NGHE THUAT CUA KHO 4 BAI THO TAY TIEN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGHE THUAT CUA KHO 4 BAI THO TAY TIEN":

NGHỊ LUẬN BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

NGHỊ LUẬN BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

Bài 1: Có những ngày tháng không thể quên, cái gian khổ ác liệt không thể quên, cả cái hào hùng lãng mạn cũng không thể quên. May mắn thay, giữa những ngày tháng không thể quên ấy, lại có những bài thơ không thể quên, như Tây Tiến của Quang Dũng. Thật ra số phận của Tây Tiến cũng khá truân chuyên. Đã có lúc Tây Tiến được trích dẫn như một dẫn chứng để phê phán cái xu hướng gọi là “tiểu tư sản” trong thơ kháng chiến, một “đối chứng” để khẳng định những gì nên có trong thơ mới. Nhưng rồi Tây Tiến cuối cùng được nhớ lại như một kỷ niệm đẹp của kháng chiến, một tiếng thơ bi tráng của một nền thơ. Thành công đầu tiên của Quang Dũng là đã cọn cho bài thơ một thể thơ rất hợp: thể bảy chữ; nhưng không phải bảy chữ Đường luật mà là bảy chữ thể hành; mỗi đoạn thơ ăn theo một vần bằng, cứ một câu vần bằng lại một câu vần trắc. Điệu thơ ấy, cách ăn vần ấy, tạo cho bài thơ một nhạc điệu vừa cổ kính nghiêm trang, vừa phóng khoáng bay bổng, vừa trùng điệp như trải ra vô tận, điệu thơ ấy, lại cộng với cách dùng từ hơi cổ kính một chút của Quang Dũng, khiến cho bài thơ ngay khi vừa đọc lên, đã có một không khí vừa man mác bâng khuâng vừa lãng mạn hào hùng. Nếu Quang Dũng sử dụng một thể thơ khác kể cả thất ngôn tứ tuyệt trường thiên như ở “Mắt người Sơn Tây”, điệu thơ sẽ khác đi, không khí bài thơ cũng sẽ khác đi, sẽ buồn hơn, và sẽ không còn là Tây Tiến nữa. Nhưng đây không phải là vấn đề lựa chọn. Cảm hứng nghệ thuật của Quang Dũng, nhu cầu bên trong của nhà thơ, đã tìm đúng cái dạng hình phải có cho sự thổ lộ của mình, để cho Tây Tiến ra đời và cuộc sống đời đầy thăng trầm nhưng mãnh liệt của nó. Hình như có lúc nhan đề bài thơ gồm những ba chữ kia: Nhớ Tây Tiến. Cái nhan đề hơi thừa nhưng lại rõ nghĩa. Tây Tiến là một cảm hứng bắt nguồn từ kỷ niệm, kỷ niệm về một đoạn đời chiến đấu, về một miền đất, kỷ niệm về những người đồng đội, cả những kỷ niệm khó quên về chính mình. Trong đời có những lúc nào đò, kỷ niệm bỗng sống dậy với những đường nét và sắc màu nóng bỏng để gợi lên những cảm xúc và hoài niệm vô tận. Kỷ niệm về Tây Tiến, về cuộc hành quân tiến về tây đánh giặc bên kia biên giới Việt Lào, đã bắt đầu như thế. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Nhớ chơi vơi! Hai tiếng chơi vơi dùng ở đây thì thật là đắc địa. Nhớ chơi vơi là nỗi nhớ không có hình, không có lượng, hình như nhẹ tênh tênh mà nặng vô cùng, bỏi không đo nó được, không cân nó được, chỉ biết nó lửng lơ, đầy ắp, mênh mông, nó ám ảnh tâm trí mình, nó da diết thương nhớ vô cùng. Nhớ chơi vơi, ít ai nói như thế, hình như trong ca dao cũng có và chỉ có một lần nỗi nhớ như thế xuất hiện: Ra về nhớ bạn chơi vơi… Trong bài thơ Quang Dũng, hai tiếng chơi vơi này lại ăn vần với tiếng “ơi” ở câu trên, nên càng bộc lộ hết sắc thái ngữ nghĩa và sức khơi gợi của chúng, càng trở nên như một tiếng vang tức thời bật lên từ cõi nhớ: nhớ Tây Tiến - nhớ ngay về rừng núi. Ấn tượng sâu đậm nhất về Tây Tiến là ấn tượng về rừng núi. Cả một đoạn thơ bắt đầu gồm 14 câu đều dành cho kỷ niệm về rừng núi một vùng bát ngát miền Tây, một vùng biên giới Việt Lào. Mà rừng núi mới dữ dội, khắc nghiệt làm sao: núi cao, dốc thẳm, sương dày, mưa mịt mù trời đất, thác gầm, cọp dữ… Miền Tây, ấy là nơi ngự trị của vẻ thâm u, hoang dã, những thách thức gớm ghê đặt ra trước con người; thiên nhiên ở đây luôn là một mối đe doạ, một sức mạnh sẵn sàng vồ lấy con người, nuốt chửng con người. Ta chớ quên rằng, vào cái mùa xuân Tây Tiến ấy, những người lính Tây Tiến như Quang Dũng chỉ vừa mới ra đi từ một mái trường hoặc một góc phố nào đó của Hà Nội – Thăng Long, nơi có Hồ Gươm, Tháp Bút, Tháp Nghiêng, có liễu Hồ Tây, có ba mươi sáu phố phường, có cả những cuộc chiến đấu trên chiến luỹ ácliệt mà vẫn pha nét hào hoa… ấn tượng trước miền Tây vì thế càng ghê gớm. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Từng chi tiết: sương, dốc, mây, mưa… đều được Quang Dũng đưa ra với ấn tượng mạnh nhất của nó. Sương thì dày đến “lấp” cả đoàn quan, dốc thì đã “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”, đã “nghìn thước lên cao” lại “nghìn thước xuống”, “cồn mây” thì heo hút và cao đến “súng ngửi trời”, mưa đến mức những ngôi nhà như bồng bềnh trên biển khơi… Những từ địa danh Sài Khao, MườngLát, Pha Luông, Mường Hịch xa lạ càng làm tăng cái ấn tượng xa ngái, hoang sơ lên một bậc nữa. Đọc mấy câu thơ sau đây: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống tự nhiên thấy rợn ngợp cả người, cứ như khi đọc mấy câu thơi trong “Thục đạo nan” của Lý Bạch: Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên! (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh), hoặc như khi đọc “Chinh phụ ngâm” mà đến câu: Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao… Tây Tiến là một cuộc hành quân cực kỳ gian khổ, gian khổ đến độ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Gian khổ tưởng như đã vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Những người gục xuống trên đường đi, gục xuống khi chân còn đi; chỉ khi “không bước nữa”, không thể bước nữa mới “gục lên súng mũ”, và thế là “bỏ quên đời” chứ không phải nằm xuống, ngã xuống. Cái ý thơ này dẫu buồn mà vẫn không bi đát, bởi vì con người ở đây vẫn vượt lên mình, dẫu không áp đảo được khó khăn nhưng không khuất phục, và cho đến khi chết, vẫn chết trong cuộc hành trình. Thật là một hình ảnh vừa bi vừa hùng. Nó đúng với cái không khí thời đại của đấtnước đang bước vào một cuộc chiến đấu mà mỗi người chỉ có hai tay không và một tấm lòng, phải đương đầu với súng đạn bom pháo của một bầy giặc mạnh, chiến đấu cho một lời thề thiêng liêng: “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi cuộc ra đi đều không hẹn ngày về, giống như lời một bài hát rất thịnh hành ngày đó: Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi Là có sá chi đâu ngày trở về… Đừng đưa những tiêu chuẩn tinh thần lạc quan cách mạng hay gì gì đó của những năm sau này mà đo đạc hay phê phán tinh thần của lớp người ngày ấy. Bởi vì ở họ, ở mỗi người chiến sĩ lên đường ngày ấy, đều có một hình ảnh và một tâm trạng của Kinh Kha sang Tần: Phong tiêu tiêu hề dịch thuỷ hàn Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn (Gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh tê Tráng sĩ một đi chừ, chẳng trở về) Ôi, cái lãng mạn đẹp đẽ của một thời! Đừng gọi đó là anh hùng cá nhân. Anh hùng thì có nhưng cá nhân thì không, bởi cái anh hùng ấy vô tư lắm. Trong đoạn thơ đầu này, nếu Quang Dũng có nói “quá lên” về cái ghê gớm của núi rừng (mà chắc là không quá) thì cũng chỉ là để nói lên cái hào hùng của con người chứ không phải để hạ thấpnó. Rồi giữa những kỷ niệm khổ và đau như thế, đoạn thơ bỗng khép lại bằng một kỷ niệm thật ấm áp, như một tiếng hát vui bỗng vút lên. Cái khổ cái buồn ấy thật đáng nhớ, vì thế cái ngọt bùi giữa bao nhiêu buồn khổ ấy lại càng đáng ghi nhớ hơn: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Điều vui gợi nhớ điều vui, Quang Dũng dành cả phần thứ hai gồm tám câu thơ cho những ký niệm vui về tình người xứ bạn: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Hình ảnh một cuộc liên hoan văn nghệ đã thành truyền thống trong cuộc kháng chiến chống Pháp được nhắc đến với ba nét tiêu biểu: đuốc hoa, điệu múa, tiếng khèn, những chi tiết có màu sắc tả thực mà vẫn có chút gì rất mộng, rất ảo. Hai tiếng “Kìa em” vừa ngỡ ngàng vừa trìu mến. Một nét chấm phá về nhân dân xứ bạn lại được định hình rất rõ trên tấm ảnh thời gian: Có nhớ dáng ngừơi trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Quang Dũng đã dành phần cuối của bài thơ cho hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, một hình ảnh mà tác giả muốn ca ngợi một cách khác thường sau khi đã nói đến những nét hoặc khác thường hoặc độc đáo của cuộc Tây Tiến gian khổ hào hùng. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu là dữ oai hùm Nếu cần sự độc đáo thì mấy từ “không mọc tóc” đã đạt đến chỗ tột cùng của độc đáo, nhưng như thế thì có chân thật không? Hình ảnh anh bộ đội có trở nên quái đản không? Không! Bởi vì, đây là hình ảnh anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời, hình ảnh như một dấu ấn không thể phai của những chàng trai từ thành phố, từ dưới các mái trường “xếp bút nghiên” bước vào chiến đấu, với một lòng yêu nước hoàn toàn vô tư và một chút lãng mạn của một khách chinh phu và một tráng sĩ “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”. Hình ảnh anh bộ đội trong cái năm đầu tiên của kháng chiến ấy có thể hoàn toàn thoát được hình ảnh người anh hùng mà văn thơ lãng mạn đã tạo nên, cả từ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn hay “Chí anh hùng” của Nguyễn Công Trứ. Mà đã có “đoàn binh không mọc tóc” thì tất nhiên cũng có được “quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Hơn nữa cái vẻ “dữ oai hùm” ấy cũng hoàn toàn tương xứng với một ý thơ của đoạn đầu: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến đã được dựng lên như thế thì thế tất phải có hai câu thơ này: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Mấy câu thơ sau thì thật buồn: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Đó là hình ảnh tất nhiên của một cuộc chiến tranh. Câu thơ đầu đọng lại như một bức tranh buồn thảm bởi tất cả bảy tiếng “rải rác – biên cương - mồ viễn xứ” đều hàm chứa một lượng thông tin lớn. Câu thơ này nếu đứng một mình thì ấn tượng bi thảm thật đến vô cùng. Nhưng từ cái bi thảm ấy, những câu thơ sau lại nâng nó lên thành bi tráng chứ không còn bi thảm nữa. Nó tráng bởi Quang Dũng đã nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của người đã chết: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Cách nhìn, cách phát biểu của nhà thơ cũng xuất phát từ cái tráng ấy. Riêng chi tiết thực này: người tử sĩ được mai táng trong chính quần áo của mình (không có cả chiếu), Quang Dũng đã nói khác đi. Nhà thơ không nói “áo” mà nói “áo bào”, và khi nói “áo bào” thì ta không còn nghĩ đến “áo” nữa mà nghĩ đến một cái gì đẹp và hùng tráng hơn rất nhiều. Nói “áo bào” không phải là thi vị hóa hay “tiểu tư sản”, “mộng rớt” như có người đã nói. Áo bào là đúng trong trường hợp này, vì đây là tấm áo mà người chiến sĩ đã mặc để chiến đấu cho đến phút chót của đời mình. Vả lại “áo bào” chứ không phải “chiến bào”. chiến bào thì nghe cổ quá, không phù hợp, còn “áo bào” thì lại rất mới, rất đúng. Một sự kết hợp ngẫu nhiên giữa hai từ áo và bào, coi như một đóng góp về từ vựng của Quang Dũng. Người tráng sĩ thời phong kiến coi “da ngựa bọc thây” là một niềm vinh quang thì với người lính bảo vệ đất nước ngày nay, “áo bào thay chiếu anh về đất” là một hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. Vả lại, Quang Dũng còn rất tinh tế khi dùng từ “về” : “anh về đất”; không từ nào có thể thay thế cho từ này được. “Về đất” không chỉ là được chôn xuống đất mà còn là hành động “tựu nghĩa” của người anh hùng đã hoàn thành nhiệm vụ, còn là niềm trân trọng, yêu thương của đất nước, của đồng đội. Bi tráng nhất là câu thơ cuối đoạn này: Sông Mã gầm lên khúc độc hành Buồn đấy nhưng sao mà hùng tráng quá! Quang Dũng kết thúc Tây Tiến bằng một khổ thơ tứ tuyệt: Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy. Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. “Không hẹn ước” rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”. Quang Dũng khẳng định cái ý nhiệm “nhất khứ bất phục hoàn” trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, cũng là cái ý niệm chung cả một thời kỳ, một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu nhất, bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn, nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng. “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy. Không có cái thuở ấy thì sẽ không có bài thơ Tây Tiến; và tất nhiên không có cái hồn thơ, cái tài thơ của Quang Dũng thì cũng sẽ không có Tây Tiến. Bài 2: Lịch sử chín năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp đã viết nên một thiên vàng chói lọi. Trên mảnh đất màu mỡ là cuộc kháng chiến, văn học giai đoạn này cũng thể hiện hết sức thành công hình tượng người chiến sĩ, người lính cầm súng diệt giặc, anh bộ đội Cụ Hồ. Tiêu biểu hơn cả là vẻ đẹp của hình tượng người lính trong bài “ Tây Tiến” của Quang Dũng. Bằng bút pháp lãng mạn, trên cơ sở nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến da diết, nơi Quang Dũng cùng đồng đội sống chết bên nhau. Những câu thơ nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi”sĩ Tây Tiến phải vượt qua. Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ láy: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao”và “ ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ. Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.
Xem thêm

5 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 1 NĂM 2013 - CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 1 NĂM 2013 - CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU KHÍ ĐÔNG ĐÔ

- Khoan tien ling von cho Cong ty Co phan Hoang Lien dugc thuc hi$n tren ca so* Bien ban thoa thuan hop tacdau tu xay dung Dyr an "Cao 6c van phong v£ chung or cao tang" ky giua Cong ty va Cong ty Co phan HoangLien ngay 29 thang 11 nam 2007. Theo Bien ban thoa thuan nay, Cong ty ung cho Cong ty C6 phan Hoang Lienvoi so tien la 7 ty dong de thuc hien cac thu tuc chuan bi dau tu va khoan tien umg truoc nay se dugc tinh vaovon gop cua Cong ty sau khi hoan thanh giai doan chuan bi dau tu.- Khoan tien gop v6n theo HD s6 20/2010/BCC/KT-PIVLS ngay 08/6/2010 hop tac dau tu du an "Khu chung cuHuynh Tan Phat" tai s6 1351 duong Huynh Tan Phat, qu$n 7, TP HCM vai ty le 8% t6ng du an.- Khoan tien gop v6n theo HD s6 20/2010/HDGV-BMM ngay 24/3/2010 v& HD s6 117/2010/HDGV ngay30/3/2010 gop vdn dau tu du an "Khu nha a cao cap BMM" tai Phucmg Phuc La, Ha Dong, Ha noi. Theo do,quyen Igi dugc huong sau khi du an hoan thanh la quyen mua san can ho tai chung cu.- Khoan tien gop v6n theo HD s6 01/PVFC Land-VD ngay 15/7/2010 gop v6n hgp tac kinh doanh dau tu du an" T6 hop van phong, thuong mai va chung cu cao cap Golden Palace" tai xa ml Tri, Huyen Tu Lien, Ha Noi.Theo do, quyen Igi dugc huong sau khi du an hoan thanh la san pham san kinh doanh can ho.- Khoan tien gop v6n theo HD s6 2607/HD-IMICO-PVFC Land vk viec gop v6n dau tu du an "Khu chung cucao cap, dich vu h§n hop - Khu do thi Nam An Khanh" tai xa An Khanh, Huyen Hoai Due, Ha Noi. Theo do,phuong thuc xac dinh ket qua tren san pham, Igi ich cua du an mang lai; phirong thuc phan chia san pham theoty le von gop.- Khoan tiSn gop v6n dl thirc hien dau tu vao du an "Dau tu ha tang khu do thi sinh thai va dich vu Cuu Long" theo Hopdong hop tac kinh doanh s6 60/2010/HBHTKD/PVC5-PVFC Land ngay 26 thing 11 nam 2010 ky giua Cong ty va Cong tyC6 phan Dau tu va Xay lap Dau khi Hoa Binh. Theo noi dung hop dong, Cong ty tien hanh dau tu vao du an va khi du anhoan thanh Cong ty duac phln chia san pham, loi nhuan va cung chiu rui ro theo ty le von gop.- Khoan tien gop von thuc hien dau tu vao du an "Dragon City" theo Hop dong hop tac kinh doanh so14/2010.HDHTKD/PL-PVFC Land ngay 29 thang 3 nam 2010 ky giua Cong ty va Cong ty C6 phan Dia 6c PhuLong. Theo noi dung hop d6ng, Cong ty tien hanh dau tu vao du an va khi du an hoan thanh Cong ty dugc phanchia san pham, Igi nhuan va cung chiu rui ro theo ty le v6n gop.- Khoan tien gop v6n theo HD hop tac dau tir s6 0211/2010/HDHTKD v6 viec gop v6n hop tac kinh doanh duan "Dolphin Plaza" tai s6 28 Tran Binh, My Dinh, Ha Noi. Theo do, quyen Igi dugc huong la Igi nhuan tu du anva quyen ban san pham cua du an theo ty le v6n gop.14-Chi phitratruocdai han
Xem thêm

21 Đọc thêm

QUAN DIEM CUA HO CHI MINH VE VAN HOA NGHE THUAT

QUAN DIEM CUA HO CHI MINH VE VAN HOA NGHE THUAT

PHẦN 1. MỞ ĐẦULí do chọn đề tàiVăn hóa, một định nghĩa luôn gắn liền cùng một quốc gia, dân tộc. Là đặc điểm biểu trưng, là cái riêng có được đúc kết bằng cả máu và hoa song hành cùng tiến trình tồn tại của quốc gia, dân tộc ấy. Và 4000 năm tồn tại của đất nước, con người Việt Nam, lịch sử đã, đang ghi nhận sự hiện diện của một kho tàng văn hóa được đắp xây từ thuở Hồng hoang mở cỏi đến thời đại Hồ Chí Minh. Trong kho tàng ấy, văn hóa đời sống dường như là mảng sống động nhất vì chính nó là cái hồn của văn hóa Việt Nam, hiện hiện trong cái cốt cách đã tạo nên hai tiếng Việt Nam. Nhưng, trước một thế giới phẳng, khi xu hướng hòa bình, hữu nghị, giao lưu hợp tác được đề cao hơn cả thì những con người tạo và giữ cái hồn của văn hóa Việt đứng trước một thách thức lớn khi làn sống lớn từ bên ngoài lãnh thổ tràng vào một cách tự do buộc chúng ta là những người chọn lọc. Tốt và xấu, giữ hay trừ, bài toán đặc ra phải làm sao tiếp thu nền văn hóa tiên tiến của loài người tiến bộ mà vẫn giữ gìn, phát huy được giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc, đồng thời bài trừ những mầm mống độc hại, tàn tích, hủ tục còn tồn động. Để giải quyết bài toán đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống và thực tiển văn hóa đời sống ở nước ta hiện nay trong quá trình học tập và nghiên cứu môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Xem thêm

26 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT QUÝ 1 NĂM 2014 TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG NHIỆT ĐIỆN GIA LAI

BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT QUÝ 1 NĂM 2014 TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG NHIỆT ĐIỆN GIA LAI

nim giua boi cac cd d6ng cia Cong ty mg va dudc trinh bay d muc rieng tren b6o ciio ket qudhoat dong kinh cjcanh hop nhdt gifra ni6n do va dudc trirlh bay rieng bi€t voi phan vdn ch0 sd hpucCracdc cd dOng cua COng ty me trong phbn von ch0 sd hrfu tren bdng can ddi kd todn hdp nha't gi0a niend0.2. Ti6n va tudng duong tibn.Tien bao gbm: Ti6n mdt , tiOn grti ngan hang va tibn dang chuydn.Cdc khodn tuong duong tien la cdc khodn ddu tir ngSn han co thoi han thu hbi hoac ddo han khongqud 3 thdng kb tr-t ngay mua, co khd nang chuydn ddi de dang thanh mot luong tibn xdc dinh va khongco nhieu r[ri ro irong chuydn ddi thanh ti6n.Cdc nghiep vu phdt sinh bang ngoai te drroc chuydn thdrnh dbng Vi6t Nam theo ty gia tai thoi didmph6t sinh nghiOp vu. Khodn chdnh lOch ty gia clo vlec chuydn ddi ngoai te dudc ghi nhAn trorrg bdo cdoket qud hoat dong kinh doanh.3. Hdng tbn kho.Hdng tbn kho dtldc xiic dinh tren co sd gia goc. Gia goc hang tbn kho bao gbm chi phi mua, chi phiche bien va cdc chi phi li6n quan tru'c tiep khac phat sinh dd co duoc hang tbn kho d dia didm va trangthdi hien tai. Giai tri thuan co thd thuc hi6n ld gia ban Lrdc tinh tru chi plrf u'oc tinh dd hoan thanh hangtbn kho va chi phi Ltdc tinh chn thi6t clro viec tieu thu chung.Gia goc hang tbn kho dt/oc tinh iheo phUdng phap binh qudn gia quyen va hoach todn theo phUdngphap ke khai thLlOng xuyen.DLr phong gidm gia hang tbn kho dLrdc
Xem thêm

21 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 2 NĂM 2012 - CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN BẾN TRE

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 2 NĂM 2012 - CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN BẾN TRE

- Phftn gia tri moo ho~c thanh Iy duQ'c thanh toan b~ng ti€n vacac khoan tuang duang ti€n- S6 ti€n va cac khoan tuang duang ti€n th\lc co trong cong tycon ho~c dan vi kinh doanh khac duQ'c mua ho~c thanh ly;- PhAn gia tri tai san (T6ng hQ'P theo timg lo~i tai san) va nQ'phai tra khong phai la ti€n va cac khoan tuang duang ti€ntrong cong ty con ho~c dan vi kinh doanh khac duQ'c muaho~c thanh I' tron k'.Trinh baia tM va I' do cua cac khoan tien va tuan duan5.361.090.323Nam truacII~ien l~ ~o doanAhn~hi~p nam gill' nhung khong duqc sir d\mg3- Thongt1nve cac ben hen quan:...................................................................................4- Trinh bay tai san, doanh thu, k6t qua kinh doanh theo bQ pMn (theo IInh V1,l'Ckinh doanh ho~c khu V1,I'Cdia ly) theo quy dinh cua Chuftn m1,l'ck6 toan s6 28 "Bao cao bQ ph~n"(2):. ........................5- Thong tin so sanh (nhUng thay d6i v~ thong tin trong bao cao!Ai chinh cua cac nien dQ k6 toan truac):................................................................................................................K~ toaD trU'011g(Ky, hQ ten)
Xem thêm

17 Đọc thêm

Đọc hiểu bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ “TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG

I. Tìm hiểu chung 1. Tiểu dẫn a. Tác giả * Tác giả  Sinh năm 1921 và mất 1988. Tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Bút danh là Quang Dũng. Quê ở Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây.- Xuất thân từ một gia đình nho học * Quá trình trưởng thành- Học đến bậc trung học, sau cách mạng Tháng tám 1945 nhập ngũ- Năm 1954, làm biên tập viên ở NXB Văn học- Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc.- Nhưng trước hết, Quang Dũng là một nhà thơ – một hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa. Đặc biệt khi ông viết về người lính.- Những tác phẩm chính: Mây đầu ô (1996). Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. b. Bài thơ Tây tiến - Tây tiến là tên một đơn vị chủ lực, được thành lập đầu năm 1947. Đơn vị bao gồm những thanh niên Hà Nội, lao động chân tay và giới trí thức, QD cũng trong đoàn quân ấy. Nhiệm vụ của đơn vị là hành quân lên phía Tây thuộc biên giới Việt – Lào, giữ vững vùng biên cương, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến ở chiến trường Điện Biên. Địa bàn hoạt động của Tây Tiến khá rộng, bao gồm tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, kéo sang Sầm Nưa (Lào), về tới sông Mã (Thanh Hoá). Cơ sở vật chất thiếu thốn, địa bàn phức tạp, bệnh sổt rét rừng hoành hành. Nhưng người lính Tây Tiến vẫn vượt qua. - Năm 1948 đơn vị Tây Tiến giải thể, thành lập trung đoàn 52. Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị, Quang Dũng nhớ đồng đội cũ. Tại Phù Lưu Chanh một làng thuộc tỉnh Hà Đông, Quang Dũng đã viết bài thơ này. Những ngày tháng cùng đơn vị hành quân chiến đấu, vượt qua những gian nan, thử thách, biết bao đồng đội đã ngã xuống ở nơi biên cương. Nỗi nhớ da diết, tình cảm đồng đội đã thôi thúc Quang Dũng. Ông đã viết bài thơ trong hoàn cảnh ấy. Bài thơ có tiêu đề Nhớ Tây Tiến. Năm 1975 khi cho in lại, Quang Dũng đặt tên cho bài thơ là Tây Tiến. Bài thơ rút trong tập Mây đầu ô. - Mục đích sáng tác bài thơ là ghi lại những kỉ niệm một thời của những người lính Tây Tiến. Đó là những ngày hành quân chiến đấu gian khổ trong địa bàn dốc cao, vực thẳm, bệnh sốt rét rừng hoành hành. Nhiều đồng đội đã hi sinh. Mặt khác bài thơ khắc hoạ người lính với tinh thần lạc quan, chiến đấu dũng cảm với lí tưởng “chiến trường đi chẳng tiếc trời xanh”. Bài thơ cũng ghi lại những kỉ niệm đẹp về tinh thần và cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ. Có nhiều bài thơ viết về anh bộ đội Cụ Hồ thời chống Pháp, chống Mĩ. Nhưng với bài Tây Tiến đã để lại những cảm nhận đẹp trong lòng người đọc về người lính một thời hào hùng, hào hoa và bi tráng. - Bài thơ miêu tả nỗi nhớ da diết của tác giả về đồng đội trong những chặng đường hành quân chiến đấu gian khổ, đầy thử thách hi sinh trên cái nền của thiên nhiên Tây Bắc, Bắc Bộ hùng vĩ, dữ dội. Đồng thời thể hiện những kỉ niệm đẹp về tình quân dân và khắc sâu lí tưởng chiến đấu của người lính Tây Tiến - Bài thơ chia làm 3 đoạn: + Đoạn một từ đầu đến “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Ý đoạn này là nỗi nhớ của tác giả về cuộc hành quân, chiến đấu gian khổ của người lính Tây Tiến trên cái nền của thiên nhiên Tây Bắc, Bắc Bộ vừa hùng vĩ, vừa dằn dữ.+ Đoạn hai tiếp đó đến “Khúc độc hành”. Nhớ lại những đêm liên hoan đổt lửa trại, tình cảm quân dân trên cái nền thơ mộng của núi rừng+ Đoạn ba: còn lại. Khắc hoạ chân dung người lính Tây Tiến. Sự hi sinh mang đầy chất bi tráng và khắc sâu lí tưởng chiến đấu của người lính Tây Tiến. - Cảm hứng chính của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Những người lính Tây Tiến phần lớn là những người Hà Nội mang đậm chất hào hoa. Hồn thơ Quang Dũng cũng thế. Đó là chất lãng mạn của những chàng trai kinh thành. + Khung cảnh núi rừng miền Tây Bắc, Bắc Bộ tuy dữ dội ác liệt nhưng cũng đầy chất thơ mộng, trữ tình, các chiến sĩ Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn của những những chiến sĩ “vung gươm ra xa trường”. Hồn thơ vốn dĩ lãng mạn của Quang Dũng bắt gặp khung cảnh thiên nhiên này tất yếu thể hiện cảm hứng lãng mạn. + Chiến trường ác liệt, hoang vu nhiều thú dữ, bệnh sổt rét rừng gây nhiều tử vong. Đó là hiện thực khốc liệt của cuộc chiến, là cái bi. Quang Dũng không lẫn tránh cái bi nhưng lại mang đến âm hưởng hào hùng để bật lên thành chất bi tráng. Cả lớp trẻ thuộc đồng đội của Quang Dũng mang sẵn trong lòng bầu máu nóng “Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, “một đi không trở về”, “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “chưa hết giặc là ta chưa về”. Lòng yêu nước như một luồng gió thổi vào tâm hồn của họ làm cho người lính Tây Tiến trở thành hào hùng rực rỡ. “Bài thơ này đã được khí phách của cả thời đại ùa vào chấp cánh” (Đọc lại Mây dầu ô, Văn Long) - Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau để làm nên linh hồn, sắc diện của bài thơ. - Trọng tâm bài thơ là thiên nhiên miền Tây Bắc, Bắc Bộ dằn dữ và thơ mộng làm nền để chân dung người lính được khắc hoạ với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa và khắc sâu lí tưởng chiến đấu. II. Đọc hiểu văn bản 1. Mạch cảm xúc - Mạch cảm xúc của bài thơ bắt đầu từ nổi nhớ. Đó là nỗi nhớ đồng đội: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi - Sông Mã, Tây Tiến là tên gọi cụ thể. Chắc hẳn cũng gợi nhớ về những năm tháng, miền đất, có sông, có rừng, cảm xúc của toàn bộ bài thơ. Sông Mã đại diện cho vùng đất miền Tây. Hai hình tượng song song kết đọng nỗi nhớ. Đó là miền Tây Bắc, Bắc Bộ và người lính Tây Tiến. Nỗi nhớ ấy không bình thường: “Nhớ chơi vơi”. Hai tiếng “chơi vơi” tái hiện kí ức lúc đậm, lúc nhạt. Nó bồng bềnh khó tả.Có lúc nó chợt đến bằng hình ảnh vừa sống động, vừa lung linh. - Từ nỗi nhớ mở đầu, mạch cảm xúc tái hiện lại cuộc hành quân chiến đấu với những thử thách, gian khổ, hi sinh và cả tình quân dân thắm thiết. Kế đó là nỗi nhớ về những đêm liên hoan và một vùng Châu Mộc đầy thơ mộng. Khung cảnh thiên nhiên ấy làm nổi bật hình ảnh người lính với những cảm hứng lãng mạn anh hùng, nét hào hoa của những chàng trai Hà Nội với tâm hồn thơ mộng và đậm chất bi tráng. Nỗi nhớ là yếu tố liên kết ý thơ. - Nỗi nhớ gọi về, dựng lên trong tâm trạng nhân vật trữ tình bao hình ảnh, những kỉ niệm không kém phần sâu sắc về một thời đẹp đẽ, hào hùng của tuổi trẻ. Nỗi nhớ đã tạo nên cảm xúc mãnh liệt. Thơ hay là thơ tạo ra cảm xúc ấy. 2. Nổi nhớ đã tạc lên bức chân dung của người lính Tây Tiến a. Giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội- Câu thơ 3, 4 gợi cho ta nhận thức được những địa danh tên đất, tên làng. Đó là Sài Khao, Mường Lát, Đỉnh Sài Khao bốn mùa mây phủ. Sài khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơi Sài Khao, Mường Lát mang vẻ hấp dẫn của xứ lạ. Câu thơ diễn tả vẻ đẹp huyền ảo. Đoàn quân đi trên đỉnh núi cao mù sương và dừng chân ở những bản làng, với gió núi hoa rừng… đầy lãng mạn. Nổi gian khổ vì thế cũng vơi đi. Mặt khác trong 14 âm tiết chỉ có 3 âm tiết là thanh trắc. 11 thanh bằng tạo âm hưởng đều đều, lan toả, lung linh, huyền ảo trong nỗi nhớ. Người đọc chỉ nhận ra núi, bản làng, hoa và sương khói bàng bạc. Nỗi vất vả mệt mỏi dường như bị lùi đi. Người lính Tây Tiến hiện lên giứa thiên nhiên hùng vĩ. - Nỗi nhớ như vượt ra trạng thái lung linh, mờ ảo, chơi vơi để làm hiện lên rõ nét cuộc hành quân chiến đấu đầy gian khổ thử thách và hi sinh: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm….Mai Châu mùa em thơm nếp xôi - Cuộc hành quân đi qua núi cao vực thẳm. Đường lên quanh co, uốn khúc, lên cao mãi. Đường lên cao bao nhiêu lại xuống bấy nhiêu. Đặc biệt đường hành quân qua rừng thiêng, nước độc, đầy thú dữ: “Chiều chiều oai linh… người”. Có thể nhận ra thiên nhiên miền Tây Bắc Bắc Bộ không chỉ hùng vĩ mà dữ dội. Từ đó càng thấu nỗi vất vả, gian khổ của người lính Tây Tiến biết chừng nào. - Đó là nghệ thuật tạo hình và phối hợp thanh điệu. + Hình ảnh đèo dốc, vực thẳm gợi sự khó nhọc, gian khổ nhưng vẫn tìm thấy niềm vui tinh nghịch của người lính: “Súng ngửi trời”. Lúc này, người lính đã vượt lên những đỉnh núi cao, súng chạm mây trời. Lạc quan lắm. Mặt khác “Ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống” gợi ra một thực tế lên dốc khó hơn xuống dốc. Hình ảnh “Gục lên súng bỏ quên đời” không hề nói tới cái chết, coi cái chết nhẹ nhàng như giấc ngủ. Vả lại “bỏ quên đời” chứ không phải là chết. Cái bi thảm bị lút đi, để cái tráng, cái bi hùng nổi lên. + Sự phối âm cũng là một nghệ thuật độc đáo của đoạn thơ. Câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, bảy tiếng có tới năm tiếng thanh trắc. Sự phối hợp âm thanh này nhằm diễn tả sự khó nhọc của người lính Tây Tiến hơn là diễn tả dốc cao, vực thẳm. Đáng lưu ý là câu thơ “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ toàn vần bằng diễn tả âm thanh của những trận mưa rừng đều đều không ngớt. Mưa ở một không gian rộng, xa dưới chân núi trắng trời mà đoàn quân Tây Tiến hành quân trong gió núi, mưa rừng. Sự tạo hình phổi hợp âm thanh đem đến một không gian vừa có chiều cao, bề rộng, độ sâu của thiên nhiên miền Tây Bắc Bắc Bộ vừa hùng vĩ, vừa dằn dữ. Vượt lên tất cả là hình ảnh người lính Tây Tiến bất chấp gian khổ, vững bước trên đường hành quân mặc dù cái chết lúc nào cũng rình rập ập tới. - Hai câu thơ cuối đoạn:Nhớ ai Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi Đây là điểm đến, điểm hẹn của cuộc hành quân. Người lính Tây Tiến sau chặng đường gian khổ đã dừng lại, tạm nghỉ chân ở một bản làng nào đó thuộc đất Mai Châu. Những bữa cơm đơn giản giữa rừng, hương vị ngọt ngào của nắm xôi em trao để tình quân dân nặng hơn tình cá nước. Câu thơ cuối đoạn gồm bảy tiếng chỉ có một thanh trắc. Nó nhẹ nhàng gợi cảm giác vương vấn lan toả trong tâm hồn người đọc, người nghe. Nó bắc cầu cho mạch cảm xúc ở những câu thơ tiếp. b. Người lính Tây Tiến giữa khung cảnh núi rừng thơ mộng- Có hai hình ảnh đáng chú ý: + Một là cuộc liên hoan đốt lửa trại+ Hai là hình ảnh người chiến sĩ giao liên trên dòng sông thuộc đất Châu Mộc một chiều sương. Để từ đó nhận ra hình ảnh người lính Tây Tiến. - Đây là cảnh đêm liên hoan: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa…..Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Trong ánh sáng của đuốc hoa (hoa chúc) cảnh vật trở nên rực rỡ, lung linh. Các cô gái trong bộ xiêm rực rỡ vẫn giữ được dáng điệu e ấp, vẻ đẹp riêng của người con gái dẻo cao. Bút pháp lãng mạn tìm đến những người liên tưởng giúp người đọc nhận ra niềm vui tràn ngập, tình tứ qua từ ngữ (đuốc hoa, em, nàng e ấp). Ta như thấy anh bộ đội Tây Tiến nắm tay các cô gái và thướt tha trong vũ điệu. Ta như thấy các cô gái dân tộc nở nụ cười tươi, đôi mắt long lanh trong “man điệu”. Tất cả càng sống động thêm trong tiếng khèn, những âm thanh nhạc cụ của một vùng sơn cước. Và trong không khí vui nhộn ấy có cả những chàng trai cô gái Lào với vũ điệu lâm tơi: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Đâu chỉ chiến đấu dũng cảm chịu nhiều gian nan thiếu thốn, vượt qua thử thách hi sinh, người lính Tây Tiến bộc lộ niềm vui, vẻ đẹp tâm hồn trong những đêm liên hoan như thế. Ta bỗng liên tưởng tới câu thơ của Tố Hữu trong bài Nước non ngàn dặm: Những chàng lính trẻ măng tơNgêu ngao gõ bài hát chờ cơm sôi Tâm hồn người lính là vậy đấy đâu chỉ thấy ở chiến sĩ Tây Tiến. - Đó là bức tranh thiên nhiên đầy thơ mộng: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa - Cảnh vật như mờ đi trong chiều sương buông. Nó trở nên mềm mại và có hồn hơn nếu ta đặt nó bên cạnh dốc cao, vực thẳm. Những bông lau lay động trên hai bờ con sông, nó trở nên mềm mại và có hồn hơn nếu ta đặt nó bên cạnh dốc cao, vực thẳm. Những bông lau lay động trên hai bờ con suối. Một thứ cây man dại (mọc tự nhiên), mang đặc trưng của rừng núi phía bắc được hồn thơ người lính thổi vào. Bất giác ta nhớ lại thuở xa xưa Đinh Bộ Lĩnh lúc còn nhỏ đã từng lấy bông lau làm cờ để rồi trở thành ông vua dẹp loạn 12 xứ quân. Những bông lau mang hồn thơ lãng mạn đến muôn đời. - Nổi bật giữa thiên nhiên đầy thơ mộng ấy là hình ảnh người lính Tây Tiến trên con thuyền độc mộc (thuyền làm bằng một cây gỗ to), chèo thuyền cho các anh bộ đội là những người dân địa phương. Quang Dũng đã ghi lại trong thơ mình “dáng người”, với đôi mắt “đong đưa”. Ở đây có nhiều cách hiểu. Có người cho đó là “dáng người” thon thả cùng với nụ cười tươi như hoa nở với đôi mắt lúng liếng, “đong đưa” của cô gái chèo đò. Cũng có người cho những dáng người chắc khoẻ ngồi trên con thuyền độc mộc lướt nhanh trên dòng nước lũ, len lỏi bên những cây rừng, những đám hoa mọc hai bên bớ suối hẹp. Cũng có cách hiểu đó là “dáng người”, “hoa” và “đong đưa” tạo thêm một nét làm duyên cho bức tranh thiên nhiên. Chính nét đẹp ấy tô đậm thêm tâm hồn của người lính. Tâm hồn người lính đâu phải “khô như ngói” mà chan chứa ân tình và thơ mộng lãng mạn lắm. Câu thơ của Quang Dũng làm ta liên tưởng tới bài thơ Giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ mà Lê Anh Xuân ghi lại: Em ngủ vườn chưa xanh nắng thưaÊm êm dịu dịu dưới thên dừa Trong cuộc chiến tranh ác liệt ngày đánh Mĩ, bom đạn dội xuống bất kể lúc nào mà tâm hồn người lính vẫn yêu đời, lãng mạn đến thế. Trở lại bài thơ của Quang Dũng hắn ta cũng nhận ra tâm hồn của người lính Tây Tiến. - Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện ra đậm nét trong đoạn thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc….Sông mã gầm lên khúc độc hành Hai câu thơ đầu “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá giữ oai hùm” + “Đoàn binh” chứ không phải đoàn quân. Đoàn binh tạo ra âm vang mạnh mẽ hơn. Ba tiếng “không mọc tóc” gợi ra nét ngang tàng độc đáo. Cả câu thơ tạo hình ảnh hiên ngang, dữ dội, lẫm liệt của người lính Tây Tiến. Hình ảnh: + “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” tố đậm thêm nét kiêu hùng của người lính. Cảm hứng lãng mạn đầy chất tráng ca đã giúp Quang Dũng hoạ bức chân dung người lính Tây Tiến bằng những nét vẽ phi thường, độc đáo vượt lên mọi khổ ải thiếu thốn. Cuộc hành quân chiến đấu trong gian khổ ở rừng thẳm núi cao, người lính bị sốt rét đến xanh da, trọc tóc. Qua cảm hứng của Quang Dũng thì sự thật ấy không hề tỏ ra tiều tuỵ, ốm yếu, bệnh tật mà khoẻ khoắn, dữ dội đầy chất ngang tàng, bất chấp tất cả. Nếu đặt những câu thơ này bên cạnh những câu viết bằng bút pháp hiện thực, chúng ta sẽ thấy rõ: * Sốt run người vầng trán mướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váChân không giày thương nhau tay nắm lấy bàn tay.(Đồng chí – Chính Hữu) * Cuộc đời gió bụi pha xương máuĐói rét bao lần xé thịt daKhuôn mặt đã lên màu bệnh tậtĐâu còn tươi nữa những ngày hoa(Lê Cấm Sơn – Thôi Hữu) - Đó là nét đẹp hào hoa, lãng mạn, đầy thơ mộng của những chàng trai Hà Nội. + Hà Nội với những “dáng kiều thơm” vẫn hiện lên trong tâm tưởng người lính Tây Tiến với nỗi nhớ da diếtMắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Thơ ca kháng chiến nhất là kháng chiến chống Pháp ít nói về sự hi sinh, mà có nói cũng chỉ thoáng qua vài nét mờ nhạt. Các anh bộ đội hi sinh về tình cảm riêng, nén chặt trong lòng chờ ngày trở về. Cũng có bao lứa đôi không thành vì một trong hai người đã ngã xuống bởi viên đạn của kẻ thù qua các bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Núi đôi của Vũ Cao. Quang Dũng cũng nói về sự hi sinh ấy với nét hào hoa lãng mạn. Nhà thơ khắc sâu sự hi sinh bằng cảm hứng bi tráng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ…Sông Mã gầm lên khúc độc hành - Những nấm mồ chiến sĩ nằm rải rác ở biên cương nhân lên cảm xúc của sự bi thương. Chứng tỏ Quang Dũng không hề lảng tránh sự thật. Nhưng tinh thần, khí phách tuổi trẻ một thời đã tự nguyện “chẳng tiếc đời xanh”, vượt lên bất chấp cả cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống của mình cho Tổ quốc. Đây không chỉ là cảm nhận của thơ ca mà là dũng khí tinh thần, hành động của tuổi trẻ Việt Nam trên hành trình cứu nước. - Tình đồng đội thật cảm động. Người lính ngã xuống, đồng đội chỉ có thể khâm liệm thi hài bằng chính áo quần của họ. Điều kiện thiếu thôn biết làm sao! Hai tiếng “về đất” gợi tình gần gũi chân thật. Sống để chiến đấu giữ gìn tự do độc lập cho tổ quốc. Khi hi sinh người lính lại trở về đất mẹ yêu thương. Quang Dũng không đi theo hướng của đạo thành Gia Tô “con người sinh ra trong cát bụi lại trở về cát bụi” mà biểu hiện bằng xúc cảm trang trọng, thiêng liêng. Đoạn thơ có 28 chữ thì 13 chữ (gần một nửa) là từ Hán Việt. Cách sử dụng từ ngữ đã tạo nên sự tôn kính trang nghiêm. Đặc biệt âm hưởng của câu thơ có tiếng “gầm lên” của sông Mã. Phải chăng trong giờ phút li biệt những người con thân yêu đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ Quốc, cả non sông đang tấu lên khúc nhạc, cử hành khúc nhạc tiễn đưa. Quang Dũng đã gửi vào câu thơ một khúc bi tráng. 3. Khẳng định lí tưởng chiến đầu và tình cảm đồng đội- Bốn câu thơ cuối bài: Tây Tiến người đi không hẹn ước…Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi - Quang Dũng khẳng định tình cảm của mình với đồng đội. Nhà thơ nhớ về “Tây Tiến” là nhớ về tuổi trẻ một thời say mê, hào hùng. Đến lúc này (1948) mặc dù đã xa đơn vị, xa những người đồng đội thân yêu, xa miền Bắc Tổ quốc, Quang Dũng đã bộc lộ nỗi nhớ bằng sự khẳng định không bao giờ quên. - Mặt khác đoạn thơ kết bài thể hiện lí tưởng chiến đấu “một đi không về” của người lính. Họ ra đi chiến đấu không hẹn ngày trở về. Bởi “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi” và “chưa hết giặc là ta chưa về”. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

6 Đọc thêm

PHÂN TÍCH KHỔ ĐẦU BÀI THƠ TÂY TIẾN_BÀI 2

PHÂN TÍCH KHỔ ĐẦU BÀI THƠ TÂY TIẾN_BÀI 2

Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ, gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi… Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng hìn ”Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiSài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiDốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trờiNgàn thước lên cao ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ…Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ. Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến như sau: “Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.” Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ. Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn. Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ. Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc. Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian: Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây , mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh nhữngngười lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi. Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ. Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc. Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính , khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan thơ thứ hai. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích bài thơ ” Tây Tiến” của Quang Dũng

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ” TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG

 “Có một bài ca không bao giờ quên…”  Có một bài ca như thế. Cũng có những năm tháng không bao giờ quên, không phai mờ trong ký ức của nhiều thế hệ đã qua, hôm nay và mai sau. Đó chính là những ngày tháng kháng chiến chống Pháp, khi toàn dân tộc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với tất cả sức lực, niềm say mê. Chúng ta vừa qua nạn đói, vừa giành được độc lập thì thực dân Pháp trở lại xâm lược. Dấu ấn của nạn đói năm 45 vẫn còn, rất đậm, trong mỗi người Việt Nam. Tự do hay trở về cuộc đời cũ? Đấy là câu hỏi day dứt bao người. Theo tiếng gọi của tự do, những người nông dân, công nhân, học sinh, những người mẹ, người chị tham gia kháng chiến, tạo nên hào khí dân tộc của một thời đại.   Trong những năm tháng đáng nhớ ấy, văn học dù chưa dám nói là đã ghi lại trọn vẹn bộ mặt đất nước, nhưng cũng đã ghi lại được hào khí của một thời với hình ảnh bao người mà hình ảnh trung tâm là người chiến sỹ cụ Hồ. Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cũng ra đời trong hoàn cảnh chung đó.   Bài thơ sáng tác tại Phù Lưu Chanh năm 1948 khi Quang Dũng đã chuyển đơn vị. Nhưng những ngày tháng sống và chiến đấu ở đoàn quân Tây Tiến là những kỷ niệm khó quên nên nỗi nhớ Tây Tiến da diết, cồn cào trong lòng tác giả. Toàn bài thơ là một nỗi nhớ. Tác giả nhớ về cuộc sống gian khổ, nhớ về kỷ niệm những đêm liên hoan, về cái âm u hoang dã của rừng núi và in đậm nhất là nỗi nhớ của người lính Tây Tiến.    Ra đi kháng chiến khi còn là thanh niên, học sinh Hà Nội. Quang Dũng cũng như đồng đội tác giả trở thành người lính. Kỷ niệm làm người lính Tây Tiến đã xa mà lại gần, để khi trở lại, tác giả phải bật lên:                             Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!   Câu thơ kết thúc bằng dấu chấm than cùng với âm hưởng của vần ơi, tạo nên xúc cảm lớn. Hành ảnh đó là tiếng nói của Quang Dũng vang vọng dến đoàn quân Tây Tiến? Không! Đó là tiếng long của tác giả “Xa rồi Tây Tiến ơi” nhưng tấm lòng thì vẫn thiết tha lắm! Âm hưởng câu thơ có sức vọng làm cho tiếng lòng của Quang Dũng như xoáy sâu vào tâm hồn người đọc. Người đọc rung theo những xúc cảm do câu đầu mang lại để đến với nỗi nhớ Tây Tiến:                                               Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi     Nỗi nhớ mới lạ lùng làm sao? “Nhớ chơi vơi!” Hình như trong ca dao ta cũng bắt gặp: Ra về nhớ bạn chơi vơi   Nỗi nhớ “chơi vơi” là nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt đã diễn tả bằng lời. Nỗi nhớ ấy bao la, bát ngát lại có chiều sâu. Nói muốn tràn ra khỏi không gian để xoáy vào lòng người. Một người ngoài cuộc hẳn không thể có nỗi nhớ ấy. Chỉ có Quang Dũng với nỗi lòng của mình mới có nỗi nhớ ấy mà thôi. Với tấm lòng tha thiết thì hẳn nỗi “nhớ chơi vơi” là điều hoàn toàn có lý. Cũng sử dụng vần “ơi!” câu thơ có sức lan tỏa rộng. Vần “ơi” lan ra theo nỗi nhớ “chơi vơi” của tác giả.   Thông thương thường khi nhớ về một điều gì, người ta thường nhớ đến những kỷ niệm đẹp để lại dấu ấn không quên. Quang Dũng nhớ đầu tiên là nhớ về rừng núi. Nhớ về rừng núi… Rừng núi là nơi xưa kia tác giả cùng đồng đội đã cùng sống, cùng chiến đấu. Rừng núi in đậm bao nỗi khổ, bao niềm vui nối buồn của người chiến sỹ. Hơn ai hết, tác giả là người trong cuộc, tác giả nhớ về rừng núi, những khó khăn gian khổ mà mình đã từng nếm trải:                      Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi.                       Mường Lát hoa về trong đêm hơi                      Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm                      Heo hút cồn mấy súng ngửi trời                      Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống                       Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Mặc dù cuộc sống gian khổ không phải điều nhà thơ chú trọng phác họa nhưng trước mắt ta vẫn hiện ra cái khắc nghiệt của rừng núi. Nhà thơ Tố Hữu đã từng có những câu thơ: Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm Mưa dầm cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng, chí không mòn. Tố Hữu mô tả thẳng cảnh sống người lính. Quang Dũng không làm thế. Quang Dũng chỉ mô tả cái hoang vu, hoang dã của một vùng rừng núi nhưng qua cảnh đó ai cũng hiểu rằng đời lính là như thế đó. Họ sống giữa thiên nhiên như vậy đó. Với những địa danh xa lạ “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông” rừng núi như càng trở nên xa ngái, hoang vu hơn. Hơn thế, cần phải nhớ rằng đoàn quân Tây Tiến hầu như toàn là những chàng trai trẻ Hà Nội theo tiếng gọi kháng chiến ra đi, nhiều người còn là học sinh nên cảnh rừng núi càng xa lạ, đáng sợ hơn. Quang Dũng là người trong cuộc sống hiểu tâm lý ấy rất rõ. Nỗi nhớ rừng núi bắt đầu bằng những cuộc hành quân: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Những cuộc hành quân đi qua và những cuộc hành quân mới lại tiếp nối trong cuộc đời người lính của Quang Dũng. Nhưng có lẽ cái mỏi mệt của những cuộc hành quân lần đầu sẽ không bao giờ đi qua cùng năm tháng cũng như rừng sương “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” sẽ in mãi dấu ấn, câu thơ chùng xuống, đều đều gợi lên sự mỏi mệt, bải hoải làm ta tưởng chừng như đoàn quân Tây Tiến sắp ngã, sắp chìm đi trong sương. Nhưng không, âm điệu bài thơ lại vút lên bởi một câu vần bằng: Mường Lát hoa về trong đêm hơi.   Câu thơ ấy đã xóa đi cái mệt mỏi của đoàn quân Tây Tiến, để đoàn quân tiếp bước. Những khó khăn lại cứ rải trên đường người lính đi qua:                          Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm                           Heo hút cồn mây súng ngửi trời                        Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống. Câu thơ với “khúc khuỷu” làm nên cảm giác hình như con đường đi khó khăn quá! “Dốc thăm thẳm” lại làm cho những khó khăn như nhiều hơn, dài ra theo tính chất “thăm thẳm” của con dốc và trên những đường dốc ấy. “Súng ngửi trời”. Chỉ riêng “heo hút cồn mây” đã gợi lên một không khí vắng vẻ, hoang sơ của rừng núi, súng ngửi trời cộng thêm vào cái vẻ đơn độc của người lính giữa đèo cao. Những khó khăn gian khổ nhiều là thế nhưng lại nhẹ đi bởi câu thơ vần bằng tiếp sau:                           Nhà ai Pha luông mưa xa khơi. Cứ như thế, những câu thơ vần bằng xen giữa những câu thơ vần trắc, âm hưởng đoạn thơ trở nên trùng điệp hơn, âm điệu ấy cứ theo suốt bài thơ, cùng với cách dùng từ cổ kính của Quang Dũng góp phần tạo nên nét lãng mạn mà hào hùng cho bài thơ. Cả khổ thơ đầu là những khó khăn của vùng rừng núi, của thiên nhiên hoang sơ. Đứng trước bức tranh dữ dội ấy, ai cũng thầm nghĩ: vậy người lính sống như thế nào nhỉ?                         Anh bạn dãi dầu không bước nữa                           Gục lên súng mũ bỏ quên đời                        Chiều chiều oai linh thác gầm thét                        Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người. Quang Dũng tả rất thực những khó khăn của cuộc kháng chiến mà đoàn quân Tây Tiến đã gặp nhưng không làm bài thơ trở nên bi thảm, lòng người bi quan mà chỉ để ngợi ca người lính. Tác giả lại tiếp tục đưa ta đến với người lính bằng ngòi bút rất thực ấy. Trước gian khổ, trên đường hành quân, nhiều người đã nằm lại mảnh đất xa lạ để không bao giờ tỉnh dậy: Anh bạn dãi dầu không bước nữa. Nhưng anh hùng làm sao, những con người ngã xuống ấy! Người lính không chịu nỗi khổ hy sinh nhưng cũng tìm được cho mình một tư thế chết của người chiến sỹ:                           Gục lên súng mũ bỏ quên đời. “Bỏ quên đời” chỉ là cách nói nhằm giảm nhẹ sự mất mát, tang thương khi người lính lìa trần. Nhưng hình ảnh sử dụng rất đắc là hình ảnh “gục lên súng mũ”. Ta chợt nhớ đến dáng đứng của anh giải phóng quân về sau:                        Anh ngã xuống trong khi đang đứng bắn                         Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng. Dáng đứng của anh giải phóng quân mãi mãi đi vào lòng người dân trong kháng chiến chống Mỹ thì dáng ngã xuống gục xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của những người tham gia kháng chiến. “Gục lên súng mũ” cũng là cách nói nhẹ và cũng là cách nói của những người thanh niên trí thức lúc bấy giờ. Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước.                               Những khó khăn lại đến:                         Chiều chiều oai linh thác gầm thét                       Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người. Hình như ai đó đã nói về cách sử dụng từ “Mường Hịch” của Quang Dũng. Địa danh đọc lên có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm. Rừng núi trở nên rờn rợn, nguyên vẻ hoang sơ của nó. Ở nơi xa xôi con người lần đầu đặt chân, thiên nhiên là chủ thì khó khăn cũng như tăng lên gấp bội. Nhưng nét lạc quan, vui vẻ của người lính vẫn chẳng thể mất dọc cuộc hành trình:                          Ôi nhớ Tây Tiến cơm lên khói                        Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Quang Dũng lại nhớ về những kỷ niệm của những đêm liên hoan. Nhịp điệu câu thơ như có gì náo nức, rộn rã:                          Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa                             Kìa em xiêm áo tự bao giờ                            Khèn lên man điệu nàng e ấp                          Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ                      Người đi Châu Mộc chiều sương ấy                            Có thấy hồn lau nẻo bến bờ                          Có nhớ dáng người trên độc mộc                          Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa. Cái dữ dội, hoang dã của thiên nhiên trong hai khổ thơ đầu như biến mất đi sau những kỷ niệm vui của đoàn quân Tây Tiến. Nét nghịch ngợm vui tươi của những chàng trai thanh niên Hà Nội xúng xính giả làm con gái cùng tiếng nhạc và vẻ e ấp giả vờ, câu thơ với hai chữ “kìa em” vừa mang vẻ ngạc nhiên vừa mang nụ cười thoải mái của người chiến sỹ. Những kỷ niệm vui đó hẳn sẽ không quên trong lòng người cũng như vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Quang Dũng vậy. Cùng với sự vui tươi, người lính Tây Tiến còn sống với bản lĩnh lãng mạn, với tâm hồn giàu chất thơ, giàu cảm xúc của mình. Một dáng người trên độc mộc vào một buổi chiều sương, một khóm hoa đong đưa trên dòng nước lũ…tất cả đi vào nhẹ nhàng ch cho cả đoạn thơ. Quang Dũng xa Tây Tiến nhưng khoảng thời gian ấy chưa lâu nên kỉ niệm Tây Tiến vẫn còn nguyên vẹn. Nỗi nhớ “chơi vơi” trải khắp bài thơ nhưng đọng nhất vẫn là nỗi nhớ về người lính Tây Tiến. Có lẽ người lính Tây Tiến, hình ảnh của họ đã ăn sâu tận trong máu thịt của tác giả:                             Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc                                Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Câu thơ đầu hoàn toàn tả thực về người lính kháng chiến, nổi tiếng bởi tên gọi “Vệ trọc”. Giữa rừng núi hoang sơ, nạn sốt rét là nạn mà người lính thường mắc phải. sốt rét đến nỗi trọc cả đầu chỉ còn một vài sợi tóc lưa thưa, đến nỗi da xanh xao “màu lá”. Bệnh sốt rét ác nghiệt như Chính Hữu đã từng mô tả: Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi. Sốt rét là bệnh tiêu biểu thường gặp ở người lính, khi Quang Dũng nói về điều này, tác giả muốn nói cho ta biết, người lính Tây Tiến sống như thế đấy! Họ sống và chiến đấu với cả gian khổ, cả bệnh tật nữa. Giữa bao nhiêu khó khăn người lính vẫn: Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Nét dữ tợn của người chiến sỹ Tây Tiến ở đây không làm nhạt tí nào hình ảnh người lính Tây Tiến trong ta. Bệnh tật, yếu đau tưởng chừng làm người chiến sỹ yếu đuối nhưng ta bất ngờ vì dáng vẻ “dữ oai hùm” làm mất đi sự yếu đuối của “đoàn quân không mọc tóc” và của “quân xanh màu lá” giúp cho câu thơ trên tiếp tục:                           Mắt trừng gửi mộng qua biên giới                             Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Đây chính là hai câu thơ tập trung nhất vẽ nên bức tranh người lính Tây Tiến và cũng là hai câu thơ hay nhất trong cả bài thơ. Người lính Tây Tiến sống với hình ảnh quê hương Hà Nội, chiến đấu với tương lai trước mặt. Hai câu thơ vừa mang nét lãng mạn của người chiến sỹ vừa có nét hào hùng. Mắt người lính “trừng” nhưng không hề mang nét dữ tợn, đấy chỉ là quyết tâm của họ. Họ quyết tâm chiến đấu cho Tổ quốc, đất nước, điều này là điều tâm niệm của mỗi người. Nhưng người lính không đánh mất đi nét đẹp tâm hồn: sự mộng mơ. Hai câu thơ trên có thời đã bị đem ra chỉ trích cùng với bài thơ đó là buồn rớt, bi quan, là tiểu tư sản. Đành rằng câu thơ có thoáng nét buồn cũng như bài thơ có thoảng những nét buồn: nhưng buồn ở đây đâu có làm mất đi quyết tâm của người lính Tây Tiến. Quyết tâm đánh giặc và lãng mạn phải kết hợp hài hòa mới có thể tạo nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sỹ một cách sâu sắc. (Đây là điểm mà đã có một thời vì hoàn cảnh lịch sử, vì một lý do nào đó người ta đã quên đi hay cố tình quên đi). Người lính Tây Tiến chiến đấu cho ai? Mục đích của họ hướng tới là gì nếu không phải quê hương mà cụ thể là Hà Nội. Người lính mơ về Hà Nội, về người thiếu nữ Hà Nội thì chính những mộng mơ ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sỹ sống và chiến đấu. Hai câu thơ chính vì thế lãng mạn mà rất hào hùng! Người lính Tây Tiến gặp bao nhiêu gian khổ. Dọc con đường hành quân bao người đã ngã xuống vì gian khổ, vì khắc nghiệt của rừng núi, vì đau ốm, bệnh tật và họ ngã xuống vì chiến đấu.                                 Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Câu thơ đọc lên mà sao thảm quá. Bao người nằm lại nơi xa lạ không người qua lại, chẳng bao giờ trở về. Từ “rải rác” làm ta cảm giác người lính Tây Tiến ngã xuống, ngã xuống nhiều trong cuộc chiến đấu, làm ta cảm giác thấm thía cái lạnh khi những người phải từ giã cuộc đời. Từ “viễn xứ” tạo nên sự xa xôi, lạnh lẽo của rừng núi, gợi lên sự cô đơn của những người nằm lại. Câu thơ trầm xuống, xoáy vào lòng ta một nỗi buồn không thể thốt lên lời, ta tưởng chừng như câu thơ sau không thể cất lên nổi, nhưng ngược lại:                           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Câu thơ nhẹ nhàng như không hề mang chút gì bi thảm của những nấm mồ viễn xứ. Câu thơ trước tạo nên cái “bi” câu thơ sau tạo nên nét “tráng”. Cái không khí bi quan biến mất, chỉ còn lại nét ngang tang, chút thanh thản của người lính Tây Tiến “chẳng tiếc đời xanh” là cách nói của người thanh niên trí thức Hà Nội nhưng cũng mang cả quan niệm về lý tưởng chiến đấu, người lính biết rằng họ còn trẻ, họ chiến đấu có thể bị hy sinh. Đâu phải họ không tiếc cho tuổi trẻ. Không phải “tuổi trẻ là mùa xuân” đó sao! Nhưng cao hơn tuổi trẻ họ còn có tự do, quê hương. Con người hậu phương gửi gắm cả nỗi lòng của họ. Đó là lý tưởng tại sao người lính Tây Tiến chẳng tiếc đời xanh. Họ nằm xuống nhẹ nhàng:                                 Áo bào thay chiếu anh về đất                              Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Cách dùng từ “áo bào” làm câu thơ trở nên cổ kính hơn. Anh ra đi mãi mãi nhưng anh ra đi là do lẽ sống của mình mình sống mãi nên cái chết của anh nhẹ nhàng như “về đất” ngoài ý nghĩa làm giảm sự đau thương? Quang Dũng không muốn có bất cứ giọt nước mắt nào rơi trên thi hài người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến sống lãng mạn, hào hùng thì chết cũng phải như vậy. Đấy chính là lý do tác giả có ý sử dụng từ cổ kính và nói theo lối nói của người lính Tây Tiến. Quang Dũng muốn nói rằng người lính Tây Tiến chiến đấu là cho quê hương thì sự ra đi của họ cũng nhẹ nhàng, thanh thản: họ về với đất. Đất như người mẹ giang tay ôm đứa con yêu vào lòng và người chiến sỹ ngự trong vòng tay mẹ. Như vậy anh hy sinh ở nơi xa nhưng linh hồn anh vẫn về bên đất mẹ. Câu thơ vì thế mất đi sự bi thảm vốn có. Anh chiến sỹ chết đi, quê hương ôm anh vào lòng, sông núi hát lên tiễn đưa anh: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Không hề có tiếng khóc, giọt nước mắt tang thương. Chỉ có núi sông, đất mẹ chứng kiến cái chết của anh. Bóng dáng của anh hòa vào sông, hòa vào đất mẹ. Người lính Tây Tiến ra đi nhưng hình ảnh của anh không bao giờ mờ phai trong tâm trí con người. Hình ảnh người lính và những kỷ niệm đậm mãi trong lòng Quang Dũng và mỗi chúng ta:                         Tây Tiến người đi không hẹn ước                       Đường lên thăm thẳm một chia phôi                          Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy                        Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Bài thơ khép lại nhưng âm điệu vẫn mãi vang vọng trong tâm hồn ta. Nhịp điệu trùng điệp, nét lãng mạn hào hùng của bài thơ để lại dấu ấn trong ta. Có những tác phẩm đã gặp nhiều lần mà ta lại quên đi nhưng có những tác phẩm chỉ bắt gặp một lần lại sống mãi. Ấy là Tây Tiến! Hình ảnh người lính Tây Tiến lung linh ngời sang với cả hào khí dân tộc.                                                                                                                                     (Nguồn: Tổng hợp từ internet)-TTMH    
Xem thêm

6 Đọc thêm

Cảm nhận về đoạn thơ đầu của bài Tây Tiến_bài 1

CẢM NHẬN VỀ ĐOẠN THƠ ĐẦU CỦA BÀI TÂY TIẾN_BÀI 1

I.MỞ BÀI. Quang Dũng ( 1921-1988) là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. “Tây Tiến” là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng Có thể nói , tinh hoa của bài thơ được hội tụ lại trong khổ thơ đầu tiên . Khổ thơ đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ , mĩ lệ của núi rừng miền Tây , nơi nhà thơ cũng đoàn quân Tây Tiến đã từng hoạt động , chiến đấu . Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiSài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiDốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây,súng ngửi trờiNgàn thước lên cao, ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơiAnh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời !Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngườiNhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi. II.THÂN BÀI 1. Giới thiệu chung Bài thơ “Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh , khi nhà thơ đã rời khỏi đơn vị cũ Tây Tiến , chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác . Tây Tiến là một đơn vị bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào , tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam . Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rất rộng lớn trải dài từ Sơn la , Hòa Bình , miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa ( Lào) – là những nơi hiểm trở , hoang vu , rừng thiêng nước độc . Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội , có nhiều học sinh , sinh viên , trong đó có Quang Dũng . Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ , thiếu thốn , bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan , anh dũng . Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập Trung đoàn 52 . Bài thơ ra đời từ nỗi nhớ , kỉ niệm , hồi ức của Quang Dũng về đồng đội và địa bàn chiến đấu cũ . Tác phẩm sau khi ra đời đã được bao thế hệ thanh niên và bạn yêu thơ truyền tay tìm đọc . Đến năm 1986, bài thơ được in trong tập thơ “ Mây đầu ô” ( xuất bản 1986) . Ban đầu bài thơ có tên là “ Nhớ Tây Tiến” , sau đó tác giả chuyển lại thành “ Tây Tiến” . Nhan đề “ Tây Tiến” đảm bảo tính hàm súc của thơ , không cần phải trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ mà tình cảm ấy vẫn hiện lên sâu sắc , thấm thía . Nhan đề còn làm nổi rõ hình tượng trung tâm của tác phẩm , đó là hình tượng đoàn quân Tây Tiến . Việc bỏ đi từ “nhớ” đã vĩnh viễn hóa đoàn quân Tây Tiến , khiến cho hình ảnh người lính Tây Tiến trở thành bất tử trong thơ ca kháng chiến Việt Nam . “Tây Tiến” là bài thơ in đậm phong cách tài hoa , lãng mạn , phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng . Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhà thơ với người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn , đậm chất bi tráng. Đoạn thơ thứ nhất đã tái dựng lại sống động bức tranh thiên nhiên miền Tây với những khung cảnh , những chặng đường hành quân gian khổ , từ đó hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra . 2/ Phân tích đoạn thơ a/ Bài thơ mở ra bằng một nỗi nhớ trào dâng : Sông Mã xa rồi , Tây Tiến ơi !Nhở về rừng núi , nhớ chơi vơi Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” bật lên bởi một nỗi nhớ sâu sắc , cồn cào không kìm nén nổi . Đối tượng của nỗi nhớ ấy rất cụ thể , rõ ràng là : “sông Mã” , “Tây Tiến” , “rừng núi” . Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả mới điệp lại hai lần từ “ nhớ” . “ Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ chập chờn hư thực , vừa tha thiết , thường trực , vừa mênh mang , đầy ám ảnh , vừa mở ra không gian của tiềm thức , vừa như gợi ra không gian trập trùng của núi đèo rộng lớn . Cách hiệp vần “ơi” làm câu thơ như ngân vang , phù hợp với biên độ của cảm xúc . Hai câu thơ đầu đã khơi mạch chủ đạo của cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi . Nỗi nhớ ấy được cụ thể dần dần trong những vần thơ tiếp sau . b/ Hai câu thơ tiếp : gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm : “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ,Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Hai câu thơ vừa tả thực , vừa sử dụng bút pháp lãng mạn .Những từ chỉ địa danh Sài Khao , Mường Lát gợi ra địa bàn rộng lớn , đầy lạ lẫm đối với người lính Tây Tiến . Sương mù vùng cao dày đặc như trùm lấp bước chân , nuốt chửng cả đoàn binh vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì chặng đường dài gian khổ . Quang Dũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực khuất lấp trong thơ ca kháng chiến . Nhưng những người lính ấy , dù mệt mỏi mà tâm hồn vẫn trẻ trung , hào hoa , lạc quan , yêu đời . Hình ảnh “ hoa về trong đêm hơi” là hình ảnh đẹp giàu sức gợi . Đó có thể là những ánh đuốc sáng lung linh của đoàn quân đang tiến về bản làng , cũng có thể là hình ảnh đoàn quân từ rừng đi ra , trên tay vẫn cầm theo những đóa hoa rừng ngát hương , mà đó cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân Tây Tiến như những bông hoa rừng . Đoàn quân ấy hành quân trong một “ đêm hơi” đầy huyền ảo , mơ hồ , bảng lảng khói sương chốn rừng suối . Hai câu thơ in đậm dấu ấn tài hoa , lãng mạn của Quang Dũng . c/Bốn câu thơ tiếp theo đặc tả địa hình hiểm trở của miền Tây : Dốc lên khúc khuỷu , dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trời ,Ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống ,Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi . Nhà thơ sử dụng một loạt các từ láy tượng hình “khúc khuỷu” , “ thăm thẳm”, “ heo hút” , kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như chặt đôi câu thơ , mật độ thanh trắc dày đặc khiến câu thơ trúc trắc gợi sự vất vả , nhọc nhằn . Những phép tu từ đó mở ra trong tâm tưởng người đọc ấn tượng về sự gập ghềnh , hiểm trở , ẩn chứa bao bất trắc , nguy hiểm của núi cao , vực sâu nơi núi rừng miền Tây . Hình ảnh “ súng ngửi trời” là một nhân hóa táo bạo , đặc tả sự chót vót của dốc núi . Người lính Tây Tiến leo lên đỉnh dốc , cảm tưởng như mũi súng có thể chạm mây . Từ đó , ta cũng thấy được nét tinh nghịch khỏe khoắn , vẫn có thể trêu đùa vô tư sau một chặng đường hành quân vất vả , mệt nhọc của các anh lính Tây Tiến . Phép đối “ ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống” càng nhấn mạnh độ gập ghềnh , hình sông thế núi trập trùng , hiểm trở của thiên nhiên miền Tây . Ba câu thơ giàu chất hội họa , dựng lên bức tranh hoang vu , dốc đèo đứt nối , hùng vĩ trên con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến . Câu thơ thứ tư toàn bộ là bảy thanh bằng “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” , vần mở “ơi” đặt cuối câu tạo cảm giác nhẹ nhàng gợi ra những phút giây nghỉ ngơi thư giãn của người lính . Họ đứng trên những đỉnh núi , thưởng thức chút bình yên , vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng , phóng tầm mắt , thấy mưa rừng giăng mờ nơi bản làng Pha Luông xa xôi . Bốn câu thơ vừa gợi ra sự dữ dội hoang vu , sự êm đềm của núi rừng , vừa gợi ra những cuộc hành quân vất vả nhọc mệt nhưng đầy trẻ trung , yêu đời của các chàng trai Tây Tiến . d/Người lính Tây Tiến không chỉ đối diện với dốc cao vực sâu mà còn phải chịu những mất mát hi sinh : Anh bạn dãi dầu không bước nữa ,Gục lên súng mũ bỏ quên đời . Cách nói tránh về cái chết “không bước nữa” , “bỏ quên đời” gợi tư thế ngạo nghễ của người lính Tây Tiến . Họ chủ động chấp nhận cái chết , coi nó chỉ đơn giản như một giấc ngủ mà thôi . Tư thế hi sinh “ gục lên súng mũ” đầy xót xa nhưng cũng thật hào hùng . Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy sau này ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam” : “ Và anh chết trong khi đang đứng bắn- Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng” . Câu thơ đã tiếp tục cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến . e/Và người lính Tây Tiến tiếp tục chịu sự thử thách của núi rừng miền Tây : “Chiều chiều oai linh thác gầm thét ,Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” . Các từ láy chỉ biên độ lặp lại thường xuyên của thời gian” chiều chiều” , “đêm đêm” kết hợp với biện pháp nhân hóa “ thác gầm thét” , “ cọp trêu người” đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm , dữ dội ,hoang dã chứa đầy nguy hiểm , cái chết luôn luôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây . Sự nguy hiểm ấy không chỉ trải rộng trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên theo thời gian . g/Hai câu thơ cuối đoạn lại đột ngột chuyển cảnh : Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói ,Mai Châu mùa em thơm nếp xôi . Núi cao rừng rậm lùi xa , chỉ còn lại hương vị ấm áp nghĩa tình quân dân lan tỏa từ nồi cơm của các cô gái Thái . Từ cảm thán “ Nhớ ôi” đứng đầu câu thơ diễn tả nỗi nhớ da diết , ám ảnh khôn khuây của Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến về đồng bào miền Tây . Nhà thơ như nhói lòng khi hồi tưởng lại cảnh đoàn quân quây quần quanh nồi xôi nếp thơm lừng đang bốc khói . Đó là những giây phút ấm áp ngắn ngủi nhưng lại dịu ngọt , tinh tế nên khắc sâu mãi trong tâm trí nhà thơ . Cách kết hợp từ “ mùa em” rất độc đáo , gợi những liên tưởng đẹp , lãng mạn về những cô gái Thái vừa khỏe khoắn vừa dịu dàng mà đằm thắm yêu thương . Hai câu thơ kết thúc đoạn một bài thơ Tây Tiến có âm điệu nhẹ nhàng tha thiết gợi cảm giác êm dịu , ấm áp , tạo tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn thơ tiếp theo . Trong những đoạn thơ còn lại , nhà thơ Quang Dũng tiếp tục hồi tưởng về cảnh những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân , những buổi chiều trên sông nước miền Tây thơ mộng , hư ảo , hồi tưởng về chân dung tập thể những người lính Tây Tiến anh dũng , hào hoa . Cuối bài thơ , Quang Dũng bộc lộ lời nguyện thề mãi gắn bó với miền Tây và đoàn quân Tây Tiến . III. KẾT BÀI Đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến đã thể hiện tài hoa và tâm hồn lãng mạn phóng khoáng của nhà thơ Quang Dũng . Đoạn thơ có ngôn ngữ giàu chất tạo hình , giàu nhạc điệu , gây ấn tượng táo bạo , dựng lên bức tranh sinh động , có chiều sâu về cảnh hành quân của đoàn quân Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên rừng núi hùng vĩ thơ mộng miền Tây . Qua đó , ta cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc , nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ Quang Dũng về những ngày tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến – một thời mãi mãi để nhớ và tự hào . loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hãy phân tích giá trị nghệ thuật trong hai khổ thơ sau đây trong bài Đàn ghi-ta của Lor-ca của Thanh Thảo: Tây Ban Nha....tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy.

HÃY PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG HAI KHỔ THƠ SAU ĐÂY TRONG BÀI ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA CỦA THANH THẢO: TÂY BAN NHA....TIẾNG GHI-TA RÒNG RÒNG MÁU CHẢY.

Đoạn thơ đã tái hiện lại giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời của Ga-xi-a Lor-ca. Đó là khi ông bị bọn phát xít giết hại rồi ném xuống giếng để phi tang. Như chúng ta đã biết Gar-xi-a là nhà thơ lớn nhất Tây Ban Nha ở thế kỉ XX. Thơ của ông gắn bó máu thịt với mạch nguồn văn hóa dân gian, hồn nhiên, phóng khoáng, thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc mình. Vì vậy, ông là cái gai trước mắt của phe phát xít Phrang-cô và chúng đã thủ tiêu ông.  Tây Ban Nha  hát nghêu ngao bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ Lor-ca bị điệu về bãi bắn chàng đi như người mộng du tiếng ghi-ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi-ta ròng ròng  máu chảy.  Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sau năm 1975, Thanh Thảo là một trong những nhà thơ dành nhiều tâm huyết trong việc đổi mới thơ Việt Nam. Một mặt, Thanh Thảo không ngừng trăn trở, thể nghiệm để làm mới hình thức biểu đạt của thơ. Mặt khác, ông luôn kiếm tìm “chất người” ở những nhân cách thanh cao, bất khuất, những tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do, sẵn sàng sống, chiến đấu và hi sinh cho lí tưởng mà mình đã chọn. Bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca đã cho thấy điều đó. Đặc biệt, trong đoạn thơ trích sau đây, Thanh Thảo đã làm nổi bật vẻ đẹp bi tráng của nhân vật Lor-ca: Tây Ban Nha hát nghêu ngao ….. tiếng ghi - ta ròng ròng  máu chảy. Đoạn thơ đã tái hiện lại giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời của Ga-xi-a Lor-ca. Đó là khi ông bị bọn phát xít giết hại rồi ném xuống giếng để phi tang. Như chúng ta đã biết Gar-xi-a là nhà thơ lớn nhất Tây Ban Nha ở thế kỉ XX. Thơ của ông gắn bó máu thịt với mạch nguồn văn hóa dân gian, hồn nhiên, phóng khoáng, thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc mình. Vì vậy, ông là cái gai trước mắt của phe phát xít Phrang-cô và chúng đã thủ tiêu ông. Trong đoạn thơ này, Thanh Thảo đã bộc lộ niềm thương cảm đầy kính phục và tái hiện sinh động hình ảnh cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca với hai hiện pháp nghệ thuật nổi bật: phép đối lập và phép nhân hóa. Trước tiên, ta thấy nhà thơ đã đem hình ảnh một con người của tự do, thích sống một cuộc sống phóng khoáng của nghệ sĩ đối lập với bản chất dã man, tàn bạo, đê hèn của phát xít; đối lập giữa tiếng hát yêu đời, vô tư với hiện thực phũ phàng, đắng cay, đẫm máu: Tây Ban Nha  hát nghêu ngao áo choàng bê bết đỏ … chàng đi như người mộng du> Và đó chính là sự đối lập giữa tình yêu cái đẹp với sự dã man, tàn bạo. Bên cạnh phép đối lập, nhà thơ Thanh Thảo còn sử dụng khá thành công và độc đáo phép nhân hóa: tiếngghi-ta ròng ròng máu chảy  Tiếng đàn ở đây không còn là tiếng đàn bình thường nữa mà nó trở thành thân phận của Lor-ca, thân thể và tâm hồn của Lor-ca một linh hồn, thân thể vả tâm trạng đang quằn quại, đau đớn trong tận cùng nỗi xót xa trước những cái xấu xa, tàn bạo. Thanh Thảo mô tả tiếng đàn của Lor-ca cũng giống như Nguyễn Du mô tả tiếng đàn của Thúy Kiều đánh cho Hồ Tôn Hiến nghe: Một cung gió thảm mưa sầu Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay... Tiếng đàn của Lor-ca hay tiếng đàn Thúy Kiều ở đây đã làm lay động cả không gian, lắng sâu vào tâm tưởng của người đọc, gợi lên trong lòng người đọc một tình cảm vừa yêu thương, vừa thông cảm, vừa kính phục trước nhân cách thanh cao của những con người luôn khao khát yêu tự do, yêu cái đẹp nhưng bị thế lực bạo tàn vùi dập; vừa gợi lên trong lòng người đọc sự căm phẫn trước những thế lực xấu xa, bỉ ổi tàn bạo. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ trong cách miêu tả: dùng “tiếng hát" để chỉ Lor-ca, dùng hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” để nói về cái chết của Lor-ca. Hơn nữa, trong đoạn thơ này, tác giả còn dùng nhiều hình ảnh so sánh như mang tính ẩn dụ sâu sắc như “tiếng ghi-ta nâu ”, “tiếng ghi-ta lá xanh”, “tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan". Những hình ảnh so sánh này là những hình ảnh ẩn dụ về tình yêu, về cái đẹp, về cuộc sống, về cái chết, về nỗi đau và niềm uất hận. tiếng ghi-ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy. Tóm lại, trong đoạn thơ trên, nhà thơ Thanh Thảo đã sử dụng khá nhiều biện pháp nghệ thuật như đối lập, nhân hóa, hoán dụ, so sánh, ẩn dụ để thể hiện những xúc cảm của mình đối với Gar-xi-a Lor-ca. Những biện pháp nghệ thuật này có khi tách biệt, có khi đan xen vào nhau, thẩm thấu lẫn nhau để tái hiện giây phút bi phẫn nhất trong đời Lor-ca. Điều đó đã cho thấy sự ngưỡng mộ và xúc động sâu sắc của Thanh Thảo trước nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của người nghệ sĩ Tây Ban Nha đầy tài hoa ấy. Thanh Thảo, trong đoạn thơ này đã truyền cảm xúc của mình đến với người đọc. Đúng là “ Thơ mở cửa từ trái tim vù làm rung động trái tim ” như có người đã từng nói. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TỔNG KẾT NHANH NGHỆ THUẬT CỦA (TÂY TIẾN, ĐẤT NƯỚC, SÓNG, VIỆT BẮC)

TỔNG KẾT NHANH NGHỆ THUẬT CỦA (TÂY TIẾN, ĐẤT NƯỚC, SÓNG, VIỆT BẮC)

Tổng kết nhanh nghệ thuật của (Tây Tiến, Đất Nước, Sóng, Việt Bắc) Dù phân tích tác phẩm nào ta cũng luôn cần chú ý đến Nghệ thuật của tác phẩm đó, vì vậy việc nhớ những ý chính của nghệ thuật sẽ giúp ta có được điểm số cần thiết :)) Hãy thử tham khảo nhé :v 1. Tây tiến: Nỗi nhớ được biểu hiện độc đáo, tài hoa qua cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng Cảm hứng lãng mạn : là cảm hứng mãnh liệt của cái tôi đầy tình cảm, ưa thích diễn tả những hình ảnh tuyệt mĩ phi thường sử dụng các thủ pháp đối lập, cường điệu, giàu tưởng tượng bay bổng. Trong Tây Tiến, cảm hứng lãng mạn bao trùm bài thơ, nhưng đậm nhất là khổ 1, khổ 2, miêu tả 1 Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng, vừa dữ dằn quyết liệt với “đốc thăm thẳm”, “ thác gầm thét”, “ cọp trêu người”,…. vừa dịu dàng thơ mộng “ mưa xa khơi”, “ mùa em thơm nếp xôi”, “hoa đong đưa”….Qua đó ta cũng thấy tâm hồn lãng mạn hào hoa của người lính Tây Tiến và cảm hứng thơ bay bổng của Quang Dũng. Bút pháp bi tráng: là dám nhìn thẳng hẳn vào cái bi, tức là cái chết chóc, bi thương nhưng không bi luỵ mà vẫn đem đén cho nó 1 vẻ đẹp hào hùng , tráng lệ. Trong Tây Tiến, bút pháp bi tráng nằm ở khổ 1,3,4 đậm nhất là khổ 3 miêu tả người lính trong tột cùng gian khổ hi sinh : “đoàn quân không mọc tóc”, “áo bào thay chiếu anh về đất”….Song đó cũng là những chiến binh đầy khí phách “mắt trừng gửi mộng qua biên giới”…. Ốm mà không yếu, khí phách hiên ngang đậm chất lý tưởng và hình tượng bất tử là bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính cụ Hồ. Bút pháp tạo hình, tạo âm đặc sắc… 2. Sóng: Hình tượng sóng – em: tách rời, hòa quyện, soi chiếu cộng hưởng. Nhịp thơ: viết theo thể ngũ ngôn với những câu thơ 5 chữ liền mạch, hầu như không ngắt nhịp, gợi lên nhịp điệu những con sóng biển: lúc dào dạt sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm và cứ nhịp nhàng miên man như thế chạy suốt bài thơ, triền miên không dứt. Cấu trúc ngôn ngữ: tạo một âm điệu dập dờn chìm nổi vô hạn vô hồi. Sóng mượn hình tượng con sóng biển để diễn đạt những lớp sóng lòng nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc với âm điệu bài thơ là nước hòa trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trắc trở,
Xem thêm

17 Đọc thêm

Cảm nhận đoạn đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Cảm nhận đoạn đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Quang Dũng ( 19211988) là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng. Có thể nói, tinh hoa của bài thơ được hội tụ lại trong khổ thơ đầu tiên. Khổ thơ đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ của núi rừng miền Tây, nơi nhà thơ cũng đoàn quân Tây Tiến đã từng hoạt động, chiến đấu. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ... Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

PHÂN TÍCH KHỔ CUỐI BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

Đề bài: Phân tích khổ thơ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: « Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy, Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. » Hướng dẫn lập dàn ý I. Mở bài - Tây Tiến là một trong những bài thơ hay nhất của Quang Dũng. Bài thơ được viết năm 1984, ở làng Phù Lưu Chanh khi ông tạm xa đơn vị một thời gian. - Đoạn quân Tây Tiến được thành lập mùa xuân năm 1947, chiến sĩ của đơn vị phần đông là người Hà Nội. - Nội dung chủ yếu của bài thơ khắc họa người lính hào hoa và vẻ đẹp bi tráng. - Trích đoạn ở phần cuối bài thơ, thể hiện cảm nghĩ của tác giả về đoàn quân và tình cảm đồng đội trong những ngày tháng chiến đấu đầy kỉ niệm. II. Thân bài. 1. Tinh thần của đoàn quân Tây Tiến. - Người đi không hẹn ước -> ra đi chiến đấu không ước hẹn ngày về, tinh thần hi sinh vì nước, xả thân vì nước. (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh) Lí do : + Đường lên thăm thẳm một chia phôi : Mỗi bước chân hành quân đi lên, dốc đèo và những bản làng mờ sương lùi lại phía sau. Hoàn cảnh chiến đấu rất khắc nghiệt, có bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn nên hành trình chiến đấu là những hi sinh tiếp nối, càng khó có hi vọng trở về. + Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, đòi hỏi phải lấy tính mạng để đổi độc lập tự do. Bao thế hệ thanh niên cầm súng ra chiến trường với tinh thần « quyết tự cho Tổ quốc quyết sinh ». - > Ý thơ lột tả lí tưởng chiến đấu cao cả của anh bộ đội cụ Hồ, làm nổi bật phẩm chất yêu nước anh hùng của họ. - Do tinh thần bi tráng ấy mà mùa xuân thành lập đoàn quân trở thành một mốc lịch sử ghi nhận công lao to lớn của những con người anh hùng bỏ mình vì nước. Những trái tim và linh  hồn ấy còn ở lại với Sầm Nứa, tan vào với núi sông nên sẽ bất tử với thời gian. Cách nói chẳng về xuôi thể hiện thái độ bất cần, khinh bạc, thể hiện chất lãng tử kiêu hùng nên tinh thần hi sinh mang vẻ đẹp lãng mạn. - Nghệ thuật dùng từ : không hẹn ước, chia phôi, hồn về kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng mềm mại nên đoạn thơ nói về sự hi sinh lại thấm đượm chất lãng mạn. Đoạn thơ cũng như bài thơ nói về cái chết nhưng không gieo vào lòng người đọc sự bi quan mà gợi tinh thần lạc quan, tin tưởng. 2. Đoạn thơ còn bộc lộ tâm tư của nhà thơ. - Tây Tiến người đi không hẹn ước -> Người đi ở đây là tác giả. Tác giả đã ra đi không hẹn ngày về lại đơn vị cũ. Trong khi đoàn binh hàng quân càng về phía Tây càng xa cách, hi vọng ngày lặp lại càng mong manh. Trong khoảng cách không gian dịu vợi, nỗi nhớ đồng đội của nhà thơ càng tỏa ra mênh mông : Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. - Nỗi nhớ trào lên trong lòng da diết bởi lẽ có bao nhiêu kỉ niệm chiến đấu với đoàn quân kể từ mùa xuân ấy, do đó người đi xa mà tâm hồn vẫn gần gũi. Nhà thơ ở nơi này mà tâm hồn đã gợi lại nơi Sầm Nứa trên kia, vẫn gắn bó với đoàn quân. Sự phân thân ấy cho thấy tình đồng chí, đồng đội thắm thiết của nhfa thơ. Giọng điệu trữ tình góp phần làm nổi rõ tiếng nói tình cảm của nhà thơ. Đoạn thơ có hai giọng, giọng của đoàn binh được tác giả nói hộ và giọng của tác giả nên nội dung đa nghĩa, tạo ra vẻ đẹp ngôn từ. III. Kết bài Đoạn thơ sử dụng bút pháp lãng mạn để nhấn mạnh vẻ đẹp tinh thần hi sinh vì lí tưởng mang màu sắc lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến. Vẻ đẹp chân dung của một tập thể anh hùng tiêu biểu cho một thời kì lịch sử bi tráng được khắc họa bởi bút pháp tài hoa sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. Đoạn thơ cũng bộc lộ tình đồng chí, đồng đội thắm thiết của Quang Dũng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

02Duật đã nhìn ra chất thơ ẩn giấu trong đó" (32,532). Ở bài viết này, Vũ Quần Phương chúT02ý đến hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Phạm Tiến Duật. Xuyên suốt thơ Phạm TiếnDuật là hình tượng người lính. Phẩm chất anh hùng của họ tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Namtrong thời kỳ đánh Mỹ cứu nước: "Ở họ tinh thần hy sinh dũng cảm chan hòa với lòng yêu20Tđời vui nhộn rất hồn nhiên. Trước gian khổ, sống chết, họ không lo âu, hoảng hốt đã đành,mà họ cũng không cao giọng, lên gân, không biểu lộ một vẻ "anh hùng" cá nhân ... mà họluôn giữ vẻ bình dị, mộc mạc" (32,535).Bài viết của Vũ Quần Phương thể hiện đôi mắt tinh tường trong cảm nhận thơ của mộtT02nhà phê bình mang màu sắc lý luận văn học. Ca ngợi Phạm Tiến Duật nhưng Vũ QuầnPhương cũng không bỏ qua nhược điểm mà Phạm Tiến Duật mắc phải. Vũ Quần Phươngcho rằng : "Phạm Tiến Duật mạnh trong việc sử dụng chất liệu thực tế, nhưng anh còn cóT02chỗ chông chênh khi vận dụng những kiến thức tổng quát" (32,548).Trên Tạp chí Văn học số 4/1974 có bài viết tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Thiện Chỗ
Xem thêm

20 Đọc thêm

ĐỀ THI H ỌC SINH GI ỎI V ỀBÀI TH ƠTÂY TI ẾNC ỦA QUANG D ŨNG

ĐỀ THI H ỌC SINH GI ỎI V ỀBÀI TH ƠTÂY TI ẾNC ỦA QUANG D ŨNG

Thơ là do tình sinh ra Viên Mai, Thơ khởi phát từ lòng người ta Lê Quý Đôn… + Chức năng, giá trị của văn học: giáo dục tư tưởng, tình cảm, hướng con người tới vẻ đẹp Chân – Thiện – Mĩ…Th[r]

4 Đọc thêm