NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ 7 CHÚ LÙN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ 7 CHÚ LÙN":

Tả con chim bồ câu

TẢ CON CHIM BỒ CÂU

Bải 1: Hôm nay là ngày chủ nhật , em lại được về thăm ngoại. Nhà ngoại có trồng rât nhiều cây và nuôi nhiều con vật . Trong đó ,đàn bồ câu là xinh đẹp nhất . Duyên dáng hơn cả là con bồ câu trắng mà ngoại đặt tên cho nó là Bạch Tuyết . Bạch Tuyết thuộc giống bồ câu Hà Lan. Đúng với cái tên, cô nàng nổi bật với bộ lông trắng tinh. Lông Bạch Tuyết mềm mại, mịn màng làm sao ! Thân nó nhỏ như cái bình trà của ông em . Đầu to hơn hột mít một chút, cứ lắc la lắc lư thật khó hiểu .Đôi mắt đen láy ,tròn xoe như hạt nút nhỏ .Đôi mắt đẹp ấy trông thật hiền lành.Bạch Tuyết có cái mỏ nhỏ, xinh xinh. Nó thường rỉa lông , lâu lâu lại dụi mỏ vào cánh . Đôi cánh xếp gọn hai bên mình. Hai chân nó nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn. Dáng cô nàng bước đi trông kiêu sa và duyên dáng với cái đuôi xoè rất đẹp mà chỉ riêng giống bồ câu Hà Lan mới có. Đôi khi , dường như thích thú hoặc vui sướng vì một điều gì đó , cô nàng xoè chiếc đuôi xinh đẹp ,rung rung trong nắng . Có lẽ vì vậy mà trong sân nhà ngoại thường xuất hiện mấy anh chàng bồ câu lạ hoắt. Bạch Tuyết không nhát người như những chú bồ câu khác . Cô nàng thường mổ hạt kê trên bàn tay em. Điều này làm em vô cùng thích thú. Được ngắm đàn bồ câu sà xuống sân nhà em cảm thấy thật thanh thản. Em rất thích cô nàng Bạch Tuyết. Em sẽ học thật giỏi để ba tháng hè được về vui chơi với nàng Bạch Tuyết … Bài 2: Trong các loài chim em thích nhất là chim bồ câu vì đó là loài chim tượng trưng cho hòa bình. Chú thật duyên dáng với bộ lông trắng muốt, mịn màng. Thân nó nhỏ như cái ấm pha trà. Đầu to hơn hạt mít một chút, cứ lúc lắc thật khó hiểu. Đôi mắt đen láy, tròn xoe như hạt na nhỏ trông thật hiền lành. Bồ câu có cái mỏ nhỏ, xinh xinh. Nó thường rỉa lông, lâu lâu lại dụi mỏ vào đôi cánh xếp gọn hai bên mình. Hai chân của chim nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn. Dáng bước đi trông thật kiêu sa với cái đuôi xoè rất đẹp rung rung trong nắng. Khi xem ti vi, em thấy người ta thả những chú chim bồ câu cho nó bay đi. Đôi cánh chim rập rờn như múa làm em vô cùng thích thú. Được ngắm đàn bồ câu bay lượn em cảm thấy thật vui. Em rất yêu thích và quý mến loài chim này.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hãy kể về giấc mơ của một bông hoa

HÃY KỂ VỀ GIẤC MƠ CỦA MỘT BÔNG HOA

II. BÀI LÀM 1 Bình minh đã bắt đầu le lói phía trời Đông. Những tia nắng hồng rực rỡ báo hiệu một ngày mới. Một tia nắng tinh nghịch nhẹ nhàng lay gọi bông Hồng Nhung dậy muộn. Hồng Nhung khẽ chớp chớp hàng mi ngái ngủ. Những giọt sương đêm long lanh lăn tròn trên những cánh hoa đỏ thắm. Bông hoa ngẩng cao đầu, quay nhìn bốn phía rồi mỉm cười nhớ lại giấc mơ đêm qua. ôi! Giấc mơ thật đẹp! ... Mặt trời lặn đã lâu, khu vườn chìm trong bóng đêm dịu dàng, yên tĩnh. Đang thiu thiu ngủ, chợt Hồng Nhung cảm thấy lâng lâng như được nhấc bổng lên cao. Hóa ra là chị Mây Trắng bồng bềnh vừa sà xuống. Chị hôn nhẹ vào đôi má mịn màng của Hồng Nhung rồi thì thầm: Em đi chơi với chị nhé! Ngồi trong lòng chị Mây Trắng, cô bé Hồng Nhung rực rỡ như một đốm lửa hồng. Nương theo làn gió nhẹ, chị Mây đưa Hồng Nhung bay qua một cánh đồng bát ngát lúa xanh, nhấp nhô như sóng biển. Lá lúa đung đưa trong gió như những cánh tay vẫy gọi, mời mọc Hồng Nhung hãy ghé chơi và thưởng ngoạn vẻ đẹp của đồng quê. Lần đầu tiên được nhìn hàng ngàn, hàng vạn khóm lúa tươi tốt mọc san sát bên nhau, Hồng Nhung thích lắm. Cô bé khoan khoái hít căng lồng ngực hương thơm ngan ngát của lúa làm đòng. Không ghé thăm được, Hồng Nhung gửi xuống cho các bạn lúa một nụ hôn thay lời chào thân ái. Cuộc hành trình tiếp tục. Loáng một cái, trước mắt Hống Nhung hiện ra một bãi cỏ bao la, ngào ngạt mùi thơm cỏ mật. Âm thanh réo rắt văng vẳng đâu đây. À thì ra là tiếng sáo của mấy chú mục đồng cưỡi trên lưng những con trâu béo mượt đang ung dung gặm cỏ. Cảnh đẹp như tranh. Hồng Nhung xuýt xoa khen ngợi và say mê nhìn ngắm mãi. Chị Mây Trắng đưa Hồng Nhung ra thăm biển. Quen sống trong khu vườn nhỏ nên Hồng Nhung rợn ngợp trước cảnh trời nước mênh mông. Cô bé sung sướng thốt lên: Biển rộng quá chị Mây Trắng nhỉ! Ôi! Biển mới đẹp làm sao! Dưới mắt Hồng Nhung, biển xanh thăm thẳm. Những cánh buồm trắng, buồm nâu giống như những cánh bướm khổng lồ chập chờn trên sóng nước. Chị Mây Trắng mỉm cười nói với Hồng Nhung: Còn có nhiều cảnh đẹp kì diệu hơn nữa, cô bé ạ! Vượt qua đại dương, chị Mây Trắng đưa Hồng Nhung đến xứ sở của những Kim tự tháp Ai Cập sừng sững trên sa mạc với những bức tượng nhân sư bằng đá uy nghiêm canh giữ lối vào. Rồi đến với tháp Epphen cao vút, ngạo nghễ giữa trời xanh; tháp nghiêng Pida đồ sộ và cổ kính... Mỗi kì quan có một vẻ đẹp khác nhau khiến Hồng Nhung mải mê ngắm nhìn không chán mắt. Bỗng cô bé reo lên: “Chị Mây Trắng ơi, chúng ta đến thăm khu vườn cổ tích đi!”. Chị Mây Trắng gật đầu đồng ý. Chẳng mấy chốc, hai chị em đã tới khu công viên nổi tiếng. Tuyệt vời làm sao! Trên mặt đất, cả một rừng hồng đang tỏa hương, khoe sắc. Hồng trắng, hồng đỏ, hồng vàng... loại nào cũng đẹp! Chúng vây quanh nàng công chúa ngủ trong rừng. Nàng đẹp vẻ đẹp ngây thơ, trong trắng như một thiên thần. Tòa lâu đài, rừng cây cổ thụ, con đường mòn đẫn tới lâu đài... Tất cả đều như mơ, như thực, đưa du khách vào cõi thần tiên. Và kìa, nàng Bạch Tuyết với bảy chú lùn dễ thương đang quây quần nhảy múa. Hồng Nhung và chị Mây Trắng ghé xuống tham dự cuộc vui với họ. Nàng Bạch Tuyết âu yếm đặt Hồng Nhung lên ngực áo trắng muốt của mình. Hồng Nhung biết rằng, bên cạnh nàng Bạch Tuyết, mình sẽ đẹp lên rất nhiều. Hai chị em đã đến tận Thiên Đình. Tây Vương Mẫu đang mở hội thi hoa. Chị Mây Trắng khuyên Hồng Nhung nên tham dự. Cô bé e thẹn chối từ vì thấy quanh mình là hàng trăm loài hoa muôn hồng, ngàn tía. Mọi người xúm lại khuyến khích nên Hồng Nhung đồng ý và cô bé không ngờ rằng mình lại được bầu làm hoa hậu của các loài hoa. Hồng Nhung rất sung sướng nhưng cô bé vẫn khiêm tốn nghĩ rằng mình chỉ là một vẻ đẹp trong muôn ngàn vẻ đẹp, một hương thơm trong hàng vạn hương thơm. Cuộc du ngoạn thế giới của hai chị em kết thúc tốt đẹp. Trở về khu vườn quen thuộc, Hồng Nhung mừng rỡ gặp lại các bạn thân yêu. Hồng Nhung cảm ơn chị Mây Trắng đã giúp mình hiểu biết về thế giới rộng lớn xung quanh... Hồng Nhung thấy xao xuyến trong lòng. Lát nữa, cô bé sẽ kể cho tất cả các bạn nghe về giấc mơ đẹp đẽ đêm qua. Những cánh hồng đỏ thắm rung rinh như muốn nói: Các bạn ơi! Cuộc sống quanh ta đẹp đẽ và đáng yêu biết mấy! Bài 2
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" của Nguyễn Du

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH "CHỊ EM THÚY KIỀU" CỦA NGUYỄN DU

Nguyễn Du là một thi hào dân tộc ta. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” - kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam. Truyện Kiều là một bài ca lớn về giá trị nhân đạo, một bản cáo trạng nghiệm khắc về cái ác, cái phản nhân bản, một tập đại thành của nghệ thuật văn chương . Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nhận vật, Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử tiểu thuyết bằng thơ trích đoạn Chị em Thúy Kiều đả thể hiện được trọn vẹn vè đẹp, tài năng va đức hạnh của hai chị em nàng Thúy kiều. Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã miêu tả cả tài, sắc và đức hạnh của hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều với tất cả lòng quý mến, trân trọng của nhà thơ. Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” nằm trong phần : “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều. Với nhiệt tình trân trọng ngợi ca, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển, lấy những hình ảnh thiên nhiên để gợi, tả, khắc hoạ vẻ đẹp chị em Thuý Kiều thành những tuyệt sắc giai nhân. Trước hết, Nguyễn Du cho ta thấy vẻ đẹp bao quát của hai chị em Thuý Kiều trong bốn câu đầu: Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Nhà thơ dùng từ Hán Việt “tố nga” chỉ những người con gái đẹp tinh tế để gọi chung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Hai chị em được ví von có cốt cách thanh cao như hoa mai, có tâm hồn trong sáng như tuyết trắng. Mỗi người có vẻ đẹp riêng và đều đẹp một cách toàn diện. Từ cái nhìn bao quát ấy, nhà thơ đi miêu tả từng người. Bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng, liệt kê, nhân hoá, tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp trang trọng, quý phái, phúc hậu: Sau khi giới thiệu vẻ dẹp chung về hình thức lẫn tâm hồn của hai chị em bằng bốn câu thơ , Nguyễn Du bắt đầu miêu tả vẻ đẹp riêng của Thúy Vân : Vân xem trang trong khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngóc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc , tuyêếtnhường màu da, Chỉ vài nét chấm phá, bức chân dung của Thúy Vân hiện lên thật nghiêm trang , đứng đắn và phúc hậu. Gương mặt của nàng đầy đặn như mặt trăng tròn. chân mày của nàng đẹp như mày của con bướm tằm. Đuôi mắt của nàng đẹp như mắt phượng . miệng của nàng nở nụ cười tươi như đóa hoa đang khoe sắc , tỏa hương. Tiếng nói của nàng trong như ngọc. Những làn mây trên không trung vẫn không đẹp bằng mái tóc mượt mà của nàng. Tuyết là biểu tượng của màu trắng nhưng không nhường màu cho da mịn màng, trắng trẻo của nàng. Bằng cách phối hợp các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ, nhân hóa, liệt kê, đối ngữ, thậm xưng và cách dùng các từ láy, từ Hán Việt một cách điệu luyện, Nguyễn Du không những miêu tả được vẻ đẹp ưa nhìn của Thúy Vân mà còn dự báo được tương lai của nàng. Đặc biệt, các từ " thua ", "nhương " cho chúng ta thấy số phận bình an, tốt lành của Thúy Vân trên những chặng đường đời . Còn đây là bức chân dung của nàng kiều : Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thủy tinh , nét xuân sơn Cặp mắt của nàng trong trẻo và long lanh như làn nước mùa thu. Còn lông mày lại thanh nhẹ, tương đẹp như nét núi mùa xuân nghiêng nghiêng, duyên dáng .đây cũng là vẻ đẹp ước lệ, tượg trưng thường gặp trong thơ văn cổ. Những nghệ thuật nhân hóa , thậm xưng, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, điển cố,liệt kê, đối ngữ, tương hỗ đã tiếp tục đưa sắc đẹp của Thúy kiều đến tuyệt điỉnh, khiến cho : Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh "Hoa" và "liễu" là những loài vô tri, vô giác, vậy là phải "ghen" , "hờn", tức giận trước vẻ đẹp "sắc sảo mạn mà", "mười phân vẹn mười" của nàng. Còn đối với con người , nàng Kiều chỉ cần ngoảnh lại một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại cái nữa thì nước người ta bị đổ Chao ôi ! Thúy Kiều đúng là một tuyệt thế giai nhân Nhưng qua nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp lộng lẫy ,đài các, kiêu sao , có sức cuốn hút mãnh liệt của Thúy Kiều . Nhất là các từ "ghen" , "hờn" , Nguyễn Du đã hé mở cho chúng ta thấy những cơn sóng gió bảo tố của cuộc đời như chờ trực để vùi dập thân phận của nàng . Nếu như ở Thúy Vân , Nguyễn Du chỉ miêu tả sắc đẹp thì ở Thúy Kiều , nhà thơ vưa miêu tả nhan sắc , vừa ca ngợi tài năng : Sắc đành tài một , tại đành hoạ hai Như vậy, về sắc thì đành chỉ có một mình Thúy Kiều về tài thì may ra, họa hoằn lắm mới có người thứ hai. Thứ nhất là trí thông minh sẵn có do tạo hóa ban tặng: Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương lầu bậc ngũ âm , Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương . Khúc nhà tay lựa nên chương . Xét riêng về tài đánh đàn thì Thúy kiều vượt xa những người khác . Những nốt cung , thương , giốc , chũy , vũ trong âm giai của nạhc cổ trung Quốc và Việt Nam được nàng phối hợp một cách nhuần nhuyễn , tinh thông , dạt dào cảm xúc . Đặt biệt , một bản nhạc nhan đề là " Bạc mệnh " - đưa con tinh thần của Thúy Kiều - đã tác động vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn của con người , khiến ai thưởng thức cũng phải đau khổ , sâầunão đến rơi nước mắt , đến buốt nhói tim . Phải chăng " một thiên bạc mệnh lại càng não nhân " ấy như muốn dư báo những đâu khổ , bất hạnh chồng chất trong suốt 15 năm ròng của đời người con gái tài sắc vạn toàn ? Nhìn chung , Nguyễn Du có dụng ý rất rõ trong việc nhấn mạnh tài sắc của Thúy Kiều , nhà thơ đã cực tả Thúy vân , tưởng như sắc đạp của Thúy Vân không ai hơn được nữa , để rồi sau đó , Thúy Kiều xuất hiện thì Thúy Vân trở thành một cái nền làm tôn sắc đẹpcủa Thúy Kiều là tuyệt đỉnh . Còn tài của nàng cũng là tuyệt đỉnh . ( Giáo sư Nguyễn Lộc ) Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hoàn mĩ về hình thức lẫn tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân trọng nhất. Đó là một cái nhìn của con gnười có tấm lòng nhân dạo mênh mông như ngọn nước triều dâng . Nguyễn du dã mở đườngbcho tư tưởng của mình đi trước thời đại . Bởi lẽ , trong xã hôi phong kiền đầy rẫy nhưng bất công , ngang trái , hà khắc , phụ nữ luôn bị lép vế , bị ruồn rẫy , chà đạp , xô đẩy đến bức đường cùng . Một lần nữa ở bốn câu kết thúc của trích đoạn Chị em Thúy Kiều , Nguyễn Du miêu tả cuộc sống phong lưu, êm đềm, khuôn phép , mẫu mực và ngợi ca đức hạnh của cá hay chị em : Phong lưu rất mực hồng quần , Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê , Em đềm trướng rủ màn che . Tường đông ong bướm đi về mặc ai Mặc dù đã đến tuổi búi tóc cài trâm , có thể lấy chồng nhưng Thúy Vân và Thúy Kiều vẫn sống hòa thuận , vui vẻ trong cảnh trướng rủ màn che , không tơ tươởngđến những kẻ dđ tìm tình yêu , đi ve vãn con gái như ong bướm tìm hoa . Chính những nét hồn nhiên , trong sáng . thơ ngây đã nuôi dưỡng , bồi đắp cho sự hình thành - phát triển nhân cách và ý thức làm người cao cả của hai chị em sau này , đặc biệt là Thúy Kiều . Tóm lại . bằng một thế giới ngôn ngữ phong phú , tính tế , kỳ diệu , bằng một bút pháp điêu luyện, bằng một thiên tài khám phá tuyệt vời kết hợp với lòng thương yêu của con người , nhất là người phụ nữa, Nguyễn du vẽ lên bức chân dung vừa điển nhã , vừa có sức gợi cảm mãnh liệt của Thúy Vân và Thúy Kiều trong trích đoạn chị em Thúy Kiều. Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hoàn mĩ về hình thức lẫn tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân trọng nhất. Càng nâng niu , quý trọng truyện Kiều ,chúng ta càng cảm phục tài năng và đức độ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Đó là một cái nhìn của con người có tấm lòng nhân dạo mênh mông như ngọn nước tràn ly
Xem thêm

3 Đọc thêm

Thuyết minh về quả vải.

THUYẾT MINH VỀ QUẢ VẢI.

Thịt quả vải tươi gần như trong suốt, màu trắng mềm, mọng nước, vị ngọt, mùi thơm. Quả vải càng nhỏ hạt càng quý.      Vải là loài cây thuộc họ vô hoạn tứ. Quả vải còn gọi là quả tu hú. Tháng 6, tháng 7 hàng năm, tu hú kêu tha thiết bồi hồi trên đồng quê cũng là mùa vải chín rộ. Mùa vải trên những vùng đồi Bắc Giang, vải chín đỏ đất trời. Vải thiều Thanh Hà thuộc tỉnh Hải Dương là thơm ngon nhất. Quả vải hình cầu hoặc hình trứng, vỏ trông sần sùi như có gai trên bề mặt, khi chín chuyển thành màu đỏ. Thịt quả vải tươi gần như trong suốt, màu trắng mềm, mọng nước, vị ngọt, mùi thơm. Quả vải càng nhỏ hạt càng quý. Cành vải giòn, nếu quả nhiều quá sẽ làm gãy cành nên cần phải dùng cây chống đỡ. Cùi vải có thể ăn tươi, sấy khô, hoặc làm vải hộp, có giá trị kinh tế cao, vải tươi, quả to, múi dày trắng, có vị ngọt thơm là vải quý, vỏ và hạt vải, phơi khô tán bột làm thuốc chữa trị bệnh lị, bệnh mẩn ngứa . Vải là đặc sản của phương Nam được các vua, chúa đời Đường hết sức trọng vọng coi là “Vua của các loại quả". Nhà thơ Bạch Cư Dị đã ca ngợi như sau: “Bóc ra múi trắng như thủy tinh, ăn lại mềm như tuyết xốp, mùi vị thật tuyệt vời, thật không hổ danh". Nhà văn Vũ Bằng trong tác phẩm "Thương nhớ mười hai" coi quả vải là thời trân của Bắc Việt. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích đoạn nỗi thương mình (trích truyện Kiều của Nguyễn Du)

PHÂN TÍCH ĐOẠN NỖI THƯƠNG MÌNH (TRÍCH TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

Sau khi Thuý Kiều đánh tiếng sẽ bán mình để chuộc cha ra khỏi chốn ngục tù, Mã Giám Sính nhờ mối lái dẫn đến, giả danh cưới Kiếu làm vợ lẽ nhưng thực ra là y mua nàng về chỗ nhà chứa của Tú Bà. Biết mình bị lừa, Thuý Kiều quyết liệt chống lại âm mưu nhơ bẩn của chúng. Sau khi Thuý Kiều đánh tiếng sẽ bán mình để chuộc cha ra khỏi chốn ngục tù, Mã Giám Sính nhờ mối lái dẫn đến, giả danh cưới Kiếu làm vợ lẽ nhưng thực ra là y mua nàng về chỗ nhà chứa của Tú Bà. Biết mình bị lừa, Thuý Kiều quyết liệt chống lại âm mưu nhơ bẩn của chúng. Nàng rút dao quyên sinh nhưng không chết. Trong cơn mê, Thuý Kiểu thấy hồn Đạm Tiên hiện về báo cho biết nàng chưa thoát dược số đoạn trường, nàng đành phải nghe lời dỗ dành của Tú Bà ra tạm ở lẩu Ngưng Bích. Sở Khanh, tên ma cô tay sai của Tú Bà đã lập mưu rủ nàng đi trốn. Kiểu nhẹ dạ nghe theo, bị Tú Bà bắt về đánh đập dã man và buộc nàng phải tiếp khách làng chơi.Đoạn trích Nỗi thương mình có thể chia làm hai phần:Phần 1 (từ câu 1 đến 10): cảnh sống ăn chơi xô bổ ở lầu xanh và tâm trạng đau đớn, tủi nhục của Thuý Kiều.Phần 2 (từ câu 11 đến hết): Thái độ thở ơ của Kiểu trước con người và cảnh sắc, thú vui ở chốn lầu xanh thể hiện ý thức về nhân phẩm của nàng.Trong đoạn trích này, tác giả kể khá kĩ về tình cảnh và tâm trạng của Thuý Kiều khi đã bị biến thành kĩ nữ. Nguyễn Du phải đối diện với một thực tế phũ phàng là xã hội vạn ác đã dồn đẩy nhân vật mà ông trân trọng, yêu mến vào chốn thanh lảu. Làm thế nào để vừa phản ánh được hiện thực mà vẫn không hạ thấp nhân vật, vẫn thể hiện được thái độ thông cảm, xót xa của mình và nói lên dược nỗi đau đớn, tủi nhục của nhân vật?Bốn câu thơ đầu kể về cảnh Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích. Nguyễn Du đã phát huy thế mạnh của bút pháp ước lệ, các hình thức đối xứng cùng nghệ thuật sử dụng ngôn từ phù hợp để miêu tả sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng chốn lầu xanh:Biết bao bướm lả ong lơi,Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.Dập dìu lá gió cành chim,Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.Tác giả miêu tả cảnh sống xô bổ, nhơ nhớp chốn thanh lâu bằng những ẩn dụ có hình thức đối xứng như bướm lả / ong lơi, lả gió / cành chim, bằng hình ảnh Cuộc say đầy thảng trận cười suốt đêm và cả điển tích văn chương vổ Tống Ngọc, Trường Khanh, hai khách phong lưu nổi tiếng, nhầm tô dậm nỗi thương thân, xót phận của Thuý Kiều.Nhân vật Thuý Kiểu được Nguyễn Du xây dựng thành hình tượng lý tưởng của cái Đẹp và cái Thiện. Khi lâm vào tinh cảnh ô nhục, Thuý Kiểu cố vùng vẫy để tự giải thoát, nhưng càng vũng vẫy thì nàng lại càng bế tắc. Nỗi đau đớn, tủi hờn đối với một thiếu nữ Mai cốt cách, tuyết tinh thẩn như Thuý Kiểu dường như nhân lên gấp bội, vì nàng không bao giờ chấp nhận cuộc sống Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh hoàn toàn trái ngược với nền nếp giáo dục nghiêm cẩn của gia đình mình. Khi thể hiện tâm trạng Thuý Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du đã dồn hết cảm xúc vào ngọn bút. Nhà thơ dã miêu tả thật tài tình tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thuý Kiều khi phải đối diện với chính lòng mình. Giữa cái không khí ồn ào, náo nhiệt, lả lơi, dập dìu, sớm đưa, tối tìm ấy, nổi bật lên hình ảnh một nàng Kiều cô đơn, buồn tủi:Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,Giật mình, mình lại thương mình, xót xa.Khi sao phong gấm rủ là,.Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.Mặt sao dày gió dạn sương  Thân sao bướm chán ong chường bấy thản!Khi tinh rượu, lúc tàn canh, đó là những lúc đêm khuya, khách làng chơi đã ra vế hết, chỉ còn một mình Kiếu đòi diện với ngọn đèn chong, sống trong cảnh: Cuộc say đấy tháng, trận cười suốt đêm thì chỉ: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Kiểu mới có những khoảnh khắc hiếm hoi để mình được sống với chinh minh: Giật minh, mình lại thương mình xót xa.Cái hay của hai câu thơ trên trước tiên lá ở nhịp điệu. Khi / tỉnh rượu / lúc/ tàn canh, nhịp thơ 1 / 2 / 1 / 2 như gợi tửng bước đi chậm chạp của đêm trường. Thời gian và không gian vắng lặng, cô liêu càng gợi nổi niềm xót xa, cay đắng trong lòng người con gái đang lênh đênh lưu lạc nơi đất khách. Đến câu thứ hai, Giật mình / mình lại / thương mình /xót xa, nhịp thơ thay đổi thành 2 / 2 / 2 / 2: Hai chữ Giật mình kết hợp với cách ngắt nhịp dột ngột diễn tả tâm trạng hoang mang, thảng thốt của Thuý Kiểu. Tử mình tuy là thanh bằng nhưng không nhọ nhõm mà gợi cảm giác u uất, nặng nể, bởi nó được lặp lại tới ba lấn trong một câu thơ có nhịp điệu thổn thức nhu tiếng nấc nghẹn ngào khi cố ghim tiếng khóc.Thuý Kiểu giật mình sợ hãi trước sự đổi thay ghê gớm của sô' phận và trước tình cảnh thảm hại của mình lúc này. Nhịp điệu, âm hưởng và phép điệp từ kết hợp hài hoà, tự nhiên đã diễn tả thật chính xác tâm trạng trĩu nặng sầu thương của Thuý Kiểu. Đêm khuya thanh vắng, nỗi sầu thương ấy như hiện rõ thành hình, thành khối là chính Thuý Kiểu bằng xương bằng thịt. Tác giả xót thương Thuý Kiểu không may rơi vào chốn bùn nhơ, nơi nhân phẩm bị huỷ hoại, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đó, nàng đã tỏ ra ý thức rất rõ về nhân phẩm cao quý của mình. Hai câu thơ tả tâm lí trên có thể coi là tuyệt bút. Đọc đến đây, ai cũng phải ngậm ngùi rơi lệ.Nỗi thương mình là cảm xúc bao trùm cả đoạn trích. Chỉ mới bước vào tuổi cài trâm chưa được bao lâu, Thuý Kiều đã buộc phải xa cha mẹ, xa tổ ấm gia đình để bước lên cỗ xe định mệnh: Vó cảu khấp khểnh, bánh xe gập ghểnh, lao đi trên con đường mịt mù, vô định. Mặc dù đã đau đớn chấp nhận tinh cảnh ngặt nghèo Thôi đành nhẩm mắt đưa chân,, Dề xem con Tạo xoay vần đến đâu. nhưng Thuý Kiều không thể ngờ rằng mình lại rơi vào chốn hang hùm ổ rắn đầy những kẻ bán thịt buôn người trâng tráo và đê tiện đến thế. Nàng lang phải sõng trong cảnh Chân tròi góc biển bơ vơ, không nơi nương tựa,Không người an ủi, vỗ về, chia sẻ cho vơi bớt nỗi đau. Cô độc giữa lũ quỷ mặt người nên Thuý Kiều luôn có cảm giác Giật mình minh lại thương mình xót xa lả vậy !Nguyễn Du không chỉ dừng lại ở mức “hiểu” được tâm trạng Thuý Kiểu mà sâu hơn thế, nhà thơ thực sự rung động trước nỗi khổ tâm của nàng, đồng thời truyền sự rung động mãnh liệt ấy đến trái tim, khối óc người đọc, tạo nên mối dây đồng tinh, đổng điệu.Thuý Kiều cay đắng nghĩ tới sự đối lập ghê gớm giữa hiện thực đen tối, phũ phàng với quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc: Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường ? Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân. Nàng nhớ lại cảnh sống đầy đủ, êm ấm khi còn ở nhà với cha mẹ trước lúc xảy ra tai hoạ. Còn lúc này, nàng đang bị vùi dập tan tác như hoa giữa đường.Cuộc sống chốn lầu xanh buộc nàng phải đem tấm thân ngà ngọc làm đổ chơi cho thiên hạ. Bẽ bàng, chua xót và tủi hổ biết bao ! Dĩ vãng tươi đẹp chỉ được gợi lên qua một câu: Khi sao phong gấm rủ là, còn hiện tại đen tối được nhắc đến liên tiếp trong nhiều câu thơ sau đó. Trước kia, Kiều được cha mạ nâng niu quý trọng bao nhiêu thì bây giờ nàng bị bọn người tham ác vùi dập phũ phàng bấy nhiêu. Sao là từ nghi vấn nhưng lại mang tính chất cảm thán, vừa được dùng trong hình thức đối vừa được dùng ở hình thức điệp: khi sao, giở sao, mặt sao, thân sao, kết hợp với các thành ngữ mà từ ghép, từ láy được xé lẻ rồi đan chéo vào nhau như: dày gió dạn sương, bướm chán ong chường, tạo nên giọng thơ mà nỗi đau đớn ê chề như thấm đẫm trong từng chữ, từng câu.Những hình ảnh, từ ngữ đối lập đã đặc tả tâm trạng đau đớn, tủi hổ ê chề của Kiều. Trong đoạn thơ trên, quá khứ đối lập với hiện tại một cách khốc liệt. Đằng sau những ngôn từ, hình ảnh ước lệ hoa mĩ ấy là cơn uất hận không nguôi, là những câu hỏi day dứt, dằn vặt muốn vang vọng tới trời xanh.Bất công thay, trớ trêu thay là Trời già tai ác! Thực ra, Tạo hoá chẳng nỡ đày đoạ Thuý Kiều - người con gái tài sắc vẹn toàn, mà chính là các thế lực vạn ác trong xã hội đã tàn nhẫn vùi dập nàng xuống bùn đen. Tha độ thờ ơ đến lạnh lùng của Thuý Kiều thể hiện nàng dứt khoát không buông mình theo dòng đục bởi nàng có ý thức sâu sắc về phẩm giá, về nỗi tủi nhục và nỗi đau thân phận của mình.Nguyễn Du vẫn sử dụng bút pháp ước lệ thường thấy nhưng cảnh và người ở đoạn trích này đậm đặc tâm trạng:Mặc người mưa Sở mày Tần,Những mình nào biết có xuân là gì. -Đòi phen gió tựa hoa kể,Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.Cảnh có đủ phong, hoa. tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa (xuân : hoa, hạ : gió, thu : trăng, đông: tuyết), nhưng trước những cảnh đẹp đó, Thuý Kiều vẫn dửng dưng, bởi trái tim nàng đã bị nỗi đau khổ tủi hờn làm cho giá lạnh.ở lẩu xanh còn có đủ các thú vui: Đòi phen nét vẽ, câu thơ, Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa... nhưng các thú vui cẩm, kì, thi, hoạ ấy vốn đã quá quen thuộc đối với Kiểu giờ đây đều trở nên vô nghĩa:Vui là vui gượng kẻo là,Ai tri âm đó mặn mà với ai ?Tác giả đã thấu hiểu và miêu tả chính xác tinh cảnh của Kiều lúc bấy giờ. Những từ vui gượng, thờ ơ, ngẩn ngơ thể hiện tâm trạng chẳng mặn mà, thậm chí bẽ bàng của Thuý Kiều trước thực tại. Một người vốn hồn nhiên, trung thực như nàng mà lại phải vui là vui gượng để chiểu khách làng chơi thì nỗi tủi, nỗi sầu càng sâu sắc, thấm thía.Dưới ngòi bút miêu tả sinh động của Nguyễn Du, không chỉ quá khứ đối lập với hiện tại mà trong hiện tại cũng đầy rẫy mâu thuẫn. Cuộc đời kĩ nữ nhìn bề ngoài tưởng chừng thanh cao, tao nhã:...Đòi phen gió tựa hoa kể,Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trâng thâu;...Dòi phen nét vẽ câu thơ,Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.Nhưng thật ra tất cả cảnh đẹp, thú vui ấy chỉ là binh phong che đậy cho sự nhơ nhớp, bẩn thỉu của chốn lẩu xanh mà thôi.Bằng sự thông cảm thực sự và tài năng kì diệu, Nguyễn Du đã viết lên hai câu thơ có ý nghĩa khái quát nhất về mối liên hệ tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình:Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.Đoạn trích 'Nỗi thương mình chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về quá trình tự ý thức của con người cá nhân trong văn học trung đại. Người phụ nữ xưa thường được giáo dục theo tinh thán an phận thủ thưởng, cam chịu và nhẫn nhục. Nhưng khi nhân vật: Giật mình mình lại thương mình xót xa thì điều này đã bao hàm ý nghĩa “cách mạng”, chứng tỏ con người bước đầu đã có ý thức vé phẩm giá, nhân cách, tức là ý thức về quyền sống của bản thân. Thương thân, xót phận là một hiện tượng khá phổ biến trong thơ văn thế kỉ XVIII, nhưng Nguyễn Du viết về chủ để này thấm thìa hơn, sâu sắc hơn so với các tác giả khác. Sự thương mình chính là nền tảng của lòng thương người. Văn học dân gian có câu: Thương người như thể thương thân là vì thế. Không thể có tinh thương sâu sắc, chân thành dành cho người khác nếu không có ý thức về bản thân, không biết thương xót chính bản thân mình. loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

BẦU 7 THÁNG, MẸ VẪN VÔ TƯ MÚA BỤNG

BẦU 7 THÁNG, MẸ VẪN VÔ TƯ MÚA BỤNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cách đây ít giờ, một clip mẹ bầu 7 tháng vẫn tự tin thể hiện các động tác lắc hông, lắc eo chuyên nghiệp trong bài nhảy bellydance đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Được biết mẹ bầu này tên là Vũ Tuyết Nhung (nicknam Nhungyuki), hiện đang là giáo viên dạy bellydance tại Hà Nội. Dù đã mang bầu 7 tháng nhưng Nhung vẫn chăm chỉ thực hiện các bài múa bụng và thể hiện các động tác lắc hông, lắc eo đầy gợi cảm. Mời các mẹ cùng theo dõi clip nhảy bellydance của mẹ bầu Tuyết Nhung: window.addEventListener("load", function() { zPlayerAPI('zplayer_eb9491', 'event', { onPlay: function(){ AjaxAction('zplayer_eb9491_ga', '/ajax/video_player_ga.html'); } }); }); Bấm SUBSCRIBE ngay để chia sẻ video này trên youtube:  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tìm hiểu văn học Dương phụ hành

TÌM HIỂU VĂN HỌC DƯƠNG PHỤ HÀNH

Tác giả Cao Bá Quát (1808 – 1855), quê ở Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, học giỏi, nổi tiếng thần đồng (Thần Siêu, Thánh Quát). Đỗ cử nhân, làm một chức quan nhỏ trong triều Nguyễn rồi làm giáo thụ Quốc Oai, Sơn Tây. Nổi tiếng danh sĩ Bắc Hà. Tên tuổi gắn liền với cuộc khởi nghĩa nông dân Mĩ Lương, Sơn Tây. Tử trận, bị tru di tam tộc. Là nhà thơ lớn dân tộc, nửa đầu thế kỷ 19. Tác phẩm còn lại: 1353 bài thơ và 21 bài văn bằng chữ Hán; vài chục bài thơ nôm và bài phú nôm nổi tiếng: “Tài tử đa cùng phú”. Tình cảm thắm thiết đối với quê hương, vợ con và bằng hữu dào dạt trong nhiều bài thơ của Cao Bá Quát. Ý tứ mới lạ, khí phách hào hùng, văn chương hoa lệ… là cốt cách thi sĩ Chu Thần Cao Bá Quát. Xuất xứ, chủ đề - “Dương phụ hành” được viết vào thời gian từ 1842 – 1843, khi Cao Bá Quát đi “dương trình hiệu lực” sang In đô nê xia. - Bài thơ nói về người thiếu phụ Tây Dương, qua đó nhà thơ nghĩ về giai nhân và tài tử, về hạnh phúc trong sum họp và nỗi đau trong li biệt. Hình ảnh thiếu phụ Tây Dương - Khung cảnh: Một đêm trăng trên đại dương. Gió bể thổi lạnh. - Trang phục: Áo trắng phau như tuyết (y như tuyết). Một vẻ đẹp trắng trong. Nhà thơ ngạc nhiên lần đầu thấy, nhiều xúc động. - Cử chỉ ngôn ngữ: Nàng nhìn sang thuyền người Nam, thấy đèn lửa sáng (đăng hoả minh), tựa vai chồng, kéo áo chồng, nói rầm rì… Trên tay nàng “hững hờ cốc sữa biếng cầm tay”. Lạ nhất là cử chỉ “uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy”. Nũng nịu và yêu thương. Nàng đang sống trong sum họp và hạnh phúc lứa đôi. Trong bản chữ Hán, từ “lang” (chồng, chàng) được nhắc lại 3 lần ở các câu 2, 4, 7. Màu trắng của áo, màu xanh của trăng (thanh nguyệt) màu sáng của lửa đèn, và cái lạnh của gió biển đêm đại dương – tất cả góp phần đặc tả nhan sắc, tâm hồn và hạnh phúc của người thiếu phụ phương Tây. Ngôn ngữ và cách tả cho thấy một cái nhìn ngạc nhiên, một thái độ trân trọng đối với con người Châu Âu với một nền văn minh xa lạ, lần đầu tác giả tiếp xúc. Thơ trung đại thường nói đến giai nhân là nói đến mệnh bạc; trong bài thơ này, tác giả tả giai nhân trong hạnh phúc sum họp lứa đôi. Ý tứ ấy rất mới lạ. Tâm trạng nhà thơ - Câu 6, tả bể đêm sương lạnh. Đó là một nét vẽ góp phần làm cho nỗi đau của khách biệt ly thêm cô đơn và tê tái, lạnh lẽo. - Câu 8 tương phản với 7 câu trước. Nhà thơ hỏi (tự nói với mình) “Há có biết người Nam đang ở cảnh biệt ly?”. Người thì hạnh phúc sum họp, còn nhà thơ thì đang sống trong nỗi đau buồn và cô đơn của cảnh biệt ly. Nỗi đau càng được nhân lên nhiều lần trong cảnh ngộ phải đi “dương trình hiệu lực”, tài năng bị dập vùi, công danh bị dở dang, một kẻ sĩ trải qua nhiều cay đắng trên con đường hoan lộ. Chỉ một câu thơ mà nói được bao điều tâm sự. Thật hàm súc và truyền cảm. Kết luận Bài thơ được viết theo thể “hành” thất ngôn. Ý tại ngôn ngoại. Một cái nhìn mới mẻ. Ý thơ mới lạ. Hình ảnh người thiếu phụ Tây Dương và nỗi buồn đau của kháchbiết ly là hai nét vẽ đầy ấn tượng. Đúng là “cảnh đấy người đây luống đoạn trường” (Bà huyện Thanh Quan). Bài thơ như thấm đầy lệ của khách ly hương.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cẩm Tâm Công Tử Bạch

CẨM TÂM CÔNG TỬ BẠCH

Bắt đầu từ hai chúng ta ở bên nhau, ta luôn mong một ngày, tất cả thiên hạ đều biết chúng ta là phu thê. Họ sẽ ngưỡng mộ nàng, sẽ biết phu quân của nàng là thiên hạ đệ nhất. Họ cũng sẽ ngưỡng mộ ta, sẽ biết thê tử của ta là tuyệt thế vô song... Chúng ta sẽ có con, rất nhiều con. Chúng sẽ lớn lên trong bình yên và hạnh phúc. Không như ta, ngay từ khi chào đời đã phải đeo lên vai vận mệnh của yêu tộc, cũng sẽ không giống nàng, nước mất nhà tan, phải tha hương phiêu bạt. ... Yêu một cô gái trong lòng ấp ủ một kế hoạch quá lớn là một bi kịch, và nếu bản thân mình cũng ấp ủ một kế hoạch như thế... lại càng chắc chắn là bi kịch trong bi kịch. Nhưng, thế thì đã sao? Giống như đoạn cuối của cuốn tiểu thuyết này: Hắn yêu nàng, vì vậy hắn bảo vệ nàng, như một người đàn ông đích thực. Đây là bộ tiểu thuyết đầu tiên của tôi được xuất bản, cũng giống như bất kỳ tác giả nào, khi biết “đứa con tinh thần” của mình được “chào đời”, tôi đã cực kì vui sướng và phấn khích. Việt Cẩm Tâm là nữ nhân vật mà tôi yêu thích, mặc dù trong quá trình viết, tôi đã bị mọi người đặt cho biệt danh ‘mẹ kế’. Nhưng sau khi hoàn thành cuốn sách này, tôi cũng không thể không cảm thán rằng, cô gái ấy quả thực đã phải hi sinh hết thảy.
Xem thêm

721 Đọc thêm

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT Ở ẦU 1. í do chọn đề tài Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nữ sĩ Mộng Tuyết (1914- 2007) tuy chỉ giữ một vị trí khiêm nhường, song với những đóng góp loại biệt cho lịch sử văn học dân tộc và nền văn hóa Nam Bộ, bà đã sớm tạo ra cho mình một chỗ đứng riêng không ai thay thế được. Tên tuổi Mộng Tuyết sớm được công chúng trong Nam ngoài Bắc biết đến qua những tác phẩm in trên các tờ báo lớn đương thời như: Nam P on tạp 0c í, Tiểu t u ết t ứ Năm, H Nội báo, Đôn Tâ , Con On , S n , Trun Bắc c ủ n ật, Tri Tân… đặc biệt là qua giải thưởng cao quý do tổ chức văn chương danh giá nhất lúc bấy giờ là Tự lực văn đoàn trao tặng cho tập thơ “P ấn ươn rừn ” của nàng thiếu nữ nơi cực Nam Tổ quốc. Những năm đầu thế kỷ XX, khi nền văn học Quốc ngữ còn phôi thai, Mộng Tuyết đã là một trong những nhà thơ nữ hiếm hoi bên cạnh những Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm, Mộng Sơn, Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ. Trong suốt 80 năm cầm bút, nữ sĩ đã tạo được cho mình một tấm hộ chiếu tâm hồn riêng, một phong cách nghệ thuật riêng. Những tác phẩm của bà, dù thơ hay văn xuôi đều mang vẻ đẹp trong sáng của ngôn ngữ, hình ảnh; đều thể hiện sự chân thật trong cảm xúc, khiến cho người đọc vô cùng thích thú. Riêng về thơ của bà, Hoài Thanh và Hoài Chân, trong cuốn T n ân V ệt Nam đã có nhận xét như sau: “…Còn t ơ, oặc n ẹ n n í ởn, oặc m súc lâm l , oặc n ớ n un bát n át, oặc xôn xao rạo rực, tổn c i l lời một t iếu nữ, k i tự tìn , k i đùa iỡn, k i tạ lòn n ười u...” [47,359] Đông Hồ, người thầy – người bạn đời của nữ sĩ, trong lời tựa cuốn D má trăn non của nàng thì cho rằng: “Văn Mộn Tu ết đẹp cũn n ư t ơ Mộn Tu ết”[64,7]. Đặt cây bút tài hoa này trong cái nôi văn học miền Nam, ông càng làm rõ thêm vị trí quan trọng của tác giả: “Miền Nam, miền ít văn c ươn , ít t i oa tự 2 xưa na , n ười con trai a c ữ đ l iếm m n ười con ái a c ữ lại c n iếm lắm” [64,7]. Những ý kiến trên cho thấy, đóng góp của bà thật sự đáng quý, sự nghiệp văn chương của bà xứng đáng được giới thiệu rộng rãi tới toàn bộ công chúng. Việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của nữ sĩ Mộng Tuyết không chỉ giúp người đọc thấy rõ hơn những đóng góp đặc sắc của cây bút nữ đất mũi Hà Tiên mà còn thấy được vị trí của nữ phái trên văn đàn và cũng sẽ tìm thấy được những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn những người dân trên mảnh đất phương Nam, qua đó góp phần lấp đầy những khoảng trống trong lịch sử văn học nước nhà; đồng thời còn là một cách hữu hiệu để mỗi người đọc có thể di dưỡng tâm hồn. ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT
Xem thêm

109 Đọc thêm

Diễn biến tâm lý trong Chinh phụ ngâm

DIỄN BIẾN TÂM LÝ TRONG CHINH PHỤ NGÂM

Cần chú ý theo dõi hai vấn đề: -Những vấn đề chinh phụ suy nghĩ và đặt ra. -Sợi dây lôgic dẫn dắt quá trình tâm lí của chinh phụ. 1.Mở đầu khúc ngâm, người chinh phụ nhớ lại cảnh chia tay. -Mâu thuẫn cơ bản đạt ra trong suốt tác phẩm là mâu thuẫn giữa phép công và niềm tây (niềm tư), mở đầu tác phẩm mối mâu thuẫn này cũng đã xuất hiện. Ðôi vợ chồng trẻ này đang sống trong hạnh phúc, yên ổn thì chiến tranh xảy ra. Vì tình thế khẩn trương, vì ý thức về nghĩa vụ, vì danh dự của trang nam nhi hào kiệt và đây cũng là dịp lập công danh, đem vinh hiển về cho gia đình, người chinh phu đã "xếp bút nghiên theo việc đao cung". Người chinh phụ sẽ nói gì cho thực tế tàn nhẫn này. Bên cạnh nỗi buồn, nỗi lưu luyến, sầu muộn chinh phụ cũng đã khẳng khái nói: "Phép công là trọng, niềm tây sá nào" Nàng đã ca ngợi chí khí, hành động của chinh phu: "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung Thành liền mong tiến bệ rồng Thước gươm thề quyết chẳng dung giặc trời. Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Nàng thấy hình ảnh của người chồng rực rỡ, uy nghi như một trang dũng tướng giữa đoàn quân: "Áo chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in". Ðó là về lí trí còn về mặt tình cảm thì: "Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền". "Bóng cờ, tiếng trống xa xa Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng" 2.Sau hồi tiễn biệt người chinh phụ trở về chốn phòng khuê. -Bằng đôi cánh của trí tưởng tượng nàng đã phóng tầm mắt ra chiến trường để theo dõi cuộc sống, vận mệnh của chinh phu nơi chiến địa. +Cảnh chiến trường hiện lên trước mắt nàng thật đen tối. Ở đây không hề có tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, hay tiếng va chạm của vũ khí mà chỉ có một luồng tử khí lạnh lẽo bao trùm. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo +Trong cảnh chiến trường đen tối ấy, chinh phụ cũng đã hình dung ra cuộc sống và vận mệnh của chinh phu. Cuộc sống của chàng thật gian lao, vất vả: Ôm yên gối trống đã chồn Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh Rồi hành quân di chuyển tưởng như không bao giờ chấm dứt: Nay Hán xuống, Bạch Thành đóng lại +Giữa hoàn cảnh hiểm nghèo, gian lao ấy chinh phu không còn giữ được khí thế hào hùng của buổi đầu xuất quân. Chàng trở nên mệt mỏi, bạc nhược trước cuộc sống chiến tranh: Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn Dòng nước sâu ngựa nản chân bon Não người áo giáp bấy lâu Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây +Nàng như đã nhìn thấy kết cục bi thảm của chồng mình ở chốn đạn lạc, tên rơi: Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn? hoặc Phận trai già ruổi chiến trường Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về +Những trang thơ này của tác phẩm đã đưa đến cho người đọc một nhận thức: Chiến tranh phong kiến không có chỗ nào dung hợp với con người, chiến tranh phong kiến là đối lập với cuộc sống con người. Trong quan niệm của nhà thơ những con người tham gia vào cuộc chiến tranh là những con người đi vào cõi chết. Quan niệm này thực chất là một cách phản đối chiến tranh. -Sau khi trải qua những giây phút lo âu cho cuộc sống và vận mệnh của chồng nơi chiến địa chinh phụ trở lại với thực tại của mình. Giờ đây cuộc sống đơn chiếc, lẻ loi gợi lên trong tâm trí nàng bao nhiêu câu hỏi về nguyên nhân của sự xa cách: Trong cửa này đã đành phận thiếp Ngoài mây kia há kiếp chàng vay, Những mong cá nước sum vầy. Bao ngờ đôi ngả nước mây cách vời Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ, Chàng há từng học lũ vương tôn Cớ sao cách trở nước non Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu Khách phong lưu đương chừng niên thiếu Sánh cùng nhau dan díu chữ duyên Nỡ nào đôi lứa thiếu niên Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành Ở đây cái nhận thức đầu tiên rõ rệt nhất của chinh phụ là cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng nàng bị phá vỡ, hai người phải chia lìa đôi ngả là hết sức vô lí, là không thể chấp nhận được. 3.Tiếp theo, người chinh phụ sống trong hoàn cảnh vắng biệt tin chồng. -Chinh phụ nhiều lần nhớ lại những lời hẹn của chồng nhưng Người sao mười hẹn chín thường đơn sai, rồi tiếp theo có lúc nàng được tin chồng, dần dần rồi vắng biệt. Vì vậy nàng đã phải sống trong một tâm trạng chờ đợi, hi vọng rồi thất vọng đến chua xót. Ðau khổ vì biệt li, vì chờ đợi, vì thất vọng đã làm cho nàng như khô héo thêm. Chiến tranh đã làm tàn phai nhan sắc, làm héo hon tấm lòng người vợ trẻ trông chồng.Sự đối lập giữa con người và chiến tranh càng trở nên mạnh mẽ. Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo. Nỗi sầu muộn như ngày càng chồng chất thêm trong lòng chinh phụ, nó như một sức mạnh vật chất đè nặng lên cuộc sống của nàng: Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm Chinh phụ đã tìm mọi cách để giải sầu như xem hoa, đánh đàn thậm chí dùng cả biện pháp mạnh nhất là uống rượu, nhưng Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.Nỗi sầu muộn vẫn lấn át tất cả, nỗi sầu muộn đã làm cho nàng mất hết mọi cảm giác trước cuộc sống. -Mặt khác sự xa cách như một luồng gió mạnh thổi cháy bùng thêm khát vọng hạnh phúc ở chinh phụ. Vì thế nàng đã nghĩ đến việc được gần chồng và cuối cùng nàng đã tìm đến giấc mộng, trong mộng nàng đã được gặp lại người chồng thân yêu: Duy còn hồn mộng được gần Ðêm đêm thường đến Giang Tân tìm người Tìm chàng thưở Dương đài lối cũ Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa. Nhưng mộng quá ngắn ngủi, vả lại mộng vẫn là mộng, thực vẫn là thực không sao thay thế cho nhau được. Trái lại cái đẹp đẽ của hồn mộng càng làm cho cuộc sống của nàng thêm chua xót hơn mà thôi: Sum vầy mấy lúc tình cờ Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân Giận thiếp thân lại không bằng mộng Ðược gần chàng bến Lũng thành quan Khi mơ những tiếc khi tàn Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không Người chinh phụ nhận ra rằng cái hạnh phúc đáng quí nhất đối với nàng vẫn là hạnh phúc trần tục. -Rồi chinh phụ lại tìm cách lên cao để ngóng trông chồng, nhưng lên cao nhìn khắp bốn bề Ðông, Tây, Nam, Bắc phía nào nàng cũng bắt gặp những cảnh buồn hiu hắt, tiêu điều. Chưa hết người chinh phụ lại ao ước có được phép tiên để đi gặp chồng nhưng rồi nàng phải thú nhận với lòng mình là điều đó không bao giờ có được. Người chinh phụ đã khai thác hết mọi khả năng, mong làm cho mình bớt sầu, bớt khổ, mong được gặp lại chồng nhưng đằng nào cũng thấy dựng lên những bức tường cao ngất. Bế tắc đến tuyệt vọng, chinh phụ đã phải thốt lên thật cay đắng: Lòng này hóa đá cũng nên E không lệ ngọc mà lên trông lầu Chinh phụ tưởng chừng như không còn đủ sức chịu nổi nỗi đau đớn phải lên lầu một lần nữa. Cơn khủng hoảng tinh thần đã lên tới đỉnh điểm, con người thật trong chinh phụ đã bắt đầu cất tiếng nói, nàng hối hận vì giấc mộng công hầu mà để chồng ra đi chinh chiến để rồi hạnh phúc tuổi xuân bị dang dở: Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, Thà khuyên chàng đừng chịu sắc phong Trong con người chinh phụ giờ đây niềm tây đã chiến thắng phép công. Nàng đã dám phủ nhận lí tưởng công danh, nàng đã hiểu hạnh phúc lứa đôi có ý nghĩa hơn chiếc ấn phong hầu. Ðây cũng là một nét tâm lí phổ biến của con người thời đại lúc bấy giờ, chàng trai trong Chinh phu ngâm khúc cũng đã thú nhận: Lòng ta không muốn mặc áo giáp Bụng nàng há muốn giữ chinh y -Ý nghĩ Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong đặt vào hoàn cảnh lúc bấy giờ nó có ý nghĩa lúc bấy giờ vì nó coi trọng hạnh phúc, coi trọng sinh mệnh của con người. Nó có ý nghĩa phản chiến vì nó đối lập với âm mưu của giai cấp thống trị muốn dùng cái bả công danh để thúc đẩy binh sĩ, tướng tá ra trận để bảo vệ ngai vàng cho chúng, làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng do điểm xuất phát của chinh phụ chỉ là hạnh phúc cá nhân, cho nên phản ứng của nàng chỉ có thể dừng lại ở mức độ đó. 4.Người chinh phụ tìm cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa niềm tây và phép công bằng sự cầu nguyện. -Nàng cầu mong cho ông trời phù hộ cho chồng mình trăm trận nên công và trở về trong ánh hào quang của chiến thắng với mọi vinh dự mà chế độ phong kiến có thể đưa lại cho những kẻ đã tận tâm phục vụ nó.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Diễn biến tâm trạng của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn

DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ TRONG TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM CỦA ĐẶNG TRẦN CÔN

Diễn biến tâm trạng của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn . Cần chú ý theo dõi hai vấn đề: -Những vấn đề chinh phụ suy nghĩ và đặt ra. -Sợi dây lôgic dẫn dắt quá trình tâm lí của chinh phụ. 1.Mở đầu khúc ngâm, người chinh phụ nhớ lại cảnh chia tay. -Mâu thuẫn cơ bản đạt ra trong suốt tác phẩm là mâu thuẫn giữa phép công và niềm tây (niềm tư), mở đầu tác phẩm mối mâu thuẫn này cũng đã xuất hiện. Ðôi vợ chồng trẻ này đang sống trong hạnh phúc, yên ổn thì chiến tranh xảy ra. Vì tình thế khẩn trương, vì ý thức về nghĩa vụ, vì danh dự của trang nam nhi hào kiệt và đây cũng là dịp lập công danh, đem vinh hiển về cho gia đình, người chinh phu đã "xếp bút nghiên theo việc đao cung". Người chinh phụ sẽ nói gì cho thực tế tàn nhẫn này. Bên cạnh nỗi buồn, nỗi lưu luyến, sầu muộn chinh phụ cũng đã khẳng khái nói: "Phép công là trọng, niềm tây sá nào" Nàng đã ca ngợi chí khí, hành động của chinh phu: "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung Thành liền mong tiến bệ rồng Thước gươm thề quyết chẳng dung giặc trời. Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Nàng thấy hình ảnh của người chồng rực rỡ, uy nghi như một trang dũng tướng giữa đoàn quân: "Áo chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in". Ðó là về lí trí còn về mặt tình cảm thì: "Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền". "Bóng cờ, tiếng trống xa xa Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng" 2.Sau hồi tiễn biệt người chinh phụ trở về chốn phòng khuê. -Bằng đôi cánh của trí tưởng tượng nàng đã phóng tầm mắt ra chiến trường để theo dõi cuộc sống, vận mệnh của chinh phu nơi chiến địa. +Cảnh chiến trường hiện lên trước mắt nàng thật đen tối. Ở đây không hề có tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, hay tiếng va chạm của vũ khí mà chỉ có một luồng tử khí lạnh lẽo bao trùm. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo +Trong cảnh chiến trường đen tối ấy, chinh phụ cũng đã hình dung ra cuộc sống và vận mệnh của chinh phu. Cuộc sống của chàng thật gian lao, vất vả: Ôm yên gối trống đã chồn Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh Rồi hành quân di chuyển tưởng như không bao giờ chấm dứt: Nay Hán xuống, Bạch Thành đóng lại +Giữa hoàn cảnh hiểm nghèo, gian lao ấy chinh phu không còn giữ được khí thế hào hùng của buổi đầu xuất quân. Chàng trở nên mệt mỏi, bạc nhược trước cuộc sống chiến tranh: Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn Dòng nước sâu ngựa nản chân bon Não người áo giáp bấy lâu Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây +Nàng như đã nhìn thấy kết cục bi thảm của chồng mình ở chốn đạn lạc, tên rơi: Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn? hoặc Phận trai già ruổi chiến trường Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về +Những trang thơ này của tác phẩm đã đưa đến cho người đọc một nhận thức: Chiến tranh phong kiến không có chỗ nào dung hợp với con người, chiến tranh phong kiến là đối lập với cuộc sống con người. Trong quan niệm của nhà thơ những con người tham gia vào cuộc chiến tranh là những con người đi vào cõi chết. Quan niệm này thực chất là một cách phản đối chiến tranh. -Sau khi trải qua những giây phút lo âu cho cuộc sống và vận mệnh của chồng nơi chiến địa chinh phụ trở lại với thực tại của mình. Giờ đây cuộc sống đơn chiếc, lẻ loi gợi lên trong tâm trí nàng bao nhiêu câu hỏi về nguyên nhân của sự xa cách: Trong cửa này đã đành phận thiếp Ngoài mây kia há kiếp chàng vay, Những mong cá nước sum vầy. Bao ngờ đôi ngả nước mây cách vời Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ, Chàng há từng học lũ vương tôn Cớ sao cách trở nước non Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu Khách phong lưu đương chừng niên thiếu Sánh cùng nhau dan díu chữ duyên Nỡ nào đôi lứa thiếu niên Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành Ở đây cái nhận thức đầu tiên rõ rệt nhất của chinh phụ là cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng nàng bị phá vỡ, hai người phải chia lìa đôi ngả là hết sức vô lí, là không thể chấp nhận được. 3.Tiếp theo, người chinh phụ sống trong hoàn cảnh vắng biệt tin chồng. -Chinh phụ nhiều lần nhớ lại những lời hẹn của chồng nhưng Người sao mười hẹn chín thường đơn sai, rồi tiếp theo có lúc nàng được tin chồng, dần dần rồi vắng biệt. Vì vậy nàng đã phải sống trong một tâm trạng chờ đợi, hi vọng rồi thất vọng đến chua xót. Ðau khổ vì biệt li, vì chờ đợi, vì thất vọng đã làm cho nàng như khô héo thêm. Chiến tranh đã laòm tàn phai nhan sắc, làm héo hon tấm lòng người vợ trẻ trông chồng.Sự đối lập giữa con người và chiến tranh càng trở nên mạnh mẽ. Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo. Nỗi sầu muộn như ngày càng chồng chất thêm trong lòng chinh phụ, nó như một sức mạnh vật chất đè nặng lên cuộc sống của nàng: Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm Chinh phụ đã tìm mọi cách để giải sầu như xem hoa, đánh đàn thậm chí dùng cả biện pháp mạnh nhất là uống rượu, nhưng Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.Nỗi sầu muộn vẫn lấn át tất cả, nỗi sầu muộn đã làm cho nàng mất hết mọi cảm giác trước cuộc sống. -Mặt khác sự xa cách như một luồng gió mạnh thổi cháy bùng thêm khát vọng hạnh phúc ở chinh phụ. Vì thế nàng đã nghĩ đến việc được gần chồng và cuối cùng nàng đã tìm đến giấc mộng, trong mộng nàng đã được gặp lại người chồng thân yêu: Duy còn hồn mộng được gần Ðêm đêm thường đếïn Giang Tân tìm người Tìm chàng thưở Dương đài lối cũ Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa. Nhưng mộng quá ngắn ngủi, vả lại mộng vẫn là mộng, thực vẫn là thực không sao thay thế cho nhau được. Trái lại cái đẹp đẽ của hồn mộng càng làm cho cuộc sống của nàng thêm chua xót hơn mà thôi: Sum vầy mấy lúc tình cờ Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân Giận thiếp thân lại không bằng mộng Ðược gần chàng bến Lũng thành quan Khi mơ những tiếc khi tàn Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không Người chinh phụ nhận ra rằng cái hạnh phúc đáng quí nhất đối với nàng vẫn là hạnh phúc trần tục. -Rồi chinh phụ lại tìm cách lên cao để ngóng trông chồng, nhưng lên cao nhìn khắp bốn bề Ðông, Tây, Nam, Bắc phía nào nàng cũng bắt gặp những cảnh buồn hiu hắt, tiêu điều. Chưa hết người chinh phụ lại ao ước có được phép tiên để đi gặp chồng nhưng rồi nàng phải thú nhận với lòng mình là điều đó không bao giờ có được. Người chinh phụ đã khai thác hết mọi khả năng, mong làm cho mình bớt sầu, bớt khổ, mong được gặp lại chồng nhưng đằng nào cũng thấy dựng lên những bức tường cao ngất. Bế tắc đến tuyệt vọng, chinh phụ đã phải thốt lên thật cay đắng: Lòng này hóa đá cũng nên E không lệ ngọc mà lên trông lầu Chinh phụ tưởng chừng như không còn đủ sức chịu nổi nỗi đau đớn phải lên lầu một lần nữa. Cơn khủng hoảng tinh thần đã lên tới đỉnh điểm, con người thật trong chinh phụ đã bắt đầu cất tiếng nói, nàng hối hận vì giấc mộng công hầu mà để chồng ra đi chinh chiến để rồi hạnh phúc tuổi xuân bị dang dở: Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, Thà khuyên chàng đừng chịu sắc phong Trong con người chinh phụ giờ đây niềm tây đã chiến thắng phép công. Nàng đã dám phủ nhận lí tưởng công danh, nàng đã hiểu hạnh phúc lứa đôi có ý nghĩa hơn chiếc ấn phong hầu. Ðây cũng là một nét tâm lí phổ biến của con người thời đại lúc bấy giờ, chàng trai trong Chinh phu ngâm khúc cũng đã thú nhận: Lòng ta không muốn mặc áo giáp Bụng nàng há muốn giữ chinh y -Ý nghĩ Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong đặt vào hoàn cảnh lúc bấy giờ nó có ý nghĩa lúc bấy giờ vì nó coi trọng hạnh phúc, coi trọng sinh mệnh của con người. Nó có ý nghĩa phản chiến vì nó đối lập với âm mưu của giai cấp thống trị muốn dùng cái bả công danh để thúc đẩy binh sĩ, tướng tá ra trận để bảo vệ ngai vàng cho chúng, làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng do điểm xuất phát của chinh phụ chỉ là hạnh phúc cá nhân, cho nên phản ứng của nàng chỉ có thể dừng lại ở mức độ đó. 4.Người chinh phụ tìm cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa niềm tây và phép công bằng sự cầu nguyện. -Nàng cầu mong cho ông trời phù hộ cho chồng mình trăm trận nên công và trở về trong ánh hào quang của chiến thắng với mọi vinh dự mà chế độ phong kiến có thể đưa lại cho những kẻ đã tận tâm phục vụ nó.
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 2 NĂM 2008 - CÔNG TY CỔ PHẦN BÔNG BẠCH TUYẾT

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 2 NĂM 2008 - CÔNG TY CỔ PHẦN BÔNG BẠCH TUYẾT

TP. HCM, ngày 24 tháng 07 năm 2008KẾ TOÁN TRƯỞNGTỔNG GIÁM ĐỐCĐơn vị: CÔNG TY CP BÔNG BẠCH TUYẾTMẫu số B 09-DNĐịa chỉ: 550 ÂU CƠ , F10, Q TÂN BÌNH(Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTCNgày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC )BẢN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNHQuý:II/2008I- Đặc điểm hoạt động1- Hình thức sở hữu vốn: Cty CP Bông Bạch Tuyết đựơc thành lập theo Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 064086 ngày 28/05/1998, thay đổi lần thứ 7ngày 07/06/2007, do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. HCM cấp.2- Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất, Thương mại.3- Ngành nghề kinh doanh: SX, Kinh doanh các loại Bông y tế , băng vệ sinh và các sản phẩm khác từ Bông, băng. Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, kinh doanh nhà ở,cho thuê văn phòng, mua bán thiết bị công nghiệp, xây dựng, điện, điện tử, hàng gia dụng, lương thực thực phẩm, hàng trang trí nội thất, VPP,Văn hoá phẩm có nội dung được phép lưu hành. Bổ sung: Mua bán trang thiết bị y tế, môi giới thương mại, sản xuất và mua bán các loại Băng, gạc.II- Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán1- Niên độ kế toán (bắt đầu từ ngày 01/01/2008 kết thúc vào ngày 31/12/2008).
Xem thêm

18 Đọc thêm

MIÊU TẢ VẺ ĐẸP CHỊ EM THÚY KIỀU

MIÊU TẢ VẺ ĐẸP CHỊ EM THÚY KIỀU

Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một trong những đoạn thơ tả người hay nhất, đẹp nhất không chỉ bởi ngôn ngữ thơ trong sáng mà còn bởi ở đó có hai chị em nhà họ Vương nhan sắc, tài năng đều hội tụ đủ đầy. Đọc truyện Kiều mấy ai không nhớ vẻ đẹp sắc nước hương trời của hai người con gái đầu lòng của ông bà Vương viên ngoại: Đầu lòng hai ả tố nga Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Chỉ bốn câu thơ thôi tác giả đã giới thiệu với chúng ta hình ảnh hai người con gái xinh đẹp, dáng hình mảnh dẻ, thanh tao như mai và tâm hồn trắng trong như tuyết. Vẻ đẹp của cả hai đều đạt đến mức “mười phân vẹn mười” nhưng nét bút của Nguyễn Du vẫn muốn đậm nhạt “mỗi người một vẻ”. Trước hết là vẻ yêu kiều của Thuý Vân: Vân xem trang trọng khác vời Khuân trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Vân mới đẹp làm sao Con người nàng toát lên vẻ trang trọng khác vời, từng đường nét dường như đều là một kỳ công của tạo hoá: gương mặt tròn đầy, tươi sáng như ánh trăng, đôi mày dài thanh thoát, miệng cười tươi thắm như hoa, tiếng nói trong như ngọc, mái tóc mềm hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết …Cô gái ấy đã đẹp người lại ý nhị, đoan trang. Vẻ đẹp của nàng sánh ngang sự sáng trong của trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời. Dường như phải tả như thế mới nói hết vẻ yêu kiều của một giai nhân. Vẻ đẹp của Thuý Vân đươc thiên nhiên ưu ái nhường nhịn nên có lẽ cuộc đời sẽ phẳng lặng ấm êm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH "NỖI THƯƠNG MÌNH" (TRUYỆN KIỀU

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH "NỖI THƯƠNG MÌNH" (TRUYỆN KIỀU

I. Tìm hiểu chung 1.Vị trí đoạn trích. Bị bán vào nhà chứa của mụ Tú Bà. Thúy Kiều rút dao tự vẫn nhưng không chết. Đạm Tiên báo mộng số nàng chưa thoát kiếp đoạn trường. Mụ Tú Bà cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích. Mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà bắt về đánh đập dã man, buột Kiều phải tiếp khách. Đoạn trích này bắt đầu từ đó ( Câu 1229 đến câu 1248). 2. Bố cục :hai đoạn + Đoạn một, mười câu đầu: Cảnh sống ô nhục ở lầu xanh và tâm trạng đau đớn, tủi nhục của Thúy Kiều. + Đọan hai, còn lại: Thái độ thờ ơ của Thúy Kiều trước cảnh, thú vui ở lầu xanh, ý thức về nhân phẩm của nàng. II. Đọc – hiểu 1. Cảnh sống ở lầu xanh - Trong mười câu thơ đầu, có tới 4 câu tác giả miêu tả cảnh sống ở lầu xanh: Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm Dập dịu lá gió cành chim Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh Biết bao : diễn tả sự việc xảy ra thường xuyên, rất nhiều không thể tính được. Sau từ “biết bao” là cuộc sống xô bồ, trác tác “cuộc say đầy tháng”, “trận cười suốt đêm”. “Trận cười” chứ không phải tiếng cười. Đó là cái cười khả ố, tiếng cười khả ố, tiếng cười của kẻ thỏa mãn trong sắc dục, dâm dật đến điên lọan. - Cái tài của Nguyễn Du là sử dụng các thành ngữ và tách thành ngữ để mang sắc điệu riêng: “ong bướm lả lơi” thành “bướm lả, ong lơi” gây ấn tượng về sự giao tình ở chốn lầu xanh mụ Tú Bà. - Hình ảnh “lá gió cành chim” giúp người đọc có sự liên tưởng: Lá đón gió, cành đón chim như thân phận của con gái làm những việc đưa và đón, sớm và tối. Nhục nhã bao nhiêu khi thể xác bị dày vò. Nhịp thơ diễn tả sự buông thả thân xác người con gái, mặc cho khách làng chơi tha hồ đùa cợt. Chỉ bốn câu thơ mà cuộc sống ở lầu xanh hiện ra mồn một. Trong dòng chảy đục ngầu những dơ bẩn của nhà chứa. Thái độ Thúy Kiều như thế nào? - Diễn tả nổi thương mình của Thúy Kiều: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh … ong chường bấy thân” Đây là 6 câu thơ diễn tả nỗi đau đớn đến tê đi tái lại: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa” Chỉ khi “tỉnh rượu”, “tàn canh”, Kiều mới được sống với chính mình. Đấy là lúc nàng “giật mình” xót xa vì thân xác bị dày vò, thảm hại. - Ba tiếng mình trong câu tám cũng để chỉ một Thúy Kiều, diễn đạt nỗi đau mất mát chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay. Nỗi đau chỉ mình biết thôi đau lắm, xót lắm. Nó không thể san sẻ cùng ai. Đây cũng là biệt tài của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ. Từ nỗi đau của thân phận, lời thơ bật lên những câu hỏi: “Khi sao phong gấm rả là… Giờ tan tác như hoa giữa đường Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân” - Những từ ngữ sóng đôi khi/giờ, mặt/thân đặt trong những câu hỏi: Khi sao? Giờ sao? Mặt sao? Thân sao? Cả quá khứ và hiện tại, cả đời sống tinh thần và thân xác, tất cả đem đến cho người đọc hai đọan đời và muôn nỗi tái tê. - Thúy Kiều ý thức được về thân phận của mình qua liên tưởng “tan tác như hoa giữa đường”. Đời nàng, thân phận nàng lúc này như bông hoa rụng vứt giữa đường bị bao bước chân vô tình xéo, đap không thương tiếc. - Nguyễn Du đã sử dụng những thành ngữ và tách thành những câu riêng: + “Gió sương dày dạn” : dày gió, dạn sương diễn tả sự chai lì không còn biết gì là xấu hổ nữa. + “Ong bướm chán chường” : “Bướm chánong chường” diễn tả sự ê chề mỏi mệt đến chán chường của thân xác và tinh thần của Thúy Kiều. Đời nàng lại đến như thế ư? Thúy Kiều đã ý thức được tất cả càng thấy thương mình. Ơû đây có nỗi đau của thân phận, nỗi đau thay đổi giá trị con người. Kiều càng thấy thương thân, tiếc thân. Đây thực chất là những tiếng kêu vút lên từ ngục tối nhà chứa. Nó đòi quyền sống quyền hạnh phúc cho con người. Vì thế thế đọan trích góp phần làm nên giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều”. 2. Thái độ của Kiều trước thú vui của khách - Cách chiêu hàng của mụ Tú Bà thể hiện rất rõ: “Lầu xanh mới rủ chướng đào Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người” Ơû đó có nhiều phong cảnh đẹp: “Đôi phen gió tự hoa kề Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu” Câu thơ miêu tả vẻ đẹp đặc trưng của bốn mùa xuân, hạ thu, đông. Mùa xuân có hoa, mùa hạ có gió mát, mùa thu có trăng trong trẻo, mùa đông có tuyết. Đó là vẻ đẹp của phong hoa tuyết nguyệt. - Đến các thú vui: “Đôi phen nét vẽ câu thơ Cung cầm trong nguỵêt nước cờ dưới hoa” Đó là thú cầm, kì, thi, họa. Thúy Kiều biết tất cả đấy. Nhưng thái độ của nàng hoàn toàn khác. Nàng thờ ơ với tất cả. Cách kể và miêu tả của Nguyễn Du rất rõ ràng mạch lạc. Người đọc nhận ra thái độ ấy: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Cái buồn của con người đã lây sang cả cảnh vật. Buồn như thế nàng vui làm sao được. Nàng phó mặc cho khách làng chơi: “Mặc người mưa Sở mây Tần “Những mình nào có biết xuân là gì” Mây mưa là chỉ sự ái ân của trai gái, xuân ám chỉ sự vui thú. Mặc cho khách làng chơi, nàng chẳng vui thú ân ái gì. Nếu có chăng là vui gượng, vui một cách miễn cưỡng: Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà với ai Vì nàng ý thức được nhân phẩm của mình bị chà đạp, bị vùi dập, thắt buột trong vòng hoen ố. Thái độ ấy thể hiện khát vọng sống trong trắng, không bao giờ hòa nhập với cuộc sống ở lầu xanh của Thúy Kiều. Đây là điều chúng ta đáng trân trọng Thúy Kiều. Đó là những câu: Mặc cho người mưa Sở, mây Tần Những mình nào biết có xuân là gì Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà chi ai a) Điệp từ - “Giật mình mình những thương mình xót xa” Ba tiếng mình cũng chỉ một Thúy Kiều. Đó là nỗi đau chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay. Đau lắm. b) Sóng đôi kết hợp với câu hỏi c) “Khi sao/giờ sao Mặt sao/Thân sao” Hình thức sóng đôi kết hợp với câu hỏi cứ trà đi sát lại mang đến cho người đọc hai đọan đời và muôn nỗi tái tê. Mặt là tinh thần, thân là thể xác. Tinh thần thì chai sạn không còn biết chai sạn là gì. Thể xác thì rã rời, trong các cuộc giao tình ong bướm. Thúy Kiều ý thức được điều ấy nên nỗi đau khổ về thân phận cứ tăng lên, xót xa lắm. d) Các tiểu đối - “Phong gấm rủ là”/ “tan tác như hoa giữa đường” - Dày gió/ dạn sương - Bướm chán/ ong chường - Nửa rèm tuyết ngậm/ bốn bề trăng thâu - Nước vẽ/ câu thơ - Cung cầm trong nguyệt/ nước cờ dưới hoa Biện pháp nghệ thụât này làm nổi bật tâm trạng trước cảnh sống sa hoa hình thức phô trương ở lầu xanh. e) Sử dụng thuật ngữ và tạo câu mới Tác giả nêu thực trạng ở lầu xanh và nỗi đau khổ, thương mình, tiếc thân của Thúy Kiều. - Đọan trích “Nỗi thương mình” thể hiện cảm giác đau đớn xót xa của Kiều trước thân phận, nhân phẩm bị chà đạp ở lầu xanh. - Đọan trích thể hiện tấm lòng và cái tài của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông sâu sắc với nỗi cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của con người. Cách sử dụng ngôn ngữ tài tình đã nâng cao giá trị biểu đạt. (Sưu tầm)
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nghị luận về đoạn thơ "Chị em Thuý Kiều" và nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du

NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN THƠ "CHỊ EM THUÝ KIỀU" VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN DU

Trong dòng văn học cổ Việt Nam,Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm văn học kiệt xuất . Tác phẩm không chỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, hấp dẫn ,lời văn trau chuốt, giá trị tố cáo đanh thép , giá trị nhân đạo cao cả mà còn vì các nhân vật trong truyện được ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du miêu tả vô cùng đẹp đẻ, sinh động . Đặc biệt là các nhân vật mà tác giả tâm đắc nhất như Thúy Vân, Thúy Kiều . Ngay phần đầu của Truyện Kiều Nguyễn Du đã khắc họa bức chân dung xinh đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân : “ Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị , em là Thúy Vân Mai cốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” Nói đến Mai là nói đến sự mảnh dẻ, thanh tao ; nói đến tuyết là nói đến sự trong trắng ,tinh sạch . Cả mai và tuyết đều rất đẹp .Tác giả đã ví vẻ đẹp thanh tao , trong trắng của hai chị em nhưlà mai là tuyết và đều đạt đến độ hoàn mĩ “ Mười phân vẹn mười” . Tiếp đó tác giả giới thiệu vẻ đẹp của Thúy Vân : “ Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn ,nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.” Nhà thơ đã sử dụng bút pháp ước lệ kết hợp với ẩn dụ để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân . Nàng có một vẻ đẹp mà hiếm thiếu nữ nào có được với khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm ,lông mày cong hình cánh cung như mày ngài . Miệng cười của nàng tươi như hoa nở, giọng nói của nàng trong như ngọc . Lại nữa da trắng mịn đến tuyết phải nhường . Ôi , thật là một vẻ đệp đoan trang, phúc hậu ít ai có được . Nguyễn Du đã miêu tả bức chân dung nàng Thúy Vân có thể nói là tuyệt đẹp .Đọc đoạn này ta thấy rung động trước vẻ đệp tuyệt vời cảu Thúy Vân và thêm thán phục thiên tài Nguyễn Du. Ông đã vận dụng biện pháp tu từ của văn thơ cổ vừa đúng đắn vừa sáng tạo . Nguyễn Du miêu tả Thuý Vân đã khiến ta rung động đến vậy , ông miêu tả Thuý Kiều thì ta còn bất ngờ hơn nữa . Bất ngờ đến kinh ngạc . Bắt đầu từ câu : “ Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” Nàng Vân đã tuyệt diệu như vậy rồi , nàng Kiều còn đẹp hơn nữa ư ? Có thể như vậy được không ? Ta hãy xem ngòi bút của Nguyễn du viết về nàng Kiều : “ Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kếm xanh Một hai nghiên nước nghiên thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai” Đến đây , chắc hẳn ta sẽ hài lòng và vô cùng thán phục . Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp Thuý kiều không dài , chỉ vài cau thôi , vậy mà ta như thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ “ tuyệt thế gia nhân” . Mắt nàng thăm thẳm như làn nước mùa thu , lông mày uốn cong xinh đẹp như dáng núi mùa xuân ; dung nhan đằm thắm đến hoa củng phải ghen , dáng người tươi xinh mơn mởn đén mức liễu cũng phải hờn . Khi đọc đến đoạn này ta không chỉ rung động , thán phục mà có một cảm giác xốn xang khó tả bởi nàng Kiều Xinh đẹp quá . Thủ pháp ước lệ,nhân hoá là biện pháp tu từ phổ biến trong văn học cổ được tác giả sử dụng xuất sắc , kết hợp với việc dùng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” , tác giả đã làm cho ta không chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ cảm nhận , mà như thấy tận mắt nàng Kiều . Nàng quả là có một vẻ đẹp “ sắc sảo mặn mà” Ta có thể nói là “có một không hai” làm mê đắm lòng người . Đọc hết những câu trên, ta mới hiểu được dụng ý của Nguyễn Du Khi miêu tả vẻ đẹp “đoan trang phúc hậu” của Thuý Vân trước vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” của Thuý Kiều . Nhà thơ đã sử dụng biện pháp đòn bẩy , dùng vẻ đệp của Thuys Vân để làm để làm tôn thêm vẻ đẹp yêu kiều , quyến rũ của Thuý Kiều rất có hiệu quả . Sắc đã vậy còn tài của nàng Kiều thì sao ? ta sẽ không cảm nhận được hết toàn bộ vẻ đẹp hình thể củng như vẻ đẹp tâm hồn cua Thuý Kiều nếu như ta không biết đến tài của nàng , mặc dù Nguyễn Du đã nói “ Sắc đành đòi một , tài đành hoạ hai” . Về sắc thì chắc chắn chỉ có miònh nàng là đẹp như vậy , về tài hoạ chăng có người thứ hai sánh kịp : : Thông minh vốn sẳn tính trời Pha mùi thi hoạ đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân” Nàng có cả tài thơ , tài hoạ , tài đàn , tài nào cũng xuất sắc , cũng thành “nghề” cả . Riêng tài đàn nàng đã sáng tác một bản nhạc mang tiêu đề “ Bạc mệnh” rất cuốn hút lòng người . Với hai nhân vật như Thuý Kiều Thuý Vân , Nguyễn Du đã sử dụng các biện pháp tu từ phổ biến trong văn thơ cổ như ước lệ , ẩn dụ , nhân hoá , dùng điển cố . Qua đó ta thấy vẻ đẹp phúc hậu , đoan trang của Thuý Vân Và vẻ đẹp “ sắc sảo măn mà” của Thuý Kiều . Hai bức chân dung của hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân , mà Nguyễn Du khắc hoạ phải nói là rất thành công . Đặc biệt là Thuý Kiều nhà thơ đã giành trọn tâm huyết , sức lực và tài năng của mình để sáng tạo nên nàng . Bởi nang là nhân vật chính của Truyện Kiều Như đã nói . Truyện Kiều thu hút người đọc phần lớn là nhờ nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du . Quả vậy nghệ thuật tả người của Nguyễn Du có thể gọi là bạc thầy trong nền văn học cổ Việt Nam . Tả hình dáng bên ngoài của nhân vật ông luôn làm toát lên cái tính cách , tâm hồn bên trong của nhân vật đó . Với Thuý Vân ông đã thực hiện biện pháp ước lệ để miêu tả vẻ đẹp : “ Khuôn trăng dầy đặn , nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp “ đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả của nàng qua từ “ thua” và từ “ Nhường”. Mây và tuyết thua avẻ đẹp của Thuý Vân nhưng cả hai đều chịu “ thua” và chịu “ nhường”một cách êm ả . Với Thuý Kiều , Tác giả dùng nhiều biện pháp tu từ để miêu tả vẻ đẹp “sắc sảo , mặn mà” của nàng.Những câu thơ miêu tả nàng có thể xem là tuyệt bút : [FONT=Arial] “ Làn thu thuỷ nét xuân sơn[/FONT] Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kém xanh” Trong hai câu thơ ,Nguyễn Du như đã dự báo số phận bấp bênhchìm nổi của Kiều qua các hình ảnh hoa và liễu thua vẻ đẹp của nàng nhưng không cam chịu thua mà còn “ ghen” còn “ hờn” và khúc nhạc bạc mệnh nàng sáng tác cũng như dự báo điều đó . Nói tóm lại , Nguyễn Du có nghệ thuật tả người rất đặc sắc và tiêu biểu . Mỗi nhân vật ông miêu tả dù tốt hay xấu , dù chính diện hay phản diện cũng đề biểu hiện được bản chất tâm hồn bên trong qua hình dáng bên ngoài . Nghệ thuật miêu tả , xây dựng nhân vật của Nguyễn Du rất đáng để chúng ta trân trọng và học tập .
Xem thêm

3 Đọc thêm

Hãy chứng tỏ rằng trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng tuyệt vời khi ông thực hiẹn thành công việc cá tính hoá nhân vật

HÃY CHỨNG TỎ RẰNG TRONG ĐOẠN TRÍCH “CHỊ EM THUÝ KIỀU”, NGUYỄN DU ĐÃ CHỨNG TỎ TÀI NĂNG TUYỆT VỜI KHI ÔNG THỰC HIẸN THÀNH CÔNG VIỆC CÁ TÍNH HOÁ NHÂN VẬT

Đề bài: Hãy chứng tỏ rằng trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng tuyệt vời khi ông thực hiẹn thành công việc cá tính hoá nhân vật. Bài làm: Trong tất cả những đại thi hào dân tộc thời Trung đại, ta hiếm khi có thể tìm được nhà thơ nào thành công như Nguyễn Du về mặt khắc hoạ nhân vật, đặc biệt là khi tả hai giai nhân Thuý Kiều và Thuý Vân trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. Với ngòi bút cực kì tinh tế và mĩ lệ, Nguyễn Du đã vẽ nên bức tranh chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân bằng tất cả những gì đẹp đẽ, mĩ lệ nhất mà vẫn tạo được những nét rất riêng, không trộn lẫn với nhau; tạo nên những bức tranh chân thực, sinh động, đa dạng. Về những đặc điểm chung của hai chị em thì Nguyễn Du không tả nhiều nhưng đã bộc lộ vẻ đẹp cả về hình thức lẫn nội dung của hai chị em. Khắc hoạ vẻ đẹp toàn diện, hoàn mĩ ấy, ngoài hình tượng phong cách tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân cách hoá hình tượng thiên nhiên, ông còn vận dụng rất nhiều tiểu đối: mười hai trên tổng số hai mươi tư câu thơ. Ông miêu tả chân dung nhân vật cũng là chân dung tính cách, số phận. Trong bốn câu thơ cuối, để khái quát và nhấn mạnh về cuộc sống phong lưu yên bình, phẳng lặng và khuôn phép mẫu mực của hai cô gái họ Vương, Nguyễn Du còn sử dụng nghệ thuật đảo ngữ hết sức độc đáo: “Phong lưu rất mực hồng quần”. Trong cuộc sống cấm cung theo chuẩn mực của phong kiến với kiểu “trướng rủ, màn che”, hai chị em đang độ tuổi cập kê vẫn không hề ngó ngàng, “mặc kệ” chuyện lứa đôi. Đó là một bức tranh về cuộc sống yên bình, phẳng lặng của hai nàng. Những hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp tuyệt đối trong trắng, vững bền thể hiện bút pháp lí tưởng hoá nhan sắc, cốt cách hai chị em Thuý Kiều. Tiết tấu cân đối, nhịp nhàng đã góp phần làm các vần thơ càng trở nên tuyệt diệu như chính hai giai nhân được miêu tả. Ngoài ra, Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều điển cố, điển tích và những từ loại có giá trị biểu đạt, biểu cảm cụ thể. Vẻ đẹp của Thuý Vân được so sánh với những thứ cao đẹp nhất trên đời: trăng, hoa, tuyết, ngọc. Chân dung nàng được miêu tả toàn vẹn bằng bút pháp ước lệ, bằng ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt. Trong bốn câu thơ tả Thuý Vân, Nguyễn Du đã đưa vào một số từ ngữ nôm na, có nhiều nghĩa. Ví dụ như “đầy đặn”, “nở nang” không chỉ miêu tả gương mặt tròn trịa, nét mày rõ ràng của Thuý Vân mà còn cho thấy sự phúc hậu, trang trọng của nàng. Hình ảnh “Hoa cười ngọc thốt đoan trang” cũng có hai cách hiểu: thứ nhất là giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc, và thứ hai là tiếng nói của nàng nghe hay như tiếng ngọc rung. Cách dùng từ “thốt” mới khéo léo làm sao. Nếu thay bằng “Hoa cười ngọc nói” thì lại hoá ra Thuý Vân là kẻ vô duyên lắm lời, ở đâu cũng nói. Nhưng còn từ “thốt” thì thể hiện một người con gái khiêm nhường, ý tứ, điềm đạm, khi cần thiết lắm mới cất lời, và cứ mỗi lời nói lại biểu lộ sự ngây thơ, trong trắng. Và thiên nhiên, tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, màu da tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường quang đãng, bằng phẳng của cuộc đời. Ta thấy có một điểm khá lạ ở những câu thơ tả Kiều tiếp theo đó: tác giả đã giới thiệu người em Thuý Vân trước người chị Thuý Kiều, tức là đi ngược lại trật tự thứ bậc phong kiến. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì đây là chân dung nghệ thuật, tác giả dùng biện pháp đòn bẩy. Không phảu ngẫu nhiên mà Thuý Vân chỉ hiện lên với bốn câu thơ, còn danh cho Thuý Kiều tới mười hai câu thơ, xác định vị ví nhân vật trung tâm. Như một bức tranh, nét vẽ của thi nhân thiên về sự gợi tả đường nét, màu sắc đậm hay nhạt, nổi bật hay lu mờ… Trên nền của Thuý Vân những tưởng đã là người phụ nữ hoàn hảo, nhưng nổi bật lên trên hình ảnh nàng là một trang quốc sắc còn rực rỡ hơn, một tài trí sắc sảo và một tâm hồn mặn mà hơn: Nàng Thuý Kiều. Câu thơ đầu tiên nói về nàng đã gây một ấn tượng mạnh mẽ: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”, khiến người đọc ngay lập tức ra một dung nhan rất có hồn, có thần sắc sinh động. Hình ảnh “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn” mang tính chất ước lệ, đồng thời cũng là ẩn dụ, gợi nên một đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt như nước hồ thu có thể nhìn thấu xuống tận đáy, đôi mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Đôi mắt đó là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh anh của trí tuệ, tâm hồn đa sầu đa cảm. Tả Kiều, tác giả không đặc tả cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn- vẽ hồn cho nhân vật, gợi nên vẻ đẹp chung của một giai nhân tuyệt sắc. Vẻ đẹp khiến cho hoa ghen, liễu hơn, nước nghiêng thành đổ. Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị hai ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ, cuốn hút lạ lùng. Nêu sắc đẹp của Vân được sánh ngang với những báu vất tình khôi của đất trời thì chân dung của Kiều lại được ví với nước non như sự rộng dài sâu thẳm của đất trời. Và vẫn cùng một công thức dùng từ ngữ có tính chất dự báo, nhân cách hoá thiên nhiên như khi tả Thuý Vân, ta thấy được rằng tạo hoá có vẻ đang “hờn ghen”, mai phục Thuý Kiều. Cuộc đời nàng như được báo trước rằng sẽ đầy rẫy tai ương, trắc trở để trả giá cho tài trí và nhan sắc có một không hai. Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Thuý Kiều. Không như Thuý Vân chỉ tả nhan sắc, còn Thuý Kiều thể hiện được cả sắc- tài- tình. Tài năng của nàng đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: cấm, kì, thi, hoạ. Tác giả đặc tả tài đàn, là sở trường, năng khiếu, nghề riêng của nàng. Không chỉ vậy, nàng còn giỏi sáng tác nhạc. Đặc biệt nàng thích chọn những cung đàn bạc mệnh. Đây là những tín hiệu dự báo cuộc đời Kiều sẽ long đong lận đận. Cung đàn Bạc mệnh ghi lại tiếng lòng của một trái tim nhạy cảm, đời sống nội tâm phong phú..Một sắc đẹp rực rỡ, đằm thắm bởi sự phong phú của tâm hồn, sự thông tuệ và tấm lòng giàu cảm xúc đã thực sự ngời sáng trong toàn bộ đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. Tóm lại đọc đoạn trích “Chị em Thúy Kiều“ chúng ta thấy rõ tài năng sáng tạo của thi hào Nguyễn Du. Ngòi bút của nhà thơ thật linh hoạt; khi tả chi tiết, khi chấm phá, khi tuân theo ước lệ, khi phá vỡ khuôn phép… để hoàn chỉnh 2 bức chân dung tuyệt tác Thúy Vân và Thúy Kiều vừa cực kì hoàn hảo vừa có những nét rất riêng. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quý mến trân trọng. Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du mà ta cảm nhận được. Tuy là bức vẽ bằng ngôn từ nhưng người đọc đời nay vẫn thấy ở đó một quan điểm thẫm mỹ tiến bộ, mộ tấm lòng yêu thương của nhà thơ hướng về con người để có thể vẽ nên nhân dáng con người trọn vẹn đến như thế.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga

ĐỀ TÀI BẢN TÍNH NỮ TRONG THƠ TUYẾT NGA

Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Bài nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về thơ Tuyết Nga phải kể đến đó là bài viết của Lê Thành Nghị: “Bản tính nữ trắc ẩn và suy tưởng”. Đây là bài viết khái quát cả ba tập thơ của Tuyết Nga. Lê Thành Nghị đã tiếp cận thơ chị từ góc độ giới tính và nhận ra được đặc trưng tính nữ trong thơ Tuyết Nga là “trắc ẩn và suy tưởng”. Và điều đó thể hiện rõ nét qua những vần thơ được “vỗ cánh từ thật sâu trong biển quên của kí ức”, những vần thơ mang nỗi “lo âu, thấp thỏm” về nhân thế, về tình yêu, về duyên phận mình,... Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra bút pháp nghệ thuật chủ yếu mà Tuyết Nga dùng để miêu tả những trắc ẩn ấy là “không gian của suy tưởng, không gian nhuốm màu phi thực, một không gian siêu thực” và một “mô thức thời gian không cùng chiều”. Bài viết của Lê Thành Nghị cho ta thấy cái nhìn bao quát nhất về thơ Tuyết Nga để thấy được thơ ấy có một “vẻ đẹp lặng lẽ” đến vô cùng, có một vẻ đẹp giàu chất nữ tính. Những đánh giá của bài viết trở thành một tài liệu quý báu cho đề tài của chúng tôi. Bởi đề tài “Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga” chính là sự phát triển hơn bài viết của Lê Thành Nghị về chiều sâu và quy mô. Nó mang tính chất của bài nghiên cứu khoa học chứ không dừng lại ở bài phê bình văn học. Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Bên cạnh đó, còn có những bài viết như “Người đàn bà không nhìn đời bằng ảo giác” của Vũ Nho cũng tiếp cận ba tập thơ về phương diện nội dung. Bài viết “Về một dòng thơ cần giải thích, thơ Tuyết Nga hay vì sao?” của Đỗ Quyên, lại đi chứng minh cho người đọc thấy được những tài tình của Tuyết Nga trong việc sáng tạo nghệ thuật. Ngoài những bài viết mang tính tổng hợp là những bài phê bình riêng cho từng tập thơ của Tuyết Nga. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại dành nhiều giấy bút cho hai tập thơ Ảo giác và Hạt dẻ thứ tư. Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Kể từ tập “Viết trước trước tuổi mình” (NXB Nghệ An, 1992) đến tập Ảo giác(NXB Hà Nội, 2002) và đến Hạt dẻ thứ tư (NXB Văn học, 2008), thơ Tuyết Nga có những bước tiến đáng ghi nhận và thơ chị càng ngày càng đạt đến vẻ đẹp của thơ hiện đại. Đầu tiên, phải kể đến là những lời ngợi ca của các nhà nghiên cứu dành cho tập Ảo giác qua một số bài viết như: Đắm say với ảo giác – Đinh Nam Khương, Thế giới thực trong cõi ảo – Chu Thị Thơm, Ảo giác vết thương chìm – Nguyễn Trọng Tạo, Những giọt nắng chắt từ miền rong rêu – Nguyễn Đăng Điệp. Đa số, các bài viết khai thác chất ảo trong tập thơ này, thế giới thơ Tuyết Nga đưa chúng ta đến thật lạ lẫm, huyền ảo và mông lung. Đinh Nam Khương đến với Ảo giác và đưa ra nhận xét sắc sảo về con người văn chương cũng như thành công của tác giả về nội dung và nghệ thuật. Đinh Nam Khương đã khẳng định một “Tuyết Nga tài hoa, huyền bí, lạ lẫm, yểu điệu, sang trọng, tinh tế, biến hóa và sâu sắc đến lạ lùng”. Tuyết Nga ở chỗ khả năng biến hóa mỗi bài thơ của chị như “bức tranh thi hứng theo trường phái ấn tượng”, mỗi chữ thấy rõ “dấu ấn của sự lao động nghệ thuật ở đẳng cấp cao” thể hiện ở chỗ “những câu thơ chấp dính lòng thòng, thơ giàu chất tương trưng”, sâu sắc ở chỗ thơ chị luôn đề cập tới nỗi đau nhân thế. Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Nếu như Đinh Nam Khương đánh giá chủ yếu về mặt nghệ thuật thì Chu Thị Thơm trong bài viết “Thế giới thực trong cõi ảo” đã gia công về phần giá trị nội dung. Chị khẳng định “nét độc đáo của tập thơ là chỗ Tuyết Nga đã đưa người đọc đến với cõi ảo để từ đó trong tâm thức mỗi người lại độc hành về với cõi thực”. Chu Thị Thơm đã phân tích một số bài thơ trong Ảo giác để cho người đọc hiểu được thế giới thực thật bất hạnh, khổ đau, những lo toan bộn bề, những dự cảm không lành sau bóng của hạnh phúc. Tuy nhiên, thơ chị không đẩy người đọc vào sợ hãi mà làm “người đọc trăn trở được yêu thương mà tự khơi dậy trong mình đức tin”. Nguyễn Trọng Tạo với bài viết Ảo giác vết thương chìm, ông đã khai thác khía cạnh nỗi đau trong Ảo giác. Khác với những cây bút khác khi viết về nỗi đau thường cuộn xiết hú gào. Sang tập thơ được xuất bản gần đấy nhất: Hạt dẻ thứ tư, đây là tập thơ mang đặc trưng nhất của thơ đương đại bây giờ. Phan Chí Thắng với bài viết “Mười thương” đã có những cảm nhận hết sức tinh tế về tập thơ. Đọc xong 29 bài thơ trong Hạt dẻ thứ tư, nhà thơ cảm nhận được con người Tuyết Nga qua thơ tương ứng với những đặc điểm của người con gái Huế trong bài ca dao Mười thương và ông đã lấy thơ chị để chứng minh. Đây là một sự cảm nhận hết sức tinh tế không phải ai cũng nhận ra được. Hay trong bài giới thiệu của nhà Sách Đông Tây về tập thơ “Hạt dẻ thứ tư” của tác giả Tuyết Nga (Nxb Văn học, Qúy IV-2008), có bài viết Tuyết Nga - Hạt dẻ thứ tư tìm thấy, tác giả bài viết tập trung nhấn mạnh vào cảm thức về thời gian trong thơ chị. Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh khả năng sử dụng ngôn ngữ tài tình của nhà thơ. Lời giới thiệu ngắn gọn nhưng cũng đã khái quát được những đặc trưng tiêu biểu trong tập thơ này và kích thích bạn đọc tìm đến với tập thơ. Ngoài những bài bình luận trên kể thêm vào đó là bài viết của Bình nguyên Trang – Người thơ một mình góc khuất, hay Thuận Nghĩa - Hạt dẻ thứ năm,...cũng dành những lời hay ý đẹp để bình luận về bài thơ Trong phạm vi hẹp hơn hẳn, có một số tác giả đi vào bình một bài thơ cụ thể trong hệ thống thơ của Tuyết Nga chẳng hạn như: Tháng mười tình yêu gửi lại – Hà Linh, Ảo giác một giọng điệu riêng – Tú Tâm, treo đèn lồng vào gió, Mắt – Vương Cường, Rồi một ngày, nói với con về bà ngoại,...Qua việc phân tích một số bài thơ, các tác giả cũng đưa ra một số lời nhận xét khái quát nhất cho phong cách nghệ thuật thơ Tuyết Nga. Trên đây là những ý kiến tham khảo hết sức quý báu đối với chúng tôi trong việc tìm hiểu thơ Tuyết Nga. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy thơ Tuyết Nga được nghiên cứu ở các cấp độ, tuy nhiên sự nghiên cứu vẫn chưa hoàn thiện và chưa sâu. Chọn hướng nghiên cứu từ góc độ giới tính và những biểu hiện của nó chúng tôi mong góp một tiếng nói nhỏ bé của mình và cùng với các bài viết, các công trình đã có từ trước để có thể khẳng định sâu sắc hơn nữa đặc trưng riêng của thơ Tuyết Nga. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng: chúng tôi tập trung triển khai trong khóa luận là bản tính nữ được biểu hiện trên hai phương diện cả nội dung và nghệ thuật trong các tập thơ của Tuyết Nga Phạm vi khảo sát: Để thuận tiện cho việc làm sáng rõ đề tài, chúng tôi nghiên cứu qua những tập thơ: Viết trước tuổi mình, Ảo giác, Hạt dẻ thứ tư. 4.Phương pháp nghiên cứu. 4.1.Phương pháp hệ thống. Chúng tôi quan niệm thơ Tuyết Nga là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống. Vì thế khi nghiên cứu tổng thể thơ Tuyết Nga cũng như một số phương diện chúng tôi không xem nó như những yếu tố riêng lẻ, rời rạc mà đặt nó trong hệ thống chung để tìm ra một trật tự nhất định 4.2.Phương pháp thống kê, phân loại. Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích những nhận xét về thơ Tuyết Nga có chứng cứ cụ thể. Một mặt nó cũng giúp cho việc so sánh đối chiếu thêm sức thuyết phục. Mặt khác,qua những yếu tố lặp lại làm nổi bật phong cách nhà thơ Phương pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể cho người nghiên cứu tổng hợp được số liệu chứng minh cho các nhận định đánh giá 4.3.Phương pháp so sánh So sánh đồng đại và lịch đại để thấy được những nét độc đáo, riêng biệt của Tuyết Nga so với các nhà thơ khác. Đồng thời để thấy được những cách tân độc đáo của thơ chị đối với thơ truyền thống 4.4.Phương Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga Đề tài Bản tính nữ trong thơ Tuyết Nga
Xem thêm

58 Đọc thêm

lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh (tài liệu free)

LÝ TUYẾT VÀ BÀI TẬP VỀ THÌ TRONG TIẾNG ANH (TÀI LIỆU FREE)

lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh lý tuyết và bài tập về thì trong tiếng anh
Xem thêm

42 Đọc thêm

Cùng chủ đề