MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN VI PHẠM HỢP ĐỒNG KINH TẾ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN VI PHẠM HỢP ĐỒNG KINH TẾ":

CÁCH VIẾT MỘT HỒ SƠ VỤ ÁN KDTM

CÁCH VIẾT MỘT HỒ SƠ VỤ ÁN KDTM

*Cách viết một hồ sơ vụ án KDTM:Hồ sơ vụ việc này gồm:- Đơn khởi kiện- và Những tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có:• Hợp đồng kinh tế,• Giấy phép kinh doanh Công ty TNHH XD và TM Thể Đào và công tyTNHH XD Phú Cường• Biên bản đối chiếu công nợ- Thông báo (việc nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí)- Thông báo vụ việc thụ lý vụ án Kinh Doanh Thương Mại1/ cách viết đơn khởi kiện-Tiêu ngữ ở trên: CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tựdo-Hạnh phúc-Dưới tiêu đề bên phải: nơi viết, ngày tháng năm-Kính gửi: TA nhân dân Quận/Huyện……….(nơi nộp đơn)-Bên khởi kiện, bên bị kiện:(nếu là người khởi kiện là cá nhân thì ghi rõ họ tên, nếu là cơ quan tổ chức thì ghirõ tên cơ quan tổ chức – người đại diện hợp pháp)-Địa chỉ của bên khởi kiện, bên bị kiện:….-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (nếu có)Địa chỉ:-Nội dung:Nêu rõ căn cứ khởi kiện, nêu rõ những yêu cầu cụ thể để nghị Toà án giải quyết• Những tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm:…..• Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyếtvụ án-Góc phải cuối đơn: ghi rõ nơi viết, ngày tháng năm, người khởi kiện( ký và ghi rõhọ tên)Người khởi kiên là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp phải ký và đóngdấu2/ Hợp đồng kinh tế:
Xem thêm

2 Đọc thêm

BTL Pháp luật Kinh tế

BTL PHÁP LUẬT KINH TẾ

Bài tập lớn pháp luật kinh tế II Nội dung yêu cầu 1. Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế trong lĩnh vực vận tải biển (Hợp đồng vận chuyển hàng hóa) 2. Thống kê số lượng hợp đồng thuê tàu chuyến bị vi phạm và tranh chấp năm 2014 theo thị trường nội địa và quốc tế 3. Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp các hợp đồng theo các nội dung: Số lượng (khối lượng) Giá cả Thanh toán Thưởng phạt làm hàng Bồi thường thiệt hại hợp đồng 4. Kết luận của bản thân 5. Hoàn thành đúng tiến độ yêu cầu
Xem thêm

8 Đọc thêm

Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC

Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1 Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào. Bởi lẽ, giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình,… xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và trong sản xuất. Tuy nhiên, một giao dịch để được coi là có hiệu lực cần đảm bảo được các yếu tố: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp pháp luật quy định thì hình thức giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tuy vây, phần lớn dân số Việt Nam đều không trang bị cho mình đầy đủ kiến thức về luật pháp dấn đến tình trạng các giao dịch bị vô hiệu vẫn thường xuyên xảy ra. Trong số đó, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức chiểm tỉ lệ không hề nhỏ. Mặc dù điều này được quy đinh rất rõ trong pháp luật, nhưng do sự thiếu hiểu biết của mọi người đã dẫn đến các tranh chấp, kiện tụng, gây ảnh hưởng về tài sản và cả tình cảm giữa các bên tham gia. Nhận thấy điều này, em đã quyết định tìm hiểu đề tài: “Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức” Trong bài tập lần này của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chính vì thế, em rất mong nhận được những góp ý từ phía các thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Giao dịch dân sự 1.1 Khái niệm Theo điều 121 BLDS : “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Một giao dịch dân sự chỉ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt khi có ít nhất là một trong các bên tham gia giao dịch dân sự thể hiện ý chí của mình dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích ghi nhận, thay đổi, hủy bỏ các quyền và nghĩa vụ dân sự. 1.2 Đặc điểm của giao dịch dân sự Giao dịch dân sự có những đặc điểm sau: Giao dịch dân sự phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia. Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện. Chế tài trong giao dịch dân sự mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt. Nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. 1.3 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên trong giao dịch thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ theo đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch. Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và được pháp luật bảo hộ. Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 122 BLDS. Đó là: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật. 2. Giao dịch dân sự vô hiệu 2.1. Khái niệm Điều 127 BLDS quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu là các giao dịch không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 BLDS.” Điều 122 BLDS quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự bao gồm: a. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự đầy đủ b. Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội. c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Như vậy những giao dịch dân sự nếu vi phạm 1 trong 4 điều kiện nêu trên thì bị coi là vô hiệu. 2.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu Căn cứ theo mức độ vô hiệu, chia làm 2 loại: Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ : Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ xảy ra khi toàn bộ nội dung của giao dịch dân sự đó vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao dịch đó không có quyền xác lập giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối : Giao dịch vô hiệu từng phần là giao dịch mà trong đó chỉ có 1 phần hoặc một số phần của giao dịch đó vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại. Khi đó chỉ phần vô hiệu là không có hiệu lực, các phần còn lại vẫn có hiệu lực thi hành. Căn cứ theo tính chất, chia làm 2 loại: Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối: là những giao dịch dân sự vi phạm những quy tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chung của cộng đồng. Giao dịch dân sự do giả tạo, giao dịch dân sự có nội dung và mục đích trái với pháp luật và đạo đức xã hội, giao dịch dân sự không tuân theo hình thức luật định bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không hạn chế. Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: a) Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức của xã hội (Điều 128 BLDS). b) Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba (Điều 129 BLDS). c) Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật (Điều 134 BLDS). Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối: là những giao dịch dân sự vi phạm một trong những quy tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một chủ thể xác định (cá nhân, pháp nhân,…) Giao dịch dân sự được giao kết do nhầm lẫn, đe doạ, lừa dối, do người chưa thành niên, người bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thiết lập là giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thời hạn yêu cầu xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự đó là một năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp: a) Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 130 BLDS). b) Khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn (Điều 131 BLDS). c) Khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe doạ (Điều 132 BLDS). d) Khi người xác lập giao dịch đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức được hành vi của mình (Điều 133 BLDS). 2.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Theo điều 137 BLDS thì hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ trời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.” II. GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 1. Hình thức của giao dịch dân sự Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch. Thông qua phương tiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự. Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra. Giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch đó. Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt thì pháp luật mới có yêu cầu về hình thức buộc các chủ thể phải tuân thủ theo (yêu cầu phải lập thành văn bản, phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí, xin phép). Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 124 BLDS). Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức miệng được coi là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất. Hình thức miệng thường được áp dụng đối với các giao dịch được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó (mua bán trao tay) hoặc giữa các chủ thể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau (bạn bè, người thân cho vay, mượn tài sản...). Nhưng cũng có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằng hình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị (di chúc miệng Điều 652 BLDS). Hình thức văn bản: + Văn bản thường: Được áp dụng trong trường hợp các bên tham gia giao dịch dân sự thoả thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện bằng hình thức văn bản. Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ kí xác nhận của các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể đã tham gia vào một giao dịch dân sự rõ ràng hơn so với trường hợp giao dịch được thể hiện bằng lời nói. + Văn bản có công chứng chứng nhận, uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thoả thuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất...). Hình thức giao dịch bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước. Ví dụ: Mua nước ngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động… Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch. Giao dịch có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết. Hình thức này càng ngày càng trở nên phổ biến, nhất là tại những quốc gia có nền công nghiệp tự động hoá phát triển. Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch. Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực. Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc. Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc hai bên phải thể hiện bằng văn bản và còn có trường hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” thì chỉ trong những trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao dịch đó có hiệu lực. 2. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định bắt buộc về hình thức Điều 134 BLDS quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch đó vô hiệu.” Điều 124 BLDS quy định: “Giao dịch dân sự có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.” Có thể thấy, hình thức phổ biến nhất trong giao dịch dân sự là giao dịch bằng lời nói. Trong thực tế loại giao dịch này được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó, thường áp dụng với những tài sản có giá trị không lớn. Hình thức giao dịch bằng văn bản thường áp dụng với những tài sản có giá trị lớn. Nội dung của giao dịch được ghi rõ trong văn bản, có chữ kí của các bên tham gia. Trong trường hợp pháp luật quy định phải có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Nếu xét về căn cứ pháp lí chặt chẽ trong giao dịch dân sự thì hình thức bằng văn bản có giá trị pháp lí rất cao. Hình thức giao dịch bằng hành vi là hình thức giao dịch thuận tiện nhất. Không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên giao kết. Theo nguyên tắc chung thì các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của giao dịch. Chỉ những giao dịch pháp luật quy định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có chứng thực, chứng nhận, đăng kí hoặc xin phép mà các bên không tuân thủ quy định này mới bị vô hiệu. Khi các bên không tuân thủ các quy định này và có yêu cầu của một hoặc các bên thì toà án xem xét và buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn nhất định. Việc ấn định thời hạn do toà án quyết định căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể. Việc buộc các bên phải thực hiện và đưa ra thời hạn thực hiện quy định về hình thức của giao dịch thuộc thẩm quyền và là nghĩa vụ của toà án. Chỉ khi các bên không thực hiện và hoàn tất các quy định về hình thức của giao dịch trong thời hạn do toà án quyết định thì giao dịch mới vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định điều kiện về hình thức của giao dịch nói chung và hợp đồng nói riêng đã khác trước rất nhiều. Ngoài việc sửa đổi có tính chất kỹ thuật như bỏ bớt các chữ, câu, ý thừa thì về nội dung thì đã có những tư tưởng mới được thể hiện trong các điều quy định chung về giao dịch và quy định ở phần hợp đồng. Để hiểu đúng quy định của pháp luật không được xem xét tách rời giữa các điều luật với nhau, giữa các quy định chung với các quy định trong từng chế định cụ thể. Nếu như Bộ luật Dân sự năm 1995 coi vi phạm điều kiện về hình thức là rất nghiêm trọng giống như với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, như khoản 2 Điều 145 BLDS năm 1995 đã quy định: “2 Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 137, Điều 138 và Điều 139 của Bộ luật này, thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế”. Như vậy, bất cứ lúc nào các bên đương sự cũng có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức; còn theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì các giao dịch dân sự vi phạm điều kiện về hình thức không phải đương nhiên vô hiệu. Dù giao dịch dân sự có vi phạm điều kiện về hình thức mà các bên không khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án không xem xét; nếu trường hợp đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm về hình thức thì theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự, thời gian tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về hình thức chỉ có hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp nhận yêu cầu đó. Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự, nên các vụ án về hợp đồng dân sự đương nhiên áp dụng Điều 136 Bộ luật Dân sự. Ví Dụ: Ngày 02022006, hai bên ký kết hợp đồng mua bán nhà đất. Hợp đồng này chỉ vi phạm điều kiện về hình thức nhưng đến ngày 15022008 (quá hai năm) một bên khởi kiện ra Toà án yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu thì Toà án bác yêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán. Tuy nhiên nếu ngày 14092007 (trong thời hạn 2 năm) mà họ có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn 1 tháng. Quá thời hạn đó mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp này bên nào có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Như vậy, Toà án chỉ áp dụng Điều 134 Bộ luật Dân sự buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch khi đương sự khởi kiện còn trong thời hiệu theo quy định của Điều 136 Bộ luật Dân sự. 3. Nhận xét về quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu Trong BLDS năm 1995 khoản 4, điều 131 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự “Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật”. Còn trong khoản 2, điều 122 BLDS năm 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự “ Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật quy định”. Như vậy, ta thấy rằng đã có sự thay đổi về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong hai bộ luật. Nếu như ở năm 1995 quy định về hình thức là bắt buộc đối với mọi giao dịch để có hiệu lực. Nhưng đến năm 2005 thì quy định về hình thức của giao dịch đã được nới lỏng hơn khi mà pháp luật chỉ yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực chỉ với những trường hợp mà pháp luật quy định. Việc thay đổi như vậy là hợp với xu hướng phát triển của đất nước khi mà các giao dịch dân sự ngày càng phổ biến, đa dạng với nhiều loại hình. Vì vậy với quy định đổi mới này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế hàng hóa theo định hướng của Đảng và nhà nước đã đề ra. Những trường hợp bắt buộc về hình thức theo quy định của pháp luật hiện hành thường là với những giao dịch ứng với tài sản lớn hoặc là những tài sản do Nhà nước quản lý, vì vậy nếu xảy ra vi phạm trong lĩnh vực này thì thiệt hại cho các bên đều không nhỏ. Tuy nhiên, trong bộ luật năm 2005 (BLDS) điều 131 “ ….theo yêu cầu của một bên hoặc các bên , Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn ; qua thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch dân sự vô hiệu”. Quy định này đã thể hiện rõ sự thông thoáng của Nhà nước về hình thức trong giao dịch dân sự. Tuy những quy định về hình thức của giao dịch dân sự đã khá rõ ràng và hợp lý nhưng cũng không tránh khỏi thiếu sót như: các quy định về hình thức còn nằm ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau làm cho người dân rất khó tiếp cận và nắm bắt. Điều đó dẫn đến tình trạng thiếu hiểu biết của người dân về kiến thức pháp luật. Nhưng bên cạnh những sai phạm có thể gọi là vô ý thì cũng có những trường hợp biết mà vẫn cố tình vi phạm để trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan nhà nước nhằm trục lợi (như hợp đồng mua bán bán đất không chứng thực trốn sự kiểm soát của Nhà nước nhằm trốn thuế) … nên những tranh chấp đáng tiếc xảy ra ngày càng phổ biến. III. THỰC TRẠNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ. 1. Một số giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Hiện nay, quá trình thực hiện Bộ luật Dân sự, bên cạnh những mặt tích cực, còn có thực trạng là các tranh chấp về giao dịch dân sự vẫn có xu hướng gia tăng, trong đó các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về điều kiện có hiệu lực của giao dịch chiếm tỷ lệ không nhỏ, nhất là điều kiện về mặt hình thức của giao dịch. Việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức và giải quyết hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp nhất mà ngành Tòa án đang gặp phải. Có không ít vụ án đă được xét xử nhiều lần, với nhiều cấp xét xử khác nhau (kể cả cấp xét xử cao nhất là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)) nhưng cũng vẫn còn những thắc mắc, vẫn có những quan điểm khác nhau, gây ra nhiều tranh luận phức tạp. Sau đây là ví dụ cụ thể để thấy được vấn đề bức thiết trong việc xét xử các vụ việc về giao dịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. 1.1. Vụ việc thứ nhất: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Các bên tham gia vụ việc. Nguyên đơn: Ông Mai Văn Cương Địa chỉ: Số 9, đường Nông Lâm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn Bình Địa chỉ: Số 15, đường Nông Lâm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. 2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân Địa chỉ: Số 15, đường Nông Lâm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Tóm tắt nội dung vụ việc. Bà Trần Thị Bích Đào có chồng là ông Mai Văn Cương và ba người con gái. Bà công tác tại trường Nguyễn Ái Quốc khu vực I. Năm 1990 bà Đào được nhà trường cấp cho diện tích đất là 140m2 ở xóm 6, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Sau khi được cấp đất, năm 1991 vợ chồng ông bà Bích Đào và Mai Văn Cương làm nhà mái bằng trên thửa đất này cho đến cuối năm 1991 thì xong. Đến tháng 121992, ông Cương sang Nga làm việc, thời gian làm việc ở nước ngoài ông Cương vẫn thường xuyên liên lạc với vợ con. Trong khi ông Mai Văn Cương làm việc và sinh sống ở nước ngoài, thì bà Nguyễn Thị Bích Đào ở nhà và một mình nuôi ba đứa con trong hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu. Chính vì thế, bà đã quyết định trao đổi diện tích đất gia đình mình đang sử dụng là 140m2 được nhà trường cấp, cùng với toàn bộ nhà và công trình trên đất với diện tích đất 45m2 để đổi lấy toàn bộ nhà và công trình trên đất của gia đình ông Nguyễn Văn Bình, bà Nguyễn Thị Bích Vân và lấy số tiền thanh toán phần đất dôi ra là khoảng 90m2( 140m245m2) để trang trải cuộc sống. Lưu ý, trước khi thực hiện việc trao đổi bà Đào có chứng minh cho vợ chồng ông Bình là quyền sở hữu với diện tích đất 140m2 và toàn bộ nhà và công trình trên đất là của riêng bà không liên quan đến ông Cương chồng bà. Việc trao đổi diện tích đất cũng như những tài sản trên đất của hai gia đình được thực hiện vào ngày 4121994 bằng một hợp đồng viết tay, không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chỉ có chữ kí của các bên gồm : bà Trần Thị Bích Đào, ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Bích Vân. Theo hợp đồng này thì bà Đào sẽ trao đổi diện tích đất 140m2 của mình cho vợ chồng ông Bình để nhận lại 45m2 đất(trên có ngôi nhà mái bằng) của vợ chồng ông Bình và 135.000.000đ tiền thanh toán cho 90m2 diện tích đất dôi ra sau khi trao đổi. Các bên thực hiện đúng như những gì mà hợp đồng đã ghi. Cho đến năm 2001 ông Mai Văn Cương, chồng bà Đào từ Nga trở về. Ông Cương cho rằng việc bà Đào tự ý trao đổi diện tích đất trên mà không hỏi ý kiến ông là không được , bên cạnh đó ông cho rằng hợp đồng mua bán này là không đúng theo quy định của pháp luật vì không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì những lẽ trên ông Cương muốn đòi lại toàn bộ diện tích đất và nhà cửa đã trao đổi. Ngoài ra ông Cương còn đề nghị Tòa án buộc ông Bình, bà Vân bồi thường những thiệt hại cho ông xuất phát từ giao dịch chuyển nhượng, đổi nhà đất trái pháp luật giữa vợ ông và ông Bình, bà Vân. Cụ thể: Hợp đồng vô hiệu từ năm 1994 nhưng ông Bình, bà Vân vẫn chiếm giữ khai thác từ năm 1995 đến năm 2008 là hai của hàng x 1.500.000đtháng x 150 tháng = 450.000.000. Hợp đồng vô hiệu song ông Bình, bà Vân vẫn chiếm giữ trái phép làm ông không thể xây nhà cho sinh viên thuê gây thiệt hại là 14 phòng x 650.000đtháng x 150 tháng = 1.365.000.000. Tổng công là 1.815.000.000đ. Cách giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Xét thấy nguồn gốc tài sản tại Số 15, đường Nông Lâm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc phân cho bà Trần Thị Bích Đào năm 1990 với diện tích đất 140m2. Toàn bộ công trình và nhà xây dựng trên đất do ông Cương và bà Đào xây dựng năm 1991 là hoàn toàn hợp pháp. Diện tích đất của vợ chồng ông Bình là 45m2 được dùng để trao đổi cũng được xác định là hợp pháp. Xét hợp đồng chuyển nhượng, đổi nhà đất ngày 4121994 giữa bà Trần Thị Bích Đào với vợ chồng ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Bích Vân là không đúng pháp luật về cả nội dung và hình thức: Về nội dung: bà Đào tự ý chuyển nhượng tài sản chung của vợ chồng mà không có sự thỏa thuận với ông Mai Văn Cương là không đúng. Về hình thức: hợp đồng là hình thức viết tay chưa có chứng thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền . Áp dụng khoản 2 – Điều 146 – Bộ luật Dân sự; tiểu mục 2.4 mục 2 phần I – Nghị quyết số 012003NQ – HHĐTP ngày 16042003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định giao dịch dân sự giữa bà Trần Thị Bích Đào với vợ chồng ông Nguyễn Văn Bình là vô hiệu. Xét phần lỗi làm cho giao dịch bị vô hiệu: Bà Trần Thị Bích Đào – vợ ông Cương có 70% lỗi vì: Bà Đào đã cam kết ông Cương đi lao động xa đã giao toàn quyền quyết định với diện tích đất trên, cũng như toàn bộ nhà và công trình xây dựng trên đất nếu sau này xảy ra vấn đề tranh chấp gì thì bà xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật nên lỗi của bà nhiều hơn. Đối với vợ chồng ông Bình khi mua bán, chuyển đổi nhà đất biết là không có mặt ông Cương mà vẫn chấp nhận và ký vào hợp đồng nên cũng có một phần lỗi, tuy nhiên ít hơn phía bà Bích Đào ( cụ thể 30%). Và cả hai đều có lỗi trong việc không đem hợp đồng đi chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ những lí lẽ trên Tòa án quyết định : Do giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu nên buộc các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu. Bên cạnh đó, Tòa buộc vợ chồng ông Bình phải trả lại toàn bộ nhà + công trình khác trên tổng diện tích 140m2 tại Số 15, đường Nông Lâm, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội cùng các giấy tờ liên quan đến nhà đất số 15 đã nêu trên cho ông Mai Văn Cương và bà Trần Thị Bích Đào. Hai ông bà Cương, Đào có quyền sở hữu toàn bộ nhà đất đã nêu trên. Buộc vợ chồng ông Cương, bà Đào phải hoàn lại cho vợ chồng ông Bình 46.279.000đ tiền cải tạo, xây dựng nhà trên đất số 15 đường Nông Lâm, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội và trả lại cho vợ chồng ông Bình nhà + công trình trên tổng diện tích đất 45m2 tại số 9 đường Nông Lâm, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội cùng các giấy tờ liên quan đến nhà đất số 9 nêu trên. Theo đó thì ông Bình bà Vân có quyền sở hữu toàn bộ diện tích đất 45m2 đất trên cũng như toàn bộ tài sản trên đất. Buộc bà Trần Thị Bích Đào phải trả lại cho vợ chồng ông Bình số tiền chuyển nhượng nhà đất 135.000.000đ. Còn yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Mai Văn Cương là không có căn cứ nên không được chấp nhận.Ngoài ra Tòa còn tuyên về phần án phí của các bên. Nhận xét về cách giải quyết của Tòa án: Xét thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đào và vợ chồng ông bình là vô hiệu. Bởi lẽ, hợp đồng đã vi phạm những quy định bắt buộc của pháp luật về hình thức. Đây là lỗi của cả hai bên trong giao dịch này do không hiểu rõ các quy định về pháp luật. Hơn nữa, mảnh đất và nhà đó là tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng ông Cương và bà Đào. Chính vì vậy, bà Đào không được tự ý bán khi chưa có sự đồng ý của ông Cương. Về phần vợ chồng ông Bình, em nhận thấy hai ông bà trong trường hợp này đã bị lừa dối. Bởi trong diễn biến của vụ việc có chi tiết: “Trước khi thực hiện việc trao đổi bà Đào có chứng minh cho vợ chồng ông Bình là quyền sở hữu với diện tích đất 140m2 và toàn bộ nhà và công trình trên đất là của riêng bà không liên quan đến ông Cương chồng bà”. Chính vì vậy, có thể kết luận, dù vô ý hay cố ý, bà Đào đã thực hiện hành vi lừa dối hai vợ chồng ông Bình để thực hiện giao dịch dân sự này. Trong trường hợp này, vợ chồng ông Bình có thể yêu cầu bà Đào bồi thường về hành vi lừa dối của mình. 1. 2. Vụ việc thứ hai: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà. Các bên tham gia vụ việc: Nguyên đơn: Ông Thành Bị đơn: Ông Dũng Vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tóm tắt nội dung vụ việc Nội dung vụ việc: Ngày 15081996, vợ chồng ông Dũng lập hợp đồng chuyển nhượng 50 m2 đất cho anh Thành với giá 1 tỷ đồng, nhận trước 500 triệu. Hai bên cam kết đến ngày 30041997 anh Thành giao đủ số vàng còn lại sẽ làm giấy tờ sang tên, chi phí giấy tờ mỗi bên chịu một nửa. Theo anh Thành thì anh đã giao cho ông Dũng nhiều lần, tổng cộng là 960 triệu đồng là đủ, vì số đất thực tế anh nhận là 48 m2. Ngày 26091996 ông Dũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 80 m2 đất. Nhưng ông Dũng không chịu làm thủ tục tách hộ nên anh Thành khởi kiện đến tòa án, yêu cầu ông Dũng hoàn tất thủ tục sang nhượng theo cam kết. Về phía ông Dũng cho rằng, anh Thành mới giao cho ông 500 triệu nên ông không làm thủ tục tách hộ cho anh Thành. Ông cho rằng anh Thành đã vi phạm cam kết nên ông yêu cầu hủy hợp đồng. Tại bản án sơ thẩm số 6DSST ngày 15041998, tòa án nhân dân huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định: hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất giữa Dũng – Thành. Buộc ông Dũng trả cho anh Thành 500 triệu, buộc anh Thành giao lại cho ông Dũng 48 m2 đất. Ngày 19041998, ông Dũng có đơn kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 264DSPT ngày 03091998, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam quyết định: hủy toàn bộ hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dũng và anh Thành, ông Dũng trả lại anh Thành 960 triệu. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Thành có nhiều đơn khiếu nại. Tại quyết định số 55KNDS ngày 22041999, phó chánh án tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên. Tại quyết định giám đốc thẩm số 31GĐTDS ngày 24091999, tòa dân sự tòa án nhân dân tối cao quyết định: hủy bản án phúc thẩm số 264DSPT ngày 03091998 của tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử việc tranh chấp hợp đồng sang nhượng đất giữa anh Nguyễn Ngọc Thành với ông Đỗ Quang Dũng. Giao hồ sơ vụ án về tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Tòa dân sự tòa án nhân dân tối cao nhận định việc ông Dũng sang nhượng 48 m2 đất tại xã An Đổ, huyện Phủ Lý cho anh Thành là hoàn toàn tự nguyện. Trên thực tế, anh Thành đã nhận đất để canh tác. Do việc ông Dũng không tách diện tích đất đã sang nhượng cho anh Thành nên xảy ra tranh chấp. Anh Thành lại nói rằng đã trả đủ 960 triệu đồng nhưng chỉ có lần đầu ghi biên nhận. Về phía ông Dũng cho rằng anh Thành mới giao 500 triệu đồng. Số còn lại anh Thành chưa thanh toán. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào lời khai của anh Thành và các nhân chứng để khẳng định ông Dũng đã nhận đủ 960 triệu là chưa có căn cứ vững chắc. Tòa án cho rằng hai bên không tiến hành làm thủ tục sang nhượng và xác định hợp đồng giữa Dũng – Thành là vô hiệu. Vì vậy cần phải hủy bản án phúc thẩm để điều tra, đồng thời xác minh thêm về khoản tiền anh Thành đã giao cho ông Dũng sau ngày 15081996, nếu anh Thành không chứng minh được đã giao đủ tiền cho ông Dũng thì anh Thành thanh toán tiếp cho ông Dũng tỷ lệ diện tích đất còn lại theo thời giá. Nhận xét về cách giải quyết của Tòa án: Trước hết, ta nhận thấy ngay, giao dịch giữa ông dùng và ông Thành là vô hiệu. Bởi hai ông mới chỉ làm hợp đồng viết tay mà không hề chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính vì thế, Tòa nên căn cứ vào điều này trước tiên để tuyên giao dịch dân sự giữa hai ông là vô hiệu và yêu cầu ông Thành trả lại phần đất đã giao dịch cho ông Dũng. Về số tiền mà ông Thành đã giao thì mới chỉ lập biên nhận một lần. Cụ thể là trong biên nhận ông Dũng đã nhận được 500 triệu . Vì vậy, Tòa nên yêu cầu ông Dũng trả lại 500 triệu cho ông Thành. Còn về số tiền 460 triệu đồng mà ông Thành khai đã giao cho ông Dũng sau đó thì chưa đủ căn cứ. Vì vậy, nếu ông Thành không có đủ bằng chứng chứng minh về số tiền này thì coi như ông Thành mới chỉ giao cho ông Dũng 500 triệu. Xét thấy, trong giao dịch này, hai bên đều có lỗi vì không thực hiện đúng những quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch dân sự. chính vì thế, phần án phí sẽ do cả hai bên trả. 2. Một số kiến nghị Các quy định tại Điều 122, khoản 2 Điều 124, Điều 127 Bộ luật Dân sự là những quy định chung, mang tính nguyên tắc, không nhất thiết hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức là vô hiệu. Theo định nghĩa về giao dịch dân sự được quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, hợp đồng cũng là một loại giao dịch mà theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự “ 1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. 2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định”. Như vậy, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định thì hai bên có thể thoả thuận chọn hình thức thể hiện của hợp đồng. Hợp đồng có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, hoặc hình thức bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó. Nhưng cũng chính tại đoạn hai khoản 2 Điều 401 BLDS cũng đã quy định: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Ở đây, nhà làm luật không nói rõ quy định như nào, khi pháp luật đã quy định một loại giao dịch nào đó phải tuân theo một hình thức nhất định mà vi phạm điều kiện về hình thức đều vô hiệu thì quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự sẽ trở thành vô nghĩa. Quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự là sự cụ thể những quy định chung về điều kiện hình thức của hợp đồng. Các tranh chấp về một hợp đồng cụ thể có liên quan đến hình thức của hợp đồng là phải áp dụng Điều 401 mà đoạn 2 khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự đã ghi rõ là “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, khi một hợp đồng có vi phạm về hình thức thì Toà án tuyên bố tranh chấp hợp đồng có vi phạm về hình thức là vô hiệu và việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu không bị hạn chế về thời gian. Ta thấy, quy định tại đoạn hai khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự dễ gây cảm giác như có mâu thuẫn với các quy định tại khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 134 và Điều 136 Bộ luật Dân sự dẫn đến có cách hiểu khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng các tranh chấp hợp đồng mà vi phạm điều kiện về hình thức là không bị vô hiệu. Nhiều ý kiến khác lại tỏ ra phân vân không hiểu phải xử lý như thế nào cho đúng khi hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức vì các quy định ở phần giao dịch và phần hợp đồng mâu thuẫn nhau. Từ đây, đặt là yêu cầu, các nhà làm luật cần phải thận trọng và kỹ lượng hơn đối với với những Điều khoản thuộc vấn đề liên quan để có được sự hợp lý và chặt chẽ nhất phục vụ cho quá trình áp dụng, thực hiện của Tòa án. Hơn thế nữa, các cơ quan chuyên môn cần phải có những hoạt động tuyên truyền đến từng cá nhân về điều kiện cần thiết khi xác lập một giao dịch dân sự để giảm thiểu tối đa những tranh chấp mẫu thuẫn gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người dân. KẾT LUẬN Hai vụ việc nêu trên chỉ là một trong số rất nhiều các giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Thông qua đây, có thể thấy nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này chính là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật của một bộ phận lớn dân số Việt Nam. Điều này đã dẫn đến những tranh chấp, kiện tụng không đáng có; làm cho trật tự xã hội không được ổn định. Vì vậy, để hạn chế những tranh chấp đáng tiếc xảy ra, mỗi chúng ta cần chủ động hơn trong công tác tìm hiểu pháp luật để có thể dễ dàng tham gia vào các giao dịch và đảm bảo cho những giao dịch ấy không trái các với quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân thông qua tuyên truyền, giáo dục hay ban hành một văn bản riêng quy định những loại giao dịch có quy định về hình thức nhằm giúp mọi người dễ tiếp cận hơn,… Đối với những người “cầm cân nảy mực”, để có thể đưa ra những bản án vừa hợp tình, vừa hợp lý thì đòi hỏi phải nắm vững các quy định của pháp luật, vận dụng chúng một cách khéo léo, chính xác; làm việc thật công tâm, đúng với tinh thần cao quý của một nhà làm luật. Không những vậy, các nhà làm luật cần phải không ngừng nâng cao kiến thức cũng như nắm bắt những điểm mới của luật pháp.
Xem thêm

26 Đọc thêm

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ KINH TẾ

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN SOẠN THẢO VĂN BẢN QUẢN LÝ KINH TẾ

trường hợp nào?17. Thông báo là gì? Phân biệt giữa Thông báo và Thông cáo?1Cách thức soạn thảo phần nội dung của thông báo?18. Đơn từ là gì? Phân loại đơn từ? Cách thức soạn thảo đơn từ?19. Khái niệm đặc điểm của văn bản quản lý tổ chức? Vai trò của văn bản quảnlý tổ chức? Các loại văn bản quản lý tổ chức?20. Quyết định là gì? Có mấy loại quyết định? Yêu cầu đối với quyết định quảnlý? Bố cục của quyết định quản lý?21. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng thương mại?22. Kết cấu chung của văn bản hợp đồng thương mại?23. Hợp đồng mua bán hàng hóa là gì? Cách soạn thảo các loại điều khoản sautrong HĐ mua bán hàng hóa:- Điều khoản đối tượng hợp đồng;- Điều khoản về chất lượng, quy cách hàng hóa;- Điều khoản giao nhận hàng;- Điều khoản về tranh chấp hợp đồng24. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là gì? Cách soạn thảo các loại điều khoảnsau trong hợp đồng mua bán hàng hóa:- Điều khoản về đối tượng hợp đồng;- Điều khoản về an toàn vận;- Điều khoản về bồi thường và phạt vi phạm hợp đồng.25. Hợp đồng dân sự là gì? Kết cấu chung của văn bản hợp đồng dân sự?II. CÂU HỎI THỰC HÀNH1. Soạn thảo Công văn- Công văn chỉ đạo về việc bảo vệ an toàn về người, tài liệu, tài sản trong dịptết nguyên đán của một cơ quan nhà nước/ trường học?- Công văn đôn đốc nhắc nhở việc thực hiện nội quy lao động của một doanh
Xem thêm

3 Đọc thêm

HĐ CÁP ĐIỆN TRƯỜNG PHÚ E4 HCCI SC 2017

HĐ CÁP ĐIỆN TRƯỜNG PHÚ E4 HCCI SC 2017

3.1.23.1.33.1.43.1.53.1.63.1.7Dự báo trước 05 ngày kế hoạch lấy hàng.Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình theo các điều khoản của Hợp đồng.Tổ chức giám sát, nghiệm thu vật liệu đầu vào do Bên B cung cấp theo Hợpđồng.Dừng nhập, mua hàng khi Bên B vi phạm các qui định về chất lượng, chủngloại sản phẩm trong quá trình thực hiện Hợp đồng.Chỉ định vị trí kho bãi để Bên B tập kết vật liệu.Giám sát việc thực hiện hợp đồng của Bên B.Bên A có trách nhiệm thanh toán cho Bên B theo như Điều 6 và sẽ chịu phạttheo hình thức sau :Phạt 02% giá trị hợp đồng kinh tế trong thời gian chậm 10 ngày đầu tiên kểtừ hạn cuối thanh toán.Phạt thêm 01% cho mỗi đợt 05 ngày tiếp theo . Khi quá thời gian chậm tươngứng với mức phạt 12% giá trị hợp đồng Bên B có quyền đơn phương chấmdứt hợp đồng.3.2. Trách nhiệm Bên B:3.2.1Cung cấp đầy đủ hàng hoá theo đúng tiến độ từng đơn hàng của Bên A, nếuBên B giao hàng không đúng chủng loại theo yêu cầu của Bên A thì Bên A cóquyền từ chối nhận hàng và Bên B phải chịu vận chuyển lô hàng đó.
Xem thêm

7 Đọc thêm

PHIẾU HỎI THI VẤN ĐÁP MÔN LUẬT CẠNH TRANH

PHIẾU HỎI THI VẤN ĐÁP MÔN LUẬT CẠNH TRANH

Phiếu số 1 1. Tại sao một nền kinh tế lại cần có chính sách cạnh tranh? 2. Thủ tục giải quyết khiếu nại đối với các quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh không lành mạnh? 3. Yamaha liên doanh với cờ đỏ Sóc Sơn láp ráp xe gắn máy. Trong hợp đồng liên doanh hai bên thoả thuận, khi liên doanh có nhu cầu vay vốn thì bên Nhật sẽ lo liệu, khi liên doanh có nhu cầu xuất khẩu xe máy thì bên Nhật sẽ bao tiêu, khi liên doanh thay đổi công nghệ thì chỉ được mua công nghệ từ các nguồn do bên Nhật chỉ định, bên Việt Nam không được liên doanh với các đối thủ cạnh tranh với bên Nhật và với chính liên doanh. Sau một thời gian Cờ đở muốn liên doanh với Jarling Trung Quốc để láp ráp xe máy Trung Quốc. Hỏi: Cờ Đỏ có vi phạm hợp đồng không?
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHÂN TÍCH QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRONG QUAN HỆ ĐỊA LÝ THƯƠNG MẠI

PHÂN TÍCH QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRONG QUAN HỆ ĐỊA LÝ THƯƠNG MẠI

Phân tích quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Thương mại 2 Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các thương nhân với nhau thông qua mua bán là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường, tùy thuộc vào đối tượng giao dịch, thị trường cũng như tính chất, thời cơ của thương vụ mà thương nhân lựa chọn các phương thức giao dịch sao cho phù hợp. Một trong những hình thức giao dịch được các thương nhân sử dụng phổ biến nhất hiện nay là hình thức đại lí thương mại. Trong bài tập học kì, em xin trình bày vấn đề: “Phân tích quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại.” B. THÂN BÀI I. Khái niệm: 1. Đại lý thương mại: Điều 166 LTM2005 quy định: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.” 2. Hợp đồng đại lý: Điều 168 LTM 2005 quy định: “Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” II. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại: Khi hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa được giao kết thì sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên với nhau và các bên phải thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, trên thực tế thường gặp một hoặc các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng (vi phạm hợp đồng). Các hành vi vi phạm hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa thường gặp trong thực tế là: vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, tiền thù lao cho bên đại lý; vi phạm các chính sách đại lý do bên giao đại lý công bố; vi phạm tiến độ giao hành hóa đại lý…Các hành vi này có thể dẫn đến những thiệt hại cho bên bị vi phạm. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm pháp luật quy định nhiều hình thức trách nhiệm hợp đồng (chế tài thương mại) áp dụng cho bên có hành vi vi phạm như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng…Bên cạnh đó trong quan hệ đại lý cũng có trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của một trong hai bên làm chấm dứt hợp đồng đại lý. Hợp đồng đại lý thương mại cũng như hợp đồng nói chung có thể chấm dứt trong một số trường hợp mà pháp luật quy định trong đó có trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo Bộ Luật Dân sự 2005 thì hợp đồng đại lý thương mại là một loại hợp đồng dịch vụ. Do đó việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lí thương mại sẽ được điều chỉnh bới Điều 177 LTM 2005 và Điều 525 BLDS 2005. Điều 525 BLDS 2005 quy định: “1. Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên thuê dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại. 2. Trong trường hợp bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện không đúng theo thoả thuận thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Điều 177 LTM 2005 quy định: “1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý. 2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó. Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý. 3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.” Căn cứ Điều 177 LTM 2005 thì bên giao đại lý và bên đại lý đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý. LTM 2005 không quy định một cách tổng quát về các trường hợp chấm dứt hợp đồng đại lý. Song căn cứ vào quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng dân sự tại BLDS 2005 thì hợp đồng đại lý thương mại chấm dứt trong các trường hợp do các bên thỏa thuận và trong những trường hợp sau: hợp đồng đã được thực hiện xong, hết thời hạn hiệu lực, một trong các bên tham gia hợp đồng đã chết, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tư cách thương nhân, hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện. Khoản 1 Điều 525 BLDS 2005 có quy định cụ thể về một trong những lí do mà bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý: “1.Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên thuê dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.” Theo đó, bên giao đại lý trong trường hợp nhận thấy việc tiếp tục hợp đồng là không có lợi cho mình thì cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên đại lý biết trước ít nhất 60 ngày theo khoản 1 Điều 177 LTM 2005. Quy định về về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do trong quan hệ đại lý là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên điều đó cần tuân thủ một số điều kiện nhất định của pháp luật. Mà ở đây là điều khoản về thời hạn báo trước, ít nhất 60 ngày kể từ ngày một bên gửi thông báo bằng văn bản cho bên kia, để bên kia có thời gian chuẩn bị, điều chỉnh lại hoạt động đại lý của mình trước khi chấm dứt hoàn toàn hợp đồng đại lý. Quy định như khoản 1 Điều 177 LTM 2005 là hoàn toàn phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm khi một bên vi phạm đơn phương chấm dứt hợp đồng trước khi hết thời hạn đại lý. Chính vì hợp đồng đại lý là một loại hợp đồng dịch vụ dân sự nên nó mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự đó là sự thỏa thuận. Nên theo khoản 2 Điều 177 LTM 2005 nếu hai bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại khi việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý xảy ra thì sẽ không có việc bồi thường. Nếu có hai bên có thỏa thuận về việc bồi thường thì hai bên tuân thủ khoản 2 Điều 177 LTM 2005: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó.” Việc bồi thường khi bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý được quy định cụ thể: “Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý. 3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý” Điều này khá rõ ràng, tuy nhiên, việc bồi thường là một phần rất quan trọng, do đó em có một số kiến nghị liên quan ở phần thực tiễn và kiến nghị. III. Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trong quan hệ đại lý thương mại: 1. Thực tiễn: Luật thương mại 2005 có quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý trong trường hợp hai bên không thỏa thuận về thời hạn trong hợp đồng. Tuy nhiên, luật lại không quy định việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý trong trường hợp hai bên không thỏa thuận về thời hạn trong hợp đồng. Hay trường hợp bên sản xuất hàng hóa ký hợp đồng với bên làm đại lý thương mại thường yêu cầu không được bán mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Trong trường hợp này, nếu đại lý thương mại vi phạm thì việc đưa ra giải quyết về pháp lý thường rất khó thực hiện vì rất tốn kém, cơ quan quản lý nhà nước thì không can thiệp được vì đó là tranh chấp thương mại thông thường. 2. Kiến nghị: Thứ hai, việc xác định thời gian thông báo và giá trị bồi thường trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng rất phức tạp. Tuy nhiên, cách quy định giá trị khoản bồi thường của LTM2005 mang tính chủ quan, không phù hợp nguyện tắc tính bồi thường thiệt hại. Điều 177 chỉ quy định bồi thường về thù lao. Tuy nhiên, trong thực tế, bên đại lý phải tốn rất nhiều chi phí khác. Vì quan hệ giữa hai bên đại lý và bên giao đại lý là quan hệ lâu dài, bên đại lý thường phải đầu tư rất nhiều cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để chứa đựng hàng hóa của bên giao đại lý. Do đó, nên bổ sung về chi phí quản lí như: vận chuyển, bảo quản hàng hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng… Ngoài ra có thể tính phí cơ hội như bên đại lý bỏ qua cơ hội làm đại lý cho bên khác để làm đại lý cho bên giao đại lý hoặc chi phí phát sinh khi việc bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại làm cho việc sản xuất kinh doanh của bên đại lý không ổn định được. Vì thông thường, bên đại lí thường chịu nhiều thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại hơn là bên giao đại lý. Việc bồi thường theo khoản 2 Điều 177 LTM 2005 là quy định cứng của pháp luật, tuy nhiên, theo em nghĩ, hợp đồng đại lý là một loại hợp đồng dịch vụ dân sự nên nó mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự đó là sự thỏa thuận, do đó việc bồi thường có thể được hai bên thỏa thuận để phù hợp điều kiện và hoàn cảnh thực tại. Thứ ba, quy định của pháp luật cần bảo vệ quyền lợi của bên đại lý trong trường hợp bên giao đại lý không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ buộc bên đại lý phải chấm dứt hợp đồng. Cụ thể, trong trường hợp này cần xử lí theo khoản 2 Điều 525 BLDS 2005: “2. Trong trường hợp bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện không đúng theo thoả thuận thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Thứ tư, LTM 2005 chỉ quy định một số trường hợp về việc chấm dứt hợp đồng đại lý. Nên khi áp dụng cần phải quay trở lại luật gốc, cụ thể là Bộ Luật Dân sự 2005. Theo em, đại lý thương mại có những đặc trưng riêng nên việc quy định cụ thể về các trường hợp chấm dứt hợp đồng là cần thiết, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà hình thức đại lý đang ngày càng được mở rộng phạm vi cũng như lĩnh vực hoạt động. C. KẾT BÀI Đại lí thương mại là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Đây là kênh phân phối tương đối lớn để đưa hàng hoá, dịch vụ của người sản xuất, người cung ứng đến với người tiêu dùng, người sử dụng. Vì vậy, Luật thương mại cần có các quy định chặt chẽ và cụ thể hơn để các chủ thể tham gia có cơ chế pháp lý hoạt động tránh những tranh chấp không đáng có, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ. Ngoài ra, muốn bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của mình để tránh những tranh chấp phát sinh trong quan hệ đại lý, bên giao đại lý và bên đại lý cần có những thỏa thuận cụ thể và chi tiết về tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng đại lý. Các thỏa thuận càng cụ thể bao nhiêu càng dễ dàng khi tiến hành hoạt động đại lý và quan hệ đại lý về sau.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Tìm hiểu quy định về hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015

Tìm hiểu quy định về hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 1. Tính cấp thiết của đề tài 4 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 3. Mục đích nghiên cứu 4 4. Bố cục của bài tiểu luận 5 CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH Ý NGHĨA CỦA HỢP ĐỒNG ĐỐI VỚI KINH TẾ. 6 1.1. Khái niệm 6 1.2. Đối tượng của hợp đồng vận chuyển 7 1.3. Hệ quả của đối tượng vận chuyển 7 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 8 CHƯƠNG 2. CÁC QUI ĐỊNH VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH VÀ THỜI GIAN VỚI CÁC YÊU CẦU CẦN THIẾT 9 2.1. Hình thức hợp vận chuyển hành khách 9 2.2. Các loại qui chế 11 2.3. Nghĩa vụ vận chuyển theo qui định 13 2.4. Giao kết hợp đồng 15 2.5. Qui định về xử phạt đối với vi phạm hợp đồng 17 TIỂU LUẬN CHƯƠNG 2 23 KẾT LUẬN 24 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, nhu cầu di chuyển và đi lại của người dân ngày càng tăng lên. Do đó, hệ thống giao thông cũng được đầu tư nâng cấp mà hàng loạt phương tiện vận tải như ôtô, xe máy, tàu hỏa, tàu biển, máy bay… ra đời. Nhằm thống nhất quản lý vận tải, bảo đảm lợi ích cho hành khách, bảo đảm sự bình đẳng về trách nhiệm; quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hành khách, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn nản khác nhau về hợp đồng vận chuyển hành khách. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hiện nay và việc giao lưu kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển thì nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách không ngừng gia tăng.Đối với nước ta hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, cùng với sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại quốc tế, việc phát triển các hoạt động vận tải có một ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triển nhanh mạnh hòa nhịp cùng xu thế phát triển của thời đại. Hơn nữa, mức độ cạnh tranh trong và ngoài ngành ngày càng trở nên gay gắt sẽ khiến cho thị trường của một số công ty bị thu hẹp. Do vậy một vấn đề phức tạp và khó khăn đặt ra cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải là làm sao để mở rộng thị trường và có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt này. Em quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu quy định về hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015” làm đề tài viết tiểu luận, với mong muốn giúp các bạn có kiến thức và kiến thức về các qui định hợp đồng vận chuyển hành khách. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các nội dung của hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015. Phạm vi nghiên cứu được sử dụng BLDS năm 2005 và năm 2015. 3. Mục đích nghiên cứu Mục tiêu 1: Nghiên cứu lý luận chung về nội dung hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015, lịch sử hình thành chế định hợp đồng. Mục tiêu 2: So sánh quy định giữa Bộ luật dân sự 2005 với Bộ luật dân sự 2015 về nội dung hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015. Mục tiêu 3: Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về quy định hợp đồng vận chuyển hành khách theo quy của BLDS 2015 4. Bố cục của bài tiểu luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận của em được chia làm 2 chương: + Chương 1. Khái niệm vận chuyển hành khách, ý nghĩa của hợp đồng đối với kinh tế. + Chương 2. Các qui định vận chuyển hành khách và thời gian với các yêu cầu cần thiết. CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH Ý NGHĨA CỦA HỢP ĐỒNG ĐỐI VỚI KINH TẾ. 1.1. Khái niệm Hợp đồng vận chuyển là một hợp đồng cung cấp dịch vụ di chuyển người hoặc vật từ một nơi này tới một nơi khác bằng những phương tiện nhất định Khái niệm của bộ luật dân sự Việt Nam: “Hợp đồng vận chuyển hành khách là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thỏa thuận, còn hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển” (Điều 527). Một số đặc điểm pháp lý về hợp đồng vận chuyển hành khách. Hợp đồng vận chuyển hành khách có thể được xác lập bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Thông thường, vé là bằng chứng của việc giao kết giữa các bên trong hợp đồng. Đối tượng của hợp đồng chính là hành vi của bên vận chuyển bằng phương tiện của mình chuyên chở hành khách theo thoả thuận. – Bên vận chuyển phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tính mạng của hành khách khi vận chuyển, còn hành khách phải có vé hợp lệ và tuân thủ các điều kiện vận chuyển trên các phương tiện khác nhau do bên vận chuyển quy định. – Trong trường hợp tính mạng, sức khoẻ của hành khách bị thiệt hại, bên vận chuyển phải bồi thường theo quy định của BLDS. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hành khách thì bên vận chuyển không phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu hành khách vi phạm điều kiện vận chuyển đã thoả thuận mà gây thiệt hại cho bên vận chuyển hoặc người thứ ba thì hành khách phải bồi thường những thiệt hại đó. – Các bên trong hợp đồng đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong các trường hợp theo quy định tại Điều 529 Bộ luật dân sự. Thông thường hợp đồng vận chuyển hành khách sẽ được chia thành nhiều loại khác nhau tình theo từng loại hình giao thông khác nhau như: – Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường biển
Xem thêm

Đọc thêm

Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán trong hoạt động thương mại -Thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH đầu tư và thương mại Hùng Đăng.

PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI -THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI HÙNG ĐĂNG.

LỜI MỞ ĐẦU 1 . Tính cấp thiết của đề tài Hợp đồng là Hoạt động mua bán hàng hóa chuyển quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận giữa các chủ thể thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Hợp đồng được phát sinh trên nhiều lĩnh vực, nhưng phổ biến nhất và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp và khách hàng cũng như đối tác được thực hiện các quy định đã được thỏa thuận trước và thể hiện trên hợp đồng , để các bên thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên khi các mối quan hệ hợp đồng trở nên đa dạng và phức tạp thì việc vi phạm hợp đồng cũng diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến hơn, với những hình thức tinh vi và gây thiệt hại lớn cho bên đối tác. Hợp đồng là cơ sở để doanh nghiệp xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Trong một chừng mực nào đó, hợp đồng thương mại cho phép các doanh nghiệp tạo ra một luật lệ riêng – thông qua những điều khoản của thỏa thuận mà các bên đã giao kết – điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với chủ trương của Đảng và nhà nước luôn có mục tiêu nền kinh tế Việt Nam sẽ là “một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.Đây là một mục tiêu lâu dài và phải có sự đồng lòng ,quyết tâm rất cao của toàn xã hội , đó là mục tiêu của nhà nước. Để biến mục tiêu này thành hiện thực thì hiện nay nhà nước đã có rất nhiểu chủ trương chính sách để thúc đẩy cũng như khắc phục sai lầm còn tồn tại cản trở sự đi lên của nền kinh tế. Với vai trò quan trọng của hợp đồng như đã kể trên, một hệ thống pháp luật về hợp đồng cần hoàn thiện và phát triển để làm cơ sở cho sự giao lưu kinh tế trong môi trường kinh tế an toàn và lành mạnh. Trong đó phải kể hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại giữa các doanh nghiệp. Những đối tượng này có tầm ảnh hưởng và vai trò rất lớn tới sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Có thể thấy luật dân sự 2005 và luật thương mại 2005 và các bộ luật khác đã có nhiều quy định về hợp đồng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập tồn tại, các quy định còn chồng chéo, nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn. Luật dân sự vừa được thông qua và có hiệu lực ngày 01 tháng 1 năm 2017 đã đưa ra nhiều sửa đổi mang tính đột phá đối với vai trò là một đạo luật gốc về luật hợp đồng. Nắm bắt thực trạng này em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.Thực tiễn tại công ty TNHH Đầu Tư và Thương Mại Hùng Đăng” để làm đề tài khóa luận. 2 . Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hợp đồng nói chung và HĐMB nói riêng, tuy nhiên các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ kinh tế và nghiên cứu chung về Hợp đồng dân sự . Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề hợp đồng , tuy nhiên công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất, cụ thể nhất là những giáo trình của các trường đại học như Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam (2001), Giáo trình Luật Thương Mại (2002), của Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình Luật kinh tế của đại học Luật Hà Nội. Tóm lại, các đề tài nghiên cứu hiện nay còn nhiều vấn đề chưa được đề cập tới, chưa có sự cập nhật của văn bản pháp luật mới, một số đề tài không còn cập nhật với tình hình thực tế hiện nay.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại

CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Thương mại 2 Bài tập học kỳ Luật Thương mại 2. Trong hoạt động thương mại, cùng với việc pháp luật quy định các chế tài thì bên cạnh đó các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng cũng đóng một vai trò quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng của thương nhân. Hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể trong lĩnh vực thương mại được quy định cụ thể tại Điều 294 Luật thương mại 2005. Để có cái nhìn thấu đáo hơn về vấn đề này cũng như đi phân tích cụ thể từng trường hợp một để thấy ưu, nhược điểm của từng trường hợp em xin chọn đề bài số 07 cho bài tập lớn của mình: “Phân tích và bình luận các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại”. II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM. 1. Trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận. Pháp luật thương mại đã giành quyền chủ động rất cao cho các bên tham gia hợp đồng trong hoạt động thương mại cũng như hết sức coi trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng. Theo nguyên tắc chung, các điều khoản của hợp đồng do các bên tự do thỏa thuận và không được trái với pháp luật. Do vậy, các bên có quyền tự do thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm khi giao kết hợp đồng thương mại. Xuất phát từ lý do đó, Luật thương mại 2005 quy định: “các bên sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại nếu có sự thỏa thuận của các bên về trường hợp đó được miễn trách nhiệm” tại Điểm a Khoản 1 Điều 294. Ta có thể dễ dàng nhận thấy quy định của nước ta mới chỉ dừng lại ở mức chung chung, không đưa ra điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm hợp đồng giữa các bên. Quy định này của nước ta mới chỉ đơn giản là công nhận trường hợp miễn trừ trách nhiệm hợp đồng đã được các bên thỏa thuận trước mà không để ý tới trường hợp một trong các bên lợi dụng sự tồn tại của điều khoản miễn trừ trách nhiệm để vi phạm hợp đồng, để họ không phải chịu chế tài nào, từ đó dẫn tới hậu quả là sự bất bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng thương mại. 2. Trường hợp sảy ra sự kiện bất khả kháng. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Điều này có nghĩa là hợp đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn tới việc vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, quy định trên lại chỉ nghi nhận sự kiện bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm mà không quy định cụ thể thế nào là sự kiện bất khả kháng và điều kiện áp dụng. Xét theo mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng, trong đó luật thương mại là luật riêng trong lĩnh vực thương mại, còn Bộ luật dân sự là luật chung, có thể dẫn chiếu quy định của Bộ luật dân sự về sự kiện bất khả kháng để áp dụng trong lĩnh vực thương mại. Tại khoản 1 điều 161 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “... Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Với việc quy định theo phương pháp trừu tượng hoá như vậy của Bộ luật dân sự thì việc hiểu rõ nội hàm của khái niệm sự kiện bất khả kháng và việc áp dụng nó là rất khó. Nếu trong trường hợp các nước thừa nhận án lệ là một nguồn luật thì các bản án của toà án có liên quan đến vấn đề này sẽ là nguồn luật giải thích một cách cụ thể sự kiện bất khả kháng trong thực tế. Thế nhưng, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận một nguồn luật duy nhất là văn bản pháp luật, không thừa nhận án lệ thì cách giải thích hoặc hiểu theo khía cạnh thực tiễn chỉ có giá trị tham khảo. Theo thông lệ chung, sự kiện bất khả kháng (force majeure) thường được hiểu có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần… hoặc các hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ… Tất nhiên việc chứng minh có tồn tại sự kiện bất khả kháng thuộc về nghĩa vụ của bên vi phạm hợp đồng, nhưng việc bên đó được hay không được miễn trừ lại phụ thuộc vào bên bị vi phạm hoặc cơ quan chức năng có chấp nhận nó là sự kiện bất khả kháng hay không. Với một khái niệm còn quá khái quát như vậy thì đương nhiên việc tìm được tiếng nói chung giữa các bên là không hề dễ dàng. Từ quy định này cho thấy ta có thể hiểu một sự kiện được coi là bất khả kháng với tính chất căn cứ miễn trách nhiệm hợp đồng cần thỏa mãn các dấu diệu sau: (i) Xảy ra khi các bên đã giao kết hợp đồng; (ii) Có tính chất bất thường mà các bên không thể lường trước được và không thể khắc phục được; (iii) Là nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm hợp đồng. Thứ nhất, là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng. Tức là sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng như các hiện tượng tự nhiên, hoặc trường hợp như hỏa hoạn phát sinh từ bên ngoài lan sang và thiêu trụi nhà máy… Thứ hai, là sự kiện không thể dự đoán trước được, năng lực xem xét đánh giá một sự kiện có sảy ra hay không được xét từ một thương nhân bình thường chứ không phải một chuyên gia chuyên sâu. Thứ ba, là nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm hợp đồng, là sự kiện sảy ra mà hậu quả để lại không khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiêt và khả năng cho phép, là sự kiện sảy ra mà chúng ta không thể tránh được về mặt hậu quả. Tức là sau khi bên vi phạm đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn không khắc phục được hậu quả thì mới đáp ứng điều kiện này. Tuy nhiên, nếu như bên vi phạm không thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả nhưng chứng minh được rằng dù có hành động vẫn không khắc phục được hậu quả thì xem như đã thỏa mãn điều kiện này. Tuy nhiên, Điều 294 chỉ quy định chung chung sự kiện bất khả kháng là điều kiện để bên vi phạm được miễn trách nhiệm nhưng chưa nêu bật được mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện bất khả kháng và hành vi vi phạm hợp đồng. Về bản chất, để có thể được miễn trách nhiệm, sự kiện bất khả kháng phải xảy ra sau khi các bên ký hợp đồng và sự kiện bất khả kháng phải là nguyên nhân dẫn đến kết quả là bên vi phạm không thể thực hiện được theo đúng cam kết. Ở đây, rõ ràng điều 294 chưa thể hiện được mối quan hệ đó. Trong khi sự kiện bất khả kháng chưa được hiểu một cách thống nhất thì pháp luật Việt Nam còn ghi nhận về “Trở ngại khách quan”. Vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia, còn có một khái niệm nữa đó là “Hoàn cảnh khó khăn” (Hardship), là một khái niệm được thừa nhận trong thực tiễn thương mại quốc tế. Vậy có hay không sự trùng lặp giữa ba khái niệm này? Về Trở ngại khách quan, đây là một khái niệm độc lập hoàn toàn so với sự kiện bất khả kháng. Tại khoản 1 điều 161 Bộ luật dân sự 2005, sau khi giải thích sự kiện bất khả kháng là gì, thì “Trở ngại khách quan” được ghi nhận “là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình”. Nhưng, cũng giống như sự kiện bất khả kháng, khái niệm trên cũng tạo ra sự khó hiểu cho thương nhân và dễ dẫn đến nhầm lẫn với sự kiện bất khả kháng. Tại điểm b khoản 3 điều 2 Nghị định số 582009NĐCP đã giải thích rõ hơn khi quy định: “Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức, phải điều trị nội trú hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật. Có thể nói, Trở ngại khách quan cùng với sự kiện bất khả kháng là quy định khá tiến bộ của pháp luật Việt Nam khi tính đến cả những sự kiện nằm ngoài khái niệm sự kiện bất khả kháng làm cản trở chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ. Nhưng thật đáng tiếc, trở ngại khách quan chỉ được dùng để xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự hoặc thi hành án dân sự mà không được áp dụng cùng với sự kiện bất khả kháng để dẫn đến miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. Do đó mà ngoài điều 294 Luật thương mại nêu trên chỉ nhắc đến sự kiện bất khả kháng, điều 302 Bộ luật dân sự 2005 cũng chỉ quy định: “... Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Mặc dù thực tế, những trở ngại khách quan nêu trên hoàn toàn có thể xảy ra đối với thương nhân, theo đó thương nhân không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng, ví dụ: Chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà chưa xác định được người thừa kế..., nhưng một lần nữa phải nhấn mạnh rằng, trở ngại khách quan và sự kiện bất khả kháng là hai khái niệm khác nhau, và trở ngại khách quan không được tính đến cùng với sự kiện bất khả kháng để loại trừ trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng trong thương mại. Khi sảy ra sự việc bất khả kháng, các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một khoảng thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng công với thời gian để khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 296 Luật thương mại 2005. 3. Trường hợp hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia. Trường hợp miễn trách nhiệm này được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005. Theo đó, nếu một bên vi phạm hợp đồng nhưng việc vi phạm mà là do lỗi của bên vi phạm thì bên vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm đối với vi phạm đó. Như vậy, căn cứ để miễn trách nhiệm trong trường hợp này là phải do lỗi của bên vi phạm. Lỗi này có thể hành động hoặc không hành động. Tuy nhiên, Điều 294 mới dự liệu miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng khi “Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” mà chưa tính đến khả năng hành vi vi phạm của một bên có nguyên nhân xuất phát từ bên thứ ba, mà bên này rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định được miễn trách nhiệm. Đành rằng, các bên có thể thoả thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng của họ. Nhưng trong trường hợp không được thoả thuận, đương nhiên bên vi phạm sẽ không được miễn trách nhiệm nếu do lỗi của bên thứ ba, mặc dù bên này rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm. Về vấn đề này, có vẻ như Luật thương mại 2005 cứng nhắc hơn so với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, một văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng kinh tế trong không gian và thời gian của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tại Điều 40 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Bên vi phạm hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm tài sản trong các trường hợp sau đây: 1) Gặp thiên tai, địch hoạ và các trở lực khách quan khác không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện pháp cần thiết để khắc phục ; 2) Phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; 3) Do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản trong các trường hợp quy định tại điểm 1 và điểm 2 của điều này... Tất cả các luật quy định về hợp đồng sau này như Bộ luật dân sự 1995, Luật thương mại 1997, Bộ luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005 đã không kế thừa sự tiến bộ này mà lại loại bỏ nó ra khỏi các trường hợp miễn trách nhiệm được quy định trong luật. Tương tự với trường hợp trên, pháp luật thương mại hiện hành nói chung và điều 294 Luật thương mại nói riêng cũng chưa dự liệu trường hợp miễn trách nhiệm do một bên uỷ quyền cho bên thứ ba thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng mà bên thứ ba này vi phạm nghĩa vụ trong một số trường hợp cụ thể. Nếu trong trường hợp CISG 1980 trở thành nguồn luật để điều chỉnh đối với hợp đồng trong một số trường hợp được áp dụng thì vấn đề này sẽ được giải quyết tại Ðiều 79. Theo điều này của CISG, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó, thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của công ước và người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của công ước được áp dụng cho họ. Hiện tại Việt Nam vẫn chưa là thành viên của CISG 1980, mặc dù nó vẫn có thể được áp dụng tại Việt Nam trong một số trường hợp nhất định, nhưng về cơ bản CISG vẫn chưa là nguồn của pháp luật thương mại Việt Nam. 4. Trường hợp vi phạm hợp đồng do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Điểm d Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005 quy định: trường hợp hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng là một căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Có thể thấy việc miễn trách nhiệm chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Nếu như các bên đã biết về việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng mà vẫn đồng ý giao kết hợp đồng thì không được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, Luật thương mại cùng các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn chưa quy định rõ ràng một số vấn đề sau: “Các bên” ở trong trường hợp này có nghĩa là cả bên vi phạm và bên bị vi phạm, thế nhưng việc không thể biết quyết định cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến vi phạm hợp đồng chỉ có ý nghĩa đối với bên vi phạm hợp đồng, từ đó khẳng định bên vi phạm hợp đồng không có “lỗi”. Việc bên bị vi phạm có biết hay không thì về bản chất không ảnh hưởng gì đến thái độ của bên vi phạm hợp đồng. Giả sử bên bị vi phạm hợp đồng khi ký hợp đồng biết trước có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chắc chắn dẫn đến việc vi phạm hợp đồng và cứ ký hợp đồng trong khi bên vi phạm hợp đồng không hề biết. Vậy khi có hành vi vi phạm hợp đồng do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước, bên vi phạm hợp đồng có được miễn trách nhiệm hay không khi bên bị vi phạm chứng minh được mình biết trước quyết định đó? Thêm vào nữa, hiểu thế nào là “không thể biết” để từ đó được miễn trách nhiệm đối với trường hợp này cũng còn quá chung chung. Việc biết sự tồn tại của quyết định của cơ quan nhà nước có buộc phải theo một “kênh chính thống” hay có thể biết bằng nhiều cách khác nhau? Cơ quan quản lý nhà nước có phải thông báo bằng văn bản hay chỉ cần thông báo bằng miệng về quyết định đó thì thương nhân mới “biết”, hay nếu bên bị vi phạm chỉ cần chứng minh các bên biết sự tồn tại của quyết định đó, bất kể “biết” theo kiểu gì, “biết” bằng cách nào cũng đều là chứng cứ để bên vi phạm phải gánh chịu trách nhiệm?. Cho đến hiện nay, vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào được ban hành để hướng dẫn thi hành quy định này. I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI. 1. Hợp đồng thương mại. Trong hoạt động thương mại cùng với việc pháp luật quy định các chế tài, các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng của thương nhân. “Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự do, tự nguyện và bình đẳng”. Tuy nhiên, một thỏa thuận được xác lập nhằm thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ được coi là hợp pháp khi chúng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về: thẩm quyền giao kết, mục đích, đối tượng giao kết; hình thức của sự thỏa thuận… Lật thương mại ở nước ta không đưa ra một định nghĩa cụ thể về hợp đồng thương mại mà chỉ quy định khái niệm chung về hợp đồng dân sự tại Điều 388, BLDS 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Mà Điều 1 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự quy đinh : “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể vầ nhân thân và tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…” ta có thể hiểu các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng ccho hợp đồng nói chung, trong đó bao gồm cả hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Nói cách khác Bộ luật dân sự 2005 chính là luật gốc, điều chỉnh những vấn đề chung nhất, khái quát nhất, còn Luật thương mại cùng với một số luật khác là luật chuyên ngành, quy định những cái cụ thể. Như vậy, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên nó cũng có những đặc điểm riêng nhất định. Hiện nay, khái niệm hợp đồng thương mại là hoạt động thương mại được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005: “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát hợp đồng thương mại như sau: “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại”. 2. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại. Trong đó chế tài là một bộ phậm của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Các biện pháp tác động sẽ được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nào vi phạm pháp luật. Hay nói cách khác chế tài là những hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật. Khoản 12 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”. Vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng thương mại, theo đó bên có hành vi phạm phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra. 3. Miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Theo từ điển tiếng Việt thì “miễn” được hiểu là “bỏ”, “từ bỏ” , như vậy có thể hiểu miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại là việc bên vì phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại không bị áp dụng các hình thức chế tài. Về bản chất, các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng là những trường hợp loại trừ yếu tố lỗi của bên vi phạm. Cơ sở để miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng chính là ở chỗ họ không có lỗi khi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng. Nếu bên vi phạm hợp đồng có khả năng lựa chọn xử sự nào khác ngoài xử sự gây thiệt hại mà không lựa chọn thì bị coi là có lỗi và ngược lại, nếu không có khả năng lựa chọn xử sự nào khác thì được coi là không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình. Theo đó, các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong hợp đồng thương mại được quy định trong Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005. “a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.” Mặt khác, để được áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm thì bên có hành vi vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ phải chứng minh mình không có lỗi. Nếu không chứng minh được, bên vi phạm coi như là có lỗi và phải chịu các chế tài do pháp luật quy định (Khoản 2 Điều 294 Luật thương mại 2005). Ngoài ra, khi sảy ra tình trạng miễn trách nhiệm hợp đồng, bên vi phạm hợp đồng còn phải thông báo ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và hậu quả có thể sảy ra. Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại. III. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM. 1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tránh tình trạng mâu thuẫn giữa luật gốc và luật chuyên ngành. Với vai trò là BLDS thống nhất, BLDS 2005 đã đặt những nền tảng cơ bản nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo các quy tắc chung, mà quan hệ hợp đồng là một trong số đó. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những quy định mâu thuẫn nhau của Luật Thương mại 2005 và BLDS 2005 liên quan đến vấn đề hợp đồng. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH), theo BLDS 2005, có bốn căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH: có hành vi vi phạm, có lỗi của bên vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Còn trong Luật Thương mại 2005 lại không quy định yếu tố lỗi là một căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về căn cứ miễn trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng tồn tại một vài điểm chưa thống nhất. Nếu BLDS chỉ đặt ra hai căn cứ miễn trách nhiệm là sự kiện bất khả kháng và lỗi của bên bị vi phạm(còn lại là trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng) thì Luật Thương mại 2005 lại quy định bốn trường hợp là căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm tại Điều 294 bao gồm: các trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. 2. Quy định cụ thể về các điều kiện để xác định một sự kiện là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Các quy định của pháp luật mới chỉ liệt kê chung chung các sự kiện là căn cứ miễn trách nhiệm mà không đưa ra các điều kiện áp dụng cụ thể, điều này gây nên khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tế, trong quá trình áp dụng pháp luật và giải quyết các tranh chấp liên quan tới vấn đề này. Do đó, pháp luật cần quy định tất cả các sự kiện là căn cứ miễn trách nhiệm đều phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định sau: +) Thứ nhất,sự kiện này phải sảy ra sau khi các bên đã ký kết hợp đồng; +) Thứ hai, ở thời điểm ký kết hợp đồng các bên không biết hoặc không thể biết sự kiện đó sẽ sảy ra; +) Thứ ba, sự kiện đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vi phạm hợp đồng; +) Thứ tư, khi các sự kiện này sảy ra, các bên đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng nhưng không thể khắc phục được. Đảm bảo các điều kiện đó sẽ đảm bảo nguyên tắc về mối quan hệ nhân quả và nguyên tắc xác định lỗi, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định một cách mềm dẻo khi giải quyết các vấn đề liên quan tới miễn trách nhiệm hợp đồng. 3. Bổ sung quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm hợp đồng giữa các bên. Luật thương mại 2005 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể về điều kiện công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cần bổ sung thêm những quy định mang tính nguyên tắc như: “Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi sảy ra vi phạm và có hiệu lực đến thời điểm bên bị vi phạm áp dụng chế tài. Thỏa thuận này có giá trị pháp lý nếu như nó không phải là vi phạm do cố ý”...để đảm bảo sự tự do thỏa thuận giữa các bên vừa hạn chế khi một bên lợi dụng căn cứ này để trốn tránh trách nhiệm hợp đồng. Ngoài ra, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, cơ quan có thẩm quyền cũng phải đánh giá tính hợp lý của thỏa thuận này, cần phải phân tích sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, phân tích nội dung của hợp đồng. 4. Bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm do người thứ ba có quan hệ với một bên trọng hợp đồng thương mại gặp trường hợp bất khả kháng. Việc bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm do người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả kháng là phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Vấn đề này cũng được quy định trong Công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế cũng như quy định tại nhiều quốc gia khác. Để được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong trường hợp này thì cần quy định cụ thể về điều kiện để sự bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm đối với bên thứ ba trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho một bên hợp đồng thương mại là: Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng mà bên thứ ba gặp phải phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 161 BLDS, 2005; Thứ hai, hợp đồng của bên vi phạm với bên thứ ba có quan hệ mật thiết với hợp đồng thương mại giữa bên vi phạm và bên bị vi phạm; Thứ ba, việc bên thứ ba vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc vi phạm hợp đồng của bên vi phạm và bên vi phạm không thể khắc phục được. 5. Quy định cụ thể về trường hợp thực hiện quyết định cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Cần có quy định hướng dẫn cụ thể cơ quan quản lý nhà nước trong trường hợp này ra quyết định nhằm lục đích gì, những điều kiện cụ thể để một quyết định trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. Quyết dịnh của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn tới vi phạm hợp đồng. Chỉ những quyết định mang tính chất bất khả kháng, bên vi phạm không thể có lựa chọn nào khác ngoài việc vi phạm hợp đồng mới có thể là căn cứ miễn trừ trách nhiệm. Nếu như việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước mang lại lợi ích cho bên vi phạm mà gây thiệt hại cho bên bị vi phạm hợp đồng thì cần có cơ chế phù hợp để đảm bảo lợi ích cho các bên. C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ Luật thương mại Việt Nam 2005 đã quy định khá cụ thể các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, trong thời gian tới hệ thống pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa nhằm giảm đến mức thấp nhất rủi ro từ hợp đồng trong thương mại, việc các thương nhân thỏa thuận cụ thể về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng có ý nghĩa quan trọng. Trên cơ sở tôn trọng pháp luật các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận trong hợp đồng tất cả các điều khoản nhưng trên cơ sở không trái phapr luật và đạo đức xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics

THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics Bài tập cá nhân Luật thương mại 2 Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Thương mại 2 Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa trong những trường hợp sau: Thứ nhất, theo Điều 294 Luật Thương mại, ta có: Điều 294. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm 1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. 2. Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm. Vậy, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics đầu tiên được miễn trách nhiệm về tổn thất hàng hóa khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận, xảy ra sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Để được miễn trách nhiệm trong các trường hợp trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics phải thực hiện việc thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm như sau: Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại. Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình. Thứ hai, theo Điều 237 Luật Thương mại, ta có: Điều 237. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 1. Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây: a) Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; b) Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; c) Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá; d) Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải; đ) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận; e) Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng. 2. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình. Vậy việc tổn thất đối với hàng hóa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm gồm 6 điểm trong Điều 237 Luật Thương mại 2005: tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền, tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền, tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá, tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận và sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa. Chính phủ quy định chi tiết giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phù hợp với các quy định của pháp luật và tập quán quốc tế. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra.
Xem thêm

4 Đọc thêm

 GIẢI QUYẾTXUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

GIẢI QUYẾTXUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

dẫn nghị định số 57.......).TIỂU KẾT.Như vậy qua việc giải quyết đề bài số 7 tôi cũng như các bạn đã phần nào hiểu vềhình thức của hợp đồng trong tư pháp quốc tế cũng như vấn đề giải quyết xung độtpháp luật về hình thức hợp đồng quốc tế theo pháp luật VN. Mong rằng qua bài luậnnày của tôi sẽ giúp các bạn phần nào thêm chút kiến thức về một mảng nhỏ trong tưpháp quốc tế là hình thức hợp đồng.

5 Đọc thêm

TƯ VẤN THỜI HẠN KHỞI KIỆN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

TƯ VẤN THỜI HẠN KHỞI KIỆN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

* Đối với hợp đồng vô hiệu thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu như sau:- Trước thời điểm thi hành Bộ luật Dân sự 1995 ( 1/7/1996) thì không có quy định thời hiệuyêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu nên những hợp đồng vô hiệu xác lập trước 01-7-1996không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Cần lưu ý là trước đây cóhướng dẫn khác nhưng sau đó đã đượcNghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 củaHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lại.- Hợp đồng vô hiệu xác lập trong thời kỳ thi hành Bộ luật Dân sự 1995 (từ 01-7-1996 đến31-12-2005) thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều145 là một số trường hợp xác định thời hiệu khởi kiện là 01 năm (ví dụ: giao dich vô hiệu vìlừa dối, nhầm lẫn, giao dịch với người chưa thành niên…); còn vô hiệu do vi phạm về hìnhthức, do giả tạo hoặc vi pham điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì không bị hạnchế về thời hiệu.- Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm củapháp luật, trái đạo đức xã hội, do giả tạo thì không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tuyên bốgiao dịch vô hiệu; còn các loại vô hiệu khác (kể cả vô hiệu do vi phạm về hình thưc) đều cóthời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ thời điểm xác lập giao dịch (Điều 136 Bộ luật Dân sự).Cần lưu ý là đã có quy định riêng (như Điều 145 Bộ luật Dân sự 1995, Điều 136 Bộ luậtDân sự) thì phải áp dụng quy định riêng chứ không áp dụng thời hiệu chung của Điều 159Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bài tập luật lao động

BÀI TẬP LUẬT LAO ĐỘNG

Tình huống 1.Ngày 1532014, Giám đốc và BCH công đoàn công ty may D thuộc địa bàn huyện A thỏa thuận bằng văn bản số 01, có chữ ký của từng người lao động về việc làm thêm trong năm 2014 mỗi ngày làm thêm 3 giờ liên tục để tăng thu nhập. Thời gian làm việc một ngày được quy định là 11 giờ, trong đó 3 giờ được tính và trả lương làm thêm theo chế độ quy định. Ngày 1572014, Thanh tra lao động đã yêu cầu công ty D bãi bỏ văn bản thỏa thuận số 01 và phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về việc tổ chức và trả lương làm thêm giờ.Công ty D cho rằng việc tổ chức làm thêm giờ đã được thỏa thuận với từng người lao động và BCH công đoàn cơ sở, tổng số giờ làm thêm trong năm 2014 không vượt quá mức quy định của pháp luật, cho nên xử lý của Thanh tra lao động là không đúng và kiến nghị BCH huyện A can thiệp để công ty được tiếp tục thực hiện quy định này. Hỏi:a. BCH công đoàn huyện A cần giải quyết trường hợp này như thế nào?b. Ý kiến riêng của anh (chị) về tình huống đó?Tình huống 2.Trong văn bản quy định về chế độ nghỉ phép năm của công ty B đã quy định “Người lao động muốn nghỉ phép năm phải đăng ký với người sử dụng lao động. Nghỉ phép quá 3 ngày trở lên không có lý do chính đáng, công ty ra quyết định sa thải và không trả trợ cấp thôi việc”.BCH công ty cho rằng quy định trên của công ty là trái pháp luật và yều cầu phải sửa đổi lại cho phù hợp.Hỏi:a. Yêu cầu của BCH công đoàn cơ sở có đúng không? b. Ý kiến của các anh (chị) về tình huống đó.Tình huống 3.Theo lịch nghỉ hàng năm công ty X đã công bố, một số người lao động có đơn xin nghỉ phép năm vào tháng 122013. Tuy nhiên, do điều kiện cuối năm nhiều công việc, công ty đã đề nghị NLĐ chuyển phép nghỉ bù vào năm 2014 và thanh toán tiền lương trong những ngày chưa nghỉ phép năm bằng 100% tiền lương của NLĐ theo quy định của pháp luật.Người lao động cho rằng công ty trả chưa đủ tiền lương cho họ và đề nghị BCH công đoàn công ty yêu cầu công ty giải quyết. Hỏi: a. BCH công đoàn công ty phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của NLĐ? b. Ý kiến của các anh (chị) về tình huống trên?Tình huống 4.5 công nhân công ty xây dựng B (bên B) bị tai nạn lao động do lỗi của người sử dụng lao động. Sau thời gian điều trị, được Hội đồng giám định Y khoa lao động kết luận “bị suy giảm khả năng lao động 81%”. Chủ đầu tư công trình (bên A) chủ động hỗ trợ cho mỗi công nhân một khoản tiền bằng 50 tháng lương tối thiểu. Công ty xây dựng không trả tiền bồi thường tai nạn lao động cho năm công nhân trên vì cho rằng NLĐ đã được nhận tiền từ chủ đầu tư công trình. Hỏi: a. Quyết định trên của công ty xây dựng B đúng hay sai? Nếu sai phải giải quyết như thế nào?b. Ý kiến của anh (chị) về tình huống đó?Tình huống 5.Chị P là huấn luyện viên bơi lội thuộc trường Thể dục thể thao Q. Do hoàn cảnh gia đình chị P làm đơn xin chuyển công tác vào TP M nhưng Sở TDTT Q không đồng ý cho chị P chuyển đi.Dù không được Sở TDTT Q đồng ý, chị P tự ý nghỉ việc từ ngày 1842014.Ngày 2642014, Sở TDTT Q ra quyết định số 593QĐTDTT về việc xử lý kỷ luật với chị P bằng hình thức buộc thôi việc vì đã tự ý bỏ việc.Chị P không được hưởng chế độ thôi việc và quyền lợi khác từ ngày 152014.Hỏi: a. Việc Sở TDTT Q xử lý kỷ luật với chị P có đúng với quy định của pháp luật không?b. Ý kiến của anh (chị) về tình huống trên?Tình huống 6.Chị T là thủ quỹ của công ty V, ngày 422014 chị T lập phiếu chi giả để chiếm đoạt của công ty 40 triệu đồng. Ngày 342014, Giám đốc công ty ủy quyền cho Phó giám đốc tiến hành việc xét và xử lý kỷ luật đối với T. Ngày 742014, Phó GĐ tổ chức họp và sau đó đưa ra quyết định sa thải chị T. Sau khi bị sa thải, chị T khởi kiện cho rằng việc xử lý kỷ luật sa thải đối với chị là không đúng? Hỏi:a. Việc công ty ra quyết định sa thải chị T có đúng quy định của pháp luật không?lb. Ý kiến của anh (chị) về tình huống trên.Tình huống 7.Năm 2005, khi vào làm việc tại công ty X, vì không có chỗ ở nên anh D được công ty cho mượn một gian nhà (là nhà kho cũ) để ở. Năm 2013, anh D vi phạm kỷ luật, công ty xử lý bằng hình thức chuyển sang làm công việc khác có mức lương thấp hơn; đồng thời yêu cầu anh D phải trả lại nhà để mượn. Vì anh D không trả nên công ty tiếp tục xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải. Anh D khởi kiện ra Tòa về việc bị kỷ luật sa thải. Hỏi:a. Việc anh D bị xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải có đúng quy định không?b. Theo anh (chị) sẽ giải quyết vấn đề đó cho anh D như thế nào?Tình huống 8.Chị N là nhân viên bán hàng, anh D là kế toán bán hàng phụ trách theo dõi công nợ của công ty H. Qua kiểm tra, công ty phát hiện chị N có hành vi giả mạo chữ ký của đại lý chiếm dụng 60 triệu đồng tiền bán hàng; khi đối chiếu công nợ và chứng từ bán hàng anh D không phát hiện ra vi phạm của chị N. Sau khi bị phát hiện sai phạm, anh D đã yêu cầu chị N hoàn trả số tiền chiếm dụng. Sau 20 ngày, kể từ ngày phát hiện chị N đã hoàn trả đủ số tiền chiếm dụng, chị N cũng đã làm kiểm điểm, nhận sai phạm và tự nguyện xin thôi việc. Anh D đã kiểm điểm về việc thiếu sót của mình và tự nhận hình thức cảnh cáo. Ngày 1042014, Giám đốc công ty H tổ chức họp xét kỷ luật và cùng ngày ra quyết định xử lý kỷ luật sa thải chị N và anh D vì có hành vi vi phạm nghiêm trọng quy chế bán hàng và nguyên tắc quản lý tài chính, chiếm đoạt tiền của DN, gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của công ty. Chị N và anh D khởi kiện về việc bị sa thải trái pháp luật. Hỏi:a. Việc công ty ra quyết định sa thải chị N và anh D có đúng không?b. Ý kiến của anh (chị) về tình huống trên.Tình huống 9.Ngày 132011, công ty K ký hợp đồng lao động thuê chị V vào làm việc. Hợp đồng lao động ghi loại hợp đồng là thời vụ. Hợp đồng kết thúc ngày 1032012.Ngày 1732012, hai bên lại ký tiếp hợp đồng thời vụ, công việc và tiền công như cũ. Trước khi ký kết hợp đồng này, công ty hứa sẽ xem xét việc ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với chị V. Ngày 1852014, chị V tiếp tục có đơn gửi Giám đốc công ty đề nghị được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Phòng tổ chức hành chính công ty trả lời chị V là đang xem xét.Ngày 2052014, công ty K thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với chị V vì đã hết thời vụ. Chị V khởi kiện vì cho rằng công ty K đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Hỏi:a. Công ty K chấm dứt hợp đồng lao động với chị V có đúng không?b. Theo anh (chị) tình huống này sẽ giải quyết như thế nào?Tình huống 10.Bà M làm việc tại công ty D từ tháng 12005, Bà đã ký với công ty 9 bản hợp đồng lao động xác định thời hạn 1năm. Hợp đồng lao động cuối cùng của bà M là bản hợp đồng xác định thời hạn 1 năm (từ 142013 đến 3132014). Đến ngày 482014 công ty D ra thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với bà M. Hỏi:a. Việc chấm dứt hợp đồng lao động này có đúng với quy định của pháp luật lao động không? b. Ý kiến của anh (chị) về tình huống này như thế nào?Tình huống 11.Anh D là kỹ sư tin học làm việc ở công ty X. Năm 2012, anh D được công ty đài thọ 100% kinh phí để đi học nâng cao về kỹ thuật lập trình mạng tại Nhật Bản trong thời gian 1 năm. Trong bản cam kết trước khi đi học, giữa anh D và công ty có ký thỏa thuận rằng “Sau khi học xong, anh D sẽ làm việc cho công ty ít nhất 5 năm, nếu tự ý chấm dứt hợp đồng lao động, anh D phải bồi thường kinh phí đào tạo là 10.000 USD”.Tháng 62013, anh D kết thúc khóa học tại Nhật Bản về nước và tiếp tục làm việc tại công ty. Ngày 1122014, hợp đồng lao động giữa anh D và công ty hết thời hạn. Tháng 102014, anh D và công ty tiến hành thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động mới, nhưng anh D đề nghị mức lương là 600 USD1 tháng, song công ty không chấp nhận mà chỉ trả lương cho anh D là 400 USDtháng. Do không thỏa thuận được về tiền lương anh D đã nghỉ làm ở công ty từ tháng 122014. Công ty yêu cầu anh D phải thanh toán trả công ty 10.000 USD với lý do anh D mới làm cho công ty 18 tháng là vi phạm cam kết trước khi đi học nghề. Hỏi:a. Bản cam kết trước khi đi học giữa anh D và công ty thực hiện thế nào?b. Trường hợp này, việc giải quyết tiền cam kết đi học như thế nào? Tình huống 12. Anh C đang làm Giám đốc chi nhánh A thuộc công ty TNHH T thì nhận được quyết định bãi nhiệm của Giám đốc công ty T với lý do: bãi nhiệm nhưng không bị kỷ luật gì mà để chuyển sang làm chuyên viên văn phòng công ty. Trước đó, anh C không hề được thông báo, thỏa thuận gì về việc này.Quyết định có hiệu lực từ 20102014, anh C nghỉ việc ở nhà và không nhận được công việc nào khác.Hỏi:a. Việc ra quyết định bãi nhiệm, tự động chuyển công tác của anh C có đúng pháp luật không? b. Trong thời gian nghỉ việc anh C có được hưởng lương và phụ cấp không?Tình huống 13.Chị H làm việc tại công ty P được 10 năm.Tháng 72014, chị H làm đơn xin nghỉ việc.Công ty ra quyết định cho nghỉ việc, quyết định trợ cấp thôi việc và quyết định buộc chị H phải bồi thường chi phí đào tạo cho chuyến đi công tác 1 tuần ở Singapo vào năm 2012.Chuyến đi này, chị H được học về cách vận hành một thiết bị trong nhà máy.Khi về chị H đã đào tạo lại cho một số công nhân và họ đã sử dụng thành thạo.Được biết, trước khi đi học chị H không ký cam kết là phải làm việc cho công ty trong thời gian bao lâu.Hỏi:a. Việc công ty buộc chị H phải bồi thường chi phí đào tạo trong trường hợp này là đúng hay sai?b. Ý kiến của anh (chị) về tình huống trên?
Xem thêm

14 Đọc thêm

Câu hỏi đúng sai luật kinh tế_VCU

CÂU HỎI ĐÚNG SAI LUẬT KINH TẾ_VCU

Câu hỏi đúng sai luật kinh tế_VCU.Câu hỏi đúng sai luật kinh tế_VCU.Câu hỏi đúng sai luật kinh tế_VCU.ĐỀ 4:1.Thành viên hội đồng quản trị của công ty cổ phần phải là cổ đông của công ty.Sai: theo điểm b khoản 1 điều 151 LDN2.A là công ty TNHH, B là công ty cổ phần. A và B không sáp nhập thành công ty mớiSai: khoản 1 điều 195 LDN 3.Hợp đồng thương mại sẽ đương nhiên bị vô hiệu nếu vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồngSai: khoản 2 điều 401 LDS4.Tất cả các thành viên của công ty hợp danh đều có quyền nhân danh công ty để ký kết các hợp đồng với các đối tác.Sai: khoản 1 điều 182 LDN ( không đề cập đến quyền ký kết hợp đồng)5.Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên chịu trách nhiệm về các khoản nợp và nghĩa vụ tài sản khác trong phậm vi phần vốn đã góp vào công ty.Đúng: khoản 1 điều 51 LDN6.A là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân kinh doanh thép. A được quyền thành lập thêm một doanh nghiệp tư nhân khác kinh doanh gạo.Sai: khoản 3 điều 183 LDN7.Sau khi tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có hành vi cấp giấu, tẩu tán tài sản thì Thẩm phán có quyền ra quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đó theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ hoặc Quản tài viênđúngL khoản 2 điều 47 + khoản 1 điều 48 LPS.
Xem thêm

9 Đọc thêm

bài nhóm môn Luật dân sự 2

BÀI NHÓM MÔN LUẬT DÂN SỰ 2

Quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể luôn được pháp luật bảo vệ. Khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ thì chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do mình gây ra. Dưới góc độ pháp luật dân sự, hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại. Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm hại tới sức khỏe của chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Sức khỏe của con người là vô cùng quý giá, việc xác định tổn hại về sức khỏe rất phức tạp, tuy nhiên cần phải tính toán mức thiệt hại thực tế để đưa ra mức phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ đó, bộ luật dân sự Việt Nam 1995 đã quy định một cách chi tiết về vấn đề này và được hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2005. Để hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là vấn đề bồi thường do sức khỏe bị xâm hại, thấy được ưu điểm và những tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành đồng thời đưa ra nhưng quan điểm riêng của nhóm, chúng em xin chọn tình huống số 8 là vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại của ông Nguyễn Xuân Ngà do gia đình bà Nguyễn Thị Kim gây ra. 1. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. Nêu rõ căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét. Ta thấy đây là vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng điển hình do thiệt hại về sức khỏe, giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Ngà và bị đơn Nguyễn Đức Dũng. Trên cơ sở quy định pháp luật cũng như những hiểu biết của các thành viên, nhóm xin trình bày những nhận định của mình về các quyết định của Tòa án: Tuy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do xô sát giữa nguyên đơn và bị đơn từ năm 2002, nhưng đến 10072004 ông Nguyễn Xuân Ngà mới lập đơn khởi kiện và đến năm 2005 mới được thụ lý giải quyết sơ thẩm, năm 2006 lại được sơ thẩm lại do sai thủ tục tố tụng và đến tận năm 2007 lại được phúc thẩm lần hai; nhưng căn cứ vào thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 15 BLDS 1995 và Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 số 452005QH11 về việc áp dụng hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp, cho thấy: vụ án bồi thường thiệt hại này phải xử lý trên cơ sở BLDS 1995 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại của bộ luật này. Bên cạnh đó, căn cứ vào quy định tại điểm a, Khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 và hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 xác định: trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm hại trước ngày 01012005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày 01012005; nên vụ án này được thụ lý trên cơ sở tuân thủ thủ tục tố tụng về thời hiệu khởi kiện. Xét thấy quyết định của Tòa án tại bản án phúc thẩm số 922006DSPT ngày 26042006 về việc bác bỏ bản án sơ thẩm số 142005DSST ngày 27122005 với lý do phiên Tòa này đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là đúng đắn và có sơ sở pháp lý. Bởi, căn cứ vào Điều 47 BLTTDS 2004 về các trường hợp phải thay đổi Thẩm phám, Hội thẩm nhân dân thì “ông Trần Sáu (Hội thẩm nhân dân) trước đây đã tham gia xét xử tại phiên tòa hình sự đối với vụ án cố ý gây thương tích nay lại tham gia tại phiên tòa dân sự” – tương ứng với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Và vì lý do này nên Tòa phúc thẩm ngày 26042006 đã căn cứ vào khoản 2 Điều 277 BLTTDS 2004 để hủy bản án sơ thẩm.
Xem thêm

17 Đọc thêm

MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN CÓ HƯỚNG DẪN

MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN CÓ HƯỚNG DẪN

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01:(1) Ghi địa điểm làm đơn khởi kiện (ví dụ: Hà Nội, ngày.....tháng.....năm...........).(2) Ghi tên Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án; nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thìcần ghi rõ Toà án nhân dân huyện nào thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ:Toà án nhân dân huyện A thuộc tỉnh B), nếu là Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì ghi rõ Toà án nhândân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên) và địa chỉ của Toà án đó.(3) Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì ghi họ và tên; nếu người khởi kiện là cơ quan, tổchức, thì ghi tên cơ quan, tổ chức và ghi họ, tên của người đại điện hợp pháp của cơ quan, tổchức khởi kiện đó.(4) Ghi địa chỉ tại thời điểm nộp đơn khởi kiện. Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì ghiđầy đủ địa chỉ nơi cư trú (ví dụ: Nguyễn Văn A, trú tại thôn B, xã C, huyện M, tỉnh H); nếungười khởi kiện là cơ quan, tổ chức, thì ghi địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ:Công ty TNHH Hin Sen có trụ sở: Số 20 phố LTK, quận HK, thành phố H).(5), (7) và (9) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (3).(6), (8) và (10) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (4).(11) Nêu cụ thể từng vấn đề yêu cầu Toà án giải quyết.(12) và (13) Ghi họ và tên, địa chỉ nơi người làm chứng cư trú (thôn, xã, huyện, tỉnh),nếu là nơi làm việc, thì ghi địa chỉ nơi người đó làm việc (ví dụ: Nguyễn Văn A, công tác tạiCông ty B, trụ sở làm việc tại số.... phố...... quận.........TP Hà Nội).(14) Ghi rõ tên các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện gồm có những tài liệu gì và phảiđánh số thứ tự (ví dụ: các tài liệu kèm theo đơn gồm có: bản sao hợp đồng mua bán nhà, bảnsao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ....)(15) Ghi những thông tin mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụán (ví dụ: Người khởi kiện thông báo cho Toà án biết khi xảy ra tranh chấp một trong cácđương sự đã đi nước ngoài chữa bệnh....).(16) Nếu người khởi kiện là cá nhân, thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khởikiện đó; nếu là cơ quan tổ chức khởi kiện, thì người đại điện hợp pháp của cơ quan, tổ chứckhởi kiện ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
Xem thêm

2 Đọc thêm

2 TÍNH ĐẶC THÙ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS THEOPHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2 TÍNH ĐẶC THÙ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS THEOPHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1.Khái niệm về dịch vụ logistics.Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã định nghĩa về dịch vụlogistics như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thươngnhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vậnchuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấnkhách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ kháccó liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao…”.Đặc điểm: Dịch vụ logistics có ba đặc trưng pháp lý sau:- Chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics gồm hai bên: Người làm dịch vụlogistics (phải là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch vụlogistics) và khách hàng ( có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân, cóthể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa).- Nội dung của dịch vụ logistics rất da dạng bao gồm: nhận hàng từ ngườigửi để tổ chức việc vận chuyển; làm các thủ tục giấy tờ cần thiết; giao hàng hóacho người vận chuyển; tổ chức nhận hàng, lưu kho…- Dịch vụ logitics là một loại hoạt động dịch vụ.2. Tính đặc thù về trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ logistics theopháp luật hiện hành .Trong dân sự khi một bên không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ hợp đồngsẽ làm phát sinh trách nhiệm hợp đồng. Trách nhiệm này có thể là trách nhiệmthực hiện đúng hợp đồng; hủy hợp đồng; bồi thường các thiệt hại phát sinh từ sựvi phạm hợp đồng hoặc phạt hợp đồng. Hợp đồng Logistics cũng là một dạngcủa hợp đồng dân sự, nhưng đồng thời cũng là một hợp đồng thương mại vàtheo nguyên tắc thì Luật chuyên ngành sẽ được áp dụng vì thế trách nhiệm củangười kinh doanh dịch vụ logistics sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại.Khi người làm dịch vụ logistics vi phạm hợp đồng, theo quy định của LuậtThương mại 2005 sẽ phải chịu những trách nhiệm riêng biệt so với việc vi phạmnhững loại hợp đồng dân sự thông dụng khác. Cụ thể như sau:Thứ nhất: Về giới hạn trách nhiệm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU

TIỂU LUẬN HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU

MỞ ĐẦU: Trong thực tiễn xét xử, các phán quyết của Tòa án khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu đã tạo ra nhiều bất cập khi thi hành trên thực tế. Khi hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng không có giá trị pháp lý nữa, hợp đồng sẽ không được thực hiện nữa nếu chưa thực hiện, các bên dừng không thực hiện nữa nếu hợp đồng đang thực hiện. Còn việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng như ban đầu, thì việc hoàn trả tài sản như thế nào nếu tài sản đó không còn tồn tại, hay giá trị tài sản bị giảm sút, mặc dù các nhà làm luật đã dự liệu được tình huống này bằng quy định “không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền” nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể, khi nào thì được coi là không hoàn trả được bằng tài sản, việc tính số tiền phải hoàn trả là bao nhiêu cũng không có quy định rõ. Bên cạnh đó, cũng có quy định bên nào có lỗi gây ra hợp đồng vô hiệu thì phải bồi thường nhưng cũng không có hướng dẫn cụ thể. Vì chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể nên khi có tranh chấp xảy ra, bản án, quyết định của Tòa án chưa đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia. Vậy, hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được quy định như thế nào trong quy định của pháp luật và đã có những bất cập gì khi thực hiện nhưng quy định này trên thực tế. Bài tiểu luận về đề tài “hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu” sẽ trả lời câu hỏi trên. MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU 1 1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu 1 1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự 1 1.1.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu 2 1.2 Xác định hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật 4 1.2.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do chủ thể tham gia không có năng lực hành vi dân sự 4 1.2.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội 6 1.2.3 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng 7 1.2.4 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện 8 1.3 Tuyên bố hợp đồng vô hiệu 10 1.3.1 Chủ thể có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu và chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu 10 1.3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu 11 CHƯƠNG 2. HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 12 2.1 Khái niệm hậu quả pháp lý 12 2.2 Hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu 13 2.2.1 Về mặt giá trị pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 13 2.2.2 Về mặt lợi ích vật chất 14 2.2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu 16 2.2.4 Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ban ngay tình khi hợp đồng vô hiệu 17 2.3 Bất cập khi xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 19 2.4 Thực tiễn xét xử và kiến nghị 27 KẾT LUẬN 31 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem thêm

32 Đọc thêm

câu hỏi ôn tập môn luật hợp đồng

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT HỢP ĐỒNG

1.Phân tích bản chất của hợp đồng và chỉ ra mối lien hệ giữa bản chất của hợp đồng với điều kiện có hiệu lực của hợp đồng?2.Phân tích hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu?3.Nêu khái niệm hợp đồng vô hiệu? Phân loại các trường hợp hợp đồng vô hiệu căn cứ vào phạm vi (phần nội dung) bị vô hiệu?4.Cho biết những cách thức sử dụng tài sản để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự. Cho biết ưu điểm, nhược điểm của từng cách thức?5.Khái niệm phương thức thực hiện nghĩa vụ dân sự? Nội dung thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng phương thức? 6.Cho biết điểm giống nhau và khác nhau giữa bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng?
Xem thêm

8 Đọc thêm

Cùng chủ đề