HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP MALAYSIA TẠI VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP MALAYSIA TẠI VIỆT NAM":

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VÀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI CỦA MALAYSIA TỚI NĂM 2015: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VÀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI CỦA MALAYSIA TỚI NĂM 2015: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG 5 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MALAYSIA 5 1.1. Vị trí địa lý, dân cư và lịch sử phát triển của Malaysia 5 1.2. Tình hình chính trị xã hội 6 1.3. Văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo 7 1.4. Tình hình kinh tế 8 1.5. Thể thao 10 CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA MALAYSIA ĐẾN NĂM 2015 12 2.1. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Malaysia 12 2.1.1. Giai đoạn 1970 1989 12 2.1.2. Giai đoạn 1990 nay 13 2.2. Kết quả 14 2.3. Đánh giá thành công và hạn chế trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Malaysia 15 2.3.1. Thành công 15 2.3.2. Hạn chế 17 CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI CỦA MALAYSIA ĐẾN NĂM 2015 18 3.1. Thế nào là Tự do hoá thương mại? 18 3.2. Một số hiệp định Malaysia kí kết về tự do hoá thương mại 18 3.2.3. Hiệp định Thương mại tự do MalaysiaAustralia (MAFTA) 18 3.2.4. Gần đây, Malaysia đã kết thúc đàm phán FTA với Thổ Nhĩ Kì 20 3.2.5. Ngoài ra Malaysia còn thực hiện kí kết FTA với các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand, Pakistan và Chile 21 3.3. Đánh giá thành công và hạn chế của Malaysia trong quá trình tự do hóa thương mại 21 3.3.1. Thành công 21 3.3.2. Hạn chế 22 CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ MALAYSIA ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 24 4.1. Đánh giá chung về kết quả Malaysia đạt được 24 4.1.1. Thành công 24 4.1.2. Hạn chế 26 4.2. Bài học dành cho Việt Nam 26 4.3. Kinh nghiệm rút ra thực hiện phát triển thúc đẩy xuất khẩu và tự do hóa thương mại ở Việt Nam 28 4.3.1. Chính sách chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu 28 4.3.2. Chính sách gắn sản xuất với xuất khẩu 29 4.3.3. Chính sách mở cửa thị trường 30 4.3.4. Chính sách đầu tư trong và ngoài nước 30 4.3.5. Đổi mới các công cụ và thể chế quản lý xuất khẩu 31 4.3.6. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu 32 KẾT LUẬN 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 LỜI MỞ ĐẦU Nằm ở vị trí trung tâm và nhạy cảm nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương và là thành viên quan trọng của ASEAN, Malaysia đang ngày càng chứng tỏ được vị thế cũng như những tiềm năng của mình ở mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục. Trong những năm gần đây, đất nước xinh đẹp này còn là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn nhất khu vực Đông Nam Á. Là thiên đường nhiệt đới ngay tại trung tâm Đông Nam Á, Malaysia thật sự quyến rũ và hấp dẫn với sự kết hợp hài hòa của nhiều dân tộc, văn hóa và tín ngưỡng. Nói đến Malaysia không thể không nói đến Tháp đôi Petronat nổi tiếng một trong những trung tâm thương mại lớn của Malaysia và thế giới. Đây được coi như sản phẩm của sự phát triển kinh tế Malaysia. Đất nước này có sự phát triển như ngày nay phần lớn là do các chính sách kinh tế đúng đắn của Chính phủ. Một trong những chính sách đó là Chính sách thúc đẩy xuất khẩu và Tự do hóa thương mại của Malaysia mà chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây. Đó sẽ là cơ sở tốt giúp Việt Nam tìm ra những bài học kinh nghiệp để phát triển nền kinh tế của quốc gia. NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MALAYSIA 1.1. Vị trí địa lý, dân cư và lịch sử phát triển của Malaysia Malaysia là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang tại Đông Nam Á. Quốc gia bao gồm 13 bang và lãnh thổ liên bang với tổng diện tích đất là 329.847 kilômét vuông. Malaysia bị tách làm hai phần qua biển Đông: Malaysia bán đảo và Borneo thuộc Malaysia. Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Indonesia và Brunei, trong khi có biên giới trên biển với Singapore, Việt Nam và Philippines. Thành phố thủ đô là Kuala Lampur. Năm 2010, dân số Malaysia là 28,33 triệu, trong đó 22,6 triệu sinh sống tại phần Bán đảo. Malaysia là một quốc gia nhiệt đới, là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học siêu cấp trên Trái Đất, với nhiều loài đặc hữu. Malaysia có nguồn gốc từ các vương quốc Mã Lai hiện diện trong khu vực, và từ thế kỷ 18, các vương quốc này bắt đầu lệ thuộc vào Đế quốc Anh. Các lãnh thổ tại Malaysia bán đảo được hợp nhất thành Liên hiệp Malaya vào năm 1946. Malaya được tái cấu trúc thành Liên bang Malaya vào năm 1948, và giành được độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Malaya hợp nhất với Bắc Borneo. Sarawak và Singapore vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, với từ si được thêm vào quốc hiệu mới là Malaysia. Đến năm 1965, Singapore bị trục xuất khỏi liên bang. Malaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và cũng tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, và Phong trào không liên kết (NAM). Malaysia từng giữ chức chủ tịch ASEAN, OIC, và NAM. Do là một cựu thuộc địa của Anh Quốc, Malaysia cũng là một thành viên của Thịnh vường chung quốc gia. Kuala Lumpur là địa điểm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm 2005. 1.2. Tình hình chính trị xã hội Hệ thống chính phủ theo mô hình gần với hệ thống nghị viện Westminster, một di sản của chế độ thuộc địa Anh. Quyền lập pháp được phân chia giữa các cơ quan lập pháp liên bang và bang. Nghị viện liên bang của Malaysia bao gồm hạ viện và thượng viện Hệ thống pháp luật Malaysia dựa trên thông luật Anh. Tòa án tối cao trong hệ thống tư pháp là Tòa án Liên bang, sau đó là Tòa thượng tố và hai Tòa cao đẳng, một cho Malaysia bán đảo và một cho Đông Malaysia. Malaysia cũng có một tòa án đặc biệt để xét xử các vụ án do Quốc vương đưa ra hoặc chống lại Quốc vương. Các tòa án Syariah tách biệt với các tòa án dân sự, các tòa này áp dụng luật Sharia trong các vụ án liên quan đến người Hồi giáo Malaysia và vận hành song song với hệ thống tòa án thế tục. Đạo luật An ninh Nội địa cho phép giam giữ không cần xét xử, và án tử hình được áp dụng cho các tội như buôn bán ma túy. Sắc tộc có ảnh hưởng lớn trong chính trị Malaysia, nhiều chính đảng dựa trên nền tảng dân tộc. Các hành động quả quyết như Chính sách Kinh tế mới và thay thế nó là Chính sách Phát triển Quốc gia, được thực hiện nhằm thúc đẩy địa vị của bumiputera, bao gồm người Mã Lai và các bộ lạc bản địa, trước những người phi bumiputera như người Malaysia gốc Hoa và người Malaysia gốc Ấn. Các chính sách này quy định ưu đãi cho bumiputera trong việc làm, giáo dục, học bổng, kinh doanh, tiếp cận nhà giá rẻ hơn và hỗ trợ tiết kiệm. Tuy nhiên, nó gây ra oán giận rất lớn giữa các dân tộc. 1.3. Văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo Malaysia là một xã hội đa dân tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Văn hóa ban đầu của khu vực bắt nguồn từ các bộ lạc bản địa, cùng với những người Mã Lai nhập cư sau đó. Văn hóa Malaysia tồn tại các ảnh hưởng đáng kể từ văn hóa Trung Quốc và văn hóa Ấn Đô, bắt nguồn từ khi xuất hiện ngoại thương. Các ảnh hưởng văn hóa khác đến từ văn hóa Ba Tư, Ả Rập và Anh Quốc. Do cấu trúc của chính phủ, cộng thêm thuyết khế ước xã hội, có sự đồng hóa văn hóa tối thiểu đối với các dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ chính thức tại Malaysia là tiếng Malaysia; Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai đang dùng ngoài ra còn rất nhiều thứ tiếng khác như tiếng Tamil, tiếng Thái Lan, tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến,… Hiến pháp Malaysia đảm bảo quyền tự do tôn giáo trong khi xác định Hồi giáo là quốc giáo. Theo thống kê thì có tới 63,6 % người dân Malaysia đều theo đạo Hồi. Ngoài ra còn có Phật giáo, Kitô giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Nghệ thuật truyền thống Malaysia chủ yếu tập trung quanh các lĩnh vực chạm khắc, dệt và bạc. Nghệ thuật âm nhạc và trình diễn Mã Lai có vẻ như bắt nguồn từ khu vực KelantanPattani với các ảnh hưởng từ Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia. 1.4. Tình hình kinh tế Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hướng nhà nước tương đối mở và công nghiệp hóa mới. Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hướng dẫn hoạt động kinh tế thông qua các dự án kinh tế vĩ mô, song vai trò này đang giảm xuống. Malaysia sở hữu một trong những hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm trong giai đoạn từ 1957 đến 2005. Năm 2011, GDP (PPP) của Malaysia là khoảng 450 tỷ đô la Mỹ, là nền kinh tế lớn thứ ba trong ASEAN và lớn thứ 29 trên thế giới. Trong thập niên 1970, nền kinh tế dựa chủ yếu vào khai mỏ và nông nghiệp của Malaysia bắt đầu chuyển đổi hướng đến một nền kinh tế đa lĩnh vực hơn. Từ thập niên 1980, lĩnh vực công nghiệp, với đầu tư ở mức cao, dẫn dắt tăng trưởng của quốc gia. Sau Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, kinh tế Malaysia phục hồi sớm hơn các quốc gia láng giềng, và kể từ đó phục hồi mức của thời kỳ tiền khủng hoảng với GDP bình quân đầu người là 14.800 đô la. Bất bình đẳng kinh tế tồn tại giữa các dân tộc khác nhau, người Hoa chiếm khoảng một phần ba dân số song lại chiếm 70% giá trị vốn hóa thị trường của quốc gia. Thương mại quốc tế của Malaysia có thuận lợi do nằm sát tuyến đường tàu thủy qua Malacca và chế tạo là lĩnh vực then chốt. Malaysia là một nước xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản, dầu mỏ là mặt hàng xuất khẩu chính. Malaysia từng là nhà sản xuất lớn nhất các mặt hàng thiếc, cao su và dầu cọ trên thế giới. Lĩnh vực chế tạo có ảnh hưởng lớn trong kinh tế quốc gia, song cấu trúc kinh tế của Malaysia đang chuyển ra khỏi tình trạng này. Chính phủ thúc đẩy sự gia tăng du lịch đến Malaysia trong một nỗ lực nhằm đa dạng hóa kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào hàng xuất khẩu. Kết quả là du lịch trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn thứ ba của Malaysia, song nó đang bị đe dọa do những tác động tiêu cực từ ngành công nghiệp đang phát triển, với một lượng lớn khí thải và nước thải cùng với nạn phá rừng. Từ năm 20132014, Malaysia được xếp là một trong những nơi tốt nhất để nghỉ hưu trên thế giới, đứng vị trí thứ 3 theo Chỉ số hưu trí toàn cầu. Đây là một trong những kết quả của chương trình Malaysia My Second Home, theo đó người ngoại quốc được phép sống tại Malaysia theo một thị thực trường trú lâu đến 10 năm. Malaysia phát triển thành một trung tâm của ngân hàng Hồi giáo, và là quốc gia có số nữ lao động cao nhất trong ngành này. Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức cũng phát triển. Để tạo ra khả năng phòng thủ tự lực và hỗ trợ phát triển quốc gia, Malaysia tiến hành tư hữu hóa một số cơ sở quân sự của mình trong thập niên 1970. Hành động tư hữu hóa tạo ra ngành công nghiệp quốc phòng, đến năm 1999 thì nằm dưới sự quản lý của Hội đồng công nghiệp quốc phòng Malaysia. Chính phủ tiếp tục thúc đẩy lĩnh vực này và tính cạnh tranh của nó, tích cực tiếp thị công nghiệp quốc phòng. Bộ Khoa học, Công nghệ và Cách tân quy định các chính sách khoa học tại Malaysia. Malaysia nằm trong số các nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về thiết bị bán dẫn, thiết bị điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông. Malaysia có cơ sở hạ tầng thuộc hàng phát triển nhất tại châu Á. Hệ thống viễn thông chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á, với 4,7 triệu thuê bao điện thoại cố định và trên 30 thuê bao điện thoại di động. Malaysia có bảy cảng quốc tế, cảng chính là cảng Klang. Malaysia có 200 khu công nghiệp cùng với các chuyên khu như Khu Công nghệ Malaysia hay Khu Công nghệ cao Kulim. Hệ thống đường bộ của Malaysia trải dài 98.721 kilômét (61.342 mi) và có 1.821 kilômét (1.132 mi) đường cao tốc. Malaysia có 118 sân bay, trong đó 38 có đường băng được lát. Hãng hàng không quốc gia chính thức là Malaysia Airlines, cung cấp dịch vụ hàng không quốc tế và quốc nội. Hệ thống đường sắt do nhà nước vận hành, có tổng chiều dài 1.849 kilômét (1.149 mi). Các hệ thống đường sắt nhẹ trên cao có giá tương đối rẻ và được sử dụng tại một số thành phố như Kuala Lumpur. Lạm phát trong năm 2016, ở mức 2,53,5%, so với 2,1% trong năm 2015 do một số mặt hàng tăng giá và đồng ringgit yếu. Trong năm 2015, tăng trưởng GDP của Malaysia đạt 5%, xuất khẩu tăng 1,9% và nhập khẩu tăng 0,4%. Nợ nước ngoài của Malaysia vẫn ở trong tầm kiểm soát, và đứng ở mức 192,2 tỷ USD, tương đương 72,1% GDP vào cuối năm 2015, so với mức 67,5% GDP năm 2014. Nợ nước ngoài tăng chủ yếu là do tác động tỷ giá khi đồng ringgit mất giá so với hầu hết các đồng tiền khác trong năm. Là một nền kinh tế mở cửa, Malaysia không thể tránh khỏi những bất ổn và rủi ro cao từ bên ngoài. Tuy nhiên, BNM cho rằng Malaysia đã chứng tỏ khả năng chịu được những cú sốc từ bên ngoài thông qua cơ cấu linh hoạt, các bước đệm tài chính và khuôn khổ chính sách mạnh mẽ được xây dựng trong quá trình nhiều năm. Tính đến ngày 2922016, dự trữ ngoại hối của ngân hàng BNM đạt 95,6 tỷ USD. Malaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Hội nghị cấp cao Đông Á và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, và là một thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, Thịnh vượng chung các quốc gia, và Phong trào không liên kết. 1.5. Thể thao Các môn thể thao phổ biến tại Malaysia gồm bóng đá, cầu lông, khúc côn cầu, bóng gỗ, quần vợt, bóng quần, võ thuật, cưỡi ngựa, thuyền buồm và trượt ván. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Malaysia và quốc gia đang nghiên cứu về khả năng ứng cử làm đồng chủ nhà của Cúp bóng đá thế giới năm 2034. Các trận đấu cầu lông thu hút hàng nghìn khán giả và kể từ năm 1948 thì Malaysia là một trong ba quốc gia từng giành chức vô địch Thomas Cup. Liên đoàn bóng gỗ Malaysia được đăng ký vào năm 1997. Các thành viên của quân đội Anh Quốc đưa môn bóng quần đến Malaysia, cuộc thi đấu đầu tiên được tổ chức vào năm 1939. Hiệp hội bóng quần Malaysia được hình thành vào ngày 25 tháng 6 năm 1972. Đội tuyển khúc côn cầu nam quốc gia của Malaysia xếp hạng thứ 13 thế giới vào tháng 11 năm 2013. Cúp Khúc côn cầu thế giới lần thứ ba và lần thứ 10 được tổ chức tại Kuala Lumpur. Malaysia cũng có đường đua công thức 1 riêng là Đường đua quốc tế Sepang. Đường đua tổ chức giải Grand Prix đầu tiên vào năm 1999. Hội đồng Olympic Malaya được hình thành vào năm 1953, và được IOC công nhận vào năm 1954. Malaysia lần đầu tiên tham gia Thế vận hội vào năm 1956 tại Melbourne. Hội đồng được đổi tên hành Hội đồng Olympic Malaysia vào năm 1964, và tham gia hầu hết các kỳ Thế vận hội kể từ khi ra đời (trừ Thế vận hội năm 1980 tại Moskva). Số vận động viên lớn nhất mà Malaysia cử tham gia Thế vận hội là 57 trong Thế vận hội Mùa hè 1972. Các vận động viên Malaysia giành được tổng cộng sáu huy chương Thế vận hội, trong đó có năm huy chương tại môn cầu lông. Quốc gia tranh tài trong Đại hội thể thao Thịnh vượng chung kể từ năm 1950 với tên Malaya, và năm 1966 với tên Malaysia, đại hội từng được tổ chức tại Kuala Lumpur vào năm 1998. CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA MALAYSIA ĐẾN NĂM 2015 2.1. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Malaysia Từ năm 1970, Malaysia thực hiện mở cửa nền kinh tế bằng việc chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng ra xuất khẩu. Malaysia thực hiện mô hình thúc đẩy xuất khẩu song có sự khác biệt về các sản phẩm khai thác lợi thế cạnh tranh trong 2 giai đoạn: 2.1.1. Giai đoạn 1970 1989 Trong giai đoạn này, các mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Malaysia gồm có: cao su, dầu cọ, gỗ, dầu khí, dệt may, giầy dép,... chủ yếu khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Malaysia là các nước phát triển. Để thúc đẩy xuất khẩu trong giai đoạn này, chính phủ Malaysia đã thực hiện các biện pháp sau: (1) Miễn giảm thuế doanh thu đối với các ngành hàng xuất khẩu và các sản phẩm xuất khẩu có sử dụng nguyên liệu trong nước. (2) Trợ cấp về thuế và chi phí cho những hàng hóa liên quan đến xuất khẩu. mức thuế trung bình cho các ngành công nghiệp chỉ còn 13% và hàng rào phi thuế quan gần như không tồn tại. (3) Hỗ trợ tín dụng cho thông qua bảo lãnh và cho vay với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ngoài ra còn thực hiện biện pháp khấu hao nhanh đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chiếm tỷ lệ trên 20% tổng doanh thu hàng năm. (4) Xây dựng và phát triển các khu mậu dịch tự do, khu chế xuất và hệ thống kho chứa hàng miễn phí nhằm tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Năm 1980, 70% hàng chế tạo xuất khẩu là sản phẩm của các khu chế xuất. (5) Từng bước thực hiện xuất khẩu những sản phẩm chế tạo: hàng dệt may, giày dép thông qua tự do nhập khẩu những yếu tố đầu vào sản xuất. (6) Thành lập trung tâm xúc tiến thương mại MATRADE (1985), tổ chức hội chợ hàng xuất khẩu, tạo ra những kênh thông tin về sản phẩm trên thị trường các quốc gia khác nhau, hỗ trợ thương mại, tư vấn… Tuy nhiên thời kỳ này, đối tác chủ yếu của Malaysia là các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Singapore,... thị trường chưa thực sự rộng lớn. 2.1.2. Giai đoạn 1990 nay Từ năm 1990, Malaysia chuyển sang thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chế tạo, đồng thời thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường thay vì chỉ xuất khẩu sang các nước phát triển, Malaysia đã quan tâm hơn tới thị trường các nước đang phát triển, trong đó đặc biệt tập trung hướng tới thị trường ASEAN và Trung Quốc. Để đạt được mục tiêu mới, chính phủ Malaysia đã thực hiện các biện pháp sau: (1) Ký kết các hiệp định song phương và đa phương với nhiều nước như Nhật, New Zealand, Australia,… Năm 2008, Malaysia ký hiệp định song phương với Việt Nam. (2) Gia nhập các tổ chức liên kết kinh tế như ASEAN (1967), WTO (1995), thực hiện cắt giảm thuế quan nhập khẩu theo quy định. (3) Hỗ trợ thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua việc thỏa thuận, ký kết giữa Ngân hàng trung ương Malaysia (BNM – Bank Negara Malaysia) với các ngân hàng nước ngoài. (4) Thành lập các trung tâm thông tin về thương mại và công nghệ để hỗ trợ các công ty trong nước nghiên cứu và phát triển thị trường. (5) Tháng 122006, Chính phủ Malaysia đã đồng ý thành lập Hội đồng xuất khẩu quốc gia để tăng cường cơ cấu xuất khẩu của nước này và nâng cao tính cạnh tranh sau khi đồng ringgit mất giá mạnh so với đồng USD. Hội đồng xuất khẩu sẽ tập trung vào ba lĩnh vực chính, bao gồm hướng tới các thị trường xuất khẩu mới, tăng cường chuỗi sản phẩm và dịch vụ hậu cần, và đảm bảo sản xuất sản phẩm giá trị cao. Nhiều sản phẩm của Malaysia xuất khẩu sang nước khác đã được tái xuất khẩu (theo quốc gia đó) sang nước thứ ba. Vì vậy, Malaysia muốn xuất khẩu trực tiếp đến nước thứ ba để thu được lợi nhuận cao hơn. 2.2. Kết quả Việc chuyển từ xu hướng bảo hộ sang việc nâng đỡ tối đa cho các ngành xuất khẩu đã kích thích các doanh nghiệp nước này tập trung nghiên cứu công nghệ mới, đầu tư cho xuất khẩu dẫn đến các mặt hàng đa dạng nhưng ngày càng chất lượng hơn. Cán cân thương mại của Malaysia sau đổi mới đến nay luôn đạt thặng dư ở mức cao. Tập trung đầu tư cho các ngành có thể mạnh, đến nay, các ngành này đã có những vị thế nhất định, là những mặt hàng được ưa chuộng trong thương mại (ôtô, sản phẩm viễn thông, máy điều hóa, đĩa cứng…). Thay vì xuất khẩu những sản phẩm thô như trước kia thì nay đã xuất khẩu đa số là mặt hàng đã qua tinh chế, công nghệ cao. Malaysia là 1 trong những nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Xuất khẩu được hỗ trợ bởi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng GDP của Malaysia trong những năm gần đây. Hàng xuất khẩu chính của Malaysia là: đồ điện và điện tử (36 %), hóa chất (7,1 %), các sản phẩm dầu khí (7,0 %), khí tự nhiên hóa lỏng (6 %), và dầu cọ (5,1 %). Đối tác xuất khẩu chính của Malaysia là: Singapore (14 %), Trung Quốc (13 %), Liên minh châu Âu (10 %), Nhật Bản (9,5 %), Hoa Kỳ (9,4 %) và Thái Lan (6 %). 2.3. Đánh giá thành công và hạn chế trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Malaysia 2.3.1. Thành công Từ một nước có nền kinh tế khá đóng cửa, đến nay Malaysia đã trở thành 1 nước xuất siêu, tháng 12016, tổng giá trị xuất khẩu của Malaysia đạt 61.850 tỉ ringgit, tương đương với 15.937 tỉ USD. Biểu đồ 2.1. Giá trị xuất khẩu của Malysia (1971 đầu 2016) (Nguồn: http:www.tradingeconomics.commalaysiaexports) Việc chuyển từ xu hướng bảo hộ sang việc nâng đỡ tối đa cho các ngành xuất khẩu đã kích thích các doanh nghiệp nước này tập trung nghiên cứu công nghệ mới, đầu tư cho xuất khẩu… dẫn đến các mặt hàng đa dạng nhưng ngày càng chất lượng hơn. Cán cân thương mại của Malaysia sau đổi mới đến nay luôn đạt thặng dư ở mức cao. Cán cân thương mại của Malaysia (19951013) Đơn vị: tỉ USD (Nguồn: http:atlas.media.mit.eduenprofilecountrymysExports) Chú thích: Màu xanh: Xuất khẩu Màu đỏ: Nhập khẩu Malaysia đã biến đổi từ một nước chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô (cao su, thiếc) những năm 1970 trở thành một trong những nền kinh tế mạnh nhất, đa dạng hóa nhất và tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á. Tập trung đầu tư cho các ngành có thể mạnh, đến nay, các ngành này đã có những vị thế nhất định, là những mặt hàng được ưa chuộng trong thương mại (ôtô, sản phẩm viễn thông, máy điều hóa, đĩa cứng…). Thay vì xuất khẩu những sản phẩm thô như trước kia thì nay đã xuất khẩu đa số là mặt hàng đã qua tinh chế, công nghệ cao. 2.3.2. Hạn chế Khủng hoảng kinh tế của tư bản chủ nghĩa những năm đầu của thập niên 80 tác động nặng nề đến nền kinh tế Malaysia. Đầu tư nước ngoài vào Malaysia giảm, giá dầu mỏ, cao su, thiếc, cọ dầu… giảm liên tục. Đây là đòn đánh mạnh vào nền kinh tế của Malaysia, riêng năm 1986, Malaysia mất 2,3 tỷ USD do sự sụt giảm giá của các mặt hàng xuất khẩu này, do vậy kinh tế rơi vào tăng trưởng chậm dần và sau đó rơi vào trì trệ, khủng hoảng. Để khắc phục điều đó chính phủ đã đề ra kế hoạch 5 năm (19861990) thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhà nước coi trọng và khuyến khích hơn nữa sự phát triển của khu vực tư nhân. Nhiều mục tiêu kỉnh tế xã hội vẫn chưa được giải quyết. Một số bang vẫn còn bị nghèo đói, nhất là nông thôn và cộng đồng người bản địa Malaysia. Việc thành lập cộng đồng kinh doanh người bản địa (BCIC) còn nhiều khó khăn, việc buôn bán kiểu AliBaba vẫn thịnh hành trong đó Ali là người Mã Lai, Baba là người Hoa Kiều, trong thực tế công việc kinh doanh thường do người Mã Lai đứng tên nhưng ông chủ thực sự lại là người Hoa Kiều. Cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Vốn từ Malaysia đầu tư ra nước ngoài lớn do đồng Ringgit giảm giá. Sự khác biệt giữa các sắc tộc và các tầng lớp xã hội vẫn là một vấn đề đòi hỏi thời gian và khi xã hội phải đạt được đến một trình độ cao hơn. CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI CỦA MALAYSIA ĐẾN NĂM 2015 3.1. Thế nào là Tự do hoá thương mại? Tự do hoá thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài. Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế cả về bề rộng và bề sâu. 3.2. Một số hiệp định Malaysia kí kết về tự do hoá thương mại 3.2.1. Malaysia là thành viên của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) – Hiệp định giúp giảm các rào cản thương mại giữa các nước thành viên trong khoảng thời gian 15 năm. 3.2.2. Malaysia cũng là thành viên của 5 FTA khu vực, cụ thể là ASEANTrung Quốc, ASEANHàn Quốc, ASEANNhật Bản, ASEANAustraliaNew Zealand và ASEANẤn Độ. 3.2.3. Hiệp định Thương mại tự do MalaysiaAustralia (MAFTA) Hiệp định Thương mại tự do MalaysiaAustralia (MAFTA) hiệu lực vào ngày 112013, mở ra nhiều triển vọng và cơ hội thâm nhập thị trường mới cũng như tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Với việc sẽ xoá bỏ thuế quan ngay lập tức đối với tất cả các sản phẩm, hiệp định này sẽ mang lại lợi ích cho các nhà xuất khẩu của Malaysia vì Australia loại bỏ 100% thuế nhập khẩu cho các sản phẩm nhập khẩu từ nước Đông Nam Á này. MAFTA cũng cải thiện khả năng tiếp cận thị trường về dịch vụ thương mại trong một số phân ngành cho các nhà đầu tư Malaysia. Các công ty Malaysia sẽ có quyền tham gia vào các dịch vụ bệnh viện và các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện ở Australia. Australia cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Malaysia tham gia cung cấp các dịch vụ y học cổ truyền và hỗ trợ điều trị như liệu pháp vi lượng đồng căn, Ayurveda và y học cổ truyền. Malaysia được phép đầu tư 100% vào các chuyên ngành bao gồm kế toán, pháp lý, thuế, kiến trúc, kỹ thuật, quy hoạch đô thị, kiến trúc cảnh quan, nha khoa, thú y và dịch vụ tư vấn quản lý tại Australia. Đổi lại, Malaysia cam kết mở cửa hơn cho Australia tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, viễn thông và tài chính. Xuất khẩu của Malaysia sang Australia năm 2011 đạt 8,4 tỷ USD, do thương mại giữa hai nước trong năm 2011 đã tăng 11% lên 38,49 tỷ RM (12,75 tỷ USD), từ 34,2 tỷ RM trong năm 2010. Trong đó Malaysia xuất khẩu 25,68 tỷ RM, trong khi nhập khẩu 12,81 tỷ RM. Các cuộc đàm phán về MAFTA bắt đầu vào năm 2005 và đã được ký kết vào ngày 2252012. Các mặt hàng và sản phẩm của Malaysia có tiềm năng xuất khẩu sang Australia gồm sắt thép, sản phẩm nhựa, quần áo và đồ may mặc, đồ gỗ nội thất, dầu cọ, ca cao và các sản phẩm ca cao, thực phẩm và các linh kiện phụ tùng ôtô. 3.2.4. Gần đây, Malaysia đã kết thúc đàm phán FTA với Thổ Nhĩ Kì Theo Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia (MITI), Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có hiệu lực từ ngày 182015. Hiệp định, được ký kết hồi tháng 42014 nhân chuyến thăm Thổ Nhĩ Kỳ của Thủ tướng Malaysia Najib Razak, sẽ thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước và tăng cường liên kết kinh tế lâu dài. Trong tuyên bố mới đây, Bộ trưởng Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia Mustapa Mohamed cho biết Thổ Nhĩ Kỳ là một thị trường đầy tiềm năng với dân số 74 triệu người. Ông kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp Malaysia tận dụng các cơ hội mà Hiệp định này tạo ra. Khi Hiệp định có hiệu lực, các nhà xuất khẩu Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có thể hưởng lợi từ sự tiếp cận ưu đãi cho các sản phẩm của hai nước. Cả Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ loại bỏ 70% các loại thuế trong tổng thể các dòng thuế, khi Hiệp định có hiệu lực và sau tám năm, gần 86% các dòng thuế sẽ được giảmloại bỏ. Năm 2014, kim ngạch thương mại giữa Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ đạt 969 triệu USD, trong đó xuất khẩu của Malaysia sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 752 triệu USD và nhập khẩu đạt 217 triệu USD. Malayia xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu hàng dệt may và quần áo, hóa chất và sản phẩm hóa chất, dầu cọ, sản xuất kim loại, các sản phẩm cao su, và các sản phẩm điện và điện tử, trong khi nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ hàng may mặc và quần áo, các thiết bị máy móc và phụ tùng, sắt thép sản phẩm, hóa chất và sản phẩm hóa chất, nông sản, sản phẩm điện và điện tử. Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ đặt mục tiêu đạt kim ngạch thương mại song phương 5 tỷ USD vào năm 2020. Việc thực hiện FTA giữa hai nước dự kiến sẽ tạo thuận lợi cho việc đạt được các mục tiêu này. 3.2.5. Ngoài ra Malaysia còn thực hiện kí kết FTA với các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand, Pakistan và Chile 3.3. Đánh giá thành công và hạn chế của Malaysia trong quá trình tự do hóa thương mại 3.3.1. Thành công Phải khẳng định ngay rằng, tự do thương mại mang lại những lợi ích chung, tạo ra sự tiến bộ và phát triển của toàn nhân loại. Tuy nhiên, do đặc điểm và hoàn cảnh riêng của mình, Malaysia còn nhận được nhiều lợi ích cụ thể to lớn khác. Trước hết, tự do thương mại tạo cơ hội cho quốc gia này tiếp nhận thêm nguồn lực phát triển kinh tế. Trong quá khứ, vì nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh lịch sử, Malyasia bị tụt hậu quá nhiều so với các nước phát triển. Malaysia có cơ hội tiếp cận với những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt hơn, giá thành rẻ hơn mà còn nhận được thêm nhiều nguồn lực vô cùng quan trọng để tăng tốc quá trình phát triển. Tự do thương mại giúp Malaysia nhận được các nguồn đầu tư, công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến là những nhân tố cơ bản và thiết yếu để xây dựng, vận hành và hiện đại hóa nền kinh tế. Thành công của Malaysia là một bằng chứng rất thuyết phục cho thấy hiệu quả của việc khai thác các nguồn lực. Tự do thương mại thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách chính trị xã hội. Việc hàng hoá, dịch vụ, tiền vốn và thậm chí cả con người lưu chuyển dễ dàng, nhanh chóng và với quy mô lớn trên thị trường toàn cầu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn lao mà còn thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phát triển chính trị xã hội của mọi cộng đồng. Thông qua lợi ích kinh tế, tự do thương mại ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống như truyền thống, gia đình và dân chủ xã hội. Cùng với tự do thương mại, dân chủ lan truyền tới các miền đất mới, thúc đẩy cải cách chính trị, văn hoá, làm tăng vai trò của các tổ chức phi chính phủ. Tự do thương mại tạo nguồn động lực kinh tế thúc đẩy khuynh hướng cải cách triệt để hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và thậm chí là cả hệ thống nhận thức. Tự do thương mại tạo ra sức ép xã hội để người dân được hưởng những quyền tự do khác, làm đổi mới bầu không khí chính trị, văn hóa xã hội mà kết quả là các quốc gia đang phát triển ngày càng có tiếng nói quan trọng hơn trên trường quốc tế. Cuối cùng, tự do thương mại khuyến khích phát triển một nền văn hóa mới. Tự do thương mại thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa về văn hoá, góp phần khắc phục những yếu tố lạc hậu trong văn hóa của Malaysia. Đặc trưng lớn nhất của quá trình toàn cầu hóa về văn hóa là sự hình thành đặc tính văn hóa mới của thời đại, văn hóa công dân thế giới. Đó là nền văn hóa mở, thu nhận mọi giá trị phù hợp với tự nhiên và phát triển. Con người không chỉ ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ bó hẹp trong cộng đồng mình mà còn trước toàn thể nhân loại. Trong môi trường văn hóa mở, người dân của quốc gia này dễ dàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh, giao lưu và đối thoại quốc tế. Trong xã hội văn minh, họ trở nên bình đẳng với các đối tác khác trong việc tìm kiếm sự hợp tác, đồng thuận cho tiến trình phát triển toàn cầu. 3.3.2. Hạn chế Tự do thương mại đem lại những cơ hội và lợi ích nhưng rủi ro không phải là không có. Rủi ro gõ cửa từng quốc gia bất kể lớn, bé, giàu, nghèo. Nghiêm trọng hơn, tự do hóa thương mại có thể làm đảo lộn nhiều lĩnh vực, thậm chí dẫn đến những nhiễu loạn xã hội tại nhiều nước nghèo. Đó là những phản ứng phụ, phản ứng không mong muốn của quá trình tự do hóa thương mại. Do hoàn cảnh kinh tế xã hội của mình thường có nhược điểm chung là kém phát triển về kinh tế và khoa học công nghệ, lạc hậu về thể chế chính trị và văn hoá. Chính do những nhược điểm này, Malaysia sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. • Về kinh tế Cơ chế tự do thương mại không chỉ tác động tới cộng đồng kinh doanh mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ xã hội. Quá trình phát triển tự do thương mại đã hình thành cơ chế tự do thương mại bao gồm các luật lệ quy định ràng buộc các bên phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động thương mại. Quy tắc tự do thương mại không cho phép các chính phủ hỗ trợ tài chính cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh trong nước dưới bất kỳ một hình thức trợ cấp, ưu đãi nào. Quy tắc này đặt các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh của Malaysia vào tình thế nghiêm trọng hơn, do phải đối mặt với cạnh tranh thực sự. Ngoài ra, các quy định như không được sử dụng lao động trẻ em, quy định bảo vệ môi trường... là các tiêu chuẩn mà các nước đang phát triển không dễ gì đáp ứng. • Về chính trị xã hội Tự do thương mại còn có nghĩa là giảm thuế nhập khẩu, Malaysia sẽ mất đi một nguồn thu thuế quan trọng, phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt ngân sách, làm trầm trọng hơn các vấn đề xã hội. Kết quả là nhiều tiến trình cải cách bị cản trở, xã hội càng khó thoát khỏi tình trạng trì trệ và kém phát triển. Đối với chủ thể nhà nước mà đại diện là chính phủ, tự do thương mại không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích. Hoạt động tự do thương mại đe doạ phá vỡ những đặc quyền và độc quyền nhà nước nhiều khi núp dưới danh nghĩa chủ quyền quốc gia hoặc độc lập chính trị. Chính vì nguyên nhân này, chính phủ thường có thái độ bảo thủ hơn trong quá trình tự do thương mại. CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ MALAYSIA ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 4.1. Đánh giá chung về kết quả Malaysia đạt được 4.1.1. Thành công Kết quả về Thương mại quốc tế mà Malaysia đạt được trong thời gian qua hết sức tự hào. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng lên. Tuy có giảm đôi chút trong cuộc khủng hoàng tài chính thế giới nhưng vẫn là một nước xuất siêu. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của Malaysia tiếp tục tăng mạnh (tăng 14.3% so với 2010). Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các nước ASEAN trong năm 2010 Tên nước Kim ngạch xuất khẩu ( tỷ USD ) Tốc độ tăng xuất khẩu ( % ) so với 2010 Kim ngạch nhâp khẩu ( tỷ USD ) Tốc độ tăng nhập khẩu (%) so với 2010 Brunei (b) 12.3 37.5 3.3 32.1 Indonexia 201.5 27.5 176.4 30.3 Lào 2.4 37.4 2.7 28.6 Malaysia (b) 227.0 14.3 187.7 14 Philippines 48.0 6.7 64.0 9.5 Singapore 409.5 16.4 365.8 17.7 Thái Lan 228.8 17.02 228.5 24.9 Việt Nam 96.9 34.2 106.7 25.8 Nguồn : WTO và Tổng cục Hải quan. Ghi chú (b) Số liệu theo ước tính của WTO Đến năm 2012, do triển vọng tăng tưởng kinh tế toàn cầu không chắc chắn khiến xuất khẩu của Malaysia giảm nhưng vẫn đạt giá trị cao so với các nước trong khu vực (khoảng 58 Ringgit). Đối tác thương mại của Malaysia cũng thay đổi đáng kể. Mỹ không còn là đối tác hàng đầu mà thay vào đó là Trung Quốc, tiếp đến là Singapore, Nhật Bản. Trong đó các thị trường xuất khẩu chính là Singapore, Trung Quốc, Hoa Kỳ và các thị trương nhập khẩu chính là Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ. Bảng 2: Top 10 đối tác thương mại của Malaysia giai đoạn 20042005 và 20142015 Nguồn : Matrade.gov.my Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Malaysia hiện nay là các mặt hàng thuộc nhóm hàng điện và điện tử, viễn thông, xăng dầu và các loại dầu thực vật. Mặt hàng điện, điện tử đóng góp lớn nhất trong cơ cấu hàng xuất khẩu đạt 222,16 tỷ RM. Malaysia hiện đang là một trong những nước xuất khẩu chất bán dẫn và linh kiện điện tử hàng đầu thế giới và cũng là nước đứng thứ năm về xếp hạng cạnh tranh trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về Thương mại và hiệu quả của chính phủ. Từ đây chúng ta có thể thấy được thành quả từ những chính sách mặt hàng của Malaysia. 4.1.2. Hạn chế Các chính sách xuất khẩu chủ yếu vào xuất khẩu mặt hàng điện, điện tử nên năm 20012002, Malaysia bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự tụt dốc của nền kinh tế toàn cầu và sự đình trệ của ngành công nghệ thông tin GDP năm 2001 chỉ tăng trưởng 0.5% do kim ngạch xuất khẩu của năm giảm gần 11%. 4.2. Bài học dành cho Việt Nam Mỗi chính sách của một nước đều có những điểm khác biệt do hoàn cảnh , điều kiện phát triển là khác nhau. Thông qua việc nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu và tự do hóa thương mại của Malaysia việc rút ra một số kinh nghêm là rất cần thiết cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế vì vậy hướng đi tất yếu của chúng ta cần nhìn nhận là: Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp, từ công nghiệp chế biến dựa trên lao động thủ công, kỹ thuật giản đơn đến công nghiệp chế tạo dựa trên vốn cao và kỹ thuật hiện đại. Trong đó sự chuyển dịch cơ cấu hàng chế tạo và tỉ lệ hàng chế tạo xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh. Công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu không phải là mục đích tự thân mà nó là phạm trù lịch sử cho nên mục tiêu trực tiếp cụ thể không thể nào khác là nhằm phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững, có hiệu quả. Phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào thế kỷ 21. Thực chất của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm phát huy lợi thế so sánh, buộc sản xuất trong nước phải luôn đổi mới công nghệ, không thể tồn tại với năng suất thấp kém, mau chóng nâng cao khả năng tiếp thị, tự do hoá thương mại. Đích cuối cùng là đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị trường, kể cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Hướng về xuất khẩu không có nghĩa là xem nhẹ nhu cầu trong nước, không chú ý thay thế nhập khẩu. Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nhằm: Đảm bảo kim nghạch nhập khẩu phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Gắn sản xuất và nền kinh tế trong nước với các hoạt động của nền kinh tế thế giới, nối kết các nền kinh tế với nhau và tạo ra một không gian kinh tế rộng lớn hơn nhờ liên kết và buôn bán quốc tế. Tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu. Khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tương đối của đất nước, kích thích các ngành kinh tế phát triển. Buộc các ngành kinh tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải đổi mới công nghệ, tiếp thu kỹ thuật mới, phát huy lợi thế của các nước đi sau để đi tắt vào kỹ thuật tiên tiến nhất. Góp phần tăng tích luỹ và sử dụng vốn trong nước. Tận dụng được nguồn vốn của nước ngoài có tính đến kinh nghiệm của các nước đi trước. Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước. Thúc đẩy phát triển quan hệ đối ngoại giữa các nước, nâng cao uy tín của Việt nam trên trường quốc tế và khu vực. 4.3. Kinh nghiệm rút ra thực hiện phát triển thúc đẩy xuất khẩu và tự do hóa thương mại ở Việt Nam Việc đưa ra một chính sách hướng về xuất khẩu với những nội dung phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt nam là vô cùng quan trọng. Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu thực chất là chiến lược phát triển kinh tế. Nó không phải là nhiệm vụ của một ngành cụ thể mà nó là nhiệm vụ của các ngành kinh tế, dịch vụ khác. Nó không phải chỉ là nhiệm vụ của cơ quan xuất nhập khẩu mà nó còn là của cơ quan quản lý, cơ quan sản xuất, cơ quan ra quyết định. Phấn đấu đạt một nền ngoại thương tương đối phát triển, năm 2015 thu nhập bình quân đầu người đã đạt xấp xỉ 2000USD và tới năm 2025 là 4000USD, tốc độ xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 24 28%, chúng ta phải thực hiện các chính sách: 4.3.1. Chính sách chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ xuất khẩu hàng hoá là cơ cấu hàng xuất khẩu và những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Xác định cơ cấu hàng hoá có hiệu quả và những mặt hàng chủ lực là nội dung quan trọng của chính sách mặt hàng xuất khẩu. Trong nền kinh tế thị trường việc đổi mới chính sách cơ cấu hàng xuất khẩu phải căn cứ vào: thị trường xuất khẩu, điều kiện và khả năng sản xuất ở trong nước, hiệu quả. Trong ba yếu tố trên hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất trong sự lựa chọn cơ cấu và mặt hàng xuất khẩu. Để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu cần có chính sách chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng thô và sơ chế đi đôi với tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Giảm tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đi đôi với tăng tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu mới, tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong giá trị kim ngạch xuất khẩu. 4.3.2. Chính sách gắn sản xuất với xuất khẩu Chính sách này có tầm quan trọng trong việc đẩy mạnh hàng xuất khẩu. Chúng ta cần phải thấy được mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa sản xuất và xuất khẩu. Sản xuất tốt thì xuất khẩu tốt, kinh tế tăng trưởng và ngược lại. Sản xuất là điều kiện cần của xuất khẩu. Muốn tạo ra được hàng hoá xuất khẩu chiếm lĩnh được thị trường thì khâu sản xuất phải được chú trọng, để tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, giá thành hạ. Muốn vậy phải tạo điều kiện để người sản xuất hiểu biết về thị trường của từng nước, từng khu vực trên thế giới và thị trường trong nước. Thiết lập tốt mối quan hệ bạn hàng với các tổ chức và cá nhân kinh doanh xuất nhập khẩu trong và ngoài nước thực hiện phương châm “Buôn có bạn, bán có phường thực hiện các chính sách ưu đãi đối với các nhà sản xuất hàng xuất khẩu như: các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế doanh thu. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu tăng lợi nhuận đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu được giảm thuế lợi tức, các doanh nghiệp gia công hàng hoá cho nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, vật tư tiêu dùng cho gia công hàng, tiền gia công hàng được miễn thuế doanh thu. Vật tư hàng nhập khẩu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp. 4.3.3. Chính sách mở cửa thị trường Để thúc đẩy chiến lược hướng về xuất khẩu, Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng và tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hiện phương châm mở cửa. Việt nam muốn làm bạn với tất cả các nước, các tổ chức kinh tế quốc tế, không phân biệt thể chế chính trị, tôn giáo, các tổ chức Chính phủ hay tổ chức phi Chính phủ nhằm tìm kiếm thị trường và bạn hàng cho các sản phẩm xuất khẩu. Trong thời gian tới, Việt Nam cần củng cố tăng cường quan hệ buôn bán với các nước Châu Á phát triển thương mại với các khu vực khác, với Châu Âu, Châu Mỹ, Trung Đông. Song song với việc mở rộng thị trường mới, cần tìm cách xây dựng lại thị trường truyền thống có quan hệ từ lâu là Liên Xô cũ và Đông Âu. 4.3.4. Chính sách đầu tư trong và ngoài nước Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: Cần huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng...”. Đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia. Trong những năm trước mắt khi mà nguồn vốn tích luỹ nội bộ còn hạn hẹp thì đầu tư nước ngoài chiếm vị trí quan trọng. Thông qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài chúng ta tranh thủ được vốn, kỹ thuật và công nghệ mới, mở rộng thị trường ngoài nước, tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến, trên cơ sở đó xây dựng những cơ sở kinh tế mới, hiện đại hoá cơ sở hiện có nhằm tạo việc làm cho người lao động, khai thác một phần những tiềm năng của đất nước để tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu. Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Hiện nay khu vực có đầu tư nước ngoài chiếm 100% sản lượng dầu thô, 44,8% sản lượng thép... Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 phần đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm gần 43% nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì tỷ lệ này nên đến trên 50%. Trong thời gian vừa qua, khủng hoảng tài chính kinh tế tiền tệ trên thế giới cũng như công cuộc cải cách tiền tệ của Trung Quốc làm cho môi trường đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài xấu đi sẽ đưa đến kết quả là quá trình phân bố lại chu chuyển vốn đầu tư trong khu vực và làm chậm lại quá trình tự do hoá thương mại đầu tư và tiền tệ trong khu vực các nước ASEAN nói riêng và trên thế giới nói chung. Đó cũng chính là cơ hội để Việt nam có thể nhận thêm các nguồn đầu tư mới, tranh thủ thời gian hội nhập nhanh hơn vào khu vực tiềm năng. Nhà nước ta cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật đầu tư nước ngoài, tạo ra một “sân chơi” thông thoáng, hấp dẫn, bình đẳng, thuận lợi cho các bạn hàng quốc tế tham gia đầu tư liên doanh liên kết hơn. Từ 01072015 Luật Đầu tư mới sẽ có hiệu lực thay thế Luật Đầu tư 2005. Theo Luật Đầu tư 2005 tất cả các dự án có vốn nước ngoài không xác định tỷ lệ của nhà đầu tư nước của doanh nghiệp vẫn phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Nay theo Luật Đầu tư 2014 qui định đối với các dự án nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn 51% vốn điều lệ mới phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài. Đây thực sự là một bước mở nhằm góp phần thu hút, khuyến khích đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. 4.3.5. Đổi mới các công cụ và thể chế quản lý xuất khẩu Nước nào cũng coi trọng việc xuất khẩu Chính phủ đã có nhiều chính sách thúc đẩy, tuy nhiên xuất khẩu là một công việc phức tạp gặp không ít khó khăn trong các lĩnh vực như: tài chính, giấy phép, kiểm soát, ngoại tệ và các chính sách của Chính phủ. Do vậy việc đổi mới chính sách và thể chế quản lý xuất khẩu là vấn đề mà chúng ta cần phải bàn đến. Việc quản lý xuất khẩu được thực hiện bằng quy chế quản lý ngoại tệ. Không phải lúc nào nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi vì quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài dạng xuất khẩu như sản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu hoặc có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước. Để thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện và đổi mới các công cụ: Thuế xuất khẩu, Hạn ngạch xuất khẩu, Giấy phép xuất khẩu, Thủ tục hải quan Xuất khẩu hàng hoá, Quản lý ngoại tệ, Tỉ giá hối đoái,… 4.3.6. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu Việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có một khuôn khổ tổ chức có hiệu quả để giải quyết các lĩnh vực như: Thu thập thông tin, phân phối thông tin và tiếp thị... Những hình thức hỗ trợ xuất khẩu bao gồm việc thành lập các tổ chức đẩy mạnh xuất khẩu, giúp đỡ cho việc tiếp thị xuất khẩu và hỗ trợ cho các công ty thương mại. Ở Việt Nam nên có tổ chức xúc tiến thương mại của các nước tại Việt Nam với mục tiêu: đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và tăng cường xuất khẩu các sản phẩm của Việt Nam ra nước ngoài các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu, tập trung đưa ra các giải pháp để tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu có các điều kiện dễ dàng như: Hỗ trợ ngoại tệ cho các công ty nhập khẩu thông qua các hình thức cho vay với lãi xuất ưu đãi. Cấp các thủ tục đặc biệt. Đầu tư vào một số công ty mậu dịch quốc tế. Tổ chức trao đổi giữa các nhà hoạch định chính sách với các nhà xuất khẩu để thống nhất mục tiêu xuất khẩu. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần trợ cấp về mặt tài chính cho các đơn vị, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu nhằm thực hiện tốt, nhanh chóng kế hoạch và mục tiêu của đơn vị dưới hình thức cho vay với lãi xuất ưu đãi. Đặc biệt trợ cấp đối với các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu chủ lực, các cơ sơ sản xuất hàng xuất khẩu gặp khó khăn nhưng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đó mang lại nhiều ngoại tệ và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao cho đất nước. KẾT LUẬN Thành công trong những năm trở lại đây đã giúp Malaysia có được vị thế tốt trong khu vực cũng như trên thế giới. Mặc dù vẫn có những bất cập nhưng với những bài học thực tế rút ra từ chính sách xuất nhập khẩu và tự do hóa thương mại của Malaysia, Việt Nam sẽ nhanh chóng nắm bắt, học hỏi, đưa ra những quyết định đúng đắn và dựa vào đó để phát triển nền kinh tế đất nước trong bối cảnh nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn và luôn trong tình trạng không ổn định. Quyết định về chính sách kinh tế luôn là bài toán khó của mỗi quốc gia đang phát triển. Việc quyết định ra sao ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế quốc dân. Vì vậy chúng ta cần cân nhắc, tìm hiểu thật kĩ càng khi tham khảo, áp dụng các công cụ, chính sách của không chỉ Malaysia mà còn của các nước trên thế giới vào nền kinh tế Việt Nam.   DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. www.trungtamwto.vn 2. www.customs.gov.vn 3. www.gso.gov.vn 4. https:vi.wikipedia.orgwikiMalaysia 5. http:www.travel.com.vnchauatourmalaysia.aspx 6. http:text.123doc.org
Xem thêm

35 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2006 – 2015

CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2006 – 2015

MỤC LỤCMỤC LỤC3LỜI MỞ ĐẦU3CHƯƠNG 1. NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI52.1. Địa lý và đa dạng sinh học72.2. Xã hội72.3. Kinh tế72.4. Ngoại giao82.5. Giáo dục9CHƯƠNG 3. CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2006 – 2015103.1. Mục tiêu của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia103.2. Nội dung của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 2006 – 2015103.2.1. Các công cụ tài chính103.2.2. Các công cụ phi tài chính133.3. Đánh giá chung của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 20062015163.3.1. Thành tựu163.3.1.1. Về lượng vốn đầu tư163.3.1.2. Về đối tác đầu tư173.3.1.3. Thành tựu về xây dựng chính sách18CHƯƠNG 4. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM194.1. Tổng quan trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam194.1.1. Hình thức đầu tư, hình thức pháp lý và chuyển nhượng vốn.194.1.2. Thủ tục đầu tư194.1.3. Phân cấp quản lý204.1.4. Ưu đãi về tài chính204.1.5. Ngoại tệ và vay vốn204.1.6. Visa, giấy phép lao động và tiền lương204.1.7. Đất đai và tiền thuê đất204.1.8. Cung cấp hạ tầng214.1.9. Giải quyết tranh chấp214.2. Nét tương đồng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia và Việt Nam214.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 2006 2015224.3.1. Trong lĩnh vực đầu tư224.3.2. Về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài224.3.3. Về ưu đãi đầu tư234.3.4. Các biện pháp thúc đẩy thu hút FDI23KẾT LUẬN24DANH MỤC THAM KHẢO25LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế quốc tế mọi quốc qia đều mở rộng cánh cửa và nỗ lực bắt tay làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhằm mục đích thúc đẩy tăng trửơng kinh tế nhanh và bền vững. Nhưng để hoạt động hướng ngoại thành công thì mỗi quốc gia đều phải tìm cho mình một hướng đi đúng. Mét trong những con đường dẫn đến thành công của rất nhiều quốc gia đó là việc đẩy mạnh thu hut đầu tư trực tiếp nước ngoài.Malaysia là một nước có môt trường đầu tư hấp dẫn và thông thoáng nhất Đông Nam Á. Theo số liệu điều tra, tổng giá trị đầu tư nước ngoài của Malaysia năm 2015 là 46,7 tỷ đô gấp đôi lượng vốn mà Việt Nam thu hút được. Vậy Malaysia đã có những chính sách gì để thu hút được một lượng vốn lớn như vậy? Việt Nam chúng ta học được những kinh nghiệm gì trong việc hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài? Chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Malaysia trong những năm gần đây.Hiện nay, Việt Nam tiếp tục xác định thu hút đầu tư nước ngoài là mục tiêu quan trọng với định hướng thu hút công nghệ cao, công nghệ hỗ trợ, phát triển hàm lượng công nghiệp, giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh với các quốc gia khác trong thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt, để tăng khả năng hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc nghiên cứu, so sánh chính sách FDI của các quốc gia có những điều kiện, trình độ tương đồng với Việt Nam là cần thiết. Bài viết xin trình bày nghiên cứu về chính sách thu hút FDI tại Malaysia và một số kinh nghiệm cho Việt Nam. Chính vì vậy chúng tôi đưa ra đề tài: “Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 20062015. Thực trạng và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài2.1.Mục đíchĐề tài đi vào phân tích các chính sách được Malaysia áp dụng trong những năm qua để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để thấy được những thành tựu, hạn chế từ đó đưa ra các giả pháp trong chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm tới.2.2.Nhiệm vụ•Phân tích các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Malaysia.•Thống kê, so sách tổng hợp và đánh giá về nguồn vốn vào Malaysia trong những năm vữa qua, từ đó đưa ra bài học kinh nghiêm và hướng đi cho Việt Nam.3.Đối tượng và phạm vi đề tài•Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Malaysia.•Phạm vi nghiên cứu: chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia trong giai đoạn 20062015.4.Phương pháp nghiên cứuĐề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh nhằm phân tích các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Malaysia giai đoạn 20062015 và đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.5.Kết cấu của đề tàiNgoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được chia làm 4 chương:Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.Chương 2: Giới thiệu chung về đất nước Malaysia.Chương 3: Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 20062015.Chương 4: Một số khuyến nghị để hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.NỘI DUNG BÀI VIẾTCHƯƠNG 1. NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI1.1.Khái niệmChính sách thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là tập hợp các chủ trương, hoạt động của chính phủ nhằm thu hút vôn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất khẩu.1.2. Mục tiêuTăng cường thu hút đầu tư có hiệu quả. Tăng quy mô đầu tư (ngoại tệ, công nghệ), tăng thêm đóng góp vào khả năng xuất khẩu, và đóng góp phần quan trọng vào thu ngân sách nhà nước (thuế, phí).Việc thu hút FDI phải nhằm mục tiêu là nâng cao thu nhập và trình độ người lao động thông qua tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động ở tất cả các trình độ. Học hỏi thêm được nhiều kinh nghiêm trong các quản lý, sản xuất và cả thái độ làm việc nghiêm túc của những nhà đầu tư nước ngoài.1.3. Nguyên tắcĐãi ngộ quốc gia tức là không có sự phân biệt giữa các chủ đầu tư nước ngoài về chính sách thuế, môi trường đầu tư, chính sách sử dụng lao động, cùng nhiều ưu đãi khác.Tính minh bạch và có thể dự đoán được. Qua việc thay đổi theo các chính sách quốc tế vốn mang tính minh bạch, rõ ràng, cụ thể giúp cho các doanh nghiệp có thể dự đoán được từ đó dễ dàng đưa ra các kế hoạch và chiến lược kinh doanh phù hợp nhất. Đồng thời phải hạn chế tối thiểu những rủi ro có thể xảy ra.1.4. Công cụ1.4.1. Các công cụ tài chính•Công cụ thuế và các loại phí (thuế nội địa, thuế xuất nhập khẩu, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, phí thuê quyền sử dụng đất, sử dụng các dịch vụ hạ tầng)•Công cụ điều tiếu vốn (Quy định về hình thức góp vốn, quy định về tỷ lệ góp vốn, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá hối đoái)1.4.2. Các công cụ phi tài chính•Xây dựng và thực hiện quy hoạch thu hút đầu tư nước ngoài•Quy định về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư •Quy định về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư •Quy định về thời gian tối đa của dự án đầu tư •Quy định về thủ tục và trách nhiệm của các bên tham gia giải phóng mặt bằng và thực hiện đến bù.•Quy định về tuyển dụng lao động•Quy định về trách nhiệm xử lý ô nhiễm môi trường•Quy định về đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệCHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẤT NƯỚC MALAYSIA2.1. Địa lý và đa dạng sinh họcMalaysia là quốc gia có diện tích lãnh thổ lớn thứ 67 trên thế giới gồm hai phần đất liền là Tây Malaysia và Đông Malaysia. Về biên giới trên đất liền Tây Malaysia giáp với Thái Lan, còn Đông Malaysia giáp với Indonesia và Brunei. Malaysia có biên giới biển với Việt Nam và Philippin. Malaysia là một quốc gia nhiệt đới, là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học siêu cấp trên Trái Đất, với nhiều loài đặc hữu cao. Theo ước tính, Malaysia có 20% số loài động vật trên thế giới. Mức độ loài đặc hữu cao được phát hiện tại các khu rừng đa dạng ở vùng núi Borneo, các loài tại đây bị cô lập với các loài khác ở các khu rừng đất thấp.2.2. Xã hộiThủ đô của Malaysia là Kuala Lumpur với biểu tượng là tòa tháp đôi Petronas, hay Petronas Twin. Với ngôn ngữ chính là tiếng Bahasa Malaysia, tiếng Anh và tiếng Hán cúng được sử dụng phổ biến. Trong đó, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai được dùng nhiều nhất, khi tiếng Anh đóng vai trò là ngôn ngữ giảng dạy toán và khoa học trong toàn bộ các trường công ngay từ bậc tiểu học. Malaysia là một đất nước đa sắc tộc, đa văn hóa, được mệnh danh là “một châu Á thu nhỏ”. Sự đa dạng đó đã tạo nên một bức tranh đầy màu sắc với ba mảng màu lớn là Malay, Trung Quốc và Ấn Độ.Về tôn giáo, hiến pháp Malaysia đảm bảo quyền tự do tôn giáo, trong đó xác định hồi giáo là quốc gia (61,3% theo Hồi giáo).2.3. Kinh tế•Tiền tệ: Ringgit (Viết tắt là MYR).•Cơ sở hạ tầng: Malaysia có cơ sở hạ tầng phát triển nhất châu á. Hệ thống viễn thông chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á. Malaysia có 7 cảng quốc tế, cảng chính là cảng Klang. Malaysia có 200 khu công nghiệp cùng với các chuyên khu như Khu công nghệ Malaysia, Khu công nghệ cao Kulim. Malaysia có 118 sân bay trong đó 38 có đường băng được lát.•Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hường nhà nước tương đối mở. Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hướng dẫn hoạt động kinh tế thông qua các dự án kinh tế vĩ mô, song vai trò này đang giảm xuống. Malaysia sở hữu một trong những hồ sơ kinh tế tại Châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6.5%năm trong giai đoạn từ 1957 đến 2005. Năm 2011, GDP (PPP) của Malaysia là khoảng 450 tỷ USD, là nền kinh tế thứ trong ASEAN và lớn thứ 29 trên thế giới.•Malaysia là nhà xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm chế biến như chất bán dẫn, các sản phẩm nghe nhìn, điện gia dụng, sản phẩm từ cao su và hóa chất oleo. Đồng thời là một trong những nhà sản xuất dầu cọ, cao su tự nhiên, hạt ca cao, tiêu và ga tự nhiên lớn nhất thế giới. Bên cạnh đó, chính phủ thúc đẩy sự gia tăng du lịch đến Malaysia trong một lỗ lực nhằm đa dạng hóa kinh doanh và giảm sút sự phụ thuộc vào hàng hóa xuất khẩu. Kết quả là du lịch trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn thứ 3 của Malaysia.2.4. Ngoại giaoMalaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và cùng tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế Liên Hợp Quố, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu ÁThái Bình Dương và phong trào không liên kết (NAM). Malaysia từng giữ chức chủ tịch ASEAN, OIC, NAM. Do là một cựu thuộc địa của Anh Quốc, Malaysia cũng là một thành viên của Thịnh vượng chung các quốc gia.Chính sách ngoại giao của Malaysia về hình thức là dựa trên nguyên tắc hòa bình với các quốc gia bất kể hệ thống chính trị của quốc gia đó. Hơn nữa, chính phủ cố gắng khắc họa Malaysia là một quốc gia hồi giáo tiến bộ trong khi tăng cường quan hệ với các quốc gia hồi giáo khác.2.5. Giáo dụcThu hút hơn 80000 sinh viên quốc tế trong năm 2010, ngành giáo dục của Malaysia đã đạt được những tiến bộ quan trong trong thập kỷ qua và đang ghi dấu như một trung tâm giáo dục chất lượng bậc nhất Đông Nam Á.Malaysia có 20 trường đại học công, 24 trường kỹ thuật, 37 trường cao đẳng cộng đồng công, 33 trường đại học tư, 4 chi nhánh của các trường đại học nước ngoài và khoảng 500 trường cao đẳng tư. Cũng có nhiều cơ sở giáo dục đại học khác của Vương quốc Anh, Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Đức và New Zealand tổ chức các chương trình đào tạo liên kết và nhượng quyền thông qua các mối quan hệ đối tác với các trường đại học và cao đẳng của Malaysia. Nhắc đến giáo dục thì Malaysia có chỉ số cạnh tranh về giáo dục đại học và đào tạo tương đối cao trong khu vưc Đông Nam Á.Bảng 2.1: Chỉ số cạnh tranh về giáo dục đại học và cao đẳngChỉ số cạnh tranh về giáo dục đại học và đào tạo(nguồn: Báo cáo chỉ số cạnh tranh của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF 20132014)Quốc giaGiáo dục đại học và đào tạoXếp hạngĐiểm sốSingapore25.9Malaysia464.7Brunei554.5Indonesia644.3Thái Lan664.3Philipines674.3Việt Nam953.7Lào1113.3Campuchia1163.1Mianma1392.5CHƯƠNG 3. CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2006 – 20153.1. Mục tiêu của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia •Phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế •Khuyến khích xuất khẩu •Tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và phát huy tốt nhất các lợi thế của mình về các nguồn nội lực như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, nhân lực,…•Phát triển công nghiệp công nghệ cao, tạo ra giá trị hay một số lĩnh vực mới (công nghệ sinh học, quang điện tử, công nghệ không dây và vật liệu tiên tiến)•Tăng thu nhập bình quân đầu người cụ thể theo mô hình Kinh tế Mới (NEM) là kế hoạch kinh tế được công bố tháng 32010 với định hướng tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người vào năm 2020 tức là 15000 USD và FDI là nguồn lực không thể thiếu để đạt được mục tiêu này.3.2. Nội dung của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 2006 – 20153.2.1. Các công cụ tài chính 1.Ưu đãi với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiđặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.Nhằm tăng giá trị xuất khẩu, Malaysia áp dụng các ưu đãi như giảm 10% thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu, giảm 5% giá trị nguyên liệu đầu vào nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu, cũng như chi phí quảng cáo, nghiên cứu thị trường. 2.Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào những khu vực mới phát triển, sản xuất những loại hàng được ưu tiên hay sử dụng trên 50% nguyên vật liệu địa phương để sản xuất hàng xuất khẩu, hay có lượng vốn góp lớn được cấp tín dụng ưu đãi.Cụ thể với mục tiêu tạo việc làm và khuyến khích đầu tư mở rộng của doanh nghiệp FDI, Malaysia đã đưa ra điều kiện để được hưởng ưu đãi là lao động thường xuyên từ 500 người trở lên hoặc vốn giải ngân đạt từ 25 triệu RM trở lên. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, khó thu hồi vốn trong thời gian ngắn có thể lựa chọn hình thức ưu đãi thuế như giảm trừ thuế đối với vốn đầu tư (Investment tax allowance) hoặc giảm trừ tái đầu tư (reinvestment allowance), theo đó doanh nghiệp có thể giảm trừ tới 60% vốn đầu tư trong thời gian 10 năm. Số giảm trừ chưa hết có thể chuyển vào các năm tiếp theo (không khống chế số năm).Từ năm 2006 đến nay, nhằm khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, các ưu đãi cơ bản đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất được thực hiện trên nền chính sách “nhà đầu tư tiên phong”, “trợ cấp thuế đầu tư” sẽ được hưởng ưu đãi thuế trong vòng 5 năm, kể từ ngày bắt đầu hoạt động với mức thuế suất 7,5% so với mức thuế suất phổ thông là 25%. Cụ thể, các lĩnh vực sản xuất được áp dụng chính sách “nhà đầu tư tiên phong” và “trợ cấp thuế đầu tư” bao gồm: chế biến sản phẩm nông nghiệp, sản xuất các sản phẩm cao su, sản phẩm từ dầu cọ, hóa chất và hóa phẩm dầu khí, dược phẩm, đồ gỗ, bột giấy, giấy và bảng giấy, các sản phẩm từ bông vải sợi, may mặc, các sản phẩm sắt thép, kim loại không màu, máy móc, thiết bị và phụ kiện, các sản phẩm điện điện tử, các thiết bị khoa học, đo lường chuyên nghiệp, các sản phẩm nhựa, thiết bị bảo vệ. 3.Khuyến khích các các nhà đầu tư đầu tư vào các ngành công nghệ caoChính sách thuế TNDN của Malaysia có quy định về ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp mở rộng , hiện đại hóa hoặc tự động hóa hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại nhằm tạo ra sản phẩm hoặc sản phẩm liên quan trong cùng một ngành công nghiệp, theo đó doanh nghiệp thuộc các trường hợp này được hỗ trợ tái đầu tư (reinvestment allowance) tương đương 60% chi phí đầu tư. Phạm vi hỗ trợ tái đầu tư áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thực hiện mở rộng, hiện đại hóa hoặc đa dạng hóa cây trồng và các dự án nông nghiệp.Chính phủ Malaysia ưu đãi giảm 100% thuế theo nhóm hoặc giảm tiêu chuẩn đầu tư vào công nghệ sinh học. Các doanh nghiệp công nghệ sinh học có thể có lợi thế từ những ưu đãi thuế như miễn thuế 10 năm cho những doanh nghiệp tiên phong, giảm thuế nhập khẩu cho những thiết bị và vật liệu được duyệt, giảm thuế hai lần cho các chi phí và đầu tư hạn định cho RD…Malaysia xác định công nghệ sinh học là một trong những ngành công nghệ then chốt để đưa Malaysia trở thành một quốc gia công nghệp công nghệ cao vào năm 2020. Việc thành lập Ban Quản lý công nghệ sinh học Quốc gia (National Biotech Directorat) và Thung lũng Sinh học (BioValley) cho thấy nghiên cứu sinh học và phát triển ngành công nghệ sinh học được chú trọng rất nhiều ở Malaysia. Cam kết của chính phủ: hình thành cơ quan chuyên trách giám sát quá trình phát triển của ngành công nghệ sinh học của Malaysia, dưới sự bảo hộ của Thủ tướng và các Bộ trực thuộc Chính phủ.Bên cạnh công nghệ sinh học, công nghệ nano là một trong những ngành nóng ở Malaysia. Nhận thức được sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nano toàn cầu, trong kế hoạch lần thứ 9 của Malaysia được khởi động vào năm 2006, công nghệ nano được đưa vào kế hoạch 5 năm và là một trong 10 ngành ưu tiên.4.Quy định về tỷ lệ góp vốnThực hiện biện pháp tự do hóa đầu tư nước ngoài mở của hoàn toàn cho ngành chế tạo với FDI đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài trong nhánh chế tạo được cạnh tranh tự do trên thị trường trong nước. Tuy nhiên, trong những lĩnh vực công nghệ thấp như sản xuất bao bì bằng giấy, nhựa tổng hợp, sản xuất ống tiêm nhựa, chế tạo kim loại,.. người nước ngoài không được quyền sở hữu 100% vốn.Chính phủ cho phép người nước ngoài được mua tài sản chiến lược của quốc gia như năng lượng, bất động sản,…và được quản lý một số sân bay của đất nước điều này vốn không được phép trước thời khi xảy ra khủng hoảng tài chính.Các biện pháp tăng cường thu hút đầu tư vào các ngành ưu tiên được chính phủ tiếp tục chú trọng hơn nữa trong kế hoạch ngân sách năm 2005, trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ 9. Theo kế hoạch này, chính phủ cho phép sở hữu 100% vốn nước ngoài trong các công ty hoạt động thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, hủy bỏ những hạn chế về số lượng các công ty phân phối nước ngoài, cho phép các công ty đa quốc gia được phát hành trái phiếu bằng đồng Ringgit. Đến năm 2009, Malaysia cho phép thành lập cơ sở 100% vốn đầu tư nước ngoài cho 27 ngành dịch vụ, bao gồm: Y tế, xã hội, du lịch, giao thông và các dịch vụ liên quan tới máy tính,…3.2.2. Các công cụ phi tài chính1. Không có các biện pháp cấm, hạn chế xuất nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động sản xuất để xuất khẩu.2. Chính sách phát triển nguồn nhân lựcNhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực, Malaysia đã cấp ưu đãi cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo hướng nghiệp cho người lao động hoặc xây dựng các trường đào tạo.Theo “Hội nghị khu vực về đào tạo nghề đột phá chất lượng đào tạo nghề” từ kinh nghiệm của Quỹ phát triển Nguồn nhân lực (HRDF) Malaysia đã đưa ra các mục tiêu về phát triển nguồn nhân lực như sau:•Khuyến khích người sử dụng lao động trong lĩnh vực tư nhân, thực hiện đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng cho công nhân của họ•Hỗ trợ trong việc phát triển nguồn nhân lực với những kỹ năng mới nhất và chuyên biệt•Tạo ra lực lượng lao động có tay nghề cao và có trình độ thế giới, hướng tới kinh tế có thu nhập cao•Tăng năng suất lao động, hiệu quả và tăng cường khả năng quốc gia trên thị trường toàn cầu3. Quy trình thu hút đầu tư minh bạch và nhất quánQuy trình thu hút FDI được tiến hành qua bảy bước cụ thể, đi từ việc nhắm vào những ngành nghề, công ty và nhà đầu tư phù hợp với lợi thế cạnh tranh của Malaysia và của từng vùng trong nước đến tạo ra một chương trình hỗ trợ về đất cho nhà đầu tư (gồm hỗ trợ lựa chọn địa điểm, cung cấp thông tin về những nhà cung cấp và phân phối mà nhà đầu tư có thể hợp tác trong vùng, phát triển một “ô bảo vệ hành chính địa phương” để hỗ trợ về pháp lý, nguồn nhân lực, kiểm toán, tài chính và cả phong tục, tập quán), cuối cùng là hỗ trợ thực tế nhà đầu tư triển khai việc đầu tư.Quan trọng không kém là việc tiến hành các chiến dịch quảng cáo để thu hút đầu tư. Có thể so sánh trang chủ của Cơ quan Đầu tư phát triển Malaysia (MIDA) (ở địa chỉ: http:www.mida.gov.myenv3) và trang của Bộ Kế hoạch đầu tư Việt Nam (http:www.mpi.gov.vnPagesdefault.aspx). Với phần giao diện chuyên nghiệp có tính thẩm mỹ cũng như năm thứ tiếng và hai thứ tiếng tương ứng của hai trang, ngoài ra người xem ở trang chủ của MIDA có thể tìm thấy “Các sự kiện sắp tới” và những hướng dẫn chi tiết về khởi động đầu tư, quan điểm của chính quyền và nhất là các ưu đãi đầu tư. Ngược lại, trang của Bộ Kế hoạch đầu tư được trình bày lộn xộn và rất thiếu hấp dẫn với nhà đầu tư, khi những thông tin cơ bản cho một doanh nghiệp FDI sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm hơn hẳn.4.Tạo thuận lợi từ chính sách di chuyển, thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tưChính phủ Malaysia đã thực hiện chính sách một cửa trong cấp visa, cấp giấy phép kinh doanh, giải quyết các thủ tục hàng chính,…nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian, giảm bớt những phiền hà cho nhà đầu tư nước ngoài vào Malaysia.Trước đây, thời hạn xin cấp giấy phép đầu tư thường kéo dài từ 13 tháng thì hiện nay là 8 tuần. Quy trình, thủ tục đầu tư tại Malaysia được thực hiện qua 2 bướcBước 1: Nhà đầu tư nước ngoài đăng ký thành lập doanh nghiệp với ủy ban Doanh nghiệp của Malaysia (CCM). Sau khi nhận được Giấy đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thực hiện các thủ tục khác như mở tài khoản ngân hàng, đăng ký với cơ quan thuế thu nhập của Malaysia và đăng ký để xin cấp giấy phép văn phòng từ cơ quan địa phương nơi doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh.Bước 2: Phê duyệt giấy phép đối với dự án thuộc lĩnh vực sản xuất. Để bắt đầu một dự án sản xuất mới tại Malaysia, nhà đầu tư nước ngoài ngoài việc cần được CCM cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn phải được Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia (MIDA) phê duyệt giấy phép sản xuất. Các công ty sản xuất với vốn góp cổ đông từ 2,5 triệu RM trở lên hoặc sử dụng từ 75 lao động toàn thời gian trở lên phải xin giấy phép sản xuất.Để bắt đầu một dự án sản xuất mới, nhà đầu tư nước ngoài cần có Giấy phép sản xuất và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty sản xuất với vốn góp cổ đông từ 2,5 triệu RM trở lên hoặc sử dụng trên 75 lao động phải xin Giấy phép sản xuất. Tiêu chí phê duyệt dự án đầu tư ở Malaysia được xây dựng dựa trên tỷ lệ vốn đầu tư cho mỗi lao động (CE). Các dự án có tỷ lệ CE nhỏ hơn 55.000 RM được xác định là dự án sử dụng nhiều lao động và do đó không đủ điều kiện cấp giấy phép sản xuất để nhận ưu đãi về thuế.Tuy nhiên, một dự án sẽ được xem là ngoại lệ so với quy định trên nếu đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau: (i) giá trị gia tăng là 30% trở lên, (ii) có chỉ số MTS (tỷ lệ cán bộ quản lý, kỹ thuật và giám sát trên tổng số nhân viên) từ 15% trở lên, (iii) dự án liên quan đến các hoạt động hoặc sản xuất các sản phẩm trong Danh sách các sản phẩm và hoạt động được khuyến khích Công ty công nghệ cao; hoặc (iv) trước đây công ty đã được cấp giấy phép sản xuất.Cuối cùng, một công ty được cấp giấy phép muốn mở rộng năng lực sản xuất hoặc đa dạng hóa sản phẩm của mình bằng cách sản xuất các sản phẩm bổ sung cũng cần gửi đơn cho MIDA.5.Cam kết đảm bảo về tài sản cho cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiĐể đảm vốn an toàn cho người nước ngoài chính phủ đã ký hơn 50 hiệp ước đảm bảo đầu tư với cam kết không tước đoạt hoặc quốc hữu hóa vốn đầu tư nước ngoài, cho phép các nhà đầu tư tự do chuyển lợi nhuận về nước.3.3. Đánh giá chung của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 200620153.3.1. Thành tựuMalaysia nổi bật là một trong những nước phát triển kinh tế thành công tại Châu Á trong vài thập kỷ qua. Từ một nước nông nghiệp khi mới độc lập với sản phẩm cao su và thiếc chiếm một nửa GDP, Malaysia đã trở thành một nước có nền kinh tế mở và đa dạng. Malaysia hiện giờ là nền kinh tế giàu thứ hai trong khối ASEAN, đứng sau Singapore. Malaysia đặt mục tiêu sẽ trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2020.3.3.1.1. Về lượng vốn đầu tư So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Malaysia là một trong những điểm sáng về thu hút dòng vốn FDI với nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào đây đầu tư. Có thể nói, năm 1990, dòng vốn FDI đầu tư vào nước này mới đạt 2,6 tỷ USD nhưng đã nhanh nhanh chóng đạt mức 7, 3 tỷ USD vào năm 1996. Tuy nhiên, do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, dòng vốn FDI vào nước này năm 1998 và năm 2001 lần lượt giảm xuống còn 2,7 tỷ USD và 0,6 tỷ USD. Đến năm 2009, dòng vốn này mới chỉ đạt 1,5 tỷ USD do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới thế giới năm 2008. Nhưng đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng và đạt mức 12,2 tỷ USD tổng số vốn đăng ký vào năm 2011 và đạt 46,7 tỷ USD trong năm 2015 gấp đôi lượng vốn mà Việt Nam thu hút được trong năm 2015 là 24,1 tỷ USD Hình 3.1: FDI đầu tư vào Malaysia giai đoạn 1990 – 2012 (tỷ USD) 3.3.1.2. Về đối tác đầu tư Về đối tác đầu tư ở Malaysia, đến hết năm 2007, FDI vào nước này từ bốn khu vực chính là Châu Âu (Hà Lan, Vương Quốc Anh, Nauy, Đức và Thụy Sỹ), Châu Á (Singapore và Nhật Bản), Đảo Cribe (Đảo British Virgin và đảo Bermuda) và Bắc Mỹ (Hoa Kỳ). Mười quốc gia này đóng góp tới 85% tổng số FDI ở Malaysia giai đoạn 20032007. Trong đó 3 quốc gia dẫn đầu trong đầu tư vào Malaysia là Nhật Bản (2003 và 2004), Mỹ (2005 và 2006) và Singapore (2007).Bảng 3.1: Nhóm 10 quốc gia đầu tư lớn nhất vào Malaysia giai đoạn 20032007Đơn vị: Tỷ RinggitQuốc gia20032004200520062007Singapore25,630,125,830,055,7Mỹ27,929,341,143,249,2Nhật Bản32,133,731,729,233,7Hà Lan24,918,221,419,420,3Vương quốc Anh13,916,612,417,219,4Tổng157,6164,7168,1190,1253,8Nguồn: WWW.statistics.gov.myNăm 2010, các nước và vùng lãnh thổ đầu tư chính vào Malaysia gồm: Nhật Bản (804 triệu USD), Mỹ (771 triệu USD), Singapore (637 triệu USD), Hà Lan (402 triệu USD) và Đài Loan (402 triệu USD)3.3.1.3. Thành tựu về xây dựng chính sáchMalaysia đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút FDI tương đối đồng bộ, thông thoáng, nhất quán và minh bạch đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh những cam kết bảo đảm sở hữu; tạo lập môi trường chính trị xã hội ổn định; nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật; chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ… Malaysia còn có những chính sách khuyến khích ưu đãi về thuế. Qua đó, đã tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.3.3.2. Hạn chế•“Ưu đãi với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiđặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu”. Chính sách này là một hình thức trợ cấp xuất khẩu. Khi gia nhập WTO việc trợ cấp xuất khẩu đã bị cấm và việc vẫn tiếp tục áp dụng chính sách này sẽ dễ bị phạt bởi các tổ chức quốc tế.•“Cho hưởng ưu đãi với các doanh nghiệp có lao động thường xuyên từ 500 người trở lên hoặc vốn giải ngân đạt từ 25 triệu RM trở lên”. Việc tạo ưu đãi này sẽ làm giảm số lượng các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao, làm giảm chất lượng dự án đầu tư.•“Chính phủ cho phép người nước ngoài được mua tài sản chiến lược của quốc gia như năng lượng, bất động sản,…Cho phép các công ty đa quốc gia được phát hành trái phiếu bằng đồng Ringgit”. Việc này sẽ dễ dẫn đến sự thao túng của các doanh nghiệp nước ngoài đối với thị trường trong nước, nhất là ở các lĩnh vực bất động sản, tài chính khi cho họ trực tiếp nắm giữ các nguồn tài nguyên này.CHƯƠNG 4. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM4.1. Tổng quan trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 4.1.1. Hình thức đầu tư, hình thức pháp lý và chuyển nhượng vốn.Luật cho phép 100% vốn nước ngoài ngay từ đầu nhưng sau một thời gian mới thực sự cấp phép và chuyển một số liên doanh thành 100% vốn trong nước hoặc nước ngoài.Hình thức pháp lý: Công ty trách nhiệm hữu hạn là hình thức duy nhất cho đầu tư nước ngoài.Chuyển nhượng vốn: Từ năm 2001 việc phê duyệt hợp đồng chuyển nhượng vốn đã được xoá bỏ, đồng thời liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài không còn phải ưu tiên chuyển nhượng cho Việt Nam.4.1.2. Thủ tục đầu tư Các lần sửa đổi luật đã ngày càng tạo điều kiện thuận lợi hơn với thủ tục đơn giản hơn, nhanh chóng hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Việc cấp phép vừa theo ngành nghề vừa theo quy mô dự án, quy hoạch. Tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc đối với một số sản phẩm công nghiệp đã được xoá bỏ và được thay bằng ưu đãi cấp phép theo chế độ đăng ký. Việc thực hiện thủ tục cho thuê đất đã được chuyển từ Thủ tướng Chính phủ sang Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép cho thuê đất.4.1.3. Phân cấp quản lý Phân cấp trong việc cấp phép, quản lý được thực hiện bởi tất cả các địa phương nhưng việc xác định trách nhiệm là không rõ ràng. Phân cấp tạo ra sự cạnh tranh thu hút đầu tư bằng cách ban hành thêm các quy định quá mức, có lợi cho các nhà đầu tư nhưng tạo ra sự khác biệt khá lớn trong việc thực hiện chính sách chung của trung ương.4.1.4. Ưu đãi về tài chính Hình thức ưu đãi bao gồm miễn giảm thuế nhập khẩu, thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp (doanh thu), thuế chuyển lợi nhuận, tái đầu tư, chuyển lỗ và khấu trừ chi phí, thuế bản quyền đối với chuyển giao công nghệ, ưu đãi theo ngành nghề, ưu đãi theo địa bàn, ưu đãi thêm của địa phương: tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí hạ tầng do địa phương cung cấp, đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin.4.1.5. Ngoại tệ và vay vốn Tiền đồng chưa được chuyển đổi tự do cho tất cả các giao dịch thương mại theo yêu cầu của doanh nghiệp (kể cả trong nước).4.1.6. Visa, giấy phép lao động và tiền lương Đã miễn visa ngắn hạn cho các nước ASEAN, APEC, miễn visa cho người được cấp thẻ APEC nhưng chưa thể xin cấp visa tại cửa khẩu. Quy định và thủ tục xin giấy phép lao động khá phức tạp, nhất là các giấy tờ phải công chứng và chứng thực tư pháp. Doanh nghiệp nước ngoài đã được tự tuyển lao động, không bắt buộc phải thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm.4.1.7. Đất đai và tiền thuê đất Tương tự như người Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu đối với đất đai mà chỉ có quyền thuê đất với thời hạn tối đa là 16 70 năm. Đa số có thời hạn 2030 năm. Thực tế nhà đầu tư nước ngoài phải trả tiền thuê đất đắt hơn nhà đầu tư trong nước khoảng 20%.4.1.8. Cung cấp hạ tầng Cho đến nay vẫn thiếu một số hạ tầng cơ bản, nhất là điện, vận tải. Các dịch vụ thiếu nhiều, giá cao, chất lượng thấp. Các nhà đầu tư phải tự giải quyết những dịch vụ còn thiếu.4.1.9. Giải quyết tranh chấp Lúc ban đầu các tranh chấp trong đầu tư chỉ được giải quyết dựa trên Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế vốn có nhiều hạn chế về đối tượng áp dụng và thiếu các quy định chi tiết về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, cách thức xử lý tranh chấp.4.1.10. Đánh giá chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam a, Ưu điểm•Thủ tục đầu tư: Các lần sửa đổi luật đã ngày càng tạo điều kiện thuận lợi hơn với thủ tục đơn giản hơn, nhanh chóng hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài•Có rất nhiều ưu đãi về các loại thuế, tiền thuê đất,…b, Hạn chế•Phân cấp quản lý : xác định trách nhiệm khó khăn•Cung cấp hạ tầng: thiếu một số hạ tầng cơ bản, nhất là điện, vận tải. Các dịch vụ thiếu nhiều, giá cao, chất lượng thấp•Chưa có chính sách ưu tiên phát triển ngành trong từng tỉnh và khu công nghiệp•Ít có định hướng thu hút FDI vào một số ngành, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học và vốn cao•Chính sách nội địa hoá chưa thoả đáng4.2. Nét tương đồng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia và Việt Nam •Vốn xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu thiếu vốn đầu tư, không có những khoản tiết kiệm nên đã tạo ra rất nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút thêm lượng vốn nhằm thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói.•Thuộc nhóm các nước ASEAN, là nước đang phát triển và có mức thu nhập trung bình.•Có nguyền tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú như Malaysia có thiếc, dầu cọ, cao su,... Việt Nam có dầu mỏ, than đá, và rất nhiều loại nông sản khác,.. đặc biệt là cảnh quan thiên nhiên ưu đãi thuận lợi cho việc thu hút FDI vào ngành du lịch.•Vị trí giáp biển tạo ra sự dễ dàng cho việc lưu thông hàng hóa qua đường biển.•Ngành công nghiệp (chế biến, chế tạo) vẫn là ngành chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn FDI, tiếp đến là khu vực dịch vụ, khai thác đá và khoáng sản. Ngành nông, lâm ngư và xây dựng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu FDI theo ngành. •Là đất nước đang trong quá trình mở cửa và hội nhập hóa nên có nhiều cải biến trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài để phủ hợp hơn với nhưng yêu cầu của quốc tế và cũng là để cạnh tranh với các quốc gia khác trong việc thu hút vốn FDI.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia giai đoạn 2006 20154.3.1. Trong lĩnh vực đầu tư•Tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực như công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, công nghệ sinh học,...hạn chế thu hút FDI vào những ngành có giá trị gia tăng thấp như khai khoảng, lắp ráp, gia công,...•Tập trung vào những ngành sử dụng ít lao động và thay vào đó là và việc thu hút dòng vốn vào nhưng ngành công nghệ máy móc dây chuyển hiện đại phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước. Bởi xét về dài hạn những lợi thế về lao động và tài nguyên đang dần dần mất đi, vì thế chúng ta cần tạo ra những lợi thế mới từ tiềm năng trí tuệ con người để phát triển ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao. 4.3.2. Về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài•Xác định đầu tư nước ngoài là một nguồn lực cần được huy động và sử dụng hiệu quả. Vì vậy, phải xây dựng chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của quốc gia để đảm bảo nguồn lực này phục vụ tốt cho phát triển sản xuất trong nước, thông qua thực hiện các biện pháp như: kêu gọi đầu tư và chính sách ưu đãi đầu tư. Các cơ quan quản lý đầu tư tại hai quốc gia này có cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài trong thực hiện thủ tục đầu tư, đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cụ thể là nên để Bộ kế hoạch và đầu tư là đầu mối hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các thủ tục hành chính và thực hiện chức năng điều phối trong quá trình nhà đầu tư xin cấp các giấy phép khác (giấy phép sản xuất, giấy phép xây dựng nhà máy...).•Phải đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, dành các ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các loại dự án này. •Việc quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài cần tập trung và thống nhất tại cơ quan cấp trung ương không phân cấp cho chính quyền địa phương. Việc tập trung này thuận lợi cho việc thực hiện cung cấp dịch vụ hành chính cho nhà đầu tư và triển khai các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cấp quốc gia.•Trong quá trình triển khai dự án đầu tư, nhà đầu tư phải tuân thủ các tiêu chuẩn về xây dựng, bảo vệ môi trường.4.3.3. Về ưu đãi đầu tưĐối với một số dự án mục tiêu, Chính phủ Việt Nam cần để Bộ kế hoạch và đầu tư đàm phán trực tiếp gói ưu đãi đầu tư với nhà đầu tư. Vì vậy, trong một số trường hợp cần đặc biệt thu hút đầu tư, Bộ kế hoạch và đầu tư có thể xây dựng những chính sách hỗ trợ linh hoạt và tốt nhất cho nhà đầu tư.4.3.4. Các biện pháp thúc đẩy thu hút FDI•Thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư một cách thường xuyên theo định hướng vào các đối tác có tiềm năng đầu tư lớn. Các hoạt động này phải được thực hiện một cách bài bản và thông qua một mạng lưới thống nhất do một cơ quan có thẩm quyền cấp nhà nước quản lý.•Cần đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến đầu tư, nhưng tránh vận động tràn lan, chồng chéo. Chúng ta không nên ngồi chờ các nhà đầu tư đến gõ cửa mà phải đi gõ cửa các nhà đầu tư. Thực hiện công tác quảng bá hình ảnh cũng như môi trường đầu tư của Việt na, trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, internet,.. hay các hội thảo nước ngoài…•Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước,…để thu hút đầu tư.•Chủ động đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, chuyên môn,...để tiếp thu công nghệ cao, máy móc hiện đại đi vào nước ta qua các dòng vốn FDI.•Xây dựng một nền chính trị ổn đinh, một môi trường đầu tư hấp dẫn tạo lòng tin ở các nhà đầu tư, cải cách hệ thống hành chính theo xu hướng gọn nhẹ và linh hoạt hơn. Nâng cấp hệ thống nhân hàng tài chính, mở rộng thị trường chứng khoán để huy động và lưu chuyển nguồn vốn của các nhà đầu tư nước ngoài.KẾT LUẬNTrong quá trình hội nhập KTQT ngày nay, đòi hỏi mỗi quốc gia phải nhạy bén, năng động, sáng tạo, khai thác tối đa hiệu quả nguồn vốn FDI, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Malaysia là quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội đồng thời là quốc gia được biết đến với nền văn hóa đa dạng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định trong thu hút FDI giai đoạn 2006 2015. Thời gian qua chính sách thu hút FDI của Malaysia đã đạt được những thành công quan trọng xét về số dự án và số vốn FDI đăng ký, đóng góp trong việc bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế, tạo việc làm và qua đó cải thiện mức sống cho một bộ phận lớn dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóahiện đại hóa, đóng góp cho ngân sách của quốc gia,…Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, chính sách thu hút ĐTTTNN tại Malaysia cũng còn nhiều bất cập. Việt Nam và Malaysia cùng là 2 nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có cùng xuất phát điểm là nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Qua những kinh nghiệm của chính sách thu hút FDI của Malaysia thì chúng ta cũng rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI của Việt Nam. Chương 4 của đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại và góp phần đẩy mạnh thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn FDI của Việt Nam. Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều cơ hội đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, đặc biệt là phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về thu hút FDI giữa các nước trong khu vực. Sự ổn định về chính trị cùng với chính sách nhất quán và lâu dài “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” cùng với những lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội sẽ vẫn là thế mạnh cho môi trường đầu tư tại Việt Nam. Cùng với những nỗ lực và quyết tâm thu hút FDI, hứa hẹn Việt Nam sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai gần.DANH MỤC THAM KHẢO1.“Kinh nghiệm của Malaysia đối với Việt Nam trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài”, http:doc.edu.vntailieudetaikinhnghiemcuamalaysiadoivoivietnamtrongchinhsachthuhutdautu171042.TS. Phạm Thái Hà, “Thu hút nguồn lực ngoại và bài học cho Việt Nam”, http:tapchitaichinh.vnkinhtevimokinhtedaututhuhutnguonlucngoaivabaihocchovietnam49536.html3.“Một số vấn đề về thu hút đầu tư nước ngoài tại Malaysia”, http:fia.mpi.gov.vntinbai1515MotsovandevethuhutdautunuocngoaitaiMalaysia4.Các trang web sử dụng: •VN express, http:vnexpress.net•Cafef.vn, http:cafef.vn•VnEconomy, http:vneconomy.vn•Tapchitaichinh.vn, http:www.tapchitaichinh.vn•Web của “Bộ kế hoạch và đầu tư, cục đầu tư nước ngoài”,http:fia.mpi.gov.vntinbai1515MotsovandevethuhutdautunuocngoaitaiMalaysia
Xem thêm

24 Đọc thêm

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO CÔNG TY TNHH HÙNG VƯƠNG VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO CÔNG TY TNHH HÙNG VƯƠNG VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020

trở thành một trong bốn quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế giới, cácdoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam có những thuận lợi nhất định. Tuynhiên cũng không hoàn toàn thuận lợi, việc gặp nhiều khó khăn và thách thức làđiều khó tránh trong quá trình kinh doanh của một nền kinh tế, thách thức ngàycàng lớn khi trong những năm gần đây, các doanh nghiệp thủy sản liên tục gặpkhó khăn, một số doanh nghiệp tuyên bố phá sản, một số vẫn cầm cự đƣợc nhƣngchỉ hoạt động cầm chừng hoặc không phá sản nhƣng tuyên bố đóng cửa vô thờihạn... Đứng trƣớc nguy cơ lớn của ngành, hơn bao giờ hết các Công ty thủy sảncần có một chiến lƣợc đúng đắn để đối phó với cơn lốc định mệnh của mình.2. Tính cấp thiết của đề tàiCùng cảnh ngộ nhƣ bao doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản khác, đã qua rồithời hoàn kim của những năm đầu bƣớc chân vào thị trƣờng thế giới, việc sảnxuất càng nhiều càng tốt, sản xuất bao nhiêu xuất khẩu bấy nhiêu, không chịu sựcạnh tranh khốc liệt giữa doanh nghiệp trong nƣớc, các luật bảo hộ hàng hóa ở2nƣớc ngoài cũng nhƣ các rào cản kỹ thuật đã không còn. Trƣớc sức ép của thịtrƣờng, Công ty TNHH Hùng Vƣơng - Vĩnh Long cần có một chiến lƣợc kinhdoanh đúng đắn, phù hợp để biết mình phải làm gì và sẽ làm gì trong hiện tại vàtƣơng lai.Chiến lƣợc kinh doanh giúp cho nhà quản trị và tất cả các nhân viên trongCông ty nhận thức đƣợc mục đích và hƣớng đi của tổ chức mình. Từ đó mọithành viên trong Công ty liên kết, phấn đấu và làm việc vì lợi ích chung và lâudài của tổ chức. Hoạch định chiến lƣợc giúp lãnh đạo Công ty nắm đƣợc các cơhội cũng nhƣ nguy cơ, biết đƣợc đâu là thế mạnh, đâu là hạn chế của mình đểkhai thác mọi năng lực hiện có.Với những lý do trên, tôi nhận thấy việc xây dựng chiến lƣợc kinh doanhcho Công ty trong giai đoạn này là rất cần thiết và hữu ích. Vì vậy, tôi quyết định
Xem thêm

130 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BƯU CHÍNH VIETTEL

PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BƯU CHÍNH VIETTEL

doanh theo chiều rộng là đề cập đến số lƣợng, khối lƣợng kinh doanh. Đối vớingành kinh doanh dịch vụ logistics khối lƣợng kinh doanh thể hiện ở số lƣợngkhách hàng và số lƣợng đơn hàng thực hiện đƣợc. Còn phát triển theo chiều sâu tứclà tập trung vào chất lƣợng kinh doanh và các vấn đề liên quan tới giá trị. Do yêucầu của thị trƣờng và sức ép cạnh tranh, các doanh nghiệp kinh doanh di động tạiViệt Nam bắt đầu có xu hƣớng phát triển kinh doanh cả chiều sâu lẫn chiều rộng đểcạnh tranh với đối thủ. Tựu chung lại, dù phát triển kinh doanh theo chiều sâu haychiều rộng, một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phải phát triển các lĩnhvực sau để phát triển kinh doanh, bao gồm:1. Mở rộng vùng phủ dịch vụ2. Phát triển thêm khách hàng và mở rộng thị phần3. Phát triển quy mô dịch vụ4. Tăng doanh thu5. Đẩy mạnh công tác marketing, xây dựng và phát triển thƣơng hiệu6. Đổi mới tổ chức, quản lý doanh nghiệp7. Nâng cao chất lƣợng dịch vụTuy nhiên, nhƣ đã trình bày ở trên luận văn tập trung vào hƣớng phát triểnkinh doanh dịch vụ theo chiều sâu bằng cách nâng cao chất lƣợng dịch vụ. Để làmrõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng dịch vụ logistics tại VTP, chƣơng này đềcập đến lý luận về quản trị chất lƣợng dịch vụ logistics.1.1. Tình hình nghiên cứu chung về chất lƣợng dịch vụ logistics1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới5Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quátrình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệpvà thƣơng mại mỗi quốc gia. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảmchi phí, nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, logistics đã đƣợc chuyên
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA

TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA

trọng và chiếm lĩnh thị trờng trong nớc. Từ các nhận định phơng hớng trên tôicó kiến nghị sau đây đối với các doanh nghiệp:Thứ nhất: chạy tiếp sức thay vì mạnh ai ngời nấy chạy.Các DNVN phải hiểu rằng để có thể tiến đến đích nhanh, họ phải chọncách chạy tiếp sức thay vì mạnh ai ngời nấy chạy - một điểm yếu tồn tại ở cácDNVN. Mỗi ngời phải nỗ lực chạy nhanh hơn đồng đội (tinh thần cạnh tranh)nhng đồng thời cũng sẵn sàng giúp đồng đội lúc cần thiết (tinh thần hợp tác).Làm đợc điều đó chúng ta sẽ tận dụng đợc hai u điểm của cạnh tranh và hợptác: cạnh tranh để có đợc sản phẩm tốt và giá hạ nhất (điều kiện sống của cácdoanh nghiệp hợp tác để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong và ngoài tổngcông ty phát triển (điều kiện sống của hệ thống doanh nghiệp)Thứ hai: đầu t cho một tầm nhìn lâu dài.Để làm đợc điều đó (sản phẩm tốt, giá hạ trong khi công nghệ còn lạc hậu)các DNVN phải u tiên tối đa hoá lợi nhuận từ số một xuống số hai, u tiên sốmột là phải đầu t hớng tới một chiến lợc dài hơn để dần tự khảng định mình.Triết lý kinh doanh đó thể hiện ở các điểm sau:Chiến lợc sản phẩm: Chọn những sản phẩm mà doanh nghiệp cóthế mạnh, không ngừng cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm, đa dạng hoá sảnphẩm theo nhu cầu ngày càng phát triển và nâng cao của xã hội (chế biến, chếbiến tinh, theo nhiều giá trị sử dụng, hình thức bao bì).khai thác có hiệu quảcác lợi thế so sánh quốc gia trong lựa chọn sản phẩm kinh doanh, chú trọngđến khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, hiện đại hoá khâu thiết kếsản phẩm, lựa chọn hệ thống quản lý chất lợng tiên tiến trên thế giới phù hợpvới doanh nghiệp để nâng cao chất lợng sản phẩm.Chiến lợc hạ thấp chi phí: bao gồm các chi phí đầu vào và cácchi phí trung gian khác để hạ giá thành nâng cao lợi nhuận và có khả năng bánhàng ra với giá cạnh tranh.Chiến lợc chuyên biệt hoá sản phẩm: luôn tìm cách để sản phẩmcủa doanh nghiệp mình có tính khác biệt độc đáo ở một số điểm nào đó, so vớisản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác (giá trị sử dụng, mẫu mã, bao
Xem thêm

22 Đọc thêm

Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Tổng công ty Thương mại Hà Nội

THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

1. Tính tất yếu của đề tài Ngày nay, với xu thế phát triển không ngừng của hoạt động thương mại quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam.Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thìthủ công mỹ nghệ là một trong những mặt hàng mang lại giá trị xuất khẩu cao cho nước ta. Với 1,5 tỷ USD giá trị, năm 2013, ngành thủ công mỹ nghệ tiếp tục lọt vào nhóm ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam.Vì vậy thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một trong những những nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam. Tổng Công ty thương mại Hà Nội hiện là một đơn vị tiêu biểu trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Trong bước chuyển mình của toàn ngành thủ công mỹ nghệ, Tổng Công ty cũng đang từng bước nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của mình. Điểu đó thể hiện qua tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Tổng Công ty không ngừng tăng trưởng qua các năm. Đến nay xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vẫn luôn là lĩnh vực kinh doanh mà Tổng Công ty tập trung và ưu tiên phát triển. Tuy Tổng Công ty đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong xuất khẩu hàng thủ công mỹnghệ nhưng vẫn có nhiều khó khăn mà Tổng Công ty đang phải đối mặt như vấn đề thị trường, giá cả, chất lượng, vấn đề đầu ra, sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm cùng loại của các đối thủ lớn như Trung Quốc, Thái Lan hay Malaysia,…Nếu những vấn đề trên được giải quyết một cách hợp lý thì việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Tổng Công ty Thương mại Việt Nam sẽ có bước phát triển cao hơn trong thời gian tới. Chính vì lý do trên, em chọn đề tài“Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Tổng công ty Thương mại Hà Nội”.
Xem thêm

48 Đọc thêm

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI ĐỂ PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH MAY GIA NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN BẮC

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI ĐỂ PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH MAY GIA NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN BẮC

LỜI MỞ ĐẦU1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀIHiện nay, toàn cầu hóa là một xu hướng nổi trội và đã trở thành môi trường diễn racác cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Những nước vànhững tổ chức kinh tế yếu thế thường thích ứng bị động. Trong khi đó, những nước vànhững tổ chức có tiềm lực và thế lực mạnh lại coi nó là cơ hội tạo đà phát triển. Cho dùvậy, toàn cầu hóa vẫn đã, đang và sẽ diễn ra, chi phối dưới nhiều hình thức, nhiều mức độkhác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội của hầu hết các nước, đặc biệt là cáctổ chức kinh tế trong từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới.Cuối năm 2006, để gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam ký kết nhiều văn bản với nộidung mở cửa thị trường, đa phương hoá thương mại đã khiến các doanh nghiệp Việt Namphải bước vào cuộc chạy đua với thử thách và rủi ro. Việc tìm kiếm cơ hội đối với cácdoanh nghiệp đã trở thành bài toán vô cùng nan giải. Xu hướng toàn cầu hoá, khủnghoảng, lạm phát gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cả về vốn, công nghệ, nhânlực. Nhìn một cách khách quan, có thể nói hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệpViệt Nam nói chung còn khá yếu, thể hiện trên nhiều mặt như: chất lượng hoàng hóachưa cao, chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu và đòi hỏi của thị trường trong nước, khả năngthâm nhập thị trường khu vực và thế giới còn hạn chế.Câu hỏi đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp là: phải xoay xở và ứng biến như thế nàođể vượt qua được thử thách? Câu hỏi có lẽ không chỉ khó trả lời đối với các doanhnghiệp nhỏ vì họ không có lợi thế về quy mô để giảm chi phí và tăng lợi nhuận mà ngaycả những công ty, tập đoàn có thế mạnh cũng đang đi tìm đáp án. Miếng bánh thị trườngkhông còn nằm trong tay của 1 đơn vị, một tổ chức nào cả và các doanh nghiệp lại càngkhông thể cấm các doanh nghiệp khác cùng tham gia vào thị trường đó. Vậy họ sẽ phảilàm gì để tồn tại và phát triển trong khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt?Bên cạnh đó, dễ dàng nhận thấy may mặc đang là ngành thế mạnh của các doanhnghiệp Việt Nam và nó chiếm tỷ trọng khá lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu. Càngngày càng có nhiều hơn các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia vào thị trường nàykhiến cho mức độ cạnh tranh trong nước trở nên gay gắt. Các công ty lớn, đã tạo dựngthương hiệu thì tiếp tục khai thác thị trường, củng cố thêm thương hiệu của mình vàgiành giật lại thị phần trong nước còn bỏ ngỏ. Các công ty mới gia nhập thị trường thì tập
Xem thêm

42 Đọc thêm

TCVN 31000:2011

TCVN 31000:2011

Tiêu chuẩn này đưa ra các nguyên tắc và hướng dẫn chung về quản lý rủi ro. Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng cho doanh nghiệp công, tư hay doanh nghiệp cộng đồng, hiệp hội, nhóm hoặc cá nhân. Vì vậy, tiêu chuẩn này không cụ thể cho bất kỳ ngành công nghiệp hoặc lĩnh vực nào. Tiêu chuẩn này có thể được áp dụng trong toàn bộ thời gian tồn tại của tổ chức, cho một loạt các hoạt động, bao gồm các chiến lược và quyết định, vận hành, quá trình, chức năng, dự án, sản phẩm, dịch vụ và tài sản.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHO HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHO HÀNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

Theo định nghĩa này, brand đƣợc hiểu gần nhƣ định nghĩa nhãn hiệutrong văn bản pháp qui của Việt Nam, theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt9Nam 2005, nhãn hiệu đƣợc định nghĩa là “dấu hiệu dùng để phân biệt hànghoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (Bộ Thƣơng Mại, năm 2003) của TS.Nguyễn Quốc Thịnh và Ths. Lê Thị Thuần: Một số giải pháp chủ yếu xây dựngvà bảo vệ thương hiệu cho hàng Việt Nam xuất khẩu trong bối cảnh hội nhậpkinh tế quốc tế.Đây là đề tài nghiên cứu khoa học đƣợc viết trƣớc thực trạng hàng loạtcác thƣơng hiệu có tiếng tại Việt Nam đã và có nguy cơ bị chiếm dụng tại cácnƣớc khác. Đề tài đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về xây dựng, bảo vệ thƣơng hiệuhàng hóa, phân tích thực trạng tình hình xây dựng và bảo vệ thƣơng hiệu hànghóa nói chung và hàng hóa xuất khẩu nói riêng tại các doanh nghiệp Việt Nam,từ đó đề xuất các giải pháp cả ở góc độ doanh nghiệp và góc độ quản lý Nhànƣớc nhằm giúp các doanh nghiệp trong xuất khẩu, phát triển, khai thác và bảovệ thƣơng hiệu hàng hóa xuất khẩu.Đề tài tiếp cận thuật ngữ thƣơng hiệu với quan điểm: “Thương hiệu làthuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong marketing, trước hết là những dấu hiệuđể phân biệt sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa,dịch vụ của những cơ sở khác. Nói đến thương hiệu là nói đến hình tượng vềhàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, là hình ảnh của doanh nghiệp trong tâmtrí người tiêu dùng. Thương hiệu là cái thể hiện ra bên ngoài của chất lượnghàng hóa, dịch vụ đi kèm hàng hóa và các đối xử của doanh nghiệp đối vớingười tiêu dùng và đối với cộng đồng. Người tiêu dùng lựa chọn và phân biệthàng hóa thông qua thương hiệu của nó”.
Xem thêm

20 Đọc thêm

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TẠI HÀ NỘI

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TẠI HÀ NỘI

1. Lý do chọn đề tàiNăm 1990, đồng tính luyến ái đã được Tổ chức Y tế thế giới loại khỏi danhsách bệnh lý. Từ đó tới nay đã có 21 nước và vùng lãnh thổ hợp pháp hóa hôn nhânđồng giới, 40 quốc gia và cùng lãnh thổ khác cho phép “chung sống có đăng ký”.[28, tr 2]. Mới nhất, vào năm 2015, Mỹ đã tuyên bố chấp nhận hôn nhân đồng giới,Thái Lan cũng đã thông qua luật chống kỳ thị người LGBT [88] . Cùng vào năm2015, từ điển Oxford đã bổ sung danh xưng mới cho người không xác định giớitính- Mx.[87].Ở Việt Nam, trong thời gian vừa qua, vấn đề bảo về quyền cho cộng đồngLGBT (cộng đồng người đồng tính, song tính, chuyển giới) được rất nhiều tổ chứcdân sự xã hội quan tâm. Có thể nhắc tới những nghiên cứu, đánh giá và các hoạtđộng rất thành công, đem lại tác động tích cực và mạnh mẽ đối với toàn xã hội, gópphần thay đổi nhận thức cho cộng đồng của các cơ quan, tổ chức như: iSEE, Trungtâm ICS, Trung tâm CCIHP, Viện ISDS, Trung tâm CECEM, Mạng lưới quốc giaphòng chống HIV/AIDS, Trung tâm CSAGA...Vào ngày 26 tháng 9 năm 2014 Việt Nam đã bỏ phiếu thuận cho một Nghịquyết của Hội đồng nhân quyền về quyền của người đồng tính, song tính và chuyểngiới [90]. Trong phiên kiểm định nhân quyền UPR ngày 20 tháng 6 năm 2014 ViệtNam cũng đã chấp nhận một kiến nghị quan trọng của Chile xây dựng một Luậtchống mọi hình thức phân biệt đối xử, bao gồm cả với người đồng tính, song tính vàchuyển giới [89]. Chấp nhận kiến nghị này đồng nghĩa với việc xây dựng mộtkhung pháp lý bảo vệ quyền của cộng đồng LGBT, và giúp họ LGBT có thể kiệnkhi bị kỳ thị và phân biệt đối xử trong công việc, tiếp cận dịch vụ công và trongquan hệ dân sự khác. Đây là một cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam, mở ramột hướng đi thiết thực và cần thiết cho phong trào bảo vệ quyền của cộng đồngLGBT.Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật hôn nhângia đình, bỏ điều cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính [45]. Đây là một8
Xem thêm

19 Đọc thêm

BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM QUA CÁCH TIẾP CẬN GIỚI

BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM QUA CÁCH TIẾP CẬN GIỚI

Nam được tuyển nhưng không đ|p ứng được nhu cầu công việc, về nước trướcthời hạn sẽ gây ra những tổn thất cho đơn vị tuyển dụng lao động ở nước ngoài.Theo Thanh Vân - Phúc Hằng (TTXVN, 2013), nhiều chủ lao động ở Malaysia phànnàn về ý thức kỷ luật của người lao động ở vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn.Kết luậnTừ những phân tích trên chúng ta nhận thấy số lượng nữ lao động Việt Nam đilàm việc ở nước ngoài ngày càng nhiều, đóng góp của họ đối với sự phát triển củaxã hội cũng ng{y c{ng lớn. Tuy nhiên rất nhiều rủi ro, bất trắc có thể xảy đến vớihọ do họ tiếp cận thông tin không đầy đủ hay không tin không chính xác. Hệ quảlà lựa chọn ngược, nhiều người muốn đi xuất khẩu lao động để thoát nghèonhưng kết cục lại trở nên nghèo hơn, mắc nợ, trở thành lao động bất hợp pháp,mang thương tật...Bên cạnh đó, do nh{ nước chưa l{m tốt chức năng truyềnthông cho người dân và chưa quản lý nghiêm minh các doanh nghiệp môi giớiđưa lao động đi l{m việc ở nước ngoài nên rủi ro đạo đức do bất cân xứng thôngtin còn phổ biến.Khuyến nghị chính sáchTừ thực tế trên cho thấy việc giảm thiểu bất cân xứng thông tin là rất cần thiết đểkhông gây ra các tổn thất cho xã hội, không gây tổn thất cho lao động nữ và giađình họ. Để l{m được điều đó thiết nghĩ cần:Thứ nhất, chính sách hỗ trợ của nh{ nước đối với lao động đi l{m việc ở nướcngoài theo quyết định 470/QĐ-LĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh X~ hội,quyết định 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cần sát với thực tế hơn.Trước khi đưa lao động nghèo đi l{m việc ở nước ngo{i cơ quan chức năng cầncó thông tin đa chiều, chính xác về nhu cầu của người lao động, nhu cầu thịtrường. Cơ quan hữu quan cũng nên giúp người lao động có sự chuẩn bị tốt nhất,nhằm giảm thiểu tình trạng không thích ứng giữa cung và cầu lao động do bấtcân xứng thông tin gây ra.Trần Thị Hằng:m5.Hangtt@fetp.vnn.vn12
Xem thêm

14 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN

PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN

233.2.4. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến NSXK, gắncông nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu: Xây dựng côngnghiệp chế biến dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có, gắn côngnghiệp chế biến với vùng nguyên liệu cụ thể, đa dạng hóa vềquy mô và loại hình sản xuất, từng bước hình thành các cơ sởchế biến tập trung. Đầu tư thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đạiđể sản phẩm có chất lượng cao, khuyến khích các thành phầnkinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp.3.3.5. Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội phục vụlĩnh vực NSXK: Tiếp tục phát triển mạng lưới giao thông màtrọng tâm là đường bộ, nâng cấp và xây dựng các công trìnhthuỷ lợi. Thực hiện điện khí hoá nông thôn.3.3.6. Phát triển thị trường, ổn định giá cả và thươnghiệu hóa NSXK: Thực hiện đa đạng hóa thị trường, củng cố vịthế trên các thị trường quen thuộc, tích cực mở rộng thị trườngmới. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm,thương hiệu hóa sản phẩm. Tổ chức lưu thông hợp lý, cải tiếnphương thức xuất khẩu.3.3.7. Tăng cường liên kết kinh tế để phát triển NSXKtheo hướng BV: Thúc đẩy liên kết kinh tế theo nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, coi trọng lợi ích của nông dân; Đa dạng hóacác loại hình liên kết như: liên kết giữa doanh nghiệp chế biếnvới nông dân, liên kết 4 nhà, liên kết sản xuất và tiêu thụ…Đẩymạnh liên kết quốc tế.Footer Page 23 of 126.Header Page 24 of 126.
Xem thêm

Đọc thêm

VAN HOA CAC NUOC DONG NAM a

VAN HOA CAC NUOC DONG NAM A

ASEAN (Gọi tắt là ASA) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Diện tích khu vực: 4.494.047 km² Dân số cả khu vực ASEAN : 0,6 tỷ người.Nằm ở phía Nam Trung Quốc, phía Đông ấn Độ, phía Bắc nước Úc và chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tương đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm.Hầu hết các nước Đông Nam Á đều có dòng sông Đông Mê Kông uốn khúc chảy qua (ngoại trừ Brunei, Đông Timor, Malaysia và Singapore).Từ sau Thế chiến thứ hai, Đông Nam Á xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới như một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt.
Xem thêm

94 Đọc thêm

SỰ RA ĐỜI CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015 CƠ HỘI VÀ THÁCH THÁCH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

SỰ RA ĐỜI CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015 CƠ HỘI VÀ THÁCH THÁCH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Sự ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 cơ hội và thách thức đối với các doanh nghệp Việt Nam Chuyên mục Bài tập học kỳ, Quản trị doanh nghiệp Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN (Chính trịAn ninh, Kinh tế và Văn hóaXã hội), được kỳ vọng hình thành vào năm 2015, mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực..., tận dụng được cơ hội do quá trình hội nhập quốc tế mang lại nhưng cũng có những thách thức không nhỏ mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt khi tham gia AEC. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ hình thành vào cuối năm 2015, dự kiến sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 14,5% và tăng trưởng việc làm thêm 10,5%. Tuy nhiên, đi kèm với những cơ hội thì AEC cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược điều chỉnh kịp thời và hiệu quả. Để hiểu rõ hơn về những cơ hội và thách thức đó em xin lựa chọn “Sự ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 cơ hội và thách thức đối với các doanh nghệp Việt Nam” làm đề tài cho bài tập học kì của mình. NỘI DUNG I. Cơ sở lý thuyết 1.Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội và thông qua hoạt động hữu ích đố để kiếm lời. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Kết hợp điều 4 luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn địn, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. 2. Vai trò của doanh nghiệp nước ta hiện nay Trong sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh CNHHĐH thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các doanh nghiệp (DN) có vị trí , vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Nó góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành và của cả nền kinh tế; tạo thêm hàng hoá dịch vụ; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động ; tăng thu nhập và nâng cao đời sống; tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước và đặc biệt được coi là “chiếc đệm giảm sóc” của thị trường . Các DN có những đóng góp quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo nhiều việc làm cho người lao động,có thể sử dụng lao động tại nhà, lao động thường xuyên và lao động thời vụ;hạn chế tệ nạn ,tiêu cực (Do không có việc làm); tăng thu nhập ,nâng cao chất lượng đời sống ;tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước; thu hút nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư; khai thác được tiềm năng sẵn có. Xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh mẽ từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc lại những DN thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở rộng quy mô hoạt động. Mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp đã tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Điều đó cho thấy môi trường kinh doanh đã được cải thiện, tạo niềm tin cho cộng đồng DN vào môi trường kinh doanh. Đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập khối kinh tế ASEAN đã mở ra cho các doanh nghiệp nước ta những cơ hội lớn lao để phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng kéo theo nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết và vượt qua để đạt những lợi ích lớn nhất. 3. Việt Nam trong tiến trình gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN Theo dự định của các nhà lãnh đạo ASEAN, AEC sẽ được thành lập vào năm 2015. Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II nhấn mạnh: Cộng đồng Kinh tế ASEAN là việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong Tầm nhìn ASEAN 2020, nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lêch kinh tếxã hội được giảm bớt vào năm 2020. Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (20042010) Là thành viên tích cực của ASEAN, Việt Nam đã và đang nỗ lực chuẩn bị gia nhập AEC. Theo cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong CEPTATIGA, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế về 0% cho tất cả các mặt hàng trao đổi trong ASEAN (ngoại trừ các mặt hàng trong Danh mục loại trừ chung) với lộ trình cho hầu hết các dòng thuế là cho tới năm 2015 và 7% dòng thuế còn lại cho tới năm 2018. Hải quan điện tử là một nội dung quan trọng đang được thực hiện nhằm các mục tiêu trên. Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam về cơ bản đã đạt được các mục tiêu như rút ngắn thời gian thông quan, và giảm các yêu cầu về các giấy tờ kê khai. Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình Một cửa quốc gia (Vietnams National Single Window VNSW) nhằm tạo thuận lợi tối đa cho thương mại. Bên cạnh các nội dung trên, Việt Nam cũng đang nỗ lực đơn giản hoá hệ thống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất xứ (CO), giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Các nỗ lực này thể hiện qua hệ thống eCoSys (hệ thống xin cấp CO qua mạng) cũng như việc cấp phép nhập khẩu tự động. Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật này. Để thực hiện trụ cột 2 của AEC, Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù hợp với các cam kết trong hiệp định khung ASEAN về dịch vụ(AFAS) cũng như GATS. Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, eASEAN và hàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan. Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và Thái Lan... II. Những cơ hội và thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam 1 Những cơ hội Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội lớn trong việc mở rộng thị trường bởi môi trường thương mại hiệu quả, minh bạch và dễ dự đoán, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hải quan, loại bỏ các rào cản thương mại và dịch vụ. Quy tắc xuất xứ linh hoạt, hiện đại,tính minh bạch hóa cao là một số trong nhiều yếu tố thuận lợi hóa. Ví dụ như, trong ASEAN có chứng nhận xuất xứ hàng hóa, với 60% sản phẩm được sản xuất từ ASEAN thì được chứng nhận là sản phẩm trong ASEAN, do đó sẽ được hưởng lợi thế trong các hiệp định thương mại tự do trong ASEAN, nhất là trong ASEAN với bên ngoài. Đối với Việt Nam, ASEAN là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu về thương mại và đầu tư. ASEAN hiện là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam và là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 2 cho các doanh nghiệp Việt Nam. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN năm 2013 đạt 40,1 tỷ USD(Tổng cục thống kê, 2014). Không những thế, các doanh nghiệp Việt Nam còn có cơ hội tiếp cận với thị trường rộng lớn hơn là những đối tác của ASEAN, vì ASEAN có một số hiệp định thương mại tự do với các đối tác như Úc New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác thông qua các thỏa thuận Thương mại tự do (FTAs) riêng rẽ. Từ đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Thứ hai, Việt Nam có cơ hội xây dựng được hệ thống doanh nghiệp vững mạnh. Dưới sức ép cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay cũng như tiến trình xây dựng AEC, các quốc gia ASEAN cũng như Việt Nam cần thiết phải có lộ trình và chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp của mình, đủ sức cạnh tranh tại thị trường trong và ngoài nước. Một trong các đặc trưng của AEC là xây dựng một khu vực có sự phát triển kinh tế cân bằng với hai yếu tố: Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và Sáng kiến hội nhập ASEAN nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển ở cấp độ SME cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam), để cho phép tất cả các quốc gia thành viên phát triển theo một định hướng thống nhất và tăng cường khả năng cạnh tranh của cả khu vực, giúp các nước tận dụng được cơ hội do quá trình hội nhập AEC mang lại. AEC khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) phát triển, và dành nhiều ưu đãi, hỗ trợ cho khu vực này. AEC xác định vai trò của khu vực tư nhân là một bên liên quan trong tiến trình hội nhập ASEAN; coi phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là trọng tâm, là xương sống của các nền kinh tế ASEAN, đã và đang thiết kế một chương trình trước và sau 2015 nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp các SME hưởng lợi nhiều hơn từ hội nhập ASEAN, trong đó tập trung vào thiết lập môi trường chính sách năng động, khả năng tiếp cận nguồn lực từ tài chính, dịch vụ hỗ trợ...được cải thiện. Thứ ba, doanh nghiệp Việt với sức ép hội nhập với cộng động doanh nghiệp ASEAN năng động, hiện đại, phải thích ứng và đẩy mạnh ứng dụng các phương thức quản lý và kinh doanh hiện đại, như thương mại điện tử và Hải quan điện tử (một trong các ưu tiên của AEC) sẽ ngày một năng động hơn, năng lực cạnh tranh và năng suất sẽ được nâng lên. Từ thực tiễn phát triển cho thấy ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) giúp các doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh về chi phí nhân công thấp và tài nguyên thiên nhiên sang cạnh tranh về lợi thế so sánh của hàng hoá và dịch vụ dựa trên giá trị tri thức, có giá trị gia tăng cao. Tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với phương thức kinh doanh mới, giúp mở rộng thị trường, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm cung ứng khu vực và toàn cầu; nâng cao năng lực lãnh đạo doanh nghiệp. Thứ tư, cắt giảm thuế quan là một thuận lợi giúp nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong hiệp định ASEAN, các nước cùng xây dựng hải quan một cửa đồng nghĩa với việc sản phẩm của một công ty sản xuất của Việt Nam có thể bán tại Singapore, Thái Lan mà không phải chịu thuế. Cắt giảm thuế quan là một thuận lợi giúp nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Thuế suất trong các hiệp định như các hiệp định ASEAN, thuế suất sẽ về từ 0% 5% đến năm 2018; nếu sản xuất để xuất khẩu thì sẽ không phải chịu thuế suất hoặc thuế suất thấp. Ví dụ thuế suất trong ASEAN sẽ về 0% 5% vào 2015, nếu sản xuất để xuất khẩu thì sẽ không phải chịu thuế suất. Đồng thời, nhập khẩu máy móc cũng không phải chịu thuế suất, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc hạ giá thành và tăng chất lượng của sản phẩm cũng như tăng tính cạnh tranh của hàng hóa. Theo Bộ Công Thương (2014), tính đến tháng 82014, AEC đã ghi nhận kết quả tích cực về tự do hóa thuế quan mà các nước ASEAN đạt được, quan trọng nhất là việc xóa bỏ thuế nhập khẩu với mức bình quân 89% biểu thuế về mức 0%. Thứ năm, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn, thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh,là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC nhằm thúc đẩy ASEAN thành một khu vực thu hút đầu tư toàn diện và hướng tới tự do hơn trong môi trường đầu tư. Có thể thấy trong những năm qua, vốn FDI vẫn tăng mạnh vào ASEAN, năm 2013 đạt 122,4 tỷ USD trong đó EU và Nhật Bản dẫn đầu, đầu tư nội khối chiếm 17,4% và Trung Quốc chiếm vị trí thứ 4 khoảng 7,02% với giá trị là 8,6 tỷ USD và rõ ràng đối với các nước CLMV có những dấu hiệu tích cực đối với tăng trưởng của các ngành dịch vụ (theo UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế, 2014). 2. Những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam 2.1 Thể chế thị trường còn nhiều khiếm khuyết là nguyên nhân cản trở sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước Việt Nam là nước hội nhập muộn, vẫn là một nền kinh tế chuyển đổi, trình độ phát triển thấp, năng lực thực tế của Việt Nam còn ở mức thấp, khả năng hoạch định và thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, nhiều chính sách được ban hành chưa tuân thủ theo cơ chế thị trường, hiện tượng đầu cơ trục lợi phổ biến dẫn đến sự méo mó của thị trường, khó khăn trong hoạt động quản lý nhà nước và phát triển của doanh nghiệp. Tư duy quản lý và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, tư duy về kinh tế thị trường còn nhiều khiếm khuyết...là cản trở lớn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. Các cơ hội và thách thức luôn chuyển hoá cho nhau, do đó nếu Việt Nam không cải cách mạnh mẽ bên trong cả về Nhà nước, doanh nghiệp và người dân thì khi hội nhập có thể phải gánh chịu những rủi ro rất lớn. Điều này thể hiện rõ sau hơn 7 năm gia nhập WTO, nhập siêu tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp trong nước ngày càng yếu thế ngay tại thị trường nội địa. 2.2. Năng lực cạnh tranh và hội nhập của doanh nghiệp còn yếu Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam yếu. Các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đầu tàu cho hệ thống doanh nghiệp cả nước, khu vực kinh tế tư nhân còn bị phân biệt đối xử, chưa đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp các nước trong khu vực. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tham gia thị trường thương mại có quy mô lớn, được hưởng nhiều ưu đãi, nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, nếu không khai thác tốt, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường khu vực, mà ngay thị trường nội địa cũng khó có thể giữ vững. Ví dụ,từ nhiều năm nay, hàng hoá của các nước trong khối ASEAN đã tràn ngập thị trường Việt Nam, như sản phẩm dao gọt trái cây, hay nước tăng lực của Thái Lan…., và sẽ còn tràn vào thị trường Việt Nam nhiều hơn nữa trong thời gian tới. Các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị đẩy ra khỏi ngành do hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan và Singapore.Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan vừa đạt được thỏa thuận mua lại lĩnh vực kinh doanh sỉ của 5 METRO tại Việt Nam là điển hình của các doanh nghiệp ASEAN chuẩn bị làm ăn lâu dài tại Việt Nam khi AEC chính thức vào 2015. Việt Nam chưa có nhiều các doanh nghiệp mang tầm quốc tế và khu vực. Năng lực hội nhập và mở rộng thị trường nước ngoài còn yếu, còn nhiều thụ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa thực sự chủ động chuyển mình theo yêu cầu đòi hỏi của hội nhập kinh tế, đây sẽ là bất lợi rất lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các nhiều các tập đoàn lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam. Nếu không có chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp từ cả phía chính phủ và doanh nghiệp, chiến lược tìm hiểu và mở rộng thị trường nước ngoài bài bản thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn sẽ chỉ là doanh nghiệp đi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, phụ thuộc nhiều vào biến động của kinh tế thế giới và trong nước. 2.3. Chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong nước còn thấp Khi AEC trở thành hiện thực vào 2015, sẽ cho phép tự do di chuyển lao động có tay nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia và lao động có tay nghề của ASEAN tham gia vào hoạt động liên quan đến thương mại và đầu tư qua biên giới. Tám ngành nghề lao động dự kiến trong AEC được tự do di chuyển qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương, gồm: kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, điều dưỡng, kỹ sư, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Điều này cho thấy yêu cầu về chất lượng nhân lực cao, nhân lực phải được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Sự chênh lệch về thu nhập lớn giữa các quốc gia ASEAN sẽ là nguyên nhân tạo nên sự di chuyển lao động giữa các quốc gia giàu, nghèo khi AEC trở thành hiện thực vào 2015. Do đó đây sẽ là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nếu không có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong bối cảnh các nước ASEAN đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam càng tăng. Đồng thời các doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư vào các nước ASEAN trong thời gian tới sẽ là áp lực đối với lực lượng lao động của các doanh nghiệp Việt Nam, với thực trạng hiện tại là thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khi tham gia AEC, sẽ có hiện tượng chảy máu chất xám, tự do di chuyển lao động. Do đó, ngoài việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải đi kèm các giải pháp tránh chảy máu chất xám, chính sách lao động việc làm và đãi ngộ hợp lý là nội dung trọng tâm các doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến thời gian tới. 2.4 Các doanh nghiệp nhỏ và nhiều ngành của nền kinh tế sẽ chịu tác động xấu Tham gia AEC sẽ tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi ích từ việc áp dụng các thuận lợi hóa thương mại tự do. Tuy nhiên, hiện đang có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển của các nước Campuchia Lào Myanmar Việt Nam (CLMV) so với các nước ASEAN6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), thể hiện ở cả quy mô vốn của nền kinh tế, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề lao động… Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, dịch vụ, đầu tư của các doanh nghiệp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm và có ưu thế về dịch vụ trên phạm vi thế giới tại các nước ASEAN khác, như Singapore, Malaysia, Indonesia… Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chưa có nhiều mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn. Các mặt hàng nông, lâm, thủy sản là thế mạnh của Việt Nam nhưng đang gặp phải những khó khăn về diện tích canh tác ngày càng thu hẹp do xu hướng đô thị hóa, khả năng khai thác, đánh bắt, tiếp thu công nghệ tiên tiến, hiện đại đáp ứng yêu cầu chất lượng của thế giới còn rất hạn chế. Những lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng chế biến như tỷ lệ sử dụng lao động cao, giá lao động rẻ đang phải đối mặt sự cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực. Việc phát triển các mặt hàng mới còn gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ. Nếu không nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh có thể khiến cho doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng bị đào thải dưới áp lực cạnh tranh thế giới, các hiệp định Việt Nam ký kết có thể đem lại lợi ích chủ yếu cho doanh nghiệp nước ngoài thay vì doanh nghiệp trong nước. Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn bộc lộ rất nhiều hạn chế. Các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như da giày, may mặc dường như được lợi thế về giá nhưng thực chất các sản phẩm đầu vào như sợi, cúc áo... lại nhập từ các quốc gia khác như Trung Quốc, Hàn Quốc. Nguyên nhân do các sản phẩm hỗ trợ của Việt Nam nhìn chung còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá lại cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu. Trong khi đó, các sản phẩm hỗ trợ của Thái Lan, Malaixia... tuy chất lượng cũng không phải là cao hơn sản phẩm cùng loại của Việt Nam, nhưng hàng của họ giá rất rẻ, nhiều chủng loại, mẫu mã đa dạng; thêm vào đó, các quốc gia này chiến lược mở rộng thị trường bài bản, chuyên nghiệp hơn rất nhiều so với Việt Nam, đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam thời gian tới. Các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với thách thức không nhỏ khi AEC có hiệu lực. Trong đó đáng chú ý là sức ép từ hàng hóa nhập khẩu, cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN,một số ngành sau có thể chịu chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian tới, như: Ngành công nghiệp ô tô Các doanh nghiệp ngành này chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trường. Hơn nữa, công nghiệp phụ trợ đối với ngành công nghiệp ô tô hiện nay ở Việt Nam rất kém, qui mô thị trường nhỏ là những điểm bất lợi trong thu hút đầu tư vào ngành này. Thời gian tới khi thuế suất nhập khẩu ô tô có xuất xứ từ ASEAN ngày càng giảm, ngành ô tô trong nước sẽ còn khó khăn hơn nữa nếu ngành sản xuất ô tô của Việt Nam không tạo được sự khác biệt. Các sản phẩm nông nghiệp,chăn nuôi Giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước vào Việt Nam gia tăng, với giá cả cạnh tranh hơn, hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Hiện tại, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm đầu ra chủ yếu bị khống chế bởi các doanh nghiệp nươc ngoài, trong đó có doanh nghiệp các nước ASEAN; thời gian tới sẽ báo động là giai đoạn hết sức khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này. Theo (Rau quả Thái Lan đánh bật Trung Quốc, 2014)cho biết với mặt hàng rau quả, kim ngạch nhập khẩu rau quả từ Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2014 đạt gần 106 triệu USD, chiếm 34,2% thị phần. Trong khi đó, Trung Quốc chỉ chiếm được 23,1%. Như vậy, kim ngạch nhập khẩu rau quả từ Thái Lan lần đầu tiên đã vượt Trung Quốc và trở thành nước dẫn đầu trong việc xuất khẩu rau quả vào Việt Nam ….cho thấy đây sẽ là lĩnh vực rất khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai, không chỉ từ Thái Lan mà còn từ các nước ASEAN khác. Ngành dịch vụ tài chính ngân hàng Sẽ có thách thức rất lớn đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng của Việt Nam. Các nước có hệ thống tài chính ngân hàng phát triển như ASEAN6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan)đều mạnh hơn Việt Nam về mọi mặt. Hơn nữa, thời gian qua, các ngân hàng của Singapore và Malaysia đang đầu tư rất lớn để có thể đi trước các đối thủ cạnh tranh khác và chuẩn bị tốt hơn cho AEC. Việt Nam không những chịu sức ép của AEC trong ngành tài chính ngân hàng mà còn chịu nhiều sức ép hơn nữa từ TPP và các FTA đã ký kết và đang đàm phán. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất khó khăn nếu không tái cấu trúc, nâng cao khả năng cạnh tranh càng sớm càng tốt. 2.5 Các doanh nghiệp chưa chủ động phối hợp với Chính phủ hoạch định chính sách thương mại quốc tế, nắm bắt lộ trình gia nhập AEC còn thấp Hoạch định chính sách thương mại quốc tế nói chung và gia nhập AEC nói riêng gắn liền với quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước và tiên quyết các doanh nghiệp cần phối kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định chính sách, phù hợp với thực trạng, mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai nhằm thu được kết quả tốt đẹp do hội nhập kinh tế mang lại. Tuy nhiên, thời gian qua đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp trong hoạt động này còn hạn chế,Các doanh nghiệp còn thụ động trong việc tìm hiểu, tiếp cận các thông tin mở cửa thị trường, các cam kết của Việt Nam với đối tác thương mại. Cụ thể như các doanh nghiệp chưa hiểu hoặc chưa quan tâm đến các ưu đãi thuế quan, dẫn đến tự đánh mất lợi thế cạnh tranh về thuế và làm giảm khả năng cạnh tranh hàng hóa trên thị trường quốc tế; một số doanh nghiệp dù có hiểu biết về quy tắc xuất xứ nhưng khi áp dụng vào thực tế còn yếu, doanh nghiệp cũng chưa cập nhật đầy đủ về cam kết cắt giảm thuế hàng năm của WTO của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). KẾT LUẬN Có thể nói AEC đến và đặt Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á khác trước những cơ hội, thách thức to lớn. Thực tế này đang đòi hỏi chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Nam phải có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ lưỡng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trình tham gia AEC. Trong đó, các yếu tố then chốt mà Việt Nam không thể bỏ qua là cải cách thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam cần thiết kế một kế hoạch tổng thể hội nhập để cam kết, lộ trình làm sao cho hài hòa. Quan trọng hơn, cộng đồng DN phải có lộ trình để thích nghi, thay đổi phù hợp bởi nếu rào cản thuế quan được gỡ bỏ hoàn toàn và mang lại lợi ích kinh tế lớn thì quy tắc xuất xứ nổi lên như một rào cản mới. Để được hưởng các ưu đãi trên thì hàng hóa các nước trong khối ASEAN phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ theo tỷ lệ được quy định với từng mặt hàng. Để có thể thích nghi được vào “sân chơi chung” AEC, Việt Nam sẽ còn rất nhiều việc phải làm ngay từ những tháng đầu năm 2015. Việt Nam cần đẩy mạnh tuyên truyền để DN và người lao động tích cực hơn trong việc chuẩn bị hội nhập AEC, ngoài ra nâng cao năng suất lao động cũng là một yêu cầu cần phải chuẩn bị để hội nhập hiệu quả AEC. Để tồn tại, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải liên kết với nhau, tạo những cơ hội đầu tư để cùng vượt qua thử thách cho tất cả doanh nghiệp trong nước nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh.
Xem thêm

16 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU BỆNH PHẤN TRẮNG TRÊN CÂY CAO SU Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC, ĐĂK LẮK VÀ QUẢNG TRỊ

NGHIÊN CỨU BỆNH PHẤN TRẮNG TRÊN CÂY CAO SU Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC, ĐĂK LẮK VÀ QUẢNG TRỊ

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, hiện cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau gạo). Riêng năm 2006, cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam (bao gồm cảnguồn cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước láng giềng) đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giá trị xấp xỉ 1,3 tỷUSD.

5 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI NGÂN HÀNG BẮC Á CHI NHÁNH KIM LIÊN

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI NGÂN HÀNG BẮC Á CHI NHÁNH KIM LIÊN

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Bắc ÁNền kinh tế của đất nước ta trong những năm gần đây đang phát triển một cách mạnh mẽ và có nhiều bước đột phá. Hòa chung với không khí xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh thì ngân hàng Bắc Á đã được thành lập để trở thành một trong những mắt xích quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam để tạo nên động lực to lớn thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế hơn nữa.Theo quyết định 183QDNH5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á được thành lập vào ngày 01091994 và trụ sở chính của Ngân hàng được đặt ở số 117 Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ngân hàng được UBND tỉnh Nghệ An cấp giấy phép thành lập số 004924GPTLDN03 ngày 1 tháng 1 năm 1995 và được sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An cấp đăng ký kinh doanh số 06366229SKH ngày 10 tháng 10 năm 1995. NHTMCP Bắc Á là ngân hàng thuộc sở hữu tập thể của các cổ đông với số vốn điều lệ ban đầu là 155 tỷ đồng và được các cổ đông có uy tín đóng góp. Vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Bắc Á đã không ngừng tăng tính đến năm 2009 đã là hơn 2000 tỷ đồng và hiện nay là 3000 tỷ đồng, cùng với đó là 72 điểm giao dịch trên toàn quốc(năm 2012). Ngân hàng TMCP Bắc Á hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng số 021997QD10 ban hành ngày 12121997 và điều lệ của Ngân hàng Bắc Á là Ngân hàng TMCP có doanh số hoạt động kinh doanh lớn nhất khu vực miền trung VN… Vì vậy, Ngân hàng TMCP Bắc Á ra đời là hoàn toàn đúng đắn vì những thành quả đã đạt được trong những năm qua đã minh chứng cho điều đó.Cùng với đó mạng lưới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đã được hình thành ở các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm của cả nước. Cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng như: huy động tiền gửi tiết kiệm bằng VND, USD, EUR…; nhận vốn ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; cho vay vốn ngắn hạn, trung dài hạn bằng VNĐ và ngoại tê phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tài trợ, đồng tài trợ cho các dự án; cho vay trả góp tiêu dùng, sinh hoạt gia đình…; thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu; thực hiện các dịch vụ bảo lãnh; dịch vụ thanh toán, ngân quỹ ,chi trả lương hộ cho các tổ chức, doanh nghiệp chuyển tiền nhanh trong nước và quốc tế; dịch vụ kiều hối; kinh doanh ngoại tệ; dịch vụ tư vấn tài chính; dịch vụ thẻ điện tử; góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần… Ngoài ra, ngân hàng TMCP Bắc Á còn tham gia các hoạt động kinh doanh như: Khai thác và chế biến khoáng sản, bất động sản, du lịch và khách sạn…Ngoài ra, Ngân hàng TMCP Bắc Á là thành viên chính thức của Hiệp hội Thanh toán Viễn thông Liên Ngân hàng toàn cầu, Hiệp hội các Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội các Ngân hàng Việt Nam và Phòng thương mại Công nghiệp Việt Nam.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy chế biến cà phê nhân theo phương pháp ướt năng suất 50 tấn nguyên liệu ca

THIẾT KẾ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN CÀ PHÊ NHÂN THEO PHƯƠNG PHÁP ƯỚT NĂNG SUẤT 50 TẤN NGUYÊN LIỆU CA

Từ năm 1986, khi ngành cà phê Việt Nam bắt đầu phát triển thì việc thưởng thức cà phê đã dần dần trở thành một thói quen trong cuộc sống. Tuy nhiên ít ai biết được để có một ly cà phê như thế phải trải qua một quá trình tìm hiểu. Trên thế giới cây cà phê được trồng ở các nước: Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Barazin, Ethiopia...với nhiều giống cà phê khác nhau như: Cà phê Arabica (cà phê chè), Cà phê Robuta (cà phê vối), Cà phê Excelsa ( cà phê mít)... Ở Việt Nam với khí hậu nhiệt đới rất thích hợp cho việc trồng và phát triển cây cà phê và nó trở thành một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trải qua hơn 100 năm đến nay cây cà phê đã có mặt gần như khắp các vùng trong cả nước với quy mô lớn như vùng Bắc Bộ ( Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang), Trung Bộ ( Nghệ An, Quảng Trị...), Nam Bộ ( Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu), Tây Nguyên ( Gia Lai, Kontum, Buôn Ma Thuột, Lâm Đồng ), chính vì vậy Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới sau Barazin. Cùng với sự phát triển của việc trồng cây cà phê thì kỹ thuật chế biến đòi hỏi ngày càng cao và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thành phẩm. Hiện nay có nhiều cơ sở chế biến cà phê nhân để phục vụ cho các doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu sang nước ngoài tuy nhiên chất lượng sản phẩm chưa cao do công nghệ chế biến cũng như phương thức thực hiện còn thủ công và nhỏ lẻ dẫn đến tình trạng bị ép giá, giảm đáng kể giá trị của sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực. Để cho chất lượng cà phê tốt hơn thì một trong các phương pháp mà doanh nghiệp sử dụng đó là chế biến cà phê theo phương pháp ướt. Với phương pháp này không những cho cà phê có chất lượng tốt hơn mà còn giúp cho doanh nghiệp chủ động và rút ngắn thời gian sản xuất. Để tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao cũng như các sản phẩm chế biến tiếp theo từ cà phê nhân đạt chất lượng đòi hỏi chúng ta phải có những nhà máy chế biến công nghệ hiện đại với quy mô lớn.Xuất phát từ tình hình thực tế đó, em được giao nhiệm vụ Thiết kế nhà máy chế biến cà phê nhân theo phương pháp ướt năng suất 50 tấn nguyên liệu ca
Xem thêm

115 Đọc thêm

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐƯỜNG RS HIỆN ĐẠI NĂNG SUẤT 6380 TẤN MÍA NGÀY ( FULL BẢN VẼ )

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐƯỜNG RS HIỆN ĐẠI NĂNG SUẤT 6380 TẤN MÍA NGÀY ( FULL BẢN VẼ )

Với những yếu tố điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho sự phát triển của cây mía. Nó được trồng khắp nước ta, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất đường đáp ứng trước mắt nhu cầu tiêu thụ đường trong nước, đồng thời xuất khẩu ra thị trường thế giới thu hút thêm lợi nhuận. Tuy nhiên thực tế ngành mía đường vẫn còn một số thực trạng cần đáng lưu tâm, ảnh hưởng đến phát triển của ngành mía đường nói riêng và của nền kinh tế nước ta nói chung. “Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) vừa đưa ra con số còn tới 400.000 tấn đường tồn kho”. Nguyên nhân theo VSSA do “đường cát nhập lậu từ Thái Lan qua đường biên giới Tây Nam ngã Campuchia chiếm lĩnh 70 – 80% thị phần thị trường khu vực đồng bằng sông Cửu Long”. Mức chênh lệch giữa giá đường nội và ngoại lớn nhiều khi đối tượng sử dụng là những doanh nghiệp chế biến thực phẩm. “Theo so sánh của một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo, từ cuối năm ngoái đến nay, giá đường nhập khẩu đang ở mức khá thấp, về đến cảng khoảng 11.000 – 12.000 đồngkg, thấp hơn 4.000 – 6.000 đồngkg so với đường trong nước”
Xem thêm

121 Đọc thêm

Bải tập lớn: Quan hệ Việt Nam ASEAN

Bải tập lớn: Quan hệ Việt Nam ASEAN

Cách đây tròn 21 năm, ngày 2871995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự kiện chính trị quan trọng này đã thể hiện rõ nét chính sách chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam, mở ra một thời kỳ hội nhập sâu vào khu vực của Việt Nam trên các lĩnh vực chính trịan ninh, kinh tế và chuyên ngành. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một trang mới trong lịch sử ASEAN. Từ đây chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu trong khu vực. ASEAN chính thức là một tổ chức của cả khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên qua mỗi giai đoạn quan hệ Việt Nam – ASEAN có nhiều khác biệt, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác. Vì vậy em chọn đề tài: “Quan hệ Việt Nam – ASEAN” để làm rõ nội dung trên. B. NỘI DUNG I. Sự hình thành và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN ) 1. Tổng quan về ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian NationsASEAN) được thành lập ngày 881967 bởi Tuyên bố Băngcốc, Thái Lan, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan. Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Brunây Daruxalam làm thành viên thứ 6. Ngày 2871995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 2371997 kết nạp Lào và Mianma. Ngày 3041999, Cămpuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam á, một ASEAN của Đông Nam á và vì Đông Nam á.
Xem thêm

Đọc thêm

” Chính sách và kế hoạch nhân lực tại công ty cổ phần du lịch việt nam tại TPHCM”

” CHÍNH SÁCH VÀ KẾ HOẠCH NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VIỆT NAM TẠI TPHCM”

Lời mở đầu Chúng ta có thể khẳng định rằng yếu tố quyết định đối với sự phát triển và đi tới thành công của một doanh nghiệp chính là con người nguồn nhân lực. Chúng ta có thể huy động dễ dàng nguồn vốn, tài sản, cơ sở vật chất, đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị… Nhưng yếu tố quan trọng nhất có thể vận hành và biến tất cả các yếu tố trên thành thuận lợi chính là con người. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, nguồn nhân lực ngày càng thể hiện được tầm quan trọng của mình. Những nhà quản trị nhân lực trong thế kỷ 21 đang buộc phải thay đổi hoàn toàn cách tư duy cũ. Làm thế nào để tuyển dụng, giữ chân được nhân tài là một vấn đề khó khăn đặt ra đối với doanh nghiệp. Để làm được điều này điều đầu tiên đòi hỏi các nhà quản trị nhân sự của mỗi doanh nghiệp phải xây dựng được các chính sách và kế hoạch nhân sự hiệu quả để từ đó định hướng triển khai tốt các chương trình nhân sự vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa thỏa mãn người lao động. Vậy thực trạng xây dựng các chính sách và kế hoạch nhân lực trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay như thế nào. Trong bài thảo luận này nhóm 9 chúng em xin đi sâu nghiên cứu về chính sách và kế hoạch nhân sự tại một doanh nghiệp cụ thể với đề tài:” Chính sách và kế hoạch nhân lực tại công ty cổ phần du lịch việt nam tại TPHCM”Chương 1: Cơ sở lý thuyết1.1Khái niệm và vai trò1.1.1Chính sách nhận sựKhái niệm: Chính sách nhân sự là:Những hướng dẫn chung mô tả những giới hạn mà các hoạt động quản trị nhân lực chỉ có thể diễn ra trong phạm vi đó.Chính sách nhân sự phản ánh cách nhìn, cách sử dụng, cách đối xử của chủ doanh nghiệp đối với nhân viên trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Cách nhìn, cách sử dụng, cách đối xử đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.Các chính sách nhân sự quan trọng như: chính sách tuyển dụng, chính sách đào tạo, chính sách đãi ngộ…Vai trò:Đảm bảo tính nhất quán trong hành vi và xác định rõ đối tượng, ứng xử của công ty với đối tượng.Định hướng và điều chỉnh mọi hoạt động, mọi quan hệ nhân sự trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.Tạo hướng nhìn chung cho tập thể nhân viên nhằm hướng tới đạt mục tiêu doanh nghiệp.Tạo sự công bằng đối với mọi nhân viên và có thể giữ được những người làm việc tốt cho doanh nghiệp.Tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường lao động.1.1.2Kế hoạch nhân sựKhái niệm: Kế hoạch nhân sự là những mục tiêu nhân lực, chương trình, hành động trong từng năm của thời kỳ chiến lược, được vận hành trên nền tảng các chính sách nhân lực, được xây dựng theo từng thời kỳ (6 tháng, 1 năm,…)Vai trò:Cụ thể hóa các chính sách nhân sự, chỉ ra một cách chi tiết cách thức hành động để đạt được mục tiêu của tổ chức.Để thực thi được các mục tiêu kế hoạch nhân sự tổng thể của năm rất cần có các kế hoạch nhân lực chi tiết gắn với các tác nghiệp quản trị nhân lực của năm đó như: kế hoạch tuyển dụng, kế hoạch đào tạo, kế hoạch đãi ngộ,…1.2 Thiết lập chính sách nhân lực Các yêu cầu đối với xây dựng chính sách nhân lực : Công bằng , công khai , kịp thời , có lý có tình, rõ ràng dễ hiểu. Xác định căn cứ xây dựng chính sách nhân lực :+ những quy định của nhà nước+chiến lực kinh doanh và chiến lược nhân lực của doanh nghiệp+văn hóa doanh nghiệp+quan điểm của nhà quản trị doanh nghiệpXác định đối tượng phạm vi chính sách nhân lựcXây dựng nội dung chính sách nhân lực+xây dựng những quy định chung : Cách định nghĩa các từ viết tắt , mục đích , phạm vi và đối tượng áp dụng , giới thiệu các thành phần tham gia xây dựng và vận hành chính sách, vv...+xây dựng những nội dung cụ thể : Nội dung thực hiện , hình thức phương pháp thực hiện, nguồn kinh phí thực hiện , quyền lợi trách nhiệm nghĩa vụ của đối tượng áp dụng ,...+xây dựng quy định về tổ chức thực hiện : Quy định cách thức tổ chức thực hiện bộc lộ quy trình , các bộ phận tham gia vào quy trình tổ chức thực hiện hoạt động quản trị nhân lực đó , các điều khoản thực thi chính sách, ...Ra quy định ban hành chính sách : Quyết định phải bao gồm các phần sau:+quốc hiệu+tên tổ chức doanh nghiệp ban hành quyết định+số ký hiệu của quyết định+địa danh và ngày tháng năm ban hành quyết định+tên loại và trích yếu nội dung của quyết định .Một số chính sách nhân lực chủ yếu+chính sách tuyển dụng+chính sách đào tạo+chính sách phát triển nhân lực+chính sách đãi ngộ nhân lực+chính sách thi đua1.3 Xây dựng kế hoạch nhân lực xác định căn cứ xây dựng kế hoạch nhân lực :+kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp+chiến lược nhân lực+chính sách nhân lực+thực trạng ngồn nhân lực của doanh nghiệp+thị trường lao độngXác định mục tiêu nhân lực tổng thể +mục tiêu quản trị nhân lực là những dấu mốc mà hoạt động quản trị nhân lực mong muốn và cố gắng đạt được nó trong thời kỳ kế hoạch .+yêu cầu xây dựng mục tiêu nhân lực : Cần phải khả thi và đo lường được .Quy trình xây dựng mục tiêu :+mục tiêu được xây dựng dựa trên yêu cầu đối với từng nhiệm vụ cụ thể.+cụ thể hóa yêu cầu dựa trên định hướng của văn hóa doanh nghiệp và đặc thù của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.+cụ thể hóa các nội dung của mục tiêu với các chỉ tiêu đo lường được.Xây dựng chương trình nhân lực tổng thể : chỉ ra những giải pháp hay những biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu nhân lực tổng thể .Xây dựng kế hoạch nhân lực chi tiết+xây dựng kế hoach chi tiết cho hoạt động tác nghiệp quản trị nhân lực trong một chu kỳ thời gian .+xây dựng kế hoạch nhân lực chi tiết cho từng lần tổ chức hoạt động quản trị nhân lực.Kế hoạch nhân lực cho một sự kiện bao gồm các vấn đề sau :Xác định đối tượng tham gia , xác định thời gian địa điểm , xác định hình thức phương pháp , xác định kinh phí.Dự trù ngân sách nhân lực là quá trình tạm tính các khoản thu chi bằng tiền liên quan đến một hoặc nhiều hoạt động quản trị nhân lực của doanh nghiệp. Được thực hiện qua các bước công việc sau :Bước 1 : Dự trù chi phí Bước 2: Dự trù nguồn thuBước 3 : Tổng hợp ngân sách .Chương 2: Chính sách và kế hoạch nhân lực tại công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại TP.HCM2.1 Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp2.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại TP.HCM Công ty cổ phần du lịch Việt Nam TP.Hồ Chí Minh luôn là một trong 10 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành hàng đầu Việt Nam, thương hiệu “VIETNAMTOURISM HO CHI MINH CITY” những năm qua đã trở nên quen thuộc đối với khách hàng trong và ngòai nước. Với bề dày 35 năm kinh nghiệm họat động trong lĩnh vực du lịch, công ty đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ lữ hành trọn gói và bán lẻ chuyên nghiệp. Để gắn kết các họat động du lịch trong và ngòai nước, từ nhiều năm qua Công ty đã tham gia và là thành viên chính thức của hiệp hội du lịch Nhật Bản (JATA), Hiệp hội du lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA), Hiệp hội du lịch Mỹ (ASTA), hiệp hội du lịch Việt Nam (VITA), hiệp hội du lịch TP. Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Công ty cổ phần du lịch Việt Nam TP.Hồ Chí Minh (tiền thân là Công ty du lịch Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh) được hình thành và chuyển đổi qua các thời kỳ: Ngày 971960 thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngọai Thương với nhiệm vụ chủ yếu phục vụ khách chuyên gia. Sau ngày Miền Nam giải phóng, năm 1978 Văn phòng đại diện của Tổng cục du lịch được thành lập tại TP. Hồ Chí Minh mang tên Trung tâm điều hành đưa đón khách (Điều hành B) với tên giao dịch quốc tế Vietnamtourism in Ho Chi Minh City. Năm 1990, Trung tâm được chuyển thành Chi nhánh Tổng Công ty du lịch Việt Nam tại TP. HCM thuộc Tổng Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao Du lịch. Ngày 2631993 thành lập doanh nghiệp Nhà nước Công ty Du lịch Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh theo nghị định 388 của Chính phủ chính phủ trực thuộc Tổng cục Du lịch. Ngày 162007 đến nay, đăng ký chuyển đổi lọai hình doanh nghiệp nhà nước sang Công ty cổ phần với tên mới Công ty cổ phần Du lịch Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh Ngày 3182010 điều chỉnh tên doanh nghiệp thành Công ty cổ phần du lịch Việt Nam TP. Hồ Chí Minh (Vietnamtourism Ho Chi Minh City Joint stock company). Công ty hiện đang sở hữu và kinh doanh dịch vụ của 2 khách sạn, 1 xí nghiệp vận chuyển khách du lịch (gồm nhiều lọai xe vận chuyển khách), 1 đại lý bán vé máy bay (các đường bay quốc tế và nội địa ) và Chi nhánh lữ hành tại Hà Nội. Công ty đã thực hiện liên doanh, liên kết xây dựng và đưa vào kinh doanh khách sạn Mondial tiêu chuẩn 4 sao với thiết kế 100 phòng tại Huế. Trong kinh doanh lữ hành, Công ty đã xây dựng được nhiều lọai hình du lịch, với nhiều chương trình phục vụ khách phong phú. Hàng năm, đã thu hút được hàng chục ngàn lượt khách quốc tế đến từ Pháp, Nhật, Nga, Đan Mạch, Anh, Mỹ, Singapore, Malaysia…và hàng chục ngàn khách Việt Nam đi tham quan du lịch nước ngòai. Vừa qua, Công ty đã mở được các chương trình mới tham quan du lịch tại Úc, Hàn Quốc, Châu Âu. Khách hàng sẽ dễ dàng chọn lựa các chương trình đi tham quan du lịch qua website : www.vietnamtourismhcmc.com.vn với giá cả hợp lý, phương thức thanh tóan nhanh chóng và tiện lợi. Qua nhiều năm họat động, Công ty hiện đang có mối quan hệ gần gũi với nhiều bạn hàng, nhiều đối tác lữ hành trong và ngòai nước, đã ký kết các hợp đồng kinh tế với hệ thống khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan vui chơi giải trí trên tòan quốc.2.1.2 Sản phẩm và dịch vụ STTSản phẩm và dịch vụ1Lữ hành quốc tế và nội địa2Khách sạn nhà hàng3Vận chuyển khách du lịch4Đại lý bán vé máy bay5Thu đổi ngoại tệ6Văn phòng cho thuê7Xuất nhập khấu ngoại thương8Cửa hàng miễn thuế và các dịch vụ có liên quan2.1.3 Cơ cấu tổ chứcCơ cấu tổ chức của công ty du lịch Việt Nam TP. Hồ Chí Minh2.2 Thực trạng xây dựng chính sách và kế hoạch nhân lực tại công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại TP.HCM2.2.1 Thực trạng xây dựng chính sách nhân lực2.2.1.1 Căn cứ xây dựng chính sách nhân lực của doanh nghiệpNhững quy định của pháp luật : Ngành du lịch là một trong các ngành rất nhạy cảm với các sự kiện như ổn định chính trị, thể chế chính trị và tập trung quyền lực, quan hệ tuốc tế, đường lối đối ngoại, các chính sách của Nhà nước, hệ thống luật pháp điều chỉnh, các hoạt động kinh doanh (doanh nghiệp, luật đầu tư, luật bảo vệ người tiêu dùng, luật môi trường...) pháp luật du lịch, đường lối phát triển du lịch của trung ương và địa phương, luật bảo vệ sức khỏe, an toàn vệ sinh thực phẩm, chống tệ nạn xã hội, quan hệ quốc tế. Việt Nam đã tạo dựng được hình ảnh là một
Xem thêm

23 Đọc thêm

Cùng chủ đề