DẤU HIỆU VIÊM NỘI MẠC TỬ CUNG

Tìm thấy 5,228 tài liệu liên quan tới từ khóa "DẤU HIỆU VIÊM NỘI MẠC TỬ CUNG":

5 TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG

5 TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 5 triệu chứng của bệnh lạc nội mạc tử cung Đau bụng, đau đầu, thay đổi tâm trạng... trong kỳ kinh nguyệt sẽ gây khó chịu đối với người bình thường và sẽ còn khó chịu, mệt mỏi hơn nhiều đối với những phụ nữ bị bệnh lạc nội mạc tử cung. Đây là căn bệnh mà các mô hay tế bào nội mạc tử cung xuất hiện bên ngoài tử cung. Trong kỳ kinh nguyệt, các mô bị phá vỡ và bị kẹt lại trong cơ thể, hình thành thương tổn và gây đau dữ dội. Dưới đây là 5 dấu hiệu cho thấy có thể bạn đã mắc loại bệnh này:   Ảnh: Think stock Vấn đề tiêu hóa Đau bụng, táo bón, tiêu chảy là dấu hiệu của hội chứng ruột kích thích. Tuy nhiên, nếu các triệu chứng này xấu đi trong kỳ kinh nguyệt, đó có thể đó là dấu hiệu của sự hình thành nội mạc tử cung trong hệ thống tiêu hóa. Bệnh lạc nội mạc tử cung có thể gây các triệu chứng mà ngay cả bác sĩ phụ khoa cũng không nghĩ đến. Các chắc chắn nhất để phân biệt giữa hội chứng ruột kích thích và bệnh lạc nội mạc tử cung là tiến hành nội soi ổ bụng để lấy mẫu mô từ vùng bị ảnh hưởng và làm xét nghiệm đối với tế bào nội mạc tử cung. Đau thân trên hoặc đau tức khi thở Tế bào nội mạc tử cung có thể di chuyển đến bất cứ phần cơ thể nào. Ngoài vị trí bình thường trong khoang bụng, các tế bào có thể xuất hiện ở cánh tay, đùi và thậm chí là cơ hoành. Khi cơ hoành bị tổn thương, bạn sẽ cảm thấy cực kỳ đau đớn khi thở và cử động cánh tay cùng phần thân trên trong kỳ kinh nguyệt. Vô sinh Khi hệ thống sinh sản của phụ nữ hoạt động bình thường, trứng xuất phát từ buồng trứng đi xuống một trong các ống dẫn trứng để có thể gặp tinh trùng. Tuy nhiên, khi mắc bệnh lạc nội mạc tử cung, các tổn thương nội mạc tử cung và sẹo trên ống dẫn trứng có thể gây khó khăn cho việc thụ thai. Ngay cả khi không có mô sẹo trên ống dẫn trứng, lạc nội mạc tử cung có thể gây trì hoãn việc thụ thai. Một giả thuyết cho rằng bệnh lạc nội mạc tử cung có thể gây kháng hormone progesterone, làm thay đổi chu kỳ kinh nguyệt và khiến thành tử cung của người phụ nữ không sẵn sàng để cấy phôi. Đi tiểu thường xuyên Tương tự với triệu chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu, tổn thương nội mạc tử cung trên bàng quang có thể khiến bạn đi tiểu thường xuyên và cảm thấy bàng quang đầy nước trong kỳ kinh nguyệt. Bệnh lạc nội mạc tử cung cũng có các triệu chứng tương tự viêm bàng quang kẽ là đau và áp lực trong bàng quang. Triệu chứng của viêm ruột thừa Cảm giác đau âm ỉ ở vùng bụng như triệu chứng của viêm ruột thừa, nếu xuất hiện thường xuyên trong kỳ kinh nguyệt có thể là dấu hiệu của lạc nội mạc tử cung. Viêm ruột thừa kinh nguyệt là bệnh do nội mạc tử cung ảnh hưởng đến ruột thừa. Bệnh nhân bị viêm ruột thừa kinh nguyệt sẽ tiết nhiều tế bào máu trắng  hoặc có dấu hiệu bị sốt.
Xem thêm

2 Đọc thêm

KHẮC PHỤC VÔ SINH TRÊN HEO NÁI

KHẮC PHỤC VÔ SINH TRÊN HEO NÁI

trùng.Do rối loạn chức năng thể vàng, nên hormol Progesterol không có hoặc ít không đủ điều kiện để bảo vệ trứng và tinhtrùng làm tổ vững chắc. Hoặc thiếu vitamin E làm niêm mạc cơ, mạch máu tử cung bị thoái hóa trứng và tinh trùngkhông làm tổ được.2. Trường hợp sẩy thaiDo vi trùng, xoắn trùng trực tiếp tác động lên cơ quan sinh dục: Brucella, Leptospira.Do kí sinh trùng Trichomonas gây viêm tử cung, viêm màng thai, chết thai.Do con đực giống bị một số bệnh truyền nhiễm: Brucellosis, Leptospilosis hay kí sinh trùng Trichomonas khi phủ nọc choheo nái sẽ gây bệnh cho heo nái.Do ảnh hưởng gián tiếp một số bệnh truyền nhiễm: Pavovirus, dịch tả, thương hàn, tụ huyết trùng, đóng dấu lợn, bệnhgiả dại, bệnh cúm, bệnh lở mồm long móng. Những vi trùng hay độc tố của vi trùng tác động lên cơ thể gia súc hay trựctiếp đến thai, gây chết thai hay đẻ non.Do chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém thiếu protid, glucid, lipid và các chất khoáng Ca, P, Iod, Vitamin A, D dẫn đến cơthể bị suy nhược không đủ chất nuôi thai, thai bị chết, đẻ non.Do ngộ độc thức ăn như: Thức ăn bị nấm mốc, thức ăn nhiều khoai mì đã chạy chỉ, khoai hà hay thức ăn bị nhiễm thuốctrừ sâu hay độc tố của bánh dầu phộng, những chất độc này đã làm chết thai.Do thể vàng nơi buồng trứng teo quá sớm nên lượng hormol Progesterol không được tiết ra đẻ giữ thai dẫn đến bị sẩythai.II – Triệu chứngTrường hợp vô sinh: Thấy heo nái chậm lên giống hoặc đã lên giống nhưng phủ nọc nhiều lần không đậu.Trường hợp sẩy thai, chết thai: Thấy chưa tới ngày heo đẻ, heo nái đã đau bụng, đi lại nhiều chảy nước dịch nhờn trắngđục, có máu, con đẻ ra rất yếu hoặc chết.III – Biện pháp phòng và trị bệnh1. Phòng trị trường hợp vô sinha) Biện pháp phòng bệnhKhi bị các bệnh sản khoa như: Viêm tử cung, sót nhau phải điều trị ngay để ngăn chặn viêm nội mạc tử cung. Đồng thờiphải bơm rửa tử cung cho những heo nái mới sinh để các dịch mủ viêm không bị khô lại.Phải kiểm tra heo nọc xem có bệnh truyền nhiễm không hoặc đã phối lần nào trong ngày chưa, vì heo nọc vừa cho phối
Xem thêm

8 Đọc thêm

KHÓA LUẬN VIÊM TỬ CUNG

KHÓA LUẬN VIÊM TỬ CUNG

Viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động củabuồng trứng.Qua đó, ta thấy hậu quả của Viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnhgiảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh, từ đó tìm ra biệnpháp đề phòng và điều trị hiệu quả.2.4.3. Các thể Viêm tử cungTử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi làm tổ và đảm bảomọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởngtrực tiếp tớ khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2002).Chính vì vậy, bệnh Viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu. TheoTrần Tiến Dũng và cộng sự (2002) thì Viêm tử cung được chia ra làm 3 thể: Viêmnội mạc tử cung, Viêmtử cungViêm tương mạc tử cung.* Viêm nội mạc tử cungKhi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệpbằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương, vi khuẩn xâmnhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễmnhư Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,... thường gây ra Viêm nộimạc tử cung. Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, Viêm nội mạctử cung có thể chia ra làm hai loại: Viêm nội mạc tử cung thể cât cấp có mủ vàViêm nội mạc tử cung có màng giả.- Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperslisCatarrhalis purulenta acuta).Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn.Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễmkhuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp.Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơicao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khicong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hôn dịch,
Xem thêm

66 Đọc thêm

Có cách "trị" rối loạn chu kỳ kinh nguyệt

CÓ CÁCH "TRỊ" RỐI LOẠN CHU KỲ KINH NGUYỆT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thừa cân: Các tế bào chất béo dư thừa có thể làm tăng nồng độ estrogen, ảnh hưởng đến sự trụng trứng theo chu kỳ. Trong khi đó, dưới tác động của estrogen, lớp niêm mạc tử cung tiếp tục dày lên. Do đó, phụ nữ thừa cân thường có chu kỳ kinh nguyệt dài và không đều. Thiếu cân: Ngược lại, khi thiếu cân, cơ thể bạn không sản xuất đủ estrogen để làm dày lớp nội mạc tử cung. Điều này cũng ảnh hưởng đến chu kỳ bình thường của phái đẹp. Đang trong đợt điều trị thuốc: Bất kỳ loại thuốc nào có liên quan đến tuyến giáp, steroid, hoặc thuốc chống loạn thần đều có thể ảnh hưởng xấu đến chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ. Tiếp xúc nhiều với thuốc trừ sâu: Một nghiên cứu cho thấy, . Các bác sĩ khuyên phái đẹp hạn chế tối đa sự tiếp xúc với thuốc trừ sâu, kể cả qua đường thực phụ nữ sống ở những nông trại sử dụng thuốc trừ sâu có chu kỳ dài hơn so với những phụ nữ khácphẩm. Bạn nên chọn loại rau củ không sử dụng thuốc trừ sâu để đảm bảo an toàn tuyệt đối.   Phụ nữ sống ở những nông trại sử dụng thuốc trừ sâu có chu kỳ dài hơn so với những phụ nữ khác Căng thẳng: Phụ nữ căng thẳng có thể làm chu kỳ rối loạn. Đặc biệt hơn nữa, khả năng thụ thai ở những phụ nữ có dấu hiệu căng thẳng thường thấp hơn. Lời khuyên đưa ra cho các cặp đang cố gắng có em bé là thư giãn để có tâm thế thoải mái nhất. Ngủ không đủ giấc: Những người có giấc ngủ không ổn định hoặc thiếu ngủ như y tá, tiếp viên hàng không, những người hay làm ca đêm… thường có chu kỳ không đều dặn. Thêm vào đó, giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nồng độ melatonin – được cho là có ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt và sinh sản. Lệch múi giờ: Cơ thể sản xuất ra hormone melatonin để báo hiệu giờ ngủ sinh học của bạn. Khi bị lệch múi giờ, melatonin vẫn được sản xuất mặc dù lúc đó là ban ngày. Điều này khiến cơ thể bạn khó thích ứng kịp, gây rối loạn kinh nguyệt.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đau bụng kinh có thể gây... vô sinh

ĐAU BỤNG KINH CÓ THỂ GÂY... VÔ SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đau bụng kinh nguyệt là triệu chứng khó chịu thường gặp ở chị em, nó khiến chị em phụ nữ mệt mỏi, đau lưng, đau bụng âm ỉ, có khi đau dữ dội kèm theo hạ huyết áp, toát mồ hôi, chân tay lạnh, buồn nôn…thậm chí có thể dẫn tới hôn mê. Đau bụng kinh là hiện tượng đau bụng dưới khi hành kinh và có thể lặp đi lặp lại theo chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ. Tình trạng này thường gặp ở phụ nữ còn trẻ, có những người có thể đau kéo dài đến mấy tiếng hoặc vài ngày. Thông thường, đau bụng kinh được chia làm hai loại chính: đau bụng kinh nguyên phát (thường gặp ở lứa tuổi vị thành niên) và đau bụng kinh thứ phát (thường gặp ở phụ nữ đã sinh đẻ, do các nguyên nhân thực thể như tử cung đổ sau, chít lỗ cổ tử cung, u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung…). Đau bụng kinh ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của người phụ nữ. Nhiều trường hợp phải nghỉ học, nghỉ làm vì những cơn đau dữ dội trước hoặc trong kỳ kinh. Không chủ quan khi đau bụng kinh Mỗi lần gần đến “ngày đèn đỏ”, chị Hoàng Thu G.(29 tuổi) lại thấy sợ vì thường xuyên bị đau bụng kinh dữ dội, mỗi lẫn như vậy G. cứ ôm bụng quằn quại, mặt mày xanh xao, người vã mồ hôi như tắm....Chị G. cho biết chị đã đi khám nhiều nơi, các bác sĩ đều bảo không sao nhưng chị vẫn nghĩ mình mắc phải căn bệnh gì đó.   Nhiều người bị đau bụng kinh, tuy nhiên mỗi người một kiểu đau, người thì đau âm ỉ, nhưng có những người đau không thể chịu nổi phải dùng đến thuốc giảm đau (Ảnh minh họa) Cũng giống như chị G, bạn Minh H. (sinh viện Đại học Giao thông ) cho biết cũng bị đau bụng kinh, có tháng đau hai ngày, thậm chí có tháng ba ngày mới hết. Mỗi lần như vậy, H. thường đi ngoài liên tục, người vã mồ hôi, chân tay bủn rủn và hầu như tháng nào cũng nghỉ phải nghỉ học vì đau bụng kinh. Trong thực tế, rất nhiều người bị đau bụng kinh, tuy nhiên mỗi người một kiểu đau, người thì đau âm ỉ, nhưng có những người đau không thể chịu nổi phải dùng đến thuốc giảm đau. Theo bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, Trung tâm y tế lao động Thái Hà (Hà Nội), đau bụng kinh hay còn gọi là thống kinh là tình trạng đau vùng hạ vị, xuất hiện trước, trong hoặc sau khi hành kinh. Thường phụ nữ từ 14 tuổi đến 49 tuổi sẽ thấy kinh mỗi tháng một lần, mỗi lần 3-5 ngày. Đây là hiện tượng bình thường ở chị em phụ nữ mỗi khi đến kỳ kinh nguyệt. Nguyên nhân là đến kỳ kinh nguyệt, tử cung căng phồng lên, niêm mạc tử cung dầy lên chèn ép gây đau. Bên cạnh đó, muốn đẩy máu ra ngoài thì cơ tử cung phải co lại. Lúc này chất prostaglandin xuất hiện và gây ra đau bụng kinh.  Theo khuyến cáo của các bác sĩ, đau bụng kinh có thể là dấu hiệu của bệnh lạc nội mạc tử cung, nghĩa là lớp niêm mạc không nằm trong tử cung mà di cư đến những chỗ khác như: bụng, bàng quang thậm chí là buồng trứng... Bệnh không quá nguy hiểm nhưng có thể dẫn đến vô sinh. Thực tế, trong số các phụ nữ bị vô sinh, có tới 30-50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Chẳng hạn, niêm mạc có thể nằm ở vòi trứng dẫn đến tắc vòi trứng. Ngoài ra, khi nội mạc tử cung chảy máu, các mảnh lạc này cũng chảy máu mà không có đường thoát ra, dễ bị viêm nhiễm và gây dính, tắc vòi trứng... Ngoài ra, đây có thể là dấu hiệu của chửa ngoài tử cung. Chị em bị chảy máu, đau bụng nhưng vì nó rơi đúng vào chu kỳ kinh nguyệt. Điều này rất nguy hiểm vì nếu không phát hiện sớm thai bị vỡ, chảy máu nhiều có thể dẫn đến biến chứng vô sinh, thậm chí là tử vong. Do vậy, khi thấy đau bụng kinh kéo dài và khác thường, chị em phụ nữ không nên cố chịu đựng mà hãy đii khám bác sĩ phụ khoa để xác định rõ nguyên nhân và có biện pháp điều trị phù hợp. Ngăn ngừa và phòng tránh đau bụng kinh Theo các bác sĩ, chứng đau bụng kinh thường không điều trị bằng thuốc màchỉ cần dùng các phương pháp làm giảm cơn đau. Bạn có thể chườm nóng, hoặc có thểuống một chút nước gừng. Đây cũng là cách làmấm bụng để giảm cơn đau.   Bên cạnh đó, trước kỳ kinh nguyệt từ 3-5 ngày, bạn nên ăn những thức ăn dễtiêu hóa và hấp thu. Tránh thực phẩm tươi sống, thực phẩm nhiều gia vị hay các loại thực phẩm lạnh cóthể kích thích tử cung, ống dẫn trứng hoặc làm trầm trọng thêm cơn đau bụng. Không nên ăn nhiều một lúc mà chia thành các bữa nhỏ, tránh những thứcăn gây đầy bụng, khó tiêu.   Ngoài ra, bạn cũng cần ăn các loại thực phẩm chua như bắp cải muối, salad, nộm, canh chua... bởi nó hỗ trợ khá tốt trong việc giảm cơn đau bụng kinh. Nên giữ ấm cơ thể để thúc đẩy lưu thông máu và thư giãn cơ bắp. Bạn nên uống nước ấm và dùng túi giữ nhiệtđặt lên bụng để giúp giảm cơn đau.   Đặc biệt là trong đêm trước của chu kỳ “đèn đỏ”, bạn nên đi bộ nhiều hơn để giúp cơthể thoải mái. Một số vị thuốc đông y như ích mẫu, ngải cứu cũng có tác dụng giảmđau bụng kinh. Bạn có thể sắc rồi lấy nước uống trong những ngày bị chứng này hành hạ. Nếu bạn đau quá mức, các biện pháp kể trên chỉgiảm được một phần thì nên hỏi bác sĩ vềviệc dùng thuốc giảm đau. Còn nếu cơn đau cótính chất khác thường, hay vẫn đau bụng ngay cảkhi đã hết kinh thì bạn nên đến bệnh viện khám ngay.   Đau bụng kinh kéo dài do các chứng bệnh ở cơ quan sinh dục gây nên, vì vậy nên sớm kiểm tra phát hiện bệnh phụ khoa, kịp thời điều trị. Ngoài ra, bạn cần lưu ý: Giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt, tránh lao động thể lực hoặc vận động quá sức. Tuyệt đối không sinh hoạt vợ chồng trong thời kỳ kinh nguyệt và tránh những kiểm tra phụ khoa không cần thiết; Làm tốt công tác tránh thai. Tránh nạo thai và phẫu thuật buồng tử cung (có thể dẫn đến dính niêm mạc tử cung và phát sinh chứng bệnh khác; Giữ vệ sinh cá nhân, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con. Tuyệt đối không sinh hoạt tình dục bừa bãi, tránh phát sinh chứng viêm tiểu khung và các chứng phụ khoa khác.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đau đớn vùng chậu, có thể tử vong

ĐAU ĐỚN VÙNG CHẬU, CÓ THỂ TỬ VONG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một ngày, cảm thấy đau nhói quanh khung xương chậu, hãy cẩn trọng vì đó có thể là dấu hiệu của các bệnh lạc nội mạc tử cung, viêm bàng quang kẽ, đau âm hộ mãn tính, sung huyết vùng chậu... Nếu không chữa trị kịp thời, chị em có thể bị cắt bỏ tử cung, thậm chí tử vong. Dưới đây là một số triệu chứng phổ biến của những bệnh có liên quan đến đau vùng chậu phụ nữ nên tham khảo. Lạc nội mạc tử cung Lạc nội mạc tử cung gây đau bụng dữ dội thường trùng với chu kỳ kinh nguyệt, đau tỏa ra lưng, xương chậu, chân Lạc nội mạc tử cungLạc nội mạc tử cung là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Theo thống kê, khoảng 5 triệu phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung. Triệu chứng: Đau bụng dữ dội thường trùng với chu kỳ kinh nguyệt, đau tỏa ra lưng, xương chậu, chân.  Phương pháp chẩn đoán: Phẫu thuật nội soi (thủ tục phẫu thuật xâm lấn tối thiểu) và làm sinh thiết (lấy các mẫu mô để kiểm tra dưới kính hiển vi). Điều trị: Điều trị bằng thuốc để thu nhỏ mô nội mạc tử cung như thuốc kháng viêm không steroid: Ibuprofen, naproxen sodium, thuốc tránh thai hoặc hormone. Bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật xâm lấn tối thiểu để loại bỏ hoặc phá hủy tăng trưởng nội mạc tử cung. Trong trường hợp nặng, nếu cần, bác sĩ sẽ cắt bỏ tử cung.   Căng cơ vùng chậu gây áp lực hoặc đau nhức trong xương chậu, nóng đốt, ngứa và đau ở âm đạo hay niệu đạo. (Ảnh minh họa) Viêm bàng quang kẽ Viêm bàng quang kẽ là bệnh mãn tính thường gặp ở phụ nữ. Bệnh có thể bắt nguồn từ sự cố của mucin - các tế bào trên bề mặt của bàng quang có tác dụng bảo vệ bàng quang khỏi axit. Triệu chứng: Người bị bệnh viêm bàng quang kẽ thường có các biểu hiện như liên tục muốn đi tiểu, mỗi lần đi rất ít nước tiểu, thường bệnh nhân phải đi tiểu đến 60 lần trong ngày, đau vùng xương chậu. Phương pháp chẩn đoán: Sau khi loại trừ những bệnh có triệu chứng tương tự, bác sĩ sẽ kiểm tra nước tiểu của bạn để xác định có phải nhiễm trùng đường tiết niệu hay không. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra bàng quang, trong trường hợp cần thiết sẽ phải làm cả sinh thiết để chẩn đoán khả năng ung thư. Điều trị: Tùy mức độ viêm mà bác sĩ có thể cho bệnh nhân uống thuốc hay phẫu thuật. Thông thường, Elmiron là loại thuốc uống đầu tiên được sử dụng và mất khoảng 6-9 tháng, bệnh nhân mới khỏi hoàn toàn. Ngoài ra, các bác sĩ cũng thành công với những loại thuốc kháng histamin, chống trầm cảm, chống động kinh và những loại thuốc khác truyền trực tiếp vào bàng quang. Căng cơ vùng xương chậu Nhiều vấn đề, cả về thể chất (chẳng hạn như sinh con khó khăn) và tình cảm, có thể dẫn đến căng cơ mãn tính trong các cơ xương chậu. Triệu chứng: Khi bị căng cơ vùng xương chậu, người bệnh có thể cảm thấy như có áp lực hoặc đau nhức trong xương chậu, cảm giác nóng đốt, ngứa và đau ở âm đạo hay niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang). Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sẽ làm các kiểm tra vật lý quanh vùng chậu. Điều trị: Các phương pháp điều trị hiệu quả nhất liên quan đến sàn chậu là vật lý trị liệu. Hãy nghĩ về nó như bài tập thể dục cho âm đạo, giúp ngăn chặn sự co thắt ở các cơ vùng này. Ngoài ra, bệnh nhân có thể tiêm botox ngăn ngừa co thắt cơ vùng chậu.Sung huyết vùng chậu.   Sung huyết vùng chậu thường xảy ra các cơn đau khi bạn ngồi hoặc đứng. (Ảnh minh họa) Sung huyết vùng chậu Sung huyết vùng chậu hay còn gọi là chứng suy tĩnh mạch gây đau xương chậu. Giống như giãn tĩnh mạch ở chân, các van trong tĩnh mạch trở nên yếu và không đóng đúng cách nên bể máu, gây áp lực và đau đớn. Sung huyết vùng chậu thường xảy ra các cơn đau khi bạn ngồi hoặc đứng. Triệu chứng: Nhói đau ở xương chậu, gây cảm giác nặng nề, đau nhẹ vào buổi sáng và càng tồi tệ hơn trong suốt cả ngày. Cơn đau sẽ giảm khi bạn nằm xuống hoặc áp dụng nhiệt. Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sẽ đo kích thước của tĩnh mạch bất thường và tốc độ của dòng máu chảy để chẩn đoán bệnh.  Điều trị: Giải pháp cắt bỏ tử cung, trong đó có buồng trứng và các tĩnh mạch bị ảnh hưởng đã được chứng minh là liệu pháp hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trước khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ thử phương pháp thu nhỏ tĩnh mạch cho bệnh nhân. Trong trường hợp phương pháp này không có hiệu quả thì mới phẫu thuật.  Đau âm hộ mãn tính Nguyên nhân của đau âm hộ mãn tính chưa được biết đến nhưng theo chuyên gia, có thể do nhiễm nấm hoặc tổn thương thần kinh do các hoạt động như cưỡi ngựa, sinh con. Triệu chứng: Nóng rát, đau nhức, ngứa, đau khi giao hợp. Phương pháp chẩn đoán: Bác sĩ sử dụng một tăm bông thấm nhẹ và có phương pháp kiểm tra cụ thể các khu vực đau ở vùng âm hộ. Điều trị: Thường dùng thuốc chống trầm cảm, thuốc gây tê cục bộ, phẫu thuật là giải pháp cuối cùng. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÓM TẮT BỆNH LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG

TÓM TẮT BỆNH LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG

Tử cung: kích thước bình thường hoặc lớn hơn bình thường trong trường hợp lạcnội mạc tử cung vào trong cơ tử cung (adenomyosis). Tử cung có thể bò ngảsau, di động kém do những tổn thương lạc nội mạc tử cung ở dây chằng tửcung-cùng.− Hai phần phụ nề hoặc có khối u trong trường hợp có nang lạc nội mạc tử cung.Đặc điểm của nang lạc nội mạc tử cung là khối u hình cầu, tròn đều, di động−−kém.Cùng đồ trống hoặc nề, có khối u.Vách trực tràng-âm đạo nề, đau khi có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Dấuhiệu này phát hiện được khi thăm khám với một ngón tay trong âm đạo và mộtngón tay trong trực tràng.Khám lâm sàng rất quan trọng để chẩn đoán và đánh giá tổn thương lạc nội mạc tửcung. Tuy nhiên trong những trường hợp lạc nội mạc tử cung mức độ nhẹ và tổnthương chỉ ở trên phúc mạc, khám lâm sàng có thể không phát hiện được bất thường.III.DẤU HIỆU CẬN LÂM SÀNG1. Siêu âm−Nang lạc nội mạc tử cung có hình ảnh một khối u echo kém, thành trơn láng,chứa dòch dạng vân mây. Những nang lạc nội mạc tử cung mới thành lập códạng hình cầu,− thành nang tương đối trơn láng. Những nang được thành lập lâu, dần dần hình
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO BẠN ĐANG BỊ U XƠ TỬ CUNG

NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO BẠN ĐANG BỊ U XƠ TỬ CUNG

Những dấu hiệu cảnh báo bạn đang bị u xơ tử cungTrong nhiều trường hợp khác, u xơ tử cung không có dấu hiệu hoặc triệuchứng đặc biệt nào cả.U xơ tử cung là gì?U xơ tử cung là khố u phát triển bất thường trong hoặc trên tử cung của người phụnữ. Đôi khi, những khối u này trở nên khá lớn và gây ra đau bụng dữ dội và kinhnguyệt ra nhiều. Trong các trường hợp khác, chúng không có dấu hiệu hoặc triệuchứng đặc biệt nào cả. Hầu hết các khối u xơ tử cung tăng trưởng lành tính (khôngphải ung thư), tuy nhiên, nguyên nhân gây u xơ tử cung thường không rõ ràng.Dưới đây các yếu tố nguy cơ và 10 dấu hiệu cảnh báo rằng bạn có thể đang bị u xơtử cung. Điều đáng tiếc là chị em hay bỏ qua những dấu hiệu này nên không pháthiện bệnh sớm.Các yếu tố nguy cơ gây bệnhChưa sinh nở hoặc mang thai: Những phụ nữ chưa bao giờ mang thai có tăngnguy cơ phát triển u xơ tử cung.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíTiền sử gia đình: U xơ tử cung thường xảy ra trong các gia đình có người thân bị uxơ tử cung có nhiều khả năng để phát triển u xơ tử cung hơn so với phụ nữ khôngcó tiền sử gia đình như vậy.Béo phì: Những phụ nữ béo phì có nguy cơ phát triển u xơ tử cung cao.1. Chảy máu âm đạoHầu hết phụ nữ bị u xơ tử cung thường chảy máu âm đạo nặng trong kì kinhnguyệt hoặc giữa chu kì. mà có thể liên quan đến kinh nguyệt hay xảy ra trước khibắt đầu của kỳ kinh nguyệt tiếp theo (giữa chu kì chảy máu). Nếu kinh nguyệt củabạn ra quá nhiều hoặc kéo dài với nhiều cục máu đông hơn bình thườngthì bạn nênđi khám càng sớm càng tốt.
Xem thêm

7 Đọc thêm

3 QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN GIỐNG MÓNG CÁI

3 QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN GIỐNG MÓNG CÁI

lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra…- Biện pháp khắc phục: Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đúng quy trình kỹ thuật,đáp ứng nhu cầu chuồng trại, vận động, thức ăn và dinh dưỡng, can thiệp kịp thờivà đúng kỹ thuật… Tiêm thuốc Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩynhau ra hết. Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 1 phần nghìn hoặc nước muối9 phần nghìn để rửa tử cung trong ba ngày liên tục.2- Sốt sữa:21- Nguyên nhân: Lợn nái sốt sữa do nhau ra không hết, nhau ở trong tử cung sẽ tiếtra hoocmon follienlia, làm ức chế sự phát sinh của hoocmon prolactine nên tuyếnvú không phát triển được gây sốt sữa; hoặc do tử cung và vú bị nhiễm trùng; hoặcdo thức ăn mất cân đối thành phần và giá trị dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng vàsinh tố.- Biện pháp khắc phục: Nếu sốt sữa do nhau thì dùng dung dịch Gluconat canxi10% tiêm tĩnh mạch với liều 20ml/con hoặc tiêm tĩnh mạch dung dịch Oxytoxinvới liều 10 - 20 UI/con hoặc có thể dùng dung dịch Ergotin tiêm bắp với liều 0,3 0,5mg/con. Nếu sốt sữa do thiếu canxi thì dùng dung dịch Gluconat canxi 10%tiêm tĩnh mạch với liều 20 - 40ml/con. Nếu sốt sữa do thiếu vitamin C thì có thểtiêm 200ml nước cất cộng với 5ml vitaminC/con/ngày. Khi thấy lợn trở lại trạngthái bình thường nhưng vẫn ít sữa thì có thể tiêm dung dịch Thyrosin ngày một lần,với liều 1ml/con/ngày.3- Bệnh viêm vú:- Nguyên nhân: Lợn mẹ bị tổn thương bộ phận sinh dục như âm hộ, âm đạo, tửcung, vú và bầu vú… tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thểgây viêm nhiễm tại chỗ và vào máu gây nhiễm trùng huyết và viêm vú. Lợn mẹ tiếtnhiều sữa (do ăn quá nhiều chất đạm) nhưng lợn con không bú hết làm cho sữa bị ứđọng tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển; lợn mẹ đẻ ít con nên cónhiều vú bị thừa hoặc do lợn mẹ chỉ cho con bú có một bên… những vú khôngđược lợn con bú sẽ bị căng sữa dẫn đến viêm vú; chuồng quá bẩn, việc sát trùng
Xem thêm

20 Đọc thêm

Giảm đau bụng trong kỳ kinh nguyệt

GIẢM ĐAU BỤNG TRONG KỲ KINH NGUYỆT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường của các bạn nữ khi đến tuổi dậy thì. Trong những ngày có kinh, nhiều người chỉ có cảm giác hơi khó chịu ở bụng dưới, hơi cương tức ngực,… nhưng đối với một số người có triệu chứng đau tức bụng dưới, đôi khi đau quằn quại kèm theo đau thắt lưng, đau ngực, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa,… ảnh hưởng rất lớn đến công việc và sinh hoạt. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau bụng khi hành kinh, có thể do sự co thắt quá độ của tử cung, hàm lượng chất prostaglandin (PG) trong máu kinh nguyệt và nội mạc tử cung tăng cao, một số bệnh lý như: lạc nội mạc tử cung, u dưới niêm mạc tử cung, dính khoang tử cung…   Cơn đau bụng  kinh gây mệt mỏi, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Nếu đau bụng kinh diễn ra thường xuyên và kéo dài, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên Sản phụ khoa để khám xác định nguyên nhân và được tư vấn điều trị. Ngoài ra để làm giảm cơn đau bụng kinh có thể áp dụng một số biện pháp đơn giản sau: Vệ sinh kinh nguyệt đúng cách Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng vẫn cần phải tắm, thay rửa thường xuyên bằng nước sạch (mùa lạnh nên dùng nước ấm). Tuyệt đối không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối. Thay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4 - 5 lần một ngày. Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước nấu chín còn ấm thay rửa. Nếu dùng dung dịch vệ sinh phụ nữ chỉ nên dùng loại có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH. Vận động nhẹ nhàng, tránh căng thẳng Trong thời gian có kinh, chị em không nên luyện tập thể thao hoặc lao động nặng, chỉ nên đi bộ và vận động nhẹ nhàng. Tránh căng thẳng, xúc động, nghỉ ngơi thoải mái. Chế độ ăn uống Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu để tránh đầy bụng. Tránh ăn các thức ăn chua, cay, nóng,… Không nên uống cà phê, chè đặc, nước có ga,... Chườm ấm Giữ ấm cơ thể và chườm ấm vùng bụng là biện pháp hiệu quả làm dịu cơn đau bụng kinh. Bạn có thể dùng túi chườm ấm, miếng khăn đã được làm nóng hoặc đơn giản là một chai nước nóng vừa đủ để chườm lên vùng bụng dưới. Hơi ấm sẽ làm giãn cơ, làm tử cung co bóp dễ dàng, cơn đau sẽ dịu dần. Dùng thuốc giảm đau Tuy thuốc giảm đau không thực sự tốt cho cơ thể, nhưng nếu cơn đau ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc bạn có thể dùng thuốc giảm đau. Có nhiều loại thuốc giảm đau bụng kinh có bán tại các nhà thuốc nhưng trước khi dùng bạn cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa về liều lượng và cách sử dụng. Dùng thuốc giảm đau chỉ là biện pháp tạm thời, bạn không nên sử dụng thường xuyên và kéo dài.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Kinh nguyệt nhiều hay ít đều có hại

KINH NGUYỆT NHIỀU HAY ÍT ĐỀU CÓ HẠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhiều chị em băn khoăn về lượng kinh của mình, người thì than là nhiều quá, người thì kêu ít quá, không biết có điều gì không hay chăng? Qua theo dõi và thăm khám lâm sàng, các bác sĩ sản phụ khoa đã đưa ra kết luận là: Lượng kinh nguyệt quá ít hay quá nhiều đều là những dấu hiệu của bệnh tật. Chu kỳ kinh nguyệt ngắn hay dài, lượng máu ra trong những ngày "đèn đỏ" nhiều hay ít còn phụ thuộc vào cơ địa, điều kiện sức khỏe của mỗi người. Ngoài ra, kinh nguyệt nhiều hay ít còn có thể do chế độ ăn uống không hợp lý, thiếu chất dinh dưỡng (chủ yếu là nhóm vitamin có liên quan đến hoạt động nội tiết sinh dục như A, C, E), sử dụng nhiều đồ uống có cồn, đồ uống chứa caffein, nước ngọt có ga... Điều quan trọng là chu kỳ kinh nguyệt của chị em phải đều và không có dấu hiệu bất thường như chậm kinh, rút ngắn kỳ kinh, máu kinh có mùi hôi...   Tuy nhiên, một vấn đề khác liên quan đến kinh nguyệt mà chị em cũng cần hết sức lưu ý là: lượng kinh nguyệt quá ít hay quá nhiều đều là những dấu hiệu của bệnh tật. Kinh nguyệt quá ít: Thời gian “đèn đỏ” dưới 3 ngày hoặc lượng kinh nguyệt ít hơn 20ml được coi là có lượng kinh nguyệt ít. Kinh nguyệt quá ít có thể là hậu quả của sự căng thẳng não bộ, suy nhược cơ thể... Nhưng nó cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh nào đó trong người như thiếu máu, bệnh gan, đái tháo đường, do chế độ dinh dưỡng không tốt, nội tiết không điều hòa, bị lao bộ phận sinh dục, dính cổ tử cung... Kinh nguyệt quá nhiều: Lượng kinh nguyệt quá nhiều là lượng kinh nguyệt ra hàng tháng vượt quá 200ml hoặc thời gian “đèn đỏ” dài quá 7 ngày. Nếu tình trạng lượng kinh quá nhiều kéo dài liên tục thì chị em cần cảnh giác, vì nó có thể là do những rắc rối bên trong cơ quan sinh sản, như màng trong tử cung bong ra bất thường hoặc do các căn bệnh ở tử cung như u xơ tử cung, viêm nhiễm cổ tử cung, hoặc các bệnh về máu, tinh thần căng thẳng... gây nên. Kinh nguyệt tháng nhiều, tháng ít: Nếu thấy kinh nguyệt có dấu hiệu thất thường như thế này, bạn nên suy nghĩ tới khả năng do bạn bị rối loạn sức khỏe và tinh thần, áp lực căng thẳng hoặc do mắc một số căn bệnh phụ khoa, bệnh u xơ tử cung, viêm nhiễm tử cung, rối loạn chức năng gan... Khi thấy tình trạng kinh nguyệt có bất thường, mệt mỏi trong ngày “đèn đỏ”, ảnh hưởng tới sinh hoạt và công việc, bạn cần đi khám chuyên khoa ngay. Tốt nhất 6 tháng phải đi khám phụ khoa một lần để tầm soát, phát hiện những dấu hiệu bệnh và có hướng điều trị kịp thời.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN PHÔI THAI HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN PHÔI THAI HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN PHÔI THAI HỌC II. QUÁ TRÌNH TẠO GIAO TỬ 1. Quá trình tạo tinh trùng Ở nam giới, những tế bào thuộc dòng tinh sinh sản, biệt hóa, tiến triển để cuối cùng sẽ tạo ra tinh trùng. Từ đầu đến cuối dòng tinh có các tế bào: tinh nguyên bào, tinh bào 1, tinh bào 2, tiền tinh trùng và tinh trùng. 1.1. Tinh nguyên bào Trong ống sinh tinh của thai và trẻ em , tế bào dòng tinh chỉ có tinh nguyên bào và được gọi là tinh nguyên bào chủng, là tế bào đầu dòng của dòng tinh có bộ nhiềm sắc lưỡng bội 2n= 46= 44A +XY được tạo thành do sự biệt hóa của tế bào sinh dục nguyên thủy. Tinh nguyên bào chủng sinh sản theo kiểu gián phân để tăng nhanh số lượng của chúng. Chỉ từ tuổi dậy thì cho đến khi kết thúc đời sinh dục, sự biệt hóa và tiến triển của các tinh nguyên bào chủng mới luôn luôn tiếp diễn để tạo tinh trùng. Trong mỗi lần gián phân, 1tinh nguyên bào chủng sinh ra 2 tế bào con: một vẫn giữ nguyên tính chất của tinh nguyên bào chủng, là nguồn dự trữ suốt đời cho việc tạo tinh trùng. Một sẽ biệt hóa thành tinh nguyên bào bụi, rồi thành tinh nguyên bào vảy. Các tinh nguyên bào đều có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n= 44A +XY. 1.2. Tinh bào 1 Tinh nguyên bào vảy biệt hóa thành tinh bào 1 có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội. Tinh bào 1 tiến hành quá trình giảm phân để tạo tinh trùng. Vì vậy, quá trình giảm phân còn gọi là quá trình phân chia để trưởng thành. 1.3.Tinh bào 2 Quá trình giảm phân gồm 2 lần phân chia. Kết quả của lần phân chia thứ nhất: một tinh bào 1 sinh ra hai tinh bào 2, mỗi tinh bào 2 chỉ có bộ nhiễm sắc thể đơn bội n= 23. Có 2 loại tinh bào 2: một loại mang thể nhiễm sắc X và loại kia mang thể nhiễm sắc Y. 1.4. Tiền tinh trùng Tinh bào 2 được tạo ra tiến hành ngay lần phân chia thứ 2 của quá trình giảm phân. Mỗi tinh bào 2 sinh ra 2 tiền tinh trùng có bộ nhiễm sắc thể đơn bội n= 23 giống tinh bào 2 và cũng có 2 loại tiền tinh trùng: loại mang thể nhiễm sắc X và loại mang thể nhiễm sắc Y. 1.5. Tinh trùng Tiền tinh trùng không có khả năng sinh sản, chúng biệt hóa thành tinh trùng qua một quá trình phức tạp. Như vậy, mỗi tinh trùng cũng có bộ nhiễm sắc thể đơn bội và cũng có 2 loại tinh trùng: loại mang thể nhiễm sắc X và loại mang thể nhiễm sắc Y. Như vậy, trong quá trình tạo giao tử, một tinh bào 1 với bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n= 44A + XY qua quá trình giảm phân sinh ra 4 tinh trùng, mỗi tinh trùng mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội n= 23, với 2 loại tinh trùng là 22 + X và 22 + Y. Tỷ lệ giữa 2 loại là 11. Tinh trùng là những tế bào đã biệt hóa cao độ không còn khả năng sinh sản và có cấu trúc phức tạp. 2. Quá trình tạo noãn Ở nữ, những tế bào dòng noãn sinh sản, biệt hóa, tiến triển để cuối cùng tạo noãn chín (noãn trưởng thành) có khă năng thụ tinh. Các tế bào dòng noãn từ đầu đến cuối gồm: noãn nguyên bào, noãn bào 1, noãn bào 2 và noãn chín. 2.1. Noãn nguyên bào Trong buồng trứng của thai, những noãn nguyên bào với bộ nhiễm sắc lưỡng bội 2n= 44A + XX được bao quanh bởi những tế bào biểu mô sau này sẽ biệt hóa thành tế bào nang và tạo thành những túi đựng noãn gọi là nang trứng. Trong đám tế bào biểu mô đó, noãn nguyên bào sinh sản nhiều lần theo kiểu gián phân để tăng mau số lượng của chúng. Cuối cùng, những noãn nguyên bào sẽ biệt hóa thành noãn bào 1. Noãn nguyên bào chỉ thấy trong buồng trứng của thai vì trước khi trẻ gái ra đời, toàn bộ noãn nguyên bào đã biệt hóa thành noãn bào 1. Vì vậy, sau khi sinh, buồng trứng không còn nguồn dự trữ noãn nguyên bào để biệt hóa thành noãn bào 1, do đó người phụ nữ sinh đẻ chỉ có giới hạn. 2.2. Noãn bào 1 Noãn bào 1 có bộ nhiễm sắc thể là 2n= 46A + XX, được đựng trong nang trứng nguyên thủy. Noãn bào 1 lớn lên do bào tương tích lũy các chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tiến triển của chúng. Noãn bào 1 tiến hành quá trình giảm phân để tạo noãn chín, nhưng chỉ tới cuối kỳ đầu (tiền kỳ) của lần phân chia thứ nhất đã dừng phân chia. Khi trẻ gái ra đời, toàn bộ noãn bào 1 đã tiến hành quá trình phân chia giảm phân và đã dừng phân chia ở kỳ này. Thời gian dừng phân chia dài hay ngắn tùy từng noãn bào 1. 2.3. Noãn bào 2 Từ tuổi dậy thì đến tuổi mãn kinh, hàng tháng trong buồng trứng có một số noãn bào 1 tiếp tục lần phân chia thứ nhất của quá trình giảm phân đã bị dừng lại. Kết quả của lần phân chia này là sự tạo ra 2 tế bào con có cùng bộ nhiễm sắc thể đơn bội n=23 = 22A + X nhưng có kích thước và tác dụng khác nhau: một tế bào lớn vì bào tương chứa nhiều chất dinh dưỡng dự trữ gọi là noãn bào 2, có tác dụng sinh dục và một tế bào nhỏ gọi là cực cầu 1 không có tác dụng sinh dục. 2.4. Noãn chín Noãn bào 2 vừa được tạo ra tiến hành ngay lần phân chia thứ 2 của quá trình giảm phân. Kết quả là một noãn bào 2 sẽ sinh ra 2 tế bào con đều có bộ nhiễm sắc thể đơn bội n=23 = 22A + X nhưng có kích thước và tác dụng khác nhau: một tế bào lớn chứa nhiều chất dinh dưỡng dự trữ và có khả năng thụ tinh gọi là noãn chín, và một tế bào nhỏ gọi là cực cầu 2. Trong khi đó cực cầu 1 cũng sinh ra 2 cực cầu 2, các cực cầu đều không có khả năng thụ tinh. Như vậy, khác với quá trình tạo tinh, trong quá trình tạo noãn, một noãn bào 1 cũng sinh ra 4 tế bào nhưng chỉ có một tế bào có khả năng thụ tinh là noãn chín. IV. SỰ LÀM TỔ CỦA TRỨNG Trứng lọt vào khoang tử cung vào khoảng ngày thứ 4 sau thụ tinh và trứng ở vào giai đoạn cuối phôi dâu hoặc đầu phôi nang. Khi trứng vào đến khoang tử cung, trứng tiếp tục sống và phân chia trong môi trường dịch tiết của nội mạc tử cung vài ngày trước khi làm tổ. Màng trong suốt có tác dụng bảo vệ trứng trong giai đoạn đầu sẽ tự tiêu. Trứng lọt vào nội mạc tử cung rồi bám vào đó để phát triển , người ta nói trứng làm tổ trong nội mạc tử cung. Trứng người làm tổ vào khoảng ngày thứ 6 sau thụ tinh, tương ứng với ngày thứ 21 của chu kỳ kinh. Lúc bấy giờ trứng đang ở giai đoạn phôi nang và niêm mạc tử cung đang ở giai đoạn trước kinh và sẽ tiếp tục phát triển. Ở cực phôi của trứng, lá nuôi được tạo ra từ các tiểu phôi bào sẽ bám vào nội mạc tử cung, vượt qua lớp biểu mô tử cung tiến vào lớp đệm, phá hủy mô tử cung xung quanh để toàn bộ trứng lọt dần vào niêm mạc tử cung. Sự phá hủy mô tử cung là do những enzym tiêu protein được tiết ra bởi những tế bào lá nuôi. Bình thường trứng làm tổ ở thành sau hoặc thành trước tử cung. Trong trường hợp bất thường, trứng có thể làm tổ ở gần lỗ trong ống tử cung hoặc ở ngoài tử cung (chửa ngoài tử cung) như: trong khoang bụng (thường gặp ở túi cùng Douglas, mạc nối lớn, các quai ruột), trên bề mặt buồng trứng, trong vòi trứng. Trứng làm tổ lạc chỗ ít khi có thể phát triển tới đúng kỳ hạn, phôi thường chết và mẹ thường xuất huyết nghiêm trọng. Trong các trường hợp chửa ngoài tử cung, chửa ở vòi trứng hay gặp nhất, vòi trứng sẽ vỡ trong khoảng tháng thứ 2 của thời kỳ phôi gây xuất huyết nghiêm trọng cho mẹ. I. SỰ TẠO ÐĨA PHÔI LƯỠNG BÌ (phát triển trong tuần lễ thứ 2) 1. Sự tạo ra khoang ối, màng ối, ngoại bì và nội bì (ngày thứ 8 của sự phát triển) Vào khoảng ngày thứ 8, phôi nang người đã lọt một phần vào niêm mạc tử cung. Ở cực phôi, nơi tiếp giáp với cúc phôi, lá nuôi biệt hóa thành 2 lớp: lớp trong được gọi là lá nuôi tế bào, được cấu tạo bởi những tế bào một nhân, có ranh giới rõ ràng. Lớp ngoài được gọi là lá nuôi hợp bào, là một lớp bào tương chứa nhiều nhân, ranh giới tế bào không rõ. Lá nuôi hợp bào phát triển mạnh, tiến sâu vào nội mạc thân tử cung. Ðồng thời, ở cực phôi xuất hiện một khoang nhỏ nằm xen giữa lá nuôi và đại phôi bào của cúc phôi hoặc xen giữa hàng đại phôi bào tiếp giáp với lá nuôi và những hàng đại phôi bào phía dưới, khoang này lớn dần lên tạo thành khoang ối. Như vậy nguồn gốc của màng ối có thể là lá nuôi hoặc cúc phôi (có chung nguồn gốc với ngoại bì phôi). Ở sàn khoang ối, đại phôi bào của cúc phôi biệt hóa thành 2 lớp rõ rệt, một lớp bao gồm những tế bào hình trụ cao, tạo thành lá phôi ngoài, gọi là lá ngoại bì phôi phủ sàn khoang ối. Một lớp gồm những tế bào đa diện nhỏ, tạo nên lá phôi trong, còn gọi là nội bì phôi, phủ trần khoang phôi nang (còn gọi là khoang dưới mầm). Hai lá phôi này dính sát nhau tạo thành một đĩa hình tròn dẹt gọi là đĩa phôi lưỡng bì. Ở cực đối phôi, lá nuôi vẫn chưa biệt hóa thành 2 lớp. Ở bên cạnh nơi trứng làm tổ, lớp đệm của nội mạc tử cung bị phù, chứa nhiều mạch, những tuyến tử cung dài ra, trở nên cong queo, tiết nhiều chất nhầy chứa glycogen.
Xem thêm

21 Đọc thêm

BỆNH ÁN SẢN PHỤ KHOA

BỆNH ÁN SẢN PHỤ KHOA

Nguyễn Lệ QuyênĐịnh hướng CK Sản Phụ Khoa XIBỆNH ÁN PHỤ KHOAI.II.III.Hành chánh:Họ và tên bệnh nhân: Nguyễn Thị Đào, 49 tuổi, PARA 8068Nghề nghiệp: làm rẫyĐịa chỉ: 158 Chánh Nghĩa- Vĩnh Thanh- Nhơn Trạch- Đồng NaiNgày nhập viện: 9h30 ph ngày 16/12/2011Lý do nhập viện: Rong kinh - rong huyếtBệnh sử:Cách nhập viện 1 năm, BN bị rong huyết kéo dài 1 tháng, kèm theo đau trằn hạvị, BN đi khám và được siêu âm Rong huyết/ NXTC (lúc này siêu âm: thànhtrước đoạn thân có khối echo hỗn hợp đường kính 23x24 cm) + Nạo sinh thiết:(21/1/2011) KQ: Nội mạc kênh, lòng tử cung giai đoạn phát triển.Điều trị: Lutenyl 5 mg 40 v, ngày uống 2 lần mỗi lần 1 viên + Ferovit 30v mỗingày 1 viên kéo dài 6 th ( có khám kiểm tra định kỳ tại bệnh viện Từ Dũ mỗitháng). Sau đó đổi sang Primolut 5mg 2l/ngày + Ferovit 1v/ngày trong 3tháng tiếp theo. Trong quá trình điều trị, sau mỗi tháng ngưng thuốc ra kinh 5ngày sau đó Bn khám lại, qua các kết quả siêu âm không ghi nhận kíchthước UXTC nhỏ lại.3-4 tháng nay BN vẫn uống thuốc theo toa tại viện, nhưng có có rối loạn kinhnguyệt, kinh nguyệt không đều 3-4 tháng mới có kinh 1 lần. Không đau bụng khihành kinh.Kết quả : Nạo sinh thiết từng phần (4.11.2011): NMTC phần lớn ở phần nông,các tuyến tròn hoặc phân nhánh ít, mô đệm xuất huyết. NMTC cuối thì phát
Xem thêm

Đọc thêm

PHỤ NỮ DỄ UNG THƯ VÚ KHI NGỒI QUÁ NHIỀU

PHỤ NỮ DỄ UNG THƯ VÚ KHI NGỒI QUÁ NHIỀU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin từ hơn 29000 phụ nữ Thụy Điển trong độ tuổi từ 25 đến 64, những người không bị ung thư khi bắt đầu nghiên cứu. Các phụ nữ này đã được theo dõi trong 25 năm liền.   Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ ngồi nhiều dễ mắc ung thư vú và ung thư nội mạc tử cung hơn. Ảnh minh họa. Đối tượng nghiên cứu được phân chia thành 3 nhóm: Những người có công việc ít phải vận động (như công việc văn phòng) và không tham gia bất kỳ môn thể thao giải trí nào; những người có công việc ít vận động nhưng có tham gia một môn thể thao (chẳng hạn điền kinh hay ném bóng); nhóm những người có các công việc phải vận động yêu cầu đứng nhiều hơn (chẳng hạn giáo viên) và cũng tham gia vào các môn thể thao giải trí. Những phụ nữ không hoạt động tại nơi làm việc của họ hoặc trong thời gian rảnh rỗi của họ có nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú trước khi mãn kinh gấp 2,4 lần so với những người đã hoạt động tại công việc của họ và trong thời gian giải trí của họ. Nhưng không có sự liên kết giữa việc không vận động với khả năng mắc ung thư vú sau khi mãn kinh. Anna Johnsson, một trong những tác giả nghiên cứu và vật lý trị liệu tại Đại học Lund ở Thụy Điển cho biết: Những người làm việc trong văn phòng có thể làm những việc nhỏ trong ngày để giảm thời gian ngồi bất động của họ, chẳng hạn như đứng lên pha cà phê hoặc đi bộ để làm việc. Những phát hiện này đồng ý với các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư với việc ít vận động. Một nghiên cứu năm 2014 cho thấy rằng khi tăng thêm 2 giờ số lượng thời gian ngồi mỗi ngày sẽ tăng 10% nguy cơ phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung và tăng 8% nguy cơ ung thư ruột kết của người dân nói chung bất kể nam hay nữ. Một nghiên cứu năm 2011 ước tính rằng trạng thái ít vận động có liên kết đến 49000 trường hợp ung thư vú mỗi năm tại Hoa Kỳ. Một số nghiên cứu cũng gợi ý ra rằng việc giải lao ngắn trong suốt cả ngày và dùng thời gian giải lao để di chuyển xung quanh sẽ làm giảm mức độ của các phân tử trong máu liên kết  với rủi ro ung thư. Nghiên cứu này mới được giới thiệu tại cuộc họp của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư ở Philadenphia – Hoa Kỳ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Dính ruột sau sinh mổ: Ai dễ mắc?

DÍNH RUỘT SAU SINH MỔ: AI DỄ MẮC?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sinh thường hay sinh mổ là mối quan tâm của hầu hết các bà bầu trước ngày lâm bồn. Bác sĩ chỉ định sinh mổ trong những trường hợp thai thuộc nhóm nguy cơ cao. Tuy nhiên, ngày nay có không ít sản phụ dang "lạm dụng" sinh mổ vì tâm lý sợ đau. Dù vậy, bác sĩ sản khoa luôn khuyên mẹ bầu không nên đòi đẻ mổ khi không có bất cứ điều gì cản trở việc sinh nở thông thường. Bác sĩ CK1 Nguyễn Thị Song Hà (Nguyên bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ, hiện làm việc tại Phòng khám sản phụ khoa Song Hà) sẽ giải đáp thắc mắc của các mẹ về việc nên sinh thường hay sinh mổ và những nguy cơ có thể gặp phải khi mẹ chọn sinh mổ. Có một độc giả đang mang thai được 37 tuần, được bác sĩ chỉ định sinh mổ. Tuy nhiên, sản phụ này bày tỏ lo lắng về việc sinh mổ có thể bị dính ruột. Bác sĩ có thể cho biết, nguy cơ mà sản phụ này quan tâm như thế nào? Chào bạn! Hiện tại thai của bạn được 37 tuần, bạn có cao huyết áp và tiểu đường. Do vậy thai của bạn thuộc nhóm nguy cơ cao. Cao huyết áp thai kỳ có liên quan với các biến chứng thai kỳ, thường xảy ra hơn nếu cao huyết xuất hiện sớm trong thai kỳ, hoặc nếu tiến triển thành tiền sản giật hoặc sản giật. Tiểu đường thai kỳ là tình trạng tăng đường huyết bất thường (có rối loạn dung nạp chất đường). Tình trạng này thường không có triệu chứng nên khó phát hiện, sẽ biến mất sau 6 tuần sau khi sinh. Tiểu đường thai kỳ thường thì thai to nên sanh thường khó và dễ bị chấn thương khi sanh ví dụ như kẹt vai... Do vậy, bác sĩ của bạn đang theo dõi thai đã khuyên bạn nên mổ.   Sinh mổ ẩn chứa nhiều nguy cơ xấu như dính ruột, tắc ruột hay nhiễm trùng vết mổ... (ảnh minh họa) Hiện nay mổ lấy thai tương đối an toàn. Tuy nhiên, khi sinh mổ cũng có thể có một số ít  các nguy cơ sau: - Nhiễm trùng vết mổ. - Băng huyết, xuất huyết nội… - Thuyên tắc tĩnh mạch - Tai biến do gây mê, hồi sức… - Dính ruột, tắc ruột, dính tắc ống dẫn trứng, lạc nội mạc tử cung.. - Sẹo trên thân tử cung có thể bị nứt trong những lần có thai sau… Những biến chứng trên còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như cơ địa có sẵn của bệnh nhân trước đó, bệnh lý đi kèm, phương tiện trình độ và kỹ thuật mổ…Thai kỳ của bạn thuộc nhóm nguy cơ cao bạn nên đến bệnh viên chuyên khoa sản có uy tín cao để được tư vấn theo dõi điều trị trước và sau khi sanh để hạn chế tối đa những biến chứng nêu trên. Chúc bạn mẹ tròn con vuông. Trong trường hợp nào sẽ dễ bị dính ruột do mổ đẻ, thưa bác sĩ? Dính ruột thường gặp ở những người có vết mổ cũ, do các loại bệnh khác trước đó không nhất thiết phải là mổ lấy thai. Bên cạnh đó những người bị viêm nhiễm vùng chậu, viêm phần phụ, lạc nội mạc tử cung hay viêm nhiễm do chlamydia… cũng hay gây dính ruột. Theo bác sĩ, để tránh bị dính ruột do mổ đẻ cần chú ý điều gì? Sau khi mổ lấy thai cần thực hiện các hoạt động chân tay nhẹ nhàng để lấy lại cảm giác. Xoay trở người, ngồi dậy nhẹ nhàng khi có thể, như thế có thể dự phòng bị dính ruột và thuyên tắc tĩnh huyết mạch.   Xin bác sĩ cho biết các nguy cơ có thể xảy ra với mẹ đẻ mổ và với bé? a/ Đối với bé: - Thai nhi có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc mê.    - Bị chạm thương trong khi phẫu thuật.     - Hít phải nước ối. b/ Đối với mẹ - Nhiễm trùng vết mổ. - Băng huyết, xuất huyết nội… - Thuyên tắc tĩnh mạch - Tai biến do gây mê, hồi sức… - Dính ruột, tắc ruột, dính tắc ống dẫn trứng, lạc nội mạc tử cung.. - Sẹo trên thân tử cung có thể bị nứt trong những lần có thai sau…  Những trường hợp mẹ bầu nào cần chỉ định đẻ mổ? Trong các trường hợp mà sinh ngã âm đạo không an toàn cho mẹ và thai như: bất xứng đầu chậu, hay do quá trình chuyển dạ mà đầu thai nhi không cúi tốt có nguy cơ dọa vỡ tử cung,  rối loạn cơn co tử cung… Các bệnh lý của đường sinh dục như: ung thư cổ tử cung, bệnh mào gà, herpes sinh dục. Nhau tiền đạo, nhau bong non, sa dây rốn. Các ngôi bất thường, Thai suy trong chuyển dạ, thai kém phát triển trong tử cung, thiểu ối nặng, vô ối. Thai có vết mổ cũ kèm các yếu tố không thuận lợi. Mẹ có bệnh lý nội khoa nặng, con so lớn tuổi.   Nếu sinh thường được, các mẹ bầu không nên yêu cầu đẻ mổ. (ảnh minh họa) Bác sĩ có thể tư vấn cho độc giả về việc chăm sóc sau sinh mổ như thế nào, về chế độ ăn uống? sinh hoạt? Sau khi sinh mổ, bạn được bác sĩ sử dụng các loại thuốc giảm đau, kháng sinh, co hồi tử cung và chăm sóc vệ sinh vết mổ. Bạn hãy yên tâm vì những thuốc này sẽ không ảnh hưởng đến nguồn sữa non bạn hãy tranh thủ cho con bú ngay sau sanh càng sớm càng tốt nhé. Trong trường hợp cảm thấy vết mổ vẫn đau, hãy nói với bác sĩ để được sử dụng thêm những loại thuốc giảm đau . Bạn nên uống nước lọc, nước đường và ăn cháo thịt  cho đến khi bạn đánh hơi được mới bắt đầu ăn thêm các loại khác như sữa, phở, nui... Sau khi ăn uống tiêu hóa ổn định bạn ăn cơm bình thường, ăn nhiều đạm, chất xơ trái cây và các thực phẩm có nhiều canxi để có sữa cho bé bú.  Làm thế nào để vết mổ đẻ nhanh lành, thưa bác sĩ? Bạn nên làm theo những hướng dẫn của bác sĩ như giữ gìn vệ sinh vết mổ tốt để vết mổ nhanh lành. Bên cạnh đó chế độ ăn cung cấp đầy đủ chất và vitamin thì vết mổ cũng sẽ mau lành hơn. Nếu phát hiện vết mổ đỏ căng tức, tiết dịch, đau… thì bạn đã bị nhiễm trùng vết mổ. Lúc này bạn cần đến bác sĩ để được chữa trị kịp thời. Khoảng 2 tháng sau sinh mổ, bạn nên tránh vận động mạnh để không ảnh hưởng đến vết mổ, bởi sau sanh, các khớp và cơ còn yếu. Bạn nên nhờ người nhà giúp đỡ các việc trong gia đình. Xu hướng hiện nay rất nhiều sản phụ thích đẻ mổ vì ngại đẻ thường, vậy theo bác sĩ có nên lạm dụng đẻ mổ không? Sinh ngã âm đạo là hiện tượng sinh lý tự nhiên của phụ nữ mang thai, vì vậy không có lý do gì mà chúng ta không thuận theo tự nhiên. Sinh mổ là một phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định khi không thể sanh được đường ngã âm đạo hoặc có vấn đề đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi mà phải chấm dứt thai kỳ sớm. Do đó không nên yêu cầu mổ khi không có lý do nào làm ảnh hưởng đến chuyển dạ sinh thường của mẹ.   Xin cảm ơn bác sĩ về những chia sẻ rất hữu ích này!
Xem thêm

3 Đọc thêm

DẤU HIỆU THAI CHẾT LƯU MẸ BẦU NÊN BIẾT

DẤU HIỆU THAI CHẾT LƯU MẸ BẦU NÊN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thai chết lưu là trường hợp trứng đã thụ tinh và làm tổ được trong tử cung, nhưng không phát triển được thành thai nhi trưởng thành, bị chết và lưu lại trong tử cung trên 48 giờ. Thai lưu dễ xảy ra nhất ở 3 tháng đầu nhưng không loại trừ đến tháng thứ 9. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai chết lưu và cũng có nhiều trường hợp thai chết lưu mà không tìm được nguyên nhân. Tuy nhiên, có thể do người mẹ có điều kiện kinh tế thấp kém, ăn uống thiếu chất, suy dinh dưỡng, hoặc do mẹ bị các bệnh lý nội khoa mạn tính hay cấp tính, bệnh nhiễm khuẩn hoặc sử dụng một số dược chất nguy hiểm cho sự phát triển và sự sống của thai nhi… Còn nguyên nhân do thai nhi thường gặp nhất là bất thường nhiễm sắc thể, xung khắc nhóm máu mẹ và con, dị dạng thai nhi hoặc do nhiễm khuẩn trong bụng mẹ. Thai chết lưu là triệu chứng vô cùng nguy hiểm và có thể nhận biết qua những dấu hiệu sau: Không nhận thấy những chuyển động của thai nhi Khi người mẹ không còn nhận thấy chuyển động của bé nữa thì đó có thể là một dấu hiệu của thai lưu. Đếm số lần thai máy là điều người mẹ nên làm hàng ngày để đảm bảo sức khỏe của thai nhi. Để đếm số lần thai chuyển động, người mẹ nên nằm nghiêng về một bên và đếm bất kỳ chuyển động nào của bé mà mẹ cảm nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 tiếng). Xem thêm Theo dõi cử động của thai nhi.   Khi không nhận thấy những dấu hiệu mang thai, tử cung không phát triển... mẹ cần nghĩ đến triệu chứng thai nhi chết lưu. (ảnh minh họa) Tử cung mẹ không phát triển Khi bé lớn lên, tử cung của mẹ cũng phải phát triển theo. Nếu thai lưu, tất nhiên tử cung của mẹ không phát triển nữa. Trong những lần khám thai theo định kỳ, bác sĩ sẽ tiến hành ước lượng độ tăng trưởng của tử cung. Một tử cung mà không theo kịp tốc độ phát triển của thai kỳ thì chắc hẳn có trục trặc nào đó. Sau khi kiểm tra, bác sĩ sẽ đưa kết luận cuối cùng về việc tại sao tử cung ngừng mở rộng. Không nghe được tim thai Các cuộc khám thai định kỳ thường kiểm tra nhịp tim thai. Có nhiều trường hợp khó khăn khi nghe nhịp tim nhưng bác sĩ sẽ tiêp tục quá trình đo cho đến khi tìm được tim thai. Nếu vẫn không thấy được tim thai, thai phụ sẽ được làm xét nghiệm để tìm hiểu lý do, trong đó có nguyên nhân thai đã bị chết. Không nhận thấy dấu hiệu mang thai Đa phần thai khi thai chết lưu sẽ có những cảm giác như giảm và mất hết cảm giác nghén, bụng nặng và hơi tức, ngực mềm đi, không còn căng tức như ban đầu nữa, tự nhiên tiết sữa non, tâm trạng bồn chồn, bất thường, hay lo lắng, ra máu đen ở âm đạo, tim thai ngừng đập, thử máu thấy sinh sợi huyết giảm … Những triệu chứng này rất dễ nhầm với chửa ngoài dạ con, đặc biệt là chửa trứng thoái triển. Vỡ nước ối Mối nguy hiểm của thai lưu là nước ối sẽ bị vỡ sớm khi chưa có dấu hiệu sẩy hay chuyển dạ, vì qua nơi màng ối rách, vi khuẩn sẽ vào buồng ối và dạ con gây nhiễm khuẩn trầm trọng, lúc này có thể nguy hiểm đến tính mạng của người mẹ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

KIẾN THỨC VỀ BỆNH VIÊM LOÉT TỬ CUNG

KIẾN THỨC VỀ BỆNH VIÊM LOÉT TỬ CUNG

Viêm loét cổ tử cung là bệnh rất thường gặp ở cổ tử cung phụ nữ. Bệnh phát triển theo 3 giaiđoạn, giai đoạn đầu diện tích loét dưới 1/3 trên tổng thể cổ tử cung, nếu không kịp thời nhận biếtvà không có phương pháp điều trị thích hợp sẽ dẫn đến diện tích viêm loét tăng lên ½ trên tổngthể cổ tử cung. Hệ quả mà viêm loét cổ tử cung gây ra sẽ rất nghiệm trọng có thể dẫn đến vôsinh.Phòng khám Sài Gòn xin cung cấp một số kiến thức cấp thiết về bệnh viêm loét cổ tử cung.Hình 1 : Kiến thức cấp thiết về bệnh viêm loét cổ tử cung1- Phòng ngừa căn bệnh viêm loét cổ tử cung từ bây giờ :Việc đầu tiên để tiến hành phòng ngừa bệnh viêm loét cố tử cung là phải chú ý vệ sinh đúng cáchnửa phần cơ thể dưới. Vệ sinh trong kì kinh nguyệt là vô cùng cần thiết . Bạn cần chú ý rửa sạchcửa mình bằng nước ấm, bộ phận hội âm phải luôn đảm bảo sạch sẽ, nhớ thay quần lót thườngxuyên.Chú ý đến cổ tử cung bằng cánh đến các cơ sở y tế hoặc phòng khám uytính để tiến hành thămkhám và nhận được sự tư vấn cùng hỗ trợ điều trị kịp thời tránh trường hợp chuyển thành viêmmạn tính mà lớp mủ đặc dính do cổ tử cung tiết ra còn ngăn không cho tinh trùng đi qua, khiếnngười phụ nữ không thụ thai được, dẫn đến tình trạng vô sinh.2- Phương pháp chữa trị bệnh viêm loét cổ tử cung cần biết :Ngoài việc dùng thuốc đúng với chỉ định điều trị của bác sĩ để tránh các trường hợp kháng thuốcvà các tác dụng phụ của thuốc trên từng cơ địa bệnh nhân khi thực hiện điều trị.Ngoài ra còn các phương pháp khác để điều trị bệnh viêm loét cổ tử cung như đốt điện va, phẫuthuật lạnh, chiếu laser, cắt bỏ,…. Đều có thể được bác sĩ chỉ định thực hiện khi điều trị bệnh.Phương pháp đốt điện va là dùng dòng điện cực nóng đốt các lớp biểu mô bị viêm, hổ trợ cho lớpda non mộc tốt hơn.Hình 2 : Kiến thức cấp thiết về bệnh viêm loét cổ tử cungPhương pháp phẫu thuật lạnh là phương pháp sử dụng ni tơ đặc, tạo ra luồng nhiệt độ thấp 600đến 1900, phun vào chỗ loét, có tác dụng tê liệt mạch máu ở chỗ viêm, khiến tổ chức bị viêmđông cứng lại, bị chết và dần bong ra.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC

182.2.4. Nguyên nhân dẫn đến lợn nái bị viêm tử cungBệnh viêm tử cung ở lợn nái thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thểxảy ra ở lợn nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị, thời gian hayxảy ra nhất là sau khi đẻ 1 – 10 ngày và sau khi phối giống. Bệnh xảy ra ở mẹdo nguyên nhân sau:* Từ bản thân lợn mẹLợn là loại động vật đa thai, khả năng sinh sản cao thời gian mang thaingắn, thời gian sinh sản kéo dài… làm cho bộ phận sinh dục hoạt động nhiềutạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong bộ phận sinh dục.Cơ quan sinh dục của lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặclợn nái khó đẻ do nhiều trường hợp khác như: Thai to quá, thai ra ngược, thaikhông bình thường… Nái tơ phối giống sớm khi khối lượng cơ thể chưa đạt70% khối lượng trưởng thành, nái già đẻ nhiều lứa, trong khi đẻ tử cung cobóp yếu, lứa trước bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến dạng nhaukhông ra hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa, tạo điều kiện cho vi khuẩn pháttriển mạnh. Lợn nái ngoại nhập nội cũng dễ gây bệnh do chưa thích nghi vớiđiều kiện khí hậu Việt Nam và khả năng sinh sản nhiều con/1 lứa.* Do yếu tố ngoại cảnhLê Văn Năm (1999) [24] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoạicảnh gây bệnh như do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằngdụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến muxin của chất nhầy các cơquan sinh dục bị phá huỷ hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡngbất hợp lí, thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con.Đây là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh. Biếnchứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gianđộng đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật (dụng cụ dẫn
Xem thêm

Đọc thêm

Ba tháng đầu: những dấu hiệu “báo động đỏ”

BA THÁNG ĐẦU: NHỮNG DẤU HIỆU “BÁO ĐỘNG ĐỎ”

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tỷ lệ sảy thai trong 3 tháng đầu thai kỳ lên tới 20%, vì vậy các mẹ cần đặc biệt chú ý đến sức khỏe thời điểm này để tránh những rủi ro có thể xảy ra. Khi nhận thấy những dấu hiệu dưới đây, chị em nên kịp thời đi khám thai để được bác sĩ chẩn đoán bệnh sớm. Buồn nôn, nôn ói quá nhiều Đó là dấu hiệu bình thường nếu bạn cảm thấy buồn nôn hoặc nôn ói một chút trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên, nó sẽ trở nên nguy hiểm nếu bạn bị nôn ói quá nhiều. Theo các chuyên gia, buồn nôn và nôn ói quá nhiều có thể khiến mẹ bầu giảm cân nhanh chóng, chóng mặt, mất nước và mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể. Khi bị nôn ói quá nhiều, mẹ bầu nên nhập viện để điều trị tình trạng mất nước và kiểm soát các cơn buồn nôn. Tuy nhiên, chị em cần biết rằng, buồn nôn và nôn ói là dấu hiệu phổ biến 3 tháng đầu mang thai. Thông trường, triệu chứng này sẽ biến mất vào quý thứ 2. Và hầu như các mẹ bầu đã bị ốm nghén vẫn có thai kỳ phát triển bình thường. Hoa mắt, chóng mặt Hoa mắt chóng mặt là dấu hiệu thường gặp trong 3 tháng đầu mang thai do chứng ốm nghén nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của bệnh huyết áp thấp thai kỳ. Trong trường hợp bạn thường xuyên bị chóng mặt, đứng lên ngồi xuống không yên và luôn trong trạng thái mệt mỏi, đó là dấu hiệu cần cẩn trọng. Hãy đến thăm khám bác sĩ nếu hiện tượng này xảy ra thường xuyên.   Hoa mắt chóng mặt là dấu hiệu thường gặp trong 3 tháng đầu mang thai do chứng ốm nghén nhưng nó cũng có thể là triệu chứng của bệnh huyết áp thấp thai kỳ. (ảnh minh họa) Đau bụng, chuột rút Có thể nói, đau bụng âm ỉ trong một vài thời điểm là hiện tượng bình thường khi mang thai. Nhưng nếu bụng đau đột ngột và co cứng thì bạn cần hết sức cẩn thận. Trong giai đoạn đầu của thai kỳ, đau bụng dữ dội đi kèm với chảy máu âm đạo là triệu chứng cảnh báo nguy cơ sảy thai và chửa ngoài tử cung. Nếu mang thai ngoài tử cung, người mẹ sẽ có cảm giác bụng đau như xé. Nếu có nguy cơ sảy thai, người mẹ có cảm giác “hụt” ở bụng tương đối rõ ràng mà không thấy bụng đau nhiều. Gặp các triệu chứng trên, mẹ bầu nên lập tức đến bệnh viện để bác sĩ có phương pháp điều trị kịp thời. Đau đầu dữ dội Nếu bạn thấy đầu mình đau nhẹ trong những tháng đầu mang bầu, hoặc oặc bạn vẫn có những cơn đau nửa đầu thì hiện tượng này không có gì đáng lo. Bàn chân và mắt cá chân mẹ bầu bị sưng vì phù nề, giữ nước cũng vẫn là chuyện bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn đột nhiên đau đầu triền miên, ăn không ngon, ngủ không yên. Đồng thời bàn tay, mặt của bạn cũng sưng húp lên thì có thể bạn mang dấu hiệu của chứng tiền sản giật (hiện tượng xảy ra khi mang thai do huyết áp quá cao). Bạn nên yêu cầu bác sĩ thăm khám cẩn thận, đặc biệt khi bạn nhận thấy có dấu hiệu tầm nhìn của bạn đột nhiên trở nên mờ, thị lực bị giảm đi kèm. Chảy máu âm đạo Trong thời kỳ đầu mang thai, nếu thấy thấy âm đạo bài tiết ra một lượng máu nhỏ, bạn nên nhanh chóng đi siêu âm tại cơ sở y tế để kiểm tra xem thai có nằm ngoài tử cung hay không. Với những phụ nữ có tiền sử viêm ống dẫn trứng, khả năng chửa ngoài tử cung có xác suất cao hơn nếu có hiện tượng chảy máu âm đạo. Bên cạnh đó, chảy máu âm đạo cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ sảy thai. Trong trường hợp này, bạn cần uống thuốc giữ thai theo chỉ định của bác sĩ và nằm nghỉ ngơi trên giường. Chỉ cần máu ngừng chảy ở âm đạo thì đó là tín hiệu tốt. Chảy máu âm đạo luôn là triệu chứng nguy hiểm trong thai kỳ. Vì vậy khi phát hiện bị chảy máu âm đạo, mẹ bầu cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Ngứa “vùng kín” Tiết dịch âm đạo nhiều hơn bình thường là triệu chứng phổ biến khi mang thai. Tuy nhiên khi thấy vùng kín ra quá nhiều dịch, có mùi hôi kèm ngứa ngáy thì có thể bạn đã bị nhiễm trùng vùng kín hoặc mắc bệnh qua đường tình dục. Căn bệnh này rất nguy hiểm trong thai kỳ và gây hại trực tiếp đến thai nhi. Mẹ bầu đừng e ngại mà hãy nói ngay với bác sĩ để được khám bệnh kịp thời. Điều trị bệnh nhiễm trùng vùng kín khi bầu bí càng sớm càng tốt.   Khi thấy vùng kín ra quá nhiều dịch, có mùi hôi kèm ngứa ngáy thì có thể bạn đã bị nhiễm trùng vùng kín hoặc mắc bệnh qua đường tình dục. (ảnh minh họa) Tăng cân quá nhanh Theo các chuyên gia khoa sản, chị em bầu nên tăng cân chậm và ổn định. Nếu tăng cân quá nhanh có thể là dấu hiệu của bệnh tiền sản giật. Mẹ cần đặc biệt chú ý. Đau buốt khi đi tiểu Khi đi tiểu bị đau buốt quá hoặc đi tiểu kèm theo máu có thể là dấu hiệu của bệnh viêm bàng quang hoặc nhiễm trùng đường tiểu. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ trở lên nghiêm trọng và gây sinh non. Nếu đó là bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, bạn nên gặp bác sĩ để được điều trị kịp thời để tránh rủi ro cho thai kỳ. Mẹ bầu cũng nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ để hạn chế nguy cơ bị đau buốt khi đi tiểu. Không cảm thấy dấu hiệu mang thai Trường hợp này có thể xảy ra với chị em lần đầu mang thai vì chưa có kinh nghiệm, tuy nhiên để được an tâm, bạn nên đến khám bác sĩ để nắm bắt rõ tình hình sức khỏe của mình vì đây cũng có thể là dấu hiệu thai chất lưu. Khám thai sẽ giúp bạn giảm bớt lo lắng trong thai kỳ. Sốt cao Sốt cao hơn 38 độ C là dấu hiệu nghiêm trọng khi mang bầu. Đây có thể là dấu hiệu của bệnh nhiễm trùng - ảnh hưởng xấu đến em bé. Sốt trong thời gian mang thai đi kèm triệu chứng phát ban, đau khớp có thể là dấu hiệu của bệnh nhiễm trùng cytomegalovirus, toxoplasma hoặc parvovirus. Những vi khuẩn này có thể gây bệnh điếc bẩm sinh vô cùng nguy hiểm. Khi thấy sốt cao bạn cần nhập viện hoặc gọi điện cho bác sĩ để được khám bệnh kịp thời. Hãy nói với bác sĩ tất cả những triệu chứng bạn đang gặp phải như cúm, phát ban, đau khớp… để bác sĩ dễ dàng kết luận bệnh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

10 xét nghiệm sàng lọc ung thư phụ nữ cần biết

10 XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC UNG THƯ PHỤ NỮ CẦN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tự kiểm tra vú tại nhà Tự kiểm tra vú là quá trình đơn giản. Phụ nữ tiền mãn kinh nên tự kiểm tra vào kỳ kinh nguyệt hàng tháng là tốt nhất vì ngực thay đổi trong thời gian này. Hãy làm theo 3 bước dưới đây: - Nhìn vào gương để xem có thay đổi nào như chỗ trũng hoặc sưng không. - Nằm xuống, dùng đầu ngón tay kiểm tra mỗi bên ngực và nách xem có hạch không. - Bóp nhẹ núm vú xem có tiết dịch hay không.   (Ảnh minh họa) Nếu phát hiện có điều bất thường, hãy đến gặp bác sĩ để được tư vấn. Chụp quang tuyến vú là kiểu chụp tia X quang để phát hiện khối u ở vú. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về thời điểm thích hợp để thực hiện xét nghiệm này, có thể bắt đầu từ 40 hoặc 50 tuổi, tùy thuộc vào tiền sử bệnh của gia đình và các yếu tố ung thư tiềm ẩn của bản thân bạn. Xét nghiệm di truyền để phát hiện gen đột biến gây ung thư vú BRCA Xét nghiệm này sử dụng máu hoặc nước bọt để phát hiện những đột biến gây hại trong gen BRCA1 hoặc BRCA2 – 2 loại đột biến làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng ở phụ nữ. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ NCI cho biết kết quả xét nghiệm BRCA dương tính nghĩa là bạn có 45-65% nguy cơ mắc ung thư vú, 11-39% nguy cơ ung thư buồng trứng. Kết quả âm tính nghĩa là bạn không có gen tiềm ẩn nguy cơ cao. Xét nghiệm phết mỏng cổ tử cung (Pap) Xét nghiệm phết mỏng cổ tử cung dùng 1 mẫu tế bào để phát hiện những thay đổi trong cổ tử cung như chảy máu bất thường, đau âm đạo khi quan hệ tình dục, có thể là dấu hiệu của ung thư cổ tử cung. Bác sĩ sẽ tìm các tế bào bất thường trong mẫu tế bào cổ tử cung của bạn. Kết quả xét nghiệm bất thường nghĩa là tế bào có thể gây ung thư và bạn cần làm soi cổ tử cung – dùng thiết bị chiếu sáng để tìm dấu hiệu bệnh trong cổ tử cung. Nhóm dịch vụ sức khỏe Hoa Kỳ (USPSTF) khuyên nên làm xét nghiệm Pap 3 năm 1 lần từ 21 tuổi đến 65 tuổi. Nếu không muốn tiến hành thường xuyên thì hãy xét nghiệm Pap 5 năm 1 lần cùng với xét nghiệm HPV từ độ tuổi 30 đến 65.   (Ảnh minh họa) Xét nghiệm HPV Xét nghiệm di truyền vi rút HPV là xét nghiệm từ mẫu tế bào cổ tử cung. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính với các vi rút HPV 16 và 18, bạn sẽ phải làm thêm xét nghiệm soi cổ tử cung. Nếu kết quả cho thấy có vi rút HPV 12 – liên quan đến ung thư cổ tử cung, thì bước tiếp theo bạn cần làm xét nghiệm Pap. Chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc Spiral CT Chụp Spiral CT là kiểu chụp X quang phổi chính xác và chi tiết hơn so với chụp X quang đơn giản. Nhóm USPSTF khuyến nghị người hút thuốc hoặc từng hút thuốc từ 55 đến 80 tuổi nên chụp Spiral CT thường niên. Chụp Spiral CT có thể mang đến rủi rỏ bao gồm việc tiếp xúc với tia phóng xạ và tỉ lệ sai tương đối cao (25%), dẫn đến lo lắng và các xét nghiệm không cần thiết. Xét nghiệm ung thư kết tràng Xét nghiệm đầu tiên để chẩn đoán ung thư kết tràng là xét nghiệm tìm máu trong phân - 1 dấu hiệu có thể là của Polyp trong kết tràng hoặc trực tràng. Nếu tìm thấy máu trong mẫu phân sau khi được phân tích, bác sĩ có thể sẽ yêu cầu bạn phải soi ruột già. Polyp được phát hiện sẽ được đưa đi làm xét nghiệm ung thư kết tràng. Nội soi hậu môn cũng là một quy trình tương tự nhưng không gây mê, đơn giản hơn, thường được thực hiện mỗi 3 năm. Rủi ro của 2 xét nghiệm này là chảy máu, rách hoặc thủng kết tràng. Nhóm USPSTF khuyên nên xét nghiệm soi ruột già từ 50 tuổi, 10 năm 1 lần hoặc hơn theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Xét nghiệm phát hiện ung thư tử cung và màng trong tử cung Các triệu chứng của ung thư tử cung và màng trong tử cung là chảy máu âm đạo bất thường, chảy máu sau mãn kinh, đau xương chậu sau quan hệ tình dục hoặc khi đi tiểu. Bạn sẽ cần xét nghiệm xương chậu, siêu âm để tìm ra dấu hiệu của khối u tử cung. Xét nghiệm ung thư buồng trứng Nhóm USPSTF khuyên nên làm xét nghiệm nếu có triệu chứng ung thưbuồng trứng, gia đình có tiền sử ung thư hoặc có gen đột biến BRCA. Các dấu hiệu đó là là sưng đau dai dẳng, cần đi tiểu gấp, đau xương chậu bất thường. Bác sĩ phụ khoa sẽ phát hiện khối u bằng ảnh chụp cắt lớp với sự hỗ trợ của máy tính hoặc chụp cộng hưởng.   (Ảnh minh họa) Xét nghiệm chẩn đoán ung thư da Xét nghiệm bao gồm kiểm tra nốt ruồi để tìm những thay đổi có thể là dấu hiệu của ung thư tế bào cơ sở, ung thư tế bào hắc tố hoặc ung thư tế bào vảy. Bạn có thể tự kiểm tra tại nhà, nếu thấy các dấu hiệu sau thì hãy đến gặp bác - Không đối xứng: 1 bên nốt ruồi không giống bên kia - Đường viền: Đường viền nốt ruồi có hình dáng lạ, khó xác định. - Màu sắc: Nốt ruồi nhiều màu, chuyển dần từ nâu cam, nâu, đen, trắng, đỏ hoặc xanh dương. - Đường kính: Nốt ruồi có đường kính lớn hơn cục tẩy bút chì - Sự tiến triển: Nốt ruồi có kích thước, hình dáng, màu sắc thay đổi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề