XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN LUẬT HOÀN CHỈNH VÀ ĐỒNG BỘ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN LUẬT HOÀN CHỈNH VÀ ĐỒNG BỘ":

SỰ THAY ĐỔI TRONG THẨM QUYỀN BAN HÀNH CỦA CÁC LOẠI VBQPPL

SỰ THAY ĐỔI TRONG THẨM QUYỀN BAN HÀNH CỦA CÁC LOẠI VBQPPL

Sự thay đổi trong thẩm quyền ban hành của các loại VBQPPL của Luật ban hành VBQPPL 2008 so với Luật ban hành VBQPPL cũ Bài tập lớn môn Xây dựng văn bản pháp luật Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật A – ĐẶT VẤN ĐỀ Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ( VBQPPL ), đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật theo chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, ngày 03 tháng 06 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ ba, đã ban hành Luật ban hành VBQPPL mới ( thay thế Luật ban hành VBQPPL năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002 – từ bây giờ trong bài gọi tắt là Luật ban hành VBQPPL cũ ) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Luật ban hành VBQPPL 2008 có nhiều sự điều chỉnh và thay đổi cần thiết so với Luật ban hành VBQPPL cũ. Bài viết dưới đây nhận xét về sự thay đổi trong thẩm quyền ban hành của các loại VBQPPL của Luật ban hành VBQPPL 2008 so với Luật ban hành VBQPPL cũ. B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Luật ban hành VBQPPL cũ quy định thẩm quyền về hình thức ở trong một chương riêng, sau đó ở các chương sau sẽ quy định phần thẩm quyền về nội dung. Điều đó được thể hiện ngay trong tên của các chương, điều khoản, điều này làm hạn chế tính liền mạch trong Luật. Hơn nữa, có nhiều cơ quan được phép ban hành nhiều loại văn bản, điều này phần nào dẫn đến tình trạng hệ thống văn bản QPPL phức tạp, khó khăn trong việc theo dõi, đánh giá… phần nào làm giảm hiệu quả của công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL. Luật ban hành VBQPPL 2008 ra đời đã giải quyết được tình trạng trên. Luật đã quy định thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung ngay trong cùng 1 điều luật, nằm trong chương II. Ngay tên chương và tên điều đã thể hiện rõ điều đó. Sự thay đổi này vừa tạo kết cấu logic cho luật và đồng thời thể hiện được rõ nội dung của Luật. Theo quy định tại Điều 2 của Luật ban hành VBQPPL năm 2008 thì hệ thống VBQPPL ở nước ta hiện nay bao gồm : Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Nghị định của Chính phủ. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Dưới đây xin trình bày những thay đổi về thẩm quyền nội dung và thẩm quyền hình thức của các chủ thể được quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 so với Luật ban hành VBQPPL cũ 1 – Giữ nguyên thẩm quyền hình thức và thay đổi 1 phần thẩm quyền nội dung VBQPPL của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. a Văn bản QPPL do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Nội dung Luật do Quốc hội ban hành được mở rộng hơn, quy định thêm về các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, chế độ công vụ, cán bộ, công chức. Sở dĩ có sự bổ sung này là do chúng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề này trong đời sống xã hội, phải được quan tâm hơn trong tình hình mới, và cần thiết nâng lên thành luật. Cùng với đó là việc không còn cho phép Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, đồng thời quy định Nghị quyết của Quốc hội quy định chế độ làm việc của Đoàn đại biểu Quốc hội. (Điều 11 Luật ban hành VBQPPL 2008). Trước đây có Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành ngày 1471993 nhưng không được coi là một loại văn bản QPPL, do đó việc đưa hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội vào là nội dung của Nghị quyết Quốc hội là hợp lý, tăng cường hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật. b Văn bản QPPL do Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành: Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Luật ban hành VBQPPL 2008 đã bỏ đi nội dung “ giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân ” (Điều 12 Luật ban hành VBQPPL 2008). Vì vào ngày 1762003 tại kì họp thứ 3 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, do đó sự thay đổi trên của luật 2008 là hoàn toàn cần thiết, tránh tình trạng chồng chéo giữa các luật. c Văn bản QPPL do Chủ tịch nước ban hành : Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Thẩm quyền về nội dung văn bản QPPL của Chủ tịch nước đã có sự thay đổi đáng kể, đó là văn bản QPPL của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước không chỉ do Hiến pháp, luật quy định mà còn mở rộng ra do nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH quy định ( Điều 13 Luật ban hành VBQPPL 2008 ). d Văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Điều 21 Luật ban hành VBQPPL 2008 quy định rất ngắn gọn: VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Ngày 3122004 Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được Quốc hội thông qua đã quy định chi tiết về vấn đề này cho nên Luật ban hành VBQPPL 2008 không cần nhắc lại. 2 – Thay đổi cả thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung nội dung VBQPPL của các VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao a Văn bản QPPL của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Luật trước đây quy định Chính phủ có quyền ban hành văn bản QPPL dưới hình thức Nghị quyết, Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định, Chỉ thị nhưng tại Điều 14 và 15 Luật ban hành VBQPPL 2008 quy định Chính phủ chỉ ban hành văn bản QPPL dưới một hình thức duy nhất là Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định. Do thay đổi về thẩm quyền hình thức dẫn tới sự thay đổi thẩm quyền nội dung. Chính phủ chỉ được ban hành Nghị định nên phạm vi điều chỉnh sẽ được mở rộng, “ làm thêm ” cả một phần vai trò của Nghị quyết trong luật cũ ( chính là khoản 2 tại Điều 14 của Luật ban hành VBQPPL 2008 : thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ ). Một phần thẩm quyền nội dung của Nghị quyết của Chính phủ nay được chuyển sang cho các VBQPPL do Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề như cũ và điều chỉnh thêm vấn đề là quy định về biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phần bổ sung này chính là từ phạm vi điều chỉnh của Chỉ thị chuyển sang, khi nó không còn tồn tại trong luật mới. b Văn bản QPPL của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Điều 16 Luật ban hành VBQPPL 2008 chỉ cho phép Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành Thông tư thay vì được ban hành Quyết định, chỉ thị, thông tư như trước đây. Đồng thời phạm vi nội dung của Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành cũng đã được mở rộng thể hiện ở ba khoản thay vì chỉ có một khoản quy định về nội dung của Thông tư như trước đây. Trong đó khoản 3 vẫn giữ nguyên, khoản 1 và khoản 2 là thuộc thẩm quyền của Quyết định trước được nhập vào. Còn thẩm quyền nội dung của chỉ thị đã được bãi bỏ không đưa vào trong thông tư ( Khoản 2 điều 58 luật cũ : Chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định các biện pháp để chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp và kiểm tra hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách trong việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của mình ) bởi vì năm 2004 đã ban hành Luật Thanh tra và tới đây Luật Thanh tra mới có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2011. c Văn bản QPPL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều 18 Luật ban hành VBQPPL 2008 quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ ban hành VBQPPL dưới một hình thức Thông tư, thay vì Quyết định, chỉ thị, thông tư như trước và mở rộng thẩm quyền nội dung “ ban hành để thực hiện việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức ”, “ ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương Viện kiểm sát quân sự ”, sự bổ sung này để phù hợp với Luật tổ chức của hai cơ quan trên. Ngoài ra thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn ban hành Nghị quyết và phạm vi không đổi. d Văn bản QPPL liên tịch Cả thẩm quyền ban hành VBQPPL liên tịch về hình thức lẫn nội dung đều được Điều 20 Luật ban hành VBQPPL 2008 quy định lại 1 cách cụ thể : Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị xã hội đó tham gia quản lý nhà nước. Nếu so với luật cũ quy định tại Điều 73 : “Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị xã hội đó tham gia quản lý nhà nước ” thì theo Luật ban hành VBQPPL 2008 đã nêu rõ chỉ được ban hành Nghị quyết liên tịch và cơ quan có thẩm quyền là Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó. Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó. Có thể nhận thấy so với luật cũ quy định thẩm quyền ban hành VBQPPL là giữa các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; giữa Toà án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì tại Luật ban hành VBQPPL 2008 thì thẩm quyền ban hành VBQPPL liên tịch là giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ người đứng đầu các cơ quan này. Đây là điểm mới cần thiết, thể hiện tư duy hợp lý của nhà lập pháp, tạo điều kiện thuận lợi đển khuyến khích tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan trong việc ban hành văn bản quy phạm liên tịch nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, góp phần rút ngắn thời gian bàn bạc, ký kết văn bản và giúp văn bản nhanh chóng đi vào thực tế 3 – Thêm Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước Điều 19 Luật ban hành VBQPPL 2008 là điều luật được bổ sung thêm thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của Tổng kiểm toán nhà nước dưới hình thức Quyết định. Hoạt động của Kiểm toán nhà nước đòi hỏi tính độc lập. sự độc lập về địa vị pháp lý là một trong những yêu cầu khách quan, đòi hỏi Kiểm toán Nhà nước phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo cho lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước được thực hiện một cách có hiệu quả. Tổng kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, vị trí của Tổng kiểm toán Nhà nước là hết sức quan trọng. Vì thế, Tổng kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong quá trình lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước. C – KẾT THÚC VẤN ĐỀ Nhìn chung, việc xây dựng và ban hành Luật ban hành VBQPPL 2008 là một sự đổi mới căn bản về quan điểm, kỹ thuật lập pháp. Đây là một văn bản luật quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48NQTW ngày 2452005 của Bộ Chính trị và các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO. Việc quy định về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL là một yếu tố quan trọng, góp phần vào khắc phục tình trạng hệ thống văn bản QPPL phức tạp, quá nhiều loại văn bản, gây khó khăn khi theo dõi, xác định thứ bậc hiệu lực của các loại văn bản.
Xem thêm

10 Đọc thêm

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM

Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm 8 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Công pháp quốc tế Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án. Theo khoa học pháp lý quốc tế hiện đại, Luật Quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, được quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Mối quan hệ giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia là vấn đề mang tính lý luận cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở từng quốc gia. Mối quan hệ này được thể hiện ở nhiều nội dung và dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trên quy mô toàn cầu, mối quan hệ biện chứng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia diễn ra theo hai chiều hướng: Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng và thực hiện Luật Quốc tế; Luật Quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật quốc gia. Đối với từng quốc gia, sự tác động qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia đó. Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế, ảnh hưởng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia của Việt Nam là tương đối rõ nét. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, em xin được chọn đề tài: Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận 1. Khái niệm đấu tranh phòng chống tội phạm Để có cách sử dụng chính xác thuật ngữ “đấu tranh phòng, chống tội phạm” đảm bảo tính khoa học và toàn diện, cần phân tích nội hàm của các thuật ngữ này qua các từ của thuật ngữ. “Đấu tranh” là từ Hán Việt, có nghĩa tương đương với “chống”, theo đó “đấu tranh” ở đây được hiểu là công tác điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội. “Chống” được hiểu là sự đấu tranh trực diện giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền và một bên là tội phạm. Còn “phòng ngừa” là ngăn ngừa hoặc ngăn chặn để không cho tội phạm xảy ra Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. 2. Một số văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực phòng chống tội phạm Luật phòng, chống mua bán người ngày 29032011 Nghị định số 722010NĐCP ngày 0872010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường Nghị quyết số 091998NQCP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 3171998. Chỉ thị số 372004CTTTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 091998NQCP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010” Nghị định số 252014NĐCP của Chính phủ ngày 07042014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao. Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: + Công ước New York ngày 15112000 về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (kèm theo bảo lưu và tuyên bố), có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 0862012 + Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng + Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia + Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Các hiệp định song phương và đa phương khác về tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm… 3. Luật Quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ phải tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể hiện thông qua nhiều hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia. Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật Quốc tế thể hiện thành tựu mới của khóa học pháp lý dần dần sẽ được truyền tải vào trong các văn bản pháp luật quốc gia. Những thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia, đảm bảo cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung, vừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định của pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể là: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật đó” (khoản 6 điều 11) Điều ước quốc tế được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết với danh nghĩa Nhà nước, Chính phủ hoặc cấp ngành. Do vậy, khi một điều ước quốc tế được phía Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì có nghĩa là Nhà nước, Chính phủ hoặc ngành liên quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế đó bằng cách nội luật hóa hoặc quy chiếu trực tiếp, có nghĩa là nó sẽ nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, khi đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh phải tuân theo. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định những vấn đề mà pháp luật trong nước chưa điều chỉnh thì nó có thể trở thành căn cứ pháp lý để ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong nước, đặc biệt là các văn bản của bộ, ngành. Trường hợp điều ước quốc tế và luật nội địa cùng quy định về một vấn đề thì về nguyên tắc, luật nội địa phải phù hợp với điều ước quốc tế bằng cách phải sửa đổi, bổ sung hoặc dẫn chiếu áp dụng điều ước quốc tế. Như vậy, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là căn cứ cho việc ban hành văn bản. Chính vì vậy mà các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nói riêng và pháp luật quốc tế nói chung là cơ sở, căn cứ quan trọng để chúng ta phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. II. Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Để phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, em xin được đi vào phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm cụ thể, đó là: đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người; đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng và đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế. 1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người Hiện nay, ở Việt Nam tình hình buôn bán người đang gia tăng và diễn biến phức tạp. Việc nghiên cứu các quy định trong Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các nghị định thư bổ sung, đặc biệt là Nghị định thư về phòng chống buôn bán người vào thời điểm này rất có ý nghĩa thực tiễn về mặt pháp lý, một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu nạn buôn bán người là việc thông qua Luật phòng chống mua bán người. Những quy định cơ bản của pháp luật về buôn bán người Nhìn chung, pháp luật Việt Nam thông qua Luật phòng chống buôn bán người và Luật quốc tế thông qua Nghị định thư về phòng chống buôn bán người đều quy định những vấn đề như: Hình sự hóa những hành vi liên quan đến tội phạm buôn bán người: phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định thư về chống buôn bán người, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội có liên quan đến tội buôn bán người và những hành vi phạm tội đó đều chịu những mức xử lý nghiêm khắc. Liên quan đến hành vi phạm tội buôn bán người được quy định tại Điều 119, 120, Điều 20 tội đồng phạm, Điều 254, 255, 256, 273, 274, 275 BLHS; Điều 3 Luật phòng chống buôn bán người; Nghị định 682002CP ngày 10072002 quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có nhiều điều khoản liên quan đến phòng chống buôn bán người như: điều 2, 18, 21, 35, 50, 58. Thẩm quyền điều tra, quyền tài phán ngoài phạm vi lãnh thổ: pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tại Điều 5, Điều 6 BLHS. Theo như quy định này thì Việt Nam cũng có thể có thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ đối với các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp như người bị hại là công dân Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hành vi phạm tội có tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng tại Việt Nam hoặc hành vi tham gia rửa tiền hay rửa tiền chưa đạt được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để sẽ rửa tiền tại Việt Nam. Quyền tài phán ngoài lãnh thổ được quy định rất rõ trong các Hiệp định song phương hay đa phương mà Việt Nam ký kết với các nước khác trong từng lĩnh vực cụ thể. Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp: Nghị định thư về chống buôn bán người không đề cập vấn đề dẫn độ tội phạm buôn bán người, nhưng tại khoản 1, khoản 3 Điều 16 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp dẫn độ tội phạm theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo nguyên tắc có đi có lại (quy định cụ thể trong chương 4 Luật tương trợ tư pháp và trong điều 343 BLTTHS). Các quy định về dẫn độ trong pháp luật Việt Nam nói chung đã đáp ứng được những yêu cầu khách qua trong việc thực hiện tương trợ tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế và cũng phù hợp với tinh thần chung của pháp luật quốc tế về phòng chống buôn bán người Những quy định về việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân của tội phạm buôn bán người: Nhìn chung, pháp luật Việt Nam cũng đã quy định đầy đủ về vấn đề trợ giúp và tái hòa nhập cộng đồng của các nạn nhân bị buôn bán và điều này cũng phù hợp với tinh thần chung của Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 24, 25) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về chống buôn bán người (Điều 6, 7, 8). Cả pháp luật Việt Nam và Luật quốc tế đều quy định các vấn đề như: không trừng phạt nạn nhân; bảo vệ an toàn thể chất, bảo vệ đời tư và nhân dạng cho nạn nhân; các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân trong quá trình tố tụng; hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng… Những quy định trong pháp luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế về phòng chống tội phạm buôn bán người; điều đó chứng tỏ tác động không nhỏ của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người. 2. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng Ngày 21112005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng chống tham nhũng. Quá trình xây dựng Luật này cũng đã tham khảo những quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Từ các quy định của Công ước, quy định của Luật phòng chống tham nhũng, đồng thời quán triệt Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (kỳ họp thứ ba), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng. Cụ thể là: Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược; đã ban hành một loạt các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng; trả lương qua tài khoản đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách... Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xây dựng, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến PCTN (Quyết định số 264QĐTW ngày 12102009); Thực hiện Nghị quyết 10392006NQUBTVQH11 ngày 2882006 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, các cơ quan: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về việc phối hợp trong công tác phòng chống tham nhũng (Quy chế số 01QCPH ngày 15012009); Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Quyết định số 1372009QĐTTg); Ban hành Quyết định về tổ chức, tên gọi, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng (Quyết định số 1382009QĐTTg ngày 09122009) Các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng cũng đã được rà soát, sửa đổì, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền. Về việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Theo Điều 8 Công ước, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ “trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự (cho công chức) để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chuẩn mực và đúng đắn”. Thực thi quy định này, hầu hết các cơ quan nhà nước Việt Nam ở trung ương đều đã ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Một số tổ chức xã hội nghề nghiệp ở trung ương cũng đã xây dựng và thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp của hội viên như: Hội Kế toán, Kiểm toán, Hội nhà báo, Tổng hội Y dược học...; các tổ chức khác cũng đang khẩn trương xây dựng quy tắc để ban hành. 3. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế Khủng bố quốc tế là hành vi của cá nhân hay tổ chức sử dụng các thủ đoạn bạo lực hoặc phi bạo lực tấn công và gây thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hai) nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe tài sản của cá nhân, tổ chức, tàn sát dã man dân thường để nhằm đạt được các mục đích chính trị, kinh tế hay xã hội Các quy định pháp luật về phòng, chống khủng bố có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLTTHS năm 2003; Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997... và nhiều văn bản dưới luật khác. Thực tiễn cho thấy, hoạt động khủng bố quốc tế là một loại tội phạm xuyên quốc gia rất nguy hiểm; quá trình đấu tranh chống tội phạm khủng bố quốc tế đòi hỏi các nước trên thế giới phải đẩy mạnh hợp tác tương trợ tư pháp hình sự trên nhiều mặt, như công tác điều tra, thu thập chứng cứ, cung cấp, trao đổi thông tin, bắt giữ và dẫn độ, chuyển giao người bị kết án… Để có cơ sở pháp lý đầy đủ cho các hoạt động này, Việt Nam cần tiếp tục đàm phán, ký kết với các nước Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định về dẫn độ và các điều ước quốc tế khác có điều chỉnh vấn đề hợp tác đấu tranh chống tội phạm khủng bố. Nghị quyết 48NQTW đã định hướng: Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp. Đối với bốn điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam chưa phải là thành viên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất Nhà nước gia nhập các điều ước quốc tế này, nhất là Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin. Việc Việt Nam tham gia công ước quốc tế này trong thời điểm hiện nay là cần thiết. Tuy đã gia nhập hoặc ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương về phòng, chống khủng bố hoặc liên quan đến phòng, chống khủng bố nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa tạo lập được cơ chế tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế đó. Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống khủng bố, cần xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố; đặc biệt là các điều ước của Liên hợp quốc về phòng, chống khủng bố. Nếu không ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố thì các điều ước đó chỉ tồn tại mang tính hình thức. Luật phòng, chống khủng bố cần tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, phải bảo đảm yêu cầu nội luật hoá các quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố mà Việt Nam đã là thành viên, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp tục tham gia các điều ước quốc tế còn lại về chống khủng bố trong thời gian tới; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống khủng bố của các quốc gia trên thế giới. Đây là những yêu cầu rất đáng chú ý trong quá trình xây dựng dự án Luật để đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng phải được tính toán, cân nhắc có chọn lọc, theo hướng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn chính trị, kinh tế, pháp luật Việt Nam, tránh rập khuôn, máy móc... III. Một số hạn chế ngăn cản sự tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Thứ nhất, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký kết còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với pháp luật quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc chưa đúng với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Để tăng cường phòng, chống tội phạm, công cụ đầu tiên là BLHS và BLTTHS. Thực tiễn mấy năm qua cho thấy có nhiều chậm trễ, bất hợp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam. Những kinh nghiệm từ nhiều quốc gia phát triển đang rất cần cho xã hội Việt Nam, đã từng được đề xuất nhưng chưa được áp dụng. Thứ hai, về phòng chống tội khủng bố: các dấu hiệu pháp lý của tội khủng bố trong pháp luật hình sự Việt Nam còn có những điểm chưa tương thích với các quy định về khủng bố trong các công ước quốc tế, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động phạm tội khủng bố trong tình hình hiện nay. Thứ tư, về phòng chống tội phạm tham nhũng: Việt Nam còn ít kinh nghiệm, nhiều quy định của Công ước còn tương đối mới đối với Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tuy cơ bản phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, song bản thân hệ thống pháp luật đó đang trong giai đoạn hoàn thiện. KẾT LUẬN Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và khu vực đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa pháp luật. Sự giao thoa này chắc chắn sẽ dẫn đến quá trình tiếp thu và học hỏi cái mới, văn minh, tiến bộ nhằm hoàn thiện những lỗ hổng và bất cập trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác về trật tự an toàn xã hội đã và sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được các kinh nghiệm và thành tựu, các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thế giới để bảo vệ an ninh, trật tự; đồng thời tạo thành một thế trận, một môi trường an ninh, trật tự ổn định để phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, cũng tạo được cơ sở vững chắc để xây dựng hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện.
Xem thêm

11 Đọc thêm

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng Bài tập lớn Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam Chuyên mục Bài tập học kỳ, Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống các tổ chức chính trị xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc và giữa các tổ chức xã hội. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, khái niệm hệ thống chính trị có những nội hàm đặc thù nên được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam), và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống. Đổi mới tư duy về hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta – lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam. Trong thời kì đổi mới thì nhiệm vụ trên lại càng trở nên cần thiết, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Là một sinh viên Luật, em nhận thấy mình có trách nhiệm phải tìm hiểu về chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng” cho bài tập lớn bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. NỘI DUNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ “ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN” Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có từ rất sớm ở Hy Lạp. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Đến thế kỷ XVIII, các nhà dân chủ tư sản tiếp tục hoàn thiện, nâng lên thành học thuyết về nhà nước pháp quyền. So với nhà nước chuyên chế phong kiến đây là nhà nước tiến bộ, nhân đạo có giá trị của nền văn minh nhân loại. Trong lịch sử thế giới đã tồn tại nhiều hình thức nhà nước pháp quyền, dựa trên nguyên tắc chung, ở nhiều nước khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau, xuất phát từ những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nhất định. Lí thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Ví dụ trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ). Như vậy chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ. Nhà nước pháp quyền là hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước pháp trị ở chỗ Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân. Nhà nước pháp quyền chính là sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp quyền. Vấn đề “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam Sự ra đời của khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam Trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về “Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa” bằng văn bản. Cho đến trước đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mặc dù trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước. Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến bởi đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 29111991. Sau đó, bắt đầu từ Hội nghị gữa nhiệm kì khóa VII (11994), Đảng ta đã dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”. Đồng thời, trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 1972007, đồng chí Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Như lời Luật sư Lê Công Định “học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam”. Bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Điều 2 Hiến pháp nước ta hiện nay xác định “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” ( “Hiến pháp Việt Nam, năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178). Bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân được thể hiện bằng những đặc trưng sau: Một là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do nhân dân, mà nóng cốt là liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo để thực hiện quyền lực của nhân dân. Đó chính là tính chất giai cấp của Nhà nước ta. Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhà những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Đồng thời, nhân dân có quyền giám sát, yêu cầu các đại biểu và cơ quan trả lời những vấn đề của nhân dân đặt ra trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm quyền lợi của nhân dân. Hai là, Nhà nươc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam vừa là bản chất, vừa là truyền thống, vừa là nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước ta. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tốc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tốc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các giai cấp, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phts huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình…” Các dân tộc có quyền lựa chọn những đại biểu ưu tú của dân tốc mình tham gia vào cơ quan nhà nước các cấp. Ba là, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Khi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thì quan hệ giữa Nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã họi, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ trước Nhà nước. Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân: quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước. Bốn là, tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Dân chủ hóa đời sống xã hội và hoạt động của Nhà nước là đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Thực chất của dân chủ XHCN là thu hút những người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng Nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của Nhà nước. Những đặc điểm mang tính bản chất nêu trên của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và được pháp luật chế định một cách chặt chẽ. 2. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG Tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Phần này em sẽ tập trung phân tích tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền (hay nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) ở Việt Nam. Nói cách khác, chính là phân tích lí do vì sao Đảng lại chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Cụ thể như sau: Tính tất yếu lịch sử: Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Tính tất yếu khách quan: Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tính tất yếu khách quan còn bắt nguồn từ xu thế pháp quyền trên thế giới (đã được phân tích ở phần 1.1 ). Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng được một nhà nước pháp quyền theo xu thế chung của thế giới nhưng vẫn phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của Việt Nam. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế. Quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Thuật ngữ “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu ở văn kiện hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1994), đánh dấu mốc quan trọng trong tư duy lí luận của Đảng. Đại hội VIII (1996) tiếp tục đặt vấn đề xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “ Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Các Hội nghị TW lần thứ 3, 7, 8 (khóa VIII) đã cụ thể hóa những quan điểm trên. Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là tính hoa, sản phẩm trí tuệ của nển văn minh nhân loại. Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trọng việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ cháp hành Hiến pháp và pháp luật.” Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta như sau: Một là, đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhà nước. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa cac cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thường trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng Đại hội X chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện cac quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong những năm tới cần làm tốt các việc sau: Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 362008, các văn bản quy phạm pháp luật trước khi được ban hành cần được thẩm định nghiêm túc và khách quan. Một trong những nội dung quan trọng phải được thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Ban hành văn bản pháp luật là “Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện”. Quy định nêu trên là hợp lý và cần thiết để những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Sẽ là vô nghĩa và gây ra những tốn kém không cần thiết cả về thời gian và tiền bạc khi một văn bản quy phạm pháp luật được dự thảo, hội thảo, nghiên cứu, ban hành nhưng xa rời thực tế hoặc tạo ra những tác động ngược và các đối tượng thực thi không thể thi hành. Quy định của pháp luật và ý nghĩa của việc đảm bảo tính khả thi của văn bản là đã rõ và về mặt lý thuyết không có ai phản đối. Tiếc thay, hiện nay đã và đang xuất hiện khá nhiều văn bản không có tính khả thi hoặc tính khả thi rất thấp. Trước hết phải kể đến một số nghị định của Chính phủ, bao gồm cả những văn bản đã được ban hành và những văn bản đang là dự thảo. Xuất hiện nhiều quy định xa rời thực tế hơn cả là Nghị định số 342010NĐCP ngày 242010 của Chính phủ (NĐ 34) “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”. Trong nghị định này, ít nhất cũng có ba điều xa thực tế, đó là: quy định xử phạt vi phạm Luật Giao thông đối với người đi bộ; quy định xử phạt những người hành nghề xe ôm không đeo biển hiệu và không có trang phục do cấp tỉnh quy định để phân biệt với những người tham gia giao thông khác; quy định xử phạt với những lái xe vận chuyển container không có bằng FC. Từ ví dụ trên có thể thấy: Văn bản sẽ có tính khả thi cao khi các quy định của văn bản không chỉ có tính cưỡng chế với người dân mà người dân cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, “hợp lòng dân” và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người. Các quy định “hợp lòng dân” là các quy định mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định. Muốn có các quy định có tính khả thi cao, người soạn thảo cần có bước tiến hành đánh giá, nghiên cứu về thực tế cuộc sống và cần phải có ước tính các điều kiện để bảo đảm tính khả thi của từng quy định. Khi đặt ra các quy định liên quan đến quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến người dân, cơ quan soạn thảo cần chú ý tham khảo thêm ý kiến của họ. Bên cạnh các yêu cầu nêu trên, cơ quan ban hành văn bản còn phải xác định thế nào là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản? Đôi khi, cần phân tích trong từng quy phạm để có thể thấy được rõ ràng, chính xác ai là người được coi là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của văn bản. Khi xây dựng văn bản và dự thảo từng quy định quan trọng của văn bản nếu người soạn thảo đánh giá được tác động kinh tế xã hội cũng như dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản (khía cạnh tích cực, tiêu cực) thì văn bản khi được áp dụng, chắc chắn sẽ có tính khả thi cao. Việc dự kiến nguồn lực bảo đảm tổng thể các yếu tố về thi hành gồm các vấn đề về tài chính, con người, bộ máy. Ví dụ: đưa ra chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi cho nông dân nghèo, cần phải tính đến phát sinh hệ thống cơ quan tín dụng, các nhân viên tín dụng, bộ máy địa phương, hoạt động của các trung tâm khuyến nông… và cả việc Nhà nước sẽ có chính sách ưu đãi và chi phí. Để có được những báo cáo hiệu quả, đòi hỏi có sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Việc tổng hợp các báo cáo, số liệu nghiên cứu từ các cơ quan có liên quan sẽ giúp ích rất nhiều cho người soạn thảo và cũng giúp ích cho cả các cơ quan có thẩm quyền xem xét về nội dung dự thảo văn bản (thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản). Đối với người soạn thảo, nghị quyết của hội đồng nhân dân hay một quyết định của ủy ban nhân dân, nếu như có sự nghiên cứu nghiêm túc và đưa ra một báo cáo đánh giá với đầy đủ những nội dung và phương pháp nêu trên, họ sẽ có nhiều khả năng trình trước cơ quan có thẩm quyền một dự thảo đầy tính thuyết phục và bởi vậy mà khả năng thông qua được sẽ cao hơn, chắc chắn hơn. Hai là, đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt đông của Quốc hội. Để thực hiện việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Đảng chỉ rõ công việc cần phải thực hiện bao gồm: + Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội. + Tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội. + Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. + Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết đinh các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội. Cụ thể vấn đề này, vào ngày 2832011, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khoá XII (2007 2011). Nhiều đại biểu quan tâm tới vấn đề hiệu lực, hiệu quả và hạn chế của hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn; sự phối hợp của các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát; việc xem xét, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) cho rằng, để nâng cao chất lượng hoạt động, cần xác định rõ hơn vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của các đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu tán thành chủ trương tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách. Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) cũng cho rằng, địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác giữa đoàn đại biểu Quốc hội với cấp ủy và chính quyền địa phương cũng chưa rõ, thiếu cụ thể nên chất lượng hoạt động giữa các đoàn còn chưa thực sự đồng đều. Tổ chức, bộ máy và phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội cũng là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm góp ý. Các đại biểu Danh Út, Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) đề nghị cần xem xét điều chỉnh theo hướng tăng cường các cơ quan trực thuộc Quốc hội, như thành lập Ủy ban Dân nguyện trực thuộc Quốc hội, nâng cấp Viện nghiên cứu lập pháp thành một cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộc Quốc hội để thêm kênh cung cấp nguồn thông tin chính thống cho đại biểu. Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) cho rằng Quốc hội cần tăng cường tính chuyên nghiệp, tính liên tục và tính kế thừa. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, cần phát huy vai trò của từng đại biểu, đoàn đại biểu, các ủy ban và toàn thể Quốc hội. Đại biểu Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định) cũng đề nghị, để đảm bảo tính chủ động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Theo đại biểu Lê Thị Dung (An Giang), tính phản biện, đa chiều trong các báo cáo thẩm tra phải cao hơn, tránh tuyệt đối tình trạng nể nang; cải tiến hơn nữa trong chất vấn và trả lời chất vấn. Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) nhận xét, chất lượng nhiều dự thảo chưa tốt, chuẩn bị chưa kỹ càng; chưa thấy sự tham gia của các nhà khoa học để tạo kênh thông tin cần thiết cho các đại biểu; theo dõi giải quyết kiến nghị của cử tri còn hạn chế. Tuy vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho rằng, muốn nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mỗi đại biểu Quốc hội cần tự vấn, mình đã làm được gì, chưa làm được gì cho công việc chung? Muốn có luật tốt phải có sự chuẩn bị, đầu tư tốt, không nên đề cập đến vai trò của các nhà khoa học bởi đây là việc của chính các đại biểu Quốc hội. Đại biểu cho rằng nên quan tâm đến chất lượng luật hơn là số lượng. Đại biểu Ngô Minh Hồng và đại biểu Trần Du Lịch (Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Thị Loan (Hà Nội) kiến nghị cần nêu vai trò chủ động của Quốc hội trong một số vấn đề như quyết định và giám sát chi tiêu ngân sách; xây dựng luật, pháp lệnh. Ba là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ. Theo đó, chúng ta cần phải: + Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. + Luật hóa cơ cấu tổ chức của Chính phủ; tổ chức Bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm hiệu lực, tinh gọn và hợp lý. Trước Đại hội X, Chính phủ có 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng, 20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và hơn 10 cơ quan trực thuộc Chính phủ (trên 40 thành phần). Nếu so với thời kỳ bao cấp thì bộ máy của Chính phủ được tinh gọn hơn (nhưng chỉ tinh gọn hơn một chút) và nếu so sánh với các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Việt Nam có lẽ được xếp vào một trong số ít quốc gia có bộ máy cồng kềnh và nhiều bộ nhất. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định chủ trương xây dựng “Bộ đa năng”, “Bộ đa lĩnh vực”, “Bộ đa ngành” và giảm bớt các cơ quan trực thuộc Chính phủ, giao về cho bộ quản lý theo tính chất chuyên môn nhưng trên thực tế Chính phủ hiện nay (Chính phủ được thành lập sau Đại hội IX của Đảng) lại tăng thêm 4 bộ nâng tổng số bộ, cơ quan ngang bộ lên đến 26 chứ không giảm về cơ cấu như nghị quyết Đảng với phương hướng cải cách bộ máy nhà nước. Đại hội X đã chủ trương: tinh gọn và cơ cấu lại bộ máy nhà nước. Tinh gọn bộ máy nhà nước thì trước hết phải tinh gọn bộ máy Chính phủ vì Chính phủ là đầu tàu, là bộ não chỉ huy nền hành chính quốc gia chứ không phải là trung tâm thực hành quản lý hành chính, không phải là cơ quan trực tiếp điều hành quản lý hành chính, cơ quan giải quyết sự vụ hành chính. Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm mạnh các đầu mối phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp theo hướng giảm mạnh cấp phó, bỏ cấp trung gian; chuyển các bộ phận phục vụ sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với thực hiện có hiệu quả thanh tra, kiểm tra của cấp trên. Tăng cường quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, về tổ chức, nhân sự và tài chính của các đơn vị dịch vụ công cộng. Nghiên cứu để áp dụng cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chính quyền cấp dưới. Tách hoạt động hành chính với hoạt đông động sự nghiệp, các hoạt động công quyền với các hoạt động dịch vụ. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ công vụ trong các cơ quan nhà nước. + Nghiên cứu việc thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính. + Thực hiện phân cấp mạnh, hợp lí cho chính quyền địa phương, giao quyền chủ động hơn nữa cho các địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương. Bốn là, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp. + Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. + Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. + Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Năm là, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. + Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. + Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân. + Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Sáu là, đổi mới tổ chức, bộ máy hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức. + Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức. Ban hành và thực hiện Luật về công chức, chức vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức. + Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. + Có cơ chế đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những người không xứng đang, kém phẩm chấ và năng lực. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nwcs, hành vi của các công chức. Trừng trị nghiêm khắc theo pháp luậ những hành vi phạm pháp, phạm tội, bất cứ ở cương vị, chức vụ nào. + Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. + Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham những, lãng phí. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Nhận xết về kết quả thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng Có thể tổng kết công tác thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta qua bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chiều 293 bế mạc Kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa XII. Cụ thể: Tích cực: Quốc hội đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chủ tịch nước với tư cách là một định chế trong tổ chức quyền lực nhà nước, đã có nhiều đóng góp tích cực vào hoạt động đối nội, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, điều hành quản lý đất nước, quản lý xã hội một cách năng động, quyết liệt, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Các cơ quan tư pháp đã từng bước đổi mới theo lộ trình cải cách tư pháp và có nhiều tiến bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát hoạt động tư pháp. Những kết quả đó đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước. Hạn chế: Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn những yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của việc quyết định và điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, một số văn bản còn thiếu thống nhất, tính khả thi chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng chưa tốt; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; cải cách tư pháp còn chậm. KẾT LUẬN Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống chính trị đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói hệ thống chính trị chung, đường lối đổi mới hệ và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng là sáng tạo, đúng đắn, phù hợp thực tiễn, bắt đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết điểm, nhược diểm của hệ thống chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm nên thành tực to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Vai trò của phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật

VAI TRÒ CỦA PHẦN CƠ SỞ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Vai trò của phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật Bài tập lớn môn Xây dựng văn bản pháp luật Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật Đặt vấn đề Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mỗi văn bản cụ thể đều giữ vai trò nhất định. Vai trò đó lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: thứ bậc của từng văn bản trong hệ thống, chủ đề và nội dung văn bản. Một trong những căn cứ để xác định được vai trò của văn bản quy phạm pháp luật là dựa vào phần cơ sở ban hành văn bản. Phần này có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung 1, Vai trò của phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật Phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nội dung văn bản quy phạm pháp luật. Phần này cho biết văn bản quy phạm pháp luật đó có được ban hành đúng thẩm quyền hay không bởi trong phần cơ sở ban hành văn bản có nêu ra những văn bản có liên quan trực tiếp đến văn bản đó. Ví dụ, Nghị định hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ, trong phần cơ sở ban hành văn bản sẽ có căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật – đây là cơ sở cho phép Chính phủ ban hành Nghị định đúng thẩm quyền của mình. Căn cứ vào phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật ta có thể biết được vị trí của văn bản đang soạn thảo trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Do một trong những nguyên tắc chọn văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lí là văn bản đó phải có hiệu lực pháp lí cao hơn văn bản đang soạn thảo, từ đó có thể biết được vị trí của văn bản đang soạn thảo. Ví dụ, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất nên không có cơ sở pháp lí, cơ sở pháp lí của Luật là Hiến pháp, cơ sở pháp lí của Pháp lệnh là Hiến pháp hoặc Luật… Căn cứ vào phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật ta có thể biết được nội dung của văn bản đó do trong phần cơ sở ban hành có viện dẫn những văn bản có liên quan trực tiếp đến nội dung văn bản đó. Ví dụ, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân huyện quy định một số biện pháp về bảo về mội trường trên địa bàn huyện sẽ có phần cơ sở ban hành là Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện về chủ trương bảo vệ môi trường. Căn cứ vào phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật ta có thể biết được văn bản đó có được ban hành ra một cách hợp lí hay không. Bởi như ta đã biết vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Luật là một sản phẩm của ý thức con người nhận biết thế giới khách quan và khái quát cho nên Luật phải được soạn thảo dựa trên nhu cầu của đời sống xã hội. Ví dụ, văn bản Luật ngân sách nhà nước được soạn thảo thì cơ sở thực tiễn của nó phải nhằm quản lí thống nhất, có hiệu quả nền tài chính quốc gia chứ không thể nhằm bảo vệ môi trường hay giúp quản lí có hiệu quả quỹ đất được. Bên ngoài đời sống xã hội cần phải điều chỉnh vấn đề gì, có vấn đề gì còn bất cập thì đó chính là cơ sở hợp lí nhất cho sự ra đời của một văn bản quy phạm pháp luật. 2, Ý nghĩa của phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật Cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở tiền đề, trước tiên giúp cho văn bản quy phạm pháp luật có được tính hợp pháp (dựa trên những chuẩn mực pháp luật nào? Được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào?...) và tính hợp lí (cơ sở thực tế thế nào, thực trạng ra sao mà đề ra việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật này…) Đối với các nhà làm luật, những chủ thể có nhiệm vụ thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật thì phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc đánh giá văn bản đó trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn. Chỉ cần nhìn vào phần cơ sở ban hành là có thể biết văn bản đó được ban hành hợp pháp về thẩm quyền, nội dung hay không, có hợp lí hay không. Đối với những người trực tiếp soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật giúp cho biết những văn bản quy phạm pháp luật nào phù hợp với văn bản đang soạn thảo. Đối với các cá nhân, cơ quan, đơn vị, những người có liên quan đến việc thực hiện văn bản, cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa trong việc xác định phạm vi nhóm người chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật đó. 3, Nội dung phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Phần cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật được trình bày đầu tiên, ngay sau phần tên và trích yếu nội dung văn bản. Nội dung phần cơ sở ban hành bao gồm hai nhóm: Thứ nhất, nhóm cơ sở pháp lí đây là những chuẩn mực pháp luật mà trên cơ sở đó văn bản quy phạm pháp luật được ban hành một cách hợp pháp. Cơ sở pháp lí của văn bản quy phạm pháp luật được xác định dựa trên những nguyên tắc: Cơ sở pháp lí của văn bản quy phạm pháp luật chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật (mà không thể là văn bản áp dụng pháp luật) Văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn là cơ sở pháp lí phải có hiệu lực cao hơn văn bản đang soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn là cơ sở pháp lí phải đang có hiệu lực tại thời điểm viện dẫn Văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn là cơ sở pháp lí phải liên quan đến văn bản đang soạn thảo về thẩm quyền của chủ thể ban hành, liên quan đến nội dung của dự thảo Thứ hai, nhóm cơ sở thực tiễn – đó là những hành vi, sự kiện thực tế hoặc những văn bản khác co liên quan đến nội dung dự thảo mà theo đó làm phát sinh những vấn đề mà dự thảo phải giải quyết. Kết luận Cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung quan trọng, không thể thiếu trong toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật. Khi soạn thảo một văn bản quy phạm pháp luật cần phải chú ý đến phần quan trọng này.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong chính sách đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước. Sau 30 năm đổi mới và sau 10 năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), quá trình hội nhập của Việt Nam đã diễn ra ngày càng sâu rộng và có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh tế càng trở nên mạnh mẽ hơn với việc ký kết và thực hiện các Hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới, không chỉ nhằm mở cửa thị trường mà còn là bước đi quan trọng khẳng định cam kết của Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Tiến trình này đã tác động đến thể chế hải quan với vai trò là lực lượng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ quan hải quan đứng trước yêu cầu thông quan nhanh hàng hóa để tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời vẫn phải đảm bảo quản lý chặt chẽ chính sách chế độ, chống gian lận thương mại, bảo vệ sản xuất nội địa và không để thất thu thuế. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm đổi mới, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp. Phát biểu tại Diễn đàn phát triển Việt Nam 2016 (VDF 2016), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Chính phủ xây dựng hệ thống hành chính quốc gia thống nhất, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu lực, hiệu quả, chất lượng, công tác quản lý nhà nước, với giải pháp tập trung cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về đầu tư, kinh doanh [43]... Những yêu cầu của hội nhập kinh tế và cải cách thủ tục hành chính đã và đang có những tác động đòi hỏi sự hoàn thiện của thể chế hải quan hiện đại mà trước hết là các quy định pháp luật về hải quan để tạo cơ chế pháp lý cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được hoạt động thuận lợi, bình đẳng, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Một trong những nội dung đáp ứng đòi hỏi này là hoàn thiện pháp luật về kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), nhằm đảm bảo thủ tục hải quan thông thoáng tại cửa khẩu, thông quan nhanh chóng cho hàng hóa xuất nhập khẩu và chuyển thời hiệu, mở rộng phạm vi và đối tượng kiểm tra khi hàng hóa đã thông quan. Pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam được hình thành và phát triển kể từ khi Luật Hải quan 2001 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2002. Qua 15 năm thực hiện, KTSTQ đã đem lại hiệu quả tích cực cho hoạt động của Ngành Hải quan, góp phần chống gian lận thương mại hiệu quả toàn diện hơn mà vẫn giải phóng hàng nhanh; đồng thời, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, truy thu hàng ngàn tỷ đồng từ công tác KTSTQ.... Tuy nhiên, pháp luật về KTSTQ cũng đang thể hiện nhiều hạn chế cần được hoàn thiện nhằm đảm bảo môi trường pháp lý cho Hải quan Việt Nam tổ chức và triển khai hoạt động KTSTQ. Một số nội dung quy định của pháp luật về KTSTQ còn chưa phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế về KTSTQ; thiếu đồng bộ giữa các văn bản Luật, giữa văn bản luật và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành; còn thiếu vắng những quy định về trách nhiệm của cán bộ công chức hải quan ở khâu thông quan đối với những sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm tra sau thông quan; về các ưu đãi hải quan trong trường hợp người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật, quy định về KTSTQ đối với một số loại hình liên quan chính sách thương mại và số thuế khai báo; về KTSTQ trong thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lý luận pháp luật về KTSTQ còn nhiều hạn chế. Ở phạm vi nghiên cứu khoa học luật, khái niệm KTSTQ cũng như pháp luật về KTSTQ còn là vấn đề mới, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu nên chưa hình thành được hệ thống tư duy đầy đủ, vững chắc của pháp luật về KTSTQ.
Xem thêm

Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lý luận Nhà nước và pháp luật Bài tập học kỳ Lý luận Nhà nước và pháp luật. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp chung của toàn xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của mọi người với những biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp đó là sử dụng pháp luật để quản lí và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết.Nhận thức được tính cần thiết của việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Em xin mạnh dạn chọn đề tài: Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” làm bài tập học kì của mình I.Cơ sở lý luận của vai trò pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam. 1. khái niệm: Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng. Môi trường gồm toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội. Tại khoản 1 điều 3 luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua ngày 29112005 (sửa đổi). Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đén đời sống sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật. Còn Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt nam gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hộ liên quan trức tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí và bảo vệ các yếu tố môi trường.Các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo các trình tự thủ tục nhất định là nguồn chính của pháp luật bảo vệ môi trường.Có các văn bản như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật khoáng sản năm 2010,Luật thuế tài nguyên năm 2010....... 2.Đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường. Pháp luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí, bảo vệ môi trường.Qua đó, ta thấy pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác.Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt nam thì pháp luật bảo vệ môi trường là lĩnh vực mới nhất. Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ra những thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay. Trong thời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất......Vì vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến. Thứ hai pháp luật bảo vệ môi trường có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước tuy nhiên nó cũng đặt ra cho nước ta những vấn đề to lớn về môi trường và sự pháp triển bền vững. Thứ ba pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của việt nam. Hoạt động môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước cộng đồng và xã hội. Nhà nước là chủ thể thay mặt nhân dân quản lí bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng. Thứ tư pháp luật bảo vệ môi trường chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường. Đây là một đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta. Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường của Việt nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượng tác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã là thành viên.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó. Có thể thấy qua quá trình xây dựng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nhằm có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, có tính khả thi hơn. 3. Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường: Thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội đòi hỏi phải có các chuẩn mực trong mọi hành vi ứng xử, giao tiếp cho mọi thành viên trong xã hội tuân theo. Những văn bản quy định những nguyên tắc như vậy người ta gọi là văn bản quy phạm pháp luật, được nhà nước đảm bảo cho nó được thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cũng chính là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật. Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật bảo vệ Việt nam, pháp luật bảo vệ môi trường cũng có các vai trò của phap luật nói chung và cũng có những vai trò riêng của nó. Đó là pháp trong luật quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác bảo vệ môi trường. Nó được thể hiện như sau: Thứ nhất là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Có thể thấy pháp luật bảo vệ môi trường có một vai trò quan trọng đối với lĩnh vực môi trường.Hệ thống cơ quan quản lí môi trường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương. Thứ hai là, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực môi trường là cơ sở pháp lí quy định hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vức bảo vệ môi trường. Thứ ba là pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và sử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường.Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên , định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lí vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Thứ tư, pháp luật trong quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có thể thấy, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng. Nó thể hiện được sự quan tâm của nhà nước tới vấn đề môi trường ngày càng được nâng cao II. Thực trạng pháp luật trong bảo vệ môi trường ở Việt nam hiện nay. 1. Những thành tựu. Trong những năm qua, việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt nam đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Cụ thể như sau: Thứ nhất, hệ thống cơ chế chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đã được hoàn thiện một bước. Giai đoạn 20052010 được coi là giai đoạn thành công nhất trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường, được đánh dấu bằng việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Năm 2008 Luật Đa dạng sinh học đả được Quốc hội thông qua.Cho tới nay có tổng cộng 66 văn bản luật dưới luật được xây dựng và ban hành. Thứ hai, hệ thống cơ quan quản lí bảo vệ môi trường được tăng cao. Sau 5 năm thực hiện luật bảo vệ môi trường năm 2005, hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định.Ở trung ương, Thủ tướng chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyênMôi trường. Ở địa phương, đã thành lập các chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở tài nguyên môi trường. Thứ ba, công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lí chất thải được tăng cao, cụ thể. Hoạt động kiểm soát môi trường khu công nghiêp đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ: Nhiều địa phương đã có lộ trình, kế hoạch về xây dựng trạm sử lí nước thải.Hoạt động của ban quản lí các khu công nghiệp bài bản hơn.Hoạt động quan trắc môi trường ở cả trung ương và địa phương tiếp tục được duy trì và phát triển. Thứ tư: hoạt động phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường dã được đẩy mạnh. Nhiều mỏ than sau khi khai thác được cải tạo phục hồi môi trường thành các khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái hoặc phục hồi đất trồng cây..Tính tới nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường quan trọng phải hoàn thiện việc xử lí thì đã có 325 cơ sở không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng(chiếm 74%) và 114 cơ sở đang triển khai thực hiệ biện pháp khắc phục(chiếm 26%) Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn góp phần năng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường. Thứ sáu, công tác kiểm tra sử lí vi phạm pháp luật về môi trường cũng được tăng cường. Năm 2010 theo kết quả thanh tra, kiểm tr 9 tháng đầu năm, các Đoàn thanh tra đã lập 133 biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có đề nghị các cơ quan có thẩm quyền phạt 9.666.700.000đồng đến 15.269.000đồng.Hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. 2. Những hạn chế: Đầu tiên là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa hoàn thiện,còn sơ sài. Các văn bản pháp luật về môi trường chưa được rà soát kĩ. Các hoạt động giám sát cần phải được rà soát để tránh luật bảo vệ môi trường ban hành phải chờ các văn bản hưỡng dẫn thi hành làm cho luật khó điu vào đời sống. Thứ hai là pháp luật môi trường còn quy định khá học thuật, rất phức tạp và khó hiểu nên người dân khó có thể nắm bắt được hết ý đồ của nhà nước,. Thứ ba là từ góc độ quản lí của nhà nước thì công tác bảo vệ môi trường dù luôn được nêu ra nhưng vẫn còn ở hàng thứ yếu khi xử lí đối kháng lợi ích, vẫn tập trung ưu tiên phát triển kinh tế. Thứ tư là nhận thức của cán bộ về vấn đề môi trường còn rất hạn chế,quy trình thủ tục còn tồn tại quá nhiều bất cập, việc giám sát thực hiện chưa đi liền với sử lý các vi phạm pháp luật về môi trường, mức phạt thấp,, chỉ phạt tiền rồi yêu cầu khắc phục. Cư như vậy, sau khi phạt xong thì tiếp tục vi phạm tiếp. Thứ năm là các quyết định xử ;lí vi phạm đo không được theo dõi chặt chẽ nên dễ để cho một số đối tượng lợi dụng cố tình không chấp hành . GIẢI PHÁP Để pháp luật bảo vệ môi trường có những hiệu quả cao hơn thì phải tiến hành khắc phục những nhược điểm hiện có, đang tồn tại trong hệ thống pháp luật môi trường hiện nay, cụ thể như sau: Thứ nhất là hoàn thiện các quy định pháp lí (trách nhiệm hành vi, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự) đối với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Thứ hai hoàn thiện cơ chế tổ chức và đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.Tăng cường nắm bắt tình hình, thanh tra kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường. Thứ ba là tang cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thuwch hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.Đẩy mạnh hợp tác song phương. Thứ tư là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội. KẾT LUẬN Nhìn chung, pháp luật Việt nam về bảo vệ môi trường đã tạo hành lang pháp lí để các chủ thể trong xã hội thực hiện đầy đủ, triệt để các quy phạm pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật hiên nay cần phải được nghiên cứu tổng thể, đánh giá toàn diện nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Trách nhiệm về quản lý bảo vệ môi trường của cơ quan chuyên môn cấp huyện được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 như thế nào? Liên hệ thực tế địa phương về kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về môi trường?

TRÁCH NHIỆM VỀ QUẢN LÝ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP HUYỆN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TẠI LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2014 NHƯ THẾ NÀO? LIÊN HỆ THỰC TẾ ĐỊA PHƯƠNG VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG?

1.2.Khái niệm quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước. Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng MT sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia. 1.3. Mục tiêu và nguyên tắc. 1.3.1. Các mục tiêu chủ yếu. Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm MT phát sinh trong hoạt động sống của con người. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường . Phát triển bền vững KTXH của quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do Rio 92 đưa ra. Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý MT quốc
Xem thêm

16 Đọc thêm

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cũng là lúc nhiều vấn đề mới trong xã hội phát sinh và cần được giải quyết. Một công cụ quan trọng để Nhà nước tiến hành hoạt động quản lí, kiểm tra, giám sát của mình đối với xã hội chính là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân. Để có một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế thì phải trải qua rất nhiều giai đoạn trong đó không thể không kể đến hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một giai đoạn nhỏ nằm trong giai đoạn soạn thảo văn bản pháp luật nhưng có những ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động xây dựng văn bản pháp luật sau đây nhóm em xin lựa chọn đề tài số 2 làm bài tập nhóm của mình: “Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”. NỘI DUNG I. Một số vấn đề chung. 1. Khái niệm VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống. 2. Khái quát quy trình xây dựng VBQPPL Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua những bước sau: a, Lập chương trình kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chủ thể sáng kiến có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu Quốc hội, HĐND. Cơ sở đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản, các chủ thể đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản pháp luật dựa vào 3 cơ sở sau: Cơ sở thực tiễn: là thực trạng đời sống kinh tếxã hội của đất nước, dựa vào đó các chủ thể tìm ra các nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tiễn để đưa ra đề nghị. Cơ sở pháp lí: là những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người đề xuất sáng kiến phải dựa trên cơ sở những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để đưa ra sáng kiến Cơ sở chính trị: Người đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản dựa vào những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng để thể chế hóa thành quy định của pháp luật đảm bảo sự tác động của pháp luật đúng định hướng của Đảng. Nội dung của chương trình kế hoạch xây dựng VB QPPL, gồm: Tên danh mục VBQP được ban hành; Cơ quan chủ trì soạn thảo; Dự kiến thời gian hoàn thành; Dự kiến nguồn kinh phí. b, Soạn thảo VB QPPL Trước tiên phải thành lập ban soạn thảo. Thành phần ban soạn thảo gồm trưởng ban là lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo và tổ biên tập gồm những người am hiểu về chuyên môn, nhà pháp lí, nhà pháp lí, nhà khoa học,… Nhiệm vụ của ban soạn thảo: Khảo sát và đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan đến nội dung dự thảo để thu thập thông tin. Nghiên cứu những thông tin thực tiễn đã thu thập được; chủ trương, chính sách của Đảng để chế hóa cho phù hợp; quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; Các tài liệu có liên quan. Sau đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp; Đánh giá dự báo tác động của văn bản; Xây dựng đề cương cho dự thảo văn bản từ sơ bộ đến chi tiết; Soạn thảo văn bản. c, Lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Cơ quan thực hiện chính là cơ quan chủ trì soạn thảo,lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước có liên quan; cá nhân, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; Tổ chức xã hội, trong đó Mặt trận tổ quốc Việt Nam là bắt buộc. Cơ quan thực thực có thể lấy ý kiến bằng các phương thức như tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc họp, hội thảo về chuyên môn; thông qua văn bản; Đăng tải trên Internet. Kết quả thu được sẽ đóng góp cho dự thảo, trên cơ sở đó cơ quan chủ trì sẽ tổng hợp ý kiến và chỉnh sửa dự thảo. d, Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Thẩm tra, thẩm định dự thảo là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pháp pháp luật. e, Trình dự thảo VBQPPL Sau khi dự thảo đã được hoàn thiện, đã có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dư thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo. Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng dự thảo. f, Thông qua, kí, ban hành văn bản QPPL. VB QPPL đã được thông qua cần được ban hành bằng cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau để nhân dân và những đối tượng có liên quan biết và thực hiện. Việc công bố văn banrQPPL là cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, do đó cần được chú ý thực hiện trên thực tế. 3. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo Đây là một bước nằm trong quá trình soạn thảo VBQPPL đòi hỏi các nhà làm luật phải có được những nhận định, đánh giá ban đầu khi soạn dự thảo. Mặc dù, khi lập chương trình kế hoạch xây dựng VBQPPL các nhà làm luật đã phải dựa trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, tuy nhiên khi đi vào cụ thể chi tiết các quy phạm lại phải được đánh giá kiểm tra lần nữa để đảm bảo sự hiệu quả, tính hợp pháp hợp lí của văn bản QPPL. II. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL. 1. Vai trò của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Thứ nhất, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản. Việc dự báo những tác động tích cực hay tiêu cực của dự thảo văn bản là rất cần thiết bởi vì tùy vào từng thời điểm xã hội, tình hình kinh tế, giáo dục mà xem xét có nên hay không ban hành văn bản qui phạm pháp luật và khi nó ra đời thì có những mặt nào đáp ứng được, mặt nào còn có vướn mắc. Ví dụ như cần có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo ban hành Luật Dân số để quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, phân bố dân số, lồng ghép dân số trong phát triển, biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Qua đó, chúng ta xem xét trên thực tế có giải quyết được tình trạng mật độ tình trạng của dân cư trên các thành phố lớn hay không, hay chất lượng đời sống dân cư có được ổn định không.... Nếu không có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản thì việc ban hành những văn bản không cần thiết sẽ dẫn đến sự lãng phí công sức, tiền bạc,... mà đôi khi những bất cập của xã hội thì chưa được giải quyết triệt để. Thứ hai, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục trước và sau khi ban hành. Không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối đối với hiệu quả của VBQPPL, cho dù đã cố gắng hết sức để nghiên cứu, tìm ra những phương án tối ưu nhất song ít nhiều có những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi. Để văn bản quy phạm pháp luật ban hành có hiệu quả thì trước hết phải chú trọng tới việc dự liệu những phương án giải quyết các vấn đề trước và sau khi VBQPPL được ban hành. Trong đó có những vấn đề cần giải quyết, phương hướng giải quyết, cơ quan thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các vấn đề khác như đội ngũ cán bộ, kinh phí thực hiện,… Việc hoạch định ra những dự liệu này không chỉ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật mà còn phải dựa trên những nhu cầu khách quan và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Có như vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật ra đời, văn bản quy phạm pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, có tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống. Ngoài ra, đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phải nêu lên được những tác động kinh tế xã hội, nội dung, chính sách cơ bản của văn bản,… Cùng với đó, phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập và thực hiện chương trình bằng cách quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm đối với các cơ quan tham gia xem xét dự kiến chương trình; với cơ quan đề nghị xây dựng văn bản thì cần phải có trách nhiệm giải trình và bảo vệ dự kiến chương trình do mình đề xuất. Thứ ba, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL là cơ sở để so sánh, đánh giá tác động của VBQPPL đối với xã hội trước và sau khi ban hành. Đây là yếu tố quan trọng mà các nhà làm luật phải cố gắng đạt được khi tiến hành soạn thảo VBQPPL bởi vì điều người dân quan tâm không phải là việc quá trình các nhà làm luật soạn thảo VBQPPL như thế nào, họ đã làm những gì để tạo nên một VBQPPL mà quan trọng đối với họ là việc sau khi VBQPPL ra đời nó đem lại những lợi ích gì cho xã hội, khắc phục được vẫn đề gì so với trước đó. Cụ thể, các nhà làm luật phải nhìn nhận, so sánh khả năng VBQPPL sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực gì đến những mặt cụ thể nào. II. Ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác động vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài nên cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL có ý nghĩa trong việc hoàn thiện VBQPPL trước khi ban hành. Bởi như đã nói, VBQPPL là loại văn bản được sử dụng trong một thời gian dài, đối tượng điều chỉnh là các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một VBQPPL hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và công đoạn. Việc đánh giá tác động của dự thảo văn bản trước khi văn bản đó được ban hành sẽ hạn chế những sai sót, hạn chế của văn bản. Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL còn nâng cao tính chủ động, bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của văn bản sau khi được ban hành đưa vào thực tiễn sử dụng. Việc xây dựng, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật cần rất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội. Vì vậy, một dự thảo văn bản có tính khoa học và chính xác càng cao sẽ hạn chế tối đa được việc sửa đổi, hủy bỏ sau khi ban hành. Việc này sẽ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác xây dựng và ban hành văn bản qu Trong quá trình soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ban hành ra nó theo dõi và đánh giá những kết quả đạt được đối với quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá tác động của dự thảo là hoạt động nhằm đưa ra những mặt lợi, mặt hại của dự thảo khi được áp dựng trên thực tế. Việc đánh giá tác động của dự thảo giúp cơ quan nhà nước có được cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, khách quan về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Mặt khác, các cơ quan có thể phát hiện ra những điểm chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến văn bản quy ph ạm đang được theo dõi, đánh giá. Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thể lập được những chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới với những nội dung phù hợp thực tiễn và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. KẾT LUẬN Trên đây là phần phân tích về vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động này đối với việc xây dựng và hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, có hiệu quả khi thực thi trên thực tế. Các cơ quan có thẩm quyền nên tiến hành hoạt động này một cách cẩn trọng, tỉ mỉ và trách nhiệm để tránh tình trạng chưa đánh giá đúng cũng như những điểm thiếu xót trong văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ tốt hoạt động quản lí nhà nước.
Xem thêm

7 Đọc thêm

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở NƯỚC TA

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở NƯỚC TA

Thực trạng pháp luật qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất ở nước ta 1. Qui định của pháp luật đất đai hiện hành về qui hoạch sử dụng đất. 1.1 Nguyên tắc, căn cứ lập QH, KH SDĐ . Nguyên tắc lập QH và KH SDĐ là những phương hướng chỉ đạo, cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luât điều chỉnh những qui định về lập QH và KH SDĐ. Điều 21 Luật đất đai năm 2003 đã nêu một cách toàn diện 8 nguyên tắc cơ bản trong việc lập QH, KH SDĐ. Các căn cứ này được qui định tại điều 22 Luật đất đai năm 2003. 1.2 Các qui định nội dung và kỳ QH, KH SDĐ. • Nôi dung của QH, KH SDĐ: Hiện nay, nội dung QH. KH SDĐ được qui định tại điều 23 Luật đất đai năm 2003 và được cụ thể tại điều 12 Nghị định 1812004NĐCP ngày 29102004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003. Nội dung QH đất bao quát các biện pháp để xác định phương hướng, mục tiêu SDĐ trong từng kỳ QH xác đinh diện tích các loại đất phân bổ cho các nhu cầu khác nhau về quốc phòng, an ninh, nhu cầu phát tiển kinh tế, nhu cầu sử dụng đất phục vụ đầu tư trong nươớcaà nước ngoài. Qua đó xác đinh các giải pháp hiện thực hóa QH vào đời sống, phát huy được tính hiệu quả của nó. • Kỳ lập QH, KH SDĐ: Theo điều 24 Luật đất đai năm 2003 qui định, kỳ QH đất đai là mười năm và kỳ KH SDĐ là năm năm 1.3 Các qui định về hoạt động QH, KH SDĐ. Hoạt động QH, KH SDĐ bao gồm: Lập, điều chỉnh, công bố, quyết định, xét duyệt và thực hiện QH, KH SDĐ. Cụ thể: • Qui trình lập QH, KH SDĐ Trách nhiệm lập QH, KH SDĐ qui định chi tiết tại Điều 15 đến Điều17 Nghị định 181 2004NĐCP. Ở trung ương Bộ TN MT có trách nhiệm giúp Chính phủ việc lập QH, KH SDĐ của cả nước. Ở địa phương, các phòng sẽ có trách nhiệm xác định nhu cầu SDĐ để giúp UBND các cấp lập QH. Bộ TNMT có trách nhiệm hướng dẫn việc lập QH, KH SDĐ cấp tỉnh, huyện và cấp xã. • Điều chỉnh QH, KH SDĐ Điều 27 Luật đất đai năm 2003 và Điều 17, Điều 18 Nghị định 1812004NĐCP qui định về các trường hợp được tiến hành điều chỉnh, thẩm quyền điều chỉnh. Nội dung điều chỉnh được qui định cụ thể tại đ 26 nghị định 1812004NĐCP. Về thẩm quyền điều chỉnh: cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết đinh xét duyệt QH, KH SDĐ của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, xét duyệt điều chỉnh QH, KH SDĐ cấp đó. • Công bố QH, KH SDĐ: Công bố là bước tiếp theo sau khi QH, KH SDĐ được phê duyệt, điều chỉnh. Điều 28 Luật năm 2003 và Điều 27 Nghị định 1812004NĐCP đã qui định rất rõ về thời gian, thẩm quyền cũng như địa điểm công bố. • Thẩm quyền quyết định, xét duyệt QH, KH SDĐ. Việc thẩm định QH, KH SDĐ trước khi xét duyệt là một khấu quan trọng tuy nhiên Luật đất đai năm 2003 đã không qui định. Để khắc phục, điều9 Nghị định 692009NĐCP đã qui định Bộ TNMT chủ trì tổ chức thẩm định QH, KH SDĐ vào mục đích quốc phòng an ninh và qui hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; các sở, phòng TNMT có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định tại cấp tương ứng. • Thực hiện việc QH, KH SDĐ Chính phủ chỉ đạo và kiểm tra quá trình thực hiện QH,KH SDĐ trong phạm vi cả nước. UBND tỉnh, thanh phố trực thuộc trung ương, huyện, quận , thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chỉ đạo việc thực hiện QH, KH SDĐ và kiểm tra việc thực hiện QH, KH của UBND cấp dưới. 2. Thực tiễn áp dụng các qui định pháp luật về QH, KH SDĐ hiện nay 2.1 Ưu điểm. Nhìn chung các qui định của pháp luật về QH, KH SDĐ vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện theo hướng qui định cụ thể, chi tiết và phù hợp với thực tiễn. Luật đất đai năm 2003 và các văn bản liên quan khác như nghị định 1812004NĐCP, Thông tư số 302004TTBTNMT, … đã phần nào khắc phục những lỗ hổng, hạn chế của các qui định pháp luật vê qui hoạch trước đó. So với các văn bản Luật đất đai trước đây như Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993 thì Luật đất đai năm 2003 là một văn bản qui dịnh rất chi tiết cụ thể không chỉ đối với vấn đề QH, KH SDĐ mà còn cả những vấn đề liên quan. Điều này đã tạo ra một khung pháp lí chặt chẽ làm cơ sở cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công việc của mình đồng thời đảm bảo cho người dân thực hiện quyền lợi của họ. 2.2 Những bất cập trong hoạt động QH, KH SDĐ. Thứ nhất, Chất lượng QH, KH SDĐ còn thấp, thiếu tính đồng bộ, tính khả thi chưa cao. Tính đồng bộ giữa QH, KH phát triển kinh tế xã hội, QH, KH SDĐ và QH xây dựng không hợp lí. Giữa loại này có vùng chồng lấn, có vùng không có, chưa trở thành hệ thống thống nhất trong cả nước. Có nhiều địa phương việc QH,KH SDĐ chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội dẫn đên nhiều QH, KH được đặt ra mà không thể thực hiện do thiếu tính khả thi. Chẳng hạn như việc nhiều khu công nghiệp có dự án được cấp phép nhiều năm nhưng vẫn chưa đi vào xây dựng. Hầu hết các khu công nghiệp, khu kinh tế chỉ chiếm trên địa bàn các tỉnh thành phố của cả nước mới chỉ lấp đầy khoảng 60% diện tích. Thứ hai, Việc lập QH, KH SDĐ chưa đồng bộ, thực hiện QH, KH tùy tiện, đầu tư dàn trải. Việc thực hiện QH, KH kém hiệu quả, nợ đọng. Nhiều dự án QH, KH SDĐ thiếu tính khả thi không thể thực hiện trong thực tế. Bên cạnh đó, mặc dù luật đã qui định các trường hợp được phép điều chỉnh QH, KH tương đối cụ thể nhưng tình trạng tùy tiện thay đổi, điều chỉnh QH, KH để tư lợi, tham ô tham nhũng vấn xảy ra rất nhiều. Điều này đã tạo nên tình trạng lập QH, KH tán loạn và cuối cùng người chịu thiệt thòi nhất chính là những người đang sử dụng đất. Thứ ba, công tác QH đô thị thì chú trọng trong khi công tác QH, KH xây dựng nông thôn chưa được chú trọng. Trong khi quá trình quá trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ chóng mặt thì công tác QH, KH SDĐ ở nông thôn dường như đang đứng yên. Việc thiếu QH, KH SDĐ đã khiến ở nông thôn nhiều khu đô thị tự phát mọc lên, các khu công nghiệp tự phát mọc lên giữa ngay khu dân cư khiến đời sống nhân dân bị ảnh hưởng, môi trừng bị ô nhiễm,… Điều này dẫn đến đẩy lùi sự tiến bộ của nông thôn Việt Nam. Thứ tư, tình trạng QH, KH SDĐ không phù hợp dẫn đến lãng phí đất, trong khi nhu cầu người dân và nhu cầu của nền kinh tếxã hô lại chưa được đáp ứng. Tình trạng ô nhiễm môi trường do QH, KH SDĐ không hợp lí vẫn tồn tai ở nhiều điạ phương, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân. Thứ năm, Tình trạng QH “treo” vẫn còn phổ biến ở nước ta. QH “treo” ở đây được hiểu là các QH đã xây dựng nhiều năm nhưng đi vào thực hiện thì không có tính khả thi. Hiện nay vấn đề QH “treo” đã trở thành một vấn nạn rất khó giải quyết. Cả nước ta hiện nay có đến hang ngàn dự án “treo”. Hậu quả của nó ảnh hưởng trực tiếp trước tiên đó là đại bộ phận người dân đặc biệt những người dân đang sống trong khu vực có các dự án QH “treo”, họ không được thực hiện những quyền cơ bản đối với bất động sản thuộc quyền sở hữu. Cuộc sống thường nhật của họ cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Nhà nước cũng chịu hậu quả từ QH “treo” đó là những thiệt hại, lãng phí mà QH “treo” gây ra. Nhà nước phải mất một khoản lớn cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng lại phai bồi thường cho người dân một khoản tiền lớn trên cả mức mà họ có thể được hưởng. Đồng thời khi nhà nước lập ra các QH, KH không được thực hiện trên thực thì những chi phí mà nhà nước bỏ ra là cô ích. Bộ mặt đo thị càng trở nên xấu đi. Đối với nhà đầu tư QH “treo” khiến các dự án bế tắc. Đầu tư vừa tốn kém vừa mất thời gian mà kết quả trên thực tế thì không thấy đâu. 2.3 Nguyên nhân của những bất cập trong hoạt động QH, KH SDĐ. Thứ nhất, Do khi xây dựng các qui đinh về QH, KH SDĐ trong khuôn khổ pháp luật chúng ta chưa chú ý đến tính đồng bộ giữa QH, KH SDĐ với QH phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề phát triển không gian đô thị cho phù hợp với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chưa thực sự được chú trọng trong nội dung của QH, KH SDĐ. Thứ hai, Tình trạng trên là do rất nhiều nguyên nhân gây ra, một trong số đó là do: Việc quản lí QH, KH trên thực tế vẫn còn rất yếu kém. Các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, quyết định vẫn chưa thực sự làm hết khqar năng của mình, vi phạm trong quá trình quản lí vẫn xảy ra rất nhiều. Mặt khác, việc qui hoạch thiếu đồng bộ là do thời hạn kỳ QH, KH SDĐ qui định tại Điều 24 Luật đất đai năm 2003 dường như không còn hợp lí. Kỳ QH phải lâu dài vì nó không chỉ QH chi tiết mà còn QH tổng thể về SDĐ. Cần QH tổng thể để xác đinh mục tiêu dài hạn cho sự phát triển của đất nước tránh tình trạng QH ồ ạt, tán loạn. Thứ ba, Do mặc dù chúng ta đã có lồng ghép vấn đề môi trường trong các qui định như điều 21 Luật đất đai 2003 nhưng chưa đầy đủ và toàn diện. Các qui định về QH, KH SDĐ để xây dựng các cơ sở hạ tầng môi trường vẫn còn thiếu. Vấn đề bảo vệ môi trường trong QH, KH đất xây dựng các làng nghề vẫn chưa có qui đinh cụ thể. Thứ tư, Nguyên nhân gây nên tình trang QH “treo” là do sự yếu kém của cơ quan có thẩm quyền trong công tác lập QH, KH SDĐ, do sự xung đột lợi ích giữa nhà nước và người dân, sự lỏng lẻo trong công tác quản lí QH SDĐ,…
Xem thêm

6 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG GIÁ PHÁT ĐIỆN TRONG THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG GIÁ PHÁT ĐIỆN TRONG THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

- Hệ thống SCADA/EMS, hệ thống đo đếm từ xa được thiết lập hoànchỉnh tới toàn bộ các nhà máy điện trong hệ thống điện, đáp ứng các hoạtđộng của thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh;- Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện đượctrang bị phù hợp;21- Các thiết bị phục vụ chức năng giám sát giao dịch thị trường tại cơquan điều tiết điện lực được trang bị hoàn chỉnh;- Dự phòng công suất nguồn của hệ thống phải được duy trì ở mức trên20% công suất đặt của toàn hệ thống;- Tỷ lệ công suất đặt của một đơn vị phát điện không được vượt quá25% công suất đặt của toàn hệ thống.Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:- Các đơn vị phát điện độc lập cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viênđã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được được các hoạt độngcủa thị trường điện cạnh tranh.1.3. Mô hình thị trường phát điện cạnh tranh1.3.1. Các dạng mô hình thị trường điện trên thế giớiTrên thế giới hiện nay có trên 150 nước đang vận hành thị trườngđiện, mỗi thị trường điện ở mỗi nước đều có những đặc điểm và tính chấtriêng khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia các mô hình thị trường thành 3 loạinhư sau:- Mô hình thị trường chào giá tự do – Price-based pool (PBP)- Mô hình thị trường chào giá theo chi phí – Cost-based pool (CBP)- Mô hình thị trường hợp đồng song phương – Bilateral contracts(BC)Hai mô hình thị trường PBP và CBP hoạt động theo nguyên tắc thị
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 4 NĂM 2010 CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN SÔNG ĐÀ

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 4 NĂM 2010 CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN SÔNG ĐÀ

C IM HOT NG CA DOANH NGHIP1.Hỡnh thc s hu vn: C phn.2.Lnh vc kinh doanh: Sn xut, Xõy dng3.Ngnh ngh kinh doanh:- Xây lắp nhà máy điện, đờng dây tải điện, trạm biến áp và các dây chuyền công nghệ có cấp điệnáp đến 500kV;- Thí nghiệm hiệu chỉnh đa vào vận hành; thí nghiệm hiệu chỉnh định kỳ; duy tu bảo dỡng địnhkỳ và xử lý sự cố bất thờng các nhà máy điện, đờng dây tải điện, trạm biến áp, các dây chuyềncông nghệ công nghiệp có cấp điện áp đến 500kV và công suất đến 3000 MW.- Lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh đa vào vận hành, bảo trì và nâng cấp các hệ thống thông tin viễnthông, hệ thống điều khiển phân tán, hệ thống SCADA và các hệ thống khác trong lĩnh vực ứngdụng công nghệ thông tin.- T vấn chuyên ngành kỹ thuật điện cho quản lý xây dựng nhà máy điện, hệ thống điện - điện tửvà tự động hoá, bao gồm cả công tác đồng bộ thiết kế, đồng bộ thiết bị, lập sơ đồ khởi động và thử
Xem thêm

14 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HAY NHẤT

ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HAY NHẤT

nghiệp hợp lý. Vừa xây dựng CNTW vừa phát triển CN địa phương, kết hợpCNTW với CN địa phương trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.+ Kết hợp phát triển lực lượng sx với xác lập & hoàn thiện quan hệ SXmới, kết hợp KT với QP, đẩy mạnh phân công & hợp tác với các nướcXHCN & các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền & các bêncùng có lợi.+ Làm cho VN thành nước XHCN có KT công-nông nghiệp hiện đại, VH –KT tiên tiến, QP vững mạnh, đời sống văn minh, hạnh phúc.Đường lối CNH của ĐH IV vẫn tiếp tục quan niệm CNH ở Miền Bắc, tuy cóphát triển thêm những thay đổi chưa rõ nét.- Sau 5 năm chỉ đạo thực hiện, Đại hội V của Đảng (tháng 3/1982) đã có sựđiều chỉnh:+Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi NN là mặt trận hàng đầu, từngbước đưa NN lên sx lớn XHCN. Ra sức phát triển CN SX hàng tiêu dùng. XDvà phát triển CN nặng. Cần làm có mức độ vừa sức, phục vụ thiết thực, hiệuquả cho NN & CN nhẹ.-Nội dung cơ bản của đường lối CNH ở nước ta thời kỳ trước đổi mới:+ Mục tiêu cơ bản: XD nền KT cân đối và hiện đại, bước đầu xd CSVCKthuật của CNXH. Vấn đề quan trọn có tính chất quyết định: thực hiện trangbị kĩ thuật cho toàn bộ nền KTQD.+ Phương hướng chỉ đạo:Ưu tiên phát triển CN nặng 1 cách hợp lý. Kết hợp phát triển CN với NN.Phát triển CN nhẹ song song với ưu tiên phát triển CN nặng. Phát triển CNTW & CN địa phương.-Đánh giá sự thực hiện đường lối CNH TK trước đổi mới (1960 – 1985):Nhìn chung trong thời kỳ 1960-1985 chúng ta đã nhận thức và tiến hành côngnghiệp hóa theo kiểu cũ dẫn tới những hạn chế,sai lầm sau đây: Công nghiệphóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển côngnghiệp nặng. Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và
Xem thêm

33 Đọc thêm

Những điểm khác biệt của hai biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết hủy bỏ và bãi bỏ

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA HAI BIỆN PHÁP XỬ LÍ VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHIẾM KHUYẾT HỦY BỎ VÀ BÃI BỎ

Những điểm khác biệt của hai biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết hủy bỏ và bãi bỏ Bài tập cá nhân môn Xây dựng văn bản pháp luật Chuyên mục Bài tập cá nhân, Xây dựng văn bản pháp luật VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Do vậy, VBPL đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý xã hội của Nhà nước, có tác động không nhỏ đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Với một vai trò to lớn như vậy nhưng trên thực tế, vẫn còn tồn tại những VBPL “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Đó là những VBPL khiếm khuyết. Và để khắc phục, điều 9 Luật ban hành VBQPPL đã quy định 6 cách thức xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết, trong đó có hai phương pháp khá phổ biến là hủy bỏ và bãi bỏ. Để phân biệt hai biện pháp này hay nói cách khác là điểm khác nhau cơ bản giữa hai biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ, chúng ta có thể dựa trên các tiêu chí: 1.Thứ nhất là: Khái niệm : Biện pháp hủy bỏ là biện pháp xử lý được áp dụng đối với VBPL bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính có những dấu hiệu vi phạm luật nghiêm trọng. Còn biện pháp bãi bỏ có thế được hiểu như là biện pháp xử lý “bỏ đi, không thi hành nữa”. 2.Thứ hai là : Đối tượng : Đối tượng của phương pháp hủy bỏ là cả 3 loại văn bản : quy phạm pháp luật, áp dụng và văn bản hành chính. Trong khi đó, đối tượng của phương pháp bãi bỏ chỉ là văn bản quy phạm pháp luật. 3.Thứ ba là : Dấu hiệu : Dấu hiệu để văn bản khiếm khuyết trở thành đối tượng của biện pháp hủy bỏ là văn bản đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Ví dụ như : có nội dung trái pháp luật, trái thẩm quyền về nội dung ; sai phạm thủ tục ban hành,... làm mất cơ sở pháp lý của việc giải quyết công việc pháp sinh. Bên cạnh đó, những văn bản nào có dấu hiệu khiếm khuyết như có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng hay đại đa số nội dung không phù hợp quyền và lợi ích chính đáng của đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản. Hay nếu văn bản đó có nội dung không phù hợp với nội dung văn bản do cấp trên ban hành, hoặc phần lớn nội dung không phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội,... thì sẽ đều bị bãi bỏ. Ví dụ như năm 2006, thành phố Đã Nẵng đã phải hủy bỏ một số quyết định như quyết định số 1372001QĐUB ngày 1192001 về việc xử phạt hành chính và thu phạt trực tiếp đối với vi phạm hành chính trong quản lý đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hay UBND huyện giao Phòng VHTT huyện Tân Kỳ ra thông báo hủy bỏ và thu hồi Công văn số 05VHTT ngày 303 về quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn huyện. Tất cả những văn bản này đều được hủy bỏ với lý do nội dung những quyết định này trái luật. Còn ví dụ như quyết định số 332008QĐ – BYT về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã bị bãi bỏ, không được thi hành với lý do đã vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích chính đáng của công dân khi tham gia giao thông và đồng thời cũng vi phạm thẩm quyền ban hành khi mà chủ thể ban hành là Bộ y tế trong khi vấn đề được điều chỉnh là thuộc thẩm quyền của Bộ giao thông vận tải. 4.Thứ tư là : Thởi điểm mất hiệu lực của VBPL khi áp dụng các biện pháp xử lý : VBPL bị hủy bỏ sẽ bị hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản đó được quy định là có hiệu lực pháp lý, nghĩa là văn bản đó không được thừa nhận giá trị ở mọi thời điểm dù trước khi bị hủy bỏ nó đã từng có hiệu lực. Còn với VBPL bị bãi bỏ, nó sẽ chỉ hết hiệu lực kể từ thời điểm văn bản xử lý nó có hiệu lực pháp luật. 5. Cuối cùng là : Phát sinh nghĩa vụ bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành văn bản pháp luật : Đối với phương pháp hủy bỏ văn bản áp dụng pháp luật thì chủ thể ban hành văn bản sẽ có trách nghiệm bồi thường, bồi hoàn những thiệt hại phát sinh từ văn bản. Nghĩa vụ này sẽ không được đặt ra với việc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính cũng như đối với hình thức bãi bỏ văn bản pháp luật.
Xem thêm

4 Đọc thêm

MỞ RỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THANH TOÁN

MỞ RỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THANH TOÁN

tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường, lại chỉ tập trung vào yếu tố giá cả nhằmđánh bại đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ làm tổn hại tới chính lợi nhuận củacác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong hoạt động dịch vụ thanh toán, mà còntổn hại tới sự gắn kết giữa chính bản thân ngân hàng và khách hàng, khi mà kháchhàng không nhận thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm của những ngân hàng khácnhau, vì vậy mà họ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu này đểđến với một sản phẩm có thương hiệu khác;- Các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chỉ tập trung phát triển tại các đô thịlớn, khu công nghiệp và khu chế xuất. Thiếu các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toánhoạt động mang tính chuyên nghiệp, phục vụ cho một số đối tượng, một số lĩnh vựchoặc vùng sâu, vùng xa, nông thôn và các địa phương có nền kinh tế kém phát triển;- Phí dịch vụ thanh toán còn khá cao và khó chấp nhận đối với những giao dịch thanhtoán mức trung bình, đặc biệt đối với các giao dịch liên ngân hàng và liên tỉnh. Ngoàira, một số phương tiện thanh toán khi sử dụng khách hàng còn phải trả thêm phụ phíso với việc sử dụng tiền mặt;- Hệ thống thanh toán cốt lõi là hệ thống thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàngNhà nước, mặc dù được cải thiện rất nhiều sau khi hoàn tất giai đoạn I của Dự ánhiện đại hệ thống thanh toán, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu gia tăng về hoạtđộng thanh toán giữa các ngân hàng. Theo thiết kế ban đầu, hệ thống thanh toán liênngân hàng có khả năng xử lý 4.500 giao dịch/ngày. Nhưng từ khi đi vào hoạt độngđến này, hệ thống thường xuyên lâm vào tình trạng quá tải với số lượng giao dịchbình quân lên tới 10.000 giao dịch/ngày;- Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứngđược yêu cầu về trình độ chuyên môn, tác phong phục vụ và đạo đức nghề nghiệp.b) Các nguyên nhân gây nên những hạn chế:- Thói quen và nhận thức: Sau đổi mới ngành ngân hàng, toàn bộ những yêu cầuquản lý tiền mặt áp dụng trước đó được loại bỏ. Tiền mặt trở thành một công cụthanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng. Hầu hết chi phí liên quanđến tiền mặt trong lưu thông như in ấn, phát hành, thu huỷ, vận chuyển, bảo quản, anninh là chi phí xã hội và do Nhà nước phải chịu. Cá nhân người thanh toán chỉ phải
Xem thêm

28 Đọc thêm

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

LUẬT Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 512001QH10; Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. 2. Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. 2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. 3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. 4. Nghị định của Chính phủ. 5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xem thêm

303 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN: KIỂM TOÁN CHẤT THẢI

ĐỀ CƯƠNG MÔN: KIỂM TOÁN CHẤT THẢI

A. Lý thuyết Chương I: Giới thiệu chung về kiểm toán chất thải 1. Khái niệm Kiểm toán, kiểm toán môi trường, kiểm toán chất thải Theo Liên đoàn kiểm toán quốc tế (International Federation of Accountants – IFAC) thì: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”. Theo tiêu chuẩn ISO 14010 (1996) “Kiểm toán môi trường là một quá trình thẩm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản, bao gồm việc thu thập và đánh giá một cách khách quan các bằng chứng nhằm xác định những hoạt động, sự kiện, hệ thống quản lý liên quan đến môi trường hay các thông tin về những kết quả của quá trình này cho khách hàng”. Những điểm mấu chốt của kiểm toán môi trường: Là quá trình kiểm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản. Tiến hành một cách khách quan. Thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán. Xác định vấn đề xem xét có phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán hay không. Thông tin các kết quả của quá trình này cho khách hàng Một định nghĩa về kiểm toán môi trường được coi là hoàn chỉnh khi nó trả lời được những câu hỏi mà các nhà quản lý của các tổ chức, công ty đưa ra đó là: Chúng tôi đang làm gì ? Cụ thể, liệu chúng tôi có phải tuân thủ tất cả các luật, quy định của Chính phủ và các hướng dẫn hay không? Chúng tôi có thể làm tốt hơn không ? Cụ thể, ở những khu vực không được quy định, các hoạt động có thể được tăng cường để giảm thiểu tác động môi trường hay không? Chúng tôi có thể làm điều đó với chi phí rẻ hơn không? Và chúng tôi phải làm gì nữa? “Kiểm toán chất thải được hiểu là quá trình kiểm tra sự tạo ra chất thải nhằm giảm nguồn, lượng chất thải phát sinh. Kiểm toán chất thải là một loại hình của kiểm toán môi trường. Kiểm toán chất thải là một công cụ quản lý quan trọng có hiệu quả kinh tế đối với nhiều cơ sở sản xuất”(Trần Thị Thanh và Nguyễn Thị Hà,2000)
Xem thêm

20 Đọc thêm

tổng hợp đề cương môn xây dựng Văn bản pháp luật có đáp án

TỔNG HỢP ĐỀ CƯƠNG MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ ĐÁP ÁN

Tài liệu ôn thi môn VĂN BẢN PHÁP LUẬTBài soạn bao gồm đầy đủ nội dung cấu trúc đề thi: Nhận định đúng sai; Câu hỏi tự luận phân tích 1 vấn đề; viết một văn bản hoàn chỉnh theo yêu cầu của đề. Mình vừa mới thi xong cũng trúng vài câu trong này. Chúc các bạn có mùa thi đạt kết quả tốtNhận định đúng sai1.Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ban hành văn bản QPPL > Sai. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng có quyền ban hành văn bản áp dụng phạm pháp luật.2.2.Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế có quyền ban hành văn bản QPPL. Đúng > Ví dụ: Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế Ban hành quyết định quy trình hoàn thuế.3.Văn bản bị đình chỉ thi hành thì hết hiệu lực.>Sai. VBPL bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật tiếp tục có hiệu lực.4.Tất cả các văn bản nhà nước đều ghi số, ký hiệu kèm theo năm ban hành.> SAI. Đối với VBADPL sốtên văn bản tên cơ quan ban hành hoặc tên chức danh ban hành hoặc tên loại việc giải quyết chứ không ghi năm. Ví dụ: Số: 01QĐKT, Số:02QĐUBND5.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. (sai, vì chỉ có những các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành văn bản pháp luật.) 6. Mọi văn bản pháp luật có thể đánh số theo loại văn bản, theo loại việc hoặc đánh số tổng hợp. (sai, vì k2 đ7 luật BHVBQPPL 2008)7.Ký thay được áp dụng khi cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới ký khi vắng mặt. (sai, vì theo điều 10 nghị định 1102004NĐCP về Công tác văn thư quy định: “ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền ký tất cả các văn bản của cơ quan tổ chức. Người đứng đầucơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.) 8.Văn bản quy phạm pháp luật luôn có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. (sai, vì đoạn 2 k1 đ78 luật BHVBQPPL 2008)9.Mọi Văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc phải đăng công báo.Sai. vì căn cứ vào điều 78 Luật BHVBQPPL năm 2008 các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc văn bản có định biện pháp trong tình trạng khẩn cấp có thể không đăng công báo vẫn phát sinh hiệu lực thi hành)10.Thời hạn đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật là trong vòng 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ngày ký ban hành văn bản. Sai, vì Đ13 NĐ số:1002010NĐCP quy định về công báo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng chính phủ có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo cấp tỉnh.)11.Trong mọi trường hợp đều có thể áp dụng hiệu lực hồi tố. (sai, đ79 luật 2008)Vì theo Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật,quy định1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn12.Văn bản quy phạm pháp luật luôn được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm văn bản đó đang có hiệu lực. (sai, vì căn cứ vào điều 83 Luật BHVBQPPL năm 2008 trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó mà không phải chỉ áp dụng đối với các hành vi xảy tại văn bản đó đang có hiệu lực.) 13.Mọi văn bản quy phạm pháp luật phải qua thủ tục ra lệnh công bố trước khi ban hành. (sai, Vì căn cứ vào điều 57 Luật BHVBQPPL năm 2008 thủ tục công bố văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội.14.Thẩm tra là thủ tục bắt buộc đối với mọi dự thảo của văn bản quy phạm pháp luật. (sai, Căn cứ vào điều 41 Luật BHVBQPPL năm 2008 Thủ tục thẩm tra áp dụng đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội; Căn cứ vào điều 27, điều 31 Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 thủ tục thẩm tra áp dụng cho dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện.Còn các văn bản quy phạm pháp luật khác không áp dụng thủ tục thẩm tra.15. Văn bản áp dụng pháp luật luôn có hiệu lực thi hành ngay.Sai, vì đoạn 1 k1 d83 luật 2008 luật BHVBQPPL năm 2008 về VBQPPL được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.16.Văn bản áp dụng pháp luật mới được ban hành thì không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác. Sai, vì Căn cứ vào điều 83 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 quy định do tính chất cá biệt nên khi có hiệu lực văn bản áp dụng pháp luật không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác tuy nhiên có một số ngoại lệ như văn bản mới thay thế văn bản cũ do cách giải quyết cùng một sự việc có khác nhau.)17.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản hành chính.Sai, vì Thẩm quyền BHVB hành chính không được PL quy định cụ thể tuy nhiên căn cứ vào hoạt động thực tiễn thẩm quyền BHVB hành chính được xác định trong quá trình điều hành đv cơ quan đơn vị thuộc cùng một hệ thống chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền Ban hành một số VB hành chính.)18. Mọi chủ thể đều có thẩm quyền kiểm tra văn bản pháp luật.Sai, Vì Căn cứ thẩm quyền này được quy định trong nhiều VB khác nhau như hiếm pháp , điều 87 Luật BHVBQPPL năm 2008 tính quyền lực trong hoạt động này thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền của nhà nước.19.Kiểm tra văn bản pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.Đúng, vì Căn cứ vào Điều 87 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 hoạt động kiểm tra phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành để xem xét về tính hợp hiến, hợp pháp,… của văn bản pháp luật và kịp thời xử lý các vi phạm bằng các văn bản pháp luật khác, như: Quyết định bãi bỏ, hủy bỏ văn bản..) 20. VB qui định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh, trước khi ban hành. (sai, khoản 2 điều 8 luật 2008, văn bản quy định chi tiết được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, không nhất thiết phải được soạn thảo cùng lúc với dự án luật)21. Giám đốc Sở Tư pháp được quyền ban hành quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng Công chứng. Sai, vì theo khoản 2 điều 19 luật công chứng 2014 thì trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm)22. Cách đánh số tổng hợp luôn được các cơ quan Nhà nước ban hành văn bản có số lượng ít áp dụng. Đúng, vì Căn cứ theo điều 7 luật BHVBQPPL năm 2008 việc đánh số văn bản QPPPLphải tùy theo từng loại VB và năm ban hành.) 23. Tất cả các nghị quyết của Quốc hội đều là văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì khoản 3 d11luật 2008) quy định cụ thể NQ của Quốc hội được ban hành để QĐ nhiệm vụ phát triển KTXH , dự toán ngân sách nhà nước phân bổ ngân sách TW…24. Nghị định của Chính phủ chỉ là loại văn bản dùng để cụ thể hoá thi hành Luật,Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH. Sai.Vì căn cứ vào điều 15 Luật BHVBQPPL năm 2008 Nghị định của Chính phủ còn dung để quy định các vấn đề khác, như: quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ…25. Văn bản pháp luật là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật. (đúng, d1 luật 2008)Đúng.Vì Căn cứ vào luật BHVBQPPL của HĐNDvà UBND năm 2004, điều 1 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định VBQPPL là VB do cơ quan nhà nước Ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này.26. Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật. Đúng. Vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật khi ban phối hợp ban hành cùng với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội đó là nghị quyết liên tịch27.Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật. Đúng, vì VBADPL Do nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội chứa đựng quy tắc cụ thể áp dụng một lần cho 1 chủ thể nhất định ban hành trên cơ sở VBQPPL) 28. Chủ tịch UBND có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 chỉ có các chủ thể được quy định tại điều 2 mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền chung của UBND không phải là thẩm quyền của Chủ tịch UBND)29. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều có quyền ban hành thông tư liên tịch. Sai, Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định cơ quan ban hành thông tư liên tịch là của VTVKSND, CATANDTC, bộ trưởng và các thủ trưởng cơ quan ngang bộ)
Xem thêm

95 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ tái cơ cấu THỊ TRƯỜNG NHÀ ở TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội

LUẬN văn THẠC sĩ tái cơ cấu THỊ TRƯỜNG NHÀ ở TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội

Thị trường BĐS tại Việt Nam chính thức được hình thành từ năm 1993, sau khi Luật Đất đai cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Năm 1996, lần đầu tiên khái niệm “Thị trường BĐS” được chính thức đề cập trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Với sự ra đời của luật Đất đai 2003, Dự thảo Luật Kinh doanh BĐS, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng và hàng loạt những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đã khẳng định sự tồn tại và phát triển của thị trường BĐS, trong đó chủ yếu là thị trường nhà ở của nước ta.
Xem thêm

Đọc thêm

Ôn thi cuối kì quản trị văn phòng ( tóm lược hay)

ÔN THI CUỐI KÌ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG ( TÓM LƯỢC HAY)

Chương 1: Tổng quan về văn phòng Chương 2: Quản lý hồ sơ Chương 3: Nghiệp vụ văn phòng Chương 4: Kiểm sóat công việc văn phòng + Kiến thức về nhà nước, pháp luật và luật hành chính Việt Nam, kỹ năng soạn thảo và ban hành văn bản quản lý nhà nước, công tác văn thư, lưu trữ, quản trị hành chính văn phòng; Tổ chức và khai thác các tài liệu, lưu trữ khoa học, lập và quản lý hồ sơ và con dấu, soạn thảo các hợp đồng,… + Nghiên cứu, khai thác và ứng dụng các chuẩn Quốc tế về CNTTTT như (MOS – Microsoft Word Specialist; IC3) phục vụ công tác văn thư – lưu trữ, quản trị văn phòng, Khai thác và ứng dụng các phần mềm tin học như quản trị nguồn nhân lực, điện tử, quản lý văn bản điện tử, văn phòng điện tử EOffice. Phân tích và thiết kế, xây dựng các hệ thống thông tin văn phòng điện tử dựa trên môi trường mạng máy tính, Thiết kế các trang thông tin điện tử phục vụ công tác quản lý hồ sơ một cửa, quản lý hành chính điện tử, cải cách thủ tục hành chính, văn phòng và triển khai các hệ thống chính phủ điện tử. – Ngành Quản trị văn phòng gồm 03 chuyên ngành: + Quản trị văn phòng + Quản trị Hành chính – Văn phòng + Quản trị Hành chính công
Xem thêm

107 Đọc thêm

Soạn bài : Quá trình tạo lập văn bản

SOẠN BÀI : QUÁ TRÌNH TẠO LẬP VĂN BẢN

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài QUÁ TRÌNH TẠO LẬP VĂN BẢN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Các bước tạo lập văn bản Khi có nhu cầu tạo lập văn bản, người viết phải tiến hành theo các bước sau: a) Định hướng tạo lập văn bản; Đây là khâu quan trọng, có ý nghĩa tiên quyết đối với việc tạo lập một văn bản. Để định hướng cho quá trình tạo lập văn bản, cần phải xác định các vấn đề xoay quanh những câu hỏi sau: - Viết cho ai? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được đối tượng giao tiếp cần hướng tới. - Viết để làm gì? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được mục đích của việc tạo lập văn bản, chủ đề cần hướng tới. - Viết về cái gì? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được đề tài, nội dung cụ thể của văn bản. - Viết như thế nào? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được cách thức tạo lập, các phương tiện biểu đạt gắn với nội dung cụ thể đã được định hình, hình thức ngôn ngữ để biểu đạt nội dung ấy một cách hiệu quả nhất. b) Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý theo bố cục rõ ràng, hợp lí đáp ứng những yêu cầu định hướng trên. Từ những nội dung đã xác định được trong bước định hướng, đến đây, người tạo lập văn bản tiến hành thiết lập hệ thống các ý, sắp xếp chúng theo bố cục hợp lí, đảm bảo liên kết nội dung, mạch lạc văn bản. c) Viết thành văn bản hoàn chỉnh. Đây là khâu trực tiếp cho ra "sản phẩm". Người tạo lập văn bản dùng lời văn của mình diễn đạt các ý thành câu, đoạn, phần hoàn chỉnh. Ở bước này, các phương tiện liên kết hình thức được huy động để triển khai chủ đề, thể hiện liên kết nội dung, đảm bảo mạch lạc cho văn bản. Việc viết thành văn cần đạt được tất cả các yêu cầu: đúng chính tả, đúng ngữ pháp, dùng từ chính xác, sát bố cục, có tính liên kết, mạch lạc, kể chuyện hấp dẫn, lời văn trong sáng. d) Kiểm tra lại văn bản. Đây là khâu cuối cùng của quá trình tạo lập văn bản. "Sản phẩm" phải được kiểm tra lại, điều chỉnh những nội dung, cách diễn đạt chưa hợp lí, sửa các lỗi về dùng từ, đặt câu, viết đoạn, chuyển ý, ... Lưu ý: Xem lại những kiến thức về liên kết, bố cục, mạch lạc. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1.  Hãy trả lời các câu hỏi sau để tự kiểm tra lại các văn bản mà em đã tạo lập: a) Điều em muốn nói trong các văn bản ấy có thực sự cần thiết không? b) Các văn bản đã hướng tới những đối tượng giao tiếp cụ thể chưa? Việc sử dụng ngôi nhân xưng đã phù hợp với đối tượng (nghe, đọc) ấy chưa? c) Em có lập dàn bài trước khi viết (nói) các văn bản ấy không? Các văn bản ấy thường được bố cục như thế nào? Đã chú ý tới nhiệm vụ của từng phần trong bố cục chung của văn bản chưa? d) Sau khi hoàn thành văn bản, em có kiểm tra lại không? Kiểm tra những gì và đã từng sửa chữa ra sao? Gợi ý: Đọc lại các bài viết của mình, nhớ lại các bước đã tiến hành khi làm. Tham khảo bài văn và xem gợi ý ở phần trước để tự đối chiếu với các văn bản đã tạo lập. 2. Dưới dạng văn bản báo cáo thành tích học tập trong Hội nghị học tốt của trường, có bạn đã làm như sau: (1) Chỉ kể lại việc mình đã học như thế nào và đã đạt được thành tích gì trong học tập. (2) Mở đầu mỗi đoạn đều có câu "Thưa các thầy cô" và liên tục xưng là "em" hoặc "con" trong lời văn. Theo em, làm như thế có đúng không? Cần phải điều chỉnh như thế nào? Gợi ý: Xem lại bài Bố cục trong văn bản, mục II - 3 và lưu ý ở đây không chỉ là thuật lại công việc học tập rồi kể ra những thành tích của mình mà quan trọng còn là biết rút ra kinh nghiệm, cách học để các bạn cùng tham khảo, học tập; không nên dùng nhiều những câu mang tính khẩu ngữ như "Thưa các thầy các cô", chỉ nên nói câu này ở phần Mở bài và phần Kết bài; tránh dùng quá nhiều những đại từ nhân xưng như "em" hoặc "con", nếu dùng, nên dùng "em", hơn nữa, đối tượng giao tiếp mà văn bản hướng tới không chỉ có các thầy cô giáo mà còn có các đại biểu, các bạn học sinh nên xưng hô phải hướng tới tất cả các đối tượng ấy. 3. Muốn tạo lập một văn bản thì phải tiến hành lập dàn bài, xây dựng bố cục. Hãy trả lời các câu hỏi sau để rút ra cách làm một dàn bài: a) Dàn bài có bắt buộc phải viết thành những câu hoàn chỉnh, đầy đủ như khi viết văn bản không? Có phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để diễn đạt sự liên kết không? b) Làm thế nào để phân biệt các nội dung tương ứng với các đề mục lớn, nhỏ? Làm thế nào để biết được các ý trong từng mục đã đủ chưa và đã sắp xếp rành mạch, hợp lí chưa? Gợi ý: - Dàn bài là hệ thống các ý dự định sẽ triển khai trong văn bản chứ chưa phải là văn bản. Cho nên, không cần thiết phải viết dưới dạng các câu hoàn chỉnh mà chỉ cần viết ngắn gọn, miễn phác ra được ý là được. Mặc dù không cần phải diễn đạt liên kết bằng từ ngữ cụ thể nhưng dàn bài cũng phải thể hiện được mối liên hệ giữa các ý về mặt nội dung. - Để phân biệt được hệ thống vấn đề trong nội dung văn bản theo cấp độ lớn - nhỏ, khái quát - cụ thể, trước - sau, người lập dàn ý phải dùng hệ thống các kí hiệu quy ước chặt chẽ (bằng chữ số La Mã, chữ số thường, chữ cái,...) - Để kiểm soát được các ý trong từng mục một cách thuận tiện, về mặt hình thức, khi trình bày dàn ý phải chú ý cách xuống dòng, khoảng cách lùi đầu dòng cho thống nhất, chẳng hạn: ý lớn ngang nhau thì các kí hiệu đầu dòng phải thẳng nhau, ý nhỏ hơn thì đầu dòng viết lùi vào so với ý lớn hơn,... 5. Dưới vai En-ri-cô, em hãy viết một bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình vì trót thiếu lễ độ với mẹ. Gợi ý: Trước hết phải xác định được định hướng tạo lập văn bản thông qua việc trả lời các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết như thế nào? Đối tượng hướng tới ở đây là người bố, con viết cho bố; mục đích là viết để bày tỏ sự ân hận, mong bố tha lỗi; đề tài là viết về việc đã trót thiếu lễ độ với mẹ và suy nghĩ của mình trước lỗi lầm đó. Lưu ý: văn bản này viết dưới dạng một bức thư, nhân xưng ngôi thứ nhất - "con" - En-ri-cô, trò chuyện trực tiếp với bố. Các ý chính sẽ là: kể lại sơ lược về hành động thiếu lễ độ của mình đối với mẹ; suy nghĩ của mình sau khi nhận được thư của bố; bày tỏ sự ân hận; bày tỏ lòng kính trọng, thương yêu bố mẹ; hứa sẽ không bao giờ có hành động như thế nữa,...
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề