TÀI LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐẢNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÀI LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐẢNG":

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG

Đọc thêm

ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ( 1974-2014)

ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ( 1974-2014)

23.Vũ Quang Hiển (2007), Phương pháp nêu vấn đề trong dạy và học Lịch sửĐảng, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1. In lại trong sách Về phương pháp nghiêncứu, biên soạn và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lí luậnchính trị, Hà Nội, 200824. Vũ Quang Hiển, Ngô Đăng Tri…(2010), Đảng Cộng sản Việt Nam – 80 nămxây dựng và trường thành, Nxb CTQG, Hà Nội25.Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại, NxbGiáo dục Việt Nam, Hà Nội26.Nguyễn Văn Khánh (1991) Sử học và đổi mới hay là đổi mới sử học (viếtchung). Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4, Hà Nội27. Nguyễn Văn Khánh (2003) Vài suy nghĩ về nghiên cứu cơ bản trong khoa hocxã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia HàNội, số 1, Hà Nội28. Nguyễn Văn Khánh (2010) Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở ViệtNam hiện nay: Thực trạng và triển vọng. TC Nghiên cứu con người, Số 1 (46),tr.40-46.29. Khoa Lịch sử (2000), Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995-2000), NXBChính trị Quốc gia, Hà Nội,30. Khoa Lịch sử (2001), Khoa Lịch sử 45 năm xây dựng và phát triển (19562001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội31. Khoa Lịch sử (2006), Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001-2006), NXBChính trị Quốc gia, Hà Nội32. Khoa Lịch sử (2006), Sách vàng 50 năm Khoa Lịch sử ; Danh sách sinh viên,học viên cao học, nghiên cứu sinh 1956-200633. Khoa Lịch sử (2008), 55 năm ấy, Nxb Thế giới, Hà Nội34. Khoa Lịch sử (2011), Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), NXBThế giới, Hà Nội35.Đỗ Thị Thanh Loan (2010) Giáo dục Việt Nam thời kỳ 1945-1954 (viếtchung), Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba “ViệtNam hội nhập
Xem thêm

16 Đọc thêm

BÀI GIẢNG điện tử LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG LÃNH đạo GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG và TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (1945 1954)

BÀI GIẢNG điện tử LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG LÃNH đạo GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG và TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (1945 1954)

BÀI GIẢNG LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, CÁC CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC THIẾT KẾ SLIDE ĐƠN GIẢN, DỄ NGHE, DỄ HIỂU, CẤU TRÚC SLIDE THEO NỘI DUNG GIÁO ÁN CỦA BÀI HỌC. MỖI CHUYÊN ĐỀ THƯỜNG CÓ 25 ĐẾN 30 SLIDE. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO GIÁO VIÊN VÀ SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở BẬC CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỌC

Đọc thêm

sáng kiến kinh nghiệm: giải pháp sử dụng tài liệu tham khảo vào dạy học lịch sử lớp 12

sáng kiến kinh nghiệm: giải pháp sử dụng tài liệu tham khảo vào dạy học lịch sử lớp 12

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến a. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến: Xuất phát từ chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục của Đảng và Nhà nước hiện nay: Định hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đã được xác định cụ thể trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (121996), trong Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, được thể chế hóa trong các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong Nghị quyết số 29 NQTW của BCH trung ương 8 khóa XI nêu rõ: Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học môn Lịch sử nói riêng là hướng vào hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, chống lại lối dạy đọc chép, thói quen học tập thụ động. Như vậy việc lựa chọn và sử dụng tài liệu trong hoạt động dạy học của giáo viên làm phong phú bài giảng, thu hút học sinh học tập cũng là một trong những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Xuất phát từ vai trò của việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử: Đặc trưng riêng biệt của bộ môn Lịch sử là học sinh không thể trực tiếp nhìn thấy những sự kiện đã qua, cho nên trong giai đoạn nhận thức cảm tính của mình các em không thể có cảm giác và tri giác về sự kiện. Vì vậy giáo viên phải tìm cách dạy như thế nào để cho học sinh cảm thấy thích học lịch sử và đạt được hiệu quả cao. Muốn cho học sinh hiểu và hứng thú hơn trong việc học lịch sử thì giáo viên phải sử dụng thêm những tài liệu ngoài sách giáo khoa như: Tư liệu lịch sử, Văn học, kiến thức liên môn... vào hoạt động dạy học lịch sử, giúp học sinh nắm được bản chất nhân vật, sự kiện lịch sử một cách cụ thể hơn qua đó khơi dậy lòng yêu mến môn Lịch sử, hình thành tri thức, năng lực cho học sinh. Đây là một biện pháp tối ưu cho phát triển giáo dục. Qua hơn mười năm đứng lớp, chúng tôi có điều kiện dự giờ nhiều đồng nghiệp ở các đơn vị khác nhau và rút ra được một số kinh nghiệm mà bản thân chúng tôi cho là rất quý giá: khi đưa thêm tài liệu tham khảo vào giảng dạy Lịch sử rất gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu bài. Điều này cũng đã được nhiều đồng nghiệp thừa nhận. Từ kinh nghiệm này, nhiều giáo viên đã bước đầu mạnh dạn đưa thêm tài liệu tham khảo vào trong bài giảng nhằm minh họa cho một số sự kiện Lịch sử. Những tiết học như vậy trở nên sinh động hẳn. Khi giáo viên bổ sung thêm tài liệu tham khảo cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú. Sau tiết học, nhiều em còn nhờ thầy, cô giáo đọc để chép vào sổ tay. Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. b. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến Trên cơ sở khẳng định vai trò ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu tham khảo, sáng kiến nhằm đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên thực hiện việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh. Giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử, giảm bớt số lượng học sinh yếu kém trong nhà trường và phát huy năng lực của học sinh khá giỏi nắm chắc kiến thức lịch sử, hiểu sâu sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và để học sinh tin rằng Lịch sử là cái có thật đã xảy ra trong quá khứ. Từ đó, nâng cao hiệu quả của bộ môn. Đặc biệt là môn Lịch sử lớp 12. 3. Mô tả sáng kiến a. Mô tả giải pháp trước khi áp dụng sáng kiến Ưu điểm Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử, giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh thông qua việc kết hợp các phương pháp dạy học và việc thực hiện các hoạt động tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm của nhân vật, địa điểm lịch sử. Kết hợp các đồ dùng, phương tiện dạy học khai thác trong bài học khá phù hợp. Giáo viên của đơn vị đã vận dụng các hình thức tổ chức dạy học cá nhân nhóm tương đối thành thạo. Từ đó giúp học sinh đã tiếp thu kiến thức cơ bản của lịch sử dân tộc và thế giới. Về phía học sinh: một bộ phận các em học sinh có sự chuẩn bị bài ở nhà như việc học bài cũ, đọc và nghiên cứu bài mới, đã biết tự tóm tắt nội dung bài và trả lời câu hỏi mỗi mục trong bài mới; khi đến lớp chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ, trả lời các câu hỏi và thực hiện các hình thức tổ chức giáo viên đưa ra. Về cơ bản các em đã biết cách học tập bộ môn Lịch sử. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Trong thời kì hội nhập hiện nay tràn ngập trên thị trường rất nhiều sách tham khảo, nhiều nguồn tài liệu lịch sử trên mạng intơnét nhưng việc tìm được tài liệu chính thống có giá trị lịch sử và phù hợp với việc tham khảo và sử dụng trong chương trình lịch sử phổ thông là rất khó. Bởi lẽ tài liệu thì nhiều, nhưng nhiều tài liệu mỗi nguồn lại nói khác nhau. Nên việc lựa chọn và tìm tài liệu tham khảo chính thống để sử dụng là rất khó đối với giáo viên lịch sử, trong đó bản thân chúng tôi cũng gặp khó khăn này. Còn nhiều học sinh thiếu sự quan tâm tâm của gia đình. Phụ huynh còn coi việc giáo dục trong học tập là trách nhiệm của nhà trường, của ngành giáo dục. Họ chưa nhận thức được vai trò quan trọng của môn học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Một số phụ huynh khác thì lại hướng cho con mình học theo các môn khoa học tự nhiên nhằm tìm kiếm cơ hội cao hơn, tốt hơn, dễ hơn để sau tốt nghiệp cấp trung học, thi vào đại học. Một số học sinh còn có thái độ xem nhẹ môn Lịch sử, các em thường xuyên không tự học ở nhà, trên lớp chưa tích cực tham gia vào bài học; một số em thì có phương pháp học tập chưa khoa học; hơn nữa môi trường sống của các em chủ yếu ở thôn bản xa, lại thêm điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, nên thường xuyên phải đi làm phụ giúp gia đình; không có điều kiện và thời gian học tập. Vì vậy các em còn thụ động trong việc học tập lịch sử.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG điện tử LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM RA đời , bài học LỊCH sử THỜI kỳ THÀNH lập ĐẢNG

BÀI GIẢNG điện tử LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM RA đời , bài học LỊCH sử THỜI kỳ THÀNH lập ĐẢNG

Một trăm năm giặc Pháp cướp quê hương  Mỗi gốc cao su một thây người yêu nước  New Guinea, Reunion, những tử tù lê bước  Máu da vàng nhuộm đỏ đất Châu Phi ...ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG NGẪU NHIÊN, ĐÓ LÀ TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ, TỪ CHÍNH TRONG PHONG TRÀO CÔNG NHÂN, YÊU NƯỚC KẾT HỢP VỚI CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN

Đọc thêm

Tài liệu về Lịch sử văn minh thế giới

Tài liệu về Lịch sử văn minh thế giới

BÀI MỞ ĐẦU I. Khái niệm văn hóa, văn minh và một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về văn hóa a. Khái niệm về văn hoá của UNESCO “Văn hóa phải được xem như một tập hợp những nét khác biệt, về vật chất và tinh thần, về trí tuệ và cảm xúc, làm rõ một nét xã hội hay một nhóm xã hội; ngoài nghệ thuật và thơ văn, văn hóa bao hàm phong cách sống, cách chung sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”. b. Kh¸i niÖm văn ho¸ cña Hå ChÝ Minh “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” c. Khái niệm văn hoá của GS.Trần Ngọc Thêm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. 2. Mét sè kh¸i niÖm liªn quan ®Õn vĂn ho¸ a. Văn minh Văn minh lµ sù tæng hoµ nh÷ng thµnh qu¶ vËt chÊt vµ tinh thÇn cña con ng¬­êi trong qu¸ tr×nh c¶i t¹o thÕ giíi, lµ th­¬íc ®o cña sù tiÕn bé vµ møc ®é khai ho¸ cña con ng¬­êi. b. Kh¸i niÖm văn hiÕn Văn hiÕn lµ truyÒn thèng văn ho¸ l©u ®êi vµ tèt ®Ñp, văn hiến lµ những gi¸ trÞ tinh thÇn do những ng¬­êi cã tµi, ®øc chuyÓn t¶i thÓ hiÖn tÝnh d©n téc, tÝnh lÞch sö râ rÖt. B¶ng so s¸nh: Văn vËt Văn hiÕn Văn ho¸ Văn minh Thiªn vÒ gi¸ trÞ vËt chÊt Thiªn vÒ gi¸ trÞ tinh thÇn Chøa c¶ gi¸ trÞ vËt chÊt lÉn tinh thÇn Thiªn vÒ gi¸ trÞ vËt chÊt – kü thuËt Cã bÒ dµy lÞch sö chØ trình ®é ph¸t triÓn Cã tÝnh d©n téc Cã tÝnh QT G¾n bã nhiÒu h¬n víi ph¬¬ng ®«ng n«ng nghiÖp G¾n bã nhiÒu h¬n víi ph¬¬ng t©y ®« thÞ à Với khái niệm trên, lịch sử loài người bắt đầu từ đâu thì đó cũng chính là điểm khởi phát của lịch sử văn hóa. Văn hóa cũng có trước văn minh, văn hóa phát triển đến một trình độ nào đó thì văn minh mới ra đời. Văn minh xuất hiện dựa trên quá trình tích lũy những sáng tạo văn hóa, song một khi văn minh đã ra đời lại thúc đẩy văn hóa phát triển trên cơ sở của văn minh.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu lịch sử Những nhận thức mới

Nghiên cứu lịch sử Những nhận thức mới

đây là tập những bài nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về các lĩnh vực Lịch sử, văn hóa, việt nam học, nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử việt nam, lịch sử thế giới, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam.

Đọc thêm

Những vấn đề về lý luận về sử học

Những vấn đề về lý luận về sử học

đây là tập những bài nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về các lĩnh vực Lịch sử, văn hóa, việt nam học, nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử việt nam, lịch sử thế giới, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam.

Đọc thêm

Luận văn: Sử dụng tư liệu gốc phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) để biên soạn sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở sau năm 2015

LUẬN VĂN: SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI (THẾ KỈ XVI – GIỮA THẾ KỈ XIX) ĐỂ BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ TRUNG HỌC CƠ SỞ SAU NĂM 2015

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, nên vấn đề này được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Trong “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 -2020” khẳng định: tiếp tục phấn đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta phát triển thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị, xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận….Để làm được điều đó chiến lược nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học và công nghệ”[65;8]. Chúng ta hướng tới đào tạo ra những con người mới năng động, sáng tạo, có năng lực tự giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Con người đó được trang bị kiến thức trong các lĩnh vực, có kĩ năng và khả năng học tập suốt đời. Ở cấp THCS (Trung học cơ sở), mỗi môn học đều góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục mà Đảng đề ra. Bộ môn Lịch sử ở trường THCS là môn học với đặc trưng có ưu thế và sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ bởi lịch sử không chỉ là quá khứ mà còn là kết tinh giá trị các thế hệ trước để lại và thế hệ sau cần tiếp nối và phát huy. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho HS (học sinh) hệ thống tri thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới với các sự kiện cụ thể, nhằm dựng lại cho HS bức tranh quá khứ của xã hội loài người đã xảy ra. Môn Lịch sử có tác dụng lớn trong việc phát triển tư duy của HS, đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức. Bản thân kiến thức lịch sử tự thân đã mang trong mình tính giáo dục cao cho HS về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tình cảm. Do vậy, bộ môn Lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần nhân văn – những giá trị dễ bị xói mòn trong cuộc sống hiện đại. Môn Lịch sử có tầm quan trọng như vậy nhưng hiện nay chất lượng bộ môn Lịch sử đang dần giảm sút. Muốn khắc phục và giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GV (giáo viên) và đổi mới chương trình, SGK (sách giáo khoa). Từ đó đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng đất nước, tiếp cận và học hỏi trình độ giáo dục của các nước trên thế giới. SGK là tài liệu cơ bản trong học tập của HS, là quy định về mức độ kiến thức, kĩ năng HS cần đạt để giáo dục HS. Là thước đo phản ánh trình độ văn hóa, khoa học của đất nước. SGK Lịch sử hiện nay có nhiều ưu điểm về nội dung và hình thức. Về cơ bản SGK cung cấp đủ hệ thống tri thức lịch sử cho HS, song nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. CT (cấu tạo) SGK hiện nay gồm: bài viết và cơ chế sư phạm, trong đó chủ yếu là phần bài viết, còn lại phần kênh hình, tư liệu, câu hỏi và bài tập còn ít, mang tính chất minh họa là chủ yếu. Tư liệu lịch sử nói chung và TLG (tư liệu gốc) nói riêng trong sách là còn hạn chế, chưa phon
Xem thêm

128 Đọc thêm

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng của Người về Đảng cộng sản Việt Nam là một trong những bộ phận quan trọng nhất. Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Quyết định nói trên chứng tỏ cho tới nay thực tiễn đã và đang khẳng định những di sản tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chính đảng của giai cấp vô sản vẫn là những nguyên lý, lý luận cơ bản để xây dựng Đảng cộng sản thành một đảng cách mạng chân chính, làm nhiệm vụ tiên phong trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phong xã hội, giải phóng con người. Nhưng chính các ông cũng chỉ ra là không phải mọi vấn đề lí luận đã được giải quyết xong xuôi, học thuyết của các ông mới chỉ lànhững viên gạch xây nền móng mà các thế hệ tiếp sau phải có trách nhiệm phát triển. Trong thời đại ngày nay cho dù tình hình thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có nhiều thay đổi lớn thì tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và về cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Nó là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng toàn dân, là cơ sở khoa học lý luận để Đảng và nhân dân ta hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đổi mới đất nước, mà kinh tế là trọng tâm xây dựng Đảng là then chốt. Chính vì nhân dân cần một Đảng cách mạng chân chính dẫn đường mà sự lãnh đạo của Đảng được xác định như là một tất yếu lịch sử, một nhân tố quyết định làm nên mọi thắng lợi. Song cũng chính vì sự đòi hỏi khách quan ấy mà Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và chỉnh đốn bản thân mình. Đổi mới, chỉnh đốn bao giờ cũng phải coi là điều kiện cần và đủ để đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây thực sự là vấn đề than chốt đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới của nước ta Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng rất phong phú sâu sắc, do đó việc nghiên cứu nó là vô cùng quan trọng va cần thiết, nhưng người nghiên cứu đề tài này tự biết sức mình còn hạn chế. Song với quy mô là một tiểu luận, tác giả mong muốn trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam . Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam . Nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận khoa hoc của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với sưu tầm tài liệu, học hỏi các chuyên gia va các thây cô giáo giảng dậy. Kết cấu của đề tài được chia làm ba phần chính, gồm 3 chương cùng với hệ thống các khái niệm phạm trù, tạo nên một kết cấu hoàn chỉnh giúp cho bạn đọc hiểu được một cách khái quát nhất và cô đọng những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

Những vấn đề chung về công tác văn thư trong các cơ quan

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC VĂN THƯ TRONG CÁC CƠ QUAN

I. Nguyên tắc quản lý công tác lưu trữ Theo quan điểm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, tài liệu lưu trữ được xem là tài sản của toàn dân, vì vậy cần được nhà nước quản lý tập trung thống nhất. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể như sau: 1. Quản lý tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa dân tộc, là tài sản quốc gia nên cần có sự quản lý thống nhất của nhà nước. Theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia 2001, tài liệu lưu trữ quốc gia là những tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn. Cũng theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, toàn bộ tài liệu lưu trữ quốc gia được tập hợp lại thành Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam do cơ quản của Đảng và Nhà nước thống nhất quản lý. Hiện nay, Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam gồm hai phông lớn: Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam và Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam. Trong đó, Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam do Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng quản lý và Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (trực thuộc Bộ Nội vụ) quản lý. Tuy nhiên, hai phông này đều chịu sự điều chỉnh chung của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lưu trữ như: Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia 2001; Nghị định 1112004NĐCP của Chính phủ ngày 08 tháng 4 năm 2004 quy định thi hành chi tiết một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia; Các thông tư hướng dẫn như: Thông tư số 302004TTBTC ngày 0742004 của Bộ Tài chính hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ… Nói cách khác, toàn bộ tài liệu lưu trữ của các cơ quan thuộc Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam cho dù được bảo quản ở lưu trữ lịch sử, lưu trữ cố định hay lưu trữ hiện hành đều chịu sự quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước. Theo Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, trong thời gian tới cần có một cơ quan lưu trữ quốc gia quản lý tập trung thống nhất toàn bộ tài liệu của Đảng và Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước (Điều 3). 2. Quản lý tập trung thống nhất về tổ chức và nghiệp vụ lưu trữ Để quản lý tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ, cần phải thiết lập một hệ thống các cơ quan lưu trữ từ trung ương tới địa phương bao gồm: các cơ quan quản lý ngành lưu trữ và mạng lưới các kho, các trung tâm lưu trữ. Hệ thống các cơ quan quản lý ngành lưu trữ ở Việt Nam bao gồm: + Đứng đầu là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (thuộc Bộ Nội vụ): Đây là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn thư, lưu trữ và quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam theo quy định của Pháp luật. + Cơ quan, bộ phận phụ trách công tác lưu trữ ở các Bộ, ngành và các địa phương được tổ chức thống nhất theo các văn bản hướng dẫn của Nhà nước. Trước đây, theo Thông tư số 401998TTTCCP ngày 20 tháng 01 năm 1998 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) thì tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ thành lập các Phòng Lưu trữ. Phòng Lưu trữ Bộ,
Xem thêm

15 Đọc thêm

LUẬN văn đảng bộ tỉnh nam định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011

LUẬN văn đảng bộ tỉnh nam định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, thanh niên luôn được xem là rường cột và tương lai của đất nước. Thanh niên luôn là lực lượng xung kích trong các cuộc đấu tranh cách mạng, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Thanh niên có trong mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Họ ở trong độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Song, thanh niên cũng chứa đựng rất nhiều vấn đề phức tạp: do độ tuổi còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, lại không phải là một khối thuần nhất; từ đó đòi hỏi phải được quan tâm, định hướng và chăm lo giải quyết. Thanh niên rất cần sự giúp đỡ của các thế hệ đi trước và toàn xã hội. Họ là lớp đối tượng chưa từng trải nên dễ hoang mang dao động trước khó khăn, dễ bị kích động, nhẹ dạ cả tin, tiếp nhận thông tin ít chọn lọc, tạo nên yếu tố tiêu cực trong cuộc sống. Họ đang ở độ tuổi năng động, hăng hái, sôi nổi, nhiệt tình song cũng dễ sa vào trạng thái cực đoan, chạy theo lối sống thực dụng. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng: không phải thời đại nào sức mạnh thanh niên cũng được phát huy một cách cao nhất mà nó phụ thuộc vào sự tiến bộ trong nhận thức và chính sách, chủ trương của lãnh đạo thời kỳ đó. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng luôn đề cao vai trò, vị trí của thanh niên, coi công tác thanh niên là nhiệm vụ sống còn của Đảng và dân tộc. Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thanh niên thành lực lượng hùng hậu, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng. Dù bất cứ hoàn cảnh nào các thế hệ thanh niên đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình.Thực tế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quán triệt tới tận các cấp ủy địa phương nhằm phát huy vai trò làm chủ to lớn của thanh niên. Trên tinh thần chỉ đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh Nam Định bằng nhiều hình thức, ph¬ương pháp khác nhau đã thu hút thanh niên đi đầu trong việc thực hiện thắng lợi chiến l¬ược phát triển kinh tế xã hội. Công tác thanh niên của tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt về nội dung và hình thức sinh hoạt. Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn nhiều hạn chế: Công tác thanh niên còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp bởi vì: thanh niên đi làm ăn nhiều, ít tham gia vào các hoạt động của tổ chức; hình thức sinh hoạt chư¬a đ¬ược th¬ường xuyên; đội ngũ cán bộ lãnh đạo ít đ¬ược đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ nên hoạt động của công tác thanh niên chưa đạt được hiệu quả cao. Là một người con sinh ra trên mảnh đất Thành Nam, nhằm góp phần làm cho công tác thanh niên thêm sôi động và phong phú, mặc dù còn nhiều khó khăn trong công tác thu thập tài liệu nhưng tôi vẫn quyết định chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011 làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAY

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAY

Bài tập lớn môn tư tưởng Hồ chí Minh : QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAYA.MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiĐảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng là kim chỉ nam đưa đất nước ta lên Chủ nghĩa Cộng sản, vạch ra con đường đi đúng đắn cho tổ quốc ta. Do đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là không thể thiếu đối với toàn dân tộc. Vì vậy nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: tư tưởng Hồ chí Minh về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao hiểu biết về Đảng.2.Khái quát sự ra đời của ĐảngGiữa lúc cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước vào năm 1911 Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước Người đã qua nhiều nơi trên thế giới vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng và khi cuộc cách mạng tháng Mười Nga diễn ra đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng của Người với lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin. Từ đó Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc.Chủ nghĩa Mác Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào phong trào quần chúng và phong trào công nhân, làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập: Ngày 1761929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ. Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Ngày ll1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.Đến ngày 321930, ba đảng đã hợp lại thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Xem thêm

Đọc thêm

Bai thi lich su dang

Bai thi lich su dang

Nói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảng

Đọc thêm

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

Điều có ý nghĩa quyết định của Đảng cầm quyền đối với Nhà nước là đưa tư tưởng của Đảng thâm nhập vào chính sách, quyết sách của Nhà nước. Con đường cơ bản để dảng cầm quyền củng cố, duy trì vị trí cầm quyền của mình là người đại diện cho Đảng cầm quyền đang giữ vai trò lãnh đạo trong bộ máy cơ quan Nhà nước phải thực hiện các chương trình hành động cũng như làm tròn trách nhiệm đối với các cam kết của mình trong chiến dịch tranh cử (đối với các nước tư bản) và trong việc bầu cử đại biểu quốc hội (ở các nước xã hội chủ nghĩa). Nguồn lực để Đảng cầm quyền duy trì hoạt động của mình là công tác đào tạo, sử dụng cán bộ. Công tác này được làm một cách thường xuyên, liên tục, có kế hoạch, hiệu quả và chất lượng cao. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử cách mạng và được xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội Việt Nam đã ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Sự lãnh đạo của Đảng được coi là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng là vấn đề mang tính nguyên tắc và quy định của Cách mạng Việt Nam. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu hướng giao lưu hội nhập thế giới, rất nhiều vấn đề đã và đang được đặt ra đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, nâng cao trình độ năng lực lãnh đạo đất nước. Điều đó có nghĩa hết sức quan trọng trong điều kiện Đảng lãnh đạo tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,vì dân. Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo một cách khẩn trương, kiên quyết, không cứng nhắc, máy móc trong sự phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị, phưong thức lãnh đạo chính trị của Đảng với chức năng quản lý nhà nước chức năng công quyền và phương thức quản lý của nhà nước pháp quyền trên quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ chí minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Là sinh viên khoa Xây dựng Đảng được nghiên cứu đề tài của chuyên ngành em thấy rất hay và cần thiết . Đề tài giúp em có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cả mặt nhận thức và lý luận. Tuy nhiên do sự hạn chế về trình độ kiến thức, tài liệu tham khảo còn hạn hẹp nên bài tiểu luận chắc có nhiều sai sót, nội dung chưa chính xác, phù hợp. Việc đánh máy còn nhiều lỗi chính tả. Em rất mong thầy (cô) giáo thông cảm giúp đỡ, bổ sung những vấn đề còn thiếu xót để bài tiều luận hoàn chỉnh hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng chính trị và tư tưởng tổ chức cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng chính trị và tư tưởng tổ chức cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Các bạn đang muốn tìm kiếm tài liệu Chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng chính trị và tư tưởng tổ chức cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam? Hãy cùng tham khảo bộ sưu tập được chúng tôi tổng hợp và biên tập dưới đây để quý thầy cô giáo và các em học sinh có thêm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập môn Lịch sử.

Đọc thêm

Đề tài :Tìm hiểu nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thông qua tháng 2-1930

Đề tài :Tìm hiểu nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thông qua tháng 2-1930

Đề tài :Tìm hiểu nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thông qua tháng 21930Mở đầu Ngày 321930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và xác lập vai trò lãnh đạo cách mạng; đồng thời, với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái ( 921930), đánh dấu sự chấm dứt ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, xác lập ảnh hưởng của hệ tư tưởng vô sản trong cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu thời đại mới trong lịch sử nước ta, thời đại giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó đứng vị trí trung tâm, kết hợp với phong trào yêu nước và cách mạng, quyết định nội dung, phương hướng phát triển của xã hội Việt Nam. Đây là thời đại nhân dân Việt Nam không chỉ làm nên lịch sử vẻ vang của mình, mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức là xoá bỏ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập, dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội. Tiểu luận môn học của em trình bày về vấn đề Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua trong Hội nghị hợp nhất đã định hướng cho các hoạt động của Đảng trong thời kỳ mới thành lập. Do thời gian và kiến thức có hạn cho nên bài viết không tránh khỏi những thiết sót.Em xin chân thành cảm ơn thầy đã đưa em tiếp cận với kiến thức hay qua môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt NamChương 1 Hoàn cảnh lịch sử và sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam1.Hoàn cảnh ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một đảng cộng sản thống nhất. Sự tồn tại và hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức cộng sản làm cho lực lượng và sức mạnh của phong trào cách mạng bị phân tán. Điều đó không phù hợp với lợi ích của cách mạng và nguyên tắc tổ chức của đảng cộng sản. Ngày 27101929, Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản ở Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương, chỉ rõ: Việc thiếu một Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách mạng ở Đông Dương. Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh: Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương. Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Người chủ động triệu tập đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và An Nam) và chủ trì Hội nghị hợp nhất đảng tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị bắt đầu họp ngày 611930. Tham dự Hội nghị có hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh) và hai đại biểu của An Nam cộng sản Đảng (Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm). Tổng số đảng viên của Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng cho tới Hội nghị hợp nhất là 310 đồng chí. Hội nghị hoàn toàn nhất trí, tán thành việc hợp nhất hai tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng thành một đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng. Nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn ái Quốc viết Lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, học sinh, anh chị em bị áp bức bóc lột hãy gia nhập Đảng, đi theo Đảng để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và tư sản phản cách mạng làm cho nước An Nam được độc lập. Hội nghị cũng vạch kế hoạch hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước và thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Ngày 2421930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời họp và ra Quyết nghị chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.2.Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt NamNhững nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (21930) được Hội nghị thống nhất thông qua là: Về chính trị: Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập,thành lập chính phủ công nông binh tổ chức quân đội công nông.Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái,tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn(công nghiệp,vận tải, ngân hang …)của tư bản chủ nghĩa đế quốc Pháp giao cho chính phủ công nông binh quản lý,tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc làm của công chia cho dân nghèo cày cấy,bỏ sưu thuế cho dân nghèo,mở mang công nghiệp và nông nghiệp thi hành luật ngày làm 8 tiếng.Về văn hóa –xã hội:Dân chúng được tự do tổ chức nam nữ bình đẳng,phổ thông giáo dục theo công nông hóa.Về lực lượng cách mạng:Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng,đánh đổ bọn địa chủ và phong kiến,phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia phải hết sức kiên lạc với tiểu tư sản trí thức,trung nông,thanh niên…để kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản.Về lãnh đạo cách mạng:Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng việt nam.Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình,phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng trong khi lien lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:Cách mạng Việt Nam là 1 bộ phận của cách mạng thế giới phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới,nhất là giai cấp vô sản Pháp.Chương 2: Vận dụng đánh giá và kết luận bài học kinh nghiệm từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên 31930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam đánh dấu bước chuyển mình trong tư duy nhận thức của những người lãnh đạo. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam.Cương lĩnh ra đời đã đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc,điều quan trọng nhất là nó phù hợp với tình hình hoàn cảnh của đất nước ta trong thời kì đó. Cách mạng Việt Nam từ đây có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về con đường cứu nước: “Từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vương, phong trào yêu nước ba mươi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái… nhưng không thành công vì thiếu một đường lối đúng”. “Năm 1930, kế thừa “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt Nam”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng và cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để khẳng định sự đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh dấu bước phát triển vế chất của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, chính lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá trình tìm con đường giải phóng dân tộc.Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước . Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên CNXH của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Tài liệu tham khảo Bộ GDĐT(1992)Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí MinhKhoa Lịch sử Đảng(1995), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương(1977), Văn kiện Đảng 19301935, Hà Nội
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương phương pháp luận sử học

Đề cương phương pháp luận sử học

ĐỀ CƯ¬ƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC 1. Tên môn học: PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC (Dùng cho Cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN) 2. Tổng số đơn vị học trình: 3 (45 tiết) Trong đó: Hướng dẫn, giới thiệu trên lớp: 30 tiết Thảo luận theo tổ hoặc nhóm: 10 tiết Thi viết: 5 tiết 3. Bộ môn phụ trách: Viện Lịch sử Đảng Giảng viên viết đề cương: PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc PGS,TS Trần Thị Thu Hương 4. Vị trí của môn học: Học phần Phương pháp luận sử là môn học đầu tiên trang bị phương pháp luận khoa học lịch sử cho học viên trước khi học viên học tập chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 5. Mục tiêu và yêu cầu của môn học: Mục tiêu: + Về tri thức: Giỳp cho Học viờn nắm vững hệ thống cỏc vấn đề cơ bản của phương pháp luận sử học, bao gồm: Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử; cỏc phương phỏp và nguyờn tắc nghiờn cứu sử học; phõn kỳ lịch sử; cụng tỏc sử liệu trong nghiờn cứu lịch sử… + Kỹ năng: Trờn cơ sở những vấn đề chung của phương phỏp luận sử học, vận dụng vào việc nghiờn cứu, giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. + Tư tưởng, tỡnh cảm: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê nghiên cứu khoa học, quỏn triệt sõu sắc cỏc vấn đề cơ bản của phương phỏp luận sử học trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ của học viên: Học viên phải đọc, nghiên cứu trư¬ớc giáo trình, đề cư¬ơng bài giảng, tài liệu tham khảo, ghi chép, tích cực chuẩn bị ý kiến, chủ động đề xuất các vấn đề trong quá trình nghe giảng, thảo luận. Chuẩn bị các nội dung thảo luận, đọc và sưu tầm các tư¬ liệu có liên quan đến bài giảng theo yêu cầu và hư¬ớng dẫn của giảng viên. 6. Nội dung môn học : Bài 1 ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ VÀ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM I. ĐỐI TƯỢNG CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ 1. Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của sử học thời cổ đại, phong kiến và tư bản chủ nghĩa Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những quan niệm về đối tượng sử học khác với nhận thức lịch sử của con người thời kì nguyên thuỷ. Mọi sự việc, hiện tượng được nghiên cứu của con người thời cổ đại đều phụ thuộc vào quan niệm nhận thức của giai cấp thống trị (chủ nô). Nó được biểu hiện trong các loại biên niên sử, tiểu sử, tự truyện, biện luận lịch sử ở các nước cổ đại phương Đông và phương Tây. Thấm nhuần hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sử học phong kiến xem hiện tượng lịch sử là kết quả sự can thiệp sức mạnh của Trời vào đời sống cong người: quá trình lịch sử do ý Trời định đoạt. Bắt đầu từ những nhà sử học thời Phục hưng nước Pháp, sử học của giai cấp tư sản đang lên đã quan niệm được “đối tượng đặc biệt của lịch sử là con người và những sự vật quan hệ đến con người”. Bên cạnh việc lấy các hoạt động chính trị của loài người trong quá khứ làm đối tượng nghiên cứu, họ còn mở rộng ra các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. 2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về đối tượng của sử học Mác và Ăngghen đã hoàn thành quan niệm duy vật về lịch sử và thực sự đã làm một cuộc cách mạng trong khoa học lịch sử. Bởi vì việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, hay nói đúng hơn, sự áp dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật một cách triệt để vào lĩnh vực những hiện tượng xã hội đã loại bỏ được hai khuyết điểm cơ bản của những lí luận lịch sử trước kia. Đối tượng của khoa học lịch sử, theo quan niệm mácxít lêninnít là quá trình phát triển thực tế của xã hội loài người, cũng như từng nước, từng dân tộc trong toàn bộ tính thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu, muôn vẻ của nó. Trên cơ sở quan niệm mácxít lêninnít về đối tượng sử học như vậy, chúng ta tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề thuộc phạm vi đối tượng: + Quy luật phát triển xã hội có phải là đối tượng của sử học hay không? + Những vấn đề thời sự có phải là đối tượng của sử học không? II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ 1. Chức năng của khoa học lịch sử Trước hết là chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức của khoa học lịch sử là miêu tả một cách khoa học hiện thực quá khứ khách quan và trên cơ sở sự miêu tả này mà phân tích, giải thích tính phong phú và đa dạng các hình thức cụ thể của quá trình lịch sử để rồi phát hiện những quy luật về lịch sử xã hội loài người. Lịch sử là tấm gương soi cho các thế hệ sau, nó phản ánh sự cần thiết cần “ôn cố tri tân”, đáp ứng những nhu cầu của xã hội và con người ngày nay. Từ chức năng giáo dục, nêu gương này, sử học có tác dụng rất lớn trong giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm, rèn luyện phẩm chất và dự báo. 2. Nhiệm vụ của khoa học lịch sử Trước hết, khi nghiên cứu vạch ra chính sách và sách lược cách mạng, đảng của giai cấp công nhân tìm trong lịch sử những kinh nghiệm, những hiểu biết cần thiết để lấy câu trả lời cho những vấn đề cấp bách của hiện tại. Sự hiểu biết lịch sử quá khứ một cách sâu sắc là một trong những cơ sở để xác định tính đúng đắn của chính sách, sách lược mà Đảng đề ra. Minh hoạ, chứng minh tính chất đúng đắn, tính thực tiễn khách quan các đường lối, chính sách của Đảng là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học lịch sử. Tri thức lịch sử là một phương tiện giáo dục có hiệu quả về tư tưởng tiến bộ, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho quần chúng. Trong khi góp phần phục vụ nhiệm vụ cách mạng cơ bản nêu trên, những người làm công tác sử học cũng làm cho bản thân khoa học lịch sử phát triển. III. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG 1. Đối tượng nghiên cứu Là một chuyên ngành của khoa học lịch sử, ngoài đối tượng chung, Lịch sử Đảng còn có đối tượng nghiên cứu cụ thể: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Nghiên cứu quy luật ra đời, xây dựng và phát triển của Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức qua các thời kỳ cách mạng. Nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm, những bài học trong quá trình lãnh đạo của Đảng để từng bước làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu, tổng kết làm rõ những truyền thống của Đảng. 2. Chức năng và nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng 2.1. Chức năng của khoa học Lịch sử Đảng: Khoa học Lịch sử Đảng có 2 chức năng cơ bản: Chức năng nhận thức khoa học lịch sử nhằm mục đích phục vụ việc cải tạo xó hội theo đúng quy luật phát triển của xó hội như một quá trỡnh lịch sử tự nhiờn. Chức năng giáo dục tư tưởng chính trị, giải quyết những nhiệm vụ giáo dục niềm tin vào tính tất yếu lịch sử cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. 2.2. Nhiệm vụ của khoa học lịch sử Đảng: Khụi phục, tỏi tạo lại sự thật lịch sử. Làm rừ quy luật lịch sử Tổng kết kinh nghiệm lịch sử từ những thành công và không thành công của Đảng trong quá trỡnh lónh đạo cách mạng. Bài 2 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ I TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ Trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lí luận khoa học, những nhà khoa học đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động bao giờ cũng đứng vững trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác Lênin. Nhưng trong quá trình vận dụng lí luận Mác Lênin, các nhà khoa học mác xít bao giờ cũng tôn trọng sự thật khách quan, chân lí khoa học chứ không phải tiến hành một cách giáo điều, áp đặt một cách máy móc. Tính khoa học là sự phản ánh kết quả nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải đạt đến chân lí khách quan. Tính đảng dựa vào hệ tư tưởng, lí tưởng, mục đích của một giai cấp trong xã hội, đối với nhà khoa học mác xít, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa là cơ sở tư tưởng cho nghiên cứu khoa học. Vì vậy, phải chú trọng đến tính khoa học để có cơ sở vững chắc cho việc nhận thức và thực hiện lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng thời phải nắm vững tính đảng thì mới đạt đến khoa học thực sự. Để đạt được tính khoa học trong quá trình nghiên cứu, phải có ba yếu tố: sự kiện là cơ sở phản ánh hiện thực khách quan; kết luận khoa học được rút ra từ nghiên cứu sự kiện cụ thể và cuối cùng là việc vận dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc đấu tranh thực hiện lí tưởng của giai cấp mình. II. TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU SỬ HỌC Xác định nguyên tắc tính đảng trong nghiên cứu sử học là yêu cầu đầu tiên phải thực hiện. + Trong xã hội có giai cấp, bất cứ nội dung của một khoa học nào đều cũng chịu ảnh hưởng thế giới quan, quan điểm và lợi ích của giai cấp mà nó phụ thuộc. Nhà khoa học thuộc giai cấp nào thường phục vụ lợi ích cho giai cấp ấy. + Chủ nghĩa Mác Lênin nhấn mạnh rằng ngoài tính chất phong phú, đa dạng của đời sống tinh thần xã hội ra, trong mỗi thời đại của lịch sử, tất cả các hình thái của ý thức xã hội đều liên hệ mật thiết với quan hệ kinh tế và giai cấp thống trị lúc bấy giờ và chịu ảnh hưởng của nó. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp, những nhà khoa học đứng trên lập trường của giai cấp công nhân giai cấp tiến bộ nhất trong xã hội, đại diện chân chính nhất quyền lợi và nguyện vọng của toàn thể nhân dân lao động đã phản ánh đúng hiện thực khách quan của quá trình phát triển của xã hội, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử. Vì vậy, những người làm công tác khoa học muốn nhận thức được chân lí khách quan dứt khoát phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, thể hiện rõ tính giai cấp vô sản, không có sự lựa chọn nào khác. + Tính đảng cộng sản thể hiện việc công khai bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản giai cấp tiên tiến nhất và của quần chúng nhân dân lao động. Tính đảng mác xít là cơ sở cho phép các nhà khoa học xã hội, trong đó có các nhà sử học nhận thức được một cách khách quan, đầy đủ mối quan hệ giữa các thời kì, phân tích lịch sử một cách sâu sắc, đúng đắn nhất. Tính đảng cộng sản trong sử học mác xít được thể hiện trên một số mặt: + Các nhà nghiên cứu sử học phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản. + Phải nhận thức và vận dụng đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu lịch sử. + Nắm vững các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng trong từng thời kì lịch sử nhất định để vận dụng vào nghiên cứu lịch sử. + Phải thể hiện tính chiến đấu của khoa học lịch sử mác xít trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học. + Phải có tinh thần sáng tạo thể hiện ở việc lựa chọn, kế thừa, tiếp thu những di sản văn hoá tiến bộ của nhân loại, của dân tộc nhưng không rập khuôn, giáo điều, công thức trong nghiên cứu lịch sử … III. SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ Trong xã hội có giai cấp đối kháng, các khoa học xã hội đều có tính đảng. Chúng ta công khai nói rõ tính đảng của mình trong nghiên cứu lịch sử, ngược lại, sử học tư sản thì che dấu tính đảng của mình. Bởi vậy, tính khoa học và tính đảng trong sử học mác xít luôn thống nhất với nhau. Đây là sự thống nhất biện chứng của tính khoa học, thuộc hình thái ý thức xã hội và tính đảng, thuộc hệ tư tưởng. Trong sử học mácxít, mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học thể hiện ở chỗ tính đảng cộng sản là cái bản chất tư tưởng chính trị, có ý nghĩa chỉ đạo phương hướng, bảo đảm cho khoa học phục vụ lợi ích của dân tộc và giai cấp vô sản. Tuy nhiên, ở đây, tính đảng không chỉ giới hạn trong phạm vi xác định lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản, mà còn gắn liền và tác động đến các vấn đề nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học. Chúng ta không thể tách rời tính khoa học ra khỏi tính đảng và ngược lại, bởi vì làm như vậy thì bản thân khoa học sẽ mất hiệu lực và không thể giải quyết những vấn đề quan trọng mà khoa học lịch sử đặt ra. IV. TÍNH ĐẢNG VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng, tính đảng trước hết thể hiện thế giới quan, lập trường, hệ tư tưởng vô sản, khẳng định lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và mang đến cho người học những cơ sở để củng cố niềm tin vào lý tưởng đó; phản ánh đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng, củng cố sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng. Tính khoa học của bài giảng Lịch sử Đảng thể hiện trước hết ở sự trình bày các sự kiện một cách chân thực, khách quan. Tính khoa học của bài giảng Lịch sử Đảng còn thể hiện ở khả năng vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, góp phần phục vụ cho cuộc đấu tranh thực hiện lý tưởng cách mạng giải phóng giai cấp và dân tộc, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Tính đảng biểu hiện tư tưởng của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam phải thể hiện nổi bật mục tiêu chính trị đó, góp phần thực hiện lý tưởng của Đảng. Bài 3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ I PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP LÔGIC 1. Phương pháp lịch sử Khái niệm: Phương pháp lịch sử là nhằm diễn đạt lại tiến trỡnh phỏt triển của lịch sử với muụn màu muụn vẻ, nhằm thể hiện cỏi lịch sử với tớnh cụ thể hiện thực, tớnh sinh động của nó. Đặc điểm của phương pháp lịch sử: + Đi sâu vào tớnh muụn màu muụn vẻ của lịch sử, tỡm ra cỏi đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến và trên cơ sở nắm được những đặc thù, cá biệt đó mà trỡnh bày thể hiện cỏi phổ biến của lịch sử. + Tỡm hiểu cỏi khụng lặp lại bờn cỏi lặp lại. + Theo dừi những bước quanh co, thụt lựi tạm thời... của quỏ trỡnh lịch sử. + Đi sâu vào ngừ ngỏch của lịch sử, đi sâu vào tâm lý, tỡnh cảm của quần chỳng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn diện, hiểu từ cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn xó hội. + Chú ý đến những tên người, tên đất, khụng gian, thời gian cụ thể nhằm dựng lại quỏ trỡnh lịch sử đúng như nó diễn ra. 2. Phương pháp logic Khái niệm: Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng lịch sử, quá trỡnh lịch sử trong hỡnh thức tổng quỏt, nhằm mục đích vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng. Đặc điểm của phương pháp logic: + Phương pháp logic nhằm đi sâu vào tỡm hiểu cỏi bản chất, cỏi phổ biến, cỏi lắp lại của cỏc hiện tượng, các sự kiện + Phương pháp logic có thể bỏ qua những bước quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, chỉ nắm lấy bước phát triển, những cốt lừi của quỏ trỡnh vận động của lịch sử, tức là nắm lấy quy luật của nó. + Nếu phương pháp lịch sử phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, thời gian, tên người, tên đất cụ thể, phương pháp logic chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hỡnh và nắm qua những phạm trự, quy luật nhất định. 3. Sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiờn cứu lịch sử Trong thực tế nghiờn cứu, khụng bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp logic thuần túy tách rời nhau. Trong phương pháp lịch sử không thể không dùng phương pháp logic để làm nổi bật sợi dây logic chủ yếu của sự phát triển lịch sử. Và ngược lại, phương pháp logic không phải chỉ phản ánh một cách thụ động có tính chất chụp ảnh hiện thực khách quan mà là sự phản ánh biết rút ra từ trong lịch sử cái chủ yếu, làm cho cái chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trỡnh lịch sử. Phương pháp lịch sử phải gắn với phương pháp logic mới phản ánh được bản chất, chân lý khách quan của lịch sử. Phải vận dụng đúng đắn cả hai phương pháp thỡ mới cú hiệu cao và tớnh thuyết phục cao. 4. Vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong nghiên cứu lịch sử Đảng Những người làm công tác nghiên cứu lịch sử phải kết hợp một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Trước hết phải chú ý đến những vấn đề sau: + Nghiên cứu lịch sử nói chung cũng như Lịch sử Đảng nói riêng phải khôi phục lại bức tranh chân thực của lịch sử đã diễn ra. + Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ trình bày những thành công, thắng lợi của Đảng, của cách mạng, mà phải trình bày cả những thiếu sót, không thành công trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng, như đã diễn ra trong lịch sử. + Lịch sử lãnh đạo của Đảng không chỉ là sự hoạch định đường lối, chủ trương… mà điều có ý nghĩa quyết định là vai trò tổ chức thực tiễn để đưa cách mạng đến thắng lợi. Vì vậy, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng phải trình bày cả quá trình tổ chức thực hiện của các cấp và phong trào cách mạng phong phú và sinh động của quần chúng. Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong nghiên cứu lịch sử Đảng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, tuỳ theo từng nội dung và mục đích của từng bài nghiên cứu và của đối tượng mà vận dụng phương pháp này hay phương pháp khác ở mức độ nặng nhẹ khác nhau cho thích hợp. II. PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG ĐẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP LỊCH ĐẠI 1. Phương pháp đồng đại Phương pháp đồng đại nghiên cứu mặt cắt ngang của xã hội. Đó là phương pháp nghiên cứu những sự kiện và hiện tượng khác nhau trong xã hội xảy ra trong cựng một thời gian. Trong đời sống xã hội, trong cựng một thời gian thường xảy ra rất nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau, giữa các hiện tượng, sự kiện đó có liên quan chằng chịt với nhau, cần thiết phải phân tích, đánh giá mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện, hiện tượng đó. Phương pháp này là nhằm làm rõ các mối liên hệ trong các sự kiện, hiện tượng để từ đó rút ra bản chất, quy luật vận động. 2. Phương pháp lịch đại Phương pháp lịch đại nghiên cứu các sự kiện và hiện tượng lịch sử trong sự vận động và biến đổi của chúng theo trỡnh tự thời gian lịch sử. Theo trỡnh tự thời gian, cỏc sự kiện tạo nờn quỏ trỡnh nối tiếp nhau và trong sự vận động của quá trỡnh đó bộc lộ những nội dung mang tính quy luật. Đó là sự nghiên cứu quá trỡnh phỏt sinh, vận động và phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử. 3. Vận dụng phương pháp đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Là một khoa học chuyên ngành của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam phải giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong việc phân tích, đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử Đảng trong cùng mộ thời gian nhất định. III. PHƯƠNG PHÁP PHÂN KỲ LỊCH SỬ Khỏi niệm: Phõn kỳ lịch sử nghĩa là dựa vào sự kiện và tiờu chí khoa học để chia lịch sử loài người từ trước tới nay thành những thời kỳ, những giai đoạn khác nhau, nối tiếp nhau nói lên quá trỡnh phỏt triển khụng ngừng của xó hội. Những nguyờn tắc phõn kỳ lịch sử: + Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được tiến trỡnh phỏt triển chung của xó hội loài người hay của cả một dân tộc. + Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được quy luật khách quan cơ bản của sự phát triển xó hội, quy luật về sự phỏt triển của hỡnh thỏi kinh tế xó hội. + Lịch sử loài người cũng như lịch sử dân tộc rất phong phú, đa dạng. Sự phát triển của xó hội loài người cũng không đồng đều, đơn tuyến, do đó các nhà sử học thường khẳng định phân kỳ lịch sử mang tính quy ước. Vận dụng phương phỏp phõn kỳ lịch sử trong nghiờn cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: + Phõn kỳ trong lịch sử toàn Đảng. + Phõn kỳ trong lịch sử đảng bộ địa phương. + Phân kỳ trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng lónh đạo. Bài 4 PHÂN KỲ LỊCH SỬ TRONG NGHIÊN CỨU SỬ HỌC I. Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÂN KỲ LỊCH SỬ 1. Trong nghiên cứu sử học, phân kỳ lịch sử có một vị trí quan trọng Nếu như các vấn đề quan hệ giữa tính Đảng và tính khoa học, quan hệ giữa tính lôgich và tính lịch sử là những vấn đề chung, liên quan đến toàn bộ các sự kiện lịch sử thì vấn đề phân kỳ lịch sử lại là một phần biểu hiện cụ thể của các vấn đề trên. Trong phương pháp luận sử học không thể chỉ dừng lại ở tính Đảng, tính khoa học, tính lôgíc và tính lịch sử. Phải biết đặt sự kiện, con người, tư liệu, trong thời đại, giai đoạn mà nó tồn tại. Nhận thức lịch sử không chỉ gắn liền với sự kiện thực tiễn mà còn gắn liền với môi trường tư tưởng, tâm lý con người làm nên sự kiện đó và con người ghi lại sự kiện đó, tư tưởng, tâm lý con người gắn liền với thời đại. Nghiên cứu lịch sử không dừng lại ở những vấn đề lớn có tính khái quát mà còn mở rộng ra các sự kiện, các nhân vật, các cuộc vận động lớn nhỏ. Để đạt được những nhận định, những luận điểm khách quan, khoa học, người nghiên cứu không thể không trả lời hai câu hỏi lớn: Thứ nhất, xác định thế nào cho đúng mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan trong nghiên cứu sự kiện lịch sử. Thứ hai, khi nói đến hoàn cảnh xã hội tức là nói đến một giai đoạn nhất định của quá trình tiến hoá trong lịch sử loài người. Vậy thì sự phức tạp đó là hoàn toàn có tính chất ngẫu nhiên, hay chịu sự chi phối của những quy luật chung. Trả lời hai câu hỏi trên đã xác định tầm quan trọng của phân kì lịch sử với tư cách là một vấn đề phương pháp luận. Vì vậy, phân kỳ lịch sử là một vấn đề quan trọng của phương pháp luận sử học. 2. Phân kỳ lịch sử là gì? Phân kỳ lịch sử tức là dựa vào những dữ kiện và tiêu chí khoa học để chia lịch sử loài người từ trước đến nay thành những thời kỳ, những giai đoạn khác nhau, nối tiếp nhau nói lên quá trình phát triển không ngừng của xã hội. Phân kỳ lịch sử không chỉ thực hiện đối với lịch sử thế giới nói chung mà cần được thực hiện ở lịch sử dân tộc, khu vực và cả ở các lĩch vực hoạt động riêng của con người. Phân kỳ lịch sử không chỉ giúp cho nhà nghiên cứu đạt đến mục tiêu khoa học thực tiễn của mình mà còn giúp cho việc giảng dạy các môn khoa học xã hội nói chung vượt qua được sự chi phối của chủ nghiã chủ quan, nâng cao giá trị khoa học của các nhận định. 3. Ý nghĩa của phân kỳ lịch sử trong nghiên cứu và nhận thức lịch sử Trong quan hệ với nhiệm vụ và chức năng của sử học: Dựa và những nhiệm vụ và chức năng của sử học để xác định tầm quan trọng của phân kỳ lịch sử. Trong quan hệ với tính khoa học và tính Đảng: Mục tiêu của tính Đảng trong khoa học xã hội nói chung và khoa học lịch sử nói riêng là đạt đến trình độ cao trong tính khoa học và tính thực tiễn. Không thể nghiên cứu khoa học một cách chung chung bỏ qua phân kỳ lịch sử. Trong quan hệ với tính lôgích và tính lịch sử: Bản thân lịch sử mang tính lôgích, dù hoạt động của con người đa dạng phức tạp, không ít tính ngẫu nhiên. Nhưng tất cả những hoạt động của con người nói trên đều không thể vượt qua cái khung bao quát của thời đại mà họ sống. Phân kỳ lịch sử giúp cho việc xác định mối quan hệ nói trên. Trong quan hệ với vị trí và vai trò của nhà nghiên cứu hay người dạy lịch sử: Vấn đề thời đại, hệ tư tưởng, những quan hệ chính trị xã hội, những quan hệ trong và ngoài quốc gia v.v.. đều tác động đến tư duy của nhà nghiên cứu hay người dạy lịch sử. Xác định đúng thời đại và nội dung của thời đại đó là cơ sở của nhận định, lập luận. II. SƠ LƯỢC CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ PHÂN KỲ LỊCH SỬ 1. Giai đoạn trước Tư bản chủ nghĩa 2. Những quan niệm phân kỳ lịch sử tư sản và phương Tây hiện đại 3. Phân kỳ lịch sử theo quan điểm mác xít: Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Enghen đã nói đến các thời kỳ phát triển của xã hội loài người như những hình thức nối tiếp nhau của chế độ sở hữu: thị tộc, cổ đại, phong kiến và tư sản, nghĩa là đưa ra một quan niệm mới về phân kỳ lịch sử trên cơ sở khẳng định thực tiễn các giai đoạn phát triển của xã hội loài người. Quan niệm này được nói rõ hơn trong bản thảo thứ 3, thư giử Vera Datxulit, khi Mác nêu lên 3 thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư sản, sau đó nêu thêm khái niệm về phương thức sản xuất Á châu. Tư tưởng ban đầu nói trên được phát triển trong quá trình nghiên cứu sâu sắc về lịch sử loài người để đạt đến sự khẳng định về qui luật phát triển khách quan của xã hội loài người, cũng tức là sự tiếp nối của các hình thái kinh tế xã hội. Phân kỳ lịch sử mác xít thể hiện một cách nhìn khái quát khoa học về xã hội loài người nói chung và các quốc gia nói riêng thông qua các quy luật phát triển khách quan nói trên. Vì sao phân kỳ lịch sử theo qui luật phát triển nối tiếp nhau của các phương thức sản xuất, các hình thái kinh tế xã hội lại là một cách phân kỳ khoa học chân chính? Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh cho nhận định này. III. NHỮNG NGUYÊN TẮC LỚN CỦA PHÂN KỲ LỊCH SỬ. 1 Những nguyên tắc chung: Lịch sử loài người là một quá trình phát triển từ thấp lên cao, một quá trình phát triển thống nhất nhưng đầy mâu thuẫn. Phân kỳ lịch sử phải thể hiện được quy luật khách quan cơ bản của sự phát triển xã hội, qui luật về sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội. Lịch sử loài người cũng như lịch sử dân tộc rất phong phú, đa dạng. Sự phát triển của xã hội loài người cũng không đồng đều, đơn tuyến. Do đó, các nhà sử học thường khẳng định phân kỳ lịch sử mang tính quy ước. Phân kỳ lịch sử phải bảo đảm được tính khoa học, khách quan để từ đó góp phần đảm bảo tính khoa học của những nhận định, luận điểm cụ thể. 2. Tiêu chí phân kỳ lịch sử: Tiêu chí chủ yếu xuất phát từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem cơ sở vật chất là yếu tố quyết định, từ đó lấy hình thái kinh tế xã hội là tiêu chí cơ bản để phân kỳ lịch sử. Tuy nhiên cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về các hình thái kinh tế xã hội. Bản thân Mác khi nêu lên khái niệm “phương thức sản xuất Á châu” đã gợi lên ý đó. Cách hiểu từng hình thái kinh tế xã hội hiện nay không hoàn toàn thống nhất vì thực tế phát triển lịch sử các nước ở phương Đông và phương Tây không hoàn toàn giống nhau. Xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của sự phát triển xã hội loài người, giới sử học đã đưa ra khái niệm “thời đại” để phân kỳ. 2.1. Trong phân kỳ lịch sử thế giới: Giới sử học thế giới duy trì cách phân kỳ theo thời gian: cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại. Tuy nhiên, mỗi khung biểu hiện sự thống trị của một hình thái kinh tế xã hội, tạm gọi chung là thời đại. Thời đại là gì? Có thể hiểu thời đại là một khoảng thời gian lịch sử dài trong đó có sự tác động lẫn nhau của nhiều hay hai hình thái kinh tế xã hội tiêu biểu do tính tiến bộ của nó cũng như do tác động có ý nghĩa định hướng tiến lên đối với toàn thế giới của nó. Ý nghĩa của việc sử dụng khái niệm thời đại: Đảm bảo mục tiêu khoa học của phân kỳ kịch sử. Góp phần giải quyết những khó khăn do thực tiễn phát triển của các khu vực và quốc gia khác nhau đặt ra. Góp phần đánh giá tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử cụ thể. Góp phần vào việc phân kỳ lịch sử của khu vực hay quốc gia. Một vấn đề đặt ra: khi xác định thời đại là một khoảng thời gian lịch sử dài, không thể không nói đến cái “mốc mở đầu” và “mốc kết thúc” của nó. Phân kỳ lịch sử không dừng lại ở thời đại tương ứng với một phương thức sản xuất nào đó mà còn được thực hiện trong lịch sử của từng thời đại. 2.2. Phân kỳ lịch sử dân tộc: Ở đây, chủ yếu là vấn đề phân kỳ lịch sử nước ta. Có 4 giai đoạn. Trước thế kỷ XX; đầu thế kỷ XX1945; từ 19451975 và từ 1975 đến nay. Tiêu chí phân kỳ: Theo đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nghĩa là có cùng tiêu chí với phân kỳ lịch sử thế giới. Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển của lịch sử dân tộc, phải xuất phát từ thực tiễn lịch sử dân tộc và đặt nó trong khuôn khổ chung của lịch sử thế giới. 2.3. Phân kỳ trong lịch sử Đảng Lịch sử Đảng là một chuyên ngành trong khoa học lịch sử, nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển của chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu quá trình hoạt động lý luận, tư tưởng và hoạch định đường lối chính trị của Đảng; quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện phong trào cách mạng của quần chúng và hoạt động của Nhà nước trên tất cả mọi lĩnh vực, từ đó rút ra những bài học có tính quy luật của cách mạngViệt nam, góp phần định hướng cho con đường đi lên CNXH ở nước ta. Tiêu chí để phân kỳ trong lịch sử Đảng: Những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử. Căn cứ vào các Nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng… 2.4. Về phân kỳ lịch sử địa phương, tổ chức, phong trào: Lịch sử địa phương (tỉnh, huyện), tổ chức (Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn v.v..), phong trào (Cách mạng) góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu, hiểu biết lịch sử các lĩnh vực hoạt động riêng biệt này cũng rất quan trọng. Tiêu chí phân kỳ cần quán triệt: + Mục tiêu hoạt động của tổ chức, phong trào + Nội dung chủ yếu của giai đoạn lịch sử dân tộc. + Khung thời đại của lịch sử thế giới. + Những mốc thời gian cụ thể. Bài 5 SỬ LIỆU HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ I. ĐẠI CƯƠNG VỀ SỬ LIỆU HỌC 1. Sử liệu học là gì? Sử liệu học là một ngành của khoa học lịch sử chuyên nghiên cứu về các quy luật hình thành, phản ánh của các nguồn sử liệu và về các phương pháp sưu tầm, phân loại, chọn lọc và sử dụng chúng trong các công trình nghiên cứu lịch sử. 2. Quá trình hình thành sử liệu học như một khoa học Nếu coi sử liệu học như là môn học về các nguồn sử liệu, về các quá trình sưu tầm, chọn lọc, xác minh và sử dụng tư liệu lịch sử thì có thể nói những mầm mống của nó đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại. Đến thời trung đại, nhất là trong thời kì văn hoá Phục hưng, sử liệu học có điều kiện phát triển hơn mặc dù nó xuất hiện và phát triển hoàn toàn dựa trên cơ sở kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu. Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, với sự xuất hiện các công trình nghiên cứu của E.Bécgâyma, Langloa, Xennhôbox, Maixtera v.v. nhiệm vụ của sử liệu học được nêu lên như là một ngành khoa học riêng biệt. Họ đã coi tư liệu lịch sử là đối tượng của nhận thức, đồng thời nêu lên cấu trúc của tư liệu, khả năng trừu tượng hoá khi nghiên cứu các nguồn sử liệu. Những công trình nghiên cứu này đã đặt nền móng cho ngành sử liệu học. Bắt đầu từ những năm 50 của thế kỉ XX, sử liệu học đã trở thành một khoa học độc lập; hầu hết các phạm trù, các khái niệm, những nguyên tắc cơ bản của sử liệu học hiện đại đều đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả. Cũng từ những năm 50 của thế kỉ XX, sử liệu học mác xít dần dần được hình thành. 3. Đối tượng, nhiệm vụ và cơ cấu của sử liệu học Sử liệu học là môn học về các nguồn sử liệu. Song đối tượng nghiên cứu của sử liệu học không phải là những tư liệu lịch sử cụ thể mà là những quy luật hình thành các tư liệu lịch sử và phản ánh quá trình lịch sử khách quan trong đó. Khi nói về nhiệm vụ của sử liệu học, cần phải nhận thấy hai mặt của chúng: Thứ nhất, nó biểu hiện ở chỗ xây dựng, đề xuất hệ thống các nguyên tắc, phương pháp và cách sử dụng tư liệu lịch sử. Đó chính là sử liệu học lí luận. Thứ hai, thể hiện trong công tác tư liệu, trong việc tìm kiếm, chọn lọc, phân tích… tư liệu để nghiên cứu các mặt khác nhau của quá trình lịch sử, trong việc kiến trúc tổng thể sự kiện khoa học từ các tư liệu. Đó chính là nhiệm vụ của sử liệu học ứng dụng hay thực tiễn công tác tư liệu. Từ đó hình thành cơ cấu của sử liệu học bao gồm cả sử liệu học lí luận và sử liệu học ứng dụng. Chúng có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. II. TƯ LIỆU LỊCH SỬ 1. Vai trò của tư liệu lịch sử trong khoa học lịch sử nói chung và trong mỗi công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng Khoa học lịch sử có điểm khác với các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng khoa học của nó được xây dựng, kiến lập nên qua các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử chỉ có trong các tư liệu lịch sử. Do đó, không có tư liệu lịch sử thì không có khoa học lịch sử và ngược lại. Nhu cầu xã hội luôn đặt ra những vấn đề mà khoa học lịch sử phải giải quyết. Song vấn đề đó có được giải quyết hay không hoàn toàn phụ thuộc vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử về vấn đề đó hay không. Khi đã có tư liệu lịch sử thì việc giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của nguồn tư liệu, vào trình độ chuyên môn, vào quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học. 2. Khái niệm tư liệu lịch sử Muốn hiểu thế nào là tư liệu lịch sử, trước hết ta cần phân biệt các khái niệm “sự kiện lịch sử” và sự kiện tư liệu. Sự kiện lịch sử là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ mà nhiều nhà nghiên cứu thường gọi là sự kiện hiện thực và “sự kiện tri thức” là những sự kiện lịch sử được nói tới trong các sách nghiên cứu, giáo trình, sách giáo khoa . “Sự kiện tư liệu” là những sự kiện lịch sử chứa đựng trong các tư liệu lịch sử. Tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện tư liệu. Tư liệu lịch sử cũng là những sản phẩm hoạt động của con người; nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua. Từ đó ta có thể hiểu tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng một mặt hoạt động nào đấy của con người. 3. Các quy luật hình thành và phản ánh của tư liệu lịch sử Tư liệu lịch sử được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên mà theo các quy luật của nó. Các quy luật đó là: Quy luật tư liệu phản ánh quan điểm giai cấp của tác giả và ảnh hưởng của quan điểm ấy đối với nội dung của tư liệu. Quy luật ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử cụ thể, của nhu cầu và mục đích ra đời của tư liệu đối với nội dung và hình thức của tư liệu. Quy luật phản ánh sự phù hợp tính đúng đắn, đầy đủ của tư liệu với khả năng chủ quan, khách quan của tác giả tư liệu khi phản ánh các sự kiện, với địa điểm, thời gian có trong tư liệu. Quy luật liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của tư liệu này đối với các tư liệu khác. 4. Các loại tư liệu lịch sử Tuỳ thuộc nội dung phản ánh và tính chất của sử liệu, người ta thường chia tư liệu lịch sử thành 7 nhóm: 1 tư liệu thành văn; 2 tư liệu vật chất; 3 tư liệu truyền miệng dân gian; 4 tư liệu ngôn ngữ; 5 tư liệu dân tộc học; 6 tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và 7 tư liệu băng ghi âm. III. CÔNG TÁC SƯU TẦM , PHÂN LOẠI VÀ CHỌN LỌC TƯ LIỆU Công tác chuẩn bị tư liệu vừa có nhiệm vụ xác định vấn đề nghiên cứu, vừa nhằm cung cấp cơ sở cho việc giải quyết vấn đề. Nó bao gồm các bước: 1) Sưu tầm tư liệu 2) Phân loại tư liệu 3) Chọn lọc tư liệu 4) Xác minh và phê phán tư liệu. IV. VẤN ĐỀ PHÊ PHÁN VÀ XÁC MINH TƯ LIỆU Quá trình xác minh, phê phán tư liệu có hai giai đoạn và cũng là hai nội dung lớn, hai phương pháp khác nhau, là phê phán phân tích và phê phán tổng hợp: Phê phán phân tích có đối tượng nghiên cứu là một tư liệu riêng biệt, do đó là một sự kiện riêng biệt. Nhiệm vụ cuối cùng của phê phán phân tích là nhằm đánh giá sự đúng đắn, đầy đủ và giá trị khoa học khách quan của một tư liệu cụ thể. Phê phán tổng hợp có đối tượng là một tập hợp tư liệu và vì thế là một hệ thống các sự kiện với tất cả các mối quan hệ cơ cấu và di truyền của chúng. Phê phán tổng hợp là một phương pháp nghiên cứu có chức năng là làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các mặt khác nhau của một cái toàn vẹn, giữa các bộ phân của nó để tìm ra tính tương tác bên trong, bản chất và quy luật của các hiện tượng. V. TƯ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, khoa học lịch sử nói chung và khoa học Lịch sử Đảng nói riêng, hoàn toàn phụ thuộc vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử về vấn đề đó hay không. Mức độ giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của nguồn tư liệu, trình độ chuyên môn, quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học. Do vậy, để khoa học lịch sử Đảng có tác dụng lớn đối với việc nâng cao trình độ lí luận, tư tưởng trong Đảng và giúp ích thiết thực cho công tác lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay… cần phải đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí của tư liệu lịch sử đối với công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng. Để từ đó đòi hỏi người cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng phải thường xuyên đổi mới cách thức, biện pháp trong công tác sưu tầm, lưu trữ, thẩm định, khai thác các nguồn tư liệu lịch sử trên cơ sở nắm vững và vận dụng phương pháp luận Mácxít, góp phần giữ gìn và phát huy hơn nữa giá trị của khoa học lịch sử Đảng. Bài 6 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KHOA HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG I. BƯỚC 1 LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đây là bước rất quan trọng đối với quá trình nghiên cứu. Bởi vì chọn được đề tài nghiên cứu đúng sẽ góp phần quan trọng vào thành công của quá trình nghiên cứu. Chọn Đề tài nghiên cứu đúng là thế nào? Đề tài đúng để nghiên cứu là đề tài có ý nghĩa khoa học (lý luận) và thực tiễn. Đề tài khoa học đúng để nghiên cứu là đề tài phù hợp với chương trình học tập, phù hợp với trình độ và điều kiện thực hiện của người nghiên cứu. Sau khi đã lựa chọn được đề tài, căn cứ tính chất đề tài, điều kiện thực hiện, người nghiên cứu cần xác định rõ mục đích yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi của đề tài. Việc này cũng nằm trong Bước 1, nhằm xác định rõ hơn nội dung nghiên cứu của đề tài. Việc cuối cũng của Bước 1 là đặt tên cho đề tài nghiên cứu. Thông thường việc đặt tên đề tài cần bảo đảm 3 yêu cầu sau: Thể hiện được nội dung chính của đề tài. Càng ngắn gọn càng tốt. Có khả năng hấp dẫn người đọc (hay). II BƯỚC 2 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC TƯ LIỆU Đề cương nghiên cứu có 2 loại: Đề cương sơ lược được xây dựng sau khi đã hoàn thành về căn bản Bước 1. Trên cơ sở Đề cương sơ lược, người nghiên cứu sưu tầm, xác minh, hệ thống tư liệu. Đề cương chi tiết được xây dựng sau khi đã sưu tầm, xác minh được những tư liệu cơ bản, cần thiết. Công tác tư liệu. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có tư liệu có độ tin cậy cao, tư liệu phong phú. Nguồn tư liệu phong phú là điều kiện cần thiết để đề tài nghiên cứu đạt chất lượng khoa học cao. Để nghiên cứu một đề tài khoa học lịch sử Đảng, cần phải khai thác các nguồn tư liệu (sử liệu) sau: Tác phẩm kinh điển: bao gồm các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin liên quan đến đề tài. Tác phẩm của Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài. Văn kiện Đảng, văn kiện của Quốc hội, Chính phủ và các đoàn thể các cấp, các ngành (hoặc của HĐND, UBND,...) phù hợp về thời gian của đề tài. Các bài nói, bài viết, hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước liên quan đến đề tài. Báo chí xuất bản cùng thời gian của đề tài. Sách nghiên cứu của các nhà khoa học (trong nước, ngoài nước) liên quan đề tài. Tài liệu của phe đối địch,v.v... Để việc tập hợp tư liệu không bị bỏ sót một nguồn tư liệu nào, cần phải xây dựng Thư mục tham khảo. Việc tiếp theo là đọc và ghi chép tư liệu (sau khi lập được thư mục). Để có thể làm tốt điều này, một trong những khâu quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học là phải phân loại tư liệu để đọc. Xác minh và đánh giá tư liệu: Xác minh và đánh giá là yêu cầu của việc nghiên cứu khoa học, vì sự kiện được sử dụng cần chính xác trong điều kiện và trình độ nghiên cứu lúc bấy giờ. Công tác xác minh tư liệu giữ một vị trí hết sức quan trọng vì nếu chúng ta làm không tốt thì nhận định, quan điểm rút ra từ sự kiện sẽ bị đổ vỡ một cách dễ dàng. Công tác tư liệu phải làm trước một bước, làm cơ sở để nghiên cứu. Nhưng điều đó không có nghĩa là khi sang Bước nghiên cứu không làm tư liệu nữa. Tư liệu vẫn sẽ tiếp tục được bổ sung trong quá trình nghiên cứu biên soạn. III. BƯỚC 3 NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN ĐỀ TÀI Ở Bước này, người nghiên cứu phải nắm vững nguyên tắc, phương pháp, nội dung nghiên cứu và văn phong. Bảo đảm nguyên tắc tính đảng và nguyên tắc tính khoa học. Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành phù hợp. Đó là các phương pháp lịch sử, lô gích, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch đại, đồng đại,v.v.. Thực hiện nghiên cứu đầy đủ 4 nội dung lịch sử Đảng: 1. Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng; 2. Nghiên cứu phong trào cách mạng của nhân dân thực hiện đường lối của Đảng; 3. Nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng Đảng; 4. Nghiên cứu những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng. Thể hiện bằng văn phong khoa học: chính xác, ngắn gọn, trong sáng. Văn phong của nhà sử học vẫn có thể hấp dẫn người đọc bằng những hình ảnh sinh động của lịch sử được tái hiện, bằng những câu phân tích sắc sảo, thuyết phục người đọc. IV. BƯỚC 4 HOÀN THIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Sau khi nghiên cứu biên soạn xong, cần xem lại toàn bộ kết quả nghiên cứu của đề tài: từ tên đề tài, cấu trúc, tư liệu, nội dung các chương, tiết, các trích dẫn, văn phong,.. để tiếp tục sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện. Lập bảng danh mục tài liệu tham khảo. 7. Tài liệu tham khảo 1 El’ Chaninov: Những vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử, trong chuyên đề “Sử học và xã hội học”. Viện TTKHXH, thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, 1992. 2 N.A. Êrôphêép : Lịch sử là gì, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1986 3 J. Tôpôlski: Phương pháp luận sử học. Bản dịch của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1967. 4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T1,T2, T3, T4, T5, T6, T7, T8, T9, T10, T11, T12, Nxb CTQG, H, 2000. 5 Phan Ngọc Liên (chủ biên): Phương pháp luận sử học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2000 6 Phan Ngọc Liên và Nguyễn Quang Lê : Vai trò của tri thức lịch sử trong mối quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế. Tạp chí “Văn học dân gian” số 3(1955), 1996. 7 Phan Ngọc Liên, Trương Hữu Quýnh: Giáo trình phương pháp luận sử học, Đại học sư phạm Hà Nội, 1982. 8 Trương Hữu Quýnh: Suy nghĩ về sử học của chúng thời đổi mới, Tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử”, số 3(286), 1990. 9 Văn Tạo, Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, Nxb KHXH, H, 1995. 10 Văn Tạo, Sử học và hiện thực, Nxb KHXH, H, 1997. 11 Viện sử học, Mấy vấn đề phương pháp luận sử học, Nxb KHXH, H, 1970. 8. Phương pháp đánh giá: 9. Những vấn đế cần thảo luận, trao đổi trong nhóm, tổ: 1 Từ những kiến thức chung về đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử, hãy vận dụng làm rõ đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của khoa học lịch sử Đảng CSVN? 2 Tại sao trong nghiên cứu lịch sử Đảng CSVN phải quán triệt nguyên tắc tính đảng và tính khoa học? 3 Trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng phải thực hiện theo những phương pháp nào? 4 Những lưu ý cơ bản đối với việc sưu tầm, xác minh, lựa chọn và xử lý tư liệu trong nghiên cứu lịch sử Đảng CSVN? 5 Giải quyết một vấn đề nghiên cứu lịch sử Đảng cần phải thực hiện qua các bước cơ bản nào?
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP VĂN THƯ LƯU TRỮ TẠI CỤC LƯU TRỮ VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP VĂN THƯ LƯU TRỮ TẠI CỤC LƯU TRỮ VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

sau khi cán bộ, đảng viên đó qua đời.Tuy nhiên, còn nhiều cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương do chưanhận thức được tầm quan trọng của tài liệu lưu trữ; công tác lưu trữ chưa đượcSinh viên: Trần Nhung Trang11Lớp: ĐHLT.LTH K1Báo cáo thực tậpchú trọng đúng mức nên dẫn đến tình trạng tương đối phổ biến là hồ sơ, tài liệuchất đống trên bàn làm việc hoặc chứa đầy trong các ngăn tủ cá nhân từ đó đãgây không ít khó khăn trong việc thu thập, xử lý, bảo quản khai thác tài liệu khicần thiết. Nhìn chung, tất cả các tài liệu này đều trong tình trạng lộn xộn, chưađược phân loại lập hồ sơ theo quy định và không được quản lý tập trung.Trong những năm qua, Văn phòng Trung ương đã cử nhiều đoàn cán bộcó trình độ chuyên môn nghiệp vụ sang sưu tầm, thu thập tài liệu ở các kho lưutrữ của các nước như: Nga, Pháp, Trung Quốc…2.2.2. Công tác chỉnh lýChỉnh lý tài liệu các phông lưu trữ là một khâu nghiệp vụ đóng vai tròquan trọng trong công tác lưu trữ. Trước khi tiến hành chỉnh lý thì Phòng Thuthập – Chỉnh lý trình kế hoạch chỉnh lý cho Lãnh đạo Cục phụ trách trực tiếpxem xét, sau đó trình lên Cục trưởng phê duyệt vào kế hoạch chỉnh lý. Sau khikế hoạch được phê duyệt Phòng Thu thập – Chỉnh lý có trách nhiệm chỉnh lý tàiliệu do các đơn vị giao nộp sau khi đã lập hồ sơ ban đầu.Khi được thực tập tại Phòng Thu thập – Chỉnh lý, em đã được khảo sát tàiliệu Phông Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (giai đoạn 7/1996 – 4/2001);với sự hướng dẫn của cán bộ trong phòng, em được tham gia viết lịch sử đơn vịhình thành phông, lịch sử phông, phương án phân loại. Em được hướng dẫn
Xem thêm

48 Đọc thêm

Tài liệu Thi đối Tượng Đảng

Tài liệu Thi đối Tượng Đảng

Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng Tài liệu Thi đối Tượng Đảng
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề