DOWNLOAD ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ PDF

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "DOWNLOAD ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ PDF":

ĐỊA DANH THĂNG LONG – HÀ NỘI, TRONG ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ GIAI ĐOẠN LÝ – TRẦN

ĐỊA DANH THĂNG LONG – HÀ NỘI TRONG ĐẠI VIỆT SỬ LÝ TOÀN THƯ GIAI ĐOẠN LÝ – TRẦN

Đại Việt sử ký toàn thư”. Biết rằng trong trong quá trình làm đề tài về Thăng Long – Hà Nội, có rất nhiều sự trùng lặp trong cách suy nghĩa cùng như cách thể hiện những suy nghĩ của mình. Do đó tôi cũng như những người khác cũng như những người khác cũng khó có thể tránh khỏi được việc đó nhất là đối với tôi khi còn đang là sinh viên. Hơn ai hết khi đây là lần đầu tiên đến với mảng đề tài về những địa danh, danh lam, thắng cảnh của Thăng Long – Hà Nội cho nên tôi rất muốn có được cái nhìn tổng thể của Thủ đô nước ta xưa và nay. Chúng ta đều cảm thấy vinh dự rằng trong rất nhiều thành phố của nước ta cũng nhu các nước khác trong khu vực và trên thế giới thì Hà Nội được tổ chức UNESCO bầu chọn là Thành phố vì Hoà Bình. Điều này càng thôi thúc tôi đến với Thăng Long – Hà Nội trong phần những địa danh. Một lần nữa tôi xin được nhắc lại do trong khuôn khổ của một bài tiểu luận cũng như trình độ của người viết, tôi xin được thu ngọn đề tài: “Địa danh Thăng Long – Hà Nội, trong Đại Việt sử lý toàn thư giai đoạn Lý – Trần”.Tôi hy vọng rằng Bài viết này sẽ ít nhiều giúp cho tôi rút ra được những kinh nghiệm của bản thân trong việc tìm tòi những vấn đề mới lạ và giúp tôi hiểu biết hơn về Thăng Long – Hà Nội. Trong bài viết này phần lớn tôi dử dụng phương pháp thống kê mô tả.2I. Vài nét sơ lược về Bộ “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”“Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” là một bộ sử lớn, có giá trị và được biên soạn qua nhiều đời, gắn liền với tên tuổi của những nhà sử học nổi tiếng ngày xưa như Lê Văn Hữu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Huy… năm 1967 Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho xuất Bản bộ sách gồm 4 tập và sau này được tái bản nhiều lần có sửa chữa.Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử có giá trị về nhiều mặt, là một di sản quý báu của nền văn hóa dân tộc. Đối với từng thời kỳ lừng danh, nó là cả một bản anh hùng ca, cái gì có liên quan đến nó, dẫu là một câu, một dòng chữ tự tay nhân vật viết ra đã sống hoặc đã chứng kiến những giờ phút huy hoàng mà ta được đọc hay được nghe đều là tiếng nói thân thiết từ ngàn xưa vọng lại làm
Xem thêm

27 Đọc thêm

Tài liệu Đại Việt sử ký toàn thư

TÀI LIỆU ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

"ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ" : bộ quốc sử gồm 15 quyển do Ngô Sĩ Liên biên soạn, viết bằng chữ Hán, xong năm 1479, sau được viết tiếp và bổ sung nhiều lần, tổng cộng thành 24 quyển, hoàn thành và khắc in xong lần đầu năm 1697. Ngô Sĩ Liên viết "ĐVSKTT" trên cơ sở bộ "Đại Việt sử ký" của Lê Văn Hưu (soạn năm 1272) và "Đại Việt sử ký tục biên" của Phan Phù Tiên (soạn năm 1455), chép từ họ Hồng Bàng đến khi Lê Thái Tổ lên ngôi, trong đó soạn mới thêm quyển I, phần ngoại kỉ (từ Hồng Bàng đến Thục). Những phần bổ sung và viết tiếp sau này trong ĐVSKTT là của các sử thần đời Lê như Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy và Nguyễn Quý Đức. Sách viết theo thể biên niên, liệt kê các vương triều. Tư liệu về nhiều mặt, có các lời bình nghiêm túc và theo quan điểm chính thống của các soạn giả, có kèm theo các bài tựa của Lê Hy, Phạm Công Trứ, Ngô Sĩ Liên và bài "Việt giám thông khảo tổng luận" của Lê Tung.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đại Việt Sử ký toàn thư

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra[r]

467 Đọc thêm

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ - LÊ SƠ

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ - LÊ SƠ

Khi Nhược Chuyết đến, vua ra đón ngoài giao, có ý ngạo mạn không làm lễ để tỏ ra cao quý khác thường, bảo Nhược Chuyết rằng: "Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đ[r]

19 Đọc thêm

Tài liệu Trần Anh Tông ppt

TÀI LIỆU TRẦN ANH TÔNG PPT

Từ xưa đến nay vua Đại Việt vẫn có tục lấy chàm vẽ rồng vào đùi, nhưng Anh Tông không muốn theo tục này. Một hôm Thượng hoàng Nhân Tông bảo Anh Tông rằng: "Dòng dõi nhà mình vẫn vẽ mình để nhớ gốc ngày xưa, nay nhà vua phải theo tục ấy mới được". Anh Tông tuy vâng mệnh nhưng lừa khi Thượng hoàng bận việc khác, lẩn đi không cho vẽ. Từ đấy, vua Đại Việt mới không vẽ mình nữa. Hôn nhân nội tộc của nhà Trần có từ thời Thái Tông, nhằm để duy trì kín nòi giống dòng tộc nhà Trần, tránh tình trạng ngoại thích có thể lật đổ dòng họ mình, như việc họ đã làm để cướp ngôi nhà Lý. Dưới thời Anh Tông, tục lệ này dần bãi bỏ, khi ngoài chính cung là các công chúa trong hoàng tộc, ông còn kết hôn với những người ngoại tộc khác. Gả Huyền Trân cho Chiêm Thành Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay). Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành. Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari. Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển. Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư chê trách chuyện này: Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương,
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tài liệu Lê Trung Tông pdf

TÀI LIỆU LÊ TRUNG TÔNG PDF

Lê Trung Tông (Tiền Lê)Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Lê Trung Tông.Lê Trung Tông (983 – 1005) là vị vua thứ hai của nhà Tiền Lê, trị vì được ba ngày.Lê Trung Tông tên húy là Lê Long Việt sinh năm Quý Mùi 983 tại Hoa Lư, con trai của Lê Đại Hành, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ. Vua Lê Đại Hành có hơn 10 hoàng tử, sau khi con trưởng là thái tử Long Thâu mất, Long Việt được lập làm Thái tử.Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi, đánh nhau 8 tháng, trong nước không có chủ. Tranh chấp chính xảy ra giữa thái tử Long Việt và hoàng tử thứ hai Long Ngân là người lớn nhất trong số các anh em còn lại. Tháng 10 năm 1005, Long Ngân thua chạy đến châu Thạch Hà (Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết. Long Việt lên ngôi làm vua, tức là Lê Trung Tông. Trong nước vẫn chưa yên ổn hẳn.Được 3 ngày, Trung Tông thì bị em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh sai người trèo tường lẻn vào cung hãm hại, thọ 22 tuổi.Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông."Tham khảoĐại Việt sử ký toàn thư:"Sau khi Đại Hành Hoàng Đế băng, vua (Trung Tông) cùng hai vương Đông Thành, Trung Quốc và em cùng mẹ là Khai Minh Vương tranh nhau lên ngôi, giằng co 8 tháng, trong nước không có chủ. Mùa đông, tháng 10, Đông Thành Vương (Long Ngân) thua chạy vào đất Cử Long. Vua đuổi bắt, lại chạy sang Chiêm Thành, chưa đến nơi thì bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ La. Khi ấy, người nước cũng quy phụ Ngự Bắc Vương ở trại Phù Lan. Vua lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông Hoàng Đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ."Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xem thêm

1 Đọc thêm

NÊU TÊN VÀ SỰ NGHIỆP MỘT SỐ ANH HÙNG DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC.

NÊU TÊN VÀ SỰ NGHIỆP MỘT SỐ ANH HÙNG DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC.

Trần Nhân Tông: Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông.Trần Nhân Tông: Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, nguyên là vị vua thứ ba của triều Trần, tên húy làKhâm, sinh ngày 11/11/1258, là trưởng nam của vua Trần Thánh Tông. Sử cũ chép rằng, khi mới cấttiếng khóc chào đời, thái tử Trần Khâm đã lộ rõ tướng là người phi phàm, nói theo lời của sách Đại Việtsử ký toàn thư, "tinh anh thánh nhân, thuần tuý đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khítươi sáng".Lên ngôi năm 21 tuổi, Trần Nhân Tông đã cùng vua cha cầm quân hai lần đánh thắng kẻ thù xâm lượchùng mạnh nhất thời đó (vào năm 1285 và 1288) và có nhiều đóng góp trong việc mở mang và củng cốbờ cõi về phía Tây và phía Nam. Ông là người không bao giờ chủ quan với vốn kiến thức thu lượm đượctrong cuộc đời không ít biến cố và thử thách và cho tới hơi thở cuối cùng vẫn tràn trề ham muốn thế thiênhành đạo để tôn vinh cái thiện và lòng nhân.Năm 1293, sau khi xã tắc hai phen chồn ngựa đá, non sông một thuở vững âu vàng, Trần Nhân Tôngđã nhường ngôi cho con và lui về đất cũ Thiên Trường, dành thời gian chủ yếu để chuyên chú nghiên cứuđạo Phật. Tháng 8/1299, Trần Nhân Tông xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh ở ngọn Tử Tiêu, pháphiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, tự là Trúc Lâm Đại Sĩ.Trần Nhân Tông đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước,phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phúbằng chữ Hán và chữ Nôm. Với tầm vóc danh nhân văn hóa, hình ảnh Trần Nhân Tông đã tỏa sáng trêntư cách một vị hoàng đế sáng suốt, vị thuỷ tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và để lại những áng thi cathấm đậm lẽ đạo tình đời. Trần Nhân Tông đã về cõi tây phương cực lạc năm 1308, nghiệm sinh đúngnửa thế kỷ trên cõi đời.
Xem thêm

1 Đọc thêm

DANH NHÂN ĐẤT VIỆT - ĐINH TIÊN HOÀNG

DANH NHÂN ĐẤT VIỆT - ĐINH TIÊN HOÀNG

Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh HàTây) và Ngô Xương Xí chiếm Bình Kiều (Triệu Sơn, Thanh Hóa) làcon cháu Ngô Vương. Đinh Bộ Lĩnh đã dùng mưu hàng phục đượcNgô Nhật Khánh, hàng phục được cả Ngô Xương Xí.Đinh Bộ Lĩnh đi tới đâu, đều được nhân dân góp sức ủng hộ tới đó.Với những sứ quân mạnh như Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, ông đãdùng cung kiếm tiến quân kết hợp với mưu lược. Đỗ Cảnh Thạcchiếm vùng Đỗ Đông Giang (Thanh Oai, Hà Tây) có cung thànhchắc chắn và hào sâu bao quanh. Theo thần phả Độc nhĩ đại vương,Đỗ Cảnh Thạc là người trí dũng mưu lược, nên phải bàn mưu tính kếmà đánh. Ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân bao vây 4 mặt thành vàtiến đánh bất ngờ. Đỗ Cảnh Thạc quân tướng không ứng cứu đượcnhau, bèn bỏ thành chạy. Hai bên giao tranh hơn một năm sau, ĐỗCảnh Thạc bị thua. Nguyễn Siêu chiếm Tây Phù Liệt (Thanh Trì, HàNội). Đinh Bộ Lĩnh bày binh bố trận giao chiến. Nguyễn Siêu thua,phải ngầm qua sông xin cứu viện sứ quân khác. Đinh Bộ Lĩnh biếttin, bèn sai võ sĩ nửa đêm phóng lửa đốt doanh trại. Quân NguyễnSiêu tan. Các sứ quân Kiều Công Hãn, Kiều Thuận, Nguyễn ThủTiệp, Phạm Bạch Hổ... đã thất bại ngay từ trận đánh đầu của ĐinhBộ Lĩnh. Đất nước thống nhất. Loạn 12 sứ quân đã dẹp xong.Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh được suy tôn lên ngôi Vua, ông lấy hiệu làTiên Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy Hoa Lư làm kinhđô. Tháng mười năm 979, ông bị chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết, thọ56 tuổi, táng ở sơn lăng Trường Yên.Vì công lao của Đinh Bộ Lĩnh, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong *Đại Việt sử ký toàn thư: "Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơnngười, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta khôngcó chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứphục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan,lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh
Xem thêm

3 Đọc thêm

Ðinh Tiên Hoàng docx

ÐINH TIÊN HOÀNG DOCX

loạn sứ quân. Nhưng nhìn chung nhiều nơi vẫn chưa tuân theo luật lệ của triều đình. Bởi vậy để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. Dù chưa phải dùng hình phạt ấy nhưng mọi người sợ oai, phép nước được tuân thủ. Việc binh-lính thì Tiên-hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10 quân; 1 quân 10 lữ; 1 lữ 10 tốt; 1 tốt 10 ngũ; 1 ngũ 10 người. Vậy một đạo là 100.000 người, và cứ số ấy mà tính thì nhà Đinh bấy giờ có 10 đạo, là 1.000.000 người. Thiết tưởng nước ta bấy giờ đất thì nhỏ, người thì ít, lấy đâu làm một triệu quân được, và lấy cơm gạo đâu mà nuôi được bấy nhiêu người. Họa chăng Tiên-hoàng có được độ 10 vạn người đã là nhiều. Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng phạm sai lầm bỏ trưởng lập ấu, cho con út là Hạng Lang làm Thái tử. Con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn đã theo Tiên Hoàng đi trận mạc từ thuở hàn vi, không được kế vị, tức giận, sai người giết Hạng Lang đi. Hoạ loạn gây nên ngay trong hoàng tộc. Năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm mơ thấy sao rơi vào mồm, tưởng là điềm báo được làm Vua bèn định bụng sát hại minh chủ. Một hôm Đỗ Thích thấy vua Đinh say rượu nằm trong cung bè lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt con cả là Đinh Liễn. Triều thần tìm bắt được Đỗ Thích đem xử tội và tôn Vệ vương Đinh Toàn lên làm vua. Vì công lao của Đinh Bộ Lĩnh, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong * Đại Việt sử ký toàn thư: "Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà
Xem thêm

6 Đọc thêm

Đinh Tiên Hoàng

ĐINH TIÊN HOÀNG

loạn sứ quân. Nhưng nhìn chung nhiều nơi vẫn chưa tuân theo luật lệ của triều đình. Bởi vậy để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. Dù chưa phải dùng hình phạt ấy nhưng mọi người sợ oai, phép nước được tuân thủ. Việc binh-lính thì Tiên-hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10 quân; 1 quân 10 lữ; 1 lữ 10 tốt; 1 tốt 10 ngũ; 1 ngũ 10 người.Vậy một đạo là 100.000 người, và cứ số ấy mà tính thì nhà Đinh bấy giờ có 10 đạo, là 1.000.000 người.Thiết tưởng nước ta bấy giờ đất thì nhỏ, người thì ít, lấy đâu làm một triệu quân được, và lấy cơm gạo đâu mà nuôi được bấy nhiêu người. Họa chăng Tiên-hoàng có được độ 10 vạn người đã là nhiều.Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng phạm sai lầm bỏ trưởng lập ấu, cho con út là Hạng Lang làm Thái tử. Con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn đã theo Tiên Hoàng đi trận mạc từ thuở hàn vi, không được kế vị, tức giận, sai người giết Hạng Lang đi. Hoạ loạn gây nên ngay trong hoàng tộc. Năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm mơ thấy sao rơi vào mồm, tưởng là điềm báo được làm Vua bèn định bụng sát hại minh chủ. Một hôm Đỗ Thích thấy vua Đinh say rượu nằm trong cung bè lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt con cả là Đinh Liễn. Triều thần tìm bắt được Đỗ Thích đem xử tội và tôn Vệ vương Đinh Toàn lên làm vua.Vì công lao của Đinh Bộ Lĩnh, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong * Đại Việt sử ký toàn thư: "Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết...Đinh Bộ Lĩnh, ông Vua xứ hoa lau, người lớn lên trong thời bình, lập nghiệp trong
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tể tướng Nguyễn Văn Giai (1554-1628) pot

TỂ TƯỚNG NGUYỄN VĂN GIAI (1554-1628) POT

hiển; trong hàng thê thiếp có 13 bà được thụ phong quận phu nhân, á phu nhân, chính phu nhân; 1 bà được phong danh hiệu Đại vương (Thoát trâm phụ chính đoan trang trinh tiết). Ông, cha có 2 người được ấm phong hàm Thái bảo, tước Hầu. Một đời hiển vinh tột bậc mà thiên hạ vẫn cho như vậy không có gì là quá đáng. Ông có những người con nuôi như Thái phó Tào Quận công, Thượng thư Hải Thọ hầu, nhưng đương thời không cho đó là bè đảng. Ông giết Hùng Lĩnh hầu, đứa con thứ ba của mình, rồi mở tiệc ca hát đến ba ngày, nhưng người đời không cho đó là kiêu mãn. Tuy là bậc hiển quý, nhưng trong các buổi chầu, khi tâu bày việc gì ông không hề quên giọng nói gốc gác của làng quê, triều đình cũng không cho thế là cử chỉ thô chướng, khó coi. Ý chừng trung để thờ trên, thuận để giữ mình, không xao lãng đức tính trung thuận là xuất phát từ lòng tin ở đạo, có phải vậy chăng? Nếu không như vậy sao lại đảm bảo thủy chung trọn vẹn, vĩnh thịnh tiếp nối đời đời, con cháu ông được hưởng thụ phúc khánh dài lâu?”(1) Về học vị của Nguyễn Văn Giai, các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều chép là Hội nguyên nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), nhưng sách Lịch triều hiến chương loại chí phần Nhân vật chí lại chép là Hội nguyên, Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ. Sau này các sách Địa chí Can Lộc, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam đều chép theo Lịch triều hiến chương loại chí là không đúng vì chính sách này về sau trong phần Khoa mục chí đã nói rõ từ năm 1580 (năm Nguyễn Văn Giai dự thi), triều Lê - Trịnh mới bắt đầu khôi phục lại khoa thi Hội, được mở tại hành cung An Trường (Vạn Lại, Thọ Xuân, Thanh Hóa) chứ chưa có thi Đình. Dịch giả các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng đều chú thích như vậy. Sau khi đã đánh thắng nhà Mạc, trở về Thăng Long, năm 1595, nhà Lê Trung Hưng mới cho hội cống sĩ ở bờ sông Nhị Hà (sông Hồng) tổ chức thi Hội, và cũng từ đó mới có thi Đình(2).
Xem thêm

6 Đọc thêm

Thái hậu Dương Vân Nga

THÁI HẬU DƯƠNG VÂN NGA

là cách ghép tên hai thôn). Gia phả là "người thật, việc thật", không giống như dã sử. Chính các tác giả Nhìn lại lịch sử cũng có nhận xét rằng "Dương Vân Nga" chỉ là cái tên văn nghệ do nhà viết chèo Trúc Đường đặt cho bà khi viết vở Thái hậu Dương Vân Nga mà thôi.Đóng góp của các nhà soạn Phả hệ họ Ngô Việt Nam là không thể phủ nhận, thậm chí rất đáng trân trọng và thán phục. Nhưng, cũng như chính cuốn gia phả đã dẫn, có những giả thuyết đã quá xa xưa, như trường hợp giả thuyết nói tổ tiên 7 đời của Ngô Quyền cách ông những 700 năm (điều không thể xảy ra – như kết luận của của sách này) chẳng hạn, thì ta thấy rằng, gia phả - cả họ Ngô lẫn họ Đinh Danh - cũng chỉ là một nguồn tài liệu để tham khảo mà thôi, không đủ để cải chính mọi điều trong chính sử.Cách gọi tên bà Dương hậu theo kiểu phỏng đoán như trên (chọn tên cho đẹp) cho thấy độ xác thực của 2 cuốn gia phả đối với tình tiết lấy 3 đời chồng vua của bà Dương hậu không cao. "Xương Văn làm con Bình vương"Tác giả Lã Duy Lan trong cuốn Nhìn lại lịch sử căn cứ vào câu trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: "[sau khi cướp ngôi của Ngô Xương Ngập,] Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô vương là Xương Văn làm con mình" để kết luận rằng "lấy làm con mình tức là cho làm con rể". Đây là điều phỏng đoán hơi đi quá. Dương Tam Kha vốn là cậu ruột của Xương Văn, khi ông không có con trai thì việc nhận cháu làm con cũng là điều dễ hiểu, giống như trường hợp ở Trung Hoa khi đó trong thời Ngũ đại, vua Chu Thái Tổ Quách Uy đã nhận cháu bên ngoại là Sài Vinh làm con và sau Sài Vinh nối nghiệp, tức là vua Chu Thế Tông. Như vậy "nhận làm con" mà suy ra là "làm con rể" thì chưa hoàn toàn thuyết phục. con cung Thời gian và tư liệu biên soạnCuối cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam có dẫn danh sách một loạt tài liệu tham khảo cổ xưa. Đây là một trong những vấn đề liên quan đến cổ sử cần lưu ý.Chuyện bà Dương hậu cách đây đã hơn 1000 năm. Hãy thử làm một phép so sánh để thấy sự khó khăn của những người nghiên cứu sử học và so sánh với sự xung đột giữa anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ cách đây chỉ hơn 200 năm (cuối 1786, đầu
Xem thêm

11 Đọc thêm

Tài liệu Chiêm quốc hộ Huyền Trân pdf

TÀI LIỆU CHIÊM QUỐC HỘ HUYỀN TRÂN PDF

Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân? Salam! Hôm nay là ngày kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Phòng Quốc Tế Champa (International Office of Champa), hãy cùng nhau hé mở cánh cửa bí mật vào một nền văn hoá rực rỡ, tưởng là bị lãng quên, đó là văn hoá Champa, mà ngưòi Việt quen gọi là Chiêm thành hay Chàm, Hời hay Lồi. Ngưòi Chàm tự gọi là Chăm hay Champa, tên một loài hoa. Hoa champaca màu trắng, vừa giống hoa ngọc lan vùa giống hoa sứ. Trong một chuyến đi cruise đầu năm 2008, tôi mang theo tập san Champaka, bìa có in một bông hoa sứ. Một nhân viên người Bali mượn đọc và cho hay hoa champaca cũng là hoa của đảo Bali, thuộc Indonesia. Anh cũng hiểu một số chữ Chàm in trong sách. Từ đó thủy thủ đoàn nguời Indonesian và tôi chào nhau theo kiểu Bali và Chàm, cũng giống người Việt xá nhau khi vào chùa, hai tay chắp truớc ngực, đầu hơi cúi. Bông hoa và tay chắp, như dấu hiệu văn hoá xuyên quốc gia, bỗng dưng mang lại niềm vui dịu dàng suốt cuộc hải hành dù giữa một biển ngưòi xa lạ. Hương thơm của nền văn minh rực rỡ của vương quốc Champa, xứ sở của trầm hương, đã được nhiều nhà sử học và khảo cổ học nghiên cứu. Tuy nhiên, sức tàn phá cuả thiên nhiên và con người thô bạo hơn, đến nỗi một thi sĩ người Việt là Phan Ngọc Hoan, yêu Champa đến lấy bút hiệu Chế Lan Viên, đã ai oán kêu lên : Chắc có lẽ linh hồn ta lay độngKhi vội vàng trở lại nước non ChiêmChiến tranh liên tục giữa hai nước láng giềng Chàm-Việt xảy ra hàng ngàn năm đã tàn phá cả hai dân tộc. Chỉ nhắc loáng thoáng đôi điều nơi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Đời Lê, năm 982, “…vua Lê Đại Hành chém Vua Chiêm là Phế Mị Thuế tại trận, bắt sống quân giặc không biết bao nhiêu mà kể, bắt được kỹ nữ trong cung trăm ngừoi và một thầy tăng người Thiên Trúc, lấy các đồ quí mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá huỷ tôn miếu, vừa một năm thì trở về Kinh sư.” Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tôn mang quân đi đánh Chiêm Thành, “…Quách Gia chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Bắt sống hơn 5,000 nguời, còn thì bị quan quân giết
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tài liệu Lê Long Đĩnh pptx

TÀI LIỆU LÊ LONG ĐĨNH PPTX

Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế. Nhà Tiền Lê kết thúc, trải qua 3 đời vua, tồn tại 29 năm.Ông vua tàn bạoĐại Việt sử lược (trang 33, quyển 1, bản điện tử) viết:Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh,sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi. Còn phàm những con vật (nuôi để cúngtế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức tăng Thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mữa thốc mữa tháo cả lên. Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bảm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu nói:Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua; bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đếnnỗi mất nước mất ngôi, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, lỗi ở Đại Hành không sớmđặt Thái tử và do Trung Tông không biết phòng giữ từ khi mời chớm nên đến nỗi thế.Tranh cãiBệnh trĩ và "ngọa triều"Long Đĩnh vì mắc bệnh trĩ, nên khi ra thiết triều phải nằm, vì vậy tục gọi là Lê Ngoạ Triều. Theo dã sử thì bệnh trĩ của Long Đĩnh là do sống quá trác táng. Còn sử gia Ngô Thì Sĩ thì cho rằng tên gọi này do Lý Công Uẩn đặt để bôi nhọ. Trong Đại Việt sử ký tiềnbiên có đoạn:Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi, cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp, mà cái tên NgọaTriều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho, mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế, mạt
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thuyết minh về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn pdf

THUYẾT MINH VỀ HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

Thuyết minh về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Ngô Sĩ Liên là sử quan xuất sắc đời Lê, góp phần chủ yếu trong việc sưu tầm, bổ sung và soạn thảo Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam còn được giữ lại nguyên vẹn cho tới ngày nay,đây là một tác phẩm lịch sử nhưng đậm chất văn học trung đại. Ngô Sĩ Liên chưa rõ năm sinh-mất người làng Trúc Lý ,huyện Chương Đức nay là huyện Chương Mỹ tĩnh Hà Tây.Ông đỗ tiến sĩ năm 1442,dưới triều Lê Thái Tông,được cử vào Viện Hàn Lâm ,đền dời Lê Thánh Tông ông giữ chức Hữu Thị Lang bộ lễ ,Triều Liệt đại phu kiêm Tư Nghiệp Quốc Tữ Giám.Tu soạn Quốc sử giám Ông vâng lệnh Lê Thánh Tông biên soạn bọ đại việt sử ký toàn thư. Đại Việt sử ký toàn thư là cuốn sách lớn chép về các sự kiện lịch sử nước Việt Nam,được Ngô Sĩ Liên, một nhà sử học thời Lê Thánh Tông viết với sự tham khảo và sao chép lại một phần từ các cuốn Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu thời nhà Trần và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (thời nhà Lê nhưng trước Ngô Sĩ Liên) và được các nhà sử học khác như Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy v.v hiệu chỉnh và bổ sung thêm sau này. Tên gọi chính thức của cuốn sách này do Ngô Sĩ Liên đặt,tác phẩm vừa thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ vừa có giá trị sử học,vừa có giá trị văn học. Qua các sự kiện về cuộc đởi Trần Quốc Tuấn bài viết khắc họa chân dung nhân vật lịch sử HDDVTQ Tuấn ,nêu cao phẩm chất TQT là một con người trung quân ái quốc,tài năng mưu lược,đức dộ lớn lao Lòng trung vời vua của TQT thể hiện ở tinh thần yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm công dân đối với dát nước phẩm chất trung quân của ông thể hiện ngay từ đầu đoạn trích.
Xem thêm

7 Đọc thêm

 THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ

THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ

TIẾT 68 – Đọc thêm: THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ (Trích “Đại Việt sử ký toàn thư” Ngô Sỹ Liên A/ Mục tiêu bài học: Giúp HS- Nhận thức được yêu cầu về diễn đạt trong một bài văn và những lỗi thường mắc phải trong bài văn.- Có kỹ năng phân tích và chữa lỗi về diễn đạt trong bài văn, để hòan thiện và nâng cao kỹ năng diễn đạt khi viết văn.- Nâng cao thái độ trân trọng khi viết văn, có ý thức diễn đạt đúng và thích hợp khi viết văn.B/ Các bước lên lớp:1. Ổn định lớp:2. Bài mới:Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt + GV giải thích những từ khó + Sau khi đọc và tóm tắt - 4 tổ tìm những tình tiết liên quan đến Trần Thủ Độ? - Mỗi tình tiết đã bộc lộ một khía cạnh nào về tính cách của ông? + Từ đó em có nhận xét gì về nhân cách Trần Thủ Độ? + Đọc đọan trích này em thấy thú vị, hấp dẫn và bất ngờ không? Vì sao? Từ đó em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuệyn của tác giả?I/ Đọc văn bản:II/ Hướng dẫn tìm hiểu văn bản:1. Nhân cách của Trần Thủ Độ. - Có người hoặc tội chuyên quyền của Trần Thủ Độ với Vua  Trần Thủ Độ không biện bạch cho bản thân và tỏ lòng thù
Xem thêm

1 Đọc thêm

Làng một họ - Tỉnh Hà Nam pptx

LÀNG MỘT HỌ - TỈNH HÀ NAM PPTX

Làng một họ - Tỉnh Hà Nam Ai có dịp về thăm Nam Định, hẳn không bỏ lỡ dịp về thăm nơi đây - Nơi phát tích của nhà Trần, nơi có chùa Phổ Minh - một đại danh lam, với tháp Phổ Minh vươn cao ngạo nghễ giữa trời và chiếc đỉnh đồng được liệt vào "tứ đại khí" nổi tiếng nhất Việt Nam. Nơi ấy là Tức Mặc. Tức Mặc là một trong 5 làng của xã Lộc Vương, thuộc ngoại thành Nam Định. Cũng nét dáng bình dị, đơn sơ như nhiều làng quê Việt Nam khác nhưng Tức Mặc mang trong mình một niềm tự hào riêng mà không phải nơi đâu cũng có được. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262), Thượng Hoàng về chơi hành cung Tức Mạc, ban yến tiệc cho nhân dân, nhân đấy thăng làng Tức Mặc lên làm phủ Thiên Trường, dựng cung Trùng Quang cho các vua đã nhường ngôi về ở Phía Tây cung, dựng chùa Phổ Minh, lại dựng một cung riêng cho Tư quân (vua đương triều) đến chầu thượng hoàng thì ngự ở đó gọi là cung Trùng Hoa". Thực ra, năm 1262 là năm vua Trần Thánh Tông (1258 - 1278) cho mở mang thêm chùa, còn chùa Phổ Minh đã được xây dựng từ thời nhà Lý. Với kiến trúc tiêu biểu cho cả hai thời đại Lý - Trần, chùa được liệt vào hàng đại danh lam của cả nước. Đến năm 1305, vua Trần Anh Tông (1293 - 1314) cho dựng tiếp trong khuôn viên chùa ngọn tháp Phổ Minh cao 21,2 mét với 14 tầng bổ sung vào tổng thể kiến trúc, làm tôn thêm vẻ thâm nghiêm của chùa.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân? pps

AI VỀ CHIÊM QUỐC HỘ HUYỀN TRÂN”

Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân?” kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Phòng Quốc Tế Champa (International Office of Champa), hãy cùng nhau hé mở cánh cửa bí mật vào một nền văn hoá rực rỡ, tưởng là bị lãng quên, đó là văn hoá Champa, mà ngưòi Việt quen gọi là Chiêm thành hay Chàm, Hời hay Lồi. Ngưòi Chàm tự gọi là Chăm hay Champa, tên một loài hoa. Hoa champaca màu trắng, vừa giống hoa ngọc lan vùa giống hoa sứ. Trong một chuyến đi cruise đầu năm 2008, tôi mang theo tập san Champaka, bìa có in một bông hoa sứ. Một nhân viên người Bali mượn đọc và cho hay hoa champaca cũng là hoa của đảo Bali, thuộc Indonesia. Anh cũng hiểu một số chữ Chàm in trong sách. Từ đó thủy thủ đoàn nguời Indonesian và tôi chào nhau theo kiểu Bali và Chàm, cũng giống người Việt xá nhau khi vào chùa, hai tay chắp truớc ngực, đầu hơi cúi. Bông hoa và tay chắp, như dấu hiệu văn hoá xuyên quốc gia, bỗng dưng mang lại niềm vui dịu dàng suốt cuộc hải hành dù giữa một biển ngưòi xa lạ. Hương thơm của nền văn minh rực rỡ của vương quốc Champa, xứ sở của trầm hương, đã được nhiều nhà sử học và khảo cổ học nghiên cứu. Tuy nhiên, sức tàn phá cuả thiên nhiên và con người thô bạo hơn, đến nỗi một thi sĩ người Việt là Phan Ngọc Hoan, yêu Champa đến lấy bút hiệu Chế Lan Viên, đã ai oán kêu lên : Chắc có lẽ linh hồn ta lay động Khi vội vàng trở lại nước non Chiêm Chiến tranh liên tục giữa hai nước láng giềng Chàm-Việt xảy ra hàng ngàn năm đã tàn phá cả hai dân tộc. Chỉ nhắc loáng thoáng đôi điều nơi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Đời Lê, năm 982, “…vua Lê Đại Hành chém Vua Chiêm là Phế Mị Thuế tại trận, bắt sống quân giặc không biết bao nhiêu mà kể, bắt được kỹ nữ trong cung trăm ngừoi và một thầy tăng người Thiên Trúc, lấy các đồ quí mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá huỷ tôn miếu, vừa một năm thì trở về Kinh sư.” Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tôn mang quân đi đánh Chiêm Thành, “…Quách Gia chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Bắt sống hơn 5,000 nguời, còn thì bị quan
Xem thêm

13 Đọc thêm

Thuyết minh về tác phẩm Thái sư Trần Thủ potx

THUYẾT MINH VỀ TÁC PHẨM THÁI SƯ TRẦN THỦ POTX

Thuyết minh về tác phẩm Thái sư Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ là nhân vật trụ cột của triều Trần. Ông là công thần sáng lập triều Trần và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm (1226-1264). Sử chép: "Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua". Trần Thủ Độ cũng là nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Nhưng khi chép về việc "Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý" trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sĩ Liên cũng chú trong ngoặc đơn là "việc này chưa chắc đã có thực". Nhân dân lại đánh giá ông với cách nhìn khác quan điểm Nho giáo. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối treo ở trước bàn thờ như sau: Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải. Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu. (Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần. Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam). (**) Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc. Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ và
Xem thêm

12 Đọc thêm

LUẬN VĂN CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA

LUẬN VĂN CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA

đồng đã trở thành một tín ngưỡng dân gian. Thần Đồng Cổ (tên gọi khác củaTrống đồng) là vị thần tối linh có công trong việc giữ yên bờ cõi, ổn định vàtrường tồn của đất nước, dân tộc từ thời các vua Hùng. Công tích của thần đãđược lưu truyền trong các tác phẩm: “Đại Việt sử ký Toàn thư”, “Đại Namnhất thống chí”, “Việt Điện U Linh”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Đại Việt thôngsử”, “Dư địa chí” “Tam Thai sơn linh tích”...Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “núi Đồng Cổ có tên nữa là núiKhả Lao ở cách huyện Yên Định 16 dặm về phía tây; núi nổi lên ba ngọn đá caothấp liền nhau, như hình dáng ba vì sao, nên lại gọi là núi Tam Thai. Phía tả cóđền thần, trong đền có một cái trống bằng đồng, nặng chừng 100 cân, đườngkính phỏng 2 thước 1 tấc, chiều cao phỏng 1 thước 5 tấc, một mặt trống rỗng,một mặt có chín vòng tròn, ở giữa mặt trống có cái rốn tròn, chung quang lưngtrống là hình nồi văn chữ “vạn”, bên cạnh có văn chữ như hình văn tự khoađẩu. Tương truyền cái trống này chế từ thời Hùng Vương” [66, tr 297].Sách “Lĩnh Nam chích quái” cũng ghi lại: minh chủ cảm ứng linh đứcđại vương vốn là thần núi Đồng Cổ, núi này nằm tại xã Đan Nê Thượng,huyện Yên Định [36].7Đến năm 983 (Tống Thái Bình hưng quốc năm thứ 8), Thập đạo tướngquân Lê Hoàn đem quân đi đánh giặc Chiêm ở phía Nam. Khi đến sông BàHòa (thuộc huyện Tĩnh Gia ngày nay) trời nổi mưa to gió lớn, thuyền bèkhông đi được, Lê Hoàn phải cho dừng binh chờ đợi. Thần Đồng Cổ báomộng xin giúp sức. Tỉnh dậy, Lê Hoàn liền chắp tay lễ bái thần, bỗng nhiêntrời quang mây tạnh, sóng gió trở lại bình yên, thuyền bè đi lại dễ dàng. LêHoàn cho tiến quân gấp, bất ngờ đánh vào trại địch, trận này quân ta thắnglớn. Khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, ông đã về đền Đồng Cổ ở làng Đan Nêlàm lễ tạ thần [9, tr 136].
Xem thêm

207 Đọc thêm

Cùng chủ đề