BỘ CÔNG CỤ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ 5 TUỔI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỘ CÔNG CỤ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ 5 TUỔI":

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA I. Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu. Trong học tập, ngôn ngữ vừa là công cụ để tư duy, lĩnh hội kiến thức, vừa nói lên khả năng trí tuệ của con người. Ngôn ngữ được hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Ngôn ngữ nói, giao tiếp và đọc, viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Mầm non nói riêng, của con người và xã hội nói chung. Lứa tuổi Mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kỷ năng đọc viết ban đầu của trẻ. Ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin với người khác. Ngôn ngữ giúp trẻ bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi, phân loại và phát triển cách tư duy và tạo nên cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vygotsky đã nhấn mạnh rằng ngôn ngữ nói rất quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ khó, tạo mối quan hệ xã hội và kiểm soát hành vi của những trẻ khác cũng như hành vi của bản thân. Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư duy ký hiệu tượng trưng ở trẻ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ là rất cần thiết cho việc phát triển tình cảm, xã hội và nhận thức của trẻ. Sự phát ngôn ngữ của trẻ ảnh hưởng đến khả năng học tập trong trường Tiểu học, Trung học và cả trong tương lai. Ngôn ngữ và khả năng đọc viết là rất quan trọng cho những thành công trong tương lai của con người. Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ và chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ theo nguyên tắc cơ bản của Giáo dục có chất lượng. Trẻ em được học trong một môi trường học tập thân thiện, phương pháp giảng dạy tích cực, cởi mở và thân quen gần gũi. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ em và người lớn và trẻ em với nhau. Trong công tác giáo dục trẻ mầm non, giáo viên cần phải có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động với nhiều biện pháp khác nhau. Biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi là cách thức thực hiện các nội dung phát triển các kỷ năng ngôn ngữ nhằm giúp trẻ có khả năng diễn đạt rõ ràng mạch lạc, có văn hóa và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Phát triển khả năng phát âm, rèn ngữ điệu lời nói, hình thành và phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, nghệ thuật cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non là một trong những hoạt động giáo dục hữu hiệu nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trên thực tế có những giáo viên còn cứng nhắc, rập khuôn, máy móc, chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức cho trẻ hoạt động, hạn chế cho trẻ thực hành trãi nghiệm. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi. Giúp giáo viên hiểu biết thêm về những hình thức tổ chức thực hiện, tích cực đổi phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Bản thân tôi chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi ở trường Mầm non Krông ANa ” để nghiên cứu và áp dụng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên ở trường. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu của đề tài này nhằm bồi dưỡng cung cấp thêm cho giáo viên một số kiến thức, kỹ năng để tổ chức hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả hơn. Kiến thức cung cấp cho trẻ phải có trình tự, hợp lý và thống nhất, đồng thời phải chính xác, thiết thực và mang tính ứng dụng cao. Nhiệm vụ của đề tài là giúp giáo viên biết cách tổ chức xây dựng môi trường tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giúp trẻ lĩnh hội cả ba thành phần của ngôn ngữ đó là phát âm, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp. Nhiệm vụ quan trọng nhất phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi là phát triển ngôn ngữ mạch lạc, lời nói nghệ thuật. Trẻ là chủ thể của phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ của trẻ được phát triển thông qua quá trình giao tiếp của trẻ với những người xung quanh, với môi trường tự nhiên và xã hội. Để phát triển ngôn ngữ, trẻ phải được nghe, được bắt chước lời nói, được chủ động nói những lời nói diễn cảm, mạch lạc, rõ ràng, nghệ thuật. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Krông Ana. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ Phạm vi đối tượng: Học sinh 5 – 6 tuổi trường Mầm non Krông Ana Phạm vi thời gian: Năm học 2015 2016 5. Phương pháp nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này đã sử dụng: + Phương pháp điều tra + Phương pháp nghiên cứu tài liệu + Phương pháp trao đổi đàm thoại + Phương pháp trải nghiệm thực tiễn. II. Phần nội dung 1. Cơ sở lý luận
Xem thêm

Đọc thêm

Tóm tắt luận văn: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập

Tóm tắt luận văn: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập

1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay vấn đề giáo dục kỹ năng thiết lập mối QHXH cho trẻ KTTT tại các trường mẫu giáo hòa nhập chưa mang lại hiệu quả cao bởi nhiều nguyên nhân. Điều này dẫn tới việc hình thành và phát triển kỹ năng này ở trẻ KTTT nhẹ chưa đầy đủ và chưa toàn diện. Cho đến nay, chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu về kỹ năng thiết lập các mối quan hệ cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi. Vì lẽ đó chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập”. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một số vấn đề lí luận và thực tiễn giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi, từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập nhằm phát triển kỹ năng này ở trẻ, giúp trẻ hòa nhập xã hội tốt hơn. 3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi trong môi trường hòa nhập 4. Giả thuyết khoa học Việc giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên kết quả giáo dục vẫn còn những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân và trong đó có những nguyên nhân từ phía giáo viên. Nếu đề xuất và sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH hợp lý, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em sẽ giúp trẻ tự tin, độc lập hơn trong cuộc sống, sẽ tạo điều kiện giúp trẻ học các kỹ năng học đường ở cấp học cao hơn và hòa nhập xã hội tốt hơn. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu 1 số vấn đề lý luận về trẻ KTTT, kỹ năng thiết lập các mối QHXH, giáo dục kỹ năng thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập, biện pháp giáo dục thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập. 5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng về thiết lập các mối QHXH của trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi, thực trạng giáo dục cho trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi tại 2 trường mầm non hòa nhâp, thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 4 5 tuổi. Lý giải nguyên nhân thực trạng. 5.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục thiết lập các mối QHXH cho trẻ KTTT nhẹ 45 tuổi trong môi trường giáo dục hòa nhập và thực nghiệm 1 số biện pháp trên 2 trẻ
Xem thêm

Đọc thêm

Giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề

Giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trẻ em là niềm vui, hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, đất nước. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình trẻ mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Trong các nội dung giáo dục toàn diện cho trẻ thì giáo dục tình cảm xã hội là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng vì nó ảnh đến các mặt giáo dục khác. Tình cảm của trẻ có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, thái độ của trẻ với mọi người xung quanh và với chính bản thân trẻ. Hơn nữa đối với trẻ mà nói việc hình thành những dấu ấn ban đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Từ thực tế, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học cho thấy trong những năm đầu của cuộc dời đứa trẻ có hệ thần kinh mềm dẻo, non yếu và dễ uốn nắn. Do đó thời gian này rất thuận lợi cho việc hình thành những nét cơ bản của cá tính và biểu hiện cảm xúc nhất định, hình thành cho trẻ những phẩm chất tâm lý nhân cách con người. Giáo dục tình cảm là một bộ phận của giáo dục đạo đức cho trẻ. Mục tiêu giáo dục tình cảm cho trẻ lứa tuổi mầm non nhằm hướng tới hình thành và phát triển những xúc cảm tình cảm tốt đẹp cho trẻ đối với mọi người xung quanh, nhằm hình thành nhân cách con người ở trẻ nhỏ. Đối với trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo, qua chơi trẻ được phát triển chức năng tâm lý và hình thành nhân cách. Khi chơi trẻ có thêm nhiều cơ hội khám phá môi trường xung quanh, qua đó kích thích tính tò mò, khả năng quan sát, năng lực phán đoán, trí tưởng tượng… của trẻ. Chính vì lẽ đó mà nhiều nhà giáo dục đã gọi: “trò chơi là trường học của cuộc sống”. Trẻ cần chơi như cần ăn no, mặc êm, cần được yêu thương. Trò chơi nuôi dưỡng tâm hồn trẻ mà không có gì có thể thay thế được. Như vậy, trường mầm non là môi trường thuân lợi nhất để trẻ phát triển.ở đây trẻ không những được chăm sóc được trò chuyện tiếp xúc với bạn bè,cô giáo mà còn được vui chơi để thoả mãn ước muốn làm người lớn với khả năng thực lực của mình. Trong khi chơi đứa trẻ học cách sử dụng đồ vật, đồ chơi do con người sáng tạo ra. Học những quy tắc ứng xử giữa người với người trong xã hội tức là trẻ học cách làm người. Trẻ mẫu giáo có thể tham gia nhiều loại trò chơi như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi đóng kịch, các trò chơi có luật…Mỗi loại trò chơi đều có tác dụng phát triển một mặt nhất định của trẻ. Nhưng trung tâm của hoạt động vui chơi đối với trẻ đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi chủ yếu tạo ra nét đặc trưng trong trò chơi,trong đời sống tâm lý, tình cảm của trẻ mẫu giáo. Tại sao trẻ mẫu giáo thích chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề, bởi qua chơi trẻ được hòa nhập vào các mối quan hệ trong xã hội, trẻ hiểu được bản thân mình và dầ hát triển tình cảm tích cực giữa trẻ và bạn chơi. Từ những mối quan hệ yêu thương gần gũi giữa các vai chơi, người chơi. Trẻ phát triển tình cảm của mình một cách tự nhiên, tích cực hơn. Do vậy trò chơi nói chung và việc phát triển tình cảm cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề nói riêng thực sự cần thiết cho trẻ. Tuy nhiên thực tế hiện nay ở các trường mầm non chưa khai thác được hết vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển tình cảm, xúc cảm cho trẻ mẫu giáo.Vậy vấn đề cấp thiết là phải tăng cường giáo dục tình cảm cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đềvà cần phải có sự hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, hứng thú, có như vậy chúng ta mới thực sự tạo cho trẻ niềm vui, niềm hạnh phúc trong hoạt động vui chơi để từ đó phát triển nhân cách nói chung, đời sống tình cảm nói riêng. Từ lý luận và thực tiễn với khả năng và niềm say mê hứng thú của mình tôi đã chọn nghiên cứu đề tài :“Giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề”. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm cho trẻ thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non. 3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.1. Khách thể nghiên cứu. Trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) ở trường MN Nam Lý – Đồng Hới. Giáo viên trường MN Nam Lý – Đồng Hới. 3.2 Đối tượng nghiên cứu Giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường Mầm non Nam Lý – Đồng Hới – Quảng Bình. 4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu xây dựng được biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ phù hợp với trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì trò chơi ĐVTCĐ sẽ thực sự trở thành phương tiện phát triển tình cảm có hiệu quả đối với trẻ Mẫu giáo 5 6 tuổi. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trò chơi ĐVTCĐ và việc giáo dục tình cảm cho trẻ cho trẻ Mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua trò chơi ĐVTCĐ. Khảo sát, phân tích thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường Mầm non. Xây dựng một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát giáo dục tình cảm cho trẻ Mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non. 6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu Thực hiện nghiên cứu trên 30 trẻ ở 2 lớp: MGL A 15 trẻ và ở lớp MGL B 15 trẻ. Trường Mầm non Nam Lý TP Đồng Hới Quảng Bình. Khách thể điều tra: 20 Giáo viên ở Trường Mầm non Nam Lý Đồng Hới Quảng Bình (12 giáo viên lớp MGL, 4 giáo viên MGN, 4 giáo viên MGB) 6.2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu Nghiên cứu một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát triển tình cảm cho trẻ Mẫu giáo 5 6 tuổi ở Trường Mầm non Nam Lý. 6.3. Thời gian nghiên cứu Thực hiện nghiên cứu từ 1601 đến tháng 52016 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu. 7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1. Phương pháp quan sát Dự giờ, quan sát và ghi chép lại cách tổ chức trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non. Đặc biệt quan tâm đến các biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ của giáo viên nhằm phát triển tình cảm cho trẻ 5 6 tuổi. 7.2.2. Phương pháp điều tra bằng Ankét Sử dụng phiếu điều tra Ankét để tìm hiểu thực trạng tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm giáo dục tình cảm cho trẻ 5– 6 tuổi ở Trường Mầm non. 7.2.3. Phương pháp đàm thoại Trao đổi với giáo viên về một số vấn đề về sự phát triển tình cảm, xúc cảm của trẻ. Đàm thoại với trẻ 5 – 6 tuổi để tìm hiểu về biểu hiện tình cảm của trẻ. 7.2.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động Nghiên cứu sản phẩm của giáo viên, cụ thể là các kế hoạch tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5 – 6 tuổi để tìm hiểu thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ. 7.3. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng một số phép thống kê để xử lý thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu nhằm khẳng định độ tin cậy của đề tài. 8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Góp phần hệ thống hóa lý luận về trò chơi ĐVTCĐ và sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi. Đánh giá thực trạng tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở Trường Mầm non Nam Lý. Xây dựng được một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ nhằm phát triển tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi. 9. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI Khóa luận gồm các phần: Mở đầu Chương 1. Một số vấn đề lí luận về sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và trò chơi đóng vai theo chủ đề. Chương 2. Thực trạng giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường Mầm non Nam Lý – Đồng Hới – Quảng Bình. Chương 3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề. Kết luận và kiến nghị.
Xem thêm

Đọc thêm

Tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non

Tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non

2. Mục đích nghiên cứu Tìm kiếm, đề xuất một số biện pháp tổ chức TCĐK nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi góp phần phát triển nhân cách nói chung và chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Quá trình tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp tổ chức trò chơi đóng kịch nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non. 4. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất được một số biện pháp tổ chức TCĐK như: Lựa chọn kịch bản hấp dẫn để tích cực hóa vốn từ cho trẻ, tăng cường rèn luyện khả năng nhập vai chơi giúp trẻ thể hiện chính xác, biểu cảm tính cách nhân vật bằng lời nói kết hợp với điệu bộ, cử chỉ, tạo điều kiện cho trẻ được trao đổi, bàn bạc ý tưởng trang trí sân khấu, hóa trang để trẻ được giao tiếp với cô cùng các bạn... thì sẽ phát triển tốt lời nói mạch lạc của trẻ.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ TÀI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

ĐỀ TÀI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI ĐỌC THƠ DIỄN CẢM PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1.Vai trò của văn học đối với giáo dục trẻ em. Mỗi chúng ta ai cũng biết “Trẻ em là tờ giấy trắng”.Chính vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục mầm non, như Bác Hồ đã nói : “Dạy trẻ cũng giống như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này các cháu thành tốt” Một trong những bộ môn của ngành học mầm non mà tôi quan tâm để đầu tư thực hiện nhiệm vụ trên đó là bộ môn cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Đặc biệt là việc giúp trẻ có vốn từ phong phú và khả năng đọc diễn được tôi quan tâm nhất khi cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học. Đối với tôi thì việc đọc diễn cảm có nghệ thuật lại có ý nghĩa to lớn hơn nhằm giúp trẻ cảm thụ tác phẩm một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn. Qua đó trẻ tái tạo lại bằng hình ảnh những gì đã nghe được và gợi lên ở trẻ những tình cảm cảm xúc nhất định; trẻ chú ý say mê với cốt truyện và các hình tượng của tác phẩm tự sự với âm thanh nhịp điệu, nhạc vần của thơ ca. Điều đó là tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức cho trẻ thơ. Mặt khác đọc, kể tác phẩm văn học một cách diễn cảm là một trong những nội dung cơ bản của môn văn học và phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở lớp mẫu giáo. Vì vậy không những đọc, kể diễn cảm cho trẻ nghe mà còn phải rèn luyện cho trẻ kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học để tạo điều kiện cho trẻ phát triển vốn từ và thể hiện những kỹ năng, kiến thức mà mình đã học. 2. Thực tiễn. Trong quá trình thực tiễn ở trường mầm non tôi thấy kỹ năng đọc diễn cảm của trẻ mẫu giáo chưa được tốt và còn nhiều hạn chế: Giáo viên thực hiện chưa đạt kết quả do thiếu tài liệu,chưa nhận thức đúng đắn. Về phía trẻ chỉ có một số ít trẻ biết đọc kể diễn cảm, việc đọc kể tác phẩm còn mang tính chất thuộc lòng chứ chưa thể hiện một cách diễn cảm, thậm chí có trẻ còn đọc chưa đúng, một số trẻ còn ngọng lắp… do đó gây rất nhiều khó khăn đối với việc luyện kỹ năng đọc kể diễn cảm cho trẻ, từ đó dẫn đến kết quả giáo dục chưa cao. Từ thực tiễn này nên tôi đã chọn đề tài : “Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi” làm đề tài của mình. Hy vọng góp một ý kiến nhỏ để việc thực hiện này trên lớp đạt kết quả cao. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Một số biện pháp dạy trẻ 4 – 5 tuổi đọc thơ ở trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng trong việc dạy trẻ đọc thuộc thơ và đọc diễn cảm . Từ đó trẻ cảm thụ được chọn vẹn một tác phẩm văn học. Để nhằm mục đích hệ thống hóa và đề xuất một số biện pháp để giúp trẻ 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. 1. Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài: Trên cơ sở tổng hợp các tư liệu về lý thuyết có liên quan đến đề tài, để xây dựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng một hệ thống các biện pháp dạy trẻ đọc thơ diễn cảm. 2. Điều tra thực trạng: Việc thực hiện hoạt động dạy trẻ đọc thơ diễn cảm ở một số trường mầm non. 3. Hệ thống hóa một số biện pháp và thực hiện dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc thơ diễn cảm bài thơ: “Làm bác sĩ”. IV . ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU. 1. Đối tượng nghiên cứu. Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm thơ. 2. Khách thể nghiên cứu. Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ TÂM SINH LÝ TRẺ EM (4 – 5 tuổi) 1. Đặt điểm sinh lý trẻ 4 – 5 tuổi. Kích thước và trọng lượng não của trẻ tăng dần theo độ tuổi. Đặc điểm chính của não bộ của trẻ là: + Các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa hoàn toàn + Các sợi thần kinh chưa mielin hóa đầy đủ. + Hệ thống mao mạch của trẻ phát triển nhiều. + Trong não có chứa nhiều nước. Trẻ ở độ tuổi 4 – 5 tuổi cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh phát triển. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian từ 1520 phút. Tư duy bằng từ phát triển, ngôn ngữ bên trong xuất hiện, chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt và gần như giống ở người lớn. Chính vì vậy việc dạy trẻ đọc thơ diễn cảm ở giai đoạn này rất thích hợp. Giúp trẻ phát triển tốt hơn về mặt ngôn ngữ và củng cố vốn từ đã học. Cơ quan thính giác của trẻ cũng đã hoàn thiện, trẻ có thể nghe va phát âm đúng những gì người khác nói. Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn đã nắm được và phát âm đúng tất cả các âm vị của tiếng mẹ đẻ phát âm đúng hầu hết các thanh điệu. Biết phát âm đúng và rõ các từ các câu, biến đổi cường độ, ngữ điệu phù hợp, sử dụng các phương tiện biểu cảm phát âm phù hợp. Trẻ 4 5 tuổi vốn từ đã phát triển gần 700 từ, giai đoạn này hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ.
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói

Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói

Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Giao tiếp, ngôn ngữ và lời nói có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách của trẻ em. Quá trình giao tiếp của trẻ với người khác (bằng ngôn ngữ, lời nói và cả giao tiếp không lời) cũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân, giúp trẻ trở thành thành viên của xã hội. Chính vì vậy, vấn đề phát triển giao tiếp ngôn ngữ và lời nói của trẻ trong những năm đầu đời trở thành mối quan tâm hàng đầu của cha mẹ và thầy cô giáo. Theo tiến trình phát triển tự nhiên, trẻ sẽ có những nền tảng giao tiếp cơ bản, trẻ biết cách sử dụng tiếng nói và các âm thanh khác nhằm đến mục đích giao tiếp. Vốn từ của trẻ tăng dần lên thấy rõ qua từng tháng, khoảng hai tuổi trẻ có khả năng nói rõ ràng và phát âm chính xác các cụm gồm 2 đến 3 từ, các từ ghép hoặc câu đơn giản chỉ gồm danh từ và động từ, ví dụ như chim bay, cá bơi…. Khi trẻ trong khoảng 3 đến 4 tuổi, câu nói của trẻ lúc này dài hơn, vốn từ phong phú hơn. Trẻ bắt đầu nói về nhiều đề tài khác nhau ngoài những nhu cầu của bản thân, trẻ kể về những gì xảy ra ở trường học, xảy ra với bạn bè, kể về những câu chuyện nhưng kinh nghiệm mà bé trải qua hàng ngày. Trẻ biết đặt câu hỏi cho những sự việc xảy ra xung quanh mình, lúc này trẻ đã biết cách sử dụng lời nói và phát âm khá rõ ràng, trẻ biết cách làm cho người khác hiểu ý của mình muốn nói. Tuy nhiên, để đạt được mức độ mạch lạc và lưu loát nhất định thì trẻ cần có nhiều thời gian hơn, thông thường các trẻ em phát triển theo chuẩn khi đến 5 tuổi, trẻ sẽ biết dùng các loại câu có cấu trức ngữ pháp phức tạp hơn và gần giống với cấu trúc câu của người lớn hơn. Lúc này trẻ có khả năng kể lại một câu chuyện dài theo một chủ đề nhất định, có tính logic, không vấp váp cả về phát âm hay ý tưởng, thậm chí trẻ còn biết cách lôi kéo sự quan tâm của người nghe và2 lúc này trẻ thường đạt được mức độ lưu loát nhất định trong lời nói và sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Ở trẻ từ 6 tuổi đến 7 tuổi là lứa tuổi đầu cấp tiểu học, lúc này các em có sự thay đổi lớn về môi trường giao tiếp và hoạt động học tập, nhiều học sinh có nhận thức bình thường, thậm chí tốt, có khả năng hiểu ngôn ngữ song khả năng diễn đạt lưu loát bằng lời nói bị hạn chế, điều này sẽ khiến các em mất tự tin, mặc cảm dẫn đến hạn chế về giao tiếp và học tập. Ngoài ra, ở những trẻ có khăn về nói, các em thường chậm trễ hơn trong cả nhận thức và ngôn ngữ, các em vẫn chưa hoàn thiện các kỹ năng cần có, vì thế các em cũng chưa có khả năng nói lưu loát, vẫn chưa có khả năng trình bày mạch lạc một vấn đề của bản thân hoặc vấn đề của bài học, thậm chí những mong muốn những nhu cầu cơ bản của bản thân cũng chưa thể trình bày một cách lưu loát, chưa khiến người đối diện có thể nghe hiểu được ý của các em muốn diễn đạt vì thế các em thường chậm trễ hơn trong việc tiếp nhận thông tin và sẽ gây cản trở, khó khăn trong việc học các môn học khác cũng như gặp khó khăn trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô và mọi người xung quanh. Vì vậy, việc tìm hiểu, nâng cao nhận thức về vẫn đề này và đồng thời đưa ra các biện pháp sư phạm đặc biệt cho các trường hợp có khó khăn về độ lưu loát trong lời nói là rất cần thiết. Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Biện pháp cải thiện độ lƣu loát lời nói cho trẻ 6-7 tuổi có khó khăn nói. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề mất lưu loát ở trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi, từ đó xây dựng và thực nghiệm các biện pháp sư phạm đặc biệt giúp cải thiện độ lưu loát trong lời nói cho các em. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1 . Khách thể nghiên cứu Quá trình hỗ trợ giáo dục trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói.3 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói của trẻ 6-7 tuổi có khó khăn về nói. 4. Giả thuyết khoa học Sự mất lưu loát lời nói xảy ra ở nhiều trường hợp học sinh có nhu cầu đặc biệt đầu cấp tiểu học do hạn chế của trẻ và áp lực của môi trường tâm lí- xã hội ở trường, lớp. Có thể cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp học sinh khó khăn này bằng các cách tiếp cận khác nhau như tác động tâm lí, trị liệu kết hợp với việc xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện với các em. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc cải thiện độ lưu loát lời nói ở trẻ em có khó khăn về nói. - Khảo sát, đánh giá về mức độ lưu loát trong lời nói của trẻ có khó khăn về nói 6-7 tuổi học hòa nhập, có so sánh với các chỉ số tương ứng ở các bạn cùng lớp. - Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp sư phạm nhằm cải thiện độ lưu loát lời nói cho các trường hợp học sinh 6-7 tuổi có khó khăn về nói. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu 6.1. Hồi cứu tài liệu: Tập hợp, phân tích, tổng thuật, và tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ lịch sử vấn đề, các khái niệm cơ bản và các tiếp cận về cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ có khó khăn về nói. 6.2. Đo nghiệm độ lưu loát lời nói Phương pháp đo nghiệm độ lưu loát lời nói áp dụng trong khảo sát thực tiễn ở lớp hòa nhập học sinh 6-7 tuổi có khó về nói và trong đánh giá sự tiến bộ trong cải thiện độ lưu loát lời nói của các trường hợp thực nghiệm sư phạm. Theo Bài giảng & giáo trình trị liệu nói lắp của Đại học Newcastle sử dụng ở khóa đào tạo thạc sĩ về Trị liệu ngôn ngữ tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc4 Thạch (2015), độ lưu loát lời nói được đo nghiệm theo 3 thông số: 1) Tỉ lệ lỗi lặp (Percentage of syllables stuttered / % SS) tính bằng tỉ lệ % âm tiết nói lắp trên tổng số âm tiết nói ra; 2) Tốc độ nói (Syllables per minute / SPM) tính bằng mức trung bình số âm tiết nói ra trên một phút; và 3) Mức độ tự nhiên của lời nói (Speech naturalness / NAT), tính theo thang từ mức 1 = tự nhiên nhất đến mức 9 = kém tự nhiên nhất. 6.3. Phương pháp quan sát Quan sát các hành động giao tiếp, nói năng của học sinh có khó khăn về nói ở trong một số tiết học ở lớp hòa nhập và trong quá trình hỗ trợ cá nhân được ghi chép lại dưới dạng nhật kí và ghi chú, làm cơ sở cho quá trình phản hồi, tác động và điều chỉnh. 6.4. Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn Những trải nghiệm cả tích cực và tiêu cực của giáo viên và phụ huynh trong quá trình dạy học và giao tiếp với học sinh khó khăn về nói được trao đổi, ghi chép lại làm cơ sở cho quá trình tìm kiếm và thực nghiệm biện pháp hỗ trợ giáo dục. 6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, khảo sát thực tiễn, các biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho học sinh có khó khăn về nói được đề xuất và thực nghiệm sư phạm trên 3 trường hợp học sinh có khó khăn về nói, dạng nói lắp. 6.6. Phương pháp thống kê toán học Các kết quả nghiên cứu định lượng được phân tích bằng công cụ thống kê toán học. 7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, việc thực hiện các nhiệm vụ đề tài được giới hạn:5 - Trong hồi cứu tài liệu: tập trung vào các tài liệu liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu ở bình diện giáo dục đặc biệt và giáo dục phát triển ngôn ngữ. Nguồn tài liệu tham khảo gồm các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt. - Trong khảo sát thực tiễn: đo mức độ lưu loát lời nói trên 30 học sinh lớp 1 (học kì II, năm học 2014 – 2015), trong đó có 3 em được cho là có khó khăn về nói, nói lắp; đồng thời trò chuyện, phỏng vấn với 5 giáo viên dạy các lớp có học sinh này, và trao đổi với phụ huynh của 3 trường hợp học sinh vừa nêu. Quan sát lớp học cũng được thực hiện ở 3 lớp, mỗi lớp 2-3 tiết học. - Với nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm: chúng tôi tiến hành thực nghiệm qua nghiên cứu trường hợp trên 3 học sinh có khó khăn về nói được khảo sát trước đó. Các em này có khó khăn chính là nói lắp. Thời gian tác động thực nghiệm khoảng 3 tháng. Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói Luận văn Biện pháp cải thiện độ lưu loát lời nói cho trẻ 6 -7 tuổi có khó khăn về nói
Xem thêm

Đọc thêm

“ khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa nhi II bệnh viện phụ sản nhi đà nẵng

“ khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa nhi II bệnh viện phụ sản nhi đà nẵng

Thiếu máu là một trong những bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Thiếu máu rất phổ biến ở trẻ em, có khoảng 222 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới bị thiếu máu. Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển khoảng 51%, ở các nước phát triển là 12% (UNICEF 1986) Thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng phổ biến ở trẻ em. Theo tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em là rất cao, nhất là các nước đang phát triển: Nepal 68,8%, Pakistan 65%, Ấn Độ 53%, Sri Lanka 52,3%, Kazakhstan 50,1%, Indonesia 45%, Trung Quốc 37,9%, Maroocs 35%, Philipin 31,8%, Hoa Kỳ 320%, Hàn Quốc 15% Ở Việt Nam, tỉ lệ thiếu máu của trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bằng miền Bắc là 48,5%; ở trẻ em tuổi học đường vùng đồng bằng miền Bắc là 17,7%; vùng núi miền Bắc là 32,7%( Nguyễn Công Khanh và cộng sự 1989, 1995) Theo Viện Bảo Vệ Sức Khỏe Trẻ Em Hà Nội thì tần xuất trẻ bị thiếu máu là 32% trong các bệnh về máu. Tuổi có tần xuất cao là 05 tuổi : 53,73% so với nhóm 610 tuổi là 24,92% và 1115 tuổi là:21,33% Bênh thiếu máu thường gặp theo thứ tự là thiếu máu huyết tán 62%, thiếu máu dinh dưỡng nhiễm khuẩn 21% , thiếu máu suy tủy 16,4%. Theo báo cáo của Bệnh Viện Nhi Đồng 1 thì tần xuất thiếu máu 35,08% các bệnh máu. Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ 53,09% so với trẻ trên 5 đến 15 tuổi. Giới nam có tỷ lệ 63,84% so với nữ giới 36.15%. Loại thiếu máu thường gặp là thiếu máu huyết tán 58.30% , thiếu máu suy tủy 23,77% và thiếu máu thiếu sắt là14% Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài: “ Khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa Nhi II Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.” với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt 2. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức , thực hành chăm sóc trẻ bị thiếu máu thiếu sắt cho các bà mẹ.
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 ĐẾN 36 THÁNG TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA MỸ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 ĐẾN 36 THÁNG TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA MỸ

Sinh thời bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, phải quý trọng nó”. Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người, là vũ khí chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại. Có thể nói rằng: Rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non nói chung và trẻ nhà trẻ 2436 tháng tuổi nói riêng là góp phần tích cực vào việc trang bị phương tiện mạnh mẽ để trẻ tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xung quanh. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hóa giao tiếp lời nói. Ngôn ngữ hay còn gọi là tiếng nói là phương tiện giao tiếp giữa trẻ với người lớn, giữa trẻ với trẻ. Tiếng nói giúp trẻ hiểu được mọi sự vật hiện tượng xung quanh trẻ, giúp trẻ diễn tả được mọi ý nghĩ, tình cảm, mong muốn, yêu cầu của trẻ.
Xem thêm

Đọc thêm

CẨM NANG NUÔI CON MAU LỚN

CẨM NANG NUÔI CON MAU LỚN

Nuôi con đúng cách giúp trẻ phát triển cân đối, thông minh, toàn diện, lớn nhanh, khỏe mạnh, không để trẻ suy dinh dưỡng nhưng cũng không thừa cân béo phì. Thật sự không thể cân đong đo đếm chính xác năng lượng hàng ngày của trẻ được, nhưng chúng ta có thể biết được trẻ ăn đã đủ hay thiếu hay dư thừa là nhờ vào sự tăng cân của trẻ hàng tháng, so sánh với biểu đồ tăng trưởng. Nếu cân nặng của trẻ tăng quá nhanh so với chuẩn thì trẻ đã bị dư thừa năng lượng. Trường hợp trẻ không tăng cân hoặc tăng cân quá ít so với chuẩn chứng tỏ trẻ đang bị thiếu năng lượng trong khẩu phần hàng ngày. Như vậy, việc theo dõi tăng trưởng của trẻ có thể giúp các mẹ nuôi trẻ “mập ốm” theo ý muốn, bằng cách tăng giảm khẩu phần của trẻ. Tuy nhiên, các mẹ nên thay đổi quan niệm một chút nhé, không nên đánh giá sức khỏe của trẻ bằng cách nhìn bề ngoài “tròn tròn, bụ bẫm” là “khỏe mạnh, dễ thương”. Mà cần phải theo dõi sự phát triển của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng, và trẻ khỏe mạnh là trẻ cân đối, có cân nặng và chiều cao trong giới hạn bình thường theo tuổi, trẻ không suy dinh dưỡng cũng không thừa cân béo phì.
Xem thêm

155 Đọc thêm

Giáo án âm nhạc cho lứa tuổi mẫu giáo lớn

Giáo án âm nhạc cho lứa tuổi mẫu giáo lớn

Giáo án : Âm nhạc Chủ đề : Bác Hồ Thủ đô Hà Nội Lứa tuổi: Mẫu giáo lớn (4 – 5 tuổi) Số trẻ: 20 25 trẻ Thời gian: 25 – 30 phút Ngày soạn: 02 – 05 – 2016 Ngày dạy : Người soạn và thực hiện : Trịnh Thị Như Quỳnh Nội dung chính: vỗ tay theo nhịp cho bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” – Phạm Tuyên Nội dung kết hợp: nghe hát “yêu Hà Nội” – Bảo Trọng Trò chơi âm nhạc: nghe tiếng hát tìm đồ vật I. Mục đính yêu cầu 1. Mục đích Phát triển ở trẻ khả năng vận động theo nhạc giúp trẻ vỗ tay chính xác theo nhịp cho bài hát” Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Giúp trẻ yêu thích hình thức vỗ tay theo nhịp, trẻ tự tin thể hiện khả năng vận động theo nhạc Củng cố và phát triển ở trẻ khả năng nghe nhạc giúp trẻ cảm nhận được giai điệu vui tươi, tình cảm của bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng 2. Yêu cầu Trẻ hứng thú với hình thức vận động vỗ tay theo nhịp diệu cho bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Trẻ vỗ tay, chính xác vào các phách mạnh trong bài, phù hợp với nhịp diệu 24 của bài hát, trẻ biết chơi cùng nhau, biết phối hợp hoạt động Trẻ chăm chú lắng nghe cô thể hiện trọn vẹn bài hát “ Yêu Hà Nội” trẻ cảm nhận được giai điệu vui tươi, tình cảm của bài hát, biết thể hiện cảm xúc của mình đối với bài hát qua sự chuyển động tự nhiên của cơ thể Trẻ biết cách chơi trò chơi âm nhạc nghe tiếng hát tìm đồ vật Trẻ hứng thú , tích cực tham gia hoạt động II. Chuẩn b
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NGÔN NGỮ

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NGÔN NGỮ

Báo cáo kết quả đánh giá ngôn ngữThông tin chungMô tả chung về trẻHọ và tên: Hoa Ngọc QuỳnhSinh ngày: 24/6/2009Giới tính: nữLớp: 1CTrường tiểu học Quan Hoa_Cầu Giấy_Hà NộiĐịa chỉ: Số nhà ** , trung cư The Lancaster, 20 Núi Trúc, Ba Đình, Hà Nội.Khi được 3 tuổi gia đình nghi ngờ Q có những dấu hiệu bất thường về hànhvi, giao tiếp, ngôn ngữ và đã cho Q đi khám tại viện Nhi Trung Ương. Tại việnNhi Q được chẩn đoán là tự kỉ. Khám tại viện tai-mũi-họng được chẩn đoáncơ quan cấu âm là lưỡi ngắn hơn so với bình thường. Ngay sau đó gia đìnhcho Q theo học trường mầm non chuyên biệt gần 2 năm. Kết hợp mời giáoviên dạy tại nhà. Đến cuối năm học lớp mẫu giáo lớn tại trường chuyên biệt,gia đình thấy Quỳnh có nhiều tiến bộ nhưng khá chậm nên đã cho Quỳnh theohọc lớp mẫu giáo hòa nhập gần nhà. Năm 2014, Q tiếp tục theo học lớp 1 hòanhập trường tiểu học Quan Hoa.Hiện tại ngôn ngữ và giao tiếp là lĩnh vực màQ gặp khó khăn nhiều hơn cả. Đây cũng là trở ngại lớn khi Q theo học hòanhập.2. Mô tả công cụ và phương pháp đánh giá2.1 Mục đích đánh giáXác định mức độ phát triển ngôn ngữ hiện tại của trẻ. Trên cở đó đưa ranhững gợi ý giáo dục cho gia đình và giáo viên chăm sóc, dạy trẻ.2.2 Công cụ và phương pháp đánh giá*Công cụ- Bộ công cụ đánh giá khả năng phát âm âm tiết Tiếng việt- Danh sách từ vựng trẻ em ( Phạm Thùy Giang_2008)I.1.
Xem thêm

5 Đọc thêm

sáng kiến kinh nghiệm BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 36 THÁNG THÔNG QUA GIỜ kể CHUYỆN và các TRÒ CHƠI dân GIAN

sáng kiến kinh nghiệm BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 36 THÁNG THÔNG QUA GIỜ kể CHUYỆN và các TRÒ CHƠI dân GIAN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ CHUYỆN VÀ CÁC TRÒ CHƠI DÂN GIAN I .Phần mở đầu 1.Lý do chọn đề tài: Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đặc biệt không thể thiếu được. Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ những nhu cầu, mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng. Điều đó giúp trẻ hòa nhập với mọi người và sử dụng nó còn rất hạn chế. Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ từ 24 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi nói riêng, chúng ta cần phải giúp trẻ phát triển mở rộng các từ loại trong các từ, biết sử dụng nhiều loại câu, bằng cách thường xuyên trò chuyện với trẻ về những sự vật, sự việc trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hàng ngày, nói cho trẻ biết các từ biểu thị về các đặc điểm, tính chất, công dụng Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện trẻ dể dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Trẻ từ 2 đến 3 tuổi có số lượng từ tăng nhanh, đặc biệt là ở trẻ 22 tháng tuổi và 30 tháng tuổi vốn từ của trẻ phần lớn là những danh từ và động từ, các loại khác như tính từ, đại từ, trạng từ xuất hiện rất ít và được tăng dần theo độ tuổi của trẻ. Trẻ ở lứa tuổi này không chỉ hiểu nghĩa các từ biểu thị các sự vật, hành động cụ thể mà có thể hiểu nghĩa các từ biểu thị tính chất màu sắc, thời gian và các mối quan hệ. Tuy nhiên mức độ hiểu nghĩa của các từ này ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi còn rất hạn chế và có nét đặc trưng riêng, trẻ sử dụng các từ biểu thị thời gian chưa chính xác trẻ nhận thức về công cụ ngữ pháp của chúng. Cho trẻ xem tranh, kể cho trẻ nghe các câu chuyện đơn giản qua tranh. Đặt các câu hỏi cho trẻ giúp trẻ biết kể chuyện theo tranh bằng ngôn ngữ của trẻ Giai đoạn lứa tuổi mầm non trẻ phát triển mạnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần, trẻ ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá xung quanh. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo trẻ sẽ lĩnh hội kiến thức được chính xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ càng phong phú hấp dẫn, càng gây hứng thú đối với trẻ, trẻ càng dễ tiếp thu, trẻ dễ nhớ lâu quên, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng. Trẻ mẫu giáo có nhu cầu lớn về mặt nhận thức, trẻ khao khát khám phá, tìm tòi, tìm hiểu thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Trong giao tiếp trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để trình bày ý nghĩ biểu cảm của mình với mọi người. Đặc biệt hiện nay phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc giáo dục và nuôi dạy trẻ của các trường mầm non. Chính vì vậy vai trò của người giáo viên hướng dẫn trẻ như thế nào để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt ? Ta thấy trẻ nhỏ thường phát âm không chính xác ( chẳng hạn như : lá – ná , cá rô – cá gô , …. ) . Việc trẻ phát âm không đúng của trẻ chủ yếu là do cơ quan phát âm của trẻ chưa linh hoạt, chưa nhạy cảm và chưa chính xác, trẻ chưa biết cách điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ và giọng nói cho phù hợp với nội dung nói Vì vậy, để trẻ phát âm đúng cần phải được luyện tập thường xuyên, mọi lúc mọi nơi, và thời gian lâu dài. Trong quá trình công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ, sau một thời gian cho trẻ làm quen với các bài đồng dao, em thấy việc cho trẻ đọc các bài đồng dao kết hợp với các trò chơi đơn giản có tác dụng rất tốt cho việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ . Bởi vì nó có tính chất thi đua, bắt chước để kích thích trẻ luyện tập tốt . 2. Mục đích nghiên cứu: Đề xuất một số biện pháp nhằm “phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ kể chuyện, các trò chơi dân gian” và góp phần làm phong phú vốn từ, vốn ngôn ngữ của trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 3. Thời gian, địa điểm Do thời gian không cho phép tôi chỉ nghiên cứu về “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ kể chuyện, các trò chơi dân gian tại trường mầm non Kim Sơn” Thời gian: Xây dựng đề cương ngày 20 tháng 10 năm 2013. Viết đề tài 1 1 2014 – 01 4 – 2014 Hoàn thành đề tài 10 4 2014 Địa điểm: Trường mầm non Kim Sơn – Đông Triều – Quảng Ninh. Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 24 – 36 tháng tuổi. 4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn Đề tài này thể hiện sự quan tâm thiết thực đến với trẻ em, tôn trọng quyền của trẻ được sống và phát triển, quyền được học tập tiếp thu nền giáo dục tiến bộ, được hưởng nền văn hóa của dân tộc mình. Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng những thành tựu liên ngành, thì đề tài này góp phần làm sáng tỏ, đúng đắn các vấn đề lý luận và học tập, vui chơi của trẻ em với phương châm “ Trẻ học mà chơi, chơi mà học” trong trường mầm non làm phong phú hơn về cách hiểu và cách nhìn trẻ em hiện nay trong giáo dục mầm non. Điều tra được thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 24 – 36 ở trường mầm non Kim Sơn. Thiết kế một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thông qua các câu truyện, các trò chơi dân gian. II Phần nội dung: 1. Chương 1: Tổng quan Đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi 24 – 36 tháng là vô cùng quan trọng. Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ là cả quá trình bền bỉ, lâu dài từ đó tạo cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả, để từ đó trẻ vừa được học, vừa được chơi. Trẻ em ở độ tuổi này các cháu đang học ăn, học nói, học người lớn. Chính vì vậy người lớn chính là tấm gương để trẻ học tập nhằm nâng cao và làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của trẻ. 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có ích, thành những con người mới. Một trong ba mục tiêu của cải cách giáo dục của nước ta là: Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấu nhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể, phát triển toàn diện nhân cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực hiện mục tiêu trên. Ngày nay chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học có tình yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước và sáng tạo. Những phẩm chất ấy con người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn bao điều tốt đẹp trong tương lai. Giai đoạn lứa tuổi mầm non trẻ phát triển mạnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần, trẻ ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá xung quanh. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo trẻ sẽ lĩnh hội kiến thức được chính xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ càng phong phú hấp dẫn, càng gây hứng thú đối với trẻ, trẻ càng dễ tiếp thu, trẻ dễ nhớ lâu quên, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng. Trẻ mẫu giáo có nhu cầu lớn về mặt nhận thức, trẻ khao khát khám phá, tìm tòi, tìm hiểu thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Trong giao tiếp trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để trình bày ý nghĩ biểu cảm của mình với mọi người. Truyện và các trò chơi dân gian là một loại hình văn học, thông qua cơ sở ngôn ngữ có nhịp điệu, nghĩa là ngôn ngữ thơ được xây dựng trên cơ sở hòa hợp thanh điệu của các từ, bố trí tiết tấu trong mỗi câu, sự tổ chức cân đối các ý, lời bằng cách láy tiếng, láy câu, gieo vần, tạo thành những hệ thống lôgic. Tác phẩm văn học bằng những ngôn ngữ riêng tác động trực tiếp vào tâm hồn của mỗi con người, khơi dậy tình cảm cao đẹp, sự bao dung, nhân ái, nó đưa con người xích lại gần nhau hơn, cảm thông, chia sẻ cùng nhau niềm vui cũng như nỗi buồn. Truyện và các trò chơi dân gian là một loại hình văn học bắt nguồn từ cuộ
Xem thêm

Đọc thêm

Khoá luận tốt nghiệp các biện pháp dạy trẻ mấu giáo nhỡ (4 5 tuổi) nói đúng ngữ pháp

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CÁC BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẤU GIÁO NHỠ (4 5 TUỔI) NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP

... băng 2.4 Các biện pháp dạy trẻ mẫu giáo nhỡ nói ngữ pháp Thực tế, trường mầm non chuyên biệt để dạy ngữ pháp cho trẻ mà giáo viên thường phải thông qua dạy trẻ kể chuyện Có nghĩa dạy ngữ pháp kết... pháp dạy trẻ 4 -5 tuổi nói ngữ pháp Mục đích nghiên cún Khi nghiên cứu đề tài này, muốn tìm hiểu sâu đặc điểm ngữ pháp trẻ 4 -5 tuối Qua đưa biện pháp tốtnhất giúp trẻ nói ngữ pháp, chuẩn bị tốt. .. PHẠM HÀ NỘI KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC CÁC BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO NHỠ (4- 5 TUỔI) NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • • Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ Người hướng
Xem thêm

57 Đọc thêm

Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng tưởng tượng cho trẻ 5-6 tuổi

Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng tưởng tượng cho trẻ 5-6 tuổi

1. Lý do chọn đề tài Lứa tuổi mầm non có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm vận động, tâm lý xã hội…đã khẳng định sự phát triển của trẻ em từ 0-6 tuổi có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Tưởng tượng là một trong những cấu thành của năng lực trí tuệ. Tưởng tượng là cơ sở của bất kỳ hoạt động sáng tạo nào, nó biểu hiện trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật có khả năng thực hiện. L. X. Vưgotxky nói “Nhất thiết mọi cái ở xung quanh ta và do bàn tay con người làm ra tất cả thế giới văn hóa, khác với thế giới tự nhiên – đều là sản phẩm của trí tưởng tượng con người và của hệ sáng tạo dựa trên cơ sở tưởng tượng đó”[45]. Tưởng tượng tham gia vào quá trình lao động của con người. Trong quá trình hoạt động của con người tưởng tượng cho phép con người nhìn thấy kết quả lao động trước khi bắt đầu, chính vì vậy mà tưởng tượng định hướng hoạt động. Đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi, tưởng tượng góp phần hình thành nhân cách ở trẻ. Nhà tâm lý học M. Birkinlit và A. Pêtropxki trong cuốn “Tưởng tượng và hiện thực” đã khẳng định vai trò của tưởng tượng trong việc hình thành nhân cách bình thường ở trẻ, nó giúp và cần thiết cho sự hình thành khả năng sáng tạo, nhờ có tưởng tượng mà trẻ vượt qua trở ngại đến sự phát triển nhân cách. Tưởng tượng có vai trò to lớn trong quá trình tiếp thu và thể hiện tri thức mới. Nhờ có tưởng tượng dựa vào những kinh nghiệm đã có trẻ có thể hình dung những điều chưa từng biết đến trong quá trình lĩnh hội tri thức mới. Tưởng tượng vừa là kết quả của quá trình phát triển trí tuệ đồng thời nó cũng là điều kiện cần thiết cho sự phát triển nhận thức. Như vậy, việc phát triển tưởng tượng cho trẻ là một nội dung giáo dục cần thiết để chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông. Tưởng tượng của trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động ở trường mầm non. Một trong những hoạt động giúp cho việc phát triển khả năng tưởng tượng của trẻ là hoạt đông vui chơi, cụ thể hơn là trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ). Trò chơi ĐVTCĐ là mô phỏng lại các hoạt động và các mối quan hệ của người lớn trong xã hội bằng cách nhập vào (đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ. Bằng việc tham gia trò chơi, trẻ “tiếp xúc một cách độc đáo với xã hội người lớn” [37], ở chúng hình thành tính chủ định của quá trình tâm lý, rèn luyện những phẩm chất ý chí, phát triển tưởng tượng, tư duy…qua đó hình thành nền móng của nhân cách. Bởi vậy, tổ chức, hướng dẫn chơi ĐVTCĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với trẻ mẫu giáo, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) - giai đoạn chuẩn bị bước vào trường phổ thông. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng tưởng tượng cho trẻ 5-6 tuổi” với mong muốn sẽ đưa ra một vài ý kiến đóng góp vào kho tàng lý luận và thực tiễn trong việc tìm hiểu và phát triển khả năng tưởng tượng cho trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cở sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng quy trình sử dụng trò chơi ĐVTCĐ phát triển khả năng tưởng tượng cho trẻ 5-6 tuổi, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ trước tuổi học.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LQVMTXQ Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề TGTG của trẻ. Tri giác thị giác đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức thế giới của con ngƣời. Tri giác thị giác giúp con ngƣời nhận biết và phân biệt đƣợc các thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng xung quanh. Nó tạo nên cơ sở định hƣớng cho các hoạt động của con ngƣời trong hiện thực xung quanh. Đồng thời nó cũng giúp con ngƣời điều chỉnh đƣợc hành vi phù hợp với các thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng trong mối quan hệ khách quan của vật thể. Chính vì tri giác thị giác có ý nghĩa quan trọng với đời sống của con ngƣời và đặc biệt là đối với trẻ mầm non. Cho nên có rất nhiều công trình cả trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu về vấn đề này. 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Theo J. Piagiet ( nhà tâm lý học Thụy sĩ) cho rằng các cấu trúc giác động là nguồn gốc của những thao tác tƣ duy sau này. Trí tuệ của con ngƣời bắt đầu từ hành động biến đổi các đối tƣợng xung quanh sao cho tƣơng ứng với hiện thực. Để hiểu sự phát triển của trẻ em, cần phải xem xét sự tiến hóa của các tri giác của nó, sau khi nhắc lại cấu trúc và các sơ đồ cảm giác vận động. Tri giác là một trƣờng hợp riêng của những hoạt động giác động. Nhƣng tính chất riêng biệt của tri giác là ở chỗ nó cho thấy rõ mặt hình tƣợng của nhận thức về các hiện thực, còn hành động nói chung ( và đây là hành động cảm giác – vận động) về căn bản có tính thao tác và làm biến đổi cái hiện thực. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu do đó phải xác định vai trò của tri giác trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em, đặt trong mối quan hệ với vai trò của hành động và của các thao tác bắt nguồn từ hành động trong tiến trình nhập tâm và cấu trúc sau này. Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt độ ng làm quen với môi trường xung quanh 7 Nhà tâm lý học Liên xô L.X. Vƣgốtxky xuất phát từ quan điểm hệ thống. Ông cho rằng: Những cấu trúc cảm xúc là sản phẩm của sự phát triển, các cấu trúc này nằm trong nhân của mối liên hệ trung gian trong não và đƣợc hình thành trong suốt thời kỳ phát triển của cá thể dƣới ảnh hƣởng của giao tiếp ngôn ngữ với mọi ngƣời xung quanh và sự tiếp thu kinh nghiệm xã hội của từng con ngƣời. L.X. Vƣgốtxky đã nhấn mạnh việc hủy bỏ hệ thống tâm lý cũ và hình thành hệ thống tâm lý mới sẽ xuất hiện sự thay đổi cơ bản trong sự phát triển tri giác của đứa trẻ. Trong quá trình tri giác hiện tại những sửa đổi dựa trên cơ sở kinh nghiệm cũ và dựa trên những hình ảnh đã đƣợc hình thành đƣợc tiến hành. Và kết quả đạt đƣợc là xuất hiện thuộc tính quan trọng của tri giác nhƣ tính ổn định, tính không đổi tƣơng đối của kích thƣớc, hình dáng của các vật thể đƣợc tri giác. Ở mức độ phát triển cao bắt đầu có sự tiếp cận của tri giác với tƣ duy ngôn ngữ, xuất hiện những quá trình tri giác trí tuệ, tạo nên hệ thống tâm lý mới. Hệ thống này liên kết tri giác và tƣ duy thành một khối thống nhất gọi là quá trình tri giác lý trí và khái quát. Tri giác của trẻ mầm non liên quan chặt chẽ với tƣ duy cụ thể. Nhƣ vậy L.X. Vƣgốtxky đã nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ đối với tri giác. “ Những gì thƣờng đƣợc coi là tính chất tri giác tự nhiên của trẻ, trên thực tế hóa ra là đặc điểm ngôn ngữ của nó”.[tr 252, L.X. Vưgốtxky, Tuyển tập tâm lý học. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội, 1997]. Nhƣ vậy, theo quan điểm này thì ngôn ngữ không những là luôn đi kèm với tri giác của trẻ em mà nó còn tham gia tích cực vào quá trình tri giác của trẻ. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giúp quá trình tri giác của trẻ trở nên nhanh, trọn vẹn và chính xác hơn. Nhóm các nhà tâm lý học A.A.Xmiêcnop, A.N. Lêôngchep, X.LRubinxtên, B.M. Chiêplôp… tập trung nghiên cứu về sự phát triển tâm lý, ý thức và các quá trình nhận thức của con ngƣời. Nhóm các tác giả này xác định: “Tri giác – đó là sự phản ánh một cách trực quan – hình tượng những sự vật và hiện tượng của hiện thực đang trực tiếp tác động vào các cơ quan Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt độ ng làm quen với môi trường xung quanh 8 cảm giác với toàn bộ các thuộc tính và bộ phận khác nhau của sự vật hoặc hiện tượng đó”[Tr 115,Tâm lý học tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1974]. Qua đó ta thấy tri giác phát sinh do sự tác động trực tiếp của các sự vật vào các cơ quan cảm giác. Tri giác không những phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vât mà còn phản ánh những thuộc tính khác nhau của trong mối quan hệ tổng thể của chúng. Do sự kết hợp và ảnh hƣởng qua lại của các cảm giác khác nhau, nên chúng ta nhận biết đƣợc những thuộc tính không gian, thời gian, độ lớn, hình dạng, độ xa, độ nhanh và hƣớng chuyển động của sự vật. Tri giác bao giờ cũng đƣợc bổ xung và dựa vào những tri thức, kinh nghiệm đã có. Tri giác còn phụ thuộc vào đặc điểm của chủ thể tri giác. Tri giác phát sinh trên cơ sở hành động thực tiễn của con ngƣời và sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của họ. Do sự phát triển của xã hội, tri giác ngày càng trở nên đầy đủ và nhiều mặt hơn, ngày càng phản ánh các thuộc tính và quan hệ muôn màu, muôn vẻ của sự vật đúng đắn hơn và do đó ngày càng định hƣớng đúng đắn hơn cho con ngƣời trong thế giới bên ngoài. Theo giáo sƣ N.Đ. Lê-vi-tôp tác giả của cuốn “ Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm” thì tri giác của trẻ 2-3 tuổi có liên hệ mật thiết với hành động thực tế. Quá trình tri giác của trẻ ở lứa tuổi này có tính chất đứt đoạn và chƣa biết tổ chức tri giác theo một nhiệm vụ đề ra, còn trẻ em ở thời kỳ trƣớc tuổi đi học có thể tri giác theo kế hoạch nhất định. Cũng trong cuốn sách này tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa của sự tác động lẫn nhau giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai trong quá trình nhận thức cảm tính. Nếu tri giác sự vật mà không động não có thể dẫn đến tình trạng “ thấy cây mà không thấy rừng”, làm cho cả quá trình tri giác trở nên hời hợt. Khi phán đoán về sự vật mà mình tri giác chƣa thật đầy đủ và chính xác sẽ dẫn đến những giả định sai lầm, tùy tiện. Nhƣ vậy, tác giả đã cho thấy vai trò của quan trọng của những kinh nghiệm cũ , và ngôn ngữ trong quá trình tri giác. Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt độ ng làm quen với môi trường xung quanh 9 Các nhà tâm lý học A. H. Lêônchiep, X. L. Rubinstein, V.G. Ananhiev xuất phát từ quan điểm lịch sử khi nghiên cứu sự phát triển tâm lý đã khẳng định vai trò và ý nghĩa của việc nắm vững kinh nghiệm lịch sử - xã hội trong việc phát triển tâm lý con ngƣời nói chung và trong việc Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh

Đề tài Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi mong muốn xây dựng một số biện pháp nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh nhằm giúp trẻ hoàn thiện hơn quá trình nhận thức cảm tính, đồng thời giúp trẻ thuận lợi hơn khi đến trường phổ thông . 3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1.Đối tượng nghiên cứu Biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non. 3.2.Khách thể nghiên cứu -Quá trình tổ chức hoạt động làm quen với môi trường xung quanh cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 4.Nhiệm vụ nghiên cứu -Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề . -Tìm hiểu thực trạng khả năng tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi và thực trạng sử dụng biện pháp phát triển tri giác thị giác ở trường mầm non trong hoạt động LQVMTXQ. -Xây dựng và thực nghiệm một số biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non. 5.Giả thuyết khoa học Hoạt động làm quen với môi trường xung quanh có nhiều cơ hội để phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ. Nếu xây dựng được những biện pháp phát triển tri giác thị giác trong hoạt động cho trẻ 5-6 tuổi LQVMTXQ thì sẽ giúp khả năng tri giác thị giác của trẻ tốt hơn. 6.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu -Tổ chức thực nghiệm ở trường mầm non Sơn Ca trên địa bàn Thành Phố phan Thiết- Bình Thuận. 7.Phương pháp nghiên cứu 7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng đổi mới để tìm hiểu các vấn đề tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, trên cơ sở đó xây dựng một số biện pháp nhằm phát triển tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi. 7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1.Phương pháp quan sát Quan sát biểu hiện khả năng tri giác thi giác của trẻ trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh. Quan sát và đánh giá những biện pháp mà giáo viên sử dụng trong quá trình tổ chức làm quen môi trường xung quanh nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ cũng như quan sát tất cả quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen môi trường xung quanh ở trường mầm non. 7.2.2.Phương pháp đàm thoại Đàm thoại với giáo viên nhằm phát hiện thực trạng sử dụng biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh. Trao đổi với giáo viên để nắm được đặc điểm phát triển tâm lý (trong đó chú trọng đến khả năng tri giác thị giác) của trẻ. 7.2.3.Phương pháp điều tra bằng anket (phiếu hỏi) Sử dụng một hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đối tượng điều tra là những giáo viên đã và đang dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Hoạ Mi- Thành Phố Hồ Chí Minh và trường mầm non Sơn Ca- Tỉnh Bình thuận. 7.2.4.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 7.2.5.1.Thực nghiệm phát hiện Tổ chức khảo sát khả năng tri giác thị giác của trẻ 7.2.5.2. Thực nghiệm tác động Áp dụng và kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất 7.3.Nhóm phương pháp xử lý số liệu 7.3.1.Phương pháp thống kê toán học Sử dụng một số công thức toán thống kê để xử lý các số liệu thu thập được nhằm giúp cho đề tài có được kết quả tin cậy. 8.Những đóng góp của đề tài Nghiên cứu lý luận tri giác thị giác, các vấn đề về hoạt động khám phá môi trường xung quanh và việc phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non Chỉ ra thực trạng việc phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh trên hai trường mầm non Hoạ Mi- Thành Phố Hồ Chí Minh và trường mầm non Sơn Ca- Tỉnh Bình thuận Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường mầm non. NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LQVMTXQ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề TGTG của trẻ. Tri giác thị giác đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức thế giới của con người. Tri giác thị giác giúp con người nhận biết và phân biệt được các thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh. Nó tạo nên cơ sở định hướng cho các hoạt động của con người trong hiện thực xung quanh. Đồng thời nó cũng giúp con người điều chỉnh được hành vi phù hợp với các thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ khách quan của vật thể. Chính vì tri giác thị giác có ý nghĩa quan trọng với đời sống của con người và đặc biệt là đối với trẻ mầm non. Cho nên có rất nhiều công trình cả trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu về vấn đề này. 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Theo J. Piagiet ( nhà tâm lý học Thụy sĩ) cho rằng các cấu trúc giác động là nguồn gốc của những thao tác tư duy sau này. Trí tuệ của con người bắt đầu từ hành động biến đổi các đối tượng xung quanh sao cho tương ứng với hiện thực. Để hiểu sự phát triển của trẻ em, cần phải xem xét sự tiến hóa của các tri giác của nó, sau khi nhắc lại cấu trúc và các sơ đồ cảm giác vận động. Tri giác là một trường hợp riêng của những hoạt động giác động. Nhưng tính chất riêng biệt của tri giác là ở chỗ nó cho thấy rõ mặt hình tượng của nhận thức về các hiện thực, còn hành động nói chung ( và đây là hành động cảm giác – vận động) về căn bản có tính thao tác và làm biến đổi cái hiện thực. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu do đó phải xác định vai trò của tri giác trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em, đặt trong mối quan hệ với vai trò của hành động và của các thao tác bắt nguồn từ hành động trong tiến trình nhập tâm và cấu trúc sau này. Nhà tâm lý học Liên xô L.X. Vưgốtxky xuất phát từ quan điểm hệ thống. Ông cho rằng: Những cấu trúc cảm xúc là sản phẩm của sự phát triển, các cấu trúc này nằm trong nhân của mối liên hệ trung gian trong não và được hình thành trong suốt thời kỳ phát triển của cá thể dưới ảnh hưởng của giao tiếp ngôn ngữ với mọi người xung quanh và sự tiếp thu kinh nghiệm xã hội của từng con người. L.X. Vưgốtxky đã nhấn mạnh việc hủy bỏ hệ thống tâm lý cũ và hình thành hệ thống tâm lý mới sẽ xuất hiện sự thay đổi cơ bản trong sự phát triển tri giác của đứa trẻ. Trong quá trình tri giác hiện tại những sửa đổi dựa trên cơ sở kinh nghiệm cũ và dựa trên những hình ảnh đã được hình thành được tiến hành. Và kết quả đạt được là xuất hiện thuộc tính quan trọng của tri giác như tính ổn định, tính không đổi tương đối của kích thước, hình dáng của các vật thể được tri giác. Ở mức độ phát triển cao bắt đầu có sự tiếp cận của tri giác với tư duy ngôn ngữ, xuất hiện những quá trình tri giác trí tuệ, tạo nên hệ thống tâm lý mới. Hệ thống này liên kết tri giác và tư duy thành một khối thống
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS

II. NỘI DUNG1. Cơ sở lí luận để thực hiện đề tàiTrong xu thế giáo dục hiện nay Đảng, Nhà nước ta đã chỉ ra rằng: Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để phát triển con người. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Chính vì vậy giáo dục thực sự được coi là “Quốc sách hàng đầu” Mục tiêu giáo dục Mầm Non đến năm 2020: “Thực hiện chăm sóc, giáo dục có chất lượng trẻ em từ 0 – 5 tuổi để trẻ phát triển toàn diện về thể lực, tình cảm, trí tuệ, xã hội, hình thành nhân cách trẻ em Việt Nam, trên cơ sở xây dựng một đội ngủ giáo viên giỏi về chuyên môn cũng như tư vấn tại gia đình và các loại hình giáo dục Mầm non đa dạng, phong phú, tương ứng với một hệ thống cơ sở vật chất phù hợp, hướng tới đảm bảo công bằng cho mọi trẻ em”.Song song với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, sở giáo dục và đào tạo Đăk Lăk đã có văn bản chỉ đạo cho các huyện đưa chỉ tiêu cụ thể phù hợp với vùng miền, trong đó chú trọng chỉ tiêu và chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Đặc biệt ngành học Mầm Non huyện Krông Ana đã xây dựng được nhiều trường chuẩn quốc gia Trường tiên tiến xuất sắc với yêu cầu về chỉ tiêu huy động trẻ bán trú phải đạt 80 100%. Như vậy về chỉ tiêu huy động trẻ vào bán trú đã rất cụ thể, yêu cầu về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đã được đặt ngang tầm với công tác giáo dục. Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ xã Dur Kmăn, Nghị quyết HĐND xã khoá XVIII cũng đã chỉ rõ “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở cả 3 nhà trường, phát huy chất lượng trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc”Để thực hiện được nhiệm vụ của ngành, nhiệm vụ của địa phương giao cho như đã nói ở trên thì nhà trường phải tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:Tiếp tục công tác chăm sóc giáo dục trẻ, làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng mà vấn đề cốt lõi là: Làm sao để huy động phụ huynh gửi con vào bán trú đạt chỉ tiêu, yêu cầu của trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc. Để thực hiện các chỉ tiêu đó cũng như sự mong đợi của lãnh đạo các cấp và nhân dân trong toàn xã. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy: sự tăng tốc trong qua trình phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào mối liên quan chặt chẻ giửa dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe còn việc hình thành các kỹ năng vận động thô, vận động tinh, sự khéo léo và phối hợp các giác quan phụ thuộc rất nhiều vào môi trường GD cũng như quá trình tự rèn luyện của đứa trẻ có sự định hướng của người lớn. Cơ sở chính trị và và pháp lý: Ngay từ luật GD năm 1998, chúng ta thấy Đảng và nhà nước ta đã thực sự coi trọng GDMN, coi GDMN là nền móng then chốt chất lượng cho các bậc học tiếp theo. do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển GDMN giai đoạn 20012020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020 là xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học MN cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi đồng thời mục tiêu cụ thể là phải đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình MG lớn chuẩn bọ vào lớp 1. Quyết định 161.2002QĐTTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN cũng nêu rõ ưu tiên phát triển GDMN ở nơi có điều kiện khó khăn, các vùng nứi cao, vùng đồng bào dân tộc giảm sự chênh lệch về chất lượng giữa vùng khó khăn và các địa bàn thuận lợi khác 2. Thực trạng Trường Mẫu giáo Hoa Pơ Lang được thành lập năm 1996 thuộc xã Dur Kmăn; thuộc vùng đặc biệt khó khăn, được phong tặng xã Anh hùng Lực lượng vũ trang năm 2002; Đa số nhân dân là đồng bào DTTS; đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn. Chủ yếu là trồng cây lúa nước. Nhà trường gồm có 8 điểm học nằm rãi rác ở các thôn buôn Đặc điểm về đội ngũ cán bộ GVNV: Tổng số có 42 cán bộ GVNV, trong đó: BGH có 03 đc, GV có 34 đc, NV phục vụ có 5 đc. Số CBVC biên chế: 25; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: GV đứng lớp 100% đạt chuẩn, Trên chuẩn có 19 đc đạt 47,5%. Đặc điểm về CSVC: Có 17 lớp, bếp đảm bảo VSATTP, + Trang thiết bị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ còn thiếu thốn nhiều đồ dùng đồ chơi trong trường đảm bảo an toàn vệ sinh đẹp, được sắp xếp hợp lý. Đặc điểm về học sinh:+ Tổng số có 405 cháu 17 lớp. Trong đó: Nhà trẻ 4 nhóm: 42 trẻ, MG bé + nhỡ 4 lớp: 264 trẻ, MG lớn 7 lớp – 99 trẻ + Phụ huynh học sinh: Đa số có trình độ dân trí thấp, ủng hộ mọi hoạt động của nhà trường.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TẬP NGHIỆP VỤ SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐẾM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HĐNT - PHẦN 2

BÀI TẬP NGHIỆP VỤ SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐẾM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HĐNT - PHẦN 2

BÀI TẬP NGHIỆP VỤ SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐẾM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HĐNT - PHẦN 2 MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài: Việc hình thành và phát triển nhận thức cho trẻ về thế giới xung quanh là rất cần thiết, là nội dung quan trong mà các giáo viên, phu huynh thường quan tâm đến. Đặc biệt quan trọng hơn nữa là vấn đề hình thành biaểu tượng toán sơ đẳng ban đầu cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng, nhưng trong đó việc rèn kĩ năng đếm cho trẻ 5-6 tuổi cũng được giáo viên và phụ huynh đặc lên hàng đầu. Vì Hoạt động đếm là một hoạt động có ý nghĩa và cần thiết cho sự phát triển nhận thức về số lượng, số đếm cho trẻ sau này. Nhờ quá trình hoạt động đếm mà trẻ có có thể tính toán, so sánh, phân tích, tổng hợp… làm rõ được số lương các đối tương xung quanh trẻ là bao nhiêu? Bằng cách nào trẻ nhận biết được điều đó, bằng cách tiến hành thực hiện các hoạt động rèn kĩ năng đếm cho trẻ. Hoạt động đếm giữ vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức của trẻ. Việc dạy trẻ phép đếm giúp trẻ nhận biết dấu hiệu số lượng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh, trên cơ sở đó giúp trẻ nắm mối quan hệ số lượng của các sự vật, hiện tượng. Trong quá trình học đếm ở trẻ sẻ hình thành được các biểu tượng về con số, về mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền kề của dãy số tự nhiên. Tất cả các kiến thức, kỹ năng mà trẻ nắm được trong quá trình học đếm là cơ sở để trẻ học phép tính đại số ở trường tiểu học sau này, vì thế việc dạy đếm cho trẻ là rất cần thiết. Hơn nữa trẻ đang hoàn thiện dần nhân cách, các phẩm chất tâm lí và năng lực cá nhân thì việc dạy đếm cho trẻ càng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ, phát triển tư duy, góp phần phát triển toàn diện nhân cách và chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một.
Xem thêm

Đọc thêm

Day con kieu nhat giai doan 0 tuoi

Day con kieu nhat giai doan 0 tuoi

Cuốn sách dạy con kiểu Nhật giai đoạn 0 tuổi là kiến thức quý báu được đúc rút từ những nhà nghiên cứu trẻ em của Nhật bản. Coi trọng việc phát triển bộ não của trẻ khi đang giống như là một tờ giấy trắng, tạo tiền đề cho việc phát triển trí nhớ và sự thông minh của trẻ sau này

Đọc thêm

SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi làm quen chữ cái

SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi làm quen chữ cái

Nói đến trẻ thơ ai cũng thấy được đầy ắp sự hồn nhiên , tươi tắn của trẻ, nó làm cho chúng ta thấy hạnh phúc ấm áp hơn nhiều . chính vì thế ai cũng thấy nâng niu gần gũi trẻ .là một giáo viên, tôi thực sự hạnh phúc khi công việc hàng ngày của mình được tiếp xúc với trẻ, được chia sẻ buồn vui , được dạy trẻ học , được thể hiện nhân cách nhẹ nhàng không bó buộc . Là một giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp chăm sóc và giảng dạy trong năm học vừa qua , tôi luôn cố gắng tìm tòi , học hỏi áp dụng mọi hình thức đổi mới nâng cao phương pháp trong quá trình giảng dạy . mục đích cho trẻ 5 tuổi Lqcc không chỉ nhằm cho trẻ biết được các mặt chữ cái để phát âm chuẩn khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú học tiếng mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ ứng dụng thích ứng với tập đọc , viết ở bậc học tiếp theo .làm quen với chữ cái không phải là môn học độc lập riêng mà là một phần , một bộ phận của phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi trong chương trình chăm sóc giáo dục . Vì vậy nó có ý nghĩa trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ rèn luyện kỹ năng nghe , nói và giúp trẻ phân biệt được các âm khó thông qua chữ cái . Cũng qua môn học này rèn luyện cho trẻ các thao tác trí tuệ và rèn luyện cho trẻ tinh thần thích hoạt động trí óc qua đó hình thành tính ham hiểu biết, thích khám phá những điều mới lạ trong quá trình làm quen chữ cái, ví dụ chữ cái nhằm nâng cao tiết học. Qua giờ học hình thành và rèn luyện cho trẻ khả năng tập chung chú ý có chủ định và sự hình thành nỗ lực chú ý để giải quyêt nhiệm vụ năm học, tập lắng nghe sự chỉ dẫn của cô giáo .Chính vì vậy tôi chọn đề tài : “một số biện nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi làm quen chữ cái”.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề