SUY NGHĨ VỀ LÒNG VỊ THA CỦA CON NGƯỜI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SUY NGHĨ VỀ LÒNG VỊ THA CỦA CON NGƯỜI":

PHÊ PHÁN THÁI ĐỘ THỜ Ơ, GHẺ LẠNH ĐỐI VỚI CON NGƯỜI CŨNG QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT NHƯ CA NGỢI LÒNG VỊ THA, TÌNH ĐOÀN KẾT. BẠN SUY NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ Ý KIẾN TRÊN?

PHÊ PHÁN THÁI ĐỘ THỜ Ơ, GHẺ LẠNH ĐỐI VỚI CON NGƯỜI CŨNG QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT NHƯ CA NGỢI LÒNG VỊ THA, TÌNH ĐOÀN KẾT. BẠN SUY NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ Ý KIẾN TRÊN?

Thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là tính xấu; người sống thờ ơ, ghẻ lạnh là người không tốt, là kẻ vô cảm, vô tình với đồng loại. Lòng vị tha, tình đoàn kết là tính tốt; người giàu lòng vị tha và có tình đoàn kết là người tốt. Trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tư tưởng lạc hậu để xây dựng con người mới, nếp sống văn hóa mới, nhiều người thường nhắc đến câu nói sau đây: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Trước hết, phải hiểu đúng nghĩa các từ ngữ: thờ ơ, ghẻ lạnh, lòng vị tha, tình đoàn kết. Cuốn Từ điển tiếng Việt in năm 2008, Hoàng Phê chủ biên đã giải nghĩa như sau: Thờ ơ: tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì. Ghẻ lạnh: tỏ ra lạnh nhạt đối với người lẽ ra là thân thiết, gần gũi. Vị tha: có tinh thần chăm lo đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Đoàn kết: kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung. Qua đó, ta hiểu thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là tính xấu; người sống thờ ơ, ghẻ lạnh là người không tốt, là kẻ vô cảm, vô tình với đồng loại. Lòng vị tha, tình đoàn kết là tính tốt; người giàu lòng vị tha và có tình đoàn kết là người tốt. Câu nói trên đây chỉ ra mối quan hệ và tầm quan trọng giữa việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người và sự ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Con người có nhân hậu, sống trong tình người mới có lòng vị tha, tình đoàn kết, mới biết “thương người như thể thương thân”. Nhân dân ta giàu lòng vị tha và tình đoàn kết nên tâm hồn Việt Nam rất đẹp, sức mạnh Việt Nam vô địch, có thể chiến thắng thiên tai, địch họa, đánh đuổi thù trong, giặc ngoài. Chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mĩ là nhờ tinh thành đại đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân ta. Xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam, cứu giúp đồng bào vùng bị lũ lụt bão tố, quan tâm săn sóc các em nhỏ mồ côi, những học sinh nghèo... làm tất được các việc đó là do sức mạnh của lòng vị tha, tình đoàn kết của đồng bào, chiến sĩ, của hơn hai triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài. Chính vì có lòng vị tha, tình đoàn kết mà nhân dân ta hiểu một cách sâu sắc: chia rẽ là chết; thờ ơ, ghẻ lạnh với bà con, với đồng loại là vô tình, vô tâm, bạc bẽo, nhẫn tâm. Trong công cuộc xây dựng con người mới, nếp sống mới, việc ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với con người. Sống giữa người thân, sống giữa tập thể, giữa cộng đồng mà thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người thì kẻ ấy thật đáng chê. Chỉ biết bản thân mình, chẳng hề quan tâm đến ai. Một tiếng kêu rên của người bất hạnh, giọt nước mắt của người khốn khổ cơ hàn, đối với họ cũng chẳng quan tâm. Vì kẻ sống thờ ơ, ghẻ lạnh, trái tim đã bị đóng băng, tâm hồn đã bị khô héo, sống không chút tình người. Đáng thương hại thay, những kẻ thờ ơ, ghẻ lạnh là những Bê-li-cốp, loại “Người trong bao" mà nhà văn Nga Sê-khốp đã nói đến. Các câu tục ngữ: “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “Đèn nhà ai rạng nhà ấy’’ đã nói lên bản chất loại người có thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người. Loại người này đã tự tách rời với mọi người xung quanh, sống cô đơn, khép kín, mũ nỉ che tai! Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lanh đối với con người là để xây dựng tính tập thể, tính cộng đồng, lòng vị tha, tính đoàn kết; là để làm cho con người gần gũi người hơn; là để xây dựng tình tương thân tương ái, là để xây dựng con người mới, xã hội mới. nếp văn hóa mới. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương; tình thương của gia đình, của bạn bè, của đồng bào, đồng chí. Tuổi trẻ bước vào đời sẽ tìm thấy sức mạnh và hạnh phúc trong tình nhân ái, lòng vị tha, tình đoàn kết của cộng đồng. Hơn bao giờ hết, ta cang thấm thìa ý kiến: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Trích: Loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Viết một văn bản nghị luận ngắn trình bày suy nghĩ về lòng vị tha

VIẾT MỘT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN NGẮN TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VỀ LÒNG VỊ THA

Như vậy, sống vị tha không có nghĩa là phải làm những điều gì phi thường, lớn lao. Ngược lại, đức tính ấy được ghi nhận ở những việc làm đơn giản nhất.        Từ xa xưa, cha ông ta đã luôn căn dặn cháu con: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương  Người trong một nước phải thương nhau cùng” "Dù xây chín bậc phù đổ  Không bằng làm phúc cứu cho một người”,...        Tất cả những lời khuyên ấy tựu chung lại, mong ước hậu thế mai sau sẽ biết sống vị tha giữa cuộc đời.       Vị tha là có tinh thần chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Như vậy, lòng vị tha ở con người chứng tỏ một tinh thần vô cùng bao dung, nhân ái.       Lòng vị tha thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu toan tính toán khi giúp đỡ người khác làm một việc gì đó. Trong lớp có học sinh học kém hơn, bạn không dè bỉu, xa lánh mà lại gần sẻ chia, giúp đỡ bạn ấy học tốt. Trong tập thể có thành viên mắc lỗi, làm điều sai trái, bạn không lên án gay gắt mà ngược lại, bạn giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để giúp họ sửa sai,... Trong những hoàn cảnh ấy, nếu bạn làm được như vậy, có thể khẳng định rằng bạn là người có lòng vị tha.. Trong đời sống xã hội, ta có thể nhìn vào hoạt động tình nguyện của thế hệ thanh niên đất nước mỗi khi mùa hè đến. Họ không quản ngại gian khó đi về với vùng cao, vùng gặp khó khăn,... để hoà mình với đồng bào, cùng đồng cam cộng khổ giúp đỡ họ vươn lên.       Có được lòng vị tha, con người sẽ cảm thấy thanh thản trước cuộc đời bởi thấy rằng mình có ích. Hơn thế, họ còn được mọi người mến yêu, quý trọng. Những việc họ làm đã giúp thêm đẹp, thêm giàu cho xã hội. Không ai có thể kể hết giá trị của sự bình yên mà những chiến sĩ công an biên phòng đang từng ngày từng giờ thầm lặng hi sinh cho đất nước. Không ai có thể nói hết được niềm hạnh phúc, lòng quyết tâm vươn lên và sự khởi sắc trong tương lai của những người chưa có thành công, những người lầm lỡ được lòng vị tha cứu giúp. Cuộc đời này cần đến những tấm lòng dù chỉ để gió cuốn bay đi nhưng là bay đi để gieo mầm, nở hoa trên đất lạ.      Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, còn rất nhiều gia đình nghèo khó. Lòng vị tha của học sinh chúng ta được thể hiện trong việc đóng góp ủng hộ những gia đình ấy. Thiết thực nhất, ta hãy sống vì những người thân yêu quanh mình học tốt chăm ngoan để ông bà, bố mẹ, thầy cô vui lòng. Nếu có thể, chúng ta giúp đỡ bạn bè cùng trang lứa trong học tập, lao động,... Như vậy, sống vị tha không có nghĩa là phải làm những điều gì phi thường, lớn lao. Ngược lại, đức tính ấy được ghi nhận ở những việc làm đơn giản nhất. Vậy thì tại sao chúng ta không xây dựng cho mình một lối sống đẹp? Trích: loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Em có cho rằng: Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết? Hãy viết bài văn nêu ý kiến của em về vấn đề này

EM CÓ CHO RẰNG: PHÊ PHÁN THÁI ĐỘ THỜ Ơ, LẠNH NHẠT VỚI CON NGƯỜI CŨNG QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT NHƯ CA NGỢI LÒNG VỊ THA, TÌNH ĐOÀN KẾT? HÃY VIẾT BÀI VĂN NÊU Ý KIẾN CỦA EM VỀ VẤN ĐỀ NÀY

Tất cả những lời khuyên ấy đều hướng đến một mục đích là giáo dục lòng vị tha, tình đoàn kết và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng.      Từ muôn đời nay, cha ông ta đã từng khuyên răn con cháu: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương  Người trong một nước thỉ thương nhau cùng” Và: “Thương người như thể thương thân”       Tất cả những lời khuyên ấy đều hướng đến một mục đích là giáo dục lòng vị tha, tình đoàn kết và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng. Song cuộc đời bao giờ cũng có hai mặt, mặt trái và mặt phải luôn cùng song song tồn tại. Bên cạnh những con người luôn biết yêu thương người khác, luôn biết sống vì mọi người vẫn còn không ít những kẻ sống vị kỷ, chỉ biết mình mà không biết đến lợi ích của cộng đồng. Chính vì lẽ đó mà “Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”.        Sách Luận ngữ có câu “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn đừng làm cho người khác). Câu nói này đã đề cập đến một phương diện vô cùng quan trọng trong cách đôi nhân xử thế. Đó là một quan niệm tích cực trong việc giải quyết mối quan hệ “Tôi và chúng ta”. Xã hội chì thực sự tiến bộ khi mọi người biết điều hoà một cách hợp lí mối quan hệ cộng đồng này.       Lòng vị tha, tinh thần đoàn kết được thể hiện qua việc mỗi người biết sống vì mọi người. VỊ tha là “vì người khác”, là biết chia sẻ, cảm thông và thương yêu con người bằng một tình cảm chân thành. Lòng vị tha giúp con người vượt lên trên mọi thù hận, mọi ganh ghét các nhân đẽ cùng sống vì lợi ích chung. Vượt lên trên những tính toán vi kỷ, con người sẽ sống cao thượng hơn, sẽ thanh thản hơn. Khi ai đó mắc lỗi với mình, người có lòng vị tha là người biết giúp người có lỗi nhận ra lỗi lầm để rồi vượt lên chính mình mà trở thành người tốt. Con người vị tha là con người có khả năng vượt lên trên mọi điều tính toán nhỏ nhoi, để sống nhân hậu hơn. Từ lòng vị tha, biết sống vì mọi người của mỗi người sẽ tạo nên một cộng đồng đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. “Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.         Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống chọi với thiên tai, địch họa của nhân dân ta là những minh chứng hùng hồn và thuyết phục nhất cho chân lí này. Một dân tộc Việt Nam nhỏ bé đã chiến thắng bao lượt kẻ thù mạnh hơn gấp bội, đó là nhờ tinh thần đoàn kết của mọi lớp người trong xã hội. Xưa nhà Trần chiến thắng quân Nguyên cũng một phần nhờ lòng vị tha và tinh thần đoàn kết ấy. Hai vị tướng giỏi là Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn, đã đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, quên thù riêng mà một lòng đánh giặc. Người Việt Nam vốn rất trân trọng và luôn nêu cao lòng vị tha của mình. Hai bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của dân tộc Việt Nam (Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh) đã nêu cao tinh thần ấy. Đối với kẻ thù vẫn mở đường “hiếu sinh”.        Trong xã hội hiện đại với nhịp sống xoay vần đến chóng mặt này, nhiều khi, sự ích kỷ cá nhân đã lấn át lòng vị tha. Con người nhiều khi chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình. Đề cao cái tôi mà quên đi cái chúng ta nên nhiều người đã trở thành vị kỷ. Và từ đó mà họ trở nên vô tâm, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Họ không còn biết xót xa trước số  phận chìm nổi lênh đênh của nàng Kiều, họ vô tình đến nhẫn tâm đối với những người khốn khổ xung quanh mình. Chúng ta đã gặp không ít trên đường phố ngày nay những cảnh mua bán chụp giật, những thái độ độc ác đối với trẻ em lang thang và những người kém may mắn. Trước nỗi đau của người xung quanh, người ta vẫn thản nhiên như không. Tâm hồn nhiều người ngày càng chai sạn và trong họ không còn lòng trắc ẩn. Đã vắng dần những niềm cảm thông, những sự san sẻ. Thái dộ thờ ơ lạnh nhạt đối với cuộc sống xung quanh, chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, vô trách nhiệm với cộng đồng sẽ dẫn con người đến sự vô tâm và tàn nhẫn. Vì mình, ai đó có thể giẫm đạp lên kẻ khác và đạo đức xă hội sẽ dần bị băng hoại. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải biết phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với người xung quanh một cách mạnh mẽ không kém gì việc chúng ta đã rất nhiệt tình ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Thói thờ ơ, lạnh nhạt và long vị tha, tình đoàn kết là hai mặt trái ngược nhau của vấn đề đạo đức xã hội và đều cần quan tâm. Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt và ngợi ca lòng vị tha tinh thần đoàn kết đều cần thiết và quan trọng như nhau. Ngợi ca những điều tốt đẹp của cuộc sống để giúp con người hướng thiện nhưng cần phải thấy rõ và vạch trần những mặt tiêu cực của xã hội để con người soi mình vào đó mà thấy mình và sửa mình. Trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng cần tránh thái độ ngợi ca một chiều. Nhất là trong thời đại này, khi mà nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đang làm xã hội thay đổi rất mạnh mẽ. Sự phát triển nhanh chóng cùa nền kinh tế xã hội nhiều khi kéo theo những mặt tiêu cực về đạo đức. Quan hệ trả tiền ngay lạnh lùng của xã hội công nghiệp làm con người khô cằn hơn, đời sống tinh thần nghèo nàn hơn. Và hơn ai hết, thế hệ trẻ là những người nhạy cảm nhất, họ dễ dàng nhập cuộc song cũng dễ trở thành những cỗ máy. Bên cạnh những thanh niên hăm hở nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội như ; hoạt động từ thiện, chiến dịch “mùa hè xanh” còn không ít những thanh niên chỉ lo hưởng thụ, thờ ơ, lạnh nhạt với cả gia đình và người thân. Hàng ngày, hàng giờ các phương tiện thông tin đại chúng vẫn không ngừng đề cao tinh thần mình vì mọi người của nhiều người và cũng không thiếu vắng những câu chuyện, những bài học đắt giá về những kẻ chỉ lo hưởng thu, chỉ quan tâm duy nhất đến cái Tôi của mình. Xã hội đã và đang không ngừng lên án những kẻ ích kỷ, vô trách nhiệm với cộng đồng và ngợi ca những con người có tấm lòng cao thượng, biết sống vì cộng đồng, điều hoà tốt nhất mối quan hệ giữa tôi và chúng ta.        Chúng ta đã rất quen thuộc với lời bài ca của thanh niên ngày nay “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” là chân lí đúng đắn của muôn đời. Mong muốn của cụ Tố Như xưa: “Bất tri tam bách dư niên hậu  Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”         Thiết nghĩ cũng là mong muốn của muôn đời về một xã hội mà ở đó con người và con người biết cảm thông và thương yêu nhau bằng những tình cảm nhân bản nhất. Trích: loigiaihay.com    
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài 1: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Suy nghĩ về ý kiến trên?

BÀI 1: PHÊ PHÁN THÁI ĐỘ THỜ Ơ, GHẺ LẠNH ĐỐI VỚI CON NGƯỜI CŨNG QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT NHƯ CA NGỢI LÒNG VỊ THA, TÌNH ĐOÀN KẾT. SUY NGHĨ VỀ Ý KIẾN TRÊN?

Trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tư tường lạc hậu để xây dựng con người mới, nếp sống văn hóa mới, nhiều người thường nhắc đến câu nói sau đây: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tư tường lạc hậu để xây dựng con người mới, nếp sống văn hóa mới, nhiều người thường nhắc đến câu nói sau đây: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”.   Trước hết, phải hiểu đúng nghĩa các từ ngữ: thờ ơ, ghẻ lạnh, lòng vị tha, tình đoàn kết. Cuốn Từ điển tiếng Việt in năm 2008, Hoàng Phê chủ biên đã giải nghĩa như sau: Thờ ơ: tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì. Ghẻ lạnh: tỏ ra lạnh nhạt đối với người lẽ ra là thân thiết, gần gũi. Vị tha: có tinh thần chăm lo đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Đoàn kết: kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung. Qua đó, ta hiểu thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là tính xấu; người sống thờ ơ, ghẻ lạnh là người không tốt, là kẻ vô cảm, vô tình với đồng loại. Lòng vị tha, tình đoàn kết là tính tốt; người giàu lòng vị tha và có tình đoàn kết là người tốt. Câu nói trên đây chỉ ra mối quan hệ và tầm quan trọng giữa việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người và sự ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Con người có nhân hậu, sống trong tình người mới có lòng vị tha, tình đoàn kết, mới biết “thương người như thể thương thân”. Nhân dân ta giàu lòng vị tha và tình đoàn kết nên tâm hồn Việt Nam rất đẹp, sức mạnh Việt Nam vô địch, có thể chiến thắng thiên tai, địch họa, đánh đuổi thù trong, giặc ngoài. Chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mĩ là nhờ tinh thần đại đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân ta. Xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam, cứu giúp đồng bào vùng bị lũ lụt bão tố, quan tâm săn sóc các em nhỏ mồ côi, những học sinh nghèo... làm tất được các việc đó là do sức mạnh của lòng vị tha, tình đoàn kết của đồng bào, chiến sĩ, của hơn hai triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài. Chính vì có lòng vị tha, tình đoàn kết mà nhân dân ta hiểu một cách sâu sắc: chia rẽ là chết; thờ ơ, ghẻ lạnh với bà con, với đồng loại là vô tình, vô tâm, bạc bẽo, nhẫn tâm. Trong công cuộc xây dựng con người mới, nếp sống mới, việc ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với con người. Sống giữa người thân, sống giữa tập thể, giữa cộng đồng mà thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người thì kẻ ấy thật đáng chê. Chỉ biết bản thân mình, chẳng hề quan tâm đến ai. Một tiếng kêu rên của người bất hạnh, giọt nước mắt của người khốn khổ cơ hàn, đối với họ cũng chẳng quan tâm. Vì kẻ sống thờ ơ, ghẻ lạnh, trái tim đã bị đóng băng, tâm hồn đã bị khô héo, sống không chút tình người. Đáng thương hại thay, những kẻ thờ ơ, ghẻ lạnh là những Bê-li-cốp, loại “Người trong bao" mà nhà vãn Nga Sê-khốp đã nói đến. Các câu tục ngữ: “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “Đèn nhà ai rạng nhà ấy’’ đã nói lên bản chất loại người có thái độ thờ ơ, ghè lạnh đối với mọi người. Loại người này đã tự tách rời với mọi người xung quanh, sống cô đơn, khép kín, mũ ni che tai! Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lanh đối với con người là để xây dựng tính tập thể, tính cộng đồng, lòng vị tha. tính đoàn kết; là để làm cho con người gần gũi người hơn; là để xây dựng tình tương thân tương ái, là để xây dựng con người mới, xã hội mới, nếp văn hóa mới. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương; tình thương của gia đình, của bạn bè, của đồng bào, đồng chí. Tuổi trẻ bước vào đời sẽ tìm thấy sức mạnh và hạnh phúc trong tình nhân ái, lòng vị tha, tình đoàn kết của cộng đồng. Hơn bao giờ hết, ta càng thấm thìa ý kiến: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như  ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Suy nghĩ về lòng dũng cảm nghị luận xã hội

SUY NGHĨ VỀ LÒNG DŨNG CẢM NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Mấy tháng trước, đài báo đưa tin về một anh thanh niên tay không săn bắt cướp ở Thành phố Hổ Chí Minh mà không cần gia nhập một tổ chức công an hay dân phòng nào, cũng không phải để lấy thù lao hay ơn huệ. Bài làm Mấy tháng trước, đài báo đưa tin về một anh thanh niên tay không săn bắt cướp ở Thành phố Hổ Chí Minh mà không cần gia nhập một tổ chức công an hay dân phòng nào, cũng không phải để lấy thù lao hay ơn huệ. Hằng ngày, chúng ta nghe biết được có những bạn trẻ nhảy xuống sông cứu người sắp chết đuối, có những tình nguyện viên không quản ngại gian khổ nguy hiểm đến với các bệnh nhân trại phong, vào các bệnh viện truyền nhiễm hoặc đến với đồng bào dân tộc miền núi cần sự giúp đỡ.... Và chúng ta gọi họ là những người có lòng dũng cảm. Vậy thế nào là lòng dũng cảm? Tại sao từ xưa đến nay con người luôn đề cao và kêu gọi lòng dũng cảm? Tôi hiểu về lòng dũng cảm chính từ những sự việc nhỏ bé mà tôi chúng kiến trong cuộc sống hằng ngày với những người thân yêu nhất. Vốn là một cô bé nhút nhát yếu đuôi, không ít lần tôi từng đau khổ vì tính cách "trời sinh" này của mình. Còn nhỏ, hồi bé tôi sợ nhiều thứ lắm, nào sợ chuột, sợ gián, sợ dơi, sợ nhện, sợ đến cả mấy con tò vò hay bay vào góc nhà tôi xây tổ... Đến bây giờ tôi vẫn còn rất sợ ma, sợ tối. Anh trai tôi hay cười giễu tôi là đồ nhát như cáy ngày, đồ thỏ đế, đổ mít ướt... Còn mẹ tôi thì cười khích lệ: "Con phải dũng cảm lên chứ"! Dần dần, lớn lên tôi ngày càng nhận thấy, sự thiếu can đam, con người ta sẽ rất khó sống. Mẹ tôi chính là tấm gương đầu tiên cho tôi soi để thấy lòng dũng cảm của con người. Mặc dù mẹ tôi từng phải trái qua chiến tranh. Mẹ không phải là cô giao liên, cô thanh niên xung phong mở đường cho chị cứu thương băng minh qua mưa bom bão đạn góp phần làm nên cuộc sống hòa bình hôm nay. Mẹ chỉ là một người phụ nữ nông dân bình thường, sớm tối miệt mài công việc gia đinh, đồng áng. Mẹ lội ruộng sâu khi mưa lũ tràn về mùa gặt, nước ngập ngang lưng, bất chấp những con vật mà tôi thường kinh hãi như đỉa, vắt, rắn, rết, mẹ cố sức đẩy thuyền lúa về nhà. Mẹ không khỏe lắm mà vẫn cố đẩy thêm vài thuyền lúa nữa giúp bác hàng xóm giá yếu neo đơn dù mẹ đã rét run cầm cập. Có lần giữa đêm mưa lớn, nghe tiếng người kêu cứu ngoài mương, mẹ không quản ngại sấm chớp, lao ra khơi cửa. Mẹ bảo: "Thấy người cần giúp, sức mình cố giúp được mà không giúp là "phải tội". Và tôi nghĩ mẹ chính là người dũng cảm nhất. Cô giáo tôi thường khuyên những bạn trót mắc lỗi hãy dũng cảm nhận lỗi. Một bạn nam thuộc loại "cá biệt" trong lớp tôi, một lần viết bậy lên tường, nhưng cô giáo lại tưởng thủ phạm là bạn khác và sắp sửa đưa hình thức ki luật cho bạn đó. Bạn "cá biệt" có thể im lặng nhưng cuối cùng đã dám nói ra sự thật, xin lỗi của mình. Cả lớp tôi bắt đầu nhìn bạn "cá biệt" bằng con mắt khác, "không cá biệt" nữa. Một anh thanh niên tay không bắt sống bọn cướp giật ngoài phố, lấy lại đồ đạc mà không sợ chúng trả thù. Một cậu bé dám nhảy xuống sông cứu người sắp chết đuối... trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể được chứng kiến nhiếu hành động sáng ngời lòng dũng cảm như thế. Lòng dũng cảm càng bộc lộ rõ hơn khi con người bị đẩy vào những hoàn cảnh đặc biệt bất thường. Đó là tấm gương quên mình hi sinh cho cuộc chiến tranh tranh độc lập dân tộc, tự do dân tộc cùa các thế hệ anh hùng đất Việt, từ Trần Đình Trọng cho đến Nguyễn Trung Trực, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Văn Ơn, Nguyễn Thái Bình... Đó còn là những con người sẵn sàng xả thân vì công lí, lương tri và nghệ thuật điện ảnh thế giới đã tái hiện lại trong hình tượng thanh tra Ka-ta-nhi-a một mình chống lại ma-phi-a bất chấp cái chết đêm ngày rình rập. Từ nhỏ đến lớn, tất cả những con ngưòi và hành động đó chính là hiện thân của lòng dũng cảm. Như vậy, có thể hiểu lòng dũng cảm là dám sống mạnh mẽ, không sợ khó khăn gian khổ, không sợ chết, dám hi sinh vì mục đích của mình, được không? Có thể nói những người lính đánh thuê cho quân đội Mĩ đem thân làm bia đỡ đạn hòng xâm lân đất nước khác là có lòng dũng cảm được không? Hay những lẽ đánh bom tự sát phục vụ cho một vài tổ chức khủng bố trên thế giới cũng thể hiện lòng dũng cảm? Phải chăng nhóm phi công cảm tử lái máy bay đầm vào tòa tháp đôi ở Niu - Oóc ngày 11 tháng 9 năm 2001 là những người dũng cảm nhất thế giới? Tôi không cho rằng khái niệm lòng dũng cảm mở rộng đến vậy. Anh trai tôi cũng là một chàng trai đầy nam tính, rất dũng cảm, khi đi đâu có anh đi cùng là tôi hoàn toàn yên tâm. Có một lần, nhóm bạn cùng lớp của anh thách đố nhau về lòng dũng cảm, thử xem ai dũng cảm nhất. Điều kiện của cuộc thi dũng cảm là bơi qua sông Hồng vào lúc sáng sớm tinh mơ chưa rõ mặt người. Bôn người "dám" thi trong đó có cả anh trai tôi đã suýt mất mạng nếu không may mắn được một bác thuyền chài cứu kịp. Chỉ sót lại một người "hèn nhát" không dám tham dự thì không gây nên phiền hà. Bạn có cho rằng bốn người thanh niên đó dũng cảm không? Theo tôi, nên gọi họ là bọn "liều thân ngốc nghếch" thì đúng hơn. Tôi không có lòng dũng cảm trong những hành động vô nghĩa lí như vậy. Lòng dũng cảm không chỉ có nghĩa là không sợ khổ, không sợ chết mà nó còn gắn với mục đích tốt đẹp, ý nghĩa cao cả. Lòng dũng cảm tốt đẹp khi nhờ có nó, con người có đủ ý chí vươn lên vượt mọi gian khổ, thứ thách để khẳng định phẩm giá, năng lực của bàn thân. Lòng dũng cảm cao cả khi nhờ có nó, con người dám quên mình vì việc nghĩa, dám hi sinh tính mạng vì sự sống còn của đất nước, của người thân cũng như đồng bào, đồng đội. Như thế lòng dũng cảm luôn gắn liền với ý thức vể nhân cách, phẩm giá làm người. Lòng dũng cảm còn đi liền với tình yêu thương, đức vị tha, khi nó thực sự cảm hóa con người. Lòng dũng cảm xa lạ với sự yếu hèn, bạc nhược không dám đôì mặt với thử thách cũng như những thói hư tật xấu. Cuộc sông luôn đầy những bất trắc, thử thách. Mỗi khoảnh khắc sống là mỗi khoảnh khắc vượt lên nỗi sợ hãi, sự yếu đuối của chính mình. Và mỗi kh phải đốì mặt với những sự thật không mong muốn, tôi lại tự nhủ với chính mình: Can đảm lên! Vì can đảm là cội nguồn của cái đẹp! Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỨNG MINH RẰNG NGUỒN GỐC CỐT YẾU CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ TÌNH CẢM VÀ LÒNG VỊ THA

CHỨNG MINH RẰNG NGUỒN GỐC CỐT YẾU CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ TÌNH CẢM VÀ LÒNG VỊ THA

Đây là một lời bàn của nhà phê bình Hoài Thanh ^^ " nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật muôn loài" và:" Văn chương sẽ là hình dung của sống muôn hình vạn trạng, chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống.." Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc của nước ta được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Nghệ thuật.Để bình luận về văn chương, ông có viết: " nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật muôn loài" và: văn chương sẽ là hình dung của sống muôn hình vạn trạng, chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống..." Văn chương ở đây là các tác phẩm văn học, nghệ thuật ngôn từ, vẻ đẹp câu văn, lời nói. " Nguồn gốc cốt yếu"có nghĩa là nơi bắt nguồn, là yếu tố để hình thành tác phẩm văn chương.. Theo Hoài Thanh, nguồn gốc chính của văn chương chính là lòng "thương người" và" muôn vật muôn loài".Câu văn đã khẳng đinh răng: "Văn chương bắt nguồn từ lòng nhân ái Tất cả mọi vật đều có nguyên nhân nguồn gốc của riêng nó. Và sự thật ấy đã được chứng minh qua nhiều tác phẩm văn chương của các thời đại từ xưa và nay.Từ lòng thương xot cho số phận của người phụ nữ "long đong, lận đận, sóng gió", nhà thơ bà chúa thơ Nôm hồ Xuân Hương mới có bài thơ : Thân em vừ trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc đầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Hay những bài ca dao từ xa xưa của ông cha ta: Đứng bên ni đòng ngó bên tê đông mênh mông bát ngât Đứng bên ni đòng ngó bên tê đông bát ngât mênh mông Thân em như chẽn lúa đòng đong Phất phơ dưới ngọn nắng hông ban mai. Từ tình yêu gia đình, ta mới có được những thơ đặc sắc như mẹ ốm của thi sĩ Trần Đăng Khoa, hay như tình bà cháu thật cảm động trong tác phẩm " Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh,...kho tàng ca dao dân ca Việt nam rất phong phú, có biết bao câu ca dao cũng bắt nguồn từ tình cảm gia đình: Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông núi cao biể rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Hay như bài ca doa: Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Từ tình yêu quê hương đất nước, ta mới được thửng thức bao bài thơ tuyệt tác. Đó là hình ảnh của vị quan trên bước đường công danh mà tinh quê vẫn vơi đầy trong lòng người li khách trong tác phẩm "Hồi hương ngẫu thư" của Hạ Tri Chương, Hình ảnh của Hồ Chủ Tịch giữa cảnh rừng Việt Bắc dưới ánh trăng thơ mộng trong "Cảnh khuya".Nỗi nhớ quê nhà gửi gắm qua ánh trăng của đại thi hào Lí Bạch trong" Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh".Ta còn có thể kẻ thêm 1 số tác phẩm khác như: "bên kia sông Đuống " của Hoàng Cầm, "Từ ấy " của Tố Hữu,"Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm, Chế Lan Viên với "tiếng hát con tàu'', "nhớ con sông quê hương " của Tế Hanh, "Lan" của Kim Lân,... Từ tình yêu thiên nhiên, ta có được Những tác phẩm rất nổi tiếng:" Bài ca Côn Sơn" của Nguyễn Trãi,"Nguyên tiêu " của Hồ Chí Minh Từ sự đồng cảm xót xa cho những số phận của nông dân nước ta trong cxã hội thực đân nửa phong kiến, đã bao tác phẩm ra đời: " Sống chết mạc bay" của Phạm Duy Tốn."đông hào có ma" của Nguyễn công hoan,... Và cũng từ tình yêu trai gái, ta cũng được thưởng thức bao bài thơ lãng mạn như: "Sóng ", thuyền và biẻn" của Xuân Quỳnh, hay những câu ca dao mộc mạc chân tình nơi thôn quê ngõ xóm: Cô kia đội nón mới mua Cho anh mượn tạm 1 mùa chăn trâu về nhà mẹ hỏi nón đâu Thì em cứ bảo qua cầu gió bay. Từ đây, ta thấy được lòng thương người là 1 phần to lớn trong các tác phẩm văn chương Ý nghĩa văn chương là “hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống”. Nguồn gốc của văn chương “cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha”. Hoài Thanh đã có 1 cách nói riêng, chỉ ra 2 chức năng của văn chương là nhận thức và giáo dục. Văn học phản ánh hiện thực, nâng cao nhận thức hiện thực, giúp người đọc “hình dung sự sống muôn hình vạn trạng”; văn học còn “sáng tạo ra sự sống”, đó là điều kỳ diệu cảu thơ văn. Ví dụ ta đọc những bài thơ như “Khoảng trời, hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ, hay “Bài thơ về tiểu đội xe ko kính” của Phạm Tiến Duật........ Ta hình dung được, tái hiện được Ccuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta trả qua muôn vàn khó khăn ác liệt, tuổi trẻ Việt Nam rất anh hùng: “Ko có kính, ko phải vì xe ko có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng....” (Phạm Tiến Duật)Nguồn gốc của văn chương là “tình cảm, là lòng vị tha” ; thơ văn đích thực có “mãnh lực lạ lùng” có thể làm cho đọc giả vui, buồn, mừng, giận...... Đó chính là tính giáo dục của văn chương. Văn chương có tính nhân bản đã góp phần nhân đạo hoá con người. Quan niệm của Hoài Thanh về nguồ gôc, về công dụng của văn chương rất tiến bộ, rất đúng đắn. Ta yêu kính mẹ cha hơn, hiếu thảo hơpn khi đọc bài ca dao: Công cha như núi Thái Sơn Ta thầm nhớ công ơn người trồng cây, gieo hạt, nhờ họ, ta được nếm hương đời, vị đời: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm 1 hạt, đắng cay muôn phần
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn năm 2014 THCS Nghi Văn

Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn năm 2014 THCS Nghi Văn

Câu 1: (2,0 điểm) Cho đoạn văn: “… Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội”.                                                                  ( Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD ) a. Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? b. Câu chủ đề của đoạn văn trên là câu nào? c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn? d. Từ được in đậm trong câu “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.” là thành phần biệt lập gì ? Câu 2: (3,0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật bác Phi – líp trong văn bản Bố của Xi – mông của nhà văn Pháp Guy đơ Mô – pa - xăng.Từ nhân vật bác Phi – líp suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống. Câu 3: (5,0 điểm) Phân tích đoạn đoạn thơ sau:        “Ngửa mặt lên nhìn mặt  có cái gì rưng rưng                                             như là đồng là bể  như là sông là rừng          Trăng cứ tròn vành vạnh                                            kể chi người vô tình         ánh trăng im phăng phắc   đủ cho ta giật mình.”                                (Trích Ánh trăng – Nguyễn Duy, Ngữ văn 9 – Tập I)   Hết   ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN NĂM 2014 - THCS NGHI VĂN, NGHỆ AN  Câu 1: (2,0 điểm) Chiết đến 0,25 điểm. a. Đoạn văn trên trích từ văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới(0,25 điểm), tác giả Vũ Khoan(0,25 điểm). b. Câu chủ đề là câu 1(0,5 điểm). c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là phương thức lập luận(0,5 điểm). d. Từ “có lẽ” là thành phần biệt lập tình thái(0,5 điểm). Câu 2: (3,0 điểm) a. Mở bài: (0,25 điểm) Đi từ tác giả đến tác phẩm đến nhân vật. b. Thân bài:  (2,5 điểm) * Cảm nhận về bác Phi Líp:  (1,5 điểm)  Bác phi líp là người  lao động bình thường, giản dị và có phẩm chất tâm hồn đẹp đẽ. Ý 1: Cảm nhận về ngoại hình. Ý 2:  …Tâm hồn đẹp đẽ: - Bác là người nhân hậu, vị tha, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác. - Bác là người rất cao thượng, bao dung. * Suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống: (1,0 điểm) - Học sinh hiểu được lòng nhân ái chính là biết yêu thương sẻ chia, quan tâm đến mọi người. - Trong cuộc sống hiện nay có biết bao người có lòng nhân ái bao la.Đó là con cái yêu thương Cha mẹ, ông bà, anh em ruột thịt yêu thương đùm bọc lẫn nhau, bạn bè, bà con lối xóm khi tối lửa tắt đèn có nhau. +  Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông mà bằng những hành động cụ thể….. - Biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái là đức hy sinh. + Những chiến sĩ đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước(chống Pháp và chống Mĩ) + Các chiến sĩ đang ngày đêm bảo vệ vùng trời vùng biển(liên hệ tới việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981) - Lòng nhân ái chính là truyền thống của dân tộc ta. c. Kết bài: ( 0,25 điểm) Qua nhân vật bác Phi – líp, tác giả đã gửi đến chúng ta bức thông điệp… Câu 3: (5,0 điểm) a. Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, nêu rõ vị trí của đoạn.Khái quát nội dung(có thể nêu ở thân bài).(0,25 điểm) b. Thân Bài:  (4,5 điểm) 1. Luận điểm: (0,5 điểm) Hai khổ thơ cuối ghi lại tình huống gặp lại vầng trăng và sự thức tỉnh, một bài học làm người. 2: Phân tích: (4,0 điểm) Ý 1:  Người lính(con người) gặp lại vầng trăng(người bạn cũ…) trong một tình huống thật bất ngờ khó trốn chạy.....Trong khoảnh khắc ấy, người lính năm xưa bàng hoàng thức tỉnh. Bao kỉ niệm xưa ùa về….   Nghệ thuật: Từ láy(rưng rưng) , điệp ngữ(như là) thể hiện sự rung động xao xuyến hướng về kỉ niệm tốt đẹp, ân hận vì nhận ra lỗi lầm của mình. Ý 2:  Trăng(người bạn cũ, quá khứ) vẫn thủy chung mặc cho ai thay lòng đổi dạ. Trăng vẫn bao dung độ lượng, không đòi hỏi đền đáp.  c. Kết bài: (0,25 điểm) Khái quát ý nghĩa đoạn thơ: Đoạn thơ có ý nghĩa triết lí sâu sắc,  thức tỉnh những ai dễ dàng lãng quên quá khứ tốt đẹp. Cần biết sống thủy chung, nghĩa tình. Các em chú ý theo dõi các đề thi thử vào lớp 10 THPT môn Văn năm 2014 tiếp theo trên Tuyensinh247 nhé! Theo Dethi.Violet
Xem thêm

Đọc thêm

Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người

PHÊ PHÁN THÁI ĐỘ THỜ Ơ, GHẺ LẠNH ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng cần như ngợi ca tình yêu thương, lòng vị tha, sự đoàn kết. Thái độ của anh(chị) về điều này? Bài Làm “Bạn có cười với ai đó hôm nay chưa?". Đó là câu trả lời cúa một nhà tâm lí học, khi nhiều người hổi ông rằng, “Làm thế nào để tâm hồn bớt chai sạn trong thế giới hiện nay?”. Lí do nhà tâm lí học đó hỏi ngược lại những người khác để chúng ta đoán được. Đó không chỉ là một câu hỏi mà đó là cả một lời khuyên, sự vật, sự việc đều có hai mặt của nó. Hai mặt, đó hoàn toàn đối lập với nhau nhưng lại cùng tồn tại song song với nhau, không thể tách rời. Bởi thế “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cân thiết như ngợi ca tình yêu thương, lòng vị tha, sự đoàn kêt”. Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kĩ thuật ngày càng nâng cao, cuộc sống con người cũng trở nên hiện đại và tiện nghi hơn. Thế nhưng, song song với điều đó, khi giá trị của vật chất tầng lên cũng là lúc con người mất dần giá trị tinh thần. Nhịp điệu nhanh, gấp của cuộc sống khiến con người quên cả những gì bản thân mình thật sự cần, họ chỉ mải mê chạy theo miếng cơm manh áo. Phải vậy thôi, đê tồn tại. Và việc đó đồng nghĩa với việc ít quan tâm đến những mốì quan hệ xã hội hoặc thậm chí là những quan hệ trong gia đình. Họ dần nhận ra tâm hồn họ bắt đầu trở nên chai sạn nặng nề hơn, họ trở nên thờ ơ, ghẻ lạnh với mọi người xunh quanh, hình là tình huống rất nhiều con người trong thế giới hiện đại, mà đặc là ở biệt phương Tây gặp phải, bị mắc một căn bệnh, một căn bệnh không dễ gì phát hiện, và khi đã phát hiện được thì không thể dễ dàng chữa khỏi, đó là bệnh "vô cảm", hay nói cách khác, là thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh trước nỗi đau của người khác. Ở mức độ nhẹ chỉ lạnh lùng, ngại giao tiếp thân mật với người khác. Ở mức độ nặng hơn thì có thể thấy người khác gặp nạn mà không giúp đỡ, xem như là chuyện thiên hạ, không phải là chuyện của mình. Một nhà văn Châu Á được mời sang Mĩ dự hội thảo văn chương, anh đã rất ngạc nhiên khi mọi người rất lạnh lùng, quá sòng phẳng. Anh kể lại rằng khi vào thang máy, anh hỏi một người phụ nữ đi cùng muốn lên tầng nào để anh nhấn phím giúp, vậy mà cô ta nhìn anh như nhìn quái vật "Có lẽ ờ Mĩ người ta thích làm mọi việc không cần tới sự giúp đỡ của người khác thì hơn ", anh chua chát kết luận. Trong cuộc sống hằng ngày, thật không khó để chúng ta phát hiện ra những ai đang bị bệnh "vô cảm". Một phụ nữ đang mang thai lên xe buýt, xe đã hết chỗ, chị phải đứng mười lăm phút cho đến trạm dừng mà không ai nhường ghế cho chị. Một bà cụ gánh hàng qua đường, bị một tay phóng nhanh quẹt phải, gánh hàng đổ hết, vậy mà không có ai giúp bà đứng lên, đừng nói có ai dọn gánh hàng giúp bà. Phải chăng bây giờ, chính người Việt Nam ta lại đi ngược lại với truyền thông "Thương người như thể thương thân" của ông cha ta ngày xưa? Câu trả lời có thể là Có đây!, nếu chúng ta không lên án, phê phán lối chai sạn, thờ ơ như thế. Việc này cũng quan trọng và cần thiết như việc ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kê't. Lòng vị tha, tình đoàn kết, hay lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ mọi người khác khi gặp khó khăn chính là một trong những truyền thông quý báu đáng tự hào nhất của người Việt Nam. “Lá lành đùm lá rách". Mỗi khi có thiên tai, bão lũ, đồng bào ta tích cực vận động, quyên góp giúp đỡ người bị nạn Người Việt Nam ta lại nối tiếng thân thiện, và nụ cười Việt chính là một trong những đặc trưng khiến cho du khách nước ngoài cảm thấy gần gũi, thân thuộc với đất nước chúng ta. Thế nhưng, nêu không ngăn chặn những lối sống thờ ơ, ghẻ lạnh đang ngày càng phổ biến và duy trì những truyền thống tương thân tương ái thì những giá trị tinh thần sẽ dễ dàng bị những giá trị vật chất (tầm thường) lấn át. Cuộc sống cũng có hai mặt. Chúng ta không chi nên ca ngợi cái đẹp mà không phê phán cái xấu. Bởi vì cái đẹp và cái xấu luôn luôn tồn tại song song với nhau, đối lập nhau, và có khi cái xấu có thể lấn át cái đẹp. Do đó, lối sống thờ ơ, ghẻ lạnh cần phải bị phê phán thì mới có thể mở đường cho những giá trị tốt đẹp khác lên ngôi nhìn một chiều luôn là cái nhìn hạn chế. Bên cạnh việc thây cái tốt, ta cũng phải thấy cả cái xấu thì mới có thể tránh xa được cái xấu và phấn đấu cho cái tốt.   Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh và ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết giúp sống con người thêm tốt đẹp, xã hội thêm phát triển, thế giới tràn ngập yê thương, bớt đi những áp lực, nỗi đau do chính con người gây ra cho nhau. Tuy nhiên, không chỉ phê phán hay ca ngợi mà cuộc sống con người có thể tốt đẹp nên một sớm một chiều. Thành công đòi hỏi ở cả hai mặt: lời nói và hành Chúng ta còn phải hành động! Hành động đế làm cho cuộc sống thêm tình thương, bớt đi sự thờ ơ. Xu hướng của xã hội phương Tây ngày nay, sau khi đã đạt được những tựu về kinh tế là bớt coi trọng vật chất, trở về những giá trị tinh thần, dễ dàng kiểm chứng qua sự thành công vang dội của bộ sách nổi tiếng Quà tặng của cuộc sống. Chỉ là những câu chuyện, những bài học nhỏ trong cuộc nhưng lại có những giá trị tinh thần to lớn. Và chính những người phương Tây bắt đầu nhận ra rằng chính mình đã quá thờ ơ với cuộc sống xung quanh ấy lại muôn hành động, từ những quyển sách đó để rút ra những việc cần thiết để tạo dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn. Chẳng nhẽ với xã hội phương Đông chúng ta – nơi mà giá trị tinh thần được vun đắp và duy trì mấy ngàn năm - lại không thể thực hiện được điều đó Chúng ta làm được. Tôi tin điểu đó. Tôi tin. Bởi tôi còn thấy một em bé dắt một bà cụ qua đường. Bời khi tôi bị ngã xe đạp vẫn có những người bạn tốt bụng chạy đến đỡ tôi dậy và chở tôi về nhà. Bởi tôi vẫn nhận ra sự tích cực của các bạn trong lớp tôi khi thực hiện phong trào "Quỹ heo đất tấm lòng vàng" do Đoàn trường phát động. Và có cả những điều nhỏ hơn để chúng ta bắt đầu từ đó làm cho những mối quan hệ quanh ta trở nên tốt đẹp. Hãy mở lòng mình ra! Hãy đón nhận tình cảm và cho đi tình thương! Hãy thân thiện với những ai chưa đủ can đảm để mở lòng mình! Hãy nở một nụ cười với ai đó hôm nay! Cách tốt nhất làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp là tự mình vun trồng những mối quan hệ Bạn có cười với ai đó hôm nay chưa?   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Văn học có tính nhân đạo hóa con người

VĂN HỌC CÓ TÍNH NHÂN ĐẠO HÓA CON NGƯỜI

Văn học là trong những loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần của con người ngay từ thuở xa xưa. Dù dưới hình thức nào thì nó vẫn là sự phản ánh thế giới khách quan qua thế giới chủ thể của nghệ sĩ… Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự giãi bày những tình cảm, những khát vọng sâu xa của nhà văn trước cuộc đời, trước những vấn đề có ý nghĩa thân thiết đối với con người. Dù văn học viết về những sự cố lớn lao: bão táp cách mạng, chiến tranh, hay chỉ diễn tả một tiếng chuông chùa, một bờ tre, ruộng lúa… bao giờ ta cũng tìm thấy hình bóng, tâm sự của con người gửi gắm ở bên trong. Với tư cách là cụ thể của hoàn cảnh, là động lực của sự phát triển xã hội, là nguồn gốc của mọi sáng kiến, phát minh. Con người với tất cả niềm vui, nỗi buồn, tâm tư khát vọng, thành đạt hay khổ đau luôn luôn là đối tượng trung tâm của văn học, là mối quan tâm hàng đầu của nghệ sĩ chân chính. Tình yêu thương đối với con người là nguồn động lực căn bản nhất thúc đẩy ngòi bút của mọi nhà văn chân chính. Nhà văn Nga Tolstoi đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Còn Goethe thì nói: “Những điều đầu tiên mà thiên nhiên cần là tình yêu nồng nàn đối với cuộc sống”. Nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet thì diễn tả tình yêu ấy bằng hình ảnh thật cụ thể: “Nhà văn là người cho máu”. Đó là một tình yêu bao gồm cả sự hi sinh to lớn. Tác phẩm chân chính đúng là sản phẩm của trí tuệ, trái tim, mồ hôi và cả nước mắt nữa của người nghệ sĩ, là kết quả của quá trình nếm trải, nung nấu, cảm xúc dào dạt – cái mà người ta gọi là cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật. Không ai làm thơ làm văn trong trạng thái khô cằn, chai sạn xúc cảm. Cảm hứng ấy có thể bắt đầu từ niềm vui sướng, tự hào hay tin tưởng, phấn khởi, nhưng với nghệ sĩ chân chính thì chẳng bao giờ có niềm vui hời hợt, giản đơn. Bởi vì cuộc sống con người, trong tính hiện thực của nó, niềm vui luôn luôn đi đôi với nỗi buồn, ánh sáng luôn tồn tại bên cạnh bóng tối, cái xấu luôn luôn xen lẫn bên cạnh cái tốt, hạnh phúc thường đi liền với khổ đau, bất hạnh…Và những khổ đau của con người xưa nay vốn là nỗi nhức nhối, bức xúc nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút. Chính nhà văn Xô viết V.Raxpuchin đã diễn đạt tình cảm ấy một cách giản dị chân thành: “Nếu tôi viết, ấy là vì tôi cảm thấy đau ở đâu đấy trong người” với Huygo thì bể khổ của nhân loại là hầm mỏ khai thác không vơi cạn của đời ông. Truyện kiều là tiếng khóc đứt ruột. Chí Phèo là tiếng thét phẫn uất đòi quyền làm người…Những tác phẩm chân chính, bất tử với thời gian thường là những tác phẩm diễn tả những xung đột có khi đầy bi kịch giữa cái thật và cái giả, giữa cái thiện và cái ác, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ghê tởm … Tuy nhiên “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”. Đó chính là khả năng nhân đạo mà văn học chân chính có thể mang lại cho con người.Ở đây có mấy vấn đề cần lưu ý: Sở dĩ nói văn học chân chính chứ không phải văn học nói chung vì trong sự tồn tại của văn học nhân loại quả là những tác phẩm vì con người, nâng cao phẩm giá con người nhưng cũng có thứ văn chương làm hạ thấp phẩm giá con nguời. Có những tác phẩm là kết quả của thao thức khổ đau, hi sinh, trăn trở, nhưng cũng không thiếu thứ văn chương làm thuê, làm công cụ, bồi bút tô son trát phấn cho giai cấp thống trị trong những xã hội đã suy tàn, mục ruỗng… Có thứ văn chương bất tử, sống mãi với muôn đời, có thứ văn chương rẻ tiền sẽ bị quên lãng với thời gian. Chủ nghĩa nhân đạo, lòng yêu thương tôn trọng con người là thước đo căn bản nhất để đánh giá mọi giá trị văn học chân chính . “Những người khốn khổ” của Hugo, “ Sống lại” của L.Tolstoi, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm trong đó tác giả còn bộc lộ nhiều quan điểm sai lầm về tư tưởng và những giải pháp cải tạo xã hội, nhiều nhân vật cũng đã trải qua bao nhiêu vấp ngã, giằng xé, lầm lẫn… nhưng đó lại là những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ sống mãi với thời gian; bởi sức mạnh cảm hóa sâu xa, bởi lòng yêu thương con người mênh mông, sâu thẳm; bởi thái độ căm ghét, phẫn uất trước những thế lực xấu xa, tàn ác đã giày xéo, chà đạp lên con người. Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người tin hơn ở những điều thiện, ở khả năng vươn tới cái cao cả, cao thượng, kể cả những con người đã trải qua và chịu đựng những điều ác khủng khiếp do xã hội và có khi do chính mình gây ra. Mặt khác, nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học không phải chỉ là khả năng gợi lòng trắc ẩn, động tâm, thương cảm đối với những cảnh ngộ bất hạnh đói nghèo diễn ra trong xã hội, dù điều đó cũng là một phương tiện đáng quí. Khả năng nhân đạo hóa còn bộc lộ ở sự tự ý thức về bản thân, tự nhận diện bản thân trước những điều xấu, tốt, thiện, ác… mà tác phẩm gợi lên. Người ta đã nói đến sự “thanh lọc” tâm hồn của văn học, hay hình thức “sám hối” của bản thân trước lương tâm của quá trình tiếp nhận tác phẩm là như thế. Đọc Nam Cao không phải chỉ là để cảm thông với Điền, với Thứ, với Hộ… với một cuộc sống bị “cơm áo ghì sát đất”, nó đang có nguy cơ giết chết những ước mơ và những tình cảm nhân ái, cao thượng. Những tác phẩm của Nam Cao còn như một tấm gương soi để độc giả hôm nay tự nhận diện chính mình, không ngừng vượt lên hoàn cảnh bản thân để sống một cách xứng đáng hơn, tốt đẹp hơn. Nếu trong tác phẩm “Đời thừa”, nhân vật Hộ là một trí thức hoàn toàn tốt thì tác phẩm có thể không làm ta xúc động đến thế. Sự giằng xé giữa nhân cách cao thượng, hành vi đẹp đẽ, hoài bão to lớn, tấm lòng vị tha của một “chàng trai trẻ vốn say mê lí tưởng” với những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí, với sự câu thúc của đời sống tầm thường hàng ngày, cả những cẩu thả, bất lương trong nghề cầm bút và những hành vi “tàn nhẫn của hắn” đối với Từ – người vợ rất đỗi đáng thương của y và những giằng xé nội tâm không nguôi trong lòng Hộ, lại làm người đọc xót xa thương cảm đến tận đáy lòng. Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn rất lớn của tác phẩm. Chính bản thân tác phẩm “Đời thừa” đã tạo được giá trị đích thực mà tác giả của nó hằng mong mỏi. “Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho con người gần người hơn”. Những giá trị nhân văn to lớn như thế lại được hình thành từ những mẫu chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh nhưng đã được viết bằng một ngòi bút chân thực, tài hoa và nhất là bằng một cuộc sống cũng đầy mâu thuẫn, đau xót, trăn trở của chính nhà văn Nam Cao. Ở đây có vấn đề viết cái gì và viết như thế nào. Không nên đồng nhất nội dung phản ánh và sự phản ánh. Nói cho rõ hơn, ở đây tình cảm, lương tri, thái độ trân trọng đối với giá trị tinh thần của con người đã rọi sáng vào từng cảnh ngộ trong câu văn, làm dấy lên ở người đọc một mối liên tưởng đồng cảm, đau xót. Đó mới là những yếu tố tạo nên sức thuyết phục sâu xa đối với người đọc. Đọc “Đời thừa” ta có cảm giác như nhà văn đã rọi vào chỗ sâu kín nhất của tâm tư. Quá trình nhân đạo hóa sẽ hình thành từ sự đồng cảm ấy. Ở “Lão Hạc” cũng vậy. Tác phẩm gợi lên lòng thương cảm nơi người đọc từ cái chết thê thảm của lão vì lòng thương con và vì tình trạng khốn quẫn của lão. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm chủ yếu lại không chỉ nằm ở đấy. Tác phẩm gợi lên những tình cảm vị tha, cao thượng đầy tự trọng của một lão già nông dân chất phác, hiền lành: biết đâu lão tự tử còn vì lòng tự trọng bị tổn thương, bị lương tâm cắn rứt vì nỡ lừa dối một con chó! (trong khi còn biết bao con người mang mặt người nhưng lòng lang dạ thú “người với người là chó sói”). Phát hiện ở chỗ sâu xa nhất những nét đẹp lương tri con người, tác phẩm đóng vai trò tích cực trong việc làm cho con người trở nên tốt đẹp, nhân ái hơn. Đó là chưa kể đến những câu văn chan chứa một lòng vị tha độ lượng, một thái độ làm hòa với người khác và với chính mình, những tình cảm nhân văn, nhân đạo là bài học về cách sống, cách xử thế, cách nhìn nhận và đánh giá con người làm cho lòng ta trở nên thanh thản hơn, cao thượng hơn. “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tâm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn là những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương… “Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân, có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác hơn. Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận”. Chao ôi, nếu ai cũng nghĩ được như thế thì quan hệ giữa con người với con người sẽ tốt đẹp biết bao nhiêu. Những câu văn xót xa mà đẹp đẽ như thế đã vượt ra khỏi muôn khổ của tác phẩm, nó nói về cái tình người muôn thuở cần có, nó có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người trở nên cao thượng và nhân ái hơn. Ở đây nói nhân đạo hóa để nhấn mạnh sức cảm hóa mạnh mẽ của nghệ thuật. Con người là sản phẩm của tạo hóa, nó vốn đẹp đẽ “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhưng xã hội có thể làm tha hóa con người thì văn chương chân chính lại có khả năng tác động ngược lại. Tình thương, lòng nhân đạo sẽ cảm hóa, thức tỉnh lương tri vốn luôn ẩn chứa trong chiều sâu nội tâm con người, có khả năng “nhân đạo hóa” con người. Nói “khả năng” vì không nhất thiết bao giờ cũng có thể đạt được như vậy. Nó còn tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận riêng biệt của chủ thể cảm thụ. Nhưng một nhà văn chân chính bao giờ cũng nung nấu, khát vọng tác phẩm của mình sẽ đem lại một giá trị tinh thần nào đấy, nhằm cứu vãn con người. Ngay cả Truyện Kiều, dù Nguyễn Du có viết: “Lời quê chắp nhặt dông dàiMua vui cũng được một vài trống canh” thì ta cũng hiểu đó chỉ là một cách nói khiêm nhường. Khi trút lên ngòi bút bao nỗi đớn đau về cuộc đời, đương nhiên nhà văn khao khát những tấm lòng tri âm, những giọt nước mắt đồng cảm: Bất tri tam bách dư niên hậuThiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? Mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều và những tác phẩm đầy nhân đạo của Nguyễn Du mãi mãi là người bạn tâm tình, là nguồn sức mạnh của biết bao thế hệ độc giả, kể cả những độc giả trẻ tuổi hiện nay: Dẫu súng đạn nặng lòng ra hỏa tuyếnĐi đường dài, em giữ “Truyện Kiều” theo.(Chế Lan Viên – Gửi Kiều cho em Năm đi đánh Mỹ) Không thể nào có thể nói hết khả năng nhân đạo hóa của văn học đối với con người. Nhưng quả thật, đọc một tác phẩm văn học chân chính, ta có cảm giác thật hạnh phúc và sung sướng như đang được đối diện, tâm tình trò truyện với một người bạn thông minh, nhân ái, từng trải, như đang được chia sẻ nỗi buồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy thử thách của cuộc sống. Biết bao nhiêu tác phẩm văn chương đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Nói như Gorki :“sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đẹp đẽ, rằng con người luôn luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã làm nên nhiều thứ trên trái đất và vì thế mà họ đã chịu biết bao đau khổ”. Và cũng chính Gorki đã tuyên ngôn: “Con người – cái tên mới đẹp làm sao, mới vinh quang làm sao. Con người phải tôn trọng con người”. Hiểu biết con người, hiểu chính mình, cảm thông chia sẻ với nỗi khổ đau của g của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đebuồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy tà truyện với môcon người, biết căm ghét cái giả dối, ti tiện, tàn ác, biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ; biết sống một cách chân thật, nhân ái, cao thượng… đó là những dấu hiệu của quá trình ‘nhân đạo hóa” mà văn học chân chính đã và mãi mãi sẽ đem lại cho con người, vì hạnh phúc của con người. loigiaihay.com
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đáp án đề thi vào lớp 10 môn văn tp Hồ Chí Minh năm 2012

Đáp án đề thi vào lớp 10 môn văn tp Hồ Chí Minh năm 2012

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2012 tại TPHCM Môn thi : VĂN Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề) ĐỀ CHÍNH THỨC   Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật nào ? Nêu tác dụng của việc chọn ngôi kể đó (1 điểm) Câu 2: (1 điểm) Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ (Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ) Tìm và gọi tên thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên. Cho biết thành phần ấy được dùng để làm gì trong đoạn thơ? Câu 3: (3 điểm) Trong loạt bài trên báo Tuổi trẻ chủ nhật bàn về thế hệ gấu bông có đề cập hai hiện tượng: Một cô bé mười lăm tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!”. Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng, không trả lời được. Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi). Câu 4: (5 điểm) Hãy chọn và phân tích một hoặc hai khổ thơ trong các bài thơ của chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 để nêu bật vẻ đẹp con người Việt Nam. BÀI GIẢI GỢI Ý Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật Phương Định, cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ngôi kể nói trên có tác dụng làm cho giọng kể có tính chất tự nhiên, thoải mái, trẻ trung, phù hợp với đặc điểm của nhân vật. Ngoài ra, chọn ngôi kể như thế sẽ làm tăng tính chất thuyết phục của tác phẩm (câu chuyện được kể từ người trong cuộc) và thể hiện sống động tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn của những cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong thời chống Mỹ, nhất là của nhân vật chính : Phương Định. Câu 2: Thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên thể hiện ở từ “Ôi”. Đây là thành phần cảm thán. Trong đoạn thơ nó được sử dụng để biểu hiện cảm xúc (lòng yêu mến) của nhà thơ đối với tiếng Việt. Câu 3: Học sinh có thể làm nhiều cách khác nhau miễn là có đủ một số ý theo quy định. Sau đây là một cách làm cụ thể: Mở bài: Đặt vấn đề: Sự vô tâm của thế hệ gấu bông đã làm giật mình các bậc cha mẹ. Hai hiện tượng mà báoTuổi trẻ Chủ nhật đã nêu là khá phổ biến. Đó cũng là thể hiện của sự suy tàn về chữ hiếu và vi phạm nghiêm trọng đạo đức con người Á Đông. Hai hiện tượng trên như một lời cảnh tỉnh đối với bổn phận làm con của chúng ta. Thân bài: + Biểu hiện: Giải thích nội dung của hai hiện tượng trên nói lên sự vô tâm của thế hệ trẻ đối với những người thân yêu nhất, có công nuôi dưỡng và bảo bọc chúng ta từ khi mới sinh ra – đó là cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, …Hình ảnh một em bé thờ ơ khi mẹ đi nhặt đồ và hồn nhiên nói: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!” cũng như hình ảnh một cậu học sinh rất rành về sở thích của ca sĩ cậu yêu thích mà chẳng biết gì về sở thích, nghề nghiệp, tâm trạng và niềm đau của bố mẹ mình. Điều đó đã tạo nên sự phản cảm mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc. + Nguyên nhân: _ Giới trẻ thường chỉ quan tâm tới cuộc sống và sở thích của mình, đó là một trong những biểu hiện của thói ích kỉ. _ Bậc cha mẹ thiếu sâu sát, thiếu quan tâm đúng mực đến hành vi, sở thích và nhân cách của con. _ Nhà trường và xã hội thiếu phương pháp giáo dục đúng mực, thiếu những hoạt động để rèn luyện nhân cách của học sinh và gắn kết con cái với cha mẹ. _ Nhà trường và gia đình còn thờ ơ với việc giáo dục cẩn trọng về đạo đức làm người và những đức tính như: hiếu thảo, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tính vị tha, khả năng chia sẻ với những người thân yêu, … + Hậu quả: _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến. _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh. _ Những hiện tượng trên là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng. + Cách khắc phục: _ Chủ quan: bản thân mỗi con người phải ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, rèn luyện lòng nhân ái, lòng vị tha từ những việc nhỏ nhặt nhất. _  Khách quan: gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc giáo dục nhân cách cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới những người thân yêu, gần gũi với mình, dạy học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp cùa lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có trách nhiệm. _ Lên án mạnh mẽ lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ. Kết bài: Hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những người đã từng mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là hồi chuông cảnh tỉnh đối với thế hệ trẻ nói riêng và đối với tất cả những người Việt Nam. Câu 4: Đây là một đề làm văn có tính chất tự do. Nó cho phép người làm bài được tự do lựa chọn đối tượng để phân tích. Tuy nhiên, người làm bài phải tôn trọng những giới hạn được quy định trong đề. Thứ nhất, người làm bài chỉ được phép chọn một hoặc hai khổ thơ (không được hơn hai khổ thơ hoặc cả bài). Một, hai khổ thơ đó phải ở trong các bài thơ thuộc chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 (Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Bếp lửa, Ánh trăng, Đoàn thuyền đánh cá, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Sang thu, Nói với con). Thứ hai, các khổ thơ được chọn phải có nội dung liên quan tới vẻ đẹp của con người Việt Nam. Thứ ba, khi phân tích, người làm bài phải có ý thức nêu bật được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong một hoặc hai khổ thơ nói trên. Những vi phạm các yêu cầu nói trên sẽ làm cho bài viết rơi vào tình trạng xa đề, lan man hoặc lạc đề. Để có được kết quả tốt, bài viết còn phải có bố cục rõ ràng. Bài viết không mắc các lỗi về hành văn. Đặc biệt, phải thực hiện tốt thao tác phân tích một đoạn thơ, phải phân tích những yếu tố nghệ thuật của thơ để làm rõ giá trị của nó. Đây là một câu hỏi làm văn. Cho nên bài viết phải có đủ ba phần : mở bài, thân bài, kết bài. Trong phần mở bài, nên giới thiệu tác giả, bài thơ và đặc biệt là một hoặc hai khổ thơ được chọn để phân tích. Trong phần thân bài, cần giới thiệu vị trí của phần thơ được chọn trong bài thơ, giới thiệu đại ý của phần thơ được chọn. Sau đó, phân tích và làm rõ vẻ đẹp của con người Việt Nam trong phần thơ đó. Có thể, nhận xét và đánh giá ý nghĩa của phần thơ đối với cả bài, đối với đề tài. Cuối cùng, trong phần kết bài cần tổng kết khẳng định phần thơ thể hiện vẻ đẹp của con người Việt Nam. Có thể hình dung vẻ đẹp của con người Việt Nam qua các bài thơ như sau : -         Đồng chí : vẻ đẹp của tình đồng chí ở những con người xuất thân từ đồng ruộng, gắn bó với nhau, lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ. -         Bài thơ về tiểu đội xe không kính : vẻ đẹp của người bộ đội lái xe trên đường mòn Trường Sơn thời đánh Mỹ : ung dung, lạc quan, khí phách, hiên ngang coi thường khó khăn gian khổ, yêu thương đất nước và miền Nam ruột thịt. -         Đoàn thuyền đánh cá : vẻ đẹp của người lao động, của người ngư dân trong công cuộc lao động xây dựng đất nước (lạc quan, chủ động, tích cực, hào hùng, đầy ân tình). -         Bếp lửa : vẻ đẹp của tình bà cháu; vẻ đẹp của người bà, người phụ nữ Việt Nam giàu lòng yêu thương (gia đình, đất nước), tần tảo hy sinh, chịu thương chịu khó; tấm lòng biết ơn trân trọng của cháu đối với bà. -         Ánh trăng : vẻ đẹp của con người Việt Nam thể hiện trong sự gắn bó ân tình của con người với thiên nhiên, trong lời nhắc nhở phải biết thủy chung, uống nước nhớ nguồn. -         Mùa xuân nho nhỏ : vẻ đẹp của con người Việt Nam: yêu thiên nhiên; hăng hái tích cực trong lao động xây dựng đất nước và chiến đấu bảo vệ tổ quốc; vẻ đẹp của con người nguyện cống hiến cả đời cho đất nước, nguyện làm một “mùa xuân nho nhỏ” cho đời. -         Viếng lăng Bác : vẻ đẹp của Bác Hồ, “mặt trời trong lăng rất đỏ”; vẻ đẹp của tấm lòng trân trọng, kính yêu đối với Bác Hồ. -         Sang thu : vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong lúc giao mùa. -         Nói với con : vẻ đẹp của con người Việt Nam được thể hiện trong lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha đối với con : phải biết yêu quý gắn bó với gia đình, với quê hương, với đất nước; phải biết tự hào về vẻ đẹp của truyền thống, của đất nước; phải sống xứng đáng với gia đình, với đất nước. Đây là một số gợi ý chung của cả bài. Mỗi phần thơ được chọn sẽ có nội dung cụ thể. Người làm bài sẽ căn cứ vào phần thơ đó phân tích để làm rõ vẻ đẹp cụ thể được biểu hiện trong phần thơ. Nguyễn Đức Hùng (Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)
Xem thêm

Đọc thêm

35 đề ĐỀ ÔN LUYỆN TIẾNG VIỆT LỚP 4

35 đề ĐỀ ÔN LUYỆN TIẾNG VIỆT LỚP 4

35 đề ĐỀ ÔN LUYỆN TIẾNG VIỆT LỚP 4 ôn luyện tiếng việt lớp 4 tiếng việt lớp 4 ĐỀ 1 I.Đọc thầm và làm bài tập: Câu chuyện về túi khoai tây Vào một buổi học, thầy giáo tôi mang vào lớp rất nhiều túi nhựa và một bao khoai tây thật to. Thầy chậm rãi giải thích với mọi người rằng, mỗi khi cảm thấy oán giận hoặc không muốn tha thứ lỗi lầm cho ai, hãy viết tên những người mình không ưa hay ghét hận rồi cho vào túi. Chỉ một lúc sau, chiếc túi nào của chúng tôi cũng đã căng nặng, đầy khoai tây. Thậm chí , có người một túi không chứa hết khoai, phải thêm một túi nhỏ kèm theo. Sau đó thầy yêu cầu chúng tôi hãy mang theo bên mình túi khoai tây đó bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào trong thời gian một tuần lễ. Đến lớp thì mang vào chỗ ngồi, về nhà thì mang vào tận giường ngủ, thậm chí khi vui chơi cùng bạn bè cũng phải mang theo. Chỉ sau mộ thời gian ngắn, chúng tôi đã bắt đầu cảm thấy mệt mỏi và phiền toái vì lúc nào cũng có một túi khoai tây nặng nề kè kè bên cạnh. Tình trạng này còn tồi tệ hơn khi những củ khoai tây bắt đầu thói rữa, rỉ nước. Cuối cùng, chúng tôi quyết định xin thầy cho quẳng hết chỗ khoai tây ấy đi và cảm thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái trong lòng. Lúc ấy, thầy giáo của chúng tôi mới từ tốn nói: “ Các em thấy không, lòng oán giận hay thù ghétngười khác đã làm cho chúng ta thật nặng nề và khổ sở! Càng oán ghét và không tha thứ cho người khác, ta càng giữ lấy gánh nặng khó chụi ấy mãi trong lòng. Lòng vị tha, sự cảm thông với những lỗi lầm của người khác không chỉ là món quà quý giá để ta troa tặng mọi người, mà nó còn là một món quà tốt đẹp mỗi chún ta dành tặng bản thân mình .” Lại Thế Luyện Khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng: 1.Thầy giáo mang tíu khoai tây đến lớp để làm gì? a.Để cho cả lớp liên hoan. b.Để giáo dục cho cả lớp một bài học về lòng vị tha. c.Để cho cả lớp học môn sinh học. 2.Túi khoai tây đã gây ra điều gì phiền toái? a.Đi đâu cũng mang theo túi lhoai tây kè kè phiền toái. b.Các củ khoai tây thối rữa , rỉ nước. c.Cả hai ý trên. 3.Theo thầy giáo , vì sao nên có lòng vị tha, cảm thông với lỗi lầm của người khác? a.Vì oán giận hay thù ghét người khác không mang lại điều gì tốt đẹp mà chỉ gây thêm phiền toái cho chúng ta. b.Lòng vị tha, sự cảm thông với những lỗi lầm của người khác không chỉ là món quà quý giá để ta troa tặng mọi người, mà đó còn là một món quà tốt đẹp mỗi chúng ta dành tặng bản thân mình. c.Cả hai ý trên. 4.Cách giáo dục của thầy giáo có điều gì thú vị? a.Thầy tự mang khoai tây đến lớp mà không bắt bạn nào phải mua. b.Thầy không bắt ai phải tha thứ nhưng bằng hình ảnh những củ khoai tây thối rữa, thầy đã giúp cả lớp hiểu ra giá trị của sự tha thứ, lòng vị tha và sự cảm thông với lỗi lầm của người khác. c.Thầy không cho làm bài vào vở mà viết lên khoai tây. 5.Câu chuyện muốn nói với em điều gì? a.Con người sống phải biết tha thứ cho nhau. b.Con người sống phải biết thương yêu nhau. c.Con người sống phải biết chia sẻ cho nhau.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghị luận Văn học có tính nhân đạo hóa con người

NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CÓ TÍNH NHÂN ĐẠO HÓA CON NGƯỜI

Văn học là trong những loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần của con người ngay từ thuở xa xưa. Dù dưới hình thức nào thì nó vẫn là sự phản ánh thế giới khách quan qua thế giới chủ thể của nghệ sĩ. Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự giãi bày những tình cảm, những khát vọng sâu xa của nhà văn trước cuộc đời, trước những vấn đề có ý nghĩa thân thiết đối với con người. Dù văn học viết về những sự cố lớn lao: bão táp cách mạng, chiến tranh, hay chỉ diễn tả một tiếng chuông chùa, một bờ tre, ruộng lúa… bao giờ ta cũng tìm thấy hình bóng, tâm sự của con người gửi gắm ở bên trong. Với tư cách là cụ thể của hoàn cảnh, là động lực của sự phát triển xã hội, là nguồn gốc của mọi sáng kiến, phát minh. Con người với tất cả niềm vui, nỗi buồn, tâm tư khát vọng, thành đạt hay khổ đau luôn luôn là đối tượng trung tâm của văn học, là mối quan tâm hàng đầu của nghệ sĩ chân chính. Tình yêu thương đối với con người là nguồn động lực căn bản nhất thúc đẩy ngòi bút của mọi nhà văn chân chính. Nhà văn Nga Tolstoi đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Còn Goethe thì nói: “Những điều đầu tiên mà thiên nhiên cần là tình yêu nồng nàn đối với cuộc sống”. Nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet thì diễn tả tình yêu ấy bằng hình ảnh thật cụ thể: “Nhà văn là người cho máu”. Đó là một tình yêu bao gồm cả sự hi sinh to lớn. Tác phẩm chân chính đúng là sản phẩm của trí tuệ, trái tim, mồ hôi và cả nước mắt nữa của người nghệ sĩ, là kết quả của quá trình nếm trải, nung nấu, cảm xúc dào dạt – cái mà người ta gọi là cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật. Không ai làm thơ làm văn trong trạng thái khô cằn, chai sạn xúc cảm. Cảm hứng ấy có thể bắt đầu từ niềm vui sướng, tự hào hay tin tưởng, phấn khởi, nhưng với nghệ sĩ chân chính thì chẳng bao giờ có niềm vui hời hợt, giản đơn. Bởi vì cuộc sống con người, trong tính hiện thực của nó, niềm vui luôn luôn đi đôi với nỗi buồn, ánh sáng luôn tồn tại bên cạnh bóng tối, cái xấu luôn luôn xen lẫn bên cạnh cái tốt, hạnh phúc thường đi liền với khổ đau, bất hạnh…Và những khổ đau của con người xưa nay vốn là nỗi nhức nhối, bức xúc nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút. Chính nhà văn Xô viết V.Raxpuchin đã diễn đạt tình cảm ấy một cách giản dị chân thành: “Nếu tôi viết, ấy là vì tôi cảm thấy đau ở đâu đấy trong người” với Huygo thì bể khổ của nhân loại là hầm mỏ khai thác không vơi cạn của đời ông. Truyện kiều là tiếng khóc đứt ruột. Chí Phèo là tiếng thét phẫn uất đòi quyền làm người…Những tác phẩm chân chính, bất tử với thời gian thường là những tác phẩm diễn tả những xung đột có khi đầy bi kịch giữa cái thật và cái giả, giữa cái thiện và cái ác, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ghê tởm … Tuy nhiên “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”. Đó chính là khả năng nhân đạo mà văn học chân chính có thể mang lại cho con người. Ở đây có mấy vấn đề cần lưu ý: 1/ Sở dĩ nói văn học chân chính chứ không phải văn học nói chung vì trong sự tồn tại của văn học nhân loại quả là những tác phẩm vì con người, nâng cao phẩm giá con người nhưng cũng có thứ văn chương làm hạ thấp phẩm giá con nguời. Có những tác phẩm là kết quả của thao thức khổ đau, hi sinh, trăn trở, nhưng cũng không thiếu thứ văn chương làm thuê, làm công cụ, bồi bút tô son trát phấn cho giai cấp thống trị trong những xã hội đã suy tàn, mục ruỗng… Có thứ văn chương bất tử, sống mãi với muôn đời, có thứ văn chương rẻ tiền sẽ bị quên lãng với thời gian. Chủ nghĩa nhân đạo, lòng yêu thương tôn trọng con người là thước đo căn bản nhất để đánh giá mọi giá trị văn học chân chính . “Những người khốn khổ” của Hugo, “ Sống lại” của L.Tolstoi, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm trong đó tác giả còn bộc lộ nhiều quan điểm sai lầm về tư tưởng và những giải pháp cải tạo xã hội, nhiều nhân vật cũng đã trải qua bao nhiêu vấp ngã, giằng xé, lầm lẫn… nhưng đó lại là những tác phẩm nghệ thuật chân chính sẽ sống mãi với thời gian; bởi sức mạnh cảm hóa sâu xa, bởi lòng yêu thương con người mênh mông, sâu thẳm; bởi thái độ căm ghét, phẫn uất trước những thế lực xấu xa, tàn ác đã giày xéo, chà đạp lên con người. Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người tin hơn ở những điều thiện, ở khả năng vươn tới cái cao cả, cao thượng, kể cả những con người đã trải qua và chịu đựng những điều ác khủng khiếp do xã hội và có khi do chính mình gây ra. 2/ Mặt khác, nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học không phải chỉ là khả năng gợi lòng trắc ẩn, động tâm, thương cảm đối với những cảnh ngộ bất hạnh đói nghèo diễn ra trong xã hội, dù điều đó cũng là một phương tiện đáng quí. Khả năng nhân đạo hóa còn bộc lộ ở sự tự ý thức về bản thân, tự nhận diện bản thân trước những điều xấu, tốt, thiện, ác… mà tác phẩm gợi lên. Người ta đã nói đến sự “thanh lọc” tâm hồn của văn học, hay hình thức “sám hối” của bản thân trước lương tâm của quá trình tiếp nhận tác phẩm là như thế. Đọc Nam Cao không phải chỉ là để cảm thông với Điền, với Thứ, với Hộ… với một cuộc sống bị “cơm áo ghì sát đất”, nó đang có nguy cơ giết chết những ước mơ và những tình cảm nhân ái, cao thượng. Những tác phẩm của Nam Cao còn như một tấm gương soi để độc giả hôm nay tự nhận diện chính mình, không ngừng vượt lên hoàn cảnh bản thân để sống một cách xứng đáng hơn, tốt đẹp hơn. Nếu trong tác phẩm “Đời thừa”, nhân vật Hộ là một trí thức hoàn toàn tốt thì tác phẩm có thể không làm ta xúc động đến thế. Sự giằng xé giữa nhân cách cao thượng, hành vi đẹp đẽ, hoài bão to lớn, tấm lòng vị tha của một “chàng trai trẻ vốn say mê lí tưởng” với những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí, với sự câu thúc của đời sống tầm thường hàng ngày, cả những cẩu thả, bất lương trong nghề cầm bút và những hành vi “tàn nhẫn của hắn” đối với Từ – người vợ rất đỗi đáng thương của y và những giằng xé nội tâm không nguôi trong lòng Hộ, lại làm người đọc xót xa thương cảm đến tận đáy lòng. Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn rất lớn của tác phẩm. Chính bản thân tác phẩm “Đời thừa” đã tạo được giá trị đích thực mà tác giả của nó hằng mong mỏi. “Nó chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho con người gần người hơn”. Những giá trị nhân văn to lớn như thế lại được hình thành từ những mẫu chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh nhưng đã được viết bằng một ngòi bút chân thực, tài hoa và nhất là bằng một cuộc sống cũng đầy mâu thuẫn, đau xót, trăn trở của chính nhà văn Nam Cao. Ở đây có vấn đề viết cái gì và viết như thế nào. Không nên đồng nhất nội dung phản ánh và sự phản ánh. Nói cho rõ hơn, ở đây tình cảm, lương tri, thái độ trân trọng đối với giá trị tinh thần của con người đã rọi sáng vào từng cảnh ngộ trong câu văn, làm dấy lên ở người đọc một mối liên tưởng đồng cảm, đau xót. Đó mới là những yếu tố tạo nên sức thuyết phục sâu xa đối với người đọc. Đọc “Đời thừa” ta có cảm giác như nhà văn đã rọi vào chỗ sâu kín nhất của tâm tư. Quá trình nhân đạo hóa sẽ hình thành từ sự đồng cảm ấy. Ở “Lão Hạc” cũng vậy. Tác phẩm gợi lên lòng thương cảm nơi người đọc từ cái chết thê thảm của lão vì lòng thương con và vì tình trạng khốn quẫn của lão. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm chủ yếu lại không chỉ nằm ở đấy. Tác phẩm gợi lên những tình cảm vị tha, cao thượng đầy tự trọng của một lão già nông dân chất phác, hiền lành: biết đâu lão tự tử còn vì lòng tự trọng bị tổn thương, bị lương tâm cắn rứt vì nỡ lừa dối một con chó! (trong khi còn biết bao con người mang mặt người nhưng lòng lang dạ thú “người với người là chó sói”). Phát hiện ở chỗ sâu xa nhất những nét đẹp lương tri con người, tác phẩm đóng vai trò tích cực trong việc làm cho con người trở nên tốt đẹp, nhân ái hơn. Đó là chưa kể đến những câu văn chan chứa một lòng vị tha độ lượng, một thái độ làm hòa với người khác và với chính mình, những tình cảm nhân văn, nhân đạo là bài học về cách sống, cách xử thế, cách nhìn nhận và đánh giá con người làm cho lòng ta trở nên thanh thản hơn, cao thượng hơn. “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tâm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn là những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương… “Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân, có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác hơn. Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận”. Chao ôi, nếu ai cũng nghĩ được như thế thì quan hệ giữa con người với con người sẽ tốt đẹp biết bao nhiêu. Những câu văn xót xa mà đẹp đẽ như thế đã vượt ra khỏi muôn khổ của tác phẩm, nó nói về cái tình người muôn thuở cần có, nó có khả năng nhân đạo hóa con người, làm cho con người trở nên cao thượng và nhân ái hơn. 3/ Ở đây nói nhân đạo hóa để nhấn mạnh sức cảm hóa mạnh mẽ của nghệ thuật. Con người là sản phẩm của tạo hóa, nó vốn đẹp đẽ “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nhưng xã hội có thể làm tha hóa con người thì văn chương chân chính lại có khả năng tác động ngược lại. Tình thương, lòng nhân đạo sẽ cảm hóa, thức tỉnh lương tri vốn luôn ẩn chứa trong chiều sâu nội tâm con người, có khả năng “nhân đạo hóa” con người. Nói “khả năng” vì không nhất thiết bao giờ cũng có thể đạt được như vậy. Nó còn tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận riêng biệt của chủ thể cảm thụ. Nhưng một nhà văn chân chính bao giờ cũng nung nấu, khát vọng tác phẩm của mình sẽ đem lại một giá trị tinh thần nào đấy, nhằm cứu vãn con người. Ngay cả Truyện Kiều, dù Nguyễn Du có viết: “Lời quê chắp nhặt dông dài Mua vui cũng được một vài trống canh” thì ta cũng hiểu đó chỉ là một cách nói khiêm nhường. Khi trút lên ngòi bút bao nỗi đớn đau về cuộc đời, đương nhiên nhà văn khao khát những tấm lòng tri âm, những giọt nước mắt đồng cảm: Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? Mấy thế kỉ trôi qua, Truyện Kiều và những tác phẩm đầy nhân đạo của Nguyễn Du mãi mãi là người bạn tâm tình, là nguồn sức mạnh của biết bao thế hệ độc giả, kể cả những độc giả trẻ tuổi hiện nay: Dẫu súng đạn nặng lòng ra hỏa tuyến Đi đường dài, em giữ “Truyện Kiều” theo. (Chế Lan Viên – Gửi Kiều cho em Năm đi đánh Mỹ) Không thể nào có thể nói hết khả năng nhân đạo hóa của văn học đối với con người. Nhưng quả thật, đọc một tác phẩm văn học chân chính, ta có cảm giác thật hạnh phúc và sung sướng như đang được đối diện, tâm tình trò truyện với một người bạn thông minh, nhân ái, từng trải, như đang được chia sẻ nỗi buồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy thử thách của cuộc sống. Biết bao nhiêu tác phẩm văn chương đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Nói như Gorki :“sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đẹp đẽ, rằng con người luôn luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã làm nên nhiều thứ trên trái đất và vì thế mà họ đã chịu biết bao đau khổ”. Và cũng chính Gorki đã tuyên ngôn: “Con người – cái tên mới đẹp làm sao, mới vinh quang làm sao. Con người phải tôn trọng con người”. Hiểu biết con người, hiểu chính mình, cảm thông chia sẻ với nỗi khổ đau của g của mình trong đời sống, nói cho tôi biết rằng con người thật là vĩ đại và đebuồn, niềm vui, tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong cuộc hành trình đầy tà truyện với môcon người, biết căm ghét cái giả dối, ti tiện, tàn ác, biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ; biết sống một cách chân thật, nhân ái, cao thượng… đó là những dấu hiệu của quá trình ‘nhân đạo hóa” mà văn học chân chính đã và mãi mãi sẽ đem lại cho con người, vì hạnh phúc của con người.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghị luận xã hội về lòng vị tha hay

Nghị luận xã hội về lòng vị tha hay

Chủ đề: Lòng vị tha * Đề 1: Hãy viết văn bản nghị luận ( không quá 01 trang giấy thi ) trình bày suy nghĩa của em về lòng “vị tha” và sự “ích kỉ”. Cuộc sống là chuỗi ngày mỗi con người tự hoàn thiện mình. Mỗi ngày làmột bài học vô giá ta nhận được từ cuộc sống. Quá trình hoàn thiện mình chính là gạt bỏ đi từng cái xấu và vun đắp thêm từng cái tốt dù rất nhỏ. "Vị tha" là phẩm chất chúng ta cần rèn luyện. "Ích kỉ" là điều mỗi người nên tìm cách gạt bỏ. - Vậy thật ra thế nào là vị tha, thế nào là ích kỉ? Vị tha là chăm lo một cách vô tư đến người khác, vì người khác mà hy sinh lợi ích, hạnh phúc của cá nhân mình. Ích kỉ nghĩa là chỉ hành
Xem thêm

Đọc thêm

TUẦN 2. MRVT: NHÂN HẬU - ĐOÀN KẾT

TUẦN 2. MRVT: NHÂN HẬU - ĐOÀN KẾT

Thứ năm ngày 7 tháng 9 năm 2017Luyện từ và câu- Phân tích tiếng: ngoài, hoài.- Thế nào là hai tiếng bắt vần với nhau?Thứ năm ngày 7 tháng 9 năm 2017Luyện từ và câuMở rộng vốn từ: Nhân hậu – Đoàn kết.Bài 1: Tìm các từ ngữ:a. Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại.M: lòng thương người,lòng nhân ái, lòng vị tha, tình thân ái, tìnhthương mến, yêu quí, xót thương, đau xót, tha thứ, độ lượng, baodung, thông cảm, đồng cảm.b. Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương.M: độc ác, hung ác, nanh ác, tàn ác, tàn bạo, cay độc, ác nghiệt,hung dữ, dữ tợn, dữ dằn,…c. Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.M: cưu mang, cứu giúp, cứu trợ, ủng hộ, hỗ trợ,bênh vực, bảo vệ,che chở, che chắn, che đỡ, nâng đỡ,…c. Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.M: ức hiếp, ăn hiếp, hà hiếp, bắt nạt, hành hạ, đánh đập,…Thứ năm ngày 7 tháng 9 năm 2017Luyện từ và câuMở rộng vốn từ: Nhân hậu – Đoàn kết.Bài 2: Cho các từ sau: nhân dân, nhân hậu, nhân ái, công nhân,
Xem thêm

8 Đọc thêm

GIÁO ÁN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

GIÁO ÁN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

đời: hiểu thiên chức làm mẹ, hiểu nỗi khốn khổvà sự bế tắc của người chồng.+ Giàu đức hy sinh, giàu lòng vị tha, nhânhậu – chắt chiu hạnh phúc đời thường – nhìnđời một cách sâu sắc+ Thấp thoáng vẻ đẹp truyền thống của ngườiphụ nữ VN trong quá khứ+ Quan niệm của nhà văn: cuộc sống conngười không đơn giản, người nghệ sĩ không thểdễ dãi, giản đơn khi nhìn nhận mọi sự vật, hiệntượng của đời sống.b. Các nhân vật trong câu chuyện:* Người đàn ông:- Dáng vẻ khắc khổ, lam lũ nhưng mạnh mẽ vàdữ dội: “Lưng rộng và cong như một chiếcthuyền”, “mái tóc quăn”, “chân đi chữ bát”,“hai con mắt độc dữ”- Vốn là một anh con trai hiền lành, chỉ vì“nghèo khổ, túng quẫn”, nhiều lo toan, cựcnhọc mà trở thành người đàn ông độc ác, ngườichồng vũ phu.- Khi nào thấy khổ là lão đánh vợ: “lão trútcơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếcthắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”,đánh như để giải toả uất ức, để trút sạch tức tối,buồn phiền.- Qua cái nhìn của người đàn bà: nạn nhân củahoàn cảnh nên đáng được cảm thông, chia sẻ.- Qua cái nhìn của chánh án Đẩu, nghệ sĩPhùng và bé Phác: người vũ phu, thủ phạm gây
Xem thêm

8 Đọc thêm

Em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp tâm hồn của một con người?

EM CÓ SUY NGHĨ GÌ VỀ VẺ ĐẸP TÂM HỒN CỦA MỘT CON NGƯỜI?

Một con người dù mang bên ngoài một vẻ đẹp đẽ, kiêu sa đến mấy cũng khó có thể được coi là "người đẹp" nếu như không có một tâm hồn đẹp đẽ, trong sáng, vẻ đẹp tâm hồn không phải là thứ trang sức bên ngoài mà đó chính là yếu tố làm nên nét đẹp chân chính ở mỗi con người.       Một con người dù mang bên ngoài một vẻ đẹp đẽ, kiêu sa đến mấy cũng khó có thể được coi là "người đẹp" nếu như không có một tâm hồn đẹp đẽ, trong sáng, vẻ đẹp tâm hồn không phải là thứ trang sức bên ngoài mà đó chính là yếu tố làm nên nét đẹp chân chính ở mỗi con người.       Vẻ đẹp tâm hồn sẽ được lý giải theo hai cách: một cách theo ngôn ngữ học, coi đẹp là thiện, người có tâm hồn đẹp tức là có tấm lòng lương thiện. Nếu lý giải theo kiểu này sẽ hoàn toàn là vấn đề luân lý, đạo đức. Cách lý giải thứ hai mang ý nghĩa Mĩ học, người có tâm hồn đẹp phải mang một lý tưởng cao đẹp. Hai cách lý giải trên sẽ dẫn đến hai tiêu chuẩn, yêu cầu khác nhau, khi thực thi sẽ có hai phương pháp, con đường khác nhau. Ý nghĩa thứ nhất, vẻ đẹp tâm hồn là một quy phạm đạo đức phổ biến. Nó yêu cầu mọi người đều phải đạt tới. Ý nghĩa thứ hai chỉ là một lý tưởng mê hoặc người ta. Nếu coi nó là một quy phạm đạo đức phổ biến, sẽ bị xa rời thực tế. Nếu trong nhận thức không chuẩn xác thì hành động dễ bị lẫn lộn.         Tâm hồn chính là ý thức tư tưởng nội tại của con người, giống như nhận thức, quan niệm, động cơ lý tưởng... Tâm hồn của một con người tốt đẹp hay xấu xa là điều vô cùng quan trọng. Tấm lòng lương thiện, chính nghĩa mới có thể đồng tình thương cảm, vì việc công không vì tư lợi, coi việc giúp người là niềm vui, lập trường kiên định, lý tưởng cao đẹp, vì nước vì dân, có chí vươn lên trong cuộc sống. Chính từ những biểu hiện tốt đẹp của mỗi con người ta mới có thể nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của họ. Vì vậy không chỉ nói tầm quan trọng của tâm hồn một cách cô lập. Bởi tâm hồn vốn là một từ vô hình, nếu không thông qua các hoạt động cảm tính như ngôn ngữ, hành động, tình cảm, thực tiễn xã hội... sẽ không thể hiểu nó một cách chính xác. Đồng thời, biểu hiện tâm hồn của con người không phải lúc nào cũng đổng nhất với nhau, có kẻ bề ngoài đường hoàng chững chạc nhưng đầu óc đen tối, có người có những ước mơ tốt đẹp, nhưng lại không có đủ nghị lực đê thực hiện nó. Nếu nhìn một cách cô lập, trên phương diện nào đó có thể phù hợp với đẹp hoặc thiện nhưng thực tế không phải thế, thậm chí hoàn toàn ngược lại. vẻ đẹp và cái thiện chân chính phải hài hoà giữa biểu hiện bề ngoài với nội tâm, lời nói và việc làm phải nhất trí cao độ, lý luận phải đi đôi với thực tiễn. Một biểu hiện bề ngoài tao nhã tương ứng với bản chất nội tại chân thật không thể tự nhiên mà có được mà là kết quả của sự tu dưỡng của cá nhân cộng với ảnh hưởng cũa môi trường xã hội, giáo dục. Ví dụ một vận động viên biểu diễn thể dục, hoặc bằng nghệ thuật cao siêu, hoặc bằng những tư thế đẹp, hoặc bằng động tác linh lợi cương cường khiến khán giả nhìn thấy được sức sống vẻ đẹp trí tuệ, cơ bắp, tình cảm của mình và khán giả được hưởng thụ cái đẹp. Vẻ khoẻ đẹp này, nếu không có sự nghiêm túc học hỏi của cá nhân, sự khổ công rèn luyện, sự giúp đỡ của thầy, của bạn thì liệu có đạt được chăng? Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tư tưởng hồ chí minh về lòng yêu thương con người

Tư tưởng hồ chí minh về lòng yêu thương con người

1)Khái niệm về tình yêu thƣơng con ngƣời. • Tình yêu thƣơng con ngƣời là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. • Tình yêu thƣơng là mọi thƣ́ tốt đẹp mà con ngƣời chia sẻ và dành cho mọi ngƣời. 2)Quan điểm của Hồ Chí Minh về tình yêu thƣơng con ngƣời. • Là tình cảm dành cho những ngƣời nghèo khổ,bị mất quyền,bị áp bức bóc lột,phân biệt màu da và dân tộc. Ngƣời cho rằng „nếu không có tình yêu thƣơng thì không thể nói đến CM,càng không thể nói đến CMXH và CMCS”. • Phải đƣợc xây dựng trên lập trƣờng giai cấp công nhân. 3)Hành động thiết thực: • Bác chấp nhận gian khổ hi sinh để đem lại độc lập,tƣ̣ do,hạnh phúc. • Ngƣời sống bình dị,giản đơn,khiêm tốn.Không xa hoa,lãng phí Lúc đọc Luận cƣơng của Lê Nin,tìm đƣợc con đƣờng giải phóng dân tộc,Ngƣời đã khóc. • Ngƣời yêu thƣơng,chăm lo các chiến sĩ hơn cả bản thân mình. CMT8 thành công, VN trải qua nạn đói.HCM chủ trƣơng “Hũ gạo cứu đói”. Quan tâm,cổ vũ tinh thần cho quân và dân ta. Không phân biệt đối xử với tù binh. Bác đặc biệt chú trọng đến thế hệ mầm non tƣơng lai của đất nƣớc.Và ngƣời già cả. • Ngƣời còn quý mến bạn bè và nhân dân các nƣớc thuộc địa thế giới.Trƣớc lúc ra đi,nhƣng Ngƣời vẫn luôn lo lắng cho miền Nam,căn dặn cho Đảng,cho cán bộ.
Xem thêm

Đọc thêm

TUYỂN CHỌN ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN 9 HAY

TUYỂN CHỌN ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN 9 HAY

Đề 1: Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi miêu tả những tội các tày trời của giặc Minh với nhân dân ta đến mức: “ Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ! Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khôn cùng”, khiến “ trời đất” cũng không thể “dung tha”. Nhưng khi quân ta đại thắng chẳng những không giết hại mà còn tha chết cho giặc, hơn nữa lại còn “cấp cho năm trăm chiếc thuyền”, “ phát cho vài nghìn cỗ ngựa” để chúng về nước. Từ việc cảm nhận tư tưởng cao đẹp đó, em hãy nêu suy nghĩ của mình về lòng khoan dung của mỗi con người. Gợi ý. 1. Mở bài: - Nhân ái, khoan dung chính là một nét đẹp phẩm chất của dân tộc ta. - Truyền thống tốt đẹp ấy như một suối nguồn trong trẻo chảy qua các tác phẩm văn học từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sapa

Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sapa

Có những âm thanh rất nhỏ, đến gần như câm lặng, nhưng lại vang rất xa. Có những con người nói rất ít nhưng để lại trong lòng ta những ấn tượng khó quên. Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long đã để lại trong người đọc những ấn tượng sâu sắc đó. Vẻ đẹp trong cách sống, trong tâm hồn và những suy nghĩ của anh tiêu biểu cho cách sống, cách suy nghĩ của thế hệ trẻ Việt Nam

Đọc thêm

tiểu luận cao học tổng quan triết học phật giáo

tiểu luận cao học tổng quan triết học phật giáo

A. LỜI NÓI ĐẤU 1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường đã mang lại cho chúng ta những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội, bên cạnh đó cũng để lại cho chúng ta những thách thức không nhỏ trong đó có vấn đề đạo đức con người bị tha hóa biến chất diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chính vì lí do đó em đã chọn “tổng quan Triết học Phật giáo” để trình bày, nghiên cứu vì Đạo Phật giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất, để con người đạt được trạng thái từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Đạo phật ra đời khoảng năm 563 trước Công nguyên. Đạo phật có 3 môn phái khác nhau về giáo lý, tổ chức, giáo đoàn. Để hiểu bản chất thật của đạo phật chúng ta đi nghiên cứu cụ thể như sau: 2. Mục đích: Cung cấp kiến thức cơ bản giúp chúng ta có sự hiểu biết về thế giới quan và nhận thức luận, thế giới quan của phật giáo.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề