách nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên qua đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Giai thích ý nghĩa câu”con ngoan,trò giỏi” Suy nghĩ của em về hiện tượng vứt rác bừa bãi hiện nay. Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Bác Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè. Ấn tượng của anh (chị) về hình ảnh người trai thời Trần sau khi học bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão. Phân tích tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí của Nguyễn Du. Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghị luận văn học “Sách là người bạn lớn” . Nghị luận Xã Hội Facebook và giới trẻ ngày nay. Cảm nhận về nhân vật cô Tấm. Phân tích bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh khổ 5,6,7. Tôn sư trọng đạoTruyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. NLXH: Bàn về vai trò của việc tự học. Em nghĩ thế nào về hiện tượng lười học hiện nay. Suy nghĩ của anh chị về câu nói” Ai cũng muốn làm điều gì đó rất lớn lao nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống được tạo thành từ những điều rất nhỏ” Trình bày ý kiến của anh chị về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai. Nghị luận xã hội về Sự đồng cảm sẻ chia. Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Suy nghĩ của em về câu nói “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương” Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây. Phải chăng: Một điều nhịn, chín điều lành? Anh chị hãy viết bài văn bình luận câu tục ngữ này. Khoảnh khác chuyển mùa từ hạ sang thu. Một bài học sâu sắc, ý nghĩa mà cuộc sống đã tặng cho em ” Bản chất của thành công”. Bài viết số 2 lớp 10 đề 3: Tưởng tượng và viết tiếp đoạn kết cho những câu truyện sau: Truyện An Dương Vương. Bài viết số 2 lớp 10 đề 2: Hãy tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện Mị Châu – Ttrọng Thủy. Bài viết số 2 lớp 10 đề 1: Em hãy kể lại 1 kỷ niệm sâu sắc nhất về gia đình, bạn bè, người thân, thầy cô. Bài viết số 1 lớp 10 đề 1: Cảm nghĩ của em ngày đầu tiên bước chân vào trường PTTH. Một triết học nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lònng thì chẳng là gì cả. Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” Nghị luận Trang phục và văn hóa. NLVH: Không thầy đố mày làm nên” nhưng cũng có câu “Học thầy không tày học bạn Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ. Nghị luận xã hội về tác hại của rượu. Nghị luận xã hội vể tình yêu quê hương. Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Phân tích tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ. Nghị luận xã hội về câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Nghị luận xã hội về biến đổi khí hậu. NLXH: Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Cảm nhận về hình ảnh quê hương trong thơ Tế Hanh. Cảm Nhận Về Đoạn Trích “Chị Em Thúy Kiều” của Nguyễn Du. Dựa vào bài “Đi bộ ngao du” của nhà văn Ruxô, em hãy trình bày hiểu biết về lợi ích của việc đi bộ. Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu). NLVH: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…” (Mùa lạc – Nguyễn Khải) NLXH: Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. NLXH: Trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ.
Xem thêm

Đọc thêm

BÌNH GIẢNG HAI CÂU THƠ VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG ĐAU THƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI TRONG BÀI ĐẤT NƯỚC: ÔI NHỮNG CÁNH ĐỒNG QUÊ CHẢY MÁU DÂY THÉP GAI ĐÂM NÁT TRỜI CHIỀU

BÌNH GIẢNG HAI CÂU THƠ VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG ĐAU THƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI TRONG BÀI ĐẤT NƯỚC: ÔI NHỮNG CÁNH ĐỒNG QUÊ CHẢY MÁU DÂY THÉP GAI ĐÂM NÁT TRỜI CHIỀU

Bài thơ Đất nước (1948-1955) được Nguyễn Đình Thi thai nghén trong 8 năm, gần như suốt chiều dài cuộc kháng chiến chông Pháp. Cảm hứng về "đất nước" được ấp ủ, tích lũy và đã "chín" trong hồn thơ ông. Đó là một cảm hứng thơ tổng hợp – khái quát để có thể dựng lên một tượng đài Đất nước khái quát – tổng hợp. Ngay cả hình ảnh đất nước đau thương trong chiên tranh cũng được nhà thơ cô đúc lại trong hai câu thơ hàm chứa nhiều ý nghĩa: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều. Chỉ hai câu thơ 14 chữ mà thi sĩ đã dựng lên đầy đủ, sâu sắc và gợi cảm hình ảnh đất nước đau thương trong chiến tranh hủy diệt tàn bạo cùa quân thù. Câu trên nói về đất, câu dưới nói về trời.’ Đất: chảy máu. Trời: bị đâm nát. Cả đất trời quê ta đều bị hủy diệt bởi chiến tranh tàn bạo của quân giặc nước. "Những cánh đồng quê chảy máu" là hình ảnh của nỗi đau vật chất, còn "dây thép gai đâm nát trời chiều" là cuộc sống tinh thần, tình cảm đã bị chà đạp thảm thương. Vậy là, cả đất trời Tổ Quốc ta, cả cuộc sống vật chất và tinh thần của dân ta đã bị chiến tranh hủy điệt tan tành. Nỗi đau xót như đúc lại trong từng hình ảnh thơ, nén lại trong từng chữ. Một nỗi đau toàn điện, chứa chất căm hờn. Nguyễn Đình Thi không nói đến những cánh đồng quê cụ thể mà ở đây là những cánh đồng quê đất nước đã chảy máu. Cánh đồng quê đã được khái quát mang ý nghĩa biểu trưng cho đất nước, cần chú ý cách nói của thi sĩ: cánh đồng quê chảy máu. Trong đất chỉ có nước, không có máu thì sao cánh đồng quê lại có thể chảy máu được? Đó chính là cơ thể Tổ Quốc, đang chảy máu dưới bom đạn hủy diệt của quân thù, Hình ảnh thơ giàu sức gợi và sức liên tưởng, cánh đồng quê mà chảy máu thì đó là hình ảnh khái quát sâu sắc về nỗi đau lớn trong chiến tranh. Và nỗi đau càng lớn thì tội ác quân thù càng chồng chất. Hẳn là Nguyễn Đình Thi đã chứng kiến nhiều cảnh đồng quê bị tàn phá như thế nên đã khái quát lại thành hình ảnh "cánh đồng quê chảy máu" trong câu thơ đầy ấn tượng này. Đến câu thứ hai lại là một cách nói mới mẻ và hiện đại của thi sĩ: Dây thép gai đâm nát trời chiều. "Dây thép gai" là hình ảnh tàn bạo, man rợ của chiến tranh hiện đại. Hình ảnh này đã đi vào câu thơ Nguyễn Đình Thi với cách nói cũng rất hiện đại trong sự đối lập với "trời chiều". Trời chiều là khoảng trời êm ả, bình lặng, là khoảnh khắc thời gian dành cho cuộc sống tâm hồn, tình cảm của con người, gợi nhớ thương, hi vọng – là biểu tượng cho hạnh phúc bình thường mà ai cũng có. Ở đây "dây thép gai" đã đâm nát "trời chiều". Chiến tranh đã hủy diệt đến cả đời sống tinh thần, tình cảm của con người không buông tha những khoảng trời chiều xanh hi vọng, tím nhớ nhung. Một chữ đâm nát mà nhói đau, mà căm uất. Nhà thơ thực đã nói lên cái nỗi đau tận cung và cũng tô cáo đến tận cùng tội ác của quân thù trong chiến tranh hủy diệt. Đó là nhờ cách nói mới mẻ và sáng tạo mang dáng dấp những câu thơ hiện đại phương Tây. Thi sĩ đã để cho một vật cụ thể, sắc, nhọn (dây thép gai) đậm nét một vệt êm ả, thơ mộng, trừu tượng (trời chiều) nhằm tăng thêm sự đã man tàn bạo của nó, tăng thêm sức tố cáo chiến tranh phi nghĩa. Ta thường gặp những câu thơ như thế của Nguyễn Đình Thi, ngay cả trong bài Đất nước: Xiềng xích chúng bay không khóa được Trời đầy chim vả đất đầy hoa Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước thương nhà. Chỉ hai câu thơ mà dựng lên được hình ảnh đất nước đau thương trong chiến tranh thật hàm súc và gợi cảm. Đó là do tài năng và tâm hổn của nhà thơ. Nhưng trước hết và quan trọng nhất, là do thi sĩ đã sống sâu sắc trong lòng dân tộc, đã hiểu và yêu tha thiết Tổ quốc mình, đã "chín" trong cảm hứng thơ về "đất nước", để có thể khái quát thành những hình ảnh thơ cô đúc, nhiều dư vị, dư vang. Người ta nói Nguyễn Đình Thi có sở trường khi nói về đất nước đau thương trong chiến tranh chính là như thế.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 54

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 54

CÂU 1: (3 điểm) Đọc kĩ phần trích sau đây và thực hiện các yêu cầu a, b  được nêu bên dưới: “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao làm “cung điện” của mình. Quả như một câu chuyên thần thoại, như câu chuyện về một vị tiên, một con người siêu phàm nào đó trong cổ tích. Chiếc nhà sàn đó cũng chỉ vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc đơn sơ. Và chủ nhân chiếc nhà sàn này cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn đã được một tác giả phương Tây ca ngợi như một vật thần kì. Hằng ngày, việc ăn uống của Người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa. Và Người sống ở đó, một mình, với một tư trang ít ỏi, một chiếc va li con với vài bộ áo quần, vài vật kỉ niệm của cuộc đời dài. Tôi dám chắc không có một vị lãnh tụ, một vị tổng thống hay một vị vua hiền nào ngày trước lại sống đến mức giản dị và tiết chế như vậy. Bất giác ta nghĩ đến các vị hiền triết ngày xưa như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn hay Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở quê nhà với những thú quê thuần đức: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao… Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác Hồ, cũng như các vị danh nho xưa, hoàn toàn không phải là  một cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời, mà đây là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác.” (Trích Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà – Ngữ văn 9, tập1, trang 7) a/ Phần được trích trên có mấy đoạn văn? Hãy phân tích sự liên kết về nội dung, về  hình thức các đoạn văn của phần được trích trên. b/ Nêu và phân tích các biện pháp nghệ thuật đã được tác giả sử dụng thành công để làm nổi bật vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh  trong phần trích nói trên.   CÂU 2: (3 điểm) Chép lại theo trí nhớ khổ đầu bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Nêu cảm nhận của em về nhan đề và khổ thơ ấy.   CÂU 3: (4 điểm) Người xưa có câu: “Thương người như thể thương thân”. Trong xã hội ta hiện nay, không ít người có tấm lòng như vậy. Hãy nêu những suy nghĩ của em về vấn đề đó. ———–HẾT——— Họ và tên thí sinh:……………………………………………Số báo danh:……………………………………………. Chữ ký giám thị 1:………………………..…………………Chữ ký giám thị 2:……………………………………………… ĐÁP ÁN – BIỂU ĐIỂM   I/ CÂU 1 1/ Yêu cầu cần đạt a/ Phần được trích trên gồm có 3 đoạn văn. Các đoạn văn liên kết  với nhau: -Về nội dung: * Các đoạn văn trên đều phục vụ cho chủ đề chung của văn bản đó là nét đẹp trong lối sống giản dị mà thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. * Các đoạn văn được sắp xếp theo một trình tự hợp lí: Đoạn 1 đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho lối sống giản dị mà thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cách chọn nơi làm việc; sự giản dị trong trang phục; sự giản dị, đạm bạc trong ăn uống. . Đoạn 2 và 3  khẳng định nét đẹp, nét văn hóa  của cách sống ấy (đoạn 2 khẳng định sự giản dị, đạm bạc trong cách sống ấy của Người không phải là lối sống khắc khổ của những người tự vui trong cảnh nghèo khó mà là cách sống của những nhà hiền triết. Đoạn 3 tiếp tục khẳng định lối sống của Người cũng không phải là cách tự thần thánh hóa , tự làm cho khác đời, hơn người mà là một lối sống có văn hóa đã trở thành một quan niệm thẩm mĩ: cái đẹp là sự giản dị, tự nhiên) -Về hình thức: *Các đoạn đứng sau liên kết với đoạn trước bằng cách lặp từ ngữ hoặc sử dụng từ ngữ có tác dụng thay thế những từ ngữ đã có ở câu trước (đoạn 2 lặp lại từ Người (chỉ Bác Hồ) và thế đại từ đó (chỉ chiếc nhà sàn của Bác Hồ) để liên kết với đoạn 1; đoạn 3 thế từ Bác Hồ để liên kết với đoạn 2) b/ Các biện pháp nghệ thuật đã được tác giả sử dụng thành công để làm nổi bật vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh  trong phần trích nói trên: -Nghệ thuật đối lập (vĩ nhân mà hết sức giản dị gần gũi) -Kết hợp giữa kể và bình luận -Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu -Đan xen thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy sự gần gũi giữa Hồ Chí Minh với các bậc hiền triết của dân tộc. Mỗi biện pháp nghệ thuật phải được làm rõ qua việc chọn và phân tích các dẫn chứng tiêu biểu. 2/ Biểu điểm -Điểm 3: Thể hiện đầy đủ các nội dung  yêu cầu ở mục a, b phần 1 -Điểm 1,5: Thể hiện đầy đủ các nội dung  yêu cầu ở mục a hoặc b phần 1. Ở mục b, nếu học sinh nêu được nghệ thuật đối lập, nghệ thuật kết hợp giữa kể và bình luận cùng với việc phân tích ngắn gọn mỗi nghệ thật một chi tiết để làm rõ thì vẫn đạt điểm tối đa phần này (vì việc đưa ra thơ Nguyễn Bỉnh khiêm; dùng từ Hán -Việt là nhằm mục đích cuối cùng là bình luận sự việc). Nếu: * Chỉ nêu được các biện pháp nghệ thuật mà không nêu ra chi tiết và chưa phân tích được thì chỉ cho tối đa là 0,75 điểm. * phân tích chưa đủ, còn sơ sài chỉ cho tối đa là 1 điểm. -Học sinh trả lời đúng số đoạn văn: 0,5 điểm -Học sinh trả lời đúng liên kết nội dung hoặc hình thức giữa các đoạn văn: 0,5 điểm (nếu còn thiếu hoặc sai sót phần liên kết nội dung hoặc hình thức thì có thể cho 0, 25 điểm hoặc 0 điểm) II/ CÂU 2 1/ Yêu cầu cần đạt a/ Chép đúng, đầy đủ khổ thơ b/ Nêu cảm nhận về nhan đề và khổ thơ *Nhan đề: Có vẻ như dài và thừa (chỉ cần viết Tiểu đội xe không kính là đủ), nhưng nhà thơ lại viết Bài thơ về tiểu đội xe không kính . Hai chữ bài thơ nói về cách khai thác hiện thực: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính, chỉ viết về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ yếu khai thá chất thơ vút lên từ hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam vượt lên những khắc nghiệt của chiến tranh. *Khổ thơ đầu: Câu 1 là câu thơ lạ vì quá giản dị như một lời nói thường: Không có kính không phải vì xe không có kính Câu thơ như một câu văn xuôi. Hình ảnh thơ lại càng lạ. Xưa nay hình ảnh đi vào thơ thường được mỹ lệ hóa, lãng mạn hóa và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là thực. Ở đây, hình ảnh những chiếc xe không kính là một hình ảnh thực, thực đến trần trụi. Cái nguyên nhân của nó cũng rất thực: Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi . Giọng thơ thản nhiên rất lạ. Rồi người đọc bỗng nhận ra chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy: bom đạn khốc liệt của chiến tranh có thể làm cho những chiếc xe mang đầy thương tích nhưng những chiếc xe như vậy vẫn ngang tàng  băng ra chiến trường. Chính chất thơ ấy đã làm cho những chiếc xe không kính trở thành hình ảnh thơ độc đáo. Ở 2 câu thơ sau, hình ảnh người lính hiện ra với tư thế ung dung mà hiên ngang. Xe không kính, đó là sự thiếu thốn phương tiện. Nhưng thật bất ngời, người lính lại biến thiếu thốn đó thành một sự hưởng thụ, một cách tiếp xúc trực tiếp với không gian bên ngoài: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Những chữ nhìn lặp đi lặp lại như một niềm sảng khoái bất tận. Không có kính càng dễ nhìn đất, nhìn trời, với tư thếnhìn thẳng thật hiên ngang. c/ Diễn đạt tốt, không mắc lỗi 2/ Biểu điểm a/ Chép đúng, đầy đủ khổ thơ:                                           1 điểm -Có sai 1 từ:                                                                           0,75 điểm -Có sai đến 2 từ:                                                                   0,5 điểm -Có sai đến 3 từ:                                                                   0, 25 điểm -Có sai quá 3 từ:                                                                   0 điểm b/ Hiểu ý nghĩa của nhan đề và thể hiện được cảm nhận của mình: 1 điểm. Thể hiện được cảm nhận của mình về đoạn thơ đầu qua việc phân tích tốt các chi tiết thơ tiêu biểu:            1 điểm Nếu hiểu ý nghĩa đoạn thơ nhưng phân tích còn sơ sài thì có thể cho từ 0,25 đến 0,75 điểm. Lưu ý: cần phát huy những bài có cách diễn đạt và tư duy sáng tạo nhưng có sức thuyết phục người đọc. III/ CÂU 3 1/ Yêu cầu chung -Nắm chắc kỹ năng nghị luận xã hội. Ở đây là nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí. -Diễn đạt tốt, ý tưởng phong phú, thể hiện được cảm nhận riêng của mình. 2/ Yêu cầu cụ thể về nội dung Bằng nhiều cách trình bày khác nhau nhưng bài phải thể hiện được những nội dung sau: -Mở bài: nêu vấn đề tư tưởng đạo lí cần nghị luận: ở đây là câu tục ngữ nói về lòng thương người và truyền thống tốt đẹp ấy của con người Việt Nam. -Thân bài: Thể hiện cảm nhận của mình qua việc nghị luận vấn đề: *Giải thích, chứng minh vấn đề (qua những dẫn chứng trong văn học và đời sống) *Nhận định, đánh giá vấn đề trong bối cảnh cuộc sống riêng, chung. Nêu lên quan điểm riêng của mình -Kết bài: tổng kết; nêu nhận thức mới; đề ra hành động. 3/ Biểu điểm -Điểm 4: Thể hiện tốt, đầy đủ các nội dung của phần 2. Lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục.  Diễn đạt tốt. -Điểm 3,5: Thể hiện tốt phần lớn các nội dung của phần 2. Lập luận chặt chẽ.  Diễn đạt có thể còn mắc 1,2 lỗi nhỏ. -Điểm 3: : Hiểu được nội dung vấn đề. Giải thích và chứng minh được vấn đề. Phần đánh giá, thể hiện quan điểm của mình còn hạn chế, chưa có sức thuyết phục. Diễn đạt mắc không quá 3 lỗi. -Điểm 2: Hiểu được nội dung vấn đề. Giải thích được vấn đề song phần chứng minh chưa có sức thuyết phục. chưa đánh giá được vấn đề và chưa thể hiện được quan điểm của mình. Diễn đạt mắc không quá 4 lỗi. -Điểm 1: Bố cục bài viết không rõ ràng. Viết chung chung về nội dung này. Lập luận không rõ ý. Diễn đạt mắc nhiều lỗi Lưu ý: cần phát huy những bài có cách diễn đạt và tư duy sáng tạo, lập luận sắc bén, thể hiện suy nghĩ riêng nhưng có sức thuyết phục người đọc.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu.

PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH "ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO" TRONG BÀI THƠ "ĐỒNG CHÍ" CỦA CHÍNH HỮU.

Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. Bài làm: Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Đầu súng trăng treo- đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng. ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và trưng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ cô kết nhất, hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời, hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 66

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 66

I. trắc nghiệm 1. Điền Đ (đúng) hoặc S (sai) vào ô trống cuối mỗi nhận định sau về Bằng Việt : A. Bằng Việt sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. B. Ô ng làm thơ từ những năm 60. C. Ông trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. D. Ông trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. E. Giọng thơ trầm lắng, nghĩ ngợi, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm thiếu thời. 2. Bài thơ Bếp lửa sáng tác trong hoàn cảnh nào ? A. Năm 1963 khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài. B. Năm 1964 khi tác giả đang học tại Hà Nội. C. Năm 1963 tại quê hương tác giả. 3. Điền Đ (đúng) hoặc S (sai) vào ô trống cuối mỗi nhận định sau về Bếp lửa : A. Tác giả dùng từ ngọn lửa và bếp lửa với ý nghĩa hoàn toàn giống nhau. B. Tuy gần nghĩa nhau nhưng nếu cụm từ bếp lửa gợi nhắc về bà và những kỷ niệm thân thiết bên bà thì ngọn lửalại nhấn mạnh đến tấm lòng, tình yêu và niềm tin trong trái tim bà. 4. Trong bài thơ Bếp lửa, hình ảnh tay bà đã nhóm lên ngọn lửa hay cũng chính là đã nhóm lên : A. Tình yêu thương B. Niềm tin C. Sự sống và niềm tin D. Cả A, B, C. 5. Nối nội dung ở cột A với nội dung ở cột B sao cho phù hợp A B a) So sánh 1. Biến các sự vật không phải là người trở nên có đặc điểm tính chất, hoạt động… như con người. b) ẩn dụ 2. Đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng. c) Nhân hóa 3. Gọi tên một sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó d) Hoán dụ 4. Gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác có quan hệ gần gũi với nó Nối : …………………………………………………………………………………………………….. 6. Bài thơ Bếp lửa là tác phẩm : A. Trữ tình kết hợp với bình luận, triết lí. B. Biểu cảm kết hợp với miêu tả, tự sự, bình luận. C. Chỉ có tự sự và biểu cảm. 7. Tìm và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong các câu sau : a)         Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ (Hồ Chí Minh, Ngắm trăng) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… b)                    Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… 8. Khổ thơ sau còn thiếu một câu. Hãy làm thêm câu cuối sao cho đúng vần, hợp với nội dung cảm xúc từ ba câu trên. Mỗi độ thu về lòng xao xuyến lạ Nhớ nôn nao tiếng trống buổi tựu trường Con đường nhỏ tiếng nói cười rộn rã …………………………………………………………. II. tự luận 1. Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt 2. Bằng một bài văn ngắn, hãy viết cảm nhận của em về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa. Đáp án I. trắc nghiệm Câu Nội dung trả lời 1 A, B, D, E (Đúng)  ;        C (Sai) 2 A 3 B (Đúng) ; A  (Sai) 4 D 5 Nối a – 2 ;   b – 3 ;   c – 1 ;   d – 4 6 B 7 a) Nhân hóa ánh trăng thành người bạn tri âm tri kỷ. Nhờ nhân hóa mà thiên nhiên trong bài thơ trở nên sống động hơn, có hồn hơn và gắn với con người hơn   b) ẩn dụ. Từ mặt trời trong câu thơ thứ hai chỉ em bé trên lưng mẹ. thể hiện sự gắn bó của đứa con với người mẹ, đó là nguồn sáng, nguồn nuôi dưỡng niềm tin của mẹ vào ngày mai 8 Cách 1 : Bóng ai kia thấp thoáng giữa màn sương   Cách 2 : Thoang thoảng hương bay dịu ngọt quanh ta II. tự luận 1. Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt Bài làm Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Đó là tâm trạng của những người xa quê. Những cái bình thường quen thuộc hàng ngày tưởng chừng như chẳng có gì đáng nhớ nhưng đến khi xa rồi mới biết chẳng thể nào quên. Nhưng nỗi nhớ quê ấy ở mỗi người có những sắc thái cảm xúc khác nhau : có khi là hình ảnh dung dị một bát canh rau muống, một chén cà dầm tương,... có khi lại là một ánh trăng quê… Còn riêng với Bằng Việt, trong những năm tháng du học ở Liên xô, nhà thơ nhớ da diếtBếp lửa của bà : Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm… Cảm xúc về Bếp lửa của Bằng Việt bắt đầu từ đây. Chúng ta hãy cùng đọc và khẽ ngâm lên từng lời thơ để hòa nhập hồn mình bâng khuâng theo dòng cảm xúc đang trào dâng của tác giả. Thật xúc động biết bao ! Từ một đất nước công nghiệp chỉ toàn bếp điện, bếp hơi, với những ống khói con tàu, tác giả nhớ về một bếp lửa đang chờn vờn trong sương sớm. Và từ bếp lửa, nhớ đến kỉ niệm ấu thơ : Cháu thương bà biết mấy nắng mưa. Cả một hồi ức kỉ niệm hiện về trong tâm trí nhà thơ, suốt một quãng đời vất vả bà cháu bên nhau : Mới lên bốn tuổi đã quen mùi khói. Làng đói kém, bố đi đánh xe thật vất vả – Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay. Hồi tưởng những năm tháng bà cháu cùng sớm hôm có nhau. Bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, bà dặn cháu viết thư cho bố ở chiến khu, bà sớm chiều nhen bếp lửa… Lời kể sao mà ngậm ngùi tha thiết quá ! Nó gợi trong lòng người bao niềm xúc động sâu xa. Làm sao quên được : Những năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi. Bà đã dặn cháu : Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kẻ này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên Hình ảnh người bà hiện lên trong lời thơ ấy đẹp làm sao ! Bà lúc nào cũng sẵn sàng chịu đựng. Bà là thế đấy! Suốt một đời tận tụy vì con, vì cháu. Nhưng không chỉ có thế. Vượt lên trên tình thương ấy, bà còn là người làm việc âm thầm, lặng lẽ, biểu lộ ý thức trách nhiệm của mình với Tổ quốc. Bà đã cùng chịu đựng gian khổ, cùng chia sẻ hi sinh cho cuộc kháng chiến này. Càng lớn khôn, tác giả càng nhận thức rõ tấm lòng cao quí của bà. Người đã lận đận biết mấy nắng mưa để nhen nhóm trong lòng đứa cháu yêu quí của mình ngay từ tuổi thơ một tình cảm rộng lớn hơn tình bà cháu thông thường, đó là một ngọn lửa chứa chan niềm tin dai dẳng đối với đất nước con người : Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm thương yêu khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng bếp lửa Hình ảnh bếp lửa được lặp lại nhiều trong bài thơ có giá trị tu từ độc đáo. Đây là hình ảnh tả thực trong cuộc sống đời thường. Song, đối với người đi xa quê hương lại là một dấu ấn khó phai mờ – Bởi vì chính bên cạnh bếp lửa hồng ấy, hình ảnh người bà “còm cõi”, “chập chờn”, “sương sớm” in đậm trong tâm trí tác giả từ tuổi nhỏ. Nhờ bếp lửa mà thời ấu thơ của tác giả êm đềm, ấm áp như những câu chuyện cổ tích mà bà thường hay kể. Bếp lửa và người bà chính là nguồn sáng tâm hồn, nuôi dưỡng tình cảm thương yêu cho người cháu. Điều đáng nói nhất về bài thơ chính là ý nghĩa tượng trưng của hình tượng bếp lửa. Đó là ngọn lửa niềm tin, ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa của tâm hồn dân tộc đã nhóm lên trong tâm hồn nhà thơ những cảm xúc và suy nghĩ chân tình, đẹp đẽ. Hình ảnh bếp lửa trong quá khứ, trong hiện tại đan cài vào nhau, nâng cảm xúc và tư duy nhà thơ bay bổng dạt dào, hướng về gia đình, về nguồn cội, về quê hương đất nước. Sức hấp dẫn của bài thơ chính là ở đó. Với giọng thơ ân tình tha thiết, nhà thơ hồi tưởng những năm tháng cùng bà “nhóm lửa”. Hình ảnh chim tu hú kêu trên những cánh đồng xa gợi lên không khí của một buổi sớm tinh mơ, vắng vẻ, quạnh hiu… Cùng với hình ảnh chim tu hú, hình ảnh bà cũng hiện lên còm cõi, đơn côi, vất vả trong tâm trí của nhà thơ. Các vần nối tiếp nhau để diễn tả cảm xúc ấy : Xa, nhà, huế, thế, về... tạo nên một âm hưởng kéo dài liên tục không dứt. Nhạc điệu buồn, tha thiết, trầm lặng thể hiện nỗi nhớ nhung người bà : Giờ cháu đi xa có ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ? Chính tình bà cháu cao đẹp và thiêng liêng kì diệu đã nhen nhóm trong lòng nhà thơ niềm tin yêu cuộc sống con người trên quê hương đất nước. Đây là một bài thơ dạt dào cảm xúc. Tác giả đã khéo léo sử dụng cách gieo vần, láy điệp từ và những hình ảnh có sức liên tưởng độc đáo tạo nên giá trị cho bài thơ. Ta cảm nhận được tấm lòng biết ơn, nỗi nhớ nhung của nhà thơ dành cho người bà yêu dấu của mình. Bếp lửa đã khơi dậy trong ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, quê hương, đất nước. Đặc biệt là lòng biết ơn sâu nặng đối với người bà. 2. Bằng một bài văn ngắn, hãy viết cảm nhận của em về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa. Bài làm Bếp lửa tái hiện hình ảnh người bà quen thuộc, yêu thương mà trong thơ hiện đại không phải dễ gặp. Bẳng Việt đã đem đến một biểu tượng tình bà yêu cháu vô cùng sâu nặng. Đó là những tháng năm xa chỉ còn trong kí ức, mẹ cha bận công tác, giữa thời bom đạn, bà chăm chút, yêu thương dạy bảo cháu nên người. Bà là nguồn sống gia đình, là những gì tảo tần, nhẫn nại, giàu niềm tin, hết lòng yêu thương, chăm lo, chi chút cho cháu và gia đình. Bà là ngọn lửa của tình thương hạnh phúc con cháu. Bà khơi dậy và làm bùng lên khát vọng. Hành động nhóm bếp không chỉ là hình ảnh đời thường ấm áp mà chính là ngọn lửa của sự sống. Khi viết những dòng thơBếp lửa, tác giả đang ở xa Tổ quốc và đã trưởng thành. Đây là một bài thơ thật sự sâu sắc về tình yêu đất nước trong hình ảnh dung dị của người bà -  quê hương. Hồi ức về những người thân yêu bao giờ cũng sinh động, ta càng rời xa tuổi thơ thì kỉ niệm càng thân thiết, gần gũi, cảm động. Bếp lửa là một hồi ức tuyệt đẹp về người bà, nhắc nhở mỗi người về tình yêu cụ thể trong tâm hồn và trái tim  những người Việt Nam yêu nước.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Văn GDTX năm 2014

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Văn GDTX năm 2014

Đề Thi Thử Tốt Nghiệp Môn Văn Hệ GDTX Năm 2014 - Nghĩa Hưng, Nam Định Câu 1 (2,0 điểm):        Đọc văn bản sau “Nhớ bản sương giăng , nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua ,lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! (Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên) Trả lời các câu hỏi a. Thể loại của văn bản trên? Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? b. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng? Tác dụng c. Nội dung khái quát của văn bản Câu 2. (3 điểm):   Nhạc sĩ thiên tài người Đức Beethoven nói: “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho người khác”. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên trong một bài văn ngắn (viết không quá 400 từ). Câu 3. (5 điểm)  Phân tích hình tượng cây Xà Nu trong tác phẩm rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Theo Giáo Viên Phạm Thị Lụa - TTGDTX Nghĩa Hưng, Nam Định - Đáp án đề Thi Thử Tốt Nghiệp Môn Văn Hệ GDTX Năm 2014 - Nghĩa Hưng, Nam Định Câu, Ý Đáp án Câu 1 a.Văn bản trên là một khổ thơ (thể loại trữ tình); thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật b.Lặp từ, cụm từ ngữ, cấu trúc, câu cảm thán,câu hỏi tu từ; chất trữ tình kết hợp tính triết luận; cảm xúc nồng nàn của người viết; giọng thơ say mê sôi nổi…>Tình cảm gắn bó sâu nặng thân thiết của nhà thơ đối với miền Tây Bắc của Tổ quốc(0.75 điểm) c. Tình yêu đối với miền đất xa xôi (Tây Bắc) đã biến mảnh đất thành thân thiết, hóa thành máu thịt trong tâm hồn ta(0.5 điêm)   Câu 2 Học sinh có thể trình bày khác nhau song cần  * Mở bài:.  Giới thiệu được câu nói của Beethoven, hiểu quan niệm sống cao quí mà nhạc sĩ nêu lên (0.5 điểm) *Thân bài - Giải thích : (0.5) +Hạnh phúc : cuộc sống tốt đẹp; niềm vui, sự thỏa mãn về mặt tinh thần, tình cảm của con người … - Phân tích và chứng minh(0.5 điểm) Khẳng đinh Câu nói thể hiện quan niệm sống đẹp, vị tha…(dẫn chứng): +Phê phán lối sống vị kì , đối với nhân quần , xã hội . (Như Victor Hugo đã nói ; “ kẻ nào vì mình mà sống thì kẻ ấy vô tình đã chết với người khác”. -Bình luận( 1 điểm) +Trong cuộc sống, ai cũng tìm kiếm hạnh phúc nhưng quan niệm về hạnh phúc của mỗi người khác nhau. Có người coi sự thỏa mãn vật chất, tình cảm của riêng mình là hạnh phúc. Nhưng cũng có không ít người quan niệm hạnh phúc là cống hiến, là trao tặng. Đối với họ, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết hi sinh cho hạnh phúc nhân loại. Beethoven quan niệm như thế. + Những người biết sống vì người khác , đem lại hạnh phúc cho người khác , là những người có tấm lòng nhân hậu; có cuộc sống đầy ý nghĩa cao cả , đáng trân trọng… Nêu các dẫn chứng làm rõ luận điểm. *Kết bài - Khái quát vấn đề; Liên hệ bản thân.(0.5)  Câu 3 * Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn: tác giả, giá trị tác phẩm và vẻ đẹp của hình tượng cây xà nu (0.5 điểm) * Thân bài: Phân tích ý nghĩa thực và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng cây xà nu trong truyện: - Nguyễn Trung Thành xây dựng hình ảnh cây xà nu vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có tính chất biểu tượng cho tinh thần bất khuất, kiên cường của đồng bào Tây Nguyên. Bằng nghệ thuật nhân hóa, cây xà nu đã trở thành một nhân vật quan trọng trong tác phẩm, sống một đời sống rất con người.(0.5 điểm) - Cây xà nu sinh sôi nảy nở rất nhanh, rất khỏe. Nó là loài cây ham ánh sáng, cứng cáp vươn mình che chở cho dân làng Xô Man. Tất cả những phẩm chất ấy thể hiện rõ sức sống bất diệt của cây xà nu.  Cây xà nu là biểu tượng cho sức sống quật cường. Bởi cây không bao giờ chịu khuất phục trước bom đạn.(0.5 điểm) - Rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương. Vì thế xà nu vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng vừa là biểu tượng cho sự mất mát đau thương của cả dân tộc.(0.5 điểm) - Xà nu còn là biểu tượng cho tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu(0.5 điểm) - Hình ảnh cây xà nu …tương ứng với các thế hệ dân làng Xô Man (cụ Mết là cây xà nu cổ thụ, Tnú là cây xà nu trưởng thành, Dít là mầm xà nu): 0,5 điểm - Hình ảnh cây xà nu gắn với đời sống vật chất và tinh thần của người Tây Nguyên (xà nu có mặt trong bếp mỗi nhà, trong sự tự hào của cụ Mết…): 0.25 điểm - Hình tượng cây xà nu tạo nên một không khí Tây Nguyên, chất Tây Nguyên độc đáo cho tác phẩm. Cùng với cây tre, cây xà nu đã trở thành hình tượng gần gũi với con người Việt Nam trên trận tuyến chống kẻ thù bảo vệ nền độc lập tự do cho dân tộc.(0.25 điểm) - Đánh giá những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm: Sự lặp lại trong cấu trúc và cách miêu tả rừng xà nu thể hiện dụng ý của nhà văn; lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh; không khí, màu sắc của truyện đậm chất Tây Nguyên; bút pháp kể chuyện giàu âm hưởng sử thi dân gian; ngôn ngữ truyện vừa trang nghiêm vừa hào hung(1 điểm) * Kết bài: Khẳng định thành công của tác phẩm: giá trị nghệ thuật, giá trị nội dung, thành công trong việc xây dựng hình tượng cây xà nu- hình ảnh biểu tượng cho nỗi đau, phẩm chất, sức mạnh, ý chí quật cường của dân làng Xô Man, con người Tây Nguyên; ca ngợi con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; thể hiện sự gắn bó tha thiết với mảnh đất này(0.5 điểm) Đề Thi Thử Tốt Nghiệp Môn Văn Hệ GDTX Năm 2014 - Hoằng Hóa, Thanh Hóa Phần I – Đọc hiểu (5 điểm):  Câu 1 (2,0 điểm). Đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi: “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa   Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.”         (Sóng – Xuân Quỳnh)            a/ Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của chúng trong đoạn thơ ( 1điểm )  b/ Nêu nội dung đoạn thơ? Đặt tên cho đoạn thơ (1 điểm) Câu 2. (3 điểm):   Nhạc sĩ thiên tài người Đức Beethoven nói: “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho người khác”. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên trong một bài văn ngắn (viết không quá 400 từ). Phần II – Viết (5 điểm). Thí sinh chọn 1 trong 2 câu sau:           Câu 3a: (5 điểm). Phân tích vẻ đẹp của hình tượng người lính trong đoạn thơ sau: “… Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành…” (Trích Tây Tiến - Quang Dũng, văn học 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.87)              Câu 3b: (5 điểm). Phân tích hình tượng cây Xà Nu trong tác phẩm rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Theo GV Lê Thị Hiền - Trung Tâm GDTX – DN Hoằng Hóa, Thanh Hóa - Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật các đề thi thử tốt nghiệp môn Sinh có đáp án năm 2014 các em chú ý theo dõi nhé!
Xem thêm

Đọc thêm

Hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975

HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG THƠ CA SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN 1975

Trước hết cần hiểu đúng khái niệm Tổ Quốc: “Đất nước, được bao đời xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó” YÊU CẦU    1. Trước hết cần hiểu đúng khái niệm Tổ Quốc: “Đất nước, được bao đời xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê). Nói cách khác, Tổ Quốc bao gồm đất nước (vị trí địa lí), con người và lịch sử dần tộc. (Tuy trong bài làm không nhất thiết phi giải ihích cặn kẽ khái niệm “Tổ Quốc”, nhưng phải tỏ ra hiểu chắc chắn khái niệm này; nếu hiểu không đầy đủ, bài làm sẽ khó tránh khỏi phiến diện).    2. Chọn được những bài thơ, ý thơ tiêu biểu viết về Tổ Quốc hoặc có phần viết về Tổ Quốc trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám (tức là thơ ca được viết từ khi Cách mạng thành công tới những năm 1983, mà trọng tâm là thơ ca trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ) để làm nổi bật hình tượng Tổ Quốc Việt Nam trong những tác phẩm này.    Có thể trình bày ba ý chính sau đây:    - Tổ Quốc tươi đẹp.    - Tổ Quốc đau thương.    - Tổ Quốc kiên cường, bất khuất đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng.    3. Lí giải được vì sao hình tượng Tổ Quốc xuất hiện nhiều trong thơ ca sau Cách mạng và nhất là cần lí giải vì sao hình tượng Tổ Quốc lại có những biểu hiện vừa nêu. Ở đây, phải biết vận dụng kiến thức về lí luận văn học (văn học là tấm gương phản ánh đời sông) và kiến thức lịch sử (đây là thời kì dân tộc Việt Nam liên tục phải chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang; văn nghệ sĩ nhiều người đồng thời là chiến sĩ) để lí giải vấn đề. Ngoài cũng cần phải thấy được hình tượng Tổ Quốc đã có vị trí như thế nào trong và học, ý nghĩa của nó ra sao đối với hai cuộc chiến dấu và đối với ngày nay (những năm 80 của thế kỉ XX).    Đề bài này trước hết đòi hỏi học sinh phải có trình độ khái quát, từ những bài thơ, ý thơ cụ thể rút ra được những nhận xét bao trùm, rồi phân tích, chứng minh, lí giải những nhận xét ấy. (Dĩ nhiên, có thể làm bài theo cách quy nạp hoặc diễn dịch) BÀI LÀM    Tổ Quốc là Bà Mẹ lớn nhất của chúng ta. Tổ Quốc cũng là đề tài lớn nhất trong thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung.    Thơ ca của chúng ta từ hàng ngàn năm đã viết về Tổ Quốc, và hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay là sự kế thừa và phát triển có tính biện chứng của thơ ca truyền thống.    Đất nước trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám đến nay là đất nước anh hung, anh hùng trong chiến đấu và trong sản xuất, dũng cảm vô song nhưng vẫn nhân ái thiết tha; đất nước tươi đẹp, hiên ngang đứng ở mũi nhọn của lịch sử.    Có thể nói, chưa hao giờ trong thơ ca của chúng ta, hình tượng Tổ Quốc lại có những phẩm chất cao đẹp và mới mẻ như vậy.    Hình tượng Tổ Quốc là tượng đài cao đẹp nhất, hùng vĩ nhất trong thơ ca Việt Nam, nó có cả chiều rộng của thời đại mới, của mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mĩ, cả chiều sâu yêu nước cùng với yêu thơ ca cùa dân tộc, cả chiều cao của một đất nước từ trong vũng bùn nô lệ đã hiên ngang đứng dậy thắng quân thù, làm nên ngọn hải đăng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.    “Thơ ca là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Nói đến Tổ quốc trong thơ ca tức là nói đến đất nước và con người. Đất nước đã sản sinh ra con người, là nơi “chôn rau cắt rốn” của con người và chính những con người đó đã cầm súng, cầm cày để bảo vệ và xây dựng đất nước. Hai yếu tố này trong thơ luôn hoà quyện vào nhau, tác động tới nhau, hành động và suy nghĩ của con người làm nên sự trưởng thành của đất nước và tiếng gọi của đất nước chắp cánh cho hành động và suy nghĩ của những con người yêu nước đó. Hai hình ảnh này gắn bó hữu cơ với nhau và cấu thành một hình tượng chung: Tổ Quốc.    Tổ Quốc, đó là nơi mỗi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, nơi những kỉ niệm ngọt ngào êm đềm nhất in vào chúng ta qua những lời ru: Con cò bay lả bay la...Tổ Quốc, đó là mảnh đất cha ta nằm xuống cùng với đồng đội của mình, là Tháp Rùa rêu phong cổ kính, là Trường Sơn mây mù che phủ, ... Ôi! Ai trong chúng ta chẳng đã có những kỉ niệm gắn bó không thể nào quên được đối với đất nước! Và Ai trong chúng ta chẳng đã từng lặng người đi khi đọc những câu thơ mà hình ảnh, vóc dáng của Tổ Quốc hiện ra thân thuộc đến nao lòng....    “Thơ là đồng điệu”, “là liếng nói tri âm” (Tố Hữu). “Thơ là tiếng gọi đàn...” (Xuân Diệu). Phải rồi, thơ là tiếng lòng, là ‘‘hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi” để con người tìm đến với con người, con người tìm đến với đất nước thân yêu của mình.    Trong quá khứ, thơ ca của cha ông chúng ta buồn lắm, bởi vì cuộc đời, bởi vì Tổ Quốc Việt Nam ngày xưa đau khổ lắm: Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ       Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi. (Chế Lan Viên)                                  Cũng có những phút mà Tổ Quốc gạt được nỗi buồn đó sang bên, đó là khi quân thù tới xâm lấn bờ cõi đất nước, hào hùng thay lúc Lí Thường Kiệt sang sảng đọc: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Trần Hưng Đạo cùng nhân dân với hào khí viết Đại cáo Bình Ngô mà lòng tự hào Đại Việt lan tới từng con chữ..... Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, những áng “thiên cổ hùng văn” đó không làm ta quên được bao số phận đói nghèo sau luỹ tre xanh. Hình ảnh đất nước vất vả vẫn cứ day dứt chúng ta sau từng câu ca dao: Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. (Ca dao)                             Đêm trước của Cách mạng tháng Tám, đất nước có hai triệu ngừơi chết đói Tám mươi năm dài nô lệ đã gây cho đất nước bao đau khổ.    Cả dân tộc đang tìm đường, cả đất nước đang chuẩn bị vùng dậy. Cái gì sẽ tới đây, rồi tương lai? Rồi cờ sẽ ra sao?     Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao?    ơi độc lập!              (Người đi tìm hình của nước, Chê Lan Viên)    Cách mạng tháng Tám bùng nổ đã làm thay đổi từ bộ mặt đến tâm hồn Tổ quốc. Đất nước đã độc lập tự do, hình ảnh nước Việt Nam hiện ra trong thơ Nguyễn Đình Thi mới oai hùng biết nhường nào: Súng nổ rung người giận dữ Người lên như nước vỡ bờ    Nước Việt Nam từ máu lửa   Rũ bùn đứng dậy sáng loà.   (Đất nước)                                 Thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay đã tạo nên tượng đài tổ quốc với tất cả những phẩm chất cao đẹp: anh hùng vô song trong chiến đấu và sản xuất, dũng cảm tuyệt với mà nhân ái thiết tha, trải bao bão lửa mà vẫn xanh, hiên ngang đứng ở đỉnh cao của lịch sử mà vẫn khiêm tốn, giản dị, chan hoà. Kháng chiến chống Pháp, cả dân tộc đứng đậy, cả đất nước đánh giặc: Những ruộng vườn mọc lên luỹ thép Những xóm làng thành bể dầu sôi    Quân giặc kinh hoàng trên đất chết Mỗi bước đi lạnh toát mồ hôi.        (Nguyễn Đình Thi)                               Hình tượng đất nước được tập trung ca ngợi qua Việt Bắc, trung tâm của kháng chiến: Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. (Việt Bắc, Tố Hữu)                                  Đất nước bị tàn phá được khắc hoạ qua những chi tiết nhỏ nhặt tưởng như dễ bị qua nhưng lại đọng trong ta nhiều xúc động: Cha mẹ dìu nhau về nhận đất    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau. (Núi Đôi, Vũ Cao)                              Cuộc sống kháng chiến, con người kháng chiến được ghi lại nhiều trong thơ. Đó là anh Vệ quốc, bà bầm, bà bủ, chị con gái Bắc Giang, người dân quân... Và một hình ảnh rất đẹp nữa, kết tinh những phẩm chất của dân tộc: đó là Bác Hồ vĩ đại. Đó còn là những cảnh Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Ve kêu rừng phách đổ vàng, những đồi cọ, những ngọn núi hết sức thân thuộc với kháng chiến...    Nhìn chung, thơ ca trong kháng chiến chống Pháp phản ánh trung thực và khá xúc động hình ảnh Tổ quốc. Nhưng các nhà thơ chưa có được cái nhìn cao, rộng về Tổ Quốc. Do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do sự thay đổi, chuyển mình quá đột ngột của đất nước, các tác giả chưa đủ thời gian để nhìn nhận, chiêm ngưỡng đất nước một cách toàn diện, đầy đủ.    Trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hình ảnh Tổ quốc được thể hiện như một con ngựa vừa chắc tay súng ở miền Nam, vừa cầm bứa, cầm cày xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc.    Đất nước đã đổi thay, cảnh đổ nát của chiến tranh vẫn còn nhưng những tiếng ca vui, những sắc hồng của cuộc đời đã có rồi: Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non              Yêu biết mấy, những con đường ca hát    Qua công trường mới dựng mái nhà son!  (Mùa thu mới, Tố Hữu)                Cả miền Bắc như một công trường đang thi công rộn rã, ngói mới là một hinh ảnh độc đáo của Xuân Diệu để diễn tả những đổi thay to lớn đó: Ơi ngàn vạn ngói nói xôn xao        Như đất ta vui bỗng vọt trào          Ngói mới! ơi ngàn muôn sức lực      Trải ra thành rọng, dựng thành cao!    Nhưng quân thù đâu có để chúng ta yên, ta muốn viết những “dòng tươi xanh” nhưng cũng hãy cứ viết “những dòng thơ lửa cháy”.    Giai đoạn chống Mĩ là thời kì mà hình ảnh Tổ quốc Việt Nam hiện lên đẹp nhất, cao quý nhất, toàn diện nhất trong thơ ca của chúng ta. Các nhà thơ đều có những sáng tác trực tiếp hoặc gián tiếp về đề tài Tổ quốc. Chế Lan Viên với Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Nam Hà với Ta là Việt Nam,... và đặc biệt là Tô Hữu với những bài thơ xuân, những bài thơ ra đời vào những thời điểm nóng bỏng của lịch sử đấu tranh.    Cảm hứng bao trùm về đất nước là sự ngợi ca, khâm phục. Không ngợi ca khâm phục làm sao được khi một dân tộc bé nhỏ hơn nhiều lần đã dám đánh và đánh thắng kẻ thù? Tố Hữu viết: Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ         Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi. Chế Lan Viên đặt đất nước, đặt thời đại đang sống vào vị trí cao nhất trong lịch sử: Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!                           (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)    Lê Anh Xuân, qua hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, khái quái lên hình tượng dáng đứng Việt Nam, cái dáng đứng tạc vào thế kỉ mà trải qua hàng ngàn năm nay chúng ta mới có được. Từ dáng đứng của Anh trên đường băng Tân Sơn Nhất Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân.                           Cái khí phách, cái anh hùng của người Việt Nam có khi còn được thể y qua những hình ảnh rất đỗi nên thơ: Ao trường vẫn nở hoa sen         Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu. (Trần Đăng Khoa)                             Sức mạnh Việt Nam được lí giải qua một em bé thôi, chiến tranh ác liệt là thế, chết chóc là thế nhưng em vẫn có một con mất trong trẻo vô cùng. Người chiến sĩ nằm hầm bí mật thì phát hiện ra sức mạnh Việt Nam qua hình ảnh người mẹ đào hầm và chăm sóc cho anh: Nơi hầm tốì là nơi sáng nhất           Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam! (Bùi Minh Quốc)                             Tố Hữu khắc hoạ hình ảnh Tổ Quốc như một bà mẹ, bà mẹ rất đỗi thân thương của mỗi chúng ta: Việt Nam, ôi Tổ Quốc thương yêu!    Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng      Nhẫn nại nuôi con, suối đời im lặng... (Tố Hữu)                                    Trước kia, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô cũng mới chỉ thấy được tầm vóc của chiến thắng qua việc non sông sạch bóng quân thù; nhưng giờ đây, các thơ của chúng ta đã thấy được cái lớn hơn, thấy được ý nghĩa quốc tế của chiến đấu ác liệt này: Ta vì ta, ba chục triệu người    Cũng vì ba ngàn triệu trên đời. (Tố Hữu)                                  Hình tượng Tổ Quốc được thể hiện như là nơi thử thách khốc liệt nhất của thời địa, “Việt Nam vàng của lòng người hôm nay”, Việt Nam trở thành nơi “thử vàng”, là bông sen thơm ngát giữa đầm: Chúng muốn đốt ta thành tro bụi     Ta hoá vàng nhân phẩm, lương tâm Chúng muốn ta bán mình ô nhục      Ta làm sen thơm ngát giữa đầm.     (Tố Hữu)                                             Việt Nam còn là đất nước của tình thương, của “non nước, thi văn, tư tưởng”. Nguyễn Đinh Thi ví Tổ Quốc như một con sông mạnh, trong, qua rất nhiều thác nghềnh, rất nhiều bão lửa, lại trở lại xanh trong với đôi bờ cỏ cây, hoa lá. Huy Cận ví Tổ Quốc như một dũng sĩ có tâm hồn của một văn nhân: Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.    Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng       Sống hiên ngang mả nhân ái, chan hoà.       Tổ Quốc trong thời kì chống Mĩ còn được thể hiện qua hình ảnh Trường Sơn, con đường mòn Hồ Chí Minh và những binh đoàn xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Trường Sơn là nơi chúng ta đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng lên đỉnh cao lịch sử, nơi Tổ Quốc hiện ra đẹp đẽ, giản dị, hùng vĩ nhất: Trường Sơn mây núi lô xô Quân đi, sóng lượn nhấp ngô, bụi hồng... (Tố Hữu)                             Phải, chúng ta đã đi và chúng ta đã đến, Tổ Quốc trong ngày toàn thắng tuyệt vời: Ôi, buổi ưưa nay, tuyệt trần nắng đẹp Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta               Chúng con đến, xanh ngời ánh thép      Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.   (Tố Hữu)                                  Đất nước thống nhất vẹn toàn, hình ảnh Tổ quốc hiện ra toàn bích từ mái xanh đầu nguồn Pắc Bó, tới gót chân hồng mũi Cà Mau.    Tổ Quốc được thể hiện như một hình tượng đẹp đẽ nhất, cao quý nhất và có những phẩm chất mới mẻ, mang dấu ấn của thời đại, đó là thành công lớn của thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám tới nay.    Trong giai đoạn mới, chúng ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa trên đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Tổ Quốc vẫn là một mảng đề tài rất quan trọng. Chúng ta mơ ước có những bài thơ hay viết về Tổ Quốc, vừa cao đẹp, gần gũi, vừa giàu tính chiến đấu lại vừa hết sức thân tình, thâu tóm được những gì đã qua, nói về những ngày đang sống, vừa hướng chúng ta tới tương lai của Tổ Quốc, ... Bởi vì, nói như Pauxtôpxki: “Niềm của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường vào cái đẹp, của người biết đi tới tương lai...”. Chúng ta có quyền hi vọng và chờ đợi ở các nhà thơ chúng ta. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 97

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 97

 CON CÒ I. Trắc nghiệm 1. Bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên được viết vào năm nào ? A. Năm 1960. B. Năm 1961. C. Năm 1962. D. Năm 1963. 2. Nghệ thuật đặc sắc nhất của  bài thơ là gì ? A. Sử dụng thành công phép nhân hoá. B. Vận dụng sáng tạo hình ảnh và giọng điệu của ca dao. C. Thể thơ tự do, giọng điệu linh hoạt. D. Sử dụng nhiều hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng, ý nghĩa triết lí. 3. Dòng nào sau đây nêu nội dung chính của bài thơ “Con cò”. A. Ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống của con người. B. Ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của hình tượng con cò. C. Niềm tin của người mẹ đối với tương lai của những đứa con. D. Ca ngợi tình cảm mẹ con sâu nặng. 4. Hình ảnh con cò trong bài thơ mang ý nghĩa biểu tượng cho điều gì? A. Cuộc sống gian truân, vất vả của người phụ nữ. B. Vẻ đẹp và ý nghĩa của những câu hát ru. C. Tình mẹ bao la và thiêng liêng. D. Gồm ý B và C. 5. Lời hát ru trong bài thơ “Con cò” của ai ? A. Con cò. B. Người mẹ. C. Đứa con. D. Tác giả. 6. Dòng nào sau đây nêu cách hiểu đúng nhất về hai câu thơ : “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con” A. Tình mẹ yêu con sẽ mãi mãi không thay đổi. B. Bổn phận làm con phải luôn nghi nhớ và biết công lao của cha mẹ. C. Tình mẹ yêu con mãi mãi dạt dào và có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đời mỗi con người. D. Dù con có lớn khôn thì vẫn là bé bỏng trong con mắt của mẹ. 7. Bài thơ được viết theo thể thơ nào ? A.Thơ bốn chữ . B.Thơ năm chữ . C.Thơ tự do. D. Thơ tám chữ. 8. Đọc đoạn thơ : “Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con” và trả lời câu hỏi lựa chọn : a) Hình ảnh trung tâm của đoạn thơ trên là hình ảnh nào sau đây ? A. Đứa con B. Người mẹ C. Con cò. D. Cả A, B, C đều đúng. b) ý nghĩa nào dưới đây thể hiện nội dung chính của đoạn thơ trên? A. Sự vất vả của người mẹ. B. ý nghĩa lời ru của mẹ đối với cuộc sống mỗi con người. c. Tình cảm của con đối với mẹ. D. Hình ảnh con cò đi qua những lời ru của mẹ. c) Hình ảnh con cò trong đoạn thơ dưới đây được xây dựng bằng hình ảnh nghệ thuật gì ? A. So sánh B. Nhân hoá C. ẩn dụ D. Hoán dụ 9.Trong bài thơ trên tác giả đã vận dụng sáng tạo và thành công loại hình nào của văn học dân gian? A. Thành ngữ B. Tục ngữ C. Ca dao, dân ca. D. Cả ba ý A,B,C. 10. Xét về mục đích nói, câu “ngủ yên !” thuộc kiểu câu gì ? A. Trần thuật B. Cầu khiến. C. Cảm thán Câu 11. Trong đoạn thơ sau, các bộ phận in nghiêng có quan hệ với nhau như thế nào? “Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con” A. Phụ thuộc B. Song song C. Chính phụ D. Tương phản 12. Dòng nào dưới đây có động từ ? A. Cò, vạc, rừng, con, mẹ. B. Rừng, bể, con, mẹ, nôi. C. Rừng, vỗ, con, mẹ, nôi. D. Không có dòng nào. 13. Hãy sắp xếp các nội dung sau cho phù hợp với bố cục của bài thơ “Con cò” ? A. Hình ảnh con cò trong tiềm thức tuổi thơ và trong mỗi bước đường khôn lớn của con người. B. Hình ảnh con cò qua những lời ru đến với tuối ấu thơ. C. Hình ảnh con cò, suy ngẫm và triết lí về ý nghĩa của lời ru và lòng mẹ đối với mỗi con người. ………………………………………………………………………………………………………………… 14. Hình ảnh con cò, cánh cò trong bài thơ được gợi về qua những câu ca dao cho ta cảm nhận điều gì ? A. Không gian làng quê thanh bình yên ả, thân thương với lời ru mang điệu hồn dân tộc. B. Cuộc sống lao động lam lũ, vất vã. C. Vẻ đẹp tảo tần thân thương của người phụ nữ Việt Nam. D. Gồm cả ba ý trên. 15. Câu thơ nào sau đây có ý nghĩa đúc kết một chân lí, một qui luật ? A.        Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn Con có mẹ con chơi rồi lại ngủ. B.        Con ngủ yên thì cò cũng ngủ Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi. C.        Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con. D.        Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi. 16. Dòng nào sau đây nêu cách hiểu đúng nhất về hai câu thơ : “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” A. Tình mẹ yêu con mãi mãi không bao giờ thay đổi. B. Ca ngợi người mẹ luôn yêu thương con ngay cả khi con đã lớn khôn. C. Bổn phận làm con phải luôn ghi nhớ và biết ơn công lao của cha mẹ. D. Tình cảm của mẹ mãi dạt dào và có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đời mỗi người. 17. Đọc đoạn thơ thứ nhất và trả lời câu hỏi : a) Hình ảnh con cò trong lời hát ru của mẹ được con cảm nhận như thế nào ? A. Con hiểu về ý nghĩa từng lời hát ru của mẹ, hình ảnh con cò gợi cuộc sống bình yên, gợi thân phận người nông dân trong xã hội xưa với nỗi bất hạnh cơ cực. B. Con hiểu về ý nghĩa từng lời hát ru của mẹ, đặc biệt tập trung nhất là hình ảnh con cò gợi thân phận người phụ nữ, người mẹ nghèo khổ cơ cực bất hạnh. C. Con còn bé chưa nhận thức được ý nghĩa lời hát ru của mẹ, chưa hiểu ý nghĩa của hình tượng con cò tronng lời hát ru, con cảm nhận được sự nâng niu, vỗ về của mẹ qua âm hưởng lời ru ngọt ngào sâu lắng. D. Cả A, B, C không đúng. b) Từ ngữ, hình ảnh nào chứng tỏ mẹ hát ru con trong bài thơ không chỉ một lần mà là nhiều lần ? A. Con cò, cánh cò, mẹ hát. B. Bế, nâng, sữa. C. Ngủ yên, chớ sợ, chưa biết. D. Con cò, bế, nâng. 18. Đọc câu thơ : “Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi” “Hai đứa” ở đây được hiểu như thế nào ? A. Là con và bạn cùng lớp. B. Con và con cò con trong bài ca dao. C. Con và đứa em nhỏ. D. Cả A, B, C. 19. ở đoạn thơ thứ hai, con cò, cánh cò được hiểu là gì ? A. Là biểu tượng cho tình mẹ qua  những lời hát ru. B. Là biểu tượng cho tình mẹ và ý nghĩa của lời hát ru. C. Là bạn đồng hành theo con suốt tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành. D. Cả hai ý A và B. 20. Hình ảnh con cò, cánh cò trở thành biểu tượng thiêng liêng của tình mẫu tử, biểu tượng cho tình mẹ và lời hát ru được thể hịên rõ nhất ở đoạn thơ nào ? A. Đoạn thơ thứ nhất. B. Đoạn thơ thứ hai. C. Đoạn thơ thứ ba. D. Cả hai đoạn hai và ba. 21. Hãy sắp xếp lại các nội dung sau để có bố cục và sự phát triển của hình tượng con cò trong bài thơ. A. Con cò, cánh cò được xây dựng bằng sự liên tưởng, tưởng tượng. Con cò như bay ra từ những bài ca dao, từ lời ru của mẹ, trở nên gần gũi, trở thành bạn đồng hành theo con từ tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành. B. Con cò, cánh cò từ những bài ca dao đi vào lời ru của mẹ. Điệu hồn dân tộc cùng với con cò, cánh cò đã nuôi dưỡng, chở che cho con. C. Con cò, cánh cò trong lời hát ru của mẹ trở thành biểu tượng cho tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc đời con. Triết lí về tình mẫu tử thiêng liêng, sâu sắc. II. tự luận 1. Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” đã viết : “Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” Trong bài thơ “Con cò” Nhà thơ Chế Lan Viên cũng viết : “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” Hãy viết lời bình về tình mẹ và ý nghĩa của lời ru. 2. Cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ qua hai bài thơ : “Con cò” của Chế Lan Viên và “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm. Đáp án  Con Cò I. Trắc nghiệm Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 Đáp án C D A A B C C a – B b – B c – C Câu 9 10 11 12 13 14 15 16 Đáp án C C B C B – A- C D C D Câu 17 18 19 20 21 Đáp án b – C b – A B B C B – A – C  
Xem thêm

Đọc thêm

Hãy nêu nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu và giải thích ý nghĩa nhan đề đó của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy là đề từ của bài thơ.

HÃY NÊU NỘI DUNG BÀI THƠ TIẾNG HÁT CON TÀU VÀ GIẢI THÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ ĐÓ CỦA BÀI THƠ. BÌNH GIẢNG KHỔ THƠ ĐƯỢC LẤY LÀ ĐỀ TỪ CỦA BÀI THƠ.

Bài thơ Tiếng hát con tàu thắp sáng trong lòng chúng ta ngọn lửa thiêng liêng về tình yêu Tổ quốc. Tiếng hát ân tình thủy chung vẫn còn làm mê say lòng người. Vì nó là bài học đẹp nhất và sâu sắc nhất. Đi ta đi khai phá rừng hoang Hỏi núi non cao đâu sắt đâu vàng..                                                       (Tố Hữu) Năm 1960, miền Bắc bước vào kế hoạch “5 năm lần thứ nhất”xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa. Trong bài thơ chúc Tết, Bác Hồ viết: “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Một phong trào cách mạng rộng lớn dâng lên động viên tuổi trẻ lên đường, đi đến mọi miền xa xôi của Tổ quốc, đến với chiến trường xưa với mơ ước biến Tây Bắc thành “hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc” (Phạm Văn Đồng). Phong trào cách mạng rộng lớn đã khơi gợi cảm hứng trong tâm hồn nhà thơ Chê Lan Viên với bao nghĩa tình thắm thiết về một vùng đất “thấm máu" và đồng bào Tây Bắc thân yêu. Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên mang tiếng reo vui của thời đại được sáng tác vào thời gian này. Bài thơ được rút từ tập Ánh sáng và phù sa - một thành tựu thi ca xuất sắc của Chế Lan Viên. 1. Nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu và ý nghĩa nhan đề của bài thơ. Hình ảnh con tàu trong bài thơ là biểu tượng cho những cuộc lên đường đi tới những vùng đất xa xôi và thân yêu của đất nước. Thực tế cho đến ngày nay vẫn chưa hề có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Gắn “tiếng hát” với “con tàu tạo thành nhan đề Tiếng hát con tàu để nói lên cảm hứng lãng mạn, niềm khao khát đi tới Tây Bắc, đi tới mọi miền xa xôi “vời vợi nghìn trùng” của Tổ quốc mà hiến dâng và phục vụ. Lên đường cùng với “con tàu” và “tiếng hát” với khát vọng đi xa, đi tới những chân trời mơ ước. Lên đường để vượt ra những cuộc đời quấn quanh chật hẹp đến với cuộc sống rộng lớn của nhân dân: “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp - Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?...”. Đến với Tây Bắc là trở về với nhân dân, đến với cội nguồn hạnh phúc, là đến với chiến trường xưa “nơi máu rỏ, tâm hồn ta thấm đất”. Là đến với những con người cần cù, dũng cảm, nghĩa tình như anh du kích, em liên lạc, bà mế “lửa hồng soi tóc bạc” nuôi giấu cán bộ mà “Trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”, đến với cô gái vùng cao “Vắt xôi nuôi quân em giấu, giữa rừng...”. Đến với Tây Bắc là trở về với ân nghĩa thủy chung: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ. Cỏ đón giếng hai, chim én gặp mùa. Như đứa trẻ tha đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Không chỉ là đất nước gọi lên đường mà chính là sự thức nhận của lòng mình vẫy gọi: "Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?”: là sự mong đợi của mẹ và em: “Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ...”. Phần cuối bài thơ là tiếng hát say mê, phấn chân: “Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội - mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga...”. Đến với Tây Bắc là đến với chính mình, tự khẳng định mình: Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa Nay trở về, ta lấy lại vàng ta Tiếng hát con tàu còn là khúc ca tâm tình của người nghệ sĩ chân chính tự nguyện đến với cuộc sống cần lao, đến với suối nguồn của niềm vui, là đến với ánh sáng và phù sa cuộc đời đang “đổi sắc thay da”. Tây Bắc sẽ là nơi ươm hạt giống, làm nảy mầm những mùa hoa đẹp của thi ca: Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng. Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng? Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân. Có thể nói nhan đề Tiếng hát con tàu biểu trưng khá sinh động cho nội dung tình cảm chủ đạo của bài thơ. Cảm hứng chủ đạo ấy được mở rộng ra, nâng cao lên tầm suy tưởng triết lí, từ một vấn đề thời sự cụ thể, nhà thơ khẳng định một đạo lí sống đẹp, mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, tư cách công dân của người nghệ sĩ chân chính: ... Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao. 2. Bình giảng khổ thơ đề từ Đề từ là một hiện tượng ta thường bắt gặp đó đây. Tràng giang của Huy Cận, Người lái đò Sông Đà cùa Nguyễn Tuân, một số bài thơ của Xuân Diệu trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió đều có lời đề từ. Đề từ có lúc nói lên mục đích, động lực khơi nguồn cảm hứng, có lúc làm nổi bật cảm hứng chủ đạo bao trùm. Trong bài thơ Tiếng hát con tàu, khổ thơ đề từ khái quát ý nghĩa của toàn bài: Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu, Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu? Trước hết phải khẳng định đây là một hồn thơ lãng mạn, cất cánh tung bay. Mỗi câu chữ và hình tượng dạt dào cảm xúc. Cấu trúc câu thơ là những câu hỏi tu từ đã để lại trong lòng người nhiều ấn tượng mãnh liệt. Tây Bắc là miền tây thân yêu của Tổ quốc ta, “Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng’’, nơi có nhiều tiềm năng, nơi có truyền thống anh hùng, nhân dân cần cù, dùng cảm và tình nghĩa, nhưng còn nghèo nàn lạc hậu. “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc” - nó tượng trưng cho những vùng rừng núi bao la của đất nước thân yêu như Việt Bắc, Tây Nguyên... đến với Tây Bắc là để lao động và xây dựng, khám phá và sáng tạo. Chi có thế đến với Tây Bắc và mọi miền xa xôi khác với điều kiện “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”. Lúc đầu là con tàu “đói những vành trăng” và về sau là con tàu “mộng tưởng’’. Sự nhận thức ấy là động lực để lên đường, với bao niềm vui phấn khởi và hi vọng. Đến với Tây Bắc là để lên đường, với bao niềm vui phấn khởi và hi vọng. Đến với Tây Bắc là để đền ơn đáp nghĩa, vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, vừa là để khơi nguồn cho mọi sáng tạo: “Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ”. Cuộc sống xây dựng rộng lớn trên miền Bắc trong những năm 60 là sự khơi nguồn hạnh phúc, là ngọn nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật và thơ. Tràn ngập giữa một không gian bao la là sức sống và niềm vui của thời đại, của hàng triệu con người: “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Không khí sôi động ấy được nói đến trong nhiều tập thơ cùng thời: “Đất nở hoa” cùa Huy Cận, “Gió lộng” của Tố Hữu: Sướng vui thay, miền Bắc của ta, Cuộc sống tưng bừng đổi sắc thay da.                                                   ( Trên miền Bẳc mùa xuãn - Tố Hữu) Thơ là hương sắc, là phù sa, là muối mặn cuộc đời. “Không có thơ đâu giữa lòng đóng khép”. Nghệ thuật chỉ có thể đơm hoa kết trái trong cuộc đời, khi người nghệ sĩ chân thành mở rộng lòng mình đón nhận ngọn gió thời đại, đem tâm hồn mình hòa nhập với cuộc sống của nhân dân. Khi Tiếng hát con tàu tâm tưởng nhà thơ hòa nhịp với tiếng hát rộn ràng “bốn bề” của Tổ quốc thì cũng là lúc người nghệ sĩ tự soi vào tâm hồn mình, mà thấy được bóng hình quê hương xứ sở. Có thề nói đó là sự hóa thân kì diệu: “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu?”. Câu thơ vang lên đĩnh đạc tự hào. Một lần khác, ý tưởng cao đẹp này đã được tác giả Ánh sáng và phù sa diễn tả rất thơ: Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ                                               (Chim lượn trăm vòng) Trong khổ thơ đề từ này có hai càu thơ tường như có sự mâu thuẫn: “Lòng ta đã hóa những con tàu” rồi lại “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?” – kì thực rất hợp lí, thống nhất một cách biện chứng trong quy luật phát triển của tư tưởng và tình cảm và của sự sáng tạo nghệ thuật. Câu trên nói lên sự thức nhận và động lực. Câu dưới nói lên sự hóa thân. Đó là mối quan hệ nhân quả giữa văn chương và cuộc sống. Tóm lại, khổ thơ đề từ nói lên khát vọng lên đường và niềm tự hào của nhà thơ nguyện đem tài năng để hiến dâng và sáng tạo vì sự phồn vinh Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dâu. Nó cho ta thấy bản sắc thơ của Chế Lan Viên: sáng tạo hình ảnh đẹp, mới lạ và ngôn ngữ sắc sảo. Nghệ sĩ và cuộc sống, cái tâm và cái tài, ngoại cảnh và nội tâm, hướng nội và hướng ngoại, tất cả đều tìm thấy sự hòa hợp thống nhất trong thơ. Cái đẹp của thơ trước hết là cái đẹp của một tấm lòng trang trải mà ta cảm nhận được qua lời đề từ và những vần thơ dào dạt say mê trong bài thơ Tiếng hát con tàu. Khổ thơ trên là cảm hứng, là tình yêu lớn, là tấm lòng đẹp của nhà thơ: “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?” - Tây Bắc là hình hài của Tổ quốc thân yêu. Yêu Tây Bắc cũng là yêu Tổ quốc. Tình cảm sâu nặng luôn luôn vang lên trong thơ Chế Lan Viên như một điệp khúc tự hào: Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà,ngọn núi,con sông. Ngày nay, bài thơ Tiếng hát con tàu vẫn thắp sáng trong lòng chúng ta ngọn lửa thiêng liêng về tình yêu Tổ quốc. Tiếng hát ân tình thủy chung vẫn còn làm mê say lòng người. Vì nó là bài học đẹp nhất và sâu sắc nhất. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN "ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ"

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN "ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ"

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: Nhà thơ Huy Cận (1919-2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Vũ Quang (trước đây thuộc huyện Hương Sơn, nay là Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng. Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945 và sau Cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Huy Cận được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996). Hơn 60 năm hoạt động văn học nói chung và làm thơ nói riêng, với gần 20 thi phẩm thơ đi từ nỗi buồn "từ ngàn xưa" đến niềm vui lớn hôm nay, Huy Cận luôn gắn liền với mạch đời chung của dân tộc. Thơ Huy Cận vừa bám lấy cuộc đời, vừa hướng tới những khoảng rộng xa của tạo vật và thời gian, vừa trăn trở với cái chết, vừa nâng niu sự sống trước qui luật tử sinh, vừa triết lí suy tư, vừa hồn nhiên thơ trẻ, vừa bay bổng lãng mạn, vừa hiện thực đời thường trong cái khoảnh khắc hữu hạn của đời người vẫn muốn hoá thân vào cái vĩnh cửu, trường sinh (Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Những năm sáu mươi, Chiến trường gần đến chiến trường xa, Ngày hằng sống, ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, Ta về với biển, Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ). Với ý thức vận động và sự chuyển hoá giữa nhiều yếu tố trong hình tượng cái tôi trữ tình, Huy Cận đã tạo cho mình một phong cách đặc sắc, độc đáo. Huy Cận đã tỏ ra sở trường về thể thơ lục bát và có đóng góp đáng kể trong sự mở rộng hình thức và nâng cao chất trí tuệ cho thơ theo hướng suy tưởng, vươn tới những khái quát rộng xa, giàu liên tưởng trong những bài thơ mở rộng khuôn khổ, kích thước. 2. Tác phẩm: - Nhà thơ đã xuất bản: Lửa thiêng (thơ, 1940); Vũ trụ ca (thơ, 1942); Kinh cầu tự (văn xuôi, 1942); Tính chất dân tộc trong văn nghệ (nghiên cứu, 1958); Trời mỗi ngày lại sáng (thơ, 1958); Đất nở hoa (thơ, 1960); Bài ca cuộc đời (thơ, 1963); Hai bàn tay em (thơ, 1967); Phù Đổng Thiên vương (thơ, 1968); Những năm sáu mươi (thơ, 1968); Cô gái Mèo (thơ, 1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (thơ, 1973); Chiến trường gần đến chiến trường xa (thơ, 1973); Những người mẹ, những người vợ (thơ, 1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (thơ, 1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (thơ, 1976); Ngôi nhà giữa nắng (thơ, 1978); Hạt lại gieo (thơ, 1984); Văn hóa và chính sách Văn hóa ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari 1985); Tuyển tập (thơ, 1986); Nước thủy triều Đông (thơ, song ngữ, xuất bản ở Paris, 1944); Hồi ký song đôi (1997). - Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá thể hiện sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ của nhà thơ Huy Cận. Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ đầu là cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người, bốn khổ tiếp theo là hoạt động của đoàn thuyền đánh cá và khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh của một ngày mới. Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cận nhớ lại: Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi được viết ra trong những tháng năm đất nước bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả tác phẩm vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh. Đoàn thuyến đánh cá lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thường, lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi. Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó. ở đây tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trước cách mạng vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trước là tách biệt xa cách với cuộc đời thì hôm nay lại gần gũi với con người. Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con người đã chiến thắng. Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui. Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn. Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đã về ta. Và chất lãng mạn thì cũng không cần phải tưởng tượng nhiều. ở giữa cảnh biển cao rộng đó, với gió, với trăng, rồi bình minh và nắng hồng, và đặc biệt là sức người trong lao động đều thực sự mang tính chất lãng mạn bay bổng "Thuyền ta lái gió với buồm trăng". "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời". Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lao động trên biển. Tôi nghĩ rằng trong khung cảnh đó cũng không thể viết khác đi. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đẹp của một ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khoang thuyền đầy ắp cá. Mở đầu bài thơ là hình ảnh "mặt trời xuống biển" và kết thúc là hình ảnh "mặt trời đội biển" nhô lên giữa sông nước. Thiên nhiên đã vận động theo một vòng quay của mặt trời và con người đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong lao động. Không có gì vui bằng lao động có hiệu quả. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá nằm trong cảm hứng chung của thơ tôi trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tôi viết bài thơ tương đối nhanh, chỉ vài giờ của một buổi chiều trên vùng biển Hạ Long. Bài thơ được viết liền mạch và ít phải sửa chữa. Tôi nghĩ rằng đó cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên mà thực sự là cảm hứng đã được tích tụ trên một đề tài quen thuộc của tôi và được viết ra trong không khí rất vui của những năm tháng đầu xây dựng của chủ nghĩa xã hội (Huy Cận, Tác phẩm văn học, NXB Văn học, 2001). II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là "khúc tráng ca". Quả đúng như¬ vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con ngư¬ời lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một "nỗi buồn thế hệ" cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi tr¬ớc Cách mạng tháng Tám. Đây là cảnh sông nước trong Tràng giang - một trong những bài thơ tiêu biểu của Huy Cận giai đoạn ấy: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Còn đây: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà ngư¬ời ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động. Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên được phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trương của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, những con sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm như được kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc "sóng đã cài then", "đêm sập cửa". Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của người dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai như ở Quê hương của Tế Hanh: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá (...) Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió... Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút ng¬ười đọc vào không khí lao động của người¬ dân lúc nào không hay. Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đ¬ược gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh "Mặt trời... như¬ hòn lửa". Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển đ¬ợc miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, lướt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,...), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như¬ trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,...). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ng¬ời. Có lẽ không ở đâu lại có được cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông hơn ở những câu thơ này: Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Chỉ một hình ảnh "Đêm thở" mà ta như thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nư¬ớc. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của sao... Thật huyền diệu! Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá: Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính. Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên (Ra đậu dặm xa dò bụng biển - Dàn đan thế trận lưới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Thuyền ta lái gió với buồm trăng - Lướt giữa mây cao với biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng được cảm nhận với sự vận động theo nhịp sống của con người: Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng như nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ: "Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó. ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trư¬ớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trước là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ngư¬ời. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con người đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui". Bài khác: I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là "khúc tráng ca". Quả đúng như­ vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con ng­ười lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một "nỗi buồn thế hệ" cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi trước Cách mạng tháng Tám, mà tràn đầy sức sống của niềm vui lao động: Mặt trời xuống biển nh­ư hòn lửa, Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn màu sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi ! Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà ngư­ời ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động. 2. Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên dẫu chỉ phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn tr­ơng của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, từng đợt sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như­ then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm nh­ư đ­ợc kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc "sóng đã cài then", "đêm sập cửa". Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của ngư­ dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai như­ ở Quê h­ương của Tế Hanh : Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá (...) Cánh buồm giương to nh­ mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió ... Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, từ tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút ng­ời đọc vào không khí lao động của ngư­ dân lúc nào không hay. 3. Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đ­ược gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh "Mặt trời... như hòn lửa". Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển được miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, l­ớt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,...), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như­ trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,...). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con ng­ời lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ngư­ời. Có lẽ không ở đâu nữa vẻ đẹp và cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông lại đẹp hơn ở những câu thơ này : Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở : sao lùa n­ước Hạ Long. Chỉ một hình ảnh "Đêm thở" mà ta như­ thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nước. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của ánh trăng, của sao... Thật huyền diệu ! 4. Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá : Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con ng­ười. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính. 5. Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên (Ra đậu dặm xa dò bụng biển ; Dàn đan thế trận l­ới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Câu hát căng buồm cùng gió khơi ; Thuyền ta lái gió với buồm trăng, L­ớt giữa mây cao với biển bằng ; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng đư­ợc cảm nhận cùng với sự vận động theo nhịp sống của con ng­ời : Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng nh­ nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ : "Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. Ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu tr­ớc cách mạng, Vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, tr­ớc là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con ng­ời. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con ngư­ời và thiên nhiên, và con ngư­ời đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con ngư­ời trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui." II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được xem là một khúc tráng ca, một bài ca lao động, dạt dào cảm hứng về thiên nhiên và đất nước, con người trước cuộc sống mới. Vì vậy, khi đọc cần chú ý thể hiện chất giọng khoẻ khoắn, sảng khoái, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động làm chủ thiên nhiên và vũ trụ. (Sưu tầm)
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đoàn thuyền đánh cá

ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1.Tác giả - Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở Ân Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng ( 1940 ). - Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Sau cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945. Ông được trao tặng giải thưởng Hồ chí Minh về văn học nghệ thuật ( 1996 ). Ông mất năm 2006, tại Hà Nội - Tác phẩm chính: Lửa thiêng ( 1940 ); Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ); Đất nở hoa ( 1960 ); Những năm sáu mươi ( 1968 ); Chiến trường gần đến chiến trường xa ( 1973 ); Nước thủy triều Đông (1994 )… 2.Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. - Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của Huy Cận. Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu vào cuộc sống mới bao trùm cả đời sống xã hội và trở thành niềm cảm hứng của thơ ca. Nhiều nhà thơ đi đến các vùng đất xa xôi, nơi đang dấy lên phong trào sản xuất xây dựng đất nước. Giữa năm 1958 huy Cận có chuyến đi thực tế tại dài ngày về vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới. - Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được ra đời vào thời gian này và in trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ) II.Phân tích bài thơ 1.Bố cục bài thơ - Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ đầu là cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người, bốn khổ tiếp theo là cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh biển trời ban đêm, khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh. - Với bố cục bài thơ như trên, bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã tạo một khung cảnh không gian và thời gian và thời gian rất đáng chú ý: không gian rộng lớn bao la với mặt trời, biển, mây, gió, trăng, sao; thời gian là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh, cũng là thời gian của một chuyến ra biển rồi trở về của đoàn thuyền đánh cá: mặt trời xuống biển, cả đất trời vào đêm, trăng lên cao, đêm thở, sao lùa…rồi sao mờ, mặt trời đội biển nhô lên trong một ngày mới. Điểm nhịp cho công việc của đoàn thuyền đánh cá là nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ. 2.Hình ảnh con người lao động trong sự hài hòa với thiên nhiên vũ trụ - Bài thơ là sự kết hợp hai nguồn cảm hứng: về lao động và về thiên nhiên vũ trụ. Khác với thơ Huy Cận trước Cách mạng, ở đây thiên nhiên vũ trụ không đối lập với con người, không làm cho con người trở lên nhỏ bé cô đơn, mà càng nâng cao, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trong sự hài hòa với khung cảnh thiên nhiên. + Hình ảnh con người lao động và công việc của họ, ở đây là đoàn thuyền đánh cá, được đặt vào không gian rộng lớn của biển trời, trăng sao, để làm tăng thêm kích thước, tầm vóc và vị thế của con người. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp phóng đại cùng với những liên tưởng mạnh bạo, bất ngờ để sáng tạo hình ảnh về người lao động -Câu hát căng buồm cùng gió khơi -Thuyền ta lái gió với buồn trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng -Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời + Sự hài hòa giữa con người lao động và thiên nhiên, vũ trụ còn thể hiện ở sự nhịp nhàng giữa điệu vận hành của thiên nhiên, vũ trụ và trình tự của công việc lao động của đoàn thuyền đánh cá. Khi mặt trời xuống biển, vũ trụ vào đêm cũng là lúc khởi đầu một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, và đây là công việc diễn ra thường xuyên, đều đặn như một nhịp sống đã quen thuộc: “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”. Con thuyền ra khơi có gió làm lái, trăng làm buồm, gõ thuyền đuổi cá vào lưới cũng theo nhịp trăng, sao. Đến lúc sao mờ, tức là đêm sắp tàn thì cũng là lúc kéo lưới kịp trời sáng. Bình minh lên, mặt trời đội biển, cũng là lúc đoàn thuyền trở về, tuy nặng khoang cá đầy mà vẫn lướt đi phơi phới chạy đua cùng mặt trời - Hình ảnh người lao động trong bài thơ được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn, thể hiện niềm tin, niềm vui trước cuộc sống mới. Cảm hứng lãng mạn ấy cũng thấm đẫm trong những hình ảnh về thiên nhiên vũ trụ, tạo nên vẻ đẹp tráng lệ, phóng khoáng mà vẫn gần gũi với con người. 3.Vẻ đẹp của những hình ảnh thơ về thiên nhiên và lao động a.Cảnh biển vào đêm vừa rộng lớn lại vừa gần gũi với con người bằng một liên tưởng so sánh thú vị của nhà thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với màn đêm buông xuống là cánh tấm cửa khổng lồ với những lượn sóng là then cửa. Chi tiết mặt trời xuống biển có thể gây thắc mắc với người đọc, vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà bờ biển nước ta, trừ vùng biển Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra, hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển vẫn có thể thấy như mặt trời xuống biển. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng: cánh buồm, gió khơi và câu hát của người đánh cá. Câu hát là niềm vui, sự phấn chấn của người lao động như đã có một sức mạnh vật chất để cùng với ngọn gió làm căng buồm cho con thuyền lướt nhanh ra khơi ( câu thơ này đã được lặp lại ở khổ cuối bài thơ, chỉ đổi chữ cùng thành với ) b.Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển Tác giả đã phát hiện vẻ đẹp của cảnh đánh cá giữa biển đêm, trong niềm vui phơi phới khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc của mình. Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ khổnglồ, hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ: lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng, dò bụng biển, dàn đan thế trận… Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa bò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên: Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao …Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng c.Đẹp lộng lẫy và rực rỡ đến huyền ảo là hình ảnh của những loài cá trên biển, giữa ánh trăng, sao và ánh nắng lúc rạng đông. Đây là những bức tranh sơn mài lung linh huyền ảo, được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng từ sự quan sát hiện thực. …Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng …Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe …Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông …Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Tóm lại: Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ cho ta thấy cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên, đất nước và con người lao động, làm giàu thêm cách nhìn cuộc sống, biểu hiện niềm say sưa, hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình Tham khảo thêm : Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958, nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh. Thông qua một đêm đánh cá của một đoàn thyền trên biển, nhà thơ ca ngợi không khí lao động mới, tràn đầy niềm lạc quan, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la. Bài thơ đã dựng được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc những năm đầu bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bài thơ mở đầu bằng cảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” và kết thúc bằng hình ảnh “Mặt trời đội biển như màu nước-mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi”. Như vậy là cảnh lao động của đoàn thuyền đánh cá diển ra trong một đêm ròng. Thế nhưng, bài thơ là một bức tranh với những đường nét khoẻ khoắn, màu sắc tươi sáng lạ thường. Đánh cá trên biển mênh mông thực chất là một công việc lao động nặng nhọc, đầy nguy hiểm. Vậy mà cả bài thơ là một khúc ca sảng khoái, tràn đầy niềm vui, phối hợp nhạc điệu với những động tác khoẻ mạnh, dồn dập. Bài thơ lặp lại nhiều lần chữ “hát”, và tiếng hát đã thực sự trở thành âm thanh chủ đạo của bài thơ. Cùng với tiếng hát được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc, trong bài thơ này, tác giả còn tập trung miêu tả hình ảnh những con cá, những đàn cá gợi lên một bức tranh sinh động về cảnh biển giàu, đẹp. Hình ảnh đàn cá liên tiếp suất hiện, lấp lánh ánh sáng màu sắc như một bức sơn mài: “Hát rằng cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày đệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Cá nục cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em vẩy trắng vàng choé Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông” Giữa khung cảnh biển đêm mênh mông, hình ảnh con người lao động xuất hiện với tư thế làm chủ biển khơi, làm chủ công việc của mình. Hình ảnh họ xuất hiện thật gân guốc, khoẻ khoắn: “Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng - Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”. Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã dựng lên hình ảnh những người con lao động mới với tầm vóc ngang tầm vũ tru và hoà hợp với khung cảnh trời nước bao la: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng.” Trên cái không gian bát ngát, con thuyền có buồn là trăng, được lái bằng gió lướt sóng đi phơi phới, gợi lên niềm vui niềm tự hoà chân chính của con người mới, làm chủ thiên nhiên, hăng say lao động làm giàu cho Tổ quốc. Huy Cận đã nhìn cảnh đánh cá trên biển khơi bằng con mắt lạc quan phơi phới của mình. Sau một đêm đánh cá trên biển, bình minh lên, đoàn thuyền đánh cá lại trở về bến bãi. Vẫn là câu hát nhưng đây là câu hát tràn ngập niềm vui của con người sau một đêm lao động khẩn trương và đạt sản lượng mong muốn. Thiên nhiên như chia sẻ niềm vui đó: ”Câu hát căng buốm cùng gió khơi” và cảnh trở nên vô cung sinh động. Trên mặt biển mênh mông, đoàn thuyền lao vùn vụt: ”Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Đoàn thuyền như chạy đua cùng với thời gian với niềm vui háo hức để trở về với bến bờ đang nhộn nhịp đón chờ.... Bài thơ là khúc ca sảng khoái của người lao động đánh cá, thể hiện niềm phấn khởi trước những thành quả lao động của mình. Hình ảnh con người hiện lên trong bài thơ là hình ảnh conngười mới làm chủ thiên nhiên, nhiệt tình lao động sản xuất để làm giàu cho tổ quốc, gắn với biển cả quê hương.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 9 tuyển chọn

Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 9 tuyển chọn

Phân tích biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong 2 dòng thơ sau: Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trongthớ vỏ (Quê hương Tế Hanh) CÂU 2 (3,0 đ) Trong bài thơ Một khúc ca xuân, nhà thơ Tố Hữu có viết: Nếu là con chim, chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Em hãy nêu suy nghĩ của mình về lẽ sống được thể hiện trong bốn dòng thơ trên. Câu 2: (6 điểm)Suy nghĩ về hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. GỢI Ý CÂU 1: (2,0đ) Biện pháp nghệ thuật được sử dụng : nhân hóa (0,5đ) Bằng biện pháp nhân hóa: tác giả không chỉ diễn tả hình ảnh con thuyền nằm im trên bến mà còn cảm thấy nó như đang lắng nghe, đang cảm nhận chất mặn mòi của biển cả. Hình ảnh con thuyền vô tri đã trở nên có hồn. Và , cũng như người dân chài, con thuyền lao động ấy cũng thấm đậm vị muối mặn của biển khơi, đó là sự vất vả nhưng tràn đầy hạnh phúc.(1,0đ) Hai dòng thơ thể hiện sự tinh tế tài hoa và một tấm lòng gắn bó sâu nặng với con người, cuộc sống lao động của quê hương.(0,5đ)
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án năm 2014 (P5)

Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án năm 2014 (P5)

 ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D NĂM 2014 CÓ ĐÁP ÁN - THPT CHU VĂN AN, HÀ NỘI PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5 điểm) Câu I (2 điểm): Ý nghĩa của hình ảnh tiếng đàn bọt nước trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) Câu II (3 diểm): Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm Sống, hãy là chính mình trong xã hội ngày nay.  PHẦN RIÊNG (5 điểm) Thí sinh chỉ làm một trong hai câu (III.a hoặc III.b). Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5 điểm) Nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp đã nhận xét: Đọc Hai đứa trẻ ta có cảm giác buồn day dứt, lắng đọng, không còn yên tĩnh được nữa, nhưng sau đó chính ông cũng khẳng định: văn xuôi Thạch Lam vẫn khiến ta nghĩ tới một bản tình ca về cái thường nhật đối với các đời sống kín đáo và giản dị quanh mình. Bằng việc phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ, anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến trên.  Câu III.b.Theo chương trình nâng cao (5 điểm) Cảm nhận của anh (chị) về nỗi nhớ qua 2 đoạn thơ: Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Bảo rằng cách trở đò giang Không sang là chẳng đường sang đã đành (Tương tư - Nguyễn Bính Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức (Sóng - Xuân Quỳnh)  --------------Hết------------ ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D NĂM 2014  - THPT CHU VĂN AN, HÀ NỘI Câu Ý Nội dung Điểm số I   Ý nghĩa của hình ảnh tiếng đàn bọt nước trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)   2   1 Vai trò của chi tiết trong tác phẩm thơ 0,5   Thơ là thể loại có dung lượng nhỏ so với văn xuôi vì thế mỗi hình ảnh thơ thường đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc thơ 0,25 Đặc biệt, bài thơ nào cũng cần đến những hình ảnh mang tính nhãn tự cho cả bài thơ. Hình ảnh tiếng đàn bọt nước trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca xứng đáng là một chi tiết đắt giá như thế. 0,25 2 Ý nghĩa của hình ảnh tiếng đàn bọt nước trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca 1,5   So sánh tiếng đàn với bọt nước là một so sánh khá bất ngờ bởi bọt nước gợi đến những gì mong manh hư vô, dễ mất đi, dễ tan biến. Thanh thảo đã cảm nhận sâu sắc một điều: vẻ đẹp của nghệ thuật đôi khi phải đối diện với những gì tàn nhẫn, khắc nghiệt của cuộc đời, của định mệnh. Cái đẹp và người nghệ sĩ vốn mong manh, yểu mệnh 0,5   Nhưng như chính Thanh Thảo đã tâm sự:bọt nước mong manh, hư vô nhưng đầy biến ảo, nó tan rồi nó lại hiện, vì thế rất khó bị hủy diệt. Sức mạnh của cái đẹp và nghệ thuật là thế, là sự ám ảnh, lay động, là sự lan tỏa, ngân vang ngay cả khi tưởng như đã bị vùi dập.   0.5 Hình ảnh này góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ: không chỉ xót thương cho cái đẹp mong manh mà còn khẳng định sự bất tử của cái đẹp  Lưu ý: Đáp án chỉ là gợi ý, học sinh có thể trình bày theo cách hiểu và cảm xúc của mình, quan trọng nhất là học sinh hiểu và làm nổi bật yêu cầu của đề. 0,5 II   Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm Sống, hãy là chính mình trong xã hội ngày nay.   3   1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề. 0,25 2. Thân bài (gợi ý): 2,5     Giải thích -          Sống là chính mình  +  Sống với đúng bản chất, năng lực. phẩm chất của mình. +  Sống với những gì mình có, không giả tạo, a dua học đòi người khác, không phụ thuộc, lệ thuộc người khác. + Sống có bản lĩnh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm với mọi việc trong cuộc đời. -     Kết cấu câu mệnh lệnh “hãy là ”:  như một lời nhắc nhủ hãy luôn ý thức về bản ngã. -          Xã hội ngày nay : Xã hội toàn cầu hóa, để tồn tại mỗi cá nhân cần sống là chính mình để hòa nhập mà không hòa tan = > Vấn đề cần bình luận: khẳng định phương thức sống là chính mình như một yếu tố cần thiết trong xã hội hiện đại, phê phán lối sống nhạt nhòa, thiếu bản ngã.   0,75 2. Bình luận Vì sao phải sống là chính mình -          Mỗi người sinh ra trên đời có hình hài, năng lực, trí tuệ riêng => mỗi người có  một vị trí, vai trò, ý nghĩa trong cuộc đời => sống là chính mình là cách để trân trọng những gì mà cha mẹ và cuộc đời trao tặng cho mình. -          Sống là chính mình giúp mỗi người phát huy hết mọi năng lực sáng tạo => mạnh mẽ, kiên cường đối chọi với những thử thách của cuộc sống. -          Mỗi người biết sống là chính mình sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đó là động lực của những thay đổi hướng đến cuộc sống tốt đẹp, nhân văn hơn. Nếu đánh mất mình cuộc sống sẽ ra sao -          Không được là mình là một sự khốn khổ của con người, chỉ là một bản sao của người khác là tồn tại chứ không phải là sống. -          Cuộc sống luôn biến đổi, đầy thử thách, lắm khúc quanh, nhiều ngả rẽ...không bản ngã con người dễ lung lay, tha hóa thậm chí gục ngã trước sóng gió cuộc đời. -          Những người không là chính mình sẽ khiến xã hội trở nên nghèo nàn, không bản sắc, thiếu sức sống và kém phát triển. Những quan niệm khác nhau về vấn đề bình luận -          Phải hiểu đúng bản chất của khái niệm là chính mình là hướng tới những giá trị tốt đẹp của con người. Điều đó khác với sự ích kỉ, vụ lợi, vì cái cá nhân, bất chấp mọi luân thường đạo lý. -          Sống là chính mình đồng thời cũng phải biết trân trọng những giá trị thuộc về bản ngã của người khác. -          Sống là chính mình không có nghĩa là bất biến mà phải biết sửa mình để ngày một hoàn thiện hơn.   -            1,0 3. Liên hệ bản thân: -     Liên hệ với thực tiễn xã hội -          Câu nói đã có tác động và làm thay đổi nhận thức và hành động của bản thân như thế nào (trình bầy một cách chân thành).     0,75   3 Kết bài: Một lần nữa khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống. Lưu ý: không nhất thiết đúng ý như đáp án, mà cần nêu và lập luận chặt chẽ để làm nổi bật kiến giải cá nhân. 0,25 III.a   Chương trình cơ bản: Nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp đã nhận xét: Đọc Hai đứa trẻ ta có cảm giác buồn day dứt, lắng đọng, không còn yên tĩnh được nữa, nhưng sau đó chính ông cũng khẳng định: văn xuôi Thạch Lam vẫn khiến ta nghĩ tới một bản tình ca về cái thường nhật đối với các đời sống kín đáo và giản dị quanh mình » Bằng việc phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”, hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến trên.     5 1. Mở bài : Giới thiệu về  Thạch Lam, tác phẩm “Hai đứa trẻ” và nội dung cần phân tích. 0,5 2. Thân bài 4 Về nội dung giải thích và bình luận -          Ý kiến đưa ra một đặc điểm của truyện ngắn Thạch Lam, qua đó thể hiện phong cách của nhà văn: Thạch Lam viết về những đề tài rất hiện thực bằng một ngòi bút đẫm chất thơ. Chính điều đó đã góp phần khiến cho các tác phẩm của nhà văn trở thành một thứ khí giới thanh cao và đắc lực để thanh lọc lòng người như ông hằng mong muốn. -           Kiểu truyện của Thạch Lam khước từ cốt truyện li kì, tình huống gay cấn, chỉ viết về cái thường nhật quen thuộc, tưởng chẳng có gì đáng nói...Những câu chuyện như Hai đứa trẻ trước hết khiến người đọc không thôi day dứt ám ảnh về một hiện thực mờ xám của những kiếp tàn lụi: ngày tàn, chợ tàn, người tàn nơi phố huyện nghèo nàn, đơn điệu. -          Nhưng chính từ cái cuộc sống thường nhật ấy, nhà văn đã chỉ ra, đã dạy người đọc biết cảm nhận những vẻ đẹp tinh tế, nho nhỏ mà đáng quí, những điều rát đỗi gần gũi, thương mến mà ta đã bỏ qua, không biết giữ, biết quí...Đó chính là bản tình ca của cuộc sống thường nhật.   1,5 Về nội dung phân tích, chứng minh: Hai đứa trẻ của Thạch Lam hiện lên hai không gian đối lập nhau: không gian phố huyện nghèo nàn, đơn điệu, thường nhật và không gian tinh thần của Liên êm dịu, man mác, xao xuyến như bản tình ca... -          Qua tâm hồn nhạy cảm tinh tế của Liên: cuộc sống hiện lên chẳng bao giờ là cũ. Liên lặng ngắm cảnh hoàng hôn, cảnh bầu trời đêm, cảm nhận rõ bước đi của thời gian, lắng nghe từng chuyển động tinh tế nhất của cuộc sống. Đối với Liên, cuộc sống không hề tẻ nhạt. cuộc sống luôn làm ta thấy xúc động... -          Qua tâm hồn giàu yêu thương của Liên: cuộc sống thật thương mến. Liên nhớ nhung Hà Nội nhưng cũng rất yêu thương gắn bó với phố huyện. Liên yêu gia đình, yêu những con người ngày ngày cô gặp, Liên luôn nghĩ về họ, day dứt mà không chua chát, xót xa mà vẫn tin yêu... -          Qua tâm hồn giàu khát vọng và biết ước mơ của Liên: cuộc sống thật đáng đợi chờ, khám phá. Sống trong bóng tối khiến cho Liên trở nên nhạy cảm với ánh sáng, Liên nâng niu từng giọt ánh sáng, ánh sáng trong tâm hồn Liên thật diệu kì, phong phú. Sống với hiện tại tẻ nhạt, Liên biết lấy quá khứ để nuôi dưỡng ước mơ. Liên từng đêm đợi đoàn tàu để được sống, được nhớ về Hà Nội và được chờ đợi vào ngày mai... Thạch Lam, với vẻ đẹp tâm hồn của Liên trong Hai đứa trẻ như muốn thủ thỉ bảo ta rằng: Cuộc sống vốn dĩ là thế, trong suốt cuộc đời của mình, ta sẽ không khỏi có lúc cảm thấy những cảm giác quạnh hiu nơi một phố huyện nghèo, không thể tránh được cảm giác bị bỏ rơi nơi một ga xép bé nhỏ, ta sẽ thấy ám ảnh day dứt về mộth iện thực mờ xám, tẻ nhạt, đơn điệu, ta sợ phải đối diện với cái thường nhật...nhưng chính trong cuộc sống ấy còn có một cuộc sống nữa, rất đáng sống, cuộc sống lặng lẽ trở về với cái nhìn của đứa trẻ, biết góp nhặt những mảnh nhỏ cuộc đời để làm món quà cho mình và cho đời.... Nhất thiết học sinh phải có ý thức làm nổi bật yêu cầu của đề, kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật, tránh sa vào việc phân tích tác phẩm đơn thuần. Nhận định mà đề bài đưa ra có 2 ý, học sinh nên tinh ý hiểu ý thứ nhất là đòn bẩy cho ý thứ 2. Đương nhiên học sinh có thể đưa ra những ý kiến tranh luận ngược lại và vẫn cho điểm tối đa nếu học sinh lập luận thuyết phục, khoa học. 2,5 3 Kết bài: Một lần nữa khẳng định lại phong cách truyện ngắn Thạch Lam. 0,5 III.b   Chương trình nâng cao: Cảm nhận của anh (chị)về nỗi nhớ qua 2 đoạn thơ: Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Bảo rằng cách trở đò giang Không sang là chẳng đường sang đã đành (Tương tư - Nguyễn Bính) Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức (Sóng - Xuân Quỳnh)     5 1 Mở bài Giới thiệu được vấn đề: + Nỗi nhớ trong tình yêu của văn học. + Giới thiệu hai tác phẩm “Tương tư” của Nguyễn Bính và “Sóng” của Xuân Quỳnh, hai bài thơ trải ra những cung bậc đa dạng của nỗi nhớ, tiêu biểu là hai đoạn thơ đã dẫn. 0,5 2. Thân bài: 4   Lưu ý: Học sinh có thể có nhiều cách giải quyết vấn đề: có thể phân tích từng đoạn thơ rồi rút ra những nhận xét đánh giá; hoặc có thể tìm ra những đặc điểm giống nhau và khác nhau trong cách thức thể hiện nỗi nhớ của hai đoạn thơ. Song bài viết phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản, làm nổi bật những nét đặc sắc của hai nhà thơ trong việc thể hiện một chủ đề rất quen thuộc của văn chương: đề tài nỗi nhớ Sau đây là một số gợi ý theo hướng phân tích thứ hai   Những điểm tương đồng của hai đoạn thơ: - Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ rất thành công, thể hiện được những nét đặc sắc riêng của mình trong một đề tài quen thuộc muôn thủa: đó là nỗi nhớ của người đang yêu, người sống trọn vẹn trong không gian thương nhớ, vì nhớ mà cứ một mình tưởng tượng, một mình thao thức nghĩ suy, thậm chí người kia có biết, có hiểu, có thấu hay không còn chẳng rõ. - Cả hai đều thể hiện nỗi nhớ qua những chiều kích không gian và thời gian, những chiều kích lớn nhất để đo, để đong đầy nỗi nhớ của mình. 1,5 Điểm khác nhau trong việc thể hiện nỗi nhớ của hai đoạn thơ: 2.1  Về chủ thể bầy tỏ cảm xúc:    -  “Tương tư” là lời của chàng trai với cô gái, trong nỗi nhớ thương bày tỏ sự trách móc, giân hờn cô, “đổ lỗi” cho cô là nguyên nhân của nỗi tương tư vật vã của mình.    -  Còn “Sóng” là lời của “em” trao gửi cho “anh”, không có sự giận hờn, trách móc, chỉ có sự bày tỏ, dâng hiến trọn vẹn.    - Chàng trai trong “Tương tư” tự thấy mình “hy sinh” trông đợi nhiều mà không được đáp lại thì đau khổ, giận dỗi => thể hiện cái tham lam, ham hố của người con trai trong tình yêu.    - Còn em trong “Sóng” lại lặng lẽ, thao thức, gọi tên người yêu cả trong giấc chiêm bao, người con gái ấy yêu một mình, đau khổ bồn chồn cũng chỉ một mình, niềm đau cũng là niềm yêu, là niềm hạnh phúc.    - Chàng trai trong “Tương tư” kể lể để “buộc tội” người ta, còn em trong “Sóng” lại thể hiện một lời thú nhận rất tha thiết.   2.2 Về cách thức thể hiện nỗi nhớ: -          Nguyễn Bính trong đoạn thơ đã mượn không gian và thời gian để nhấn mạnh nỗi nhớ. -          Còn Xuân Quỳnh trong đoạn thơ của mình dường như cảm thấy mượn không gian, thời gian là chưa đủ, Xuân Quỳnh còn trực tiếp để nhân vật trữ tình “em” thổ lộ tình cảm của mình, nỗi nhớ trong “Sóng” tràn cả vào giấc chiêm bao, tràn cả vào không gian tâm linh.  -          “Tương tư” là bài thơ thể hiện sự kết hợp tinh tế của thơ ca dân gian và của thơ Mới, có cái ngọt ngào duyên dáng quen thuộc của người nhà quê mà vẫn có cái “tinh ranh” của một cái TÔI cá nhân thời đại. -          Còn “Sóng” mang một giọng điệu tâm tình thủ thỉ rất gần với lời nói đời thường của một người con gái vừa da diết yêu thương, vừa giàu lòng trắc ẩn trước hạnh phúc của cuộc đời. 2,5 3 Kết bài   0,5 Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật các phần tiếp theo của Đề thi thử đại học môn Văn khối C,D có đáp án năm 2014 các em chú ý theo dõi nhé
Xem thêm

Đọc thêm

Tác giả Chế Lan Viên

TÁC GIẢ CHẾ LAN VIÊN

1 – Vài nét về tiểu sử và con người Tên thật là: Phan Ngọc Hoan Bút danh khác: Thạch Hãn, Chàng Văn. Quê quán: Can an- Cam lộ- Quảng Trị. Thời trai trẻ chủ yếu sống ở Quy Nhơn – Bình Ðịnh. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ. - Cách mạng tháng Tám thành công, Chế Lan Viên đến với cách mạng bằng sự hăng hái nhiệt tình của tuổi trẻ. Ông làm biên tập cho các báo Quyết thắng của Mặt trận Việt minh, Cứu quốc, Kháng chiến của liên khu IV. Năm 1949 Chế Lan Viên được kết nạp vào Ðảng. - Sau năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung Ương. Ðến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học. Từ năm 1963 là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam. - Sau năm 1975, ông chuyển vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh và qua đời ngày 19 6 – 1989. Ông để lại cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ :+ 15 tập thơ .+ 7 tác phẩm văn xuôi.+ 8 tập tiểu luận – phê bình.Tóm lại: Cả cuộc đời mình, Chế Lan Viên gắn bó với Tổ quốc, có nỗi đau và niềm vui. Cuộc sống cách mạng đã giúp Chế Lan Viên Bay theo đường dân tộc đang bay, tạo điều kiện thuận lợi để nhà văn phát huy được tài năng, đóng góp lớn cho kho tàng văn chương của dân tộc.  2 Chế Lan Viên với thơ2.1 Vài nét về quan niệm thơ của Chế Lan Viên: Quan niệm thơ của Chế Lan Viên được thể hiện ở các bài viết, bài nói chuyện, đặc biệt là trong rất nhiều bài thơ và tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau: 2.1.1 – Quan niệm về vị trí và phẩm chất của nhà thơ: Chế Lan Viên quan niệm sáng tạo thơ là một nghề cao quý trong xã hội, nhà thơ phải có vị trí, sứ mệnh cao cả đối với đời. Nghề thơ, không phải ai cũng làm được, bởi nhà thơ phải có hồn thi sĩ. Nhà thơ không chỉ biết tin yêu cuộc đời, có khát vọng vươn tới cái chân, thiện, mĩ của cuộc sống, mà còn phải thật sự khổ luyện để vượt lên tất cả. Nhà thơ cần phải nhìn, nghe và suy ngẫm để góp phần lí giải khám phá những vấn đề trong đời sống. Nghề thơ đòi hỏi nhà thơ phải có tài năng thơ mới có thể cảm nhận, khám phá, thể hiện cuộc sống một cách tinh tế, nhạy bén. Mặt khác, nghề thơ còn đòi hỏi nhà thơ vừa phải biết giữ gìn, trân trọng và phát huy cái tài năng bẩm sinh trời cho, vừa phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng, rèn luyện và trau dồi về mọi phương diện nhằm sáng tạo nên cái thần mới cho thơ. Chế Lan Viên luôn xem việc học hỏi, sáng tạo là cuộc Vượt bể trong suốt cả đời mình và ông khẳng định, Nghề của chúng ta cần phải nắm bắt chính xác vòng quay thời đại để tạo nên mùa và đừng để thời gian trôi qua một cách vô ích, phải luôn biết vượt lên tất cả để Săn thơ, Tìm thơ. Chế Lan Viên đòi hỏi, nhà thơ cần phải có cá tính sáng tạo. Ông ví mỗi nhà thơ như một dòng sông mang đặc tính và vẻ đẹp riêng. Nhà thơ cần phải giữ được cái tạng riêng cho mình. Nếu chỉ biết đi theo lối mòn trong sáng tạo, thì tất yếu nhà thơ tự đánh mất mình, hoặc sẽ rơi vào cái đội quân nhạt nhạt mờ mờ. Nghề thơ đòi hỏi nhà thơ không chỉ có tài năng, mà còn phải có nhân cách, có cái tâm trong sáng bởi đó là gốc rễ của văn chương. Ðừng hợm hĩnh và đừng bao giờ nghĩ rằng không có các anh thì không ai uống sữa của Trời. Với quan niệm trên, Chế Lan Viên đã khẳng định vai trò, tầm vóc của nhà thơ trong đời sống xã hội, những người đã và đang làm công việc vực sự sống ba chiều lên trang thơ hai mặt phẳng.  2.1.2 – Ý nghĩa và tác dụng của thơ : Chế Lan Viên luôn có suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đạo đức trong đời sống xã hội. Ông luôn tự hỏi ta vì ai, tôi viết cho ai? để từ đó sáng tạo nên những vần thơ có ích cho đời và vui sướng khi trở thành một người cầm bút có ích, làm thơ có ích. Mặt khác, Chế Lan Viên quan niệm, thơ không chỉ đưa ru, sưởi ấm người đọc bằng tình cảm mãnh liệt, ước mơ lãng mạn, mà còn phải có khả năng thức tỉnh họ bằng ánh sáng của trí tuệ. Qua cách thể hiện khác nhau, Chế Lan Viên luôn nhấn mạnh, thơ góp thêm tiếng cười, thêm vị muối cho đời, là nhành hoa mát mắt cho đời, thơ có khả năng kì diệu: tát bể, cân đời, thơ làm cho con người tự tin hơn trong cuộc sống. Từ quan niệm, thơ là các đỉnh tinh thần chất ngất, Chế Lan Viên đã chỉ rõ tác dụng mãnh liệt của thơ đối với người đọc, tác dụng đó vượt khỏi giới hạn về không gian. Cho dù câu thơ viết ở kinh tuyến này nhưng vẫn làm nên sự rung động trào sôi ở kinh tuyến khác. Ông khẳng định: thơ phải trả lời, phải có khả năng giải đáp được những gì đã, đang và sẽ xảy ra trong đời sống. Nếu thiếu lời giải đáp thì thơ đã mắc Nợ đối với đời. Chế Lan Viên còn muốn thơ phải là Thuốc có khả năng chữa lành vết thương trong cõi tinh thần con người, có ích cho nỗi đau người, để phục sinh con người. Thơ là Tiếng hú, một tín hiệu giao cảm để từ đó lay động tâm hồn người đọc khiến họ sống có ý nghĩa hơn đối với đời. Tóm lại, Chế Lan Viên luôn tâm niệm: thơ cần có ích / hãy bắt đầu từ nơi ấy mà đi, đó là cái đích mà Chế Lan Viên luôn hướng tới. 2.1.3 – Nghệ thuật sáng tạo thơ Vốn tâm huyết với nghề, với thơ, Chế Lan Viên luôn có suy nghĩ độc đáo, sâu sắc về nghệ thuật sáng tạo thơ. Ðiều này được biểu hiện rõ ở nhiều bài tiểu luận, phê bình, nói chuyện thơ và ở nhiều bài thơ của Chế Lan Viên. Ông quan tâm nhiều về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, về thể loại, về vần, câu, chữ, ý, nhạc …, cũng như việc phát huy truyền thống và đổi mới, sáng tạo ở phương diện nghệ thuật thơ. Càng về cuối đời, Chế Lan Viên càng bàn kĩ và suy ngẫm nhiều về nghệ thuật sáng tạo thơ. Ông có một loạt bài thơ nói về Thi pháp ồn, Thi pháp trẻ và Thi pháp của thơ độc đáo, điều đó gợi ra cho những người sáng tác thơ bao điều cần ngẫm nghĩ. Chế Lan Viên đòi hỏi người thợ thơphải nắm bắt được một số kĩ thuật và phương pháp cần thiết cho việc sáng tạo thơ. Ông cho rằng: làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ có lúc mộc mạc hồn nhiên, nhưng lại có lúc phải mang vẻ đẹp kì diệu như hài hoa cô Tấm, như mái tóc thơm hương cấm cung. Nhà thơ phải biết tìm tòi, cân nhắc, lựa chọn để từ ngữ được sử dụng thêm cái đa thanh, đa sắc của đời. Chế Lan Viên không chấp nhận sự cầu kì, gò gẫm, mà cần phải căng cái dây hình ảnh ngữ ngôn qua vực tâm hồn sâu thẳm. Ông đã phê phán kiểu cố làm cho mới lạ, làm xiếc chữ nghĩa trong thơ Nhà thơ cần chọn được cho thơ mình cách nói, giọng điệu hợp lí nhất với tình cảm và nhận thức của người đọc trong những hoàn cảnh khác nhau của đời sống xã hội và ở giọng điệu nào cũng toát lên sự chân tình, tâm huyết vì con người, vì cuộc đời. Nhà thơ phải luôn biết mở rộng tâm hồn lắng nghe, đón nhận nhiều cung bậc của nhạc điệu cuộc sống để tạo nên chất nhạc cho thơ. Thơ cần có sự quyện hòa giữa nhạc và ý, câu thơ ở ngoài là ý là hình / ở trong là nhạc. Chế Lan Viên cho rằng, nhạc có khả năng làm cho tâm hồn lắc lư, làm cho con người giải thoát… Chính những cung bậc nhạc điệu đã góp phần tăng thêm sức ám ảnh của thơ đối với người đọc. Mặt khác, Chế Lan Viên rất chú trọng đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của thơ. Ðạt đến cái Thiện, cái Chân là mục đích mà thơ hướng tới, nhưng tất cả điều đó phải được biểu hiện bằng hình thức Ðẹp. Ông khẳng định: Hình thức cũng là vũ khí. Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí. Sự hài hòa giữa nội dung và hình thức trong thơ sẽ tạo nên vẻ đẹp cho thơ. Tóm lại, trong suốt quá trình sáng tạo, Chế Lan Viên luôn có những trăn trở, suy ngẫm về nghề, về thơ. Ðiều đó đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. 2.2 Thơ Chế Lan Viên trước cách mạng tháng Tám: - Buổi đầu đến với thơ, Chế Lan Viên đã làm người đọc phải phải kinh dị không chỉ vì sự xuất hiện đột ngột của một tâm hồn thơ trẻ tuổi, mà còn bởi trong giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 32 45, đây là giọng buồn ảo não, có pha màu huyền bí.- Tuổi trẻ của Chế Lan Viên gắn liền với Quy Nhơn, Bình Ðịnh, nơi hàng ngày trên con đường đi về, nhà thơ đã cảm nhận được những dấu tích điêu tàn của Chiêm Quốc. Cũng chính nơi đây, tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ đã rung động mạnh mẽ khi nghe kể về những câu chuyện linh thiêng, những truyền thuyết về một đất nước xa xưa, để rồi suy tưởng, hay buồn thương nuối tiếc giống dân Hời. - Ðến với thơ của Chế Lan Viên trước cách mạng, người đọc dễ dàng nhận thấy, thơ ông in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa bao niềm suy tưởng về quá khứ đau thương của một dân tộc. Trước những chứng tích của một nền văn minh bị mai một theo thời gian còn lại như : ngọn tháp, đền đài, tượng Chàm , đã gợi lên cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên biết bao sự liên tưởng mạnh mẽ và để rồi, nhà thơ lặng lẽ quay về xem non nước giống dân Hời.- Khám phá những giá trị của thơ Chế Lan Viên trước cách mạng, một trong những điều khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ đó là cái thế giới đầy kinh dị, là nỗi đau xót được tạo nên bởi tâm hồn thơ tuổi trẻ có trí tưởng tượng phong phú. Ở ông trào dậy bao điều suy nghĩ và bao nỗi xót xa, buồn tủi về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Ông cay đắng khi nhận ra cái thế giới xung quanh mình đầy rẫy những trò gian trá, bịp bợm, thâm hiểm và xảo quyệt, ông ngậm ngùi cho những kiếp Sống mòn, Ðời thừa, Bước đường cùng,…- Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giãi bày sự suy ngẫm của mình về cuộc sống. Ông nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là để bộc lộ nỗi đau của chính mình trước cảnh đời hiện tại. Chính từ những nhận thức đó nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận sâu sắc về sự vô nghĩa, cái u buồn, u tối, cái sầu vô hạn giữa cuộc đời hiện tại và ông đã thốt lên : Với tôi tất cả đều vô nghĩaTất cả không ngoài nghĩa khổ đau ! ( Xuân ) – Có lẽ trong sự sâu thẳm ở cõi lòng Chế Lan Viên, hình ảnh của những tháp gầy mòn vì mong đợi, những đền xưa đổ nát dưới Thời gian, những tượng Chàm lở lói rỉ rên than không chỉ là hình ảnh của một nước Chàm đã mất, mà còn là sự dự cảm về số phận của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầm than. Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận với niềm uất hận, đau thương, nên dẫu có xuân về trong nắng sớm nhưng trong lòng ông vẫn đông lạnh giá băng thôi. – Chế Lan Viên phủ nhận thực tại xã hội đương thời và thất vọng, chán nản trước những sắc màu, hình ảnh của trần gian để hướng đến một tinh cầu giá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa. Ông đã đi tìm mình, tìm Cõi Ta trong sự cô đơn và bơ vơ giữa cái mênh mông xa vắng của cuộc đời để rồi xót xa, buồi tủi nhận ra mình chỉ là một cánh chim thu lạc cuối ngàn, ông thốt lên : Ðường về thu trước xa lắm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi ! Tóm lại, trước thực tại của xã hội đó, nhà thơ Chế Lan Viên đã tìm được cách nói độc đáo để thể hiện một cách thấm thía, sâu sắc những nỗi đau đời của ông. Có thể nói, Chế Lan Viên tìm về quá khứ của một dân tộc khác là một cách nói, mà cũng là một cách tránh nói về hiện thực mất nước của dân tộc mình( Vũ Tuấn Anh).  2.3 Thơ Chế Lan Viên sau cách mạng tháng Tám. 2.3.1 – Thơ Chế Lan Viên trong thời kì kháng chiến chống Pháp - Cách mạng tháng Tám thành công, lịch sử dân tộc đã sang trang. Cùng với những thay đổi lớn lao và mạnh mẽ của đời sống dân tộc, cuộc đời và thơ Chế Lan Viên đã thoát khỏi thung lũng đau thương và sự cô đơn, bế tắc để tìm ra ánh sáng, hòa hợp với người. - Chế Lan Viên hạnh phúc đón chào cách mạng, nhiệt thành tham gia kháng chiến, nhưng con người nghệ sĩ trong ông không ít những nỗi băn khoăn, vướng mắc ở vấn đề nghệ thuật và cách mạng. – Chế Lan Viên sống gắn bó với đời sống kháng chiến, hiểu hơn về Tổ quốc và nhân dân. Trong thời gian kháng chiến, sự sáng tạo thơ của Chế Lan Viên chỉ dừng lại ở tập thơ Gửi các anh gồm 14 bài. Những tháng năm đó, con người nghệ sĩ ở Chế Lan Viên chủ yếu nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thể thiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đời mới. Ộng đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào hùng, sôi động của dân tộc trong kháng chiến. Ông xúc động mãnh liệt trước bao nhiêu tấm gương hi sinh anh dũng của những con người bình thường giản dị để làm nên chiến thắng. - Ở tập thơ Gửi các anh, bỏ đi phần gò ép, chập chững buổi đầu trên con đường thơ cách mạng, chúng ta cũng dễ nhận ra sự xúc động của Chế Lan Viên khi viết về người mẹ trong vùng giặc chiếm với tình cảm chân thành. Ðó là lòng yêu thương mẹ của đứa con nghĩ đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng. Nghĩ về mẹ, nhà thơ đã cảm nhận tình thương của mẹ là gió dịu đưa hương, và mẹ thương con như sữa nồng, như nước mắt. Chế Lan Viên còn ghi lại những niềm vui bình dị của đời sống kháng chiến ở Một bữa cơm thường trong bản nhỏ. Nhà thơ xúc động, viết về sự ngã xuống của các anh bộ đội ở nơi biên giới Việt Lào, bên bờ suối Vạn Mai, hay dưới một gốc cây sung chín đỏ mùa hè. Hình ảnh của những người dân công gánh bom gập người, đường dài đứt hơi mà vẫn luôn yêu đời cũng đã đi vào thơ Chế Lan Viên trong niềm tự hào trân trọng. Ông xót xa đau đớn trước cảnh quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, máu đã hòa nước mắt, ngút trời đồng bốc lửa,và đồi sim lầy máu tươi. Chế Lan Viên những mong mọi người hãy luôn Nhớ lấy để trả thù cho quê hương, Tổ quốc. – Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu. Cuộc sống cách mạng và kháng chiến đã tạo điều kiện thuận lợi, chắp cánh cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật và Bay theo đường dân tộc đang bay. 2.3.2 – Thơ Chế Lan Viên trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội - Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tổ quốc và dân tộc kiêu hãnh tiến bước trên một chặng đường lịch sử mới. Chế Lan Viên hòa mình với cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc. Trong hoàn cảnh cuộc đời mới, hơn lúc nào hết, Chế Lan Viên càng nhận rõ hơn ý nghĩa lớn lao mà ông đã có được ở những tháng năm ông sống gắn bó với cuộc sống kháng chiến của dân tộc. Ông đã khẳng định :Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửaNghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.( Tiếng hát con tàu ) - Nỗi đau về cuộc sống quá khứ đã qua và niềm vui giữa cuộc sống hiện tại ngày một dâng đầy, tâm hồn thơ của Chế Lan Viên giờ đây như ngập tràn niềm vui trước cuộc đời rực rỡ phù sa. Nhà thơ quan niệm lấy cái vui của đời đánh bạt mọi thương đau. Càng gắn bó với cuộc đời, nhà thơ càng thấm thía hơn bao niềm hạnh phúc đang đến với mình. Nhà thơ đã cảm nhận hạnh phúc như đào ngon chín tới, hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên và mỗi bước đời ta ghép một vần thương. Niềm vui càng trở nên rạo rực và càng nhân lên khi Chế Lan Viên nhận thức về cuộc sống ngày càng sâu sắc hơn. Vì thế, những vần thơ của nhà thơ viết về cuộc đời mới rất đỗi đằm thắm ngọt ngào. Nhà thơ cảm nhận :Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏMột cành hoa cũng muốn giục môi hôn.( Tàu đến ) - Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên đã có quan niệm mới mẻ về quê hương. Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn, mà quê hương còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó. Trong bài thơ Tiếng hát con tàu, nhà thơ viết :   Khi ta ở chỉ là nơi đất ởKhi ta đi, đất đã hóa tâm hồn .hay là :Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.   - Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với quá khứ đau thương của dân tộc, Chế Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực rỡ phù sa, ngày một thêm ý nghĩa, và ông thốt lên trong niềm hạnh phúc :Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả Dù mai sau đời muôn vạn lần hơnvà:Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút bây giờ .( Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? ) - Chế Lan Viên đã đi từ chân trời của một người, đến chân trời của mọi người. Cuộc đời mới là nguồn sức mạnh tinh thần giúp nhà thơ Ði thực tế, gặp lại nhân dân và hiểu cuộc sống bao la rung cả những lòng đang riêng lẻ , nhà thơ khát vọng: Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắcNơi bốn mùa đã hóa thành thuNơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủNhững rừng rong tóc xõa lược trăng càiNơi những ây trắng xóa cá bay đi …( Cành phong lan bể ) Cuộc sống mới chứa chan Aùnh sáng và phù sa đã thực sự giúp Chế Lan Viên lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng và nay trở về ta lấy lại vàng ta. Khi đã có hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại Ði ra với sông, đi ra với trời, đi ra với đời để cảm nhận được : Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻNhư đêm xuân người vợ trẻ yêu chồngTôi nối với bạn bè như với bểCả lòng tôi là một giải sông Hồng.( Chim lượn trăm vòng ) - Càng đến với cuộc sống , những vần thơ của Chế Lan Viên càng chan chứa niềm tin yêu cuộc sống và có quan niệm đúng đắn về con người công dân trong cuộc đời mới. Trước đây nhà thơ trăn trở về cái Ta, Cõi ta, thì giờ đây nhà thơ đã nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước cuộc đời mới : Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hìnhCâu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắtTa vì ai ? Khẽ xoay chiều ngọn bấcBàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.( Hai câu hỏi ) Chế Lan Viên có khát vọng làm một cánh chim lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông để được trở lại giữa rừng sâu Việt Bắc, đến trước đồi Ðiện Biên rực lửa, đến cả những vùng xưa chẳng đến, về giữa miền Nam trời của mẹ, ra bể cá nồng hơi gió bể, nối với bạn bè như với bể, được ngắm nhìn ngàn núi trăm sông diễm lệ và mở rộng tâm hồn mình đón nhận bao niềm vui và hạnh phúc giữa cuộc đời. Với khát vọng đó, nhà thơ lòng tự dặn lòng : Ở đâu chưa đi thì lòng sẽ đếnLúc trở về, lòng ngậm những cành thơ.( Qua Hạ Long ) - Cuộc sống mới được nhà thơ cảm nhận với niềm tin yêu chân thành và đó chính là nguồn thi hứng lớn lao, mạnh mẽ, luôn trỗi dậy trong tâm hồn nhà thơ. Những đổi thay kì diệu của cuộc sống đã tạo tâm hồn thơ Chế Lan Viên càng thêm dạt dào cảm xúc. Nhiều bài thơ của Chế Lan Viên trong thời kì này thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của Ðảng và Bác Hồ, tiêu biểu là : Tiếng hát con tàu, Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi, Kết nạp Ðảng trên quê mẹ, Người đi tìm hình của nướcÐược tắm mình giữa đời sống của nhân dân, được ánh sáng của Ðảng soi rọi và phù sa của cuộc đời vun đắp, Chế Lan Viên đã vượt khỏi nỗi đau riêng đến với niềm vui chung của dân tộc bằng tấm lòng chân thành và sự tài hoa nghệ thuật để dâng hiến cho đời nhiều vần thơ hay. 2..3.3 – Thơ Chế Lan Viên trong những năm kháng chiến chống Mĩ - Trong những năm kháng chiến chống Mĩ , Tổ quốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng là cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên, nhà thơ những muốn : Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặcThành một nhành hoa mát mắt cho đời Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những tháng năm kháng chiến chống Mĩ . Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là những ngày đẹp hơn tất cả, ngày vĩ đại. Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam càng ngời sáng hơn. Nhà thơ tự hào, kiêu hãnh viết : Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồngTa mọc dậy trước mắt nghìn nhân loạiHai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng.( Thời sự hè 72, bình luận ) - Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơ Chế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấp dẫn. Tâm hồn thơ Chế Lan Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổ quốc để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống của mình với nhịp sống của dân tộc. Nhà thơ viết về những cuộc tiễn đưa ra trận với kỉ niệm của cái hôn cân vạn ngày lửa đạnvà trầm tích trong bể sâu của nhớ, là chút thương nhớ giắt bên mình cùng súng đạn. - Hình ảnh của cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng đi vào thơ Chế Lan Viên ngày càng thêm đậm đà, sâu sắc. Nhà thơ tự hào viết những tên làng, tên núi, tên đường, tên sông gắn liền với những chiến công hiển hách như: Trường Sơn, đường Chín, ngã ba Ðồng Lộc, Cồn Cỏ, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Nhà thơ cảm nhận cuộc sống hôm nay mỗi tấc núi sông thành thơ và hóa sử và các thế hệ nhìn chỗ ta đứng lúc này như những hải đăng. Tất cả những điều đó chính là chất vàng, chất ngọc của cuộc đời đã góp phần tạo cho Chế Lan Viên có được nhiều tứ thơ hay. - Trước hiện thực đời sống đó, nhà thơ nhận thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Tổ quốc và sự gắn bó rất đỗi đằm thắm, thiết tha với Tổ quốc như máu thịt, như mẹ cha ta như vợ như chồng của con người Việt Nam : Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ, bát ngát câu Kiều,bờ tre mái rạMái đình cong cong như bàn tay em gái vẫy giữa đêm chèoCánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan, cò lả,Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo( Thời sự hè 72, bình luận ) - Hình ảnh của những bà mẹ, người chị, người vợ, những chàng áo vải, những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi , đã đi vào thơ Chế Lan Viên với vẻ đẹp chân chất, bình dị và thật đáng tự hào. Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng này, nhà thơ cảm nhận trọn vẹn hơn về vai trò to lớn của nhân dân:Nhân dân không có một thanh gươm vung một cái đến trời mâyNhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ.( Thơ bổ sung ) - Càng yêu Tổ quốc, càng nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù và những nỗi đau thương dân tộc phải trải qua, những khát khao về cuộc sống yên bình hạnh phúc, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên những nhành hoa mát mắt cho đời. Ðó là những hình ảnh bắt lòng ta nhớ mãi ở các bài thơ : Sông Cầu, Hoa ngày thường, Ði trong chùa Hương, Mây của em, Lau mùa thu, Kỉ niệm có gì Cuộc sống không chỉ đòi hỏi Chế Lan Viên suy ngẫm, triết lí, mà còn giúp cho nhà thơ có được sự cảm xúc sâu lắng trước vẻ đẹp giản dị của đời sống hàng ngày qua những vần thơ viết về các loài hoa, về tình yêu đằm thắm thiết tha và sự ngọt ngào của cuộc sống hạnh phúc gia đình qua các bài : Hoa thảo hoa vàng, Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, Chia, Cảm ơn, Con đi sơ tán, Ðặt tên con,…Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiên thực đời sống chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đà chất trữ tình, hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.   2.3.4 – Thơ Chế Lan Viên từ sau 1975 đến khi qua đời - Những năm cuối đời, khi hoàn cảnh sống gặp không ít những khó khăn, nhưng Chế Lan Viên vẫn không ngừng sáng tạo. Mạch thơ về cuộc sống chống Mĩ vẫn tiếp tục vận động và phát triển với tầm nhận thức cao hơn, tầm nhìn xa rộng hơn. Mặt khác, cũng trong thời gian này, Chế Lan Viên trăn trở và suy ngẫm nhiều về cuộc sống đời thường, về bản thân để khẳng định chiều sâu thẳm trong tâm hồn mình, tự tìm mình. – Ðặc biệt, nhiều bài thơ trong Di cảo, nhất là ở những bài thơ viết vào khoảng thời gian 1987, 1988, người đọc nhận thấy sự giãi bày, tự vấn chân tình của Chế Lan Viên. Tuy chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn cuối đời nhưng đó là sự tiếp tục của một nhà thơ luôn ý thức được vai trò quan trọng của nghệ thuật đối với cuộc sống và đó là quy luật muôn đời mà cuộc đời của Chế Lan Viên cũng không nằm ngoài quy luật đó. – Cũng vì lẽ đó, đã bao nhiêu năm anh hát giọng cao, giờ đây anh hát giọng trầm. Ðây không phải là sự đổi giọng đến bất ngờ như cảm nghĩ của một số người khi đến với Di cảo thơ. Sự tự nhận thức, nghiền ngẫm về bản thân đã giúp cho Chế Lan Viên không rơi vào sự ảo tưởng, ông quan niệm mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình và ông sống với sức mạnh của tấm lòng nhân hậu, sự yêu đời, vì thế, tâm hồn nhà thơ càng trở nên thanh cao hơn. trong cuộc sống hiện tại. Thật xúc động khi ông cảm nhận: Sau anh còn mênh mông nhân loạiÐừng nghĩ mình là người đi cuốiPhải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏiCho người theo sau không cô đơn ( Sau anh ) – Chế Lan Viên nghĩ nhiều về cái chết để đừng tuyệt vọng, để sống những ngày còn lại có ích cho mai sau. Ðó cũng là sự biểu hiện tâm thế và lẽ sống cao quý của nhà thơ khi viết Từ thế chi ca để lại cho người đời.Có thể nói, trên từng chặng đường sáng tác, ngay cả khi nằm trên giường bệnh Chế Lan Viên vẫn luôn sống hết mình cho đời và cho thơ. Ông tìm tòi, sáng tạo với khát vọng để lại cho người đọc những vần thơ mới mẻ, đặc sắc, và ông đã làm được điều đó. 3.Chế Lan Viên với văn xuôi  Phần này sinh viên đọc tài liệu và lưu ý các điểm sau : - Chế Lan Viên viết tùy bút và bút kí ở những thời điểm quan trọng trong đời sống của dân tộc. - Tùy bút, bút kí của Chế Lan Viên thường đào sâu, mở rộng những vấn đề trong đời sống. Các vấn đề được đặt trong mối liên hệ nhiều mặt để từ đó phát hiện được nhiều điều mới mẻ của nó. - Tùy bút của Chế Lan Viên rất giàu chất thơ. - Chế Lan Viên phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén. Cách phê bình thơ của Chế Lan Viên khác với Hoài Thanh, Xuân Diệu. Ông đi sâu vào tính dân tộc, tính thời đại của thơ, cách sáng tạo thơ, vị trí của thơ trong đời sống, ý nghĩa lớn lao của việc tìm tòi đổi mới trong sáng tạo thơ 4 Phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên  4.1 – Giàu chất trí tuệ, có sự thống giữa trí tuệ và cảm xúc - Trong suốt quá trình sáng tạo thơ, Chế Lan Viên luôn có khát vọng phát giác sự việc ở cái bề chưa thấy, khám phá sự vật, hiện tượng ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa để từ đó đem lại nhiều vần thơ mới lạ, đặc sắc, gây cho người đọc sự bất ngờ, thú vị. - Với trí tưởng tượng phong phú, sức liên tưởng kì diệu, cách nhìn sự vật trong sự đối lập và luôn tranh luận, đối thoại, Chế Lan Viên chiếm lĩnh được thực tại cuộc sống để từ đó có cách suy ngẫm, triết lí sâu sắc, cũng như sự khái quát chính xác về những vấn đề trong đời sống. - Thơ Chế Lan Viên có cảm xúc đằm thắm thiết tha. Biết bao vần thơ của ông trở thành nhành hoa mát mắt cho đời. Thơ ông có khi mềm mại như lời ru của mẹ, như câu hò, điệu hát có sức ngân xa, thấm sâu trong tình cảm người đọc; có khi mang nặng nghĩa tình và những nỗi trăn trở, thao thức; có khi chất chứa sự suy tưởng triết lí về một vấn đề nào đấy trong cuộc sống. Có thể nói, cái tôi trữ tình rất chủ động và năng động hòa nhập với mọi đối tượng để cảm xúc, suy luận, tranh luận, đối thoại. Vì lẽ đó, đến với thơ Chế Lan Viên, người đọc nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ sắc sảo và cảm xúc nồng cháy mãnh liệt. Sức sống và sức hấp dẫn của thơ Chế Lan Viên phần nào được bắt nguồn từ đó. - Tuy nhiên, trong thơ Chế Lan Viên có khi cảm xúc và trí tuệ thiếu kết hợp hài hòa, khi đó thơ ông rơi vào sự cầu kì, khó hiểu, xa lạ với tình cảm, nhận thức của người đọc. 4.2 – Thể hiện sự vật, hiện tượng ở các mặt đối lập - Chế Lan Viên luôn nhìn nhận sự vật từ nhiều mối liên hệ qua lại lẫn nhau, trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng, để từ đó nắm bắt và khái quát được bản chất của nó. Ðặc biệt, ông có ý thức tìm kiếm, khám phá và làm nổi bật sự tương quan đối lập, cũng như những mối liên hệ giữa các mặt đối lập của hiện thực. Nguyễn Văn Hạnh khẳng định: Hình thức cơ bản phổ biến trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập. Nguyễn Xuân Nam quan niệm :Nét nổi bật của tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập. Còn Nguyễn Văn Long cho rằng: Tư duy thơ của Chế Lan Viên thường xem xét sự vật trong những mối quan hệ đối lập. - Có thể nói, sự đối lập của sự vật và hiện tượng được Chế Lan Viên cảm nhận từ cái nhìn biện chứng. Chính tình yêu, sự gắn bó với cuộc sống, sự am hiểu sâu rộng nhiều phương diện của đời sống tự nhiên và xã hội, cũng như sự tài hoa thông minh và sắc sảo đã giúp Chế Lan Viên có được cách nhìn, cách nghĩ, cách tìm tòi, khai thác những vấn đề của cuộc sống trong sự đối lập. - Ngay từ thuở viết Ðiêu tàn, nhà thơ đã thể hiện được cảnh thái bình trong Chiêm Quốc với cảnh đền xưa đổ nát, tháp gầy mòn mong đợi, tượng chàm lở lói rỉ rên than , để qua đó gửi gắm nỗi đau về sự hủy diệt, nỗi buồn thương cho số phận của dân tộc trước cảnh đời hiện tại. - Trong cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chế Lan Viên thường nói đến sự đối lập: giữa cái nhỏ bé, nhỏ hẹp, riêng tây với cái rộng lớn mênh mông; giữa bóng đêm tăm tối, đêm tàn với bình minh, chói lòa ánh sáng, chói lòa hào quang hôm nay; giữa lạnh lẽo với ấm áp, giữa cái đói nghèo khổ đau với hạnh phúc; giữa giọt lệ với lời ca, tiếng hát, nụ cười, nhành vui; giữa cay đắng, chua cay, tủi cực với ngọt ngào, đời hồng; giữa cái đá sỏi, cây cằn, ruộng đói mùa với phù sa, hoa trái mỡ màu. Thông qua đó, nhà thơ nhằm ngợi ca, khẳng định những đổi thay lớn lao và ý nghĩa của dân tộc trong cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội . - Những năm chống Mĩ cứu nước, Chế Lan Viên cảm nhận những vấn đề của cuộc sống trong sự đối lập : giữa cảnh hòa bình với chiến tranh; giữa đoàn viên, hội ngộ với chia li, từ tạ; giữa bể căm thù với bể yêu thương, giữa cánh đồng vàng óng ả, cửa sổ sơn hồng với pháp trường và những bãi tha ma; giữa văn minh với dã man; giữa tồn tại với hủy diệt; giữa sống với chết; giữa cái bình thường với phi thường; giữa trong với đục; giữa nhớ với quên. Bằng cách cảm nhận đó, nhà thơ lí giải và thể hiện được những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh, cũng như vạch trần bản chất hung bạo và xảo quyệt của kẻ thù xâm lược. - Vào những năm cuối đời, khi thời gian còn lại của đời mình cạn dần, khi căn bệnh hiểm nghèo đang tàn phá sức lực, và trong cảnh Viên Tĩnh Viên, Chế Lan Viên vẫn luôn trăn trở, thao thức về những gì đang diễn ra trong đời sống. Ông nhìn sự vật trong sự đối lập giữa phía bên này với phía bên kia; giữa quá khứ với hiện tại; giữa hiện tại với mai sau; giữa héo tàn với sinh sôi; giữa cảnh hoa trái nghèo xuân sắc bỏ quên với cuộc sống của quyền lực, danh vọng; giữa mặt trời chói lòa với ngọn đèn con con,… Từ cách nhìn, cách khám phá đó nhà thơ khẳng định lẽ sống cao đẹp giữa cuộc đời và biết sống hết mình cho cuộc sống. - Qua tìm hiểu thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy, nhà thơ thường chú trọng khai thác, suy ngẫm về các quan hệ đối lập giữa : quá khứ – hiện tại, hiện tại tương lai, quá khứ – tương lai, cái riêng cái chung, nhỏ bé vĩ đại, cái bi cái hùng, cái động cái tĩnh, thấp hèn cao cả, yêu thương – căm thù, niềm vui nỗi đau, hạnh phúc bất hạnh, ngọt ngào cay đắng, sống – chết, còn mất, ngày đêm, ánh sáng bóng tối, trần gian địa ngục, thần quỷ, ta địch, dân tộc nhân loại . Từ những mối quan hệ đối lập đó, nhà thơ đã giúp cho người đọc có điều kiện thuận lợi để nhận thức rõ hơn về cuộc sống ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa.Có thể nói, với cách tư duy và thể hiện trên, Chế Lan Viên đã luôn đem lại cho thơ một cách nói, cách thể hiện mới lạ. Những ý tưởng và tình cảm trong thơ Chế Lan Viên nhờ đó trở nên gợi cảm hơn và tạo được dấu ấn lâu bền hơn trong tâm hồn người đọc. 4.3 – Cảm nhận suy nghĩ những vấn đề của cuộc sống bằng thế giới hình ảnh phong phú, đa dạng - Sáng tạo hình ảnh là một trong những biện pháp hàng đầu mà Chế Lan Viên đã sử dụng để đem lại hiệu quả cao cho việc tăng năng suấtcho thơ, nhằm góp phần tạo thêm sức hấp dẫn, bay bỗng cho ý tưởng và tình cảm trong thơ ông. – Thơ Chế Lan Viên có đủ loại hình ảnh, nhưng nổi bật nhất và tác động mãnh liệt nhất đối với người đọc là hình ảnh vừa thực vừa ảo, hình ảnh tượng trưng, hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh liên kết thành một hệ thống – Trước cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã sớm bộc lộ tài năng sáng tạo hình ảnh thơ. Ông đã đưa đến cho người đọc hình ảnh của một thế giới đầy sọ dừa, xương máu cùng yêu ma, về một hệ thống hình ảnh với nhiều màu sắc độc đáo, thấm đẫm nỗi đau đời. - Sau cách mạng tháng Tám, hình ảnh thơ Chế Lan Viên mang vẻ đẹp của sự chân chất bình dị, đậm đà tình yêu quê hương, đất nước. Thông qua hệ thống hình ảnh, Chế Lan Viên đã giúp cho người đọc cảm nhận được hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ nhiều gian khổ hi sinh mà rất đỗi hào hùng của dân tộc, cũng như nhận thức sâu sắc hơn và có niềm tin yêu mãnh liệt hơn về đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. – Sự nhận thức về cuộc đời càng sâu sắc thì hình ảnh thơ Chế Lan Viên càng đặc sắc và có thêm sự mới mẻ. Vẻ đẹp của thế giới hình ảnh thơ đã góp phần giúp cho người đọc cảm nhận trọn vẹn hơn hương sắc của đời. Nhiều phương diện của đời sống được thể hiện qua hình ảnh thơ đã trở nên sinh động hơn. 5 Kết luận chung - Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. - Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và trách nhiệm của người nghệ sĩ đối với cuộc sống. - Ông có những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 95

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 95

Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) I. Trắc nghiệm 1. Khoanh tròn chữ cái đặt trước ý đúng để trả lời câu hỏi. a) Tên khai sinh của nhà thơ Thanh Hải là gì ? A. Phạm Bá Ngoãn. B. Phan Ngọc Hoan. C. Hứa Vĩnh Sước. D. Phan Thanh Viễn. b) Hai nhà thơ Thanh Hải và Viễn Phương có đặc điểm chung nào ? A. Cả hai nhà thơ đều sinh năm 1928. B. Cả hai nhà thơ đều quê ở Thừa Thiên – Huế. C. Cả hai đều là những cây bút có công trong việc xây dựng nền văn học cách mạng Miền Nam từ những ngày đầu. D. Cả ba ý trên. 2. a) Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải được ra đời vào thời điểm nào ? A. Đầu năm 1980. B. Cuối năm 1980. C. Đầu năm 1979. D. Cuối năm 1979. b) Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải được sáng tác trong hoàn cảnh đất nước như thế nào ? A. Cuộc sống của nhân dân và công cuộc xây dựng đất nước đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức. B. Cuộc sống của nhân dân và công cuộc xây dựng đất nước đang bước vào thời kì đổi mới. C. Cuộc sống của nhân dân và công cuộc xây dựng đất nước gặp nhiều thuận lợi, có điều kiện phát triển. D. Cả ba ý trên. c) Trong các bài thơ sau bài thơ nào được sáng tác trong một hoàn cảnh cá nhân đặc biệt ? A. Con cò B. Viếng lăng Bác. C. Mùa xuân nho nhỏ. D. Sang thu. 3. Sắp xếp lại mạch cảm xúc, mạch thơ trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” cho phù hợp với bố cục của bài ? A. Mùa xuân nho nhỏ. B. Mùa xuân đất nước. C. Mùa xuân con người. D. Mùa xuân xứ Huế. 4. Đọc kĩ bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và thực hiện các yêu cầu bên dưới : a) Điền các từ trầm lắng, hơi nghiêm trang mà tha thiết / sôi nổi và thiết tha / vui, say sưa, vào chỗ trống thích hợp để thể hiện sự biến đổi giọng điệu của bài thơ : “Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Giọng điệu có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn ……………………………. ở đoạn đầu ……………………………………………… ở đoạn bộc bạch những tâm niệm ………………………………… ở đoạn kết”. b) Điền các từ : phát triển / Mùa xuân đất trời / Mùa xuân lớn / chặt chẽ / Mùa xuân đất nước / Mùa xuân của mỗi người. “Cấu trúc của bài thơ……………………., dựa trên sự………..………..…., của hình ảnh mùa xuân. Từ ………………….……… sang  ……………..………… và …………………. góp vào ……………………. của cuộc đời chung”. c) Điền các từ : biểu trưng, khái quát / hình ảnh biểu trưng / hình ảnh thực / tự nhiên, giản dị . “Bài thơ có sự kết hợp những hình ảnh ………………. từ thiên nhiên với những hình ảnh giàu ý nghĩa ……………… Điều đáng chú ý là những hình ảnh …..……………….. được phát triển từ những ……………….., tạo nên sự lặp lại mà nâng cao, đổi mới của hệ thống hình ảnh (Cành hoa, con chim, mùa xuân)”. 5. Đọc đoan thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới : “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc ôi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng” a) “Giọt long lanh rơi” được nhà thơ sử dụng biện pháp tu từ nào ? A. So sánh. B. Hoán dụ. C. Nhân hoá. D. ẩn dụ. b) “Giọt long lanh” ở đây được hiểu là gì ? A. Giọt sương ban mai. B. Giọt mưa xuân. C. Tiếng chim chiền chiện. D. Âm thanh đất trời xứ Huế. c) Tác giả cảm nhận về “Giọt long lanh” bằng những giác quan nào ? (Theo trình tự của sự cảm nhận) A. Xúc giác – Thị giác – Thính giác. B. Thính giác – Xúc giác – Thị giác. C. Thính giác – Thị giác – Xúc giác. D. Xúc giác – Thính giác – Thị giác. 6. Đọc kĩ đoạn thơ sau trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” và trả lời câu hỏi bằng cách khoanh tròn chữ cái ở đầu câu trả lời đúng nhất ? “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến” a) Nội dung của đoạn thơ là gì ? A. Miêu tả vẻ đẹp của mùa xuân đất nước, mùa xuân của lòng người và ước nguyện tha thiết chân thành của nhà thơ muốn được dâng hiến toàn bộ tâm hồn trí tuệ, sức lực và cả sự sống của mình góp cùng mọi người để đem lại no ấm, giàu đẹp cho nhân dân, đất nước . B. Thể hiện khát vọng hoà nhập của mỗi con người nói chung, của nhà thơ nói riêng với mùa xuân và cuộc sống. C. Thể hiện tiếng lòng thiết tha yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời. D. Cả ba ý A, B, C. b) Nét nổi bật nhất về nghệ thuật trong đoạn thơ trên là gì ? A. Sử dụng nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. B. Sử dụng thành công nhiều hình ảnh giản dị, gợi cảm, chứa đựng cảm xúc chân thành. C. Sử dụng thành công phép điệp ngữ, nhân hoá. D. Thể thơ năm chữ, giàu ý nghĩa biểu cảm. c) Hình ảnh “Con chim hót”, “Cành hoa”, “nốt trầm xao xuyến” thể hiện điều gì ? A. Thể hiện những gì đẹp nhất của mùa xuân. B. Thể hiện những gì nhỏ bé của cuộc sống. C. Thể hiện mong ước khiêm nhường và thiết tha của nhà thơ. D. Thể hiện những gì đẹp nhất mà mỗi con người đều khát khao hướng tới. d) Có thể thay từ “xao xuyến” bằng từ nào sau đây mà vẫn không làm giảm đi giá trị nghệ thuật của câu thơ ? A. Êm ái. B. Sâu lắng. C. Da diết. D. Cả ba từ đều không thể thay thế được. 7. Đọc đoạn thơ : “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc” a) Hình ảnh “tuổi hai mươi”, “tóc bạc” trong đoạn thơ được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào ? A. ẩn dụ. B. Hoán dụ. C. So sánh. D. Nhân hoá. b) Từ câu thơ “Một mùa xuân nho nhỏ”, em hiểu thế nào về nhan đề bài thơ ? A. Mùa xuân nho nhỏ là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng tin yêu cuộc sống, đất nước, cho ước nguyện dâng hiến khiêm nhường, giản dị, chân thành về trí tuệ, tâm hồn của nhà thơ Thanh Hải với cuộc đời nói chung. B. “Mùa xuân nho nhỏ” là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cho thiên nhiên mùa xuân xứ Huế nên thơ, đầy sức sống, cho đất nước với lịch sử bốn ngàn năm rạng ngời và toả sáng, cho khát vọng được hoà nhập, dâng hiến của nhà thơ Thanh Hải đối với cuộc đời nói chung. C. Cả hai ý A và B. 8. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải có nét giống hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm nào sau đây ? A. Viếng lăng Bác (Viễn Phương). B. Có bệnh bảo mọi người (Mãn Giác thiền sư) C. Bến quê (Nguyễn Minh Châu). D. Con cò (Chế Lan Viên).   II. tự Luận 1. Hãy viết lời bình (khoảng 1 trang giấy) cho đoạn thơ sau : “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng” 2. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với thiên nhiên, với đất nước, với cuộc đời, thể hiện ước nguyện chân thành, được cống hiến cho đất nước, góp một “Mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc, cho cuộc đời … Ước nguyện của nhà thơ tuy giản dị mà vô cùng thiêng liêng cao cả, đẹp như mùa xuân vậy. Từ việc cảm nhận bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, hãy làm sáng tỏ nhận định trên. Đáp án  :          Mùa xuân nho nhỏ I . Trắc nghiệm   Câu 1 2 3 Đáp án a – A b – C a – B b – A c – C D – B – C – A               Câu 4: a) Thứ tự điền là : Vui, say sưa / trầm lặng hơi nghiêm trang / sôi nổi và tha thiết. b) Chặt chẽ / phát triển / mùa xuân đất trời / mùa xuân đất nước / mùa xuân của mỗi người / mùa xuân lớn. c) Tự nhiên, giản dị / biểu trưng khái quát / hình ảnh biểu trưng / hình ảnh thực. Câu 5 6 7 8 Đáp án a – D b – C c – C a – B b – B c – C d – D a – B b – A B                       II. Tự luận Đảm bảo các ý cơ bản sau: 1. Giới thiệu chung về bài thơ mạch cảm xúc và tư tưởng của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước đến mùa xuân của mồi người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hình “Mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. 2. Những nội dung chính của khổ thơ đầu : Cảm xúc của nhà thơ trước Mùa xuân thiên nhiên, đất trời (xứ Huế). + Vài nét phác họa: Dòng sông xanh; bông hoa trước biển, tiếng chim chiền chiện. Bức tranh mùa xuân với không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm (rất riêng của xứ Huế), với âm thanh vang vọng vui tươi. Bức tranh xuân đẹp và tràn đầy sức sống. Chú ý bình nghệ thuật đổi trật tự cú pháp. ở 2 câu thơ đầu. + Cảm xúc của nhà thơ: Say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời lúc vào xuân : Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ chỗ cảm nhận âm thanh tiếng chim chiền chiện bằng thính giác chuyển thành từng giọt, cảm nhận bằng thị giác và cuối cùng cảm nhận bằng xúc giác “Tôi đưa tay tôi hứng”. + Bài viết có sự mở rộng liên hệ phù hợp với nội dung của khổ thơ. Câu 2: 1. Giới thiệu được vài nét về nhà thơ, đặc biệt hoàn cảnh sáng tác bài thơ Mùa xuân nho nhỏ: Sáng tác cuối 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh (trước khi qua đời 1 tháng) để thấy được cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, hiểu được lòng yêu mê thiết tha và gắn bó của Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời và ước nguyện chân thành, tuy giản dị mà vô cùng thiêng liêng cao cả… 2. Mùa xuân nho nhỏ là tiếng lòng yêu mến thiết tha gắn bó với thiên nhiên. (Phân tích khổ thơ đầu : Bức tranh mùa xuân đẹp đẽ, tràn đầy sức sống và cảm xúc ngây ngất, say sưa của tác giả). - Mùa xuân nho nhỏ là tiếng lòng lòng yêu mến thiết tha gắn bó với đất nước với cuộc đời. (Niềm tự hào của nhà thơ trước sức sống của Mùa xuân đất nước được cảm nhận trong nhịp điệu hối hả, âm thanh xôn xao. Và đất nước được hình dung bằng một hình ảnh so sánh đẹp: Đất nước như vì sao. Cứ đi lên phía trước). 3. Thể hiện ước nguyện chân thành, được cống hiến… - Điều tâm niệm của nhà thơ đó là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp- dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp : Đẹp và tự nhiên vì nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình (lưu ý ở phần đầu bài thơ, tác giả đã phác họa hình ảnh mùa bằng các chi tiết bông hoa, tiếng chim hót). Những hình ảnh chọn lọc ấy được trở lại đã mang một ý nghĩa mới : Niềm mong ước được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim  mang đến tiếng hót, bông hoa tỏa hương sắc cho đời. Đặc biệt sự sáng tạo đặc sắc là hình ảnh của mùa xuân nho nhỏ. Hình ảnh ấy cùng với những hình ảnh cảnh hoa, con chim, nốt nhạc trầm xao xuyến…Tất cả đều mang vẻ đẹp bình dị khiêm nhường, thể hiện điều tâm niệm chân thành, tha thiết của nhà thơ.
Xem thêm

Đọc thêm

tổng hợp các bài văn phát biểu cảm tưởng phần i

tổng hợp các bài văn phát biểu cảm tưởng phần i

Hướng dẫn soạn bài : Cha Tôi (Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục). Soạn bài: Tính thống nhất chủ đề của văn bản. Thư gửi ba ở Trường Sa. Viết một văn (từ 8 đến 10 câu) về cảnh đẹp của quê hương em, trong đó có sử dụng dấu ngoặc kép. Phân tích hình ảnh chiếc thuyền trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” Của Nguyễn Minh Châu. Phân tích tâm trạng chú hổ trong bài Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích nhân vật con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Cảm nhận đoạn thơ sau: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suốiTa đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” Giới thiệu Tác phẩm Nhớ rừng và nhà thơ Thế Lữ Nhận xét ” Thế Lữ như một vị tướng điều khiển đội quân Việt ngữ…” Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ đắt nhất trong “Nhớ rừng” Phân tích “ào đâu những đêm vàng bên bờ suối Than ôi Thời oanh liệt nay còn đâu” Tâm trạng chú hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Phân tích cái hay của hình ảnh thơ: Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay Giá trị biểu cảm của 2 câu thơ: “Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu” Phân tích bài thơ Ông đồ của tác giả Vũ Đình Liên Đọc hiểu bài ” Nhàn ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Nỗi lòng sâu thẳm của Nguyễn Trãi qua bài thơ Cảnh ngày hè Cảm nhận về “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Cảm nhận về bài Bánh trôi nước Cảm tưởng của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Biểu cảm: Tôi thấy mình đã khôn lớn Bình giảng đoạn thơ trong đoạn trích Đất Nước Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của nhà thơ Lí Bạch Bình giảng đoạn đầu bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm Cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện đã học mà anh (chị) không thể nào quên Bình luận câu tục ngữ ‘Có chí thì nên’ Soạn bài Vào phủ chúa trịnh Lê Hữu Trác Cảm nghĩ của em về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” Cảm nghĩ về bố Cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ “Việt Bắc” Bình giảng tác phẩm ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu Thơ thiên nhiên trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Cảm nghĩ về cái kết truyện Cô bé bán diêm Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu Truyện người con gái Nam Xương và tấm lòng nhân hậu của nhà văn Nguyễn Dữ Cảm nhận đoạn trích Hai cây phong của Aimatop Viết cảm nhận của mình về nắng Sài Gòn Soạn bài Thu điếu Nguyễn Khuyến Sóng – Xuân Quỳnh Cảm nhận của em về khổ đầu trong bài thơ Nói Với con của Y Phương Hãy tưởng tượng rằng mình được gặp người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Kể về cuộc gặp gỡ với các chú bộ đội nhân ngày 2212 Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh Lê Thanh Hải – Một nốt trầm xao xuyến Cảm nghĩ về bản sắc văn hóa Việt Nam
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi vào lớp 6 môn ngữ văn

Đề thi vào lớp 6 môn ngữ văn

Đề 5 Bài 1: Xác định chủ ngữ, vị ngữ và trạng ngữ trong các câu sau: a) Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt. b) Không bao lâu, tôi đã thuộc tất cả các chữ cái. c) Vì miền Nam ruột thịt, thanh niên Miền Bắc hăng hái lên đường ra trận. Bài 2: Em hãy tìm các từ láy có trong ngoặc đơn và phân loại các từ láy đó theo các kiểu: láy âm đầu, láy vần, láy cả âm đầu và vần (trăng trắng, bãi bờ, cứng cáp, hoàng hôn, nhũn nhặn, hớn hở, xinh xinh, lao xao). Bài 3: Em hiểu như thế nào về hai câu thành ngữ sau: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô Trai mà chi, gái mà chi Sinh con có nghĩa có nghì là hơn. Bài 4: Còn núi non Cao Bằng Đo làm sao cho hết Như lòng yêu đất nước Sâu sắc người Cao Bằng. Đã dâng hết tận cùng Hết tầm cao Tổ quốc Lại lặng thầm trong suốt Như suối khuất rì rào. Bạn ơi có thấy đâu Cao Bằng xa xa ấy Vì ta mà giữ lấy Một dãi dài biên cương. Trúc Thông Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên. Bài 5: Bác Hồ tuy đã đi xa nhưng hình ảnh của Bác mãi mãi vẫn gần gũi với thiếu nhi và mỗi người dân Việt Nam. Em hãy kể lại một câu chuyện về Bác Hồ mà em có ấn tượng sâu sắc nhất. Qua câu chuyện em rút ra được bài học gì cho trong cuộc sống, trong học tập và rèn luyện.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích Đoàn thuyền đánh cá ( Số 1)

PHÂN TÍCH ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ ( SỐ 1)

   Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá ” của Huy Cận  sáng tác năm 1958  nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh . Có thể noí bằng nghệ thuật đặc sắc nhà thơ đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên  và không khí lao động sôi động , hào hứng ở một vùng biển giàu đẹp  của Miền bắc nước ta  trong những năm đầu  xây dựng CNXH. Bài thơ là tiếng hát ca ngợi lao động đánh bắt cá trên biển , ca ngợi sự giàu đẹp  của biển cả quê nhà .  Thật vậy  bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá ”  là bức tranh khung cảnh lao động đánh bắt cá trên biển  của người lao động mới  say sưa hào hứng  làm chủ vùng trời , vùng biển của tổ quốc . Mở đầu bài thơ  là cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi . Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa     Hoàng hôn xuống trên biển cả được tác giả phác họa  như một bức tranh kì vĩ . Biển chợt đỏ rực , sáng hồng “ như hòn lửa ” . Anh sáng lóe lên rồi chợt tắt . Cả vũ trị buông màn “ Sóng cài then ,đêm sập cửa ”lặn dần , yên ả đi vào giấc ngủ . Bằng nghệ thuật so sánh  và 2 hình ảnh nhân  hóa sóng là then cài , màn đêm là cánh cửa , nhà thơ như muốn nói với chúng ta một ngày đã khép lại , một đêm mới bắt đầu .     Đối lập với trạng thái “ tỉnh ” trạng thái nghỉ ngơi của vũ trụ là hoạt động của con người đang bắt đầu ra khơi đánh bắt cá “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi ”. Sự đối lập nhau về hành động giữa con người với trời đất  khiến ta thấy được  khí thế và nhiệt tình  lao động của con người  mới . Làm việc lúc về đêm lại là môt công việc  khó khăn gian khổ  thế mà người lao động vẫn cất cao tiếng hát . Tiếng hát lạc quan  ngân vang tràn ngập cả không gian . Câu hát căng buồm cùng gió khơi   Giớ căng buồm hay câu hát căng buồm ? Có phải chăng tiếng hát của những người đánh bắt cá  cũng cùng với gió căng buồm đưa đoàn thuyền đánh cá ra khơi xa . “Câu hát căng buồm ” không chỉ là sự mở đầu của một đêm lao động  vui tươi  hào hứng  khẩn trương  mà còn là sản phẩm  của trí tưởng tượng . Nó làm cho câu thơ thêm đẹp , ý thơ phong phú để ngợi ca niềm vui , nhiệt tình lao động của con người . Đây chính là bút pháp lãng mạn  của nhà thơ . Có thể nói  hình ảnh , màu sắc  hiện lên trong đoạn thơ  này thật đẹp , thật rực rỡ . Nếu nói  bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá ” của Huy Cận rực rỡ như một bức tranh sơn mài thì khổ thư mở đầu này cũng mang màu sắc ấy .     Đọc bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá ” ta thấy tiếng hát xuyên suốt bài thơ . Tiếng hát cất lên trong niềm vui lao động  khi đoàn thuyền ra khơi , tiếng hát trong khi lao động , tiếng hát khi đoàn thuyền trở về và tiếng hát ca ngợi về biển giàu đẹp . Hát rằng cá bạc biển đông lặng Cá thu biển đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi  Biển quê ta giàu lắm cá nhiều vô kể .Cá thu như đoàn thoi  đêm ngày dệt biển , cá nhụ cá chim cùng cá đé , cá song lấp lánh đuốc đen hồng . Biển không chỉ giàu đẹp  mà còn ân tình như tấm lòng của mẹ . Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào  Đặc biệt là những con người đang đánh bắt cá ngoài biển khơi được nhà thơ miêu tả bằng yếu tố tả thực  kết hợp với bút pháp lãng mạn để tạo nên những hình ảnh  kì ảo thật bất ngờ . Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Hình ảnh lãng mạn ở chỗ tưởng tượng ra rằng : Gió trời là người lái , trăng trời là cánh buồm . Thuyền và người hòa nhịp vào thiên nhiên , lâng lâng trong cái thơ mộng của gió ,trăng , trời , biển . Hình ảnh con người hiện lên là hình ảnh con người lớn ngang tầm vũ trụ và chan hòa với khung cảnh trời nước bao la thật đẹp . Trên cái  không gian bát ngát  với mây cao biển bằng , con thuyền có buồm là trăng , gió lái . Thuyền lướt đi phơi phới tạo cho chúng ta một ấn tượng đẹp , một cảm xúc dâng trào , gợi cho ta niềm tự hào về vẻ đẹp của con người lao động . Công việc đánh cá do đó  bỗng nhiên trở nên rất thơ mộng . Chúng ta như được cùng tác giả hòa nhập vào cái tâm trạng sảng khoái , lâng lâng của những con người làm chủ vùng biển  của đất nước  như nhà thơ Tố Hữu đã viết : Bây chừ sông nước về ta Đi khơi đi lội , thuyền ra thuyền vào Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sướng lòng nào chẳng xuân Nhưng công việc đánh bắt cá trên biển là một công việc hết sức khó khăn gian khổ . Người đánh bắt cá trên biển thực sự là những chiến sĩ đang chiến đấu bằng sức lực, trí tuệ của mình để giành từ bàn tay thiên nhiên  những của cải quí giá . Ra đậu dăm xa dò bụng biển                                                                        Dàn đan thế trận lưới vây giăng     Mặc dù gian khổ ,khó khăn  nhưng người ngư dân vẫn cất cao tiếng hát , tiếng hát lạc quan , yêu đời , tiếng hát vang lên  trong lao động  khẩn trương  và say mê . Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao    Bài hát làm cho lao động bớt mệt nhọc “ Tiếng hát át tiếng sóng ”. Bài hát gọi cá vào lưới , nâng cao thêm cái chất thơ mộng vốn có sẵn của lao động . Bài hát lại thêm nhịp nhàng  với trăng cao gõ thuyền để gọi cá vào lưới . Có thể nói hiện thực đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm cho đẹp thêm công việc đánh cá trển biển cả . Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông  Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng   Một đêm trôi nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng hăng say . Trên bầu trời sao đã thưa và mờ . Cảnh kéo lưới được  miêu tả đầy ấn tượng . Những cánh tay rắn chắc kéo lưới “Xoăn tay ”. “Kéo xoăn tay” là một hình ảnh đặc tả động tác kéo lưới rất căng , khỏe và đẹp . Không biết bao nhiêu là cá mắc vào lưới  như những chùm trái cây treo lủng lẳng . “Chùm cá nặng ” là một hình ảnh ẩn dụ  gợi tả được mùa cá . Khoang thuyền đầy ắp cá . Màu bạc của vẫy cá , màu vàng của đuôi cá “lóe rạng đông ”. Một lần nữa  cho thấy nghệ thuật sự dụng màu sắc  của nhà thơ rất điêu luyện . Sắc  cá dưới ánh trăng và sắc cá dưới ánh rạng đông đều được miêu tả thật đẹp .    Bài  thơ kết thúc vào lúc rạng đông  khi đoàn thuyền quay về . Lúc này người ngư dân lại cất cao tiếng hát . Đây là tiếng hát thắng lợi hân hoan . Con thuyền và mặt trời được nhân hóa . Thơ được cấu trúc song hành diễn tả nhịp sống  khẩn trương Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới  Cảnh rạng đông với hình ảnh “ Mặt trời đội biển ” nhô lên tỏa  ánh sáng  chan hòa , một “ màu mới ”bao trùm biển khơi . Đoàn thuyền phóng như bay về bến như cướp  lấy thời gian , giành lấy thời gian . Biện pháp thậm xưng  kết hợp với nghệ thuật hoán dụ  trong viêc tả “ Mắt cá huy hoàng muôn dăm phơi ”đã vẽ nên cảnh được mùa cá và cuộc sống hạnh phúc ấm no  của nhân dân vùng biển . Bằng lao độngvà mồ hôi , họ đã viết nên bài ca cuộc đời .      “ Đoàn thuyền đánh cá ”  là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận  sau cách mạng tháng Tám . Nếu như trước đây , thơ Huy Cận  thấm một  nỗi buồn “Vạn cổ sầu ” vào vũ trụ  và lòng người  thì những bài thơ  của ông  từ năm 1945 đến nay , đặc biệt là bài  “ Đoàn thuyền đánh cá ”   mang âm điệu ngọt ngào , niềm vui say mê  và phấn chấn  của nhân dân lao động  đang làm chủ cuộc đời .   Qua thơ Huy Cận , chúng ta như được sống những đêm trăng đẹp trên Hạ Long . Ta tự hào đất nước ta có trên ba nghìn cây số bờ biển , biển ta giàu có , bao la tiềm năng , dồi dào hải sản .     Tóm lại , Qua bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá ”   Huy Cận cho ta  thấy được sự giàu đẹp  của biển cả quê hương  và vẻ đẹp của con người lao động mới . Chất lãng mạn , trữ tình của bài thơ đã truyền cho ta cảm xúc dạt dào , ta cảm nhận được cái đẹp trong cuộc sống mới  giúp ta có niềm tin  thêm yêu đời , yêu cuộc sống . Với sự sáng tạo độc đáo trong bút pháp lãng mạn , bài  thơ giữ được vị trí xứng đáng  trong nền thơ ca hiện đại của chúng ta.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nguyễn Đình Thi có viết: Một bài thơ hay … chúng ta đọc...". Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Từ đó trình bày cảm nhận của em về một bài thơ mà em tâm đắc nhất trong chương trình ngữ văn lớp 8,9

NGUYỄN ĐÌNH THI CÓ VIẾT: MỘT BÀI THƠ HAY … CHÚNG TA ĐỌC...". EM CÓ SUY NGHĨ GÌ VỀ Ý KIẾN TRÊN? TỪ ĐÓ TRÌNH BÀY CẢM NHẬN CỦA EM VỀ MỘT BÀI THƠ MÀ EM TÂM ĐẮC NHẤT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8,9

Tiếp nhận văn học, văn nghệ không đơn giản như ta đón nhận một vật trao tay, đó thực sự là một quá trình khổ công nhưng đầy thú vị. Sau mỗi lần đọc lại, chiêm nghiệm lại về một bài thơ hay ta lại tìm ra được một hạt ngọc của tình cảm, của nghệ thuật.       “Tiếng nói của văn nghệ”, tiếng nói của thơ ca chưa bao giờ là những lời dễ dãi, nhạt nhòa. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng viết: "Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc...". Ý kiến ấy gợi cho ta bài học sâu sắc về việc tiếp nhận văn nghệ nói chung và thơ ca nói riêng.       Thơ ca là tiếng nói của tình cảm, tâm trạng, cảm xúc con người. Học giả Lê Quý Đôn từng viết: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” là bởi thế. Thơ bao giờ cũng ngắn gọn, hàm súc nên ngôn ngữ thơ cô đọng, lời ít ý nhiều. Không chỉ vậy, nhà thơ thường dùng nhiều biện pháp nghệ thuật: so sánh, ẩn dụ, đối lập, ... để thể hiện tình ý sâu xa của mình. Không gian, thời gian trong thơ là không gian, thời gian của cảm xúc, tâm tưởng nên trong thơ có nhiều khoảng trống, khoảng trắng đòi hỏi sự liên tưởng phong phú và đồng cảm của người viết. Bởi vậy nên, dọc một bài thơ thì dễ mà hiểu được thơ, cảm được thơ thật khó.       “Một bài thơ hay” chẳng những mang đến cho người đọc những tình cảm thẩm mĩ đẹp đẽ mà còn có hình thức thể hiện độc đáo sáng tạo. Để cảm nhận đầy đủ những lớp nghĩa của thơ ca, cảm nhận vẻ đẹp của hình thức thơ, bạn đọc phải dụng công rất nhiều. Do vậy, đọc một bài thơ hay “không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giây đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ”. Mặt khác, thơ ca là tiếng nói của tâm hồn bởi vậy, người đọc phải có được sự đồng cảm, đồng điệu vể tiếng lòng với nhân vật trữ tình, với tác giả. Do đó, người đọc thơ không chỉ đọc trong tư thế khám phá những hình thức thẩm mĩ của bài thơ mà phải đọc với tất cả tâm hồn: “Tất cả tâm hồn chúng ta đọc...".         Trong chương trình văn học Việt Nam lớp 8 và 9, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh xứng đáng là một “bài thơ hay” đáng để ta “dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc...".         Nhà thơ Tế Hanh được bạn đọc biết đến bắt đầu từ phong trào Thơ mới 1932 - 1945. Ngay từ những ngày đầu sáng tác, thơ của ông đã gắn bó tha thiết với làng quê. Trong những năm sau đó, dù mở rộng về đề tài nhưng nhà thơ vẫn được biết đến nhiều nhất qua những vần thơ viết về quê hương. Và “Quê hương” là một bài thơ như thế.        Mở đầu bài thơ của mình, nhà thơ có hai câu thơ “giới thiệu” khá lạ: “Làng tôi vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông”.        Đó là lời thơ giới thiệu về nghề nghiệp và vị trí của làng: “làm nghề chài lướị”, bốn bề là nước “cách biển nửa ngày sông”. Hai câu thơ giới thiệu về làng rất ngắn gọn chứa đựng những lời tâm tình chân thành “làng tôi vốn...”. Nhưng đăng sau chữ “vốn” ta nghe có cả một bề dày truyền thống lâu đời gắn bó với biển cả. Để đến câu thơ sau - một câu thơ tám chữ mà có đến năm chữ nhắc đến ý nghĩa “nước”: “nước”, “bao vây”, “biển”, “sông” - thì người đọc có cảm giác đây là lời xướng giọng cao cho một bản trường ca về cuộc sống làng chài.        Sau lời “trần tình” về làng, nhà thơ phác nên bức tranh cảnh dân chài ra khơi đánh cá: “Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”.        Trên cái nền thuận hòa của trời biển thiên nhiên “Trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng” là vẻ đẹp tuyệt vời của con người, con thuyền và những cánh buồm.        Nhắc đến người dân chài, nhà thơ nhắc đến “dân trai tráng”, đó là những chàng trai khỏe mạnh, rắn rỏi. Có vậy, họ mới vững vàng đầu sóng ngọn gió để chỉ huy những con thuyền và những cánh buồm mạnh mẽ thế này:     “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã          Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.          Hình ảnh con thuyền được so sánh với con tuấn mã cùng hành động hăng hái “phăng” (mái chèo), “mạnh mẽ” “vượt” (trường giang) đã diễn tả khí thế băng lối dũng mãnh của con thuyền ra khơi. Câu thơ tả thuyền nhưng còn làm toát lên một sức sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng tráng ở những người dân chài nơi biển cả.       Theo lối băng đi của những thân thuyền, cánh buồm căng gió biển quen thuộc trở nên thơ mộng và hùng tráng. Trong câu thơ “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”, nhà thơ đã có cách so sánh rất kì lạ. Khi so sánh, ta thường so sánh vật vô hình với vật hữu hình để cụ thể hóa đối tượng. Nhưng ở đây, Tế Hanh so sánh vật hữu hình “cánh buồm” với một vật vô hình “mảnh hồn làng”. Điều đó tạo một ấn tượng đặc biệt. Hồn làng - hồn của quê hương - đã hóa thân vào những cánh buồm để lướt về nơi biển cả. Chẳng những thế, ở câu thơ sau, cánh buồm còn được nhân hoá: "Rướn" như một sinh thể biết cử động đang rướn cao thân trắng, thâu góp gió biển của quê hương. Hình ảnh ấy sống động và gợi cảm biết bao.       Đoạn thơ vừa là cảnh thiên nhiên, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống.        Sau ngày ra khơi đầy hào khí, đoạn thuyền đánh cá trở về trong niềm hân hoan chào đón của dân làng: “Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe               Những con cá tươi ngon thân bạc trắng”.          Tác giả không đi vào chi tiết tả cụ thể một đối tượng nào mà tả chung, gợi không khí cả làng. Đó là sự ồn ào, náo nức, là không khí tấp nập, vui vẻ, rộn ràng, thoả mãn. Câu thơ "nhờ ơn trời...” như một tiếng reo cảm tạ đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn với cá đầy ghe. Khổ thơ là bức tranh lao động náo nhiệt đầy ắp niềm vui và sự sống.        Bên cạnh không khí ồn ào, tấp nập của dân làng, khổ thơ sau như là một góc lắng của không gian để những người dân đi biển và những con thuyền có thể nghỉ ngơi:        “Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm     Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm          Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ".         Hình ảnh trai tráng và con thuyền sau chuyến đi biển.         “Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng" là một câu tả thực. Màu “rám nắng" là minh chứng cho nhiều chuyến đi biển đầy thử thách, cho sự lành mạnh, đẹp đẽ về thể chất của “dân trai tráng” vùng chài. Đặc biệt, trong câu thơ sau, nhà thơ đã sử dụng phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tạo ra những ấn tượng rất lạ: “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Ở những người dân chài với làn da nhuộm nắng, gió, thân hình vạm vỡ toát lên một vẻ đẹp mặn mòi của biển cả. Trong động từ “nồng thở” có một chuyển động rất mạnh mẽ, khỏe khoắn. Và “vị xa xăm” ấy là hương vị của muối biển, gió biển, hồn biển... dạt dào, khoáng đạt. Hình ảnh thơ vừa chân thực vừa lãng mạn nâng những người “dân chài lưới” lên tầm vóc của những anh hùng.          Bên cạnh hình ảnh rất đẹp, rất khỏe của người đi biển là hình ảnh tinh tế cùa những con thuyền: “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm          Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.        Con thuyền nằm lặng im nghỉ ngơi trên bến sau bao vật lộn nhọc nhằn với sóng gió. Nhà thơ dùng phép nhân hóa “mỏi” để diễn tà trạng thái im lìm, lặng lẽ của những con thuyền nằm trên bến. Không chi vậy, tiếp tục dùng phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác nhà thơ đã thổi hồn vào đoàn thuyền: “Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Trạng thái nằm lặng im cùa thuyền tĩnh lặng đến mức có thể “nghe” được những chuyển động tinh vi nhất cùa từng thớ gổ “chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Con thuyền đã được thổi hồn đê trở thành một thành viên của làng biển. Câu thơ gợi cảm và mang đầy cảm hứng lãng mạn.       Đến đây, nhà thơ không sao nén nổi tiếng nhớ quê hương. Tế Hanh đã trực tiếp nói nỗi nhớ làng quê khôn nguôi của mình: "Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ     Màu nước xanh, cá bạc chiếc buồm vôi      Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi   Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”.        Nước xanh, cá bạc, buồm, thuyền, mùi nồng mặn. Đó là màu sắc, là hình ảnh, là hương vị của quê hương đó...! Đặc biệt, câu thơ cuối của bài: "Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá" giản dị, tự nhiên và rất chân thành, “mùi nồng mặn” là mùi vị đặc trưng của quê hương là hương vị lao động. Chính vì vậy, bài thơ đã làm hiện lên hình ảnh quê hương trong sáng, khoẻ khoắn biết nhường nào.        Viết “Quê hương”, ngòi bút miêu tả của Tế Hanh vô cùng bay bổng dạt dào cảm hứng lãng mạn. Bài thơ có những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, những thủ pháp nghệ thuật  đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tinh tế, gợi cảm.        Tiếp nhận văn học, văn nghệ không đơn giản như ta đón nhận một vật trao tay, đó thực sự là một quá trình khổ công nhưng đầy thú vị. Sau mỗi lần đọc lại, chiêm nghiệm lại về một bài thơ hay ta lại tìm ra được một hạt ngọc của tình cảm, của nghệ thuật. Vậy nên, có khi nào phải “không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc..." đối với một tác phẩm thơ ca thì ta sẽ lấy đó là niềm hạnh phúc. Và cũng thật vinh dự cho nhà thơ Tế Hanh khi hiến dâng cho đời một bài thơ như thế: “Quê hương”. Trích: loigiaihay.com    
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề