HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH":

VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

II. TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH...................................................................................71. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính...................................................72. Xử phạt vi phạm hành chính........................................................................................8c. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính :...................................................................9III. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH........121. Thực trạng..................................................................................................................122. Kiến nghị....................................................................................................................14TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................153Phạm Thị Yến NhiMỞ ĐẦUVi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến vàthường xuyên trong đời sống xã hội, là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạycảm. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm nhưng vi phạmhành chính gây thiệt hại và đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi íchcủa cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đếntình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực đời sống xã hội nếu như khôngđược ngăn chặn và xử lý kịp thời. Nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩalý luận và thực tiễn của vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều bộ luật liênquan đến xử lý vi phạm hành chính để xử lý những hành vi vi phạm như :Luật xử lý vi phạm hành chính (2012), Nghị Định 81/2013 quy định chi tiếtvề một số điều và biện pháp thi hành xử lý luật hành chính…. Để xác địnhrõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, đặc biệtlà xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm chúng ta cùng đitìm hiểu rõ hơn về vi phạm hành chínhtrách nhiệm hành chính trongpháp luật vi phạm hành chính trong pháp luật Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

luật xử lý vi phạm hành chính

LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. 3. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 4. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở và biện pháp quản lý tại gia đình. 5. Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý. 6. Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý. 7. Vi phạm hành chính có tổ chức là trường hợp cá nhân, tổ chức câu kết với cá nhân, tổ chức khác để cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính. 8. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật để cá nhân, tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành nghề. 9. Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. 10. Tổ chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. 11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. 12. Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên. 13. Sự kiện bất ngờ là sự kiện mà cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra. 14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. 15. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. 16. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này. 17. Người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên pháp lý.
Xem thêm

101 Đọc thêm

hỏi đáp về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

HỎI ĐÁP VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

Câu hỏi 1: Thế nào là vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính? Trong lĩnh vực hải quan có những loại vi phạm hành chính nào? Trả lời: 1. Vi phạm hành chính: Theo định nghĩa của Luật Xử lý VPHC (khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý): Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC. VPHC về hải quan là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định quản lý nhà nước về hải quan, không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC. 2. Xử phạt vi phạm hành chính: Xử phạt là việc áp dụng chế tài có tính chất trừng phạt, gây ra cho đối tượng bị xử phạt thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần, do người có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật. Xử phạt vi phạm hành chính là việc áp dụng xử phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải tội phạm theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Theo đó, khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. 3. Những vi phạm hành chính chủ yếu trong lĩnh vực hải quan bao gồm: Vi phạm các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan; Vi phạm các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Vi phạm các quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi tắt là thuế); Vi phạm các quy định pháp luật khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Việc quy định hành vi và chế tài xử phạt đối với 4 loại vi phạm hành chính nêu trên được quy định trong Nghị định 1272013NĐCP ngày 15102013 và các văn bản pháp luật khác có quy định hành vi và chế tài xử phạt mà văn bản đó có xác lập thẩm quyền xử phạt cho cơ quan Hải quan. Trong từng nhóm vi phạm, Nghị định 1272013NĐCP ngày 15102013 quy định cụ thể từng hành vi vi phạm và chế tài xử phạt tương ứng bảo đảm việc xử phạt được thực hiện tuân thủ đầy đủ nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và đặc thù trong lĩnh vực hải quan nói riêng. Những vi phạm hành chính cụ thể gồm: + Vi phạm quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan, nộp hồ sơ thuế; + Vi phạm quy định về khai hải quan; + Vi phạm quy định về khai thuế; + Vi phạm quy định về khai hải quan của người xuất cảnh, nhập cảnh đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, vàng; + Vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra thuế; + Vi phạm quy định về giám sát hải quan; + Vi phạm quy định về kiểm soát hải quan; + Trốn thuế, gian lận thuế; + Vi phạm các quy định chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; + Vi phạm quy định về quản lý kho ngoại quan, kho bảo thuế; + Xử phạt đối với Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng và tổ chức, cá nhân liên quan.
Xem thêm

37 Đọc thêm

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Trong những năm qua, tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng đòi hỏi cần có một cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, để vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, vừa nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả chống lại những hành vi vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện. Xử lý hành chính với người chưa thành niên là hoạt động cưỡng chế, áp dụng các biện pháp hạn chế những quyền và lợi ích nhất định với người chưa thành niên có hành vi trái pháp luật. Đây cũng là giai đoạn mà sự can thiệp của Nhà nước còn nhằm mục đích giáo dục, quản lý, phòng ngừa với người chưa thành niên đã có những biểu hiện sai lệch trong hành vi. Chính vì vậy, những quy định pháp luật phù hợp, cụ thể, rõ ràng là cơ sở pháp lý để cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành những hoạt động của mình, góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả người chưa thành niên làm trái pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật về xử lý hành chính nói chung và xử lý hành chính với người chưa thành niên nói riêng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan Nhà nước có liên quan trong công tác xây dựng pháp luật. Vì vậy, pháp luật về xử lý hành chính với người chưa thành niên chưa có một vị trí xứng với yêu cầu. Có thể nói, cho đến hiện nay một chế định pháp luật về xử lý hành chính với người chưa thành niên vẫn chưa hình thành mà mới chỉ dừng lại ở các qui định riêng lẻ và vấn đề “pháp luật về xử phạt hành chính đối với người chưa thành niên” là một vấn đề đặt ra khá bức thiết hiện nay. Do đó em chọn đề tài "Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên" với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trong thực tiễn.
Xem thêm

Đọc thêm

Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh theo luật cạnh tranh

CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG CẠNH TRANH THEO LUẬT CẠNH TRANH

Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Tố tụng cạnh tranh tiến hành theo thủ tục hành chính có những điểm khác với thủ tục tư pháp tại Tòa án và hiện hành được quy định trong Nghị định số 1162005NĐCP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh. Việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Xem thêm

14 Đọc thêm

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN THI MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN THI MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

Khẳng định đúng: Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là cơ quan nhànước, các cán bộ nhà nước có thẩm quyền. Các tổ chức xã hội và cá nhân đượcnhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể.Câu 28: Các cá nhân hoặc các tổ chức thực hiện quyền hành pháp đều là cơquan hành chính nhà nướcSai: Quyền hành pháplà quyền của nhà nước được giao cho nhiều cơ quan.Quốchội cũng có những hoạt động hành pháp. Trong trường hợp cần thiết Quốc hộicó thể thành đoàn kiểm tra quyền hành pháp.Câu 29: Trong trường hợp vi phạm hành xảy ra đã hết thời hạn xử phạt hànhchính thì cơ quan hoặc cán bộ nhà nước có thẩm quyền có được phép áp dụngcác biện pháp xử lý phạt vi phạm hành chính hay không? tai sao?trong trườnghợp nào?Về nguyên tắc các vi phạm hành chính xảy ra nhưng đã hết thời hạn xử phạt viphạm hành chính thì không được xử lý vi phạm hành chính song trong một sốtrường hợp cụ thể được pháp luật quy định thì mặc dù vi phạm hành chính đãxảy ra hết thời hiệu xử phạt cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền không đượcphép ra quyết định xử phạt hành chính nhưng có thể được phép áp dụng cácbiện pháp xử phạt bổ sung 9 ( trong trường hợp biện pháp xử phạt bổ sung đượcáp dụng độc lập) tước quyền xử dụng giấy phép, tịch thu tang vật. Phương tiện viphạm buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc tiêu huỷ văn hoá phẩmđộc hại, các vật phẩm gây nguy hại cho sức khoẻ người tiêu dùng, buộc phảikhắc phục tình trạng gây ô nhiễm môi trường, buộc phải bồi thường thiệt hại đến1 triệu động trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, nghĩa vụ, ngân hàng.môitrường........Câu 30: Nguyên tắc phụ thuộc hai chiều đối với cơ quan hành chính nhà nướcSai nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương không áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương.Câu 31: Mọi cán bộ thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hànhchính, đều có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.Câu 32: Hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người
Xem thêm

46 Đọc thêm

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

chức thực hiện do cố ý hoặc vô ý. Đối với tổ chức, thì hành vi này đượcthực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao,phân công hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó). Các chủ thể thựchiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịutrách nhiệm hành chính. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức viphạm hành chính là pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình theo quy định củaBộ luật dân sự thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chứcnước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáplãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biểnmang cờ Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luậtViệt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên có quy định khác.Trách nhiệm pháp lý hành chính phát sinh như một tất yếu kháchquan, có nghĩa là khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính cá nhân, tổchức phải chịu những hình thức xử lý do pháp luật quy định. Trách nhiệmhành chính tồn tại dưới hình thức các chế tài hành chính, thông thường làphạt tiền, cảnh cáo và có thể đồng thời còn áp dụng các biện pháp hànhchính khác. So với trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính phong phúhơn, song ít nghiêm khắc hơn.Ba là, mức độ nguy hiểm của hành vi thấp hơn tội phạm. Đây là dấuhiệu cơ bản nhất để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm. Tuy nhiên,6tính chất và mức độ xâm hại của hành vi vi phạm hành chính mặc dù nguyhiểm cho xã hội song chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quyđịnh tại Bộ luật hình sự.Bốn là, pháp luật quy định hành vi đó phải bị xử phạt vi phạm hànhchính. Vi phạm hành chính cũng như mọi hành vi vi phạm pháp luật khác
Xem thêm

26 Đọc thêm

Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

NGUYÊN TẮC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào cá quy định của pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quyết định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính. Khi tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc xử phạt đã được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Theo tinh thần của Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, hoạt động xử lý vi phạm hành chính phải tuân theo các nguyên tắc sau: Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý phải dược tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp Không xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ…. Đối với mỗi vi phạm hành chính, tổ chức cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, ngoài ra còn có thể có hình thức trục xuất 1. Cảnh cáo Hình thức này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thực hiện, khỉ xử phạt cảnh cáo, người có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản. Như vậy, chỉ có thể áp dụng hình thưc xử phạt cảnh cáo đối với cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau: Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được văn bản pháp luật quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Điều 8 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Ví dụ: Khoản 1 Điều 8 Nghị định của Chính phủ số 1502005NĐCP ngày 12122005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự có quy định: Điều 8. Hành vi gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ sáng ngày hôm sau; b) Không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bệnh viện, nhà điều dưỡng, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung. Theo đó, người nào có hành vi gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đông. Người thực hiện loại vi phạm hành chính này có thể bị xử phạt cảnh cáo với điều kiện họ thực hiện vi phạm lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc họ là người chưa đủ 16 tuổi 2. Phạt tiền Phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 14 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Nhìn chung, các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nế không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo thì bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 quy định mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Đồng thời Pháp lệnh cũng quy định rõ các mức phạt cụ thể, tối đa đối với các hành vi vi phạm hành chính, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm. Việc lựa chọn áp dụng mức tiền phạt đối với người vi phạm phải trong khung phạt cụ thể được văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thực hiện theo cách: Khi phạt tiền, mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt. Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính có những nét đặc thù riêng biệt đã được pháp luật quy định, cụ thể là: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo, không bị phạt tiền. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Khi phạt tiền đối với họ thì mức phạt tiền không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên, trong trường hợp họ không có tiền nọp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp phạt thay. Ngoài ra, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định: Khi quyết định xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền chỉ ra một quyết định xử phạt trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung. Cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt tiền có thể nộp tiền phạt tại chỗ hoặc tại khi bạc nhà nước theo đúng quy định của pháp lệnh và được nhận biên lai thu tiền phạt Ngoài 2 hình thức phạt trên, có thể kể đến hình thức trục xuất. Trục xuất là việc buộc người nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam phải rời khỏi Việt Nam. Trục xuất vừa là hình thức phạt chính vừa là hình thức phạt bổ sung. Trục xuất là hình thức phạt chính khi được áp dụng độc lập hoặc áp dụng cùng với hình thức phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Hình thức này là hình thức phạt bổ sung khi được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính khác. Tóm lại, các hình thức xử phạt trong xử lý vi phạm hành chính gồm có cảnh cáo và phạt tiền, ngoài ra còn có thể có hình thức trục xuất. Các biện pháp trên đều mang tính giáo dục, răn đe, quy trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Câu hỏi ôn tập luật hành chính có đáp án

CÂU HỎI ÔN TẬP LUẬT HÀNH CHÍNH CÓ ĐÁP ÁN

Câu1: Bằng kiến thức đã học, anh (chị) hãy chứng minh rằng: quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Khái niệm quan hệ pháp luật hành chính:Là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động QLHCNN, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện qua đối tượng điều chỉnh của luật hành chính và đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính. Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật hành chính bao gồm các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước (đặc trưng là hoạt động chấp hành và điều hành). Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Hành chính được chia thành 3 nhóm: Nhóm 01: Các quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý HCNN của các cơ quan hành chính nhà nước.Đây là nhóm quan hệ cơ bản nhất, lớn nhất và quan trọng nhất. Nhóm này bao gồm các quan hệ cụ thể sau đây:+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính cấp trên cơ quan hành chính cấp dưới (theo hệ thống dọc)+ Quan hệ giữa cơ cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chung với cơ quan hành chính thẩm quyền riêng (cơ quan chuyên môn) cùng cấp+ Quan hệ giữa cơ cơ quan HC thẩm quyền riêng cùng cấp với nhau về những vấn đề mà mỗi cơ quan được giao quyền quản lý+ Quan hệ giữa các cơ quan thẩm quyền riêng cấp trên với cơ quan thẩm quyền chung cấp dưới+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị cơ sở trực thuộc + Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế + Quan hệ giữa Cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan trung ương đóng tại địa phương+ Cơ quan hành chính nhà nước với các TCXH + Cơ quan hành chính nhà nước với cá nhân, công dânNhóm 2: Các quan hệ trong quản lý hành chính nội bộ của các cơ quan nhà nước (cơ quan quyền lực, xét xửvà cơ quan ks mang tính chất chấp hành và điều hành)VD: Như tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, lên lương, khen thưởng, kỷ luật…cán bộ, công chức nội bộ.Nhóm 3: Các quan hệ mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khác và của các TCXH được nhà nước trao quyền quản lýVD: Hoạt động xử phạt hành chính của chủ tọa phiên tòa đối với người có hành vi gây rối trật tự phiên tòa. Về đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính đã thể hiện là những quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Các đặc điểm đó là:+ Quyền Nghĩa vụ các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính, gắn với hoạt động chấp hành, điều hành.+ Một bên trong quan hệ pháp luật hành chính phải là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước.+ Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính phải được giải quyết trước hết theo trình tự thủ tục hành chính Ngoài ra: thủ tục tố tụng hành chính.+ Vi phạm pháp luật hành chính do lỗi một bên tham gia quan hệ sẽ dẫn đến trách nhiệm hành chính trước nhà nước, chứ không phải trách nhiệm trước bên kia như trong quan hệ pháp luật hành chính.Câu 2: Hãy nêu và phân tích các yêu cầu cơ bản của quyết định hành chính nhà nước. Khái niệm: Quyết định QLHCNN là sự biểu hiện ý chí của nhà nước, của các chủ thể được thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt độngQLHCNN, và được tiến hành theo một trình tự, thủ tục, thể hiện dưới những hình thức do pháp luật quy định nhằm tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Các yêu cầu: Bảo đảm tính chất chính trị Bảo đảm tính hợp pháp Bảo đảm tính hợp lý Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành đúng hình thức và thủ tục do pháp luật quy định Đảm bảo kỹ thuật ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước: Phân tích:+ Bảo đảm tính chất chính trị. Vì nó thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước nên nó phải được trái với chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước.VD: Văn kiện đại hội 10 đưa ra. Tiến tới phải kiện toàn bộ máy HCNN, thực hiện Bộ máy quản lí đa ngành, đa lĩnh vực. Dựa vào đấy Chính phủ phải kiện toàn bộ máy của mình.+ Bảo đảm tính hợp pháp Nó phải dựa vào các luật và phù hợp với luật Ban hành đúng thẩm quyền, theo quy định của pháp luật Trên cơ sở căn cứ mà pháp luật cho phép….+ Bảo đảm tính hợp lý Hài hòa giữa lợi ích nhà nước, tập thể và cá nhân, Cụ thể và phù hợp với đời sống xã hội, đối tượng thi hành Có tính hệ thống toàn diện Đúng thời điểm+ Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành đúng hình thức và thủ tục do pháp luậtquy định Phải đúng tên gọi Thể thức với đầy đủ các yếu tố... Đảm bảo các thủ tục ban hành Yêu cầu dân chủ cao, khách quan và khoa học. VD: Phải dựa vào căn cứ naod; – Từ nguồn PL nào+ Đảm bảo kỹ thuật ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước: Ngôn ngữ đúng văn phong, Văn phong rõ ràng Nội dung rể hiểu` Câu cú chính xác, không đa nghĩa...VD: Văn phong hành chính không ẩn dụ...Câu 3: (5 điểm). Hãy phân tích các phương pháp trong quản lý hành chính nhà nước.2.1. Khái niệm phương pháp QLHCNN:+ Phương pháp quản lý nói chung: Là cách thức được tiến hành trên cơ sở một hệ thống những nguyên tắc được đúc kết lại mà chủ thể vận dụng nhằm đạt được mục tiêu tốt nhất.Xuất phát từ khái niệm và các đặc trưng của phương pháp quản lý nhà nước nói chung để ta xây dựng nên khái niệm và các phương pháp cụ thể của QLHCNN là:
Xem thêm

15 Đọc thêm

tieu luan tinh huong xu ly quan internet

tieu luan tinh huong xu ly quan internet

BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: ““Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Internet và game online tại một Đại lý Internet ở tỉnh” Qua quá trình học lý thuyết phần I về Nhà nước và Pháp luật của Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên và xuất phát từ quá trình quản lý nhà nước thực tế đối với hoạt động dịch vụ internet tôi chọn tình huống “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Internet và game online tại một Đại lý Internet ở tỉnh H”. Tôi hy vọng rằng qua tình huống này có thể đóng góp những ý kiến thiết thực nhất cho hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ internet trên địa bàn tỉnh H nói riêng và cả nước nói chung. Rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo Trường chính trị tỉnh Hòa Bình để tôi hoàn chỉnh thêm các kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin truyền thông. Xin trân trọng cảm ơn..
Xem thêm

Đọc thêm

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mẫu 01 và 02

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mẫu 01 và 02

…………………….(1) …………………….(2) Số:............QĐXPKLBB Quyển số:…………….. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc …….……(3)……., ngày……. tháng……. năm………. QUYẾT ĐỊNH Xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục xử phạt không lập biên bản Căn cứ Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính; Căn cứ Nghị định số…………………….. ngày ….….…. quy định:(4) ….….….….……...………….…. ….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….……………… Tôi: ….….….….….….….….….…. Cấp bậc, chức vụ: ….….….…. Đơn vị: ….….….….………..……… QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Xử phạt bằng hình thức:(5) ….….….…. theo thủ tục không lập biên bản đối với: Ông(Bà)Tổ chức: ….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….. Sinh ngày: ….….…. Quốc tịch: ….….….….….….….….….….….….….….….….….….…..….….….….. Nghề nghiệpLĩnh vực hoạt động: ….….….….….….….….….….….….….….….….….….…….….….….. Địa chỉ: ….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….…….….…… CMND hoặc hộ chiếuQĐ thành lập hoặc ĐKKD số: ….….….….….….….….….….….……….….….…. Ngày cấp: ….….….….….….….….….….…. Nơi cấp: ….….….….….….….….….….….……….….…… Đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính (ghi tóm tắt hành vi vi phạm) ….….….….….….….….….…… ….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….…. quy định tại: + Điểm….….…. Khoản….….…. Điều….….….…. Mức tiền phạt: ….….….….….….….…. + Điểm….….…. Khoản….….…. Điều….….….…. Mức tiền phạt: ….….….….….….….…. + Điểm….….…. Khoản….….…. Điều….….….…. Mức tiền phạt: ….….….….….….….…. + Điểm….….…. Khoản….….…. Điều….….….…. Mức tiền phạt: ….….….….….….….…. Địa điểm xảy ra vi phạm: ….….….….….….….….….….….….….….….….….….….….…… Các tình tiết liên quan đến giải quyết vi phạm (nếu có): ….….….….….….….….….….….. Tổng mức tiền phạt chung là: ….….….….….….…. Bằng chữ:
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI THỰC HÀNH THẢO LUẬN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

BÀI THỰC HÀNH THẢO LUẬN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

nghiệp, nhà ở hay sản phẩm tri thức; những sai phạm mang tính chuyên môn nhưthiên vị thân nhân, không công bằng trong điểm số, đạo văn; trốn thuế và gian lậntrong việc sử dụng tài sản của trường đại học.Trong môi trường giáo dục nước ta hiện nay các hiện tượng như đổi chác,phong bì, chạy điểm, chạy trường, … đang phản ánh tình trạng đáng báo động vềsự lệch chuẩn trong mối quan hệ thầy trò, về sự “ô nhiễm” trong môi trường giáodục”. Chính vì vậy, sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Kinh tế vàQuan trị Kinh doanh nói riêng có thể tham gia tích cực vào công tác phòng, chốngtham nhũng. Sự chung tay của các em sinh viên có thể đẩy lùi tham nhũng tronggiảng đường. Sự tham gia của các em có thể được thể hiện trước hết ở thái độnghiêm túc trong học tập, tự phấn đấu bằng chính năng lực của bản thân. Trongmôi trường giáo dục sinh viên cần có những cách ứng xử như thế nào cho phù hợpđể xây dựng mối quan hệ thầy – trò minh bạch, trong sáng, lành mạnh, góp phầnphòng, chống tham nhũng trong giáo dục.Câu 3: Phân tích các nguyên tắc xử lí vi phạm hành chính theo Luật xử lí vi phạmhành chính năm 2012.Trả lời:1. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và nguyên tắc áp dụng hình thức xửphạt vi phạm hành chính.− Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính: Trên cơ sở kế thừa những nguyên tắccủa pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Luật XLVPHC quyđịnh bổ sung 4 nguyên tắc mới làm cơ sở cho việc xây dựng và áp dụngpháp luật trong thực tiễn. Một là: Nguyên tắc bảo đảm công bằng, công khai,khách quan, tôn trọng quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hànhchính. Tôn trọng quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
Xem thêm

17 Đọc thêm

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THẾ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT

Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất Bài tập học kỳ Luật Hành chính Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước. Việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, chức năng, địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ giúp chúng ta phân biệt chúng với các cơ quan Nhà nước khác và để thấy được vì sao cơ quan hành chính Nhà nước lại là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước. Do đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích khái niêm, đặc điểm của các cơ quan hành chính Nhà nước. Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất”. NỘI DUNG I – KHÁI NIỆM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Định nghĩa Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổchức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. 2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước 2.1. Đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, các biện pháp cưỡng chế nhà nước và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng. Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện A kí hợp đồng xây mới trụ sở ủy ban nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch ủy ban nhân dân là người kí kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, …. Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện quyền lực theo nguyên tắc: Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phối hợp giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giống như cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; có quyền thực hiện các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế; có quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm… Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008. 2.2. Đặc điểm đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước. (hoạt động chấp hànhđiều hành). Hoạt động chấp hànhđiều hành được hiểu là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và áp dụng luật vào thực tế đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.Đây là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan nhà nước.Các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hoàn thành chức năng cơ bản của mình.Ví dụ: Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm ông Trần Quốc Vương vào chức viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động này nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của hệ thống tư pháp nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tốt hơn… Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở và tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, sau đó là các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp.Giữa các cơ quan hành chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng cơ quan hành chính cấp trên.Ví dụ: Bộ và cơ quan ngang bộ phải chịu sự quản lý của Chính phủ. Chính phủ lãnh đạo công tác của bộ và cơ quan ngang bộ, quy định về cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp thực hiện của bộ và cơ quan ngang bộ. Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Chính phủ có thẩm quyền chung đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong nước. Ủy ban nhân dân các cấp chỉcó thẩm quyền trong phạm viđịa phương mà mình quản lý. Ví dụ: Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà mình quản lý, nếu ra ngoài phạm vi của mình quản lý thì quyết định đó không còn hiệu lực. Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra. Ví dụ: Quốc hội trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ tướng chính phủ, phê chuẩn đề nghị của thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra… Mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực. Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo, các bệnh viện trực thuộc Bộ y tế; các tổng công ty, công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công thương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải…Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, bảo đảm công bằng, vì lợi ích chung của xã hội. II – CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THỂ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT 1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan chức năng khác nhau và cơ quan chức năng của cơ quan hành chính nhà nước được xác định là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành điều hành).Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý thường xuyên trên mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý của nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về xã hội…. thông qua các hình thức được pháp luật quy định. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính khác nhau. Đó có thể là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc cũng có thể là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn có chức năng quản lý hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong một phạm vi rất hẹp khi cần thiết, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng công tố và kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… và việc thực hiện hoạt động đó nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước. Các cán bộ nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, liên tục trong nhiệm kì công tác của họ. Nhưng hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà họ đang công tác, không thể có chuyện cán bộ có quyền độc lập, vượt quá thẩm quyền pháp luật quy định cho cơ quan họ đang công tác. Một số cá nhân và tổ chức cũng được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng họ chỉ được trao quyền ấy trong một số trường hợp cụ thể, như cơ trưởng máy bay khi đang bay, thuyền trưởng tàu, thuyền đang hoạt động trên biển… 2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất Các quan hệ thuộc phạm vi quản lí hành chính được chia thành 3 nhóm cơ bản sau: + Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhóm quan hệ thứ nhất.Bởi lẽ đây là nhóm quan hệ khá phong phú, diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó, cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.Ví dụ: Trong khi Quốc hộicơ quan quyền lực nhà nước cao nhất họp một năm hai kì (Luật tổ chức Quốc hội 2001) để ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, luật và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thì Chính phủcơ quan hành chính nhà nước cao nhất họp thường kì mỗi tháng một lần (Luật tổ chức Chỉnh phủ 2001) để giải quyết những vấn đề phát sinh đang xảy ra hàng ngày trong thực tiễn đời sống xã hội. Đó là những hoạt động quản lí của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (như Chính phủ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (như Chính phủ với Bộ công an) hay với cơ quan chuyên môn trực thuộc của nó; của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương đó (như Ủy ban nhân dân quận Đống Đa với Trường Học Viện hành chính); của cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc (như Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật Hà Nội); của cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội, kinh tế; và hoạt động quản lí của cơ quan hành chính với công dân người nước ngoài, người không quốc tịch (như giữa cơ quan có thẩm giải quyết khiếu nại với người khiếu nại)....Các hoạt động quản lí nhà nước nêu trên luôn diễn ra hàng ngày hàng giờ, để đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên để xây dựng đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Hơn nữa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân) có sự thống nhất c hặt chẽ với nhau, lại được trao trong tay quyền hành pháp nên đương nhiên là chủ thể quản lí hành chính thường xuyên nhất. Đối với nhóm quan hệ thứ 2, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình ví dụ như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức...Hoạt động này chỉ tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình. Nhóm quan hệ thứ 3 cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong một số trường hợp pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan nhà nước khác, hay các tổ chức cá nhân...nhưng đây không phải là hoạt động quản lí hành chính nhà nước thường xuyên mà chỉ khi được pháp luật quy định. Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo ( Điều 39 Luật xử lí vi phạm hành chính). 3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay gồm có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ). + Ủy ban nhân dân các cấp: + UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là cấp tỉnh) + UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (hiện nay có 48 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 quận, 46 thị xã và 556 huyện – gọi chung là cấp huyện) + UBND xã, phường, thị trấn (hiện nay có 1366 phường, 625 thị trấn, 9121 xã gọi chung là cấp xã) Bên cạnh đó, để giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình còn có một đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước. 4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước Các hình thức quản lí hành chính nhà nước bao gồm: Hình thức mang tính chất pháp lí: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý. Hình thức không mang tính pháp lý: áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có quyền năng thực hiện tất cả các hình thức quản lý trên. Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành chứa những quy định mang tính khái quát cao. Trong khi hoạt động quản lí hành chính nhà nước bao hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, rất rộng lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ cụ thể hóa thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: Chính phủ được ban hành nghị quyết (như nghị quyết Nghị quyết số 13NQCP của Chính phủ : Về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường), nghị định (Nghị định 1292013NĐCP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế); bộ trưởng được ban hành thông tư (Thông tư 092013TTBTC của Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của quản lí thị trường); ủy ban nhân dân được ban hành quyết định, chỉ thị (Quyết định số 212011QĐUBND của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai). Về hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: chủ tịch ủy ban nhân dân được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về hoạt động khác mang tính chất pháp lý: áp dụng các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật; đăng kí những sự kiện nhất định; lập và cấp một số giấy tờ nhất định. Ví dụ: ủy ban nhân dân xã cấp giấy đăng kí khai sinh, giấy đăng kí kết hôn,... Về áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp: đảm bảo sự kết hợp đúng đắn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách trong hoạt động của Chính phủ, ủy ban nhân dân; chuẩn bị và tiến hành các phiên họp của Chính phủ,... Về thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật: chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành nghị định, làm báo cáo, công tác lưu trữ hồ sơ,...Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) không ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, không thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý. Cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát tuy cũng thực hiện các hình thức trên nhưng không nhiều như cơ quan hành chính nhà nước và chủ yếu để thực hiện chức năng chính của các cơ quan đó (xét xử, kiểm sát). Chẳng hạn, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất hạn chế, chỉ được quy định cho Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và văn bản do các chủ thể này ban hành cũng rất hạn chế, thường là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. KẾT LUẬN Tóm lại, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước, là chủ thể quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lí hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, về cơ cấu tổ chức, xác định mục tiêu, về đội ngũ cán bộ, công chức…, các cơ quan này còn có những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lí. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tích cực đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải cách cơ cấu tổ chức của các cơ quan này, đồng thời mỗi người dân cũng có ý thức tham gia hoạt động quản lý ở địa phương một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài..
Xem thêm

13 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI Ở THÁI BÌNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ - VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI Ở THÁI BÌNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

hành chínhxử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai góp phần lập3lại trật tự kỷ cương, phòng, chống vi phạm, tăng cường quản lý nhà nước vềđất đai thực sự có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận cũng như thực tiễn đặt ra.Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc lưu vực sông Hồng, là tỉnh thuầnnông, diện tích đất tự nhiên 154.542,0396 ha, dân số 1.845.000 người [6, tr. 3].Nhiều thập kỷ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, người dân Thái Bìnhđã lao động cần cù, "một nắng, hai sương", sử dụng đất có hiệu quả, ít có viphạm pháp luật đất đai; đã lập nên những kỳ tích với "Bài ca 5 tấn", rồi 10tấn, 12 tấn thóc/ha… Nhưng rồi, tháng 5/1997, Thái Bình đã xảy ra khiếukiện đông người, gây mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; một trongnhững nguyên nhân đó là do "... cấp đất, bán đất trái thẩm quyền một cáchphổ biến; chính quyền ở nhiều cơ sở đã lạm dụng việc xử phạt hành chínhmột cách tùy tiện, trái quy định, quá sức chịu đựng của dân, gây bất bìnhtrong dân" [47, tr. 7]. Sau sự kiện trên, các cấp, các ngành trong tỉnh đã rútkinh nghiệm; đề ra các chủ trương, giải pháp sửa chữa, khắc phục những khuyếtđiểm, thiếu sót, chấn chỉnh công tác quản lý, xử phạt vi phạm hành chính vềđất đai, vì vậy các vi phạm pháp luật về đất đai ngày càng giảm. Những nămgần đây, Thái Bình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọngcông nghiệp, dịch vụ; xây dựng nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp tậptrung; với phong trào "xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệuđồng/ha/năm và hộ gia đình có thu nhập đạt 50 triệu đồng/ha/năm" [53, tr. 1].Với quyết tâm trên, Thái Bình từ tỉnh có thu ngân sách trên địa bàn đạt 235 tỷđồng năm 2001, đã vinh dự được vào câu lạc bộ tỉnh có thu ngân sách trên địabàn đạt 1.000 tỷ đồng năm 2004. Nhưng bên cạnh đó:Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở cấp xã, cấp huyệntrong tỉnh còn bị buông lỏng; còn tình trạng cấp đất, giao đất sai thẩm
Xem thêm

135 Đọc thêm

Các hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính

CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT CHÍNH TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Các hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính Trong xử phạt vi phạm hành chính có hai hình thức là xử phạt chính và xử phạt bổ sung.Hình thức xử phạt chính có nét khác biệt so với hình phạt bổ sung ở chức năng áp dụng một cách độc lập của hình thức xử phạt và phạm vi áp dụng hình thứ xử phạt.Hình thức xử phạt chính bao gồm có cảnh cáo và phạt tiền.Vậy hai hình thức này có những đặc điểm gì? Trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày vấn đề “các hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính.” NỘI DUNG 1.Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính: Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành quyết định các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác theo những trình tự thủ tục do pháp luật quy định đối với các nhân,tổ chức vi phạm hành chính. 2.Các hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,bổ sung năm 2008). Khoản 1 điều 12 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sử đổi bổ sung năm 2008 quy định “Đối với mỗi vi phạm hành chính cá nhân,tổ chức vi phạm hành chính phải chịu j trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a. Cảnh cáo b. Phạt tiền Như vậy theo quy định này thì hình thức xử phạt chính bao gồm hình thức cảnh cáo và phạt tiền. 2.1.Cảnh cáo: Phạt cảnh cáo là một trong hai hình thức phạt chính trong xử phạt vi phạm hành chính.So với hình thức phạt tiền thì cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn,mang ý nghĩa giáo dục nhiều hơn là trừng phạt. Điều 13 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định “Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân,tổ chức vi phạm hành chính nhỏ,lần đầu,có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện với lỗi cố ý.”Như vậy từ quy định trên chúng ta có thể thấy điều kiện để áp dụng hình phạt cảnh cáo đó là: Về chủ thể: hình phạt cảnh cáo đước áp dụng đối với tổ chức,cá nhân(đối với cá nhân phải từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hành chính).Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với lỗi cố ý. Cơ sở thực tế: có hành vi vi phạm hành chính xảy ra. Cơ sở pháp lý:hành vi vi phạm mà các tổ chức,cá nhân thực hiện được văn bản pháp luật quy định là có thể áp dụng hình thức phạt cảnh cáo.(Dựa vào quy định của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính) Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức,cá nhân vi phạm hành chính chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm nhỏ,lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. 2.2. Phạt tiền: Phạt tiền cũng được pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định là một trong những hình thức xử phạt chính.Trong hai hình thức này thì phạt tiền được áp dụng phổ biến hơn.Phạt tiền là việc tước bỏ của cá nhân,tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước.Phạt tiền tác động trực tiếp đến lợi ích vật chất,kinh tế của cá nhân,tổ chức vi phạm cho nên mang lại hiệu quả rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính. Chủ thể áp dụng: là tổ chức,cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hành chính.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo mà không bị phạt tiền. Về mức phạt tiền:khoản 1 điều 14 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định mức phạt tiền thấp nhất là 10.000.000 đồng và cao nhất là 500.000.000 triệu đồng. Cơ sở để phạt tiền: khi có hành vi vi phạm hành chính xảy ra và căn cứ vào quy định của pháp luật xem hành vi vi phạm đó có áp dụng hình thức phạt tiền hay không. Xác định mức phạt tiền: chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào tính chất,mức độ vi phạm và quy định của pháp luật để xác định mức phạt tiền cho phù hợp. Khoản 2 điều 57 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định:“Khi phạt tiền,mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó.Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt tiền có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền,nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.” Phạt tiền đối với chủ thể là người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính.Điều 7 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều 12 của pháp lệnh này.Khi phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá 12 mức phạt đối với người thành niên”. Ngoài ra hình phạt trục xuất cũng có thể được xem là hình phạt chính khi nó được áp dụng một cách độc lập hoặc áp dụng cùng với hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép,chứng chỉ hành nghề;tịch thu tang vật phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Kết luận Các hình thức xử phạt thể hiện sự răn đe,trừng phạt của pháp luật đối với những cá nhân,tổ chức có hành vi vi phạm các nguyên tắc quản lý nhà nước thông qua việc buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần.Ngoài ra nócòn mang tính giáo dục đối với cá nhân,tổ chức bị xử phạt góp phần nâng cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản lý nhà nước qua đó bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Phân biệt thanh tra hành chính với thanh tra chuyên ngành

PHÂN BIỆT THANH TRA HÀNH CHÍNH VỚI THANH TRA CHUYÊN NGÀNH

Phân biệt thanh tra hành chính với thanh tra chuyên ngành Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo Luật Thanh tra năm 2004 lần đầu tiên đưa ra các khái niệm và định nghĩa về thanh tra, trong đó đã có sự phân biệt hai loại hình thanh tra chủ yếu là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Luật Thanh tra cũng phân biệt hai loại cơ quan thanh tra : Thanh tra được tổ chức theo cấp hành chính (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra cấp huyện) và thanh tra theo ngành và lĩnh vực (đảm nhận cả chức năng thanh tra hành chính và chức năng thanh tra chuyên ngành). Tuy nhiên, sự phân biệt này nhìn chung vẫn chưa đủ rõ. Thực tế trong thời gian vừa qua, Thanh tra Chính phủ cùng với các tổ chức thanh tra nhà nước khác đã tiến hành những cuộc thanh tra lớn về các dự án đầu tư công trình giao thông, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động của các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, việc quản lý và sử dụng đất đai nhưng để phân biệt các cuộc thanh tra này là thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành là rất khó. Sự phân biệt giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành xuất phát từ quan niệm coi thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Mục đích của quản lý nhà nước xét cho cùng là bảo đảm cho mọi hoạt động trong xã hội tuân thủ theo các quy định của pháp luật, bảo đảm cho công dân thực hiện được các quyền cơ bản của mình, tạo điều kiện phát huy mọi năng lực sản xuất của xã hội. Để đạt được mục đích đó, Nhà nước phải phải thực hiện hai nhiệm vụ chính là tăng cường các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và phải thường xuyên hoàn thiện, loại trừ các khuyết tật trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước. Tương ứng với hai nhiệm vụ này là hai loại hình của hoạt động thanh tra : thanh tra chuyên ngành (hướng vào xã hội, các đối tượng quản lý) và thanh tra hành chính (hướng vào bản thân bộ máy quản lý). Về thanh tra hành chính: Theo quy định của Luật Thanh tra (khoản 2 Điều 4): Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan tổ chúc, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp . Theo khái niệm này, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp); là thanh tra của chủ thể quản lý này với chủ thể quản lý khác. Thanh tra hành chính vì vậy mang tính kiểm soát nội bộ (được hiểu theo nghĩa rộng là nội bộ của bộ máy nhà nước hay nội bộ của bộ máy các cơ quan nhà nước, thường là theo hệ thống). Nếu như mục đích chung của thanh tra là “nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 3 Luật Thanh tra), thì mục đích cụ thể của hoạt động thanh tra hành chính là làm trong sạch bộ máy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành. Xét về bản chất, nội dung của khái niệm này không khác nhiều so với với khái niệm thanh tra nhà nước trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, được ban hành trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, theo cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ. Khi đó, Nhà nước quản lý bằng các biện pháp mang nặng tính hành chính. Hoạt động sản xuất, kinh doanh chủ yếu được tiến hành trên cơ sở các kế hoạch, mệnh lệnh hành chính. Mỗi đơn vị kinh tế được coi như đơn vị cơ sở của cơ quan nhà nước chủ quản. Vì thế, mục đích, nội dung, phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra đối với cơ quan nhà nước cấp dưới hay đối với một doanh nghiệp về cơ bản là giống nhau. ở cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì mọi hoạt động thanh tra khi đó đều mang tính hành chính. Hay nói cách khác, đó chính là thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới. Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính phải là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Hoạt động thanh tra hành chính không hướng vào các đối tượng là các doanh nghiệp mà phải hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Không nên cho rằng, đối tượng thanh tra hành chính bao hàm cả các tổ chức, doanh nghiệp nên có thể thông qua thanh tra các doanh nghiệp để đánh giá trách nhiệm quản lý của các bộ, ngành, địa phương (phần lớn các cuộc thanh tra được gọi là thanh tra kinh tếxã hội đang được thực hiện theo quan niệm này). Nếu theo quan niệm này, việc đánh giá trách nhiệm quản lý nhà nước trong quá trình thanh tra thường sẽ không được coi là mục tiêu số một, mục tiêu xuyên suốt. Thanh tra hành chính phải tổ chức đoàn thanh tra, phải cú quyết định thanh tra trong khi thanh tra chuyên ngành có thể tổ chức đoàn hoặc có thể được thực hiện bởi thanh tra viên độc lập và trên cơ sở sự phân công nhiệm vụ. Về thanh tra chuyên ngành: Việc chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã kéo theo một loạt những thay đổi. Đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra đa dạng hơn, phức tạp hơn với sự gia tăng về số lượng các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế cũng như quá trình xã hội hoá nhiều lĩnh vực, trong đó Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính, mà quản lý xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, bằng luật pháp cho mọi thành phần kinh tế hoạt động và phát triển cũng như thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu. Theo quan niệm, nhận thức mới, Nhà nước thực hiện vai trò phục vụ xã hội với tính chất là một tổ chức dịch vụ công; Nhà nước có trách nhiệm tạo ra một hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp và cá nhân tự do phát triển. Nhà nước có quyền và có nhiệm vụ tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật, công bằng. Bản thân các cơ quan nhà nước cũng phải hoạt động trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật. Trong cơ chế quản lý mới, phương thức, cách thức, mục đích nội dung thanh tra đối với các doanh nghiệp không thể mang tính hành chính giống như thanh tra các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong bộ máy nhà nước mà cần phải có sự thay đổi. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của đời sống kinh tếxã hội đều có các cơ quan quản lý nhà nước. Vì thế, việc thanh tra, kiểm tra các đơn vị, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về từng lĩnh vực phải được tiến hành chuyên sâu, do các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực thực hiện. Đó là lý do của việc xuất hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành trong Luật thanh tra. Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành là bảo đảm sự chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động kinh tế tài chính, kinh tế xã hội cũng như trong mọi lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội. Đối tượng thanh tra của thanh tra chuyên ngành có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với thanh tra hành chính và chủ yếu là khu vực tư, chẳng hạn các cuộc thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, thanh tra chất lượng mũ bảo hiểm xe máy, thanh tra tài nguyên môi trường, thanh tra việc khám chữa bệnh hay hành nghề y dược tư nhân, thanh tra xây dựng v.v... Thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt hành chính trong khi thanh tra hành chính, với đối tượng là cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước chủ yếu áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính... Thanh tra chuyên ngành thực chất là hoạt động kiểm tra thường xuyên của cơ quan quản lý, kết hợp với xử lý vi phạm. Một đặc điểm nữa của thanh tra chuyên ngành là tổ chức và hoạt động nó thường do Chính phủ quy định trên cơ sở đề nghị của các bộ, ngành và phụ thuộc vài tính chất, phạm vi, đặc điểm của từng bộ, ngành đó (lĩnh vực giáo dục; lĩnh vực y tế, ngoại giao, tài chính v.v…). Như vậy, trong các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn hiện nay về mô hình tổ chức và hoạt động Thanh tra trong các bộ, ngành rất phức tạp; còn tồn tại mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra khác nhau giữa các bộ, ngành...Những yếu tố này không thể không ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy, cần rà soát lại toàn bộ các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến mô hình tổ chức, hoạt động thanh tra trong các lĩnh vực chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật..
Xem thêm

6 Đọc thêm

Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xét xử các vụ án hành chính ở Việt Nam

BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong hoạt động xét xử hành chính của Tòa án là việc Tòa án trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình tiến hành xem xét và phán quyết tính hợp pháp (hay bất hợp pháp) đối với các hành vi công quyền (quyết định hành chính, hành vi hành chính được ban hành, thực hiện trong quá trình quản lý hành chính nhà nước) theo quy định của pháp luật tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Hoạt động xét xử hành chính tại Tòa án ở Việt Nam thời gian qua đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy vậy, trong hoạt động tố tụng, vẫn còn có những bất cập như: hệ thống văn bản pháp luật nội dung chồng chéo, hệ thống văn bản tố tụng lại thiếu hụt các quy định pháp luật quan trọng, hệ thống các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp các quyết định hành chính, hành vi hành chính chưa thống nhất, tập trung… làm cho bản án được tuyên bị hạn chế tính thuyết phục. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong hoạt động xét xử hành chính của Tòa án cần thực hiện các nhóm giải pháp sau: 1) Hoàn thiện pháp luật nội dung hành chính, trong đó có các vấn đề liên quan đến Luật đất đai, Luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về thi hành án; 2) Hoàn thiện tổ chức xét xử hành chính; 3) Hoàn thiện nhân tố con người trong xét xử hành chính; 4) Hoàn thiện cơ chế về các biện pháp bảo đảm quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động xét xử hành chính của Tòa án, cụ thể là khắc phục các hạn chế về tố tụng và đảm bảo thi hành các phán quyết của Tòa án, xác định rõ trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hành chính.
Xem thêm

166 Đọc thêm

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH HÀNH CHÍNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ GIAI ĐOẠN 2014 2015

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH HÀNH CHÍNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ GIAI ĐOẠN 2014 2015

LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành bài niên luận này, em xin chân thành cảm ơn Thầy, Côtrong Đại học Luật – Đại học Huế trong suốt thời gian qua đã truyền đạt choem những kiến thức bổ ích, giúp em có được nền tảng kiến thức để thực hiệnbài niên luận này.Đặc biệt, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến TS Đặng Công Cường đãtrực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và đưa ra những lời nhận xét, đánh giá cần thiếtđể em có thể thực hiện và hoàn thành đề tài niên luận này.Mặc dù đã cố gắng trong việc tìm kiếm, nghiên cứu và tham khảo cáctài liệu nhưng do hạn chế về thời gian và điều kiện thực tiễn cũng như họcthức chưa được sâu sắc nên bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót. Do đó, em rấtchân thành tiếp thu các ý kiến đánh giá của thầy cô và bạn bè để bài niên luậncủa mình được hoàn thiện hơn.Em xin chân thành cảm ơn!MỤC LỤCA. MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiCác biện pháp xử lý hành chính có tầm quan trọng đặc biệt trong việcđấu tranh phòng, chống các hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, văn hóa,pháp luật. Đồng thời, góp phần to lớn trong việc giáo dục người có hành vi viphạm trở thành những công dân tốt cho xã hội. Vấn đề vi phạm pháp luậttrong lĩnh vực hành chính là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thếgiới, đặc biệt là Việt Nam. Công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm phápluật là trách nhiệm của Đảng, các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân. Việcđấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp xử lýhành chính đối với các đối tượng vi phạm có ý nghĩa quan trọng trong xã hộinước ta, chúng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà
Xem thêm

26 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP NGÀY 4112004 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 392011NĐCP NGÀY 2652011 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP NGÀY 4112004 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 392011NĐCP NGÀY 2652011 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP NGÀY 4112004 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 392011NĐCP NGÀY 2652011 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 1852004NĐCP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN Căn cứ Luật Kế toán số 032003QH11 ngày 1762003; Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 442002PLUBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 042008PLUBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Căn cứ Nghị định 372005NĐCP ngày 1832005 của Chính phủ về việc quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Căn cứ Nghị định số 1182008NĐCP ngày 27112008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Căn cứ Nghị định số 1852004NĐCP ngày 04112004 và Nghị định số 392011NĐCP ngày 2652011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1852004NĐCP của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán; Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 1852004NĐCP ngày 04112004 và Nghị định số 392011NĐCP ngày 2652011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1852004NĐCP của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, như sau: Chương 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi, đối tượng áp dụng 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng Thông tư này là các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là cá nhân, tổ chức) có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về kế toán mà không phải là tội phạm theo quy định tại Nghị định số 1852004NĐCP ngày 04112004 và Nghị định số 392011NĐCP ngày 2652011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 1852004NĐCP của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán (dưới đây gọi tắt là Nghị định số 1852004NĐCP sửa đổi, bổ sung). 2. Cá nhân là đối tượng áp dụng Thông tư này gồm: Người làm kế toán, người hành nghề kế toán, người khác có liên quan đến kế toán thuộc lĩnh vực kế toán nhà nước và thuộc hoạt động kinh doanh. 3. Cơ quan, tổ chức là đối tượng áp dụng Thông tư này gồm: a) Cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước quy định tại Điều 2 của Nghị định số 1282004NĐCP ngày 3152004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước; b) Các tổ chức hoạt động kinh doanh quy định tại Điều 2 của Nghị định số 1292004NĐCP ngày 3152004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong hoạt động kinh doanh. Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán 1. Mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. 2. Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán khi có hành vi vi phạm quy định tại các điều từ Điều 7 đến Điều 16 Chương II của Nghị định số 1852004NĐCP sửa đổi, bổ sung và Điều 1 của Thông tư này. 3. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. 4. Một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán chỉ bị xử phạt hành chính một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. 5. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng được quy định tại Điều 6, Nghị định 1852004NĐCP để quyết định hình thức và mức xử phạt tiền, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả thích hợp. Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính được xác định theo quy định tại Điều 5 và các điều từ Điều 7 đến Điều 16 Chương II của Nghị định số 1852004NĐCP sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn tại Chương II của thông tư này. 6. Không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán đối với các trường hợp sau: a) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 1852004NĐCP sửa đổi, bổ sung. b) Vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm, bao gồm: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán có dấu hiệu tội phạm đã chuyển hồ sơ đến cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết; Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán có dấu hiệu tội phạm mà cơ quan tiến hành tố tụng đang xem xét, giải quyết; Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán có dấu hiệu tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng có văn bản đề nghị chuyển hồ sơ để xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự. Chương 2.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀXỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHTRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔITRƯỜNG

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀXỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHTRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔITRƯỜNG

mức xử phạtCác nội dung sửa đổi, bổ sung tập chung chủ yếuvào Chương II, gồm 25 điều - NĐ 121 là 17 điềuCác điều giữ nguyên như NĐ 121Có 5 điều được giữ nguyên, gồm: Điều 14: Vi phạm các quy định về thải chấtthải rắn Điều 18: Vi phạm các quy định về bảo tồnthiên nhiên Điều 21: Vi phạm quy định về ô nhiễm đất Điều 22: Vi phạm quy định về ô nhiễm môitrường nước Điều 23: Vi phạm quy định về ô nhiễmkhông khíCác điều được sửa đổi, bổ sungCó 13 điều được sửa đổi, bổ sung, gồm các điều 8,9, 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 19, 20, 25 và Điều32Các điều được sửa đổi, bổ sungĐiều 8 và Điều 9: Trên cơ sở các nội dungđã được quy định cụ thể tại Nghị định số121/2004/NĐ-CP, Nghị định 81/2006/NĐ-CP
Xem thêm

27 Đọc thêm

Cùng chủ đề