QUY TRÌNH LẬP PHÁP CỦA TRUNG QUỐC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUY TRÌNH LẬP PHÁP CỦA TRUNG QUỐC":

Hoàn Thiện Quy Trình Tổ Chức Thực Hiện Hợp Đồng Xuất Khẩu Hàng May Mặc Sang Thị Trường Trung Quốc Tại Công Ty TNHH Maritime Việt Nam

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC TẠI CÔNG TY TNHH MARITIME VIỆT NAM

MỤC LỤC CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: 1 1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 1 1.2. Các mục đích nghiên cứu 1 1.3. Đối tượng nghiên cứu. 2 1.4. Phạm vi nghiên cứu 2 1.5. Phương pháp nghiên cứu. 2 1.6. Kết cấu của khóa luận 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA. 3 2.1. Một số khái niệm. 3 2.1.1 Khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế. 3 2.1.2 Bản chất hợp đồng thương mại quốc tế. 3 2.1.3 Vai trò của hợp đồng thương mại quốc tế. 3 2.2.Nội dung quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 4 2.2.1. Xin giấy phép (nếu có) 4 2.2.2 Giục người mua mở LC 4 2.2.3. Chuẩn bị hàng xuất khẩu 4 2.2.4. Kiểm tra hàng xuất khẩu 5 2.2.5. Thuê vận chuyển chặng chính (nếu có) 5 2.2.6. Mua bảo hiểm (nếu có) 5 2.2.7. Làm thủ tục hải quan xuất hàng. 6 2.2.8. Giao hàng cho người vận tải. 7 2.2.9. Làm thủ tục thanh toán 8 2.2.10. Giải quyết khiếu nại (nếu có) 9 2.3 Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Trung Quốc của công ty TNHH MARITIME VIỆT NAM.Do công ty thực hiện xuất khẩu theo điều kiện FOB nên quy trình gồm các bước sau: 9 2.3.1 Chuẩn bị hàng xuất khẩu 9 2.3.2. Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu 11 2.3.3. Làm thủ tục hải quan xuất khẩu 12 2.3.4. Giao hàng cho người vận tải 13 2.3.5 Lập bộ chứng từ thanh toán 14 2.3.6. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại. 15 CHƯƠNG 3:THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY TRÌNH CỦA HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC SANG CÁC THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC CỦA CÔNG TY MARITIME VIỆT NAM. 16 3.1 Tổng quan về công ty TNHH Maritime Việt Nam 16 3.1.1. Qúa trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Maritime Việt Nam 16 3.1.2. Các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh của Maritime Việt Nam. 17 3.1.3.Cơ cấu bộ máy quản trị 17 3.1.4.Nguồn nhân lực và chính sách quản lý nguồn nhân lực 18 3.1.5.Trang thiết bị,cơ sở vật chất phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. 18 3.2. Khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 19 3.2.1 Hoạt động nhập khẩu các nguyên phụ liệu ngành may mặc. 20 3.2.2 Hoạt động xuất khẩu ra thị trường quốc tế. 22 3.3. Thực trạng quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Trung Quốc của công ty. 24 3.3.1:Kết quả điều tra trắc nghiệm: 24 3.3.2 Kết quả đánh giá của chuyên gia. 25 3.3.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Trung Quốc của công ty TNHH MARITIME VIET NAM. 26 3.3.3.1 Chuẩn bị hàng hóa XK. 26 3.3.3.2 Kiểm tra hàng hóa. 27 3.3.3.3 Làm thủ tục hải quan xuất hàng . 27 3.3.3.4 Giao hàng cho phương tiện vận tải. 28 3.3.3.5 Thủ tục thanh toán. 29 3.3.3.6 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại. 29 3.4.Đánh giá chung về quá trình thực hiện hợp đồng XK hàng may mặc của công ty. 30 3.4.1 Những ưu điểm đạt được. 30 3.4.2 Nhược điểm. 31 Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH XK CỦA CÔNG TY MARITIME VIỆT NAM. 32 4.1 Các giải pháp hoàn thiện những tồn tại gây khó khăn cho công ty 32 4.1.1 Tổ chức khâu chuẩn bị hàng hóa 32 4.1.2 Kiểm tra chất lượng hàng hóa trong quá trình sản xuất. 32 4.1.3 Hoàn thiện khai báo hải quan 32 4.2 Đánh giá chung và kiến nghị cho công ty. 33 3.4.1 Đánh giá chung 33 3.4.2. Một số kiến nghị 34 KẾT LUẬN 36 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. PHụ LUC.
Xem thêm

47 Đọc thêm

THẨM TRA LỒNG GHÉP GIỚI VAI TRÒ CỦA UỶ BANVỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

THẨM TRA LỒNG GHÉP GIỚI VAI TRÒ CỦA UỶ BANVỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Thẩm tra lồng ghép giới - Vai trò của uỷ banvề các vấn đề xã hội, hĐdt và các uỷ ban kháctrong lồng ghép giới vào quá trình xây dựngcác dự án luậtNgười trình bày : lương phan cừphó chủ nhiệm Uỷ ban Về các vấn đề xã hộicủa quốc hội1i.Vai trò, vị trícủa Uỷ ban về các vấn đề xã hội,Hđdt và các uỷ ban kháctrong quy trình lập pháp21.Quy trình lập pháp1.2.3.4.5.Xây dựng chương trình;Xây dựng và soạn thảo văn bản;Thẩm tra;Xem xét, thông qua;

35 Đọc thêm

Quy trinh san xuat lop xe radial

QUY TRINH SAN XUAT LOP XE RADIAL

Quy trình sản xuất lốp xe radial, quy trình công nghệ, quy trình lưu hoá, quy trình vận hành hệ thống. Kiến thức cơ bản về lốp radial, Tài liệu dịch từ tài liệu tiếng Trung do nhà máy sản xuất là do Trung Quốc chế tạo chuyển giao.

89 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XDCB TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN 2009 2012

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XDCB TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN 2009 2012

TRUNG QUỐC_ Trung Quốc đã dành một lượng Vốn đầu tư thích đáng từ NSNN để đầu tư Công tác quản lý nguồn vốn Quy trình quản lý dự án và chọn thầu Tiến độ xây dựng và giải ngân Chất lượng [r]

119 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TỔNG HỢP HƯU CƠ

TIỂU LUẬN TỔNG HỢP HƯU CƠ

Tamiflu, là một loại thuốc chống virút được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa cúm A và cúm B. Nhiều tổ chức y tế khuyên dùng nó ở những người bị biến chứng hoặc có nguy cơ biến chứng cao trong vòng 48 giờ kể từ khi có triệu chứng nhiễm trùng đầu tiên. Quá trình tổng hợp Tamiflu là quá trình phức tạp và khó khăn, hiện chỉ có một vài công ty dược phẩm nắm được quy trình tổng hợp Tamiflu từ acid shikimic. Acid shikimic thu được chủ yếu từ tinh dầu hồi. Đây là lợi thế của Việt Nam do hồi là cây đặc hữu, chỉ phát triển ở vùng hẹp tại Đông Bắc nước ta và Đông Nam Trung Quốc. Nắm được nguyên liệu chính để sản xuất Tamiflu là nắm được thế chủ động trong phòng và dập dịch, đặc biệt như dịch cúm gia cầm năm 2005. Chính vì những lý do trên mà em xin thực hiện bài tiểu luận với những thông tin về tổng hợp Tamiflu từ tinh dầu hồi.
Xem thêm

Đọc thêm

CHẾ ĐỊNH VỀ QUỐC HỘI VN TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP

CHẾ ĐỊNH VỀ QUỐC HỘI VN TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP

dụ: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…Một số ý kiến cho rằng mô hình độc viện không có được một sự cân nhắc, xemxét các dự luật đủ kỹ càng, thấu đáo. Hậu quả là nhiều đạo luật kém chất lượng đãđược ban hành. Cái giá mà nhà nước và xã hội phải trả cho những đạo luật như vậylà vô cùng to lớn. Ngoài ra, thành phần và lợi ích của xã hội là vô cùng đa dạng, mộtviện sẽ khó lòng đại diện hết được như Vương quốc Anh dùng Hạ nghị viện để đạidiện cho “thứ dân”, còn Thượng nghị viện để đại diện cho giới “quý tộc”; còn Cộnghòa Liên bang Đức dùng Hạ nghị viện để đại diện cho quốc gia, nhưng Thượng nghịviện để đại diện cho các bang.Ở đất nước ta, QH được hợp thành từ 63 đoàn đại biểu của 63 tỉnh, thành. Tínhđại diện cho các tỉnh của QH là rất lớn. Đại diện cho các tỉnh thì cũng tốt, nhưng đạidiện cho quốc gia quan trọng hơn nhiều. Bởi vì rằng, ưu tiên của quốc gia và ưu tiêncủa các tỉnh có thể rất khác nhau. QH là cơ quan hàng đầu của quốc gia, vì vậy tìnhđại diện của quốc gia phải được coi trọng hơn của các tỉnh.1.2.2. Quốc hội lưỡng việnKhác với QH độc viện, QH mô hình lưỡng viện với mục địch có hai viện lậppháp để bảo đảm nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau, cân bằng quyền lực. Tuy nhiên môhình lưỡng viện làm cho quy trình ban hành các luật và quyết định quá phức tạp,rườm rà. Một dự luật đã được Hạ nghị viện thông qua lại còn phải trình Thượng nghịviện theo một quy trình và thủ tục tương tự. Thượng nghị viện có thể thông qua, màcó thể chưa chắc đã thông qua dự luật. Hậu quả là mọi việc trở nên ách tắc và kéo dàilê thê. Chi phí về công sức, về thời gian và cơ hội sẽ rất to lớn.Mô hình này gồm có hai viện là Hạ nghị viện và Thượng nghị viện:- Hạ nghị viện là một trong hai viện của QH ở tại các Quốc gia lưỡng viện. Cácthành viên của viện này được chọn lựa qua bầu cử với chủ đích là một "viện của nhân4dân" phản ánh các ý kiến của công chúng. Đại biểu quốc hội (sau đây gọi là ĐBQH)
Xem thêm

66 Đọc thêm

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Qua một vài thập kỷ gần đây, hàng loạt các giải pháp đổi mới về cơ cấu tổchức và phương thức hoạt động đã được nghiên cứu và triển khai ở Nghị việncác nước như: (i) chuyển từ hoạt động theo thời vụ (chỉ họp một năm một vàilần) sang hoạt động thường xuyên; (ii) hình thành hệ thống ủy ban thường trựctheo hướng chuyên môn hóa và thiết lập các tiểu ban trực thuộc ủy ban; (iii) đổimới cơ cấu, sắp xếp nhân sự và nâng cao trình độ, kỹ năng cho các đại biểu; (iv)đổi mới, hoàn thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng, phương tiện, công cụ và môitrường làm việc.v.v. Những đổi mới đó đã góp phần mang lại diện mạo mới, sứcsống mới cho Nghị viện, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng lập pháp.Ngoài ra, một giải pháp đã được các nhà khoa học và Nghị viện các nướcchú trọng đó là thành lập và tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của cơquan nghiên cứu phục vụ hoạt động lập pháp. Rõ ràng là với một khối lượngcông việc đồ sộ và phạm vi, tính chất công việc của Nghị viện liên quan đến mọimặt của đời sống xã hội thì “sự hiểu biết và khả năng xử lý chính xác, hiệu quả”của cá nhân nghị sĩ sẽ khó được bảo đảm nếu không có “cơ chế” hỗ trợ. Đặcbiệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, thông tin và truyền thông nhưhiện nay thì việc tiếp nhận, sàng lọc và xử lý thông tin là đặc biệt cần thiết đốivới đại biểu cũng như các cơ quan của Nghị viện.Qua tìm hiểu cho thấy, đã có những tác phẩm, tác giả nghiên cứu về vấnđề này nhưng số lượng không nhiều và không tập trung nghiên cứu về tổ chức,hoạt động của cơ quan này. Thường là những bài viết giới thiệu về tổ chức, hoạtđộng của cơ quan nghiên cứu ở một quốc gia hoặc làm rõ vai trò của nó trongquy trình lập pháp. Có thể kể đến như:2- “Librarians in the Service of Parliament: The Recent Experience of theAustralian Parliamentary Library” tạm dịch là “Người quản lý Thư viện trong hệthống cơ quan phục vụ Quốc hội: Kinh nghiệm gần đây của Thư viện Quốc hội Úc”;
Xem thêm

92 Đọc thêm

CHẾ ĐỊNH CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG HIẾN PHÁP (CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP)

CHẾ ĐỊNH CHỦ TỊCH NƯỚC TRONG HIẾN PHÁP (CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP)

sự bất tín nhiệm với Nội các)Đối với Hiến pháp 2013:Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội vàđối ngoại "Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt nam về đối nội và đối ngoại" – Điều 86 Hiến pháp 2013 Chủ tịchnước chỉ đóng vai trò nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Nhà nước, thay mặtnước ta về đối nội và đối ngoại, chứ không đứng đầu Chính phủ như chế định Chủtịch nước trong Hiến pháp năm 1946.Với Chế định Chủ tịch nước của Hiến pháp 2013, Chủ tịch nước chỉ còn làngười đứng đầu bộ máy nhà nước Việt nam trên danh nghĩa, các quyền lực trongcác bản Hiến pháp trước đây hầu như đã bị thu hẹp và được giao lại cho Quốchộihay Chính phủ. Điều này cho thấy tư duy của nhà lập hiến trong việc xây dựnghình ảnh Chủ tịch nước trong vai trò Điều phối hoạt động, Điều hòa mối quan hệcủa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp và bảo đảm sự thông suốt trong quátrình vận hành của cả hệ thống cơ quan nhà nước.Hiến pháp năm 2013 kế thừa có chắt lọc những tinh hoa của Hiến pháp 1946,1959, 1980, 1992. Với thể chế chủ tịch tập thể như đã quy định trong Hiến phápnăm 1980 có nhiều nhược điểm như không nhanh nạy, không linh hoạt và khó khăntrong việc đối ngoại cho nên định Chủ tịch nước được khôi phục trở lại khá giốngvới chế định Chủ tịch nước năm 1959. Tuy nhiên, Chủ tịch nướcHiến pháp năm2013 quyền hạn không rộng như Chủ tịch nước năm 1946 và năm 1959, chỉ làngười đứng đầu về đối nội và đối ngoại thuần túy giống Hiến pháp 1992.Thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến “đàm phán, ký Điều ước quốctế” trong Hiến pháp năm 2013 cũng được quy định rõ ràng, chính xác, đầy đủ hơnKhoản h Điều 48 Hiến pháp năm 1946 quy định, Chủ tịch nước“Ký hiệp ước vớicác nước”. Theo Khoản 4 Điều 2 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốctế năm 2005 thì “Ký kết là những hành vi pháp lý do người hoặc cơ quan nhà nướccó thẩm quyền thực hiện, bao gồm đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt Điều ước
Xem thêm

43 Đọc thêm

VẤN ĐỀ ÁP DỤNG ÁN TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

VẤN ĐỀ ÁP DỤNG ÁN TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

Cao Bằng. Còn trong HVLL thì hình phạt Lưu được chép đúng như luật nhàThanh và chia làm ba bậc, Phạm nhân phải đày đi nơi xa 2000 dặm, 2500 dặmhoặc 3000 dặm là những khoảng cách giữa nơi sinh sống và nơi phạm tội phảichấp hành hình phạt. Ví dụ như nếu tỉnh của nạn nhân cư trú là Quảng Nammà bị phạt lưu 2000 dặm thì nơi mà người phạm tội phải đi đày là Biên Hòa.Các phạm nhân được tự do làm việc tuy nhiên người dân xưa thường khiếp sợhình phạt này vì đối với họ xa quê là một cực hình và nhiều trường hợp ngườiđi đày không trở về quê hương được nữa.Thứ năm là Tử (tội chết) là hình phạt được quy định áp dụng độc lập vàđược chia làm ba bậc tùy theo mức nặng nhẹ là: bậc thứ nhất là thắt cổ (giảo),chém (trảm), bậc thứ hai là chém bêu đầu (trảm kiều), bậc thứ ba là lăng trì(róc thịt cho chết dần). Như vậy, theo QTHL thì chỉ có tử là hình phạt có khảnăng được áp dụng độc lập. Còn theo HVLL thì tử là hình phạt nghiêm khắcnhất trong hệ thống ngũ hình. Hình phạt tử hình có hai bậc là giảo( thắt cổ) vàtrảm (chém đầu). Những phạm nhân bị xử tội giảo hay tội trảm mà hành hìnhngay thì gọi là giảo quyết và trảm quyết. Điều đặc biệt ở HVLL là không quy21định hình thức xử tử bằng lăng trì, điều này phù hợp với phần giải thích trongbộ luật “ Chết lăng trì là một hình phạt ghê khiếp nhất trong các hình phạt…Ngày nay vĩnh viễn bỏ nhục hình ấy, vĩnh viễn bỏ chỉ còn giữ lại hình phạtghê khiếp ngoài hết thấy mọi ghê khiếp này là bằng cách chém kẻ bất trung,bất hiếu thôi”. Tuy nhiên tại một số điều luật quy định về tội phạm trongHVLL lại quy định hình phạt tử hình bằng hình thức lăng trì (Điều 223,253,254,…). Việc quy định hình phạt bằng hình thức lăng trì là một sự mâuthuẫn với phần giải thích của bộ luật và điều này tạo ra sự hạn chế nghiêmtrọng trong lịch sử lập pháp hình sự của thời nhà Nguyễn. So với QTHL thìHVLL quy định hình phạt tử hình nghiêm khắc hơn nhiều, nếu QTHL khôngquy định chế định “Tộc tru” (giết cả họ) thì trong HVLL đã chính thức quy
Xem thêm

50 Đọc thêm

CAU CƠ CHE THUC HIEN QUYEN LUC CHINH TRI

CAU CƠ CHE THUC HIEN QUYEN LUC CHINH TRI

(kinh tế, chính trị, xã hội) do mình đưa ra. Chức năng đó được thực hiện thực hóa thông quacơ chế nội dung và cơ chế thực thể: Cơ chế nội dung được biểu hiện ở các nội dung: Cươnglĩnh, đường lối… thể hiện mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền. Hệ thống hiến pháp,pháp luật… để thể chế hoá mục tiêu chính trị đó. Hệ thống tổ chức thực hiện để thực hiện(hiện thực hoá) các mục tiêu trên trong đời sống xã hội. Việc kiểm tra, giám sát nhằm nângcao hiệu quả hiện thực hoá mục tiêu chính trị mà giai cấp cầm quyền đó nêu ra. Cơ chế thựcthể được biểu hiện ở các nhân tố tương ứng với Cơ chế nội dung ở trên là: Đảng cầm quyền;Cơ quan Lập pháp (Quốc hội hay Nghị viện); Cơ quan Hành pháp (Chính phủ); Cơ quanTư pháp (Toà án, Viện kiểm sát)Ngoài ra không thể không kể đến vai trò các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thamgia thực hiện cơ chế nói trên (ngoài ra đối với các nước TBCN thì Phương tiện thông tin đạichúng, hệ thống bầu cử cũng tham gia vào cơ chế đó)- Hiệu quả của cơ chế phụ thuộc vào: Tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối chínhtrị (các quyết sách chính trị) của giai cấp cầm quyền. Hệ thống Hiến pháp, pháp luật phải đầyđủ, đồng bộ, minh bạch và mang tính khoa học cao, ổn định. Năng lực tổ chức điều hành củacơ quan Hành pháp (từ Trung ương tới cơ sở).Tính kịp thời, chính xác, nghiêm minh của cơquan Tư pháp.Hiện nay, trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, để đảm bảo quyền lực thuộc vềnhân dân thì cần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong việc lãnh đạonhân dân thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”;Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Đổi mới tổ chứcvà phương thức hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội.Một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân trong thời kỳquá độ lên CNXH.2Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, toàn bộ quyền lực thuộc về nhândân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của
Xem thêm

6 Đọc thêm

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 2013

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 2013

Với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 1 chương và 27 điều so với Hiếnpháp năm 1992, bản Hiến pháp có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuậtlập hiến, thể hiện sâu sắc và toàn diện sự đổi mới đồng bộ cả về kinh tế vàchính trị; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước vàchế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhândân do Đảng lãnh đạo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân, quy định rõ ràng, đúng đắn, đầy đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội,văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chứcbộ máy nhà nước, về hiệu lực và quy trình sửa đổi Hiến pháp.1. Về Lời nói đầu: Lời nói đầu của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sởchắt lọc, lựa chọn ý tứ, từ ngữ để nêu bật được một cách ngắn gọn, súc tíchtinh thần, nội dung của Hiến pháp, phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc,những mốc lịch sử quan trọng, thành quả cách mạng to lớn mà Nhân dân ta đãđạt được. Lời nói đầu của Hiến pháp đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và khẳngđịnh chủ quyền của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảovệ Hiến pháp vì mục dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.2. Chế độ chính trị (Chương I): Chương I của Hiến pháp được xâydựng trên cơ sở sửa đổi tên Chương I của Hiến pháp năm 1992 (Nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Chế độ chính trị) và gộp với Chương XI củaHiến pháp năm 1992 (Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốckhánh). Về cơ bản, Hiến pháp tiếp tục kế thừa, khẳng định bản chất và mô hìnhtổng thể của thể chế chính trị đã được xác định và làm rõ hơn các vấn đề sau:- Khẳng định Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nướcđộc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hảiđảo, vùng biển và vùng trời (Điều 1);- Tiếp tục thể hiện xuyên suốt, nhất quán quan điểm “tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân
Xem thêm

15 Đọc thêm

tiểu luận cao học Về nguyên tắc thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CAO HỌC VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT, PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP QUYỀN LỰC GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội trong tất cả các thời đại. Theo suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi nhà nước ra đời đến nay đã có bốn kiểu nhà nước thay thế nhau và kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ và hoàn thiện hơn kiểu nhà nước trước. Giai cấp cầm quyền qua các thời đại đã dựa trên hai nguyên tắc cơ bản để tổ chức xây dựng bộ máy nhà nước, đó là nguyên tắc tập quyền và nguyên tắc phân quyền.Tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước dân chủ dù được xây dựng trên bất cứ nguyên tắc nào đều phải đảm bảo những cơ sở pháp lý để nhà nước đó tiến hành có hiệu quả các hình thức hoạt động cơ bản đó là hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chỉ có trên cơ sở đó nhà nước mới thực hiện được đầy đủ các chức năng nhiệm vụ của mình.Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang từng bước tổ chức, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng đó luôn được khẳng định qua các kỳ đại hội từ năm 1946 trở lại đây và nó được thể chế hoá vào Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi) tại điều 2: “ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ tri thức... quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Xem thêm

32 Đọc thêm

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

dân cấp huyện1.3- Hệ thống các tổ chức thực thi quyền hànhpháp Quyền HP là quyền thi hành PL do LP ban hành; tổ chức thựchiện các chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và điều hànhcác công việc chính sự hàng ngày của quốc gia Quyền HP đợc thực thi thông qua BMHP hay hệ thống các cơquan HCNN. Bộ máy này rất lớn(quy mô; nguồn lực; lĩnh vựcquản lý)để thực thi quyền hành pháp cần có quyền lập quy và quyềnhành chính Quyền lập quy là quyền ban hành các vn bản pháp quy (còngọi là vn bản dới luật).Tuỳ theo từng giai đoạn, từng nớc cóthể có nhng tên gọi khác nhau cho loại vn bản này. ở nớcta có các loại nh: Nghị định, Quyết định. v.v., để cụ thể hoá luật,thực hiện luật nhằm điều chỉnh nh ng quan hệ kinh tế-xã hộithuộc phạm vi quyền hành pháp. Dới góc độ pháp luật, có thểxem đây là sự uỷ quyền của lập pháp cho hành pháp để điềuhành các hoạt động cụ thể của quyền lực nhà nớc Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy hànhchính để quản lý đất nớc, sắp xếp nhân sự, điều hànhcông việc quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công
Xem thêm

23 Đọc thêm

SO SÁNH CƠ CHẾ BẢO HIẾN HOA KỲ VỚI VIỆT NAM

SO SÁNH CƠ CHẾ BẢO HIẾN HOA KỲ VỚI VIỆT NAM

Tài liệu miễn phí Judicial reviewConstitutional review: Giám sát tư pháp, thẩm định tư pháp, tài phán tư pháp… Ở đây được dịch là “bảo vệ Hiến pháp” hay “bảo hiến”: là thẩm quyền của các Tòa án của một quốc gia được xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp .

33 Đọc thêm

Vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc Quốc hội thảo luận và quyết định tài chính - ngân sách nhà nước

Vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc Quốc hội thảo luận và quyết định tài chính - ngân sách nhà nước

Xuất phát từ nguồn gốc quyền lực Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đối với hoạt động tài chính nhà nước gắn với vị trí, vai trò của Quốc hội trong mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, đòi hỏi việc tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân phải được thực hiện bằng pháp luật, hệ thống chính sách và hệ thống công cụ kinh tế - tài chính.

Đọc thêm

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠOVÀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HƯỚNG PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠOVÀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HƯỚNG PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

Một là, thừa nhận tính độc lập của Chính phủ trong việc thực hiện nhữngchức năng vốn dĩ thuộc về hành pháp, đó là: chức năng quản lý nhà nước; chứcnăng bảo vệ trật tự xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia; chức năng bảo vệ quyềntự do của công dân. Nhấn mạnh những chức năng này sẽ góp phần thực hiện ýtưởng phân công quyền lực nhà nước.Hai là, hạn chế hoặc đưa ra giới hạn cho quyền lực hành pháp trong việcthực hiện những chức năng như: chức năng xây dựng pháp luật, chức năng thihành pháp luật, chức năng xử lý vi phạm pháp luật. Đồng thời cần tạo ra ranhgiới hoạt động lập quy của Chính phủ để thực sự đề cao vị trí và ưu thế củaQuốc hội. Khi tổ chức thi hành pháp luật, cơ quan hành chính không chỉ cụ thểhóa ý chí của nhà lập pháp mà còn phải sáng tạo để lấp đi những khoảng trốngcủa luật, pháp lệnh [9]. Điều này dẫn đến nguy cơ làm sai lệch quan điểm củanhà lập pháp. Hệ thống hành chính còn thực hiện thẩm quyền mang tính tư pháp.12Việc hạn chế khả năng sáng tạo pháp luật và thực hiện hoạt động có tínhchất tư pháp của hệ thống hành pháp sẽ góp phần đề cao vai trò của quyền lậppháp, tôn vinh luật. khắc phục rõ nét vị trí chấp hành của Chính phủ, bảo đảmnguyên tắc phân công quyền lực.Để đặt Chính phủ vào đúng vị trí của mình thì Quốc hội không còn sự lựachọn nào khác ngoài tập trung vào chức năng lập pháp nhằm hai mục đích: hạnchế tối đa việc ủy quyền lập pháp cho Chính phủ và thu hẹp những vấn đề cầngiao cho Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Do đó, cần ban hànhluật về ủy quyền, trong đó là nguyên tắc, nội dung, phmj vi, điều kiện và hìnhthức ủy quyền từ phía Quốc hội cho Chính phủ.3.2.Kiện toàn cơ cấu tổ chức của Chính phủ.Trong qua trình kiện toàn cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo hướng tinhgọn, đa ngành, đa lĩnh vực thì cần phải bảo đảm cơ cấu bộ máy Chính phủ trùm
Xem thêm

18 Đọc thêm

Ôn thi lý thuyết và kỹ năng lập pháp

ÔN THI LÝ THUYẾT VÀ KỸ NĂNG LẬP PHÁP

Câu 1. Trình bày đặc điểm của văn bản pháp luật ( Phân tích) cho ví dụ? Câu 2. Phân tích các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng văn bản pháp luật? Câu 3. Phân tích tính hợp pháp của văn bản pháp luật? Câu 4. Phân tích nguyên tắc để xây dựng văn bản pháp luật? Câu 5. Trình bày đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật. (Phân tích). Cho ví dụ? Câu 6. Trình bày và phân tích vai trò của văn bản quy phạm pháp luật? Câu 7. Nêu khái niệm và đặc điểm của văn bản áp dụng pháp luật. Cho ví dụ? (chỉ cần kể tên văn bản ADPL) Câu 8. Phân tích vai trò của văn bản áp dụng pháp luật? Câu 9. Trình bày và phân tích nội dung của phân tích chính sách? ( Khái niệm, đặc điểm, kỹ năng, quy trình, phương pháp giải quyết các vấn đề, kể thêm một số lưu ý) Câu 10. Trình bày quy trình lập
Xem thêm

29 Đọc thêm

Báo cáo hệ thống thông tin trong tổ chức hệ thống thông tin trong quốc hội TSKH nguyễn minh hải

BÁO CÁO HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN TRONG QUỐC HỘI TSKH NGUYỄN MINH HẢI

... tháp tổ chức doanh nghiệp Hệ thống thông tin Quốc hội • Cấu trúc tổ chức Quốc hội • Hệ thống thông tin Quốc hội Cấu trúc tổ chức Quốc hội Chức Quốc hội • Chức lập pháp • Chức giám sát • Chức. .. vụ Quốc hội, Ủy ban Quốc hội Văn phòng Quốc hội Các hệ thống phục vụ chức lập pháp quốc hội Hệ thống phục vụ chức giám sát Quốc hội Các hệ thống thông tin Quốc hội (đề xuất) Mức chiến lược Hệ thống. ..Nội dung Hệ thống thông tin tổ chức Các kiểu hệ thống thông tin Hệ thống thông tin Quốc hội Trao đổi, thảo luận Hệ thống thông tin tổ chức • Một số khái niệm • Mô hình
Xem thêm

44 Đọc thêm

Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản

NGUYÊN TẮC PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN

Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản Trong lịch sử phát triển của xã hội, trước khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hôi chủ nghĩa ra đời,mọi quyền lực nhà nước được tập trung vào trong tay một người hoặc một cơ quan. Đây chính là căn nguyên của sự độc tài, chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Để chấm dứt chế độ này và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ, một học thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là học thuyết tam quyền phân lập hay học thuyết phân chia quyền lực. Học thuyết này là cơ sở của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản. NỘI DUNG I.Khái niệm về nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước tư sản. Trước hết ta phải hiểu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là gì? Đó là sự khởi nguồn xuyên suốt, chuẩn mực những nguyên lí, tư tưởng, đạo lí, quan điểm để chỉ đạo việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Và nguyên tắc phân chia quyền lực của ngà nước tư sản là một mô hình quản lí nhà nước với mục tiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm quyền, bảo vệ tự do và công bằng pháp luật. Thuyết phân chia quyền lực được nghiên cứu và được đề cập bởi nhiều nhà khoa học với nhiều quan điểm khác nhau, điển hình là quan điểm của Montesquieu trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”1 xuất bản năm 1748. Theo ông quyền lực nhà nước bao gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình, nếu cả ba thứ quyền lực này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan sẽ tạo ra sự lạm dụng quyền lực, là nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền công dân và quyền con người. Nên theo ông phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được phân chia cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương tác lẫn nhau trong đó quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về chính phủ, quyền tư pháp thuộc về tòa án. Từ đó góp phần loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực và đồng thời hạn chế quyền lực của nhà nước. Sự hạn chế quyền lực nhà nước có thể hiểu là hạn chế về quyền hạn và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như việc chịu trách nhiệm về các hành vi, việc làm của các cơ quan ấy.Vì vậy trong nhà nước, sự phân công quyền lực càng rõ ràng thì sự ỷ lại vào nhau của các cơ quan, cá nhân càng ít đi và trách nhiệm cá nhân càng tăng lên. Bên cạnh đó các cơ quan Nhà nước không những ngang bằng độc lập với nhau mà còn kiềm chế, đối trọng lẫn nhau trong quá trình hoạt động theo nguyên tắc: “quyền lực ngăn cản quyền lực”. Nhờ cơ chế này mà không cơ quan nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác. Đồng thời không cơ quan nào, tổ chức nào đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan nhà nước khác.Có thể nói ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết tam quyền phân lập là vừa hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán trong thực hiện quyền lực nhà nước vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân. Tuy vậy sự phân chia quyền lực ở nhà nước tư sản không những không làm ảnh hưởng đến việc thống nhất quyền lực mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực nhà nước.Cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tuy độc lập với nhau nhưng đều nằm trong một thể chế thống nhất là quyền lực nhà nước. Sự phân chia ở đây là phân chia các mặt, khâu trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan chuyên đảm nhận một mắt, khâu nào đó nhưng vẫn có sự liên hệ khăng khít với nhau đảm bảo cho quyền lực nhà nước là thống nhất và được thực thi hiệu quả. Sự thống nhất không những không đối lập với việc phân chia, phân nhiệm mà ngược lại đòi hỏi phân chia rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, khi đó mới có thể tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực của nhau, từ đó các hệ thống cơ quan mới có sự phối hợp, hỗ trợ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà không cản trở lẫn nhau. Một khi từng cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ kéo theo sự hoạt động nhịp nhàng, khoa học, thống nhất của bộ máy nhà nước. Đây chính là hạt nhân hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước cũng như nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước tư sản. II. Sự vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở một số nước tư sản điển hình: Từ khi ra đời đến nay học thuyết phân chia quyền lực ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nước tư bản hiện nay hầu hết đều tiếp thu học thuyết này và đã ghi nhận việc phân chia quyền lực trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng và đặc trưng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc áp dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản là khác nhau tùy thuộc vào từng loại chính thể; có thể là “cứng rắn”trong chính thể cộng hòa tổng thống như Hoa Kì, Philippin… và “mềm dẻo ” trong chính thể đại nghị như Anh, Nhật…; có thể là trung gian giữa hai mức độ ấy trong chính thể cộng hòa hỗn hợp như Pháp, Nga… 1.Vận dụng nguyên tắc phân quyền một cách rạch ròi, triệt để trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong chính thể cộng hòa tổng thống mà điển hình là Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một nhà nước áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách triệt để sự phân chia rạch ròi quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.Trong đó quyền lập pháp trao cho Quốc hội, quyền hành pháp trao cho tổng thống và quyền tư pháp trao cho tòa án. Sự phân định rõ ràng giữa Lập pháp và Hành pháp: Theo quy định của Hiến pháp thì lập pháp được hình thành lập độc lập với hành pháp: Nghị viện được thành lập do bầu cử thông qua cử tri bầu ra. Đồng thời tổng thống cũng do nhân dân bầu cử trực tiếp và không phụ thuộc vào bầu cử Quốc hội, tổng thống có toàn quyền quyết định nhân sự trong Chính phủ: lựa chọn, bổ nhiễm, miễn nhiệm Bộ trưởng...Ngoài ra để đảm bảo tính chất phân quyền một cách triệt để Hiến pháp Hoa Kỳ còn quy định: Tất cả quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ bao gồm hai viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện và quyền hành pháp chỉ giao cho một người đó là tổng thống.Tổng thống cũng như Chính phủ không có quyền sáng lập, xây dựng luật, không phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cả Quốc hội và Chính phủ đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng.Tổng thống không có quyền giải tán quốc hội và quốc hội cũng không có quyền lật đổ tổng thống. Sự độc lập của tư pháp với hành pháp và lập pháp: Toà án độc lập với chính quyền hành pháp và lập pháp.Trong nhà nước Hoa Kỳ tư pháp là một nhánh quyền lực rất được đề cao.Theo Hiến pháp quyền tư pháp được trao cho một pháp viện tối cao và các tòa án cấp dưới. Các thẩm phán đều có nhiệm kỳ suốt đời và có thể tập trung vào vấn đề công lý mà không bị các hoạt động chính trị của lập pháp và hành pháp chi phối. Không ai có quyền cách chức thẩm phán trừ trường hợp thẩm phán vi phạm pháp luật và bị thải hồi theo thủ tục đàn hạch. Tuy nhiên các nhánh quyền lực có thể kiềm chế, đối trọng lẫn nhau: Các quyết định bổ nhiệm các cá nhân quan trọng trong bộ máy hành pháp và tư pháp của tổng thống phải được Quốc hội phê chuẩn.Tổng thống có quyền kiểm chế Quốc hội bằng quyền phủ quyết các dự luật mà hai viện thông qua. Nếu tổng thống không phê chuẩn thì Quốc hội phải thảo luận và dự luật được thông qua nếu có trên hai phần ba phiếu thuận. Quốc hội có quyền quyết định ngân sách hoạt động của Tổng thống và Tòa án. Quốc hội còn có quyền xét xử và buộc tội các quan chức cao cấp kể cả tổng thống theo tục “đàn hạch”. Bên cạnh đó Hiến pháp Hoa kỳ trao cho pháp viện tối cao và các tóa án có quyền tuyên bố các đạo luật đã được quốc hội ban hành là vi hiến không có hiệu lực thực thi, cũng như ngăn cấm các hành vi vi phạm hiến pháp của tổng thống.Tòa án là nơi cuối cùng có thể xác định nội dung các quy định của hiến pháp mà các cơ quan chính phủ có thể vượt quá giới hạn thẩm quyền. Sự phân quyền còn được đưa vào để phân định về mặt nhân sự đảm nhiệm trong bộ máy nhà nước. Theo đó một cá nhân chỉ có thể được bổ nhiệm vào một trong ba cơ quan là: lập pháp, hành pháp, tư pháp.Ví dụ:Nếu là nghị sĩ thì sẽ không được bổ nhiệm làm bộ trưởng, thẩm phán hay các chức khác trong chính quyền hành pháp, tư pháp. Như vậy, qua việc phân tích các tổ chức và hạt động của bộ máy nhà nước tư sản Hoa Kì cho ta thấy nguyên tắc phân chia quyền lực được thể hiện rõ nét với sự vận dụng một cách cứng rắn của chính thể tổng thống. 2. Vận dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản ở chính thể quân chủ đại nghị mà điển hình là Anh: Trong chính thể quân chủ đại nghị Anh quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về tòa án. Khác với những nhà nước áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn lập pháp và hành pháp được phân định rạch ròi thì trong nhà nước này giữa lập pháp và hành pháp có mối liên hệ với nhau hay còn gọi là sự phối kết hợp lẫn nhau: Nghị viện trong đó Hạ nghị viện thành lập do bầu cử trực tiếpHạ Nghị viện là viện có thực quyền trong Nghị viện. Chính phủ do Hạ nghị viện lập ra: Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành pháp được hình thành trên cơ sở chiếm đa số ghế trong Hạ nghị viện có nghĩa là Thủ tướng cũng chính là thủ lĩnh của đảng cầm quyền. Các bộ trưởng đều là những nghị sĩ trong Hạ nghị viện do vua bầu ra. Bên cạnh việc lập pháp, nghị viện còn phải thành lập, giám sát các hoạt động của chính phủ. Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện, Hạ nghị viện có thể lật đổ chính phủ nếu như chính phủ không còn sự tín nhiệm của nó, đây chính là một đặc điểm quan trọng của sự hạn chế quyền lực trong nhà nước chính thể đại nghị, áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo. Trong quá trình hoạt động giữa lập pháp và hành pháp cũng có sự phối kết hợp lẫn nhau: Quyền sáng kiến pháp luật thuộc về chính phủ, chính phủ sẽ dự thảo các dự luật cho hạ nghị viện thảo luận và thông qua. Tuy vậy, về mặt Hiến định chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện nhưng trên thực tế chính phủ được thành lập từ đảng phái chiếm đa số ghế trong hạ nghị viện với thủ tướng chính là thủ lĩnh của đảng cầm quyền trong nghị viện cho nên mọi quyết định của nghị viện cũng là của chính phủ, chính phủ bao giờ cũng khống chế nghị viện.Có thể nói chính phủ và hạ nghị viện chẳng khác nào hai cơ quan trực thuộc đảng cầm quyền trong đó hạ nghị viện do chính phủ toàn quyền định đoạt.Vì vậy sự phân chia quyền lực nhà nước giữa lập pháp và hành pháp theo nguyên tắc phân quyền không còn nữa, mà có chăng chỉ là sự phân chia giữa một đảng cầm quyền và một đảng đối lập có trách nhiệm. Khác với việc kiềm chế, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau,các nhà nước theo chế độ đại nghị nói chung và nước Anh nói riêng thì cơ quan tối cao là Hạ nghị viện lại bị tiết chế ngay trong nội bộ của nó bằng hoạt động của các đảng đối lập: Vì đảng đối lập luôn tìm cách đánh bại để có cơ hôi thay thế chính phủ của đảng cầm quyền bằng cách gây nghi nghờ cho cử tri rằng các chính sách của chính phủ là sai lầm để có cơ hội chiếm đa số trong các cuộc tuyển cử của nhân dân.Ngoài ra đảng đối lập còn có quyền tham dự vào cuộc tranh luận chống đối các chính sách hay dở của chính phủ.Chính vì lẽ đó chính phủ cũng như hạ nghị viện bị hạn chế quyền lực của mình, chính phủ không thể quyết định một cách bừa bãi hay lạm quyền mà phải dè dặt trước những phản ứng hay ủng hộ của các dân biểu mà đặc biệt là của các đảng viên nghị sĩ đảng đối lập để duy trì vị trí cầm quyền trong bộ máy nhà nước cũng như phải bảo vệ đến lợi ích của các đảng đối lập để tránh việc các đảng đối lập gây hậu quả nghiêm trọng cho chính phủ và đảng cầm quyền. 3.Vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước tư sản với chính thể cộng hòa lưỡng tính mà điển hình là Pháp. Đặc điểm của chính thể cộng hòa lưỡng tính là sự kết hợp các yếu tố của chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống. Ở Pháp, quền lập pháp thuộc về Nghị viện; hành pháp thuộc về tổng thống và chính phủ; tư pháp thuộc về hệ thống tư pháp. Giữa Lập pháp và Hành pháp có mối quan hệ mật thiết hơn so với chính thể cộng hòa tổng thống nhưng vẫn kiểm soát, hạn chế quyền lực lẫn nhau: Nghị việncơ quan lập pháp được thành lập do bầu cử, cơ quan hành pháp bao gồm tổng thống và chính phủ, thủ tướng đứng đầu chính phủ, tổng thống do dân trực tiếp bầu ra và có quyền bổ nhiệm, phê chuẩn việc thành lập chính phủ. Tổng thống là trung tâm nền chính trị, bảo vệ hiến pháp và là trọng tài điều hòa hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tổng thống có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại các dự thảo luật đã thông qua đồng thời có quyền giải tán hạ nghị viện. Nghị viện có quyền giám sát các hoạt động của chính phủ còn chính phủ bao gồm các bộ trưởng và thủ tướng không những phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, mà còn chịu trách nhiệm thực sự trước Tổng thống. Nếu thủ tướng và các bộ trưởng không thực thi được các chính sách của tổng thống thì phải từ chức. Ngoài ra trong lĩnh vực lập pháp Nghị viện bị hạn chế quyền lập pháp của mình trong phạm vi nhất định được quy định trong hiến pháp. Còn những lĩnh vực khác thì do chính phủ dự thảo luật và ban hành(trên thực tế các dự án luật do các Nghị viện đề xuất ngày cáng ít đi còn từ phía chính phủ lại tăng lên) Sự phân quyền trong phân định về mặt nhân sự đảm nhiệm trong bộ máy nhà nước của Pháp cũng giống như các nước cộng hòa tổng thống :những người nắm quyền lập pháp không thể được trao quyền hành pháp hoặc tư pháp. Điều này đã hạn chế được việc lạm dụng quyền lực, tạo cho cơ quan lập pháp có điều kiện để kiểm soát hoạt động của chính phủ và toàn bộ cơ quan hành pháp. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy, qua việc vận dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vào một số nước tư sản điển hình ta thấy tuy mỗi nước có mức độ áp dụng khác nhau tùy thuộc vào từng loại chính thể khác nhau nhưng tóm lại đều nhằm mục tiêu hạn chế quyền lực nhà nước, hạn chế sự lạm quyền…muốn vậy, trước hết là phải phân chia quyền lực rõ rang và sau đó làm cho các nhánh quyền lưc đã được phân chỉ hoạt động ở phạm vi pháp luật quy định. Hiện nay, các nước tư sản đang áp dụng nguyên tắc này vào quản lí nhà nước một cách hiệu quả.
Xem thêm

7 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG CHU TRÌNH CHÍNH SÁCH VÀ CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG CHU TRÌNH CHÍNH SÁCH VÀ CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

thuật còn làm rõ hai vấn đề chính: 1) Chủ thể triển khai: tức ai hoặc cơ quannào được ủy quyền của chính phủ, và do vậy có sự độc lập nhất didnhj trongtriển khai; 2) Khuôn khổ triển khai: tức làm rõ sự ràng buộc của cơ quan triển11khai. Sự ràng buộc như vậy không chỉ hạn chế việc sử dụng quyền lực đượcủy nhiệm một cách tùy tiện, mà còn ràng buộc cả về ngân sách, nhân lực vàđôi khi cả cung cách triển khai.Như vậy, bản thân giai đoạn triển khai cũng bao gồm việc ban hành cácvăn bản cụ thể hơn có tính pháp lý, qui định trách nhiệm, quyền hạn cũng nhưviệc thực thi các hành động và biện pháp cụ thể.Các chủ thể triển khai quan trọng nhất là các cơ quan hành chính cùngvới các viên chức của mình. Các viên chức ở ngành lập pháp và tư pháp cũngcó những vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc triển khai các chính sách cóliên quan đến các hoạt động tranh tụng, như các chính sách về phá sản, chốngđộc quyền, v.vĐể triển khai có hiệu quả, cần đảm bảo 3 điều kiện tối thiểu sau:1) Cơ quan được giao nhiệm vụ triển khai phải có đủ nguồn tài chính nhân lực - vật lực cho việc triển khai đó;2) Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền kỹ thuật chuyên môn để biếncác mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp;3) Cơ quan này cũng phải chịu trách nhiệm giải trình về các hoạt độngtriển khai đó. Việc chịu trách nhiệm giải trình, hay đúng hơn tính khả quytrách nhiệm có hàm ý rằng việc triển khai chính sach đòi hỏi việc quy định rõtrách nhiệm cho từng công việc. Tính khả quy trách nhiệm khác với tinh thầntrách nhiệm ở chỗ đó là đòi hỏi khách quan của việc cưỡng chế có hiệu lực(đặc điểm của chính sách công) chứ không phải là đòi hỏi về mặt đạo đức như“tinh thần trách nhiệm” hàm ý. Tính khả quy trách nhiệm là đòi hỏi tối thiểu,trong khi tinh thần trách nhiệm là đòi hỏi tối đa, có tính lý tường cần vươn tớimà trong thực tế không dễ thỏa mãn.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Cùng chủ đề