THẾ HỆ THỨ HAI VẪN LÀ SỰ LỰA CHỌN HÀNG ĐẦU TRONG ĐIỀU TRỊ MỀ ĐAY MÃN TÍNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THẾ HỆ THỨ HAI VẪN LÀ SỰ LỰA CHỌN HÀNG ĐẦU TRONG ĐIỀU TRỊ MỀ ĐAY MÃN TÍNH":

Giới thiệu chung hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời của nền sử học Việt Nam hiện đại, trên cơ sở đó đưa ra tiêu chí lựa chọn các sử gia tiêu biểu nhất của giai đoạn 19451975. Đặc biệt, tập trung phân tích hai thế hệ đầu tiên: thế hệ thứ nhất bao gồm những người

Giới thiệu chung hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời của nền sử học Việt Nam hiện đại, trên cơ sở đó đưa ra tiêu chí lựa chọn các sử gia tiêu biểu nhất của giai đoạn 19451975. Đặc biệt, tập trung phân tích hai thế hệ đầu tiên: thế hệ thứ nhất bao gồm những người

Giới thiệu chung hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời của nền sử học Việt Nam hiện đại, trên cơ sở đó đưa ra tiêu chí lựa chọn các sử gia tiêu biểu nhất của giai đoạn 19451975. Đặc biệt, tập trung phân tích hai thế hệ đầu tiên: thế hệ thứ nhất bao gồm những người đã trưởng thành từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, là những người đầu tiên đặt nền móng cho nền sử học Mác xít non trẻ của Việt Nam. Thế hệ thứ hai là những sử gia đầu tiên được đào tạo và trưởng thành ở các trường đại học của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đó hệ thống, phân loại các tác phẩm của các sử gia theo vấn đề và theo thời gian để thấy được những khuynh hướng nghiên cứu của từng người trong các giai đoạn lịch sử nhất định cũng như đặc điểm phát triển của từng thời kỳ trong lịch sử sử học Việt Nam
Xem thêm

Đọc thêm

Cách trị chứng mề đay, dị ứng

CÁCH TRỊ CHỨNG MỀ ĐAY, DỊ ỨNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Anh Minh Đức (Cầu Giấy, Hà Nội) chia sẻ, anh bị ngứa nhiều về đêm, khắp cả chân tay, mình, đầu và mặt. Lúc đầu chỉ nổi những nốt li ti, tiếp đến là chuyển sang thành những mảng dày lớn như bị sưng, phù. Tuy nhiên, khi gãi thì càng gãi bề mặt ngứa càng lan rộng. Uống thuốc chống dị ứng thì không ngứa nhưng anh lại cảm thấy thường xuyên buồn ngủ, người uể oải, không tỉnh táo. Nếu không uống thì cơn ngứa lại trở lại. Thực tế, triệu chứng bệnh như anh Đức không hiếm. Thống kê cho thấy, cứ 100 người thì có từ 15 đến 20 người bị nổi mề đay và khả năng tái phát bệnh này nhiều lần trong đời. Phụ nữ dễ nổi mề đay hơn nam giới và độ tuổi mắc bệnh thường từ 20 đến 40 tuổi. Nguyên nhân và triệu chứng bệnh mề đay Mề đay cấp tính xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường là do dị ứng thức ăn hoặc thuốc. Trường hợp nặng, người nổi mề đay cấp tính có thể bị choáng váng, ngất xỉu do huyết áp xuống thấp. Mề đay mạn tính là một bệnh lý khá phức tạp với rất nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau chứ không phải chỉ do ký sinh trùng, thức ăn hay thời tiết. Nguyên nhân gây bệnh có thể còn do thuốc, kháng nguyên hô hấp (phấn hoa, bụi, men mốc…), mày đay do bệnh nội tiết…   Mề đay thông thường bắt đầu đột ngột, nổi nhanh ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng lan rộng khắp người. Ảnh minh họa. Mề đay thông thường bắt đầu đột ngột, nổi nhanh ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì mề đay lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác. Da vẽ nổi còn gọi là mề đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù cà nhẹ lên da, vài phút sau trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mày đay. Phù mạch (còn gọi là phù quincke): Nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mề đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu. Những dạng khác như sẩn nhỏ, sẩn mụn nước hay xuất huyết. Mề đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu. Cách chữa trị mề đay Cách xác định nguyên nhân mề đay cấp tính: Trước tiên cần xác định nguyên nhân gây bệnh và loại bỏ nguyên nhân gây ra. Ngoài việc kiêng gió lạnh, kiêng nước, người bị bệnh dị ứng, mề đay, sẩn ngứa da phải tuân thủ theo chế độ ăn như sau: Trong giai đoạn cấp tính, cần giảm ăn đường và muối vì đường trong máu tăng cao sẽ gây ra hiện tượng quá mẫn (dị ứng). Còn lượng muối nhiều sẽ gây kích ứng thần kinh ngoại biên. Kiêng những thức ăn gây kích thích như: rượu, trà, cà phê, thuốc lá, tiêu, ớt. Trường hợp đang phù nề, rịn nước thì giảm thức ăn có nhiều nước như: canh, súp; uống ít nước. Kiêng những thức ăn có nhiều đạm: tôm, cua, bò, gà, đồ hộp, lạp xưởng, chocolate, trứng, sữa... Nên ăn chế độ có nhiều vitamin A, B, C; ăn các thức dễ tiêu, có tác dụng chống táo bón như: cà chua, cam, chanh, khoai lang, mướp đắng...   Cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị dị ứng nổi mề đay mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ. Ảnh minh họa. Cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị dị ứng nổi mề đay mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như: gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu dị ứng mề đay không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy mề đay nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục. Đối với trẻ em, cần ăn chế độ giảm đường, sữa bò đặc, lòng trắng trứng... Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước), Mentol 1%, dung dịch Calamine để thoa hay tắm. Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn). Đối với mề đay mãn tính: Do thường có liên quan đến các bệnh lý nội khoa nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám bệnh, thực hiện thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.
Xem thêm

3 Đọc thêm

bài thuyết trình độc học PCBs và tác động của nó đến con người

bài thuyết trình độc học PCBs và tác động của nó đến con người

PCB là một chất độc hại và rất bền vững trong môi trường. Nó có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các con đường: qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, truyền từ mẹ sang con. Khi vào trong cơ thể PCB thường tích trữ nhiều trong các mô mỡ. Nó có thể gây ra các tác động cấp tính và mãn tính đến sức khỏe con người nặng nhất có thể gây ung thư; làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể; ảnh hưởng đến khả năng sinh sản; ảnh hưởng tới hệ thần kinh và nội tiết tố của con người. Việc phát hiện và điều trị phơi nhiễm PCB rất tốn kém. Do đó, mỗi cá nhân cần tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tiếp xúc với các thiết bị, vật liệu có khả năng nhiễm PCB, nhằm bảo vệ sức khỏe của chính mình.
Xem thêm

Đọc thêm

LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

Staff Reporter of THE WALL STREET JOURNALSHANGHAI – Ba năm qua, Hu Fusheng đề nghị ông chủ chuyển quầy thu ngân nằm ở giữamáy tính tiền và tiền sảnh của cửa hàng hiện ông ta đang quản lý. Ông Hu giải thích rằng quầythu tiền chiếm một không gian 900 bộ vuông, và không để ý đến những phục vụ ăn uốngcủakhách hàng. Nhưng ông chủ, và quầy thu tiền không có động thái gì.Năm nay, sự thay đổi đột ngột ập đến. Ông Hu đang bán đồ nướng với 20% chiết khấu vàobuổi chiều, vì những thứ không bán hết sẽ bị vứt bỏ. Ông ta cũng quản lý đồ uống đóng hộptheo cách trưng bày hình tháp, mà trước đây những thứ này được đặt trên các kệ. Ông ta cũngquẳng máy tính tiền vào thùng đá đựng kem và những hàng đông lạnh khác. Ông Hu nói rằng“tôi không cần sự cho phép của ai để tạo nên những thay đổi này”.Một cách nhìn mới của ông Hu về cửa hàng, và khi đó doanh số bán hàng tháng đã tăng lêngấp bốn lần vào đầu năm nay, là một phần nỗ lực nhằm đổi mới hệ thống phân phối gồm 486cửa hàng của Shanghai Liangyou, một trong những chuỗi bán lẻ tiện lợi nhất ở Trung Quốc.Sự thay đổi được thực hiện bởi cựu giám đốc điều hành được đào tạo ở Mỹ, các thử nghiệmnhằm xem xét liệu ngành bán lẻ trung Quốc có thể chuyển đổi thành các cửa hàng bán lẻ tiệnlợi, một hình thức rất hấp dẫn, dể thực hiện, và sinh lợi cao.Khu vực bán lẻ trị giá 500 tỷ USD của Trung Quốc dường như đang phất lên. Doanh số bán lẻcủa các chuỗi bán lẻ lớn đã tăng 30% năm qua. Và công việc kinh doanh của các cửa hàng tiệnlợi diễn ra hầu như suốt đêm. Chỉ tính riêng mình Shanghai đã có gần 3,500 cửa hàng, chiếmmột nửa so với toàn quốc. Trong số đó thì gần 2,000 cửa hàng mới hoạt động vào năm ngoái.Một số đường phố Shanghai có đến hai hay ba cửa hàng tiện lợi nằm trên một một đường phố.Nhưng một vấn đề đằng sau các cửa hàng, là cùng chịu chung những vấn đề hầu như cũngdiễn ra đối với các lĩnh vực công nghiệp, và sự thôn tính của các nhà đầu tư nước ngoài. Sựcạnh tranh khốc liệt của các cửa hàng bán lẻ với hơn một nữa đối thủ các chuỗi bán lẻ lớn.Chiến tranh giá cả đã làm lợi nhuận gộp biên 21% trong những năm trước giảm xuống 15%trong năm qua, so với con số nước ngoài khoảng 30%, theo số liệu của viện nghiên cứu lĩnhvực bán lẻ.1. Kiểu cấu trúc thị trường nào đặc tính cho thị trường bán lẻ tiện lợi ở Shanghai? Tạisao?
Xem thêm

22 Đọc thêm

BỆNH CƠ TIM GIÃN PGS HOÀNG ANH TIẾN

BỆNH CƠ TIM GIÃN PGS HOÀNG ANH TIẾN

Chống suy tim với ăn nhạt trợ tim lợi tiểu thuốc giãn mạch gópphần cải thiện triệu chứng. Người ta đã thấy tỉ lệ tử vong giảm nhờthuốc ức chế men chuyển và các thuốc giãn mạch khác(Hydralasin, Nitrate). Đã có nhiều công trình thử nghiệm cho thấythuốc ức chế bêta với liều tăng dần hiệu quả trong khoảng 50%trường hợp (các thuốc được chấp nhận sử dụng: Carvedilol,Bisoprolol, Metoprolol).Phải cẩn thận trong điều trị loạn nhịp tim, việc lựa chọn thuốc tuỳthuộc vào loại loạn nhịp cũng như chức năng thất trái, nói chungchỉ cho khi cần thiết để tránh tác dụng phụ cũng như tác dụng sinhloạn nhịp của thuốc. Amiodarone được ưa chuộng do ít làm ảnhhưởng tới chức năng thất trái. Khi có loạn nhịp ác tính có thể phảicần cấy máy chống rung cho người bệnh. Ghép tim được chỉ địnhkhi suy tim trơ với điều trị nội khoa.Tạo nhịp đôi tái đồng vận thất: cho thấy cải thiện tỉ lệ tử vong vàtần suất nhập viện. Chỉ định hiện nay như sau:+ Suy tim NYHA III/IV có chậm dẫn truyền trong thất+ Bệnh nhân không đỡ với điều trị nội thích hợp.Phẫu thuật Batista: cắt lọc bớt thất trái trong BCT giãn vô căn. Tuyvậy hiệu quả thực sự cần phải được nghiên cứu tiếp.
Xem thêm

19 Đọc thêm

KHẢO SÁT BẺ GÃY CÁC GIAO THỨC VÀ KĨ THUẬT TRONG TRUYỀN THÔNG ĐA CHẶNG MẠNG LTEADVANCED

KHẢO SÁT BẺ GÃY CÁC GIAO THỨC VÀ KĨ THUẬT TRONG TRUYỀN THÔNG ĐA CHẶNG MẠNG LTEADVANCED

nhưng nhu cầu truyền số liệu tăng lên đòi hỏi các nhà khai thác mạng phải nâng cấprất nhiều tính năng mới cho mạng và cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng trên cơsở khai thác mạng hiện có; nó đã khởi đầu cho một quá trình phát triển mạnh mẽ.Sau đó hệ thống 1G nhanh chóng được thay thế bằng hệ thống 2G, hệ thống này cóchất lượng tốt hơn, tốc độ nhanh hơn, cung cấp thêm dịch vụ truyền bản tin thay vìchỉ có thoại như trước đây, và từ đó hệ thống đặc trưng cho 2G là GSM ngày nayđược sử dụng khá phổ biến. Cùng với Internet, Intranet đang trở thành một trongnhững hoạt động kinh doanh ngày càng quan trọng. Kéo theo sự phát triển của cácthiết bị di động thông minh, đa chức năng ra đời ngày càng nhiều, cùng với đó làcác dịch vụ đa phương tiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời nhu cầu truyền tải dữ liệutốc độ cao cũng tăng nhanh, khiến cho các hệ thống trước đó trở nên lỗi thời.Những yêu cầu đó dẫn đến sự ra đời của các thế hệ di động sau này, và các thế hệ3G, 4G ra đời như ta đã biết, các hệ thống này có thể cung cấp cho chúng ta cácdịch vụ đa dạng như gọi video, chơi game, xem tv... Với tốc độ nhanh hơn hẳn cũngnhư chất lượng tốt, các thế hệ thông tin di động này hứa hẹn đáp ứng được các nhucầu hiện tại, và sẽ được phát triển rộng rãi trong nay mai.Hình 1.1: Quá trình phát triển các công nghệ thông tin di động.Trang 3Chương 1 : Tổng quan về hệ thống thông tin di động1.3. Tổng quan về công nghệ LTE1.3.1. Giới thiệu về công nghệ LTELTE là từ viết tắt của Long Term Evolution miêu tả công việc chuẩn hóa của3GPP để xác định phương thức truy cập vô tuyến tốc độ cao mới cho hệ thốngtruyền thông di động. LTE được xem như là thế hệ thứ tư, thế hệ tương lai củachuẩn UMTS do 3GPP phát triển. Năm 2008, phiên bản phat hành cuối cùng3GPP8, mang lại nhiều hơn sự cải tiến đối với HSDPA và HSUPA, được xem như
Xem thêm

86 Đọc thêm

Đau khớp, trẻ em cũng có thể bị bệnh

ĐAU KHỚP, TRẺ EM CŨNG CÓ THỂ BỊ BỆNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đang cho con điều trị tại bệnh viện Nhi Trung ương sau khi các bác sĩ chẩn đoán con bị viêm khớp, mẹ bé Nguyễn Hồng Kiên, 11 tuổi, ở quận Cầu Giấy, Hà Nội không hết ngỡ ngàng. Kiên còn nhỏ, lại đang trong độ tuổi hiếu động nên mỗi khi con kêu mỏi chân, tay cha mẹ đều nghĩ con hiếu động và nhắc nhở Kiên không nghịch nhiều nữa. Thế nhưng, những cơn đau nhức kéo dài, ảnh hưởng ngày càng nhiều đến sinh hoạt của Kiên thì cha mẹ mới đưa Kiên đi khám. TS.BS Lê Thị Minh Hương, trưởng khoa miễn dịch – dị ứng – khớp, bệnh viện Nhi Trung ương, cho biết hàng ngày khoa này tiếp nhận khám và điều trị nhiều bệnh nhi mắc bệnh cơ xương khớp do nguyên nhân khác nhau: từ đau mỏi xương khớp tuổi phát triển, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương… cho đến những bệnh khớp mãn tính do một số rối loạn miễn dịch hoặc giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu cấp… Một trong những bệnh khớp mãn tính thường gặp ở tuổi học đường là bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên. Bệnh này thuộc nhóm bệnh tự miễn, được định nghĩa là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất sáu tuần, khởi phát bệnh trước 16 tuổi.   Viêm khớp tưởng chừng chỉ xuất hiện ở những người lớn tuổi, nhưng người trẻ cũng bị (Ảnh minh họa) “Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virút hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella). Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ mắc bệnh thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ trước khi đến bệnh viện Nhi Trung ương đã đi khám, chữa cả năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện đúng bệnh, dẫn tới biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác”, BS Hương cảnh báo. Mẹ bé Nguyễn Hồng Kiên kể lại, thời điểm bé kêu nhức mỏi tay chân nhiều cũng là lúc cháu thường có các biểu hiện sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân, đặc biệt có xuất hiện ban đỏ. Cả nhà nghĩ bé bị sốt virút chứ không nghĩ đến viêm khớp. Theo BS Hương, đó là những triệu chứng ban đầu của viêm khớp. Triệu chứng này có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều nơi như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân...   Khi mắc phải viêm khớp, cần phải có sự điều trị của bác sĩ chuyên khoa (Ảnh minh họa) Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi... Khi mắc phải, bệnh nhi cần phải được khám và điều trị của bác sĩ chuyên khoa khớp, nhằm kiểm soát sự tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt, hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá huỷ và biến dạng khớp. Điều trị bao gồm các biện pháp vật lý trị liệu, dùng thuốc và có thể phải điều trị ngoại khoa...
Xem thêm

1 Đọc thêm

Định lượng Actinobacillus actinomycetemcomitans, Porphyromonas gingivalis bằng realtime PCR và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị không phẫu thuật bệnh viêm quanh răng

Định lượng Actinobacillus actinomycetemcomitans, Porphyromonas gingivalis bằng realtime PCR và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị không phẫu thuật bệnh viêm quanh răng

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm quanh răng (VQR) là một bệnh nhiễm khuẩn phá hủy các mô nâng đỡ răng [1]. Bệnh diễn tiến dai dẳng, kéo dài, có khi để lại những hậu quả nặng nề như răng lung lay hàng loạt phải nhổ bỏ, làm mất chức năng ăn nhai, ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ. VQR khá phổ biến, tuy nhiên tỉ lệ và mức độ bệnh thay đổi tùy theo mỗi nơi. Tại Mỹ, tỉ lệ này là 47% trong 64,7 triệu dân ở độ tuổi trên 30 [2]. Tại Ấn Độ, tỷ lệ VQR tăng theo tuổi: 67,7% ở độ tuổi 12 ÷ 15, 89,6% ở độ tuổi 35 ÷ 44 [3]. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Trần Văn Trường và c.s. năm 2000 cho thấy 36,5% nam, 27,5% nữ có túi quanh răng và nhu cầu điều trị bệnh VQR cũng rất cao [4]. VQR khởi đầu từ một mảng bám sinh học vi khuẩn được gọi là mảng bám răng [5]. Mảng bám răng được tạo thành từ các vi khuẩn và chất nền (gồm protein, polysaccarid và lipid) bám dính trên bề mặt răng. Trong mảng bám răng ở mô quanh răng bình thường, hiện diện chủ yếu các cầu khuẩn Gram (+) kỵ khí như Streptococcus và Actinomyces. Ở những bệnh nhân VQR, trong mảng bám răng có sự hiện diện các loại vi khuẩn Porphyromonas gingivalis, Actinobacillus actinomycetemcomitans, Actinomyces viscosus, Tannerella forsythensis, Prevotella intermedia, Actinomyces naeslundii Streptococcus intermedia, Eikenella corrodens, Treponema denticola…, trong đó vi khuẩn Actinobacillus actinomycetemcomitans (A.actinomycetemcomitans) và Porphyromonas gingivalis (P. gingivalis) được xem là nguyên nhân gây bệnh VQR [5], [6], [7]. Bình thường có sự cân bằng hệ tạp khuẩn ở miệng. Bất kỳ một sự thay đổi nào phá vỡ trạng thái cân bằng này, do vi khuẩn phát triển quá mức hay do sức khỏe răng miệng hay sức khỏe toàn thân bị suy giảm, sẽ gây ra bệnh VQR. Do đó, bệnh VQR liên quan đến sự tương tác giữa các yếu tố vi khuẩn và cơ thể, vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong bệnh căn của VQR, nhưng đáp ứng miễn dịch của cơ thể cũng là một trong các yếu tố quyết định gây VQR hay không [8]. Thành phần và số lượng các vi khuẩn trong VQR khác nhau giữa các dạng VQR mãn tínhvà VQR tiến triển [8],[9], phương pháp điều trị cũng khác nhau [8]. Một số khác biệt vi khuẩn này có ý nghĩa lâm sàng, sự gia tăng số lượng vi khuẩn có thể là yếu tố chỉ ra tình trạng VQR đang tiến triển. Việc định lượng chính xác các vi khuẩn gây VQR là yêu cầu cần thiết và cấp bách của các bác sĩ chuyên về bệnh quanh răng nhằm giúp lựa chọn phác đồ điều trị kháng sinh, đánh giá đáp ứng điều trị và theo dõi diễn tiến bệnh, tránh tình trạng kháng kháng sinh hiện nay [10]. Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về việc chẩn đoán xác định, phương pháp điều trị và theo dõi diễn tiến của bệnh VQR trước và sau điều trị dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, nhất là xác định vi khuẩn gây bệnh bằng các kỹ thuật nuôi cấy, kỹ thuật sinh học phân tử (phản ứng chuỗi polymerase/PCR, real-time PCR/qPCR), ... như: nghiên cứu của Salari M.H. (2004) [5], nghiên cứu của Mitsuo Sakamoto (2004) [6] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2010) [11]. Ở Việt Nam, việc xét nghiệm vi khuẩn trước và sau điều trị VQR chưa phổ biến vì kỹ thuật nuôi cấy vi khuẩn kỵ khí mất nhiều công sức và thời gian, thậm chí một số loại vi khuẩn không mọc hay khó mọc; kỹ thuật sinh học phân tử rất nhạy và đặc hiệu, cho phép xác định nhanh và chính xác DNA của vi khuẩn chỉ trong vài giờ thì giá thành lại rất cao do phải nhập bộ sinh phẩm từ nước ngoài [6], [11]. Đến nay ở nước ta, chưa có nghiên cứu nào ứng dụng kỹ thuật realtime PCR định lượng vi khuẩn Actinobacillus actinomycetemcomitans, Porphyromonas gingivalis gây bệnh VQR, đồng thời kết hợp với lâm sàng theo dõi sự thay đổi số lượng và tỉ lệ của hai vi khuẩn này trước và sau khi điều trị VQR mãn tính dạng toàn thể bằng phương pháp không phẫu thuật. Cập nhật các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại đã và đang được sử dụng trên thế giới và tại Việt Nam, dựa trên điều kiện sẵn có về kỹ thuật realtime PCR định lượng vi khuẩn A. actinomycetemcomitans, P. gingivalis có độ nhạy và độ đặc hiệu cao của Trung tâm nghiên cứu Gen - Protein, Trường Đại học Y Hà Nội, nguồn bệnh nhân của khoa Nha chu - bệnh viện Răng Hàm Mặt tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Định lượng Actinobacillus actinomycetemcomitans, Porphyromonas gingivalis trong viêm quanh răng bằng realtime PCR và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị viêm quanh răng không phẫu thuật” với 2 mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm và mối tương quan giữa lâm sàng, X-quang, số lượng vi khuẩn A. actinomycetemcomitans và P. gingivalis trong dịch lợi trên bệnh nhân viêm quanh răng mãn tính dạng toàn thể. 2. Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị không phẫu thuật đối với viêm quanh răng mãn tínhdạng toàn thể dựa trên lâm sàng, X-quang và số lượng, tỉ lệ vi khuẩn A. actinomycetemcomitans và P. gingivalis.
Xem thêm

Đọc thêm

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ VẢY PHẤN HỒNG (PITYRIASIROSEA)

CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ VẢY PHẤN HỒNG (PITYRIASIROSEA)

4.2.2 Theo hình thái sang thương: ­ Sang thương đôi khi là sẩn nang lông, mụn mủ, mụn nước thường gặp ở trẻ em, mề đay vài ngày đầu biểu hiện giống mề đay cấp, dạng lichen, bóng nước, b[r]

3 Đọc thêm

Báo cáo thực tập: Tìm hiểu về thông tin di động thế hệ 4G – HSPA 14

Báo cáo thực tập: Tìm hiểu về thông tin di động thế hệ 4G – HSPA 14

1.1.1 Toàn cảnh hệ thống thông tin di động Thông tin di động luôn không ngừng phát triển và ngày càng đòi hỏi các kĩ thuật tiên tiến và công nghệ cao. Ý tưởng về sự liên lạc tức thời mà không quan tâm đến khoảng cách là một trong những giấc mơ lâu đời nhất của loài người và giấc mơ đó đang ngày càng trở thành hiện thực nhờ sự trợ giúp của kĩ thuật và công nghệ. Việc sử dụng sóng vô tuyến để truyền thông tin diễn ra lần đầu tiên vào cuối thế kỉ 19. Kể từ đó nó trở thành công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong thông tin quân đội và sau này là thông tin vô tuyến công cộng. Sau nhiều năm phát triển thông tin di động đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng. Từ hệ thống thông tin di động tương tự thế hệ thứ nhất đến hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai, hệ thống thông tin băng rộng thế hệ thứ ba đang được triển khai trên phạm vi toàn cầu và hệ thống thông tin đi động đa phương tiện thế hệ thứ tư đang được nghiên cứu tại một số nước. Dịch vụ chủ yếu của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất và thứ hai là thoại còn dịch vụ thế hệ thứ ba và thứ tư phát triển về dịch vụ dữ liệu và đa phương tiện.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả điều trị u lympho ác tính không Hodgkin ở trẻ em giai đoạn III+IV bằng phác đồ NHL – BFM 90 tại bệnh viện K (FULL TEXT)

Nghiên cứu kết quả điều trị u lympho ác tính không Hodgkin ở trẻ em giai đoạn III+IV bằng phác đồ NHL – BFM 90 tại bệnh viện K (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ U lympho ác tính là thuật ngữ mô tả một nhóm các bệnh ác tính khác nhau trong đó khởi đầu là một tế bào lympho ngoài tuỷ xương chuyển dạng, tăng sinh không kiểm soát, tạo thành khối u. Do hệ bạch huyết có mặt khắp nơi trong cơ thể nên u lympho có thể bắt đầu ở bất kỳ chỗ nào và lan tràn đến hầu hết các cơ quan [1], [2], [3]. U lympho ác tính (gồm Hodgkin và không Hodgkin) là bệnh ác tính đứng hàng thứ ba ở trẻ em sau bạch cầu cấp (27,5%) và u não (17,4%), trong đó u lympho ác tính không Hodgkin (ULAKH) chiếm khoảng 4,3% tất cả các ung thư trẻ em [4], [5], [6]. ULAKH trẻ em có đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, mô bệnh học (MBH) và điều trị khác với ở người lớn. Đa số bệnh nhi (BN) đến bệnh viện ở giai đoạn muộn. ULAKH giai đoạn III và IV chiếm khoảng 60% - 70% tuỳ theo các báo cáo [4], [5], [6], [7]. Trên lâm sàng bệnh được chia giai đoạn khu trú (giai đoạn I và II) và lan tràn (giai đoạn III và IV). Về MBH, 90% trường hợp ULAKH trẻ em có độ MBH ác tính cao, do đó thường bệnh tiến triển nhanh, nặng nề hơn ở người lớn [5]. Việc chẩn đoán ULAKH trẻ em dựa vào đặc điểm u hạch trên lâm sàng và bằng chứng MBH. Trước những năm 1970, tỷ lệ chữa khỏi bằng phẫu thuật và/hoặc tia xạ ULAKH trẻ em chỉ là 10% - 20% [5], [7], [8], [9]. Từ những năm đầu của 1970, sự ra đời các phác đồ hoá chất đã giúp cải thiện thời gian sống thêm của BN rõ rệt. Có nhiều thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu kết quả điều trị của các phác đồ kết hợp nhiều thuốc. Hiện nay, lựa chọn phác đồ điều trị tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh và phân nhóm MBH còn gặp nhiều khó khăn do bệnh giai đoạn muộn, phác đồ điều trị thường mạnh, nhiều tai biến. Tuy vậy, nhờ hóa trị, tỷ lệ sống thêm 5 năm chung của ULAKH trẻ em tăng từ 56% trong giai đoạn 1975-1984 đến 72% giai đoạn 1985-1994 [10]. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 70% - 90% trẻ bị ULAKH có thể sống thêm 5 năm sau hoá trị đúng mức [5], [7], [9], [10]. Với giai đoạn III và IV, các phác đồ điều trị đòi hỏi mạnh hơn, nhiều thời gian hơn, cũng đạt được tỷ lệ sống thêm tùy theo báo cáo khoảng 70% [5], [7]. Ở Việt Nam, có ít nghiên cứu về đặc điểm cũng như kết quả điều trị ULAKH ở trẻ em. Phác đồ điều trị còn chưa thống nhất giữa các bệnh viện. Việc lựa chọn phác đồ từ trước còn chưa phù hợp với giai đoạn nhất là khi bệnh đã ở giai đoạn lan tràn. Được sự đồng ý của Hội đồng khoa học bệnh viện, khoa Nhi bệnh viện K đã áp dụng phác đồ NHL - BFM 90, là một phác đồ đã được áp dụng ở 120 trung tâm điều trị ung thư trẻ em trên thế giới cho ULAKH trẻ em có giải phẫu bệnh ác tính cao và/hoặc giai đoạn muộn, phác đồ có ưu điểm so với các phác đồ khác ở chỗ có sẵn thuốc cung cấp ở Việt Nam, rút xạ trị khỏi phác đồ so với các thế hệ phác đồ BFM trước, không có phẫu thuật cắt u trong phác đồ. Tuy nhiên chưa có báo cáo kết quả điều trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học ULAKH ở trẻ em giai đoạn III+IV điều trị tại bệnh viện K từ 1/6/2005 đến 30/10/2014. 2. Đánh giá kết quả điều trị ULAKH giai đoạn III+IV của số trẻ em này bằng phác đồ NHL - BFM 90 tại bệnh viện K.
Xem thêm

Đọc thêm

B1, đúng là số một

B1, ĐÚNG LÀ SỐ MỘT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sinh tố này là thành phần được đề cập hàng đầu trong 6 loại sinh tố B nhờ tác dụng điều trị chuyên biệt trên người bị bệnh beri-beri với dấu hiệu phù thũng và bại liệt hạ chi do thiếu B1 vì thói quen ăn gạo chà quá trắng. Sinh tố B1 vì thế còn được đặt tên là “sinh tố của hệ thần kinh“ do có ái tính cao với tế bào thần kinh. Không lạ gì khi nhiều thầy thuốc hiện vẫn còn dùng sinh tố B1 như thuốc giảm đau. Nói một cách tượng hình, sinh tố B1 giữ vai trò của tia lửa trong động cơ máy nổ. Thiếu B1 thì chất đường từ thực phẩm không đi đúng vào quy trình thoái biến để cung cấp năng lượng cho cơ thể, đặc biệt cho nhu cầu vận động bắp thịt và dẫn truyền thần kinh. B1 hầu như có mặt trong đủ loại thực phẩm nhưng có hàm lượng đáng kể trong thịt và mễ cốc như nếp, lúa mì, đậu xanh, đậu nành.   Nếu xét về tính đa dạng, B1 quả thật xứng đáng được xếp vào vị trí hàng đầu của nhóm sinh tố B (Ảnh minh họa) Vì dễ bị đào thải qua nước tiểu nên cơ thể rất dễ thiếu hụt B1 nếu không tiếp tế sinh tố này trong thời gian đôi ba tuần. Kẹt cho người tiêu dùng là B1 rất nhạy cảm. Chỉ cần ngâm rửa quá lâu, nấu quá chín thì phần lớn sinh tố B1 trong thực phẩm bị phá hủy. Sau khi ra lò chỉ cần hâm nóng lần thứ hai thì gần phân nửa lượng sinh tố B1 trong bánh mì bị thất thoát. Một số thực phẩm như bắp cải, bông cải, nếu ăn sống thì một chất men có sẵn trong cải phá hủy sinh tố B1. Ngược lại, khả năng cung ứng sinh tố B1 được cải thiện rất nhiều khi dùng cải chung với dầu thực vật hay trái cây tươi có nhiều sinh tố C. Lượng B1 trong nếp khá cao nên không nhất thiết phải có cao lương mỹ vị mới cung cấp đủ sinh tố B1, thường khi chỉ cần món khoái khẩu của thằng bờm: nắm xôi! Kết quả nghiên cứu thời gian gần đây cho thấy sinh tố B1, dù chỉ ở liều thấp, có tác dụng hưng phấn hoạt tính của nội tiết tố insulin. Thầy thuốc ngành nội tiết ở Đại học Mannheim, CHLB Đức từ lâu áp dụng sinh tố B1 trong phác đồ điều trị để góp phần ổn định đường huyết cho người bệnh tiểu đường. Nếu xét về tính đa dạng, B1 quả thật xứng đáng được xếp vào vị trí hàng đầu của nhóm sinh tố B.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Mang thai, toàn thân "ghẻ lở"

MANG THAI, TOÀN THÂN "GHẺ LỞ"

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hỏi: Hiện tại em đang mang thai tuần thứ 34 rồi. Khoảng 1 tháng trở lại đây, bụng bầu em bắt đầu nổi mề đay và ngứa. Ban đầu chỉ là những nốt mề đay nhỏ và ngứa ở vết rạn da nhưng dần dần, mề đay lan khắp cơ thể khiến em ngứa toàn thân. Đến bây giờ thì người em như một con ghẻ. Xấu xí thì đương nhiên nhưng em chẳng quan tâm bằng việc ngứa ngáy suốt ngày khiến em ăn không ngon, ngủ không yên. Vì khó chịu quá nên em đã phải xin nghỉ làm sớm được 1 tuần nay. Em đã đi khám bác sĩ da liễu và đã được kê thuốc bôi nhưng bôi cả tuần vẫn chẳng đỡ. Em còn tắm cả lá thuốc, bôi dầu... cứ ai mách gì, em làm theo nhưng kết quả thì vẫn thế, thậm chí ngày một nặng nề hơn. Em không dám gãi nhiều vì sợ ảnh hưởng đến thai nhi, nhưng cứ ngứa ngáy như thế này thì làm sao em chịu nổi đến hết 40 tuần đây. Lần trước mang thai bé đầu em không hề bị ngứa ngáy gì. Các chị có ai bị nổi mề đay, ngứa lúc mang thai không, mách kế cho em với ạ. Em thực sự đang "sống dở, chết dở" với triệu chứng này. Độc giả Phạm Thanh Nhàn (HN)
Xem thêm

1 Đọc thêm

Người lớn đừng quên tẩy giun

NGƯỜI LỚN ĐỪNG QUÊN TẨY GIUN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nguy cơ nhiễm giun sán không chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ mà có thể xảy ra ở cả người lớn. Vì vậy, việc dùng thuốc tẩy giun định kỳ là việc làm cần thiết. Tuy nhiên rất nhiều người lớn lại lãng quên việc tẩy giun. Nhưng theo TS. Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng Trung ương, nhiễm giun kéo dài có thể gây thiếu máu, thiếu sắt và các bệnh lý về gan, phổi, ảnh hưởng về lâu dài đối với sức khoẻ con người. Vì vậy, mỗi người nên tẩy giun 6 tháng/1 lần, kể cả người lớn. Còn ở trẻ em thì từ 2 tuổi trở lên mới cho tẩy giun.   Khi sử dụng thuốc tẩy giun phải theo chỉ định của bác sĩ (Ảnh minh họa) Khi sử dụng thuốc tẩy giun phải theo chỉ định của bác sĩ. Tốt nhất khi đến định kỳ tẩy giun, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế để bác sĩ khám và chỉ định loại thuốc, liều thuốc, thời điểm uống cho phù hợp. Trước đây, người ta thường nhịn đói để uống thuốc, nhưng với một số thuốc tẩy sán thì nhịn đói uống có thể tăng tác dụng, còn với những thuốc tẩy giun thông thường tốt nhất nên uống sau khi ăn. Sau khi dùng thuốc trẻ có thể bị đau bụng, buồn nôn và tiêu chảy thoáng qua. Những triệu chứng này thường nhẹ và sẽ tự khỏi. Một số ít trẻ có các triệu chứng dị ứng, phát ban, nổi mề đay. Khi đó cần đưa trẻ đi khám để được các bác sĩ tư vấn và có hướng xử lý phù hợp. Người đang bị sốt, bị viêm họng, viêm gan, viêm thận, bệnh cấp và mãn tính thì không nên dùng thuốc tẩy giun. Phụ nữ có thai cũng không nên dùng thuốc tẩy giun. Bên cạnh việc dùng thuốc tẩy giun đúng cách cần tạo thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; thực hiện đúng quy trình làm sạch thực phẩm trong quá trình chế biến; rau quả cần được ngâm với nước muỗi loãng; đồ ăn phải được nấu chín để hạn chế mầm bệnh, đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH 18F FDG PET Ở BỆNH NHÂN BỊ BỆNH MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH 18F FDG PET Ở BỆNH NHÂN BỊ BỆNH MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

Phát hiện khả năng sống của cơ tim có ý nghĩa rất lớn trong lựa chọn chiến thuật điều trị suy tim ở bệnh nhân động mạch vành. Các bệnh nhân có tình trạng cơ tim đông miên, giảm chức năng thất trái nên được chẩn đoán và điều trị tái tưới máu (nong, đặt stent hoặc phẫu thuật cầu nối chủ vành) nhằm cải thiện chức năng thất trái, giảm tỉ lệ tai biến và tử vong. Các bệnh nhân có tổn thương hoại tử, xơ hóa cơ tim hoặc tổn thương giải phẫu động mạch vành không cho phép tái tạo động mạch vành thì nên điều trị nội khoa tích cực và ghép tim. Nói một cách khác, chỉ nên tiến hành thủ thuật tái tưới máu ở các bệnh nhân cơ tim còn khả năng sống. Hiện nay có nhiều kỹ thuật có thể đánh giá được khả năng sống của cơ tim như: siêu âm tim gắng sức sử dụng Dobutamin, chụp cộng hưởng từ tim mạch (CMR), xạ hình tưới máu cơ tim Tc99m – MIBI sử dụng nitroglycerin và FDG PET. Trong đó FDG PET được coi là phương pháp chuẩn để đánh giá khả năng phục hồi vận động và chức năng thất trái sau can thiệp tái tưới máu động mạch vành (độ nhạy trên 90%, giá trị dự đoán âm tính xấp xỉ 90%). Sử dụng PETCT có thể cho phép tiến hành đồng thời chụp động mạch vành bằng CT đa lớp cắt, kết hợp với các thông tin của PET về tình trạng chức năng như tưới máu cơ tim, chuyển hóa cơ tim đánh giá cơ tim sống được trình bày trên cùng 1 hình ảnh theo không gian 3 chiều. Kỹ thuật chụp PET sử dụng 18FFDG cho phép đánh giá khả năng sống còn của cơ tim, phân biệt tình trạng cơ tim đông miên còn khả năng hồi phục với sẹo cơ tim (scar) sau nhồi máu cơ tim. Tại Việt Nam,tim mạch học hạt nhân được sử dụng trong lâm sàng từ những năm 2000 và hiện nay đang trở thành một trong những xét nghiệm hàng đầu chẩn đoán bệnh động mạch vành ở các trung tâm y khoa lớn như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện TƯQĐ 108 và gần đây là Trung tâm U bướu Đà Nẵng. Việc triển khai kỹ thuật FDG PET đánh giá cơ tim sống sẽ cung cấp một công cụ có độ nhạy cao, hỗ trợ đắc lực cho các bác sĩ tim mạch trong quyết định chiến lược điều trị đối với bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim, cũng như góp phần tiên lượng cho bệnh nhân sau can thiệp tái tưới máu.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu tác dụng của từ trường nhân tạo đối với cải thiện tuần hoàn não và phục hồi chức năng thần kinh ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não bán cầu (TT)

Nghiên cứu tác dụng của từ trường nhân tạo đối với cải thiện tuần hoàn não và phục hồi chức năng thần kinh ở bệnh nhân tai biến nhồi máu não bán cầu (TT)

3(penumbra) và đáp ứng ô-xy hóa quá mức đóng góp quan trọng vào cảtổn thương chết tế bào kiểu hoại tử và chết theo chương trình apotosis.Các liệu pháp điều trị hỗ trợ có thể tập trung vào việc cải thiện tuầnhoàn, tăng khả năng chịu đựng của tế bào bao gồm tế bào thần kinh vàmạch máu trong điều kiện thiếu máu, giảm tác động của gốc tự do vàkiểm soát đáp ứng viêm để gia tăng cơ hội sống sót cho tế bào vùng“nửa tối”, gia tăng cơ hội phục hồi cho người bệnh.1.2. Quan điểm về điều trị và phục hồi thần kinh sau NMNTế bào thần kinh vẫn được sinh mới và có sự mọc chồi synap thầnkinh trong mối liên hệ mật thiết giữa các thành phần của đơn vị thầnkinh - mạch máu. Đây được coi là đơn vị chức năng đảm bảo sự ổnđịnh vi môi trường não bộ, điều hòa lưu lượng máu, sự trao đổi chấtqua hàng rào máu não, đóng góp vào phòng vệ miễn dịch, hỗ trợ dinhdưỡng cho não bộ.Đích tác động của quá trình điều trị là bảo vệ thần kinh, bảo vệmạch máu; kích thích sinh thần kinh, sinh mạch máu chứ không chỉ chỉtác động vào tế bào thần kinh và dẫn truyền thần kinh như trước đây.1.3. Điều trị bằng từ trườngĐiều trị bằng từ trường là hình thức sử dụng từ trường không đổihoặc từ trường xung vào mục đích điều trị. Từ trường có thể tác độngđến mô đích mà không phụ thuộc vào tuần hoàn tại chỗ do đó có nhiềuưu điểm với nhóm bệnh lý thiếu máu cục bộ mô. Từ các nghiên cứuthực nghiệm đến các nghiên cứu lâm sàng cho thấy từ trường là mộtphương pháp điều trị có cơ sở khoa học. Các cơ chế đã được chứngminh bao gồm: cơ chế tác động thông qua việc điều hòa dòng ion canxinội bào giảm sự phá hủy tế bào trong giai đoạn thiếu máu cấp tính; tăngcường các cơ chế bảo vệ tế bào nội sinh như tăng sản xuất protein sốcnhiệt (heat shock protein- hsp), nitric oxide, opioid; tăng cường tácnhân chống oxy hóa và điều hoà lưu lượng máu tại chỗ. Vì vậy, với khả
Xem thêm

Đọc thêm

đồ án tốt nghiệp ỨNG DỤNG INTERNET TRONG VIỆC THEO DÕI SỨC KHỎE BỆNH NHÂN TIM MẠCH

đồ án tốt nghiệp ỨNG DỤNG INTERNET TRONG VIỆC THEO DÕI SỨC KHỎE BỆNH NHÂN TIM MẠCH

PHẦN MỞ ĐẦU Phần này trình bày ý tưởng, nội dung, phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được của đồ án xuất phát từ các nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống. Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với những thách thức lớn. Số người cao tuổi tăng nhanh đòi hỏi sự chăm sóc cả về thể xác lẫn tinh thần. Hơn nữa, xu hướng bệnh tật thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi. Nếu trước đây những bệnh cấp tính lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn các loại hay gặp thì hiện nay các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư ngày càng nhiều. Theo số liệu của Bộ Y tế công bố năm 2012, tỷ lệ người cao tuổi có sức khỏe tốt chỉ chiếm khoảng 5%. 95% còn lại mắc các bệnh khác, trong đó bệnh tăng huyết áp chiếm gần 40%. Cũng theo một thống kê khác của Bộ Y Tế Việt Nam, tỷ lệ mắc và chết do bệnh lý không lây nhiễm năm 1976 lần lượt là 43%, 45% thì đến năm 2003 các tỷ lệ này là 61%, 59%. (1) Vì vậy, việc giám sát sức khỏe, đưa ra những cảnh báo kịp thời có ý nghĩa vô cùng to lớn. Trên cơ sở đó, ý tưởng thiết kế một hệ thống để theo dõi và đưa ra cảnh báo về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân tim mạch đã được nhóm hình thành. Đối tượng mà hệ thống này hướng đến là bệnh nhân tim mạch cần được theo dõi tình trạng hoạt động của tim một cách sát sao. Bệnh tim mạch là một nhóm bệnh mãn tính gồm có các bệnh sau:  tăng huyết áp, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não…Điểm nổi bật trong phương pháp điều trị bệnh mãn tính là áp dụng những chế độ kiểm soát bệnh lâu dài, kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh trong việc áp dụng các chế độ điều trị: theo dõi bệnh, chế độ sinh hoạt, tập luyện, điều chỉnh thuốc. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã nghĩ đến việc đưa ứng dụng của internet vào hệ thống nhằm mục đích giúp bác sĩ theo dõi bệnh nhân được thuận tiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức

Luận văn tốt nghiệp BSCK2 Nguyễn Văn Thưởng T62015 Bệnh Viện Việt Đức ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong các loại ung thư phổ biến trên thế giới 1, với hơn 90% là ung thư biểu mô (UTBM). Trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc UTDD thuộc hàng cao. Tại bệnh viện Việt Đức, trong nhiều năm qua, số bệnh nhân (BN) được phẫu thuật do UTDD đứng hàng đầu trong số các loại ung thư đường tiêu hóa. Cho tới nay, phương pháp điều trị UTDD bằng phẫu thuật vẫn là lựa chọn hàng đầu khi khối u vẫn còn khả năng cắt bỏ. Các biện pháp khác như hóa chất, miễn dịch, xạ trị… chỉ được coi là những phương pháp điều trị hỗ trợ tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và giai đoạn bệnh. Trên thế giới, trong những năm gần đây, với việc ứng dụng phương pháp phẫu thuật nội soi (PTNS) trong điều trị UTDD đã có những tiến bộ vượt bậc với những ưu điểm của loại hình phẫu thuật này là không thể phủ nhận 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16. Tại Việt Nam, PTNS điều trị UTDD cũng đã được thực hiện từ năm 2004 và cho tới nay đã đạt được số lượng BN được PTNS cũng như kết quả rất đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố về loại hình phẫu thuật này 17, 18, 19, 20, 21, 22… Do đa số bệnh nhân UTDD ở nước ta đến viện khám thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, số BN được phát hiện UTDD ở giai đoạn sớm còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề đặt ra là tính khả thi của PTNS liệu có thể áp dụng cho tất cả những trường hợp UTDD từ giai đoạn sớm đến giai đoạn tiến triển đã có di căn hay chỉ áp dụng cho một số trường hợp nhất định. PTNS để điều trị UTDD đến giai đoạn nào là đảm bảo an toàn và triệt căn? kết quả điều trị thực tế ra sao? Cho đến nay, vẫn còn một số ý kiến quan ngại rằng, loại hình phẫu thuật này không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của phẫu thuật ung thư, đặc biệt là khả năng nạo vét hạch rộng rãi và lấy bỏ khối u nguyên vẹn. Thêm vào đó, thời gian mổ bằng nội soi thường kéo dài hơn so với mổ mở, phẫu thuật viên (PTV) phải là người có kinh nghiệm mổ nội soi mới có thể thực hiện tốt được loại hình phẫu thuật này. Trên cơ sở thực tế đó, với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ tính khả thi của PTNS để điều trị UTDD ở giai đoạn tiến triển, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức với mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu. 2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô dạ dày giai đoạn tiến triển tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn từ tháng 062010 đến tháng 62014.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG BÀI THUỐC TIỀN LIỆT TUYẾN THANH ĐIỀU TRỊVIÊM MÃN TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG BÀI THUỐC TIỀN LIỆT TUYẾN THANH ĐIỀU TRỊVIÊM MÃN TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

- Tiêu chuẩn chẩn đoán (Tham khảo “Tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị Trung y ngọaikhoa” (ZY/T001.2-94)).+ Tiểu tiện bất thường: Số lượng, số lần thay đổi, màu sắc (vàng, đục, đỏ), tiểu tiệnđau hoặc cuối bãi nhỏ giọt.+ Đau xương mu hoặc thắt lưng, một số trường hợp lan xuống vùng bìu, đùi.+ Rối loạn chức năng sinh dục: Xuất tinh sớm, di tinh, hoạt tinh, có thể suy giảm tìnhdục hoặc khó có con.+ Rối loạn chức năng thần kinh: Mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu, mất ngủ, ngủ mơ.+ Một số khó chịu ở vùng hậu môn.+ Khám trong tiền liệt tuyến to hơn bình thường, mật độ chắc, ấn đau.+ Xét nghiệm dịch tiền liệt tuyến có bạch cầu > 10, tinh thể tiền liệt tuyến giảm (đây làtiêu chuẩn trong phần chẩn đoán).- Tiêu chuẩn loại trừ:+ Tuổi > 50 tuổi hoặc + Có bệnh tòan thân kèm theo.+ Có phản ứng với thuốc nghiên cứu.+ Không hợp tác với thầy thuốc.- Tiêu chuẩn phân loại nặng nhẹ: Dựa vào khám lâm sàng và dịch tiền liệt tuyến đểcho điểm. Sau tổng hợp lại ta có kết quả:+ Loại nhẹ + Loại vừa 14-25 điểm.+ Loại nặng > 25 điểm.- Tiêu chuẩn Y học cổ truyền: Dựa trên chứng trạng lâm sàng, rêu lưỡi, mạch. Có thể chialàm 6 thể: thấp nhiệt, huyết ứ, tì hư, thận âm hư, thận dương hư, thận âm dương lưỡng hư.2- Chúng tôi chỉ nghiên cứu thể thấp nhiệt huyết ứ.2.2. Bài thuốc nghiên cứu
Xem thêm

5 Đọc thêm

Lựa chọn statin trong điều trị rối loạn lipid máu

Lựa chọn statin trong điều trị rối loạn lipid máu

Các statin được xem là lựa chọn hàng đầu trong điều trị bệnh rối loạn mỡ máu ở đa số bệnh nhân mắc bệnh lý mạch vành và ở những người có nguy cơ xơ vữa động mạch. Các statin đều giống nhau về cơ chế tác dụng, tuy nhiên, có sự khác biệt về các đặc tính dược động học và dược lực học có thể ảnh hưởng tới việc lựa chọn trong sử dụng trên lâm sàng. Bài viết cung cấp một số nội dung cần xem xét khi lựa chọn một statin để điều trị rối loạn lipid máu như: mục tiêu hạ cholesterol cần đạt được của bệnh nhân, tương tác thuốc, các bệnh mắc kèm, một số yếu tố khác liên quan sử dụng thuốc bệnh nhân (chi phí, thuận tiện sử dụng..).
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề