CẢM HỨNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA BÀI THƠ VIỆT BẮC VÀ ĐẤT NƯỚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CẢM HỨNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA BÀI THƠ VIỆT BẮC VÀ ĐẤT NƯỚC":

Cảm hứng về quê hương đất nước được nói lên thiết tha và sầu lắng trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp

CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC NÓI LÊN THIẾT THA VÀ SẦU LẮNG TRONG THƠ THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Tình yêu quê hương đất nước là một nguồn thơ không bao giờ vợi cạn trong văn học nước ta. Đó là cảm hứng chủ đạo của thơ kháng chiến chống Pháp. Cảm hứng ấy dược nói lên thiết tha và sâu lắng trong nhiều bài thơ mà tiêu biểu là Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm và Việt Bắc của Tố Hữu – hai bài thơ của hai vùng quê đất nước: quê hương Kinh Bắc và quê hương Cách mạng. Bài thơ được Hoàng cầm viết ra trong một đêm "thức trắng" khi anh nghe tin giặc Pháp chiếm đóng và tàn phá quê hương Kinh Bắc thân yêu của mình. Đó là nỗi lòng của đứa con yêu gửi về quê mẹ với niềm xót xa căm giận và niềm tự hào yêu thương một vùng quê cổ kính đẹp giàu mà anh đã từng gắn bó suốt tuổi thơ. Gương mặt quê hương hiện lên trong bài thơ vừa đau thương, đẹp giàu, lại anh hùng – tình nghĩa; cảnh sắc và con người hòa quyện với nhau thành những ấn tượng đặc sắc khó quên. Quê hương bị giặc tàn phá hiện lên qua những vần thơ xót xa căm giận, với một nỗi đau thật cụ thể, như là có thể cảm giác được: Sao xót xa như rụng bàn tay. Đó là những "ngày khủng khiếp" nhất: ruộng khô, nhà cháy, quán đổ, chợ tan… là mẹ già "bước cao thấp bên bờ tre hun hút" chạy trốn lũ giặc: là em bé trong mơ cũng "thon thót giật mình" bởi "bóng giặc giày vò những nét môi xinh"!… Nỗi đau ấy day dứt suốt bài thơ trong cái điệp khúc "Bây giờ tan tác về đâu" để rồi đúc lại trong lời nguyền phẫn nộ: Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết nguôi hờn. Quê hương ấy là vùng đất Kinh Bắc đẹp giàu và có truyền thống văn hóa lâu đời. Bằng niềm tự hào mãnh liệt về vùng quê nổi tiếng của mình. Hoàng cầm đã dựng lên gương mặt quê hương thật đẹp và đáng yêu. Quê hương ấy có dòng sông Đuống lấp lánh chảy giữa đôi bờ "ngô khoai biêng biếc", "dâu mía xanh xanh", có mùi lứa nếp thơm nồng dậy khắp làng quê, có "tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong – màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp". Đó còn là vùng quê của hội hè đình đám quanh năm, của những nghề thủ công nổi tiếng – là một trong ba cái nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam. Quê hương đẹp giàu ấy lại là nơi sinh ra những con người anh hùng mà tình nghĩa. Hình ảnh những người du kích đánh giặc hiện lên sáng đẹp cả câu thơ: Dao lóe giữa chợ Gậy lùa cuối thôn Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn đã làm cho chúng "phát điên, quay cuồng như xéo trên đống lửa". Và những bà mẹ chiến sĩ đón con bộ đội về trong đêm, ấm áp tình quân dân kháng chiến: Đêm buông xuống dòng sông Đuống … Những chuyện muôn đời không nói năng. Bằng tình yêu quê hương tha thiết và lòng căm thù giặc sâu sắc. Hoàng Cầm đã dựng lên gương mặt vùng quê Kinh Bắc của mình thật đúng và cũng thật đẹp, và từ trong đau thương, quê hương giàu đẹp ấy đã đứng dậy đánh giặc để chờ ngày giải phóng, đoàn tụ trong những mùa lễ hội mới. Gắn bó với Việt Bắc trong "mười lăm năm thiết tha mặn nồng", tháng 10-1954, khi đã về Hà Nội giải phóng, qua nỗi nhớ sâu nặng của mình. Tố Hữu đã dựng lên gương mặt quê hương cách mạng anh hùng – tình nghĩa bằng khúc hát giao duyên ngọt ngào. Được lọc qua nỗi nhớ ân tình, quê hương cách mạng hiện lên lung linh rực rỡ, lại đằm thắm trữ tình và ngời sáng khí phách anh hùng của căn cứ địa cách mạng thần thánh. Việt Bắc không nói đến những nỗi đau như Bên kia sông Đuống, bởi vì bài thơ vừa là một khúc ca ân tình lại là một bài ca chiến thắng của một thời kì lịch sử. Quê hương cách mạng trong những ngày "trứng nước" gian nan hiện lên ngậm ngùi qua "miếng cơm chấm muối", qua những "mái nhà hắt hiu lau xám”, và nhất là qua hình ảnh "người mẹ nắng cháy lưng – dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô"… Nhưng đó lại là vùng đất đẹp và đáng yêu đối với những ai đã từng gắn bó. Tố Hữu đã viết nên những câu thơ ca ngợi quê hương cách mạng bằng tình cảm mến yêu tha thiết của mình. Việt Bắc hiện lên với nhiều vẻ đẹp phong phú, gợi cảm. Có những cảnh thơ mộng trữ tình: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương. những cảnh hùng vĩ: Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. Nhưng đẹp nhất là "bức tranh tứ bình" của Việt Bắc qua bốn mùa, chan hòa màu sắc, ánh sáng, âm thanh, đẹp như trong cảnh thần tiên: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Việt Bắc không phải chỉ đẹp về cảnh mà cồn đẹp về người. Đó là những con người anh hùng mà tràn đầy tình nghĩa quê hương cách mạng. Anh hùng biết bao, cảnh "Việt Bắc ra quân" hùng tráng như đã cầm chắc chiến thắng trong tay: Những đường Việt Bắc của ta Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Và tình nghĩa xiết bao, tấm lòng người dân Việt Bắc đối với cách mạng – vật chất đơn sơ nhưng tình thì thật sâu nặng: Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng. Tình nghĩa đó là của những người lao động nghèo trên quê hương cách mạng – những con người dã đi vào nỗi nhớ của nhà thơ và hiện lên rất đẹp, rất đáng yêu tròng bài thơ: bà mẹ nắng cháy lưng, người đan nón chuốt từng sợi giang, cô em gái hái măng một mình… Tình nghĩa ấy được đúc lại trong đạo lí Việt Nam: "Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn", Cuối cùng, Việt Bắc còn là vùng đất lịch sử, là quê hương cách mạng, căn cứ địa thần thánh của cách mạng. Nó là một vùng đất thiêng, vùng đất kỉ niệm của toàn dân tộc. Ở đó có những địa danh đã đi vào lịch sử "Mái đình Hồng Thái, cây da Tân Trào", có những chiến thắng vang dội núi sóng, có cuộc họp trang nghiêm dưới lá cờ Tổ Quốc: Ai về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. Và thiêng liêng, ấm áp, đầy niềm tin vì ở đó có Bác Hồ. Sáu câu thơ cuối đoạn trích đã nâng Việt Bắc lên một tầm cao mới: Việt Bắc đã đi vào lòng dân và đi vào lịch sử dân tộc: Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa. Dưới ngòi bút của nhà thơ cách mạng Tố Hữu, quê hương cách mạng Việt Bắc hiện lên đẹp, đáng yếu và gắn bó với mọi người chúng ta. Nó đã trở thành quê chung của mỗi một người Việt Nam yêu nước. a. Nét chung Hoàn cảnh sáng tác và đối tượng miêu tả có thể khác nhau, nhưng đều là cảm hứng về quê hương đất nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp, nên hai bài thơ có những nét chung dễ nhận thấy: - Cảm hứng về quê hương đốt nước đau thương và căm thù trong chiến tranh (mang âm hưởng xót xa căm giận). - Cảm hứng về quê hương đất nước giàu đẹp (mang âm hưởng ca ngợi tự hào). - Cảm hứng về nhân dân anh hùng – tình nghĩa (mang âm hưởng ca ngợi tự hào). Tụy đậm nhạt có thể khác nhau do mục đích sáng tác và tính chất của từng bài thơ, nhưng ba cảm hứng trên đây đều có trong hai bài thơ như đã phân tích ở mục 1. Những cảm hứng đó đều bắt nguồn từ lòng yêu quê hương đất nước tha thiết, niềm tự hào mãnh liệt về đất nước giàu đẹp, nhân dân anh hùng – tình nghĩa, và lòng căm thù giặc sâu sắc của các nhà thơ. Nó trở thành những cảm hứng truyền thống trong thơ ca kháng chiến. b. Đặc điểm riêng Thơ là tiếng nói của từng cá nhân – thi sĩ, nó không thể không mang cảm hứng riêng của từng nhà thơ. Huống chi hoàn cảnh sáng tác và tính chất của các bài thơ lại không giống nhau. Vì vậy, trong cảm hứng chung lại có những nét riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong từng bài thơ. Và cảm hứng riêng đó đã dựng lên những gương mặt đất nước không giống nhau qua mỗi bài thơ: - Bên kia sông Đuống: Đất nước là quê hương Kinh Bắc cổ,kính, một vùng quê văn hóa lâu đời với tranh Đông Hồ đậm màu sắc dân tộc, với tiếng chuông chùa ngân nga văng vẳng, với lễ hội tưng bừng rộn rã quanh năm, với những con người không thể nào lẫn được: "những cô hàng xén răng đen – cười như mùa thu tỏa nắng … Và hình ảnh cô gái Kinh Bắc duyên dáng trữ tình ây cứ thấp thoáng an hiện trong suốt bài thơ… Là người con của quê hương quan, họ, cảm hứng của Hoàng cầm mang đậm chất Kinh Bắc: thiết tha, day dứt, sâu lắng, ngọt ngào. - Việt Bắc: Đất nước được hội tụ và kết tinh lại trong hình ảnh quê hương cách mạng anh hùng tình nghĩa. Bài thơ là khúc hát ân tình của con người kháng chiến với quê hương cách mạng, là nghĩa tình thủy chung sâu nặng giữa người về xuôi và người ở lại trong giờ phút chia tay lịch sử. Cảm hứng của Tố Hữu đối với quê hương cách mạng là cảm hứng của người trong cuộc đã từng sống, hiểu và yêu quê hương cách mạng thiết tha mặn nồng. Đó là tình cảm chính trị nhưng lại được nói lên một cách tự nhiên bằng giọng điệu tâm tình dịu ngọt như lời người yêu trong khúc hát đối đáp giao duyên. Hai bài thơ là hai gương mặt đẹp về quê hương đất nước: một vùng đất Kinh Bắc dân gian – cổ kính, một quê hương cách mạng tình nghĩa – anh hùng. Nó sẽ là những hành trang tinh thần theo ta đi suốt cuộc đời trên những nẻo đường dựng xây đất nước.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài : tập đọc Sắc màu em yêu trang 20 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1

SOẠN BÀI : TẬP ĐỌC SẮC MÀU EM YÊU TRANG 20 SGK TIẾNG VIỆT LỚP 5 TẬP 1

Câu 1 bạn nhỏ yêu những sắc màu nào? câu 2 mỗi sắc màu gợi ra những hình ảnh nào câu 3 bài thơ nói lên điều gì về tình cảm bạn bè câu 4 học thuộc lòng khổ thơ em thích TẬP ĐỌC              Sắc màu em yêu I. CÁCH ĐỌC Đọc diễn cảm bài thơ với giọng nhẹ nhàng, tình cảm, trải dài tha thiết ở khổ thơ cuối. II. GỢl ý tìm hiểu bài 1. Bạn nhỏ yêu tất cả các sắc màu: đỏ, xanh, vàng, trắng, đen, tím, nâu. -      Sắc màu nào cũng gợi ra nhiều hình ảnh về con người và sự vật xung 2. Màu đỏ: màu máu,  màu cờ Tỏ quốc, màu khăn quàng đội viên. -Màu  xanh: màu cùa đồng bàng, rừng núi, biển cả và báu trời. -   Màu vàng: màu của lúa chín, hoa cúc mùa thu, nắng trời Màu trắng: màu của trang giấy, đóa hoa hồng bạch, mái tóc ba Màu đen: màu của hòn than óng ánh,đôi mất em bé, màn đêm yên tĩnh  Màu tím: màu của hoa cà, hoa sim, chiếc khăn của chị, màu mực Màu  nâu: màu chiếc áo sờn bạc cùa mẹ, màu đất đai, gỗ rừng. Bạn nhỏ yêu tất cả các sắc màu đó vì các sắc màu đó đều gắn với những cảnh, những con người bạn yêu quý. 3. Bài thơ cho biết bạn nhỏ yêu mọi sắc màu trên đất nước. Bạn Yêu quê hương đất nước mình. Nội dung: Bài thơ thể hiện tinh cảm của bạn nhỏ với những sắc màu, những con người vật xung quanh. Qua đó thể hiện tình yêu của bạn đối với quê hương, đất nước.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài: Mùa xuân nho nhỏ

SOẠN BÀI: MÙA XUÂN NHO NHỎ

MÙA XUÂN NHO NHỎ Thanh Hải I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam thời kỳ đầu. 2. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc sống, với đất nước và ước nguyện của tác giả về một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. 3. Từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến "mùa xuân nho nhỏ" của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung. Có thể xác định bố cục của bài thơ gồm bốn đoạn: - Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời. - Hai khổ 2, 3 (từ "Mùa xuân người cầm súng" đến "cứ đi lên phía trước"): hình ảnh mùa xuân đất nước. - Hai khổ 4, 5 (từ "Ta làm con chim hót" đến "Dù là khi tóc bạc"): những suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước. - Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế. 4. Mùa xuân ở khổ thơ đầu là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời với dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Chỉ bằng vài nét phác hoạ, tác giả đã vẽ ra cả không gian cao rộng với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la, với màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoa tím biếc), với những âm thanh vang vọng (tiếng chim chiền chiện) của mùa xuân. Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ: Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Có nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, tuy nhiên có thể hiểu "từng giọt" là "những giọt mùa xuân", là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh... sang hình khối, đường nét, một sự cụ tượng hoá những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc...) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan. Dù hiểu như thế nào thì hai câu thơ cũng thể hiện niềm say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh mùa xuân. 5. Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hoà nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình: muốn "làm con chim hót", muốn "làm một cành hoa"... Niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, như bông hoa toả hương sắc, mang đến vẻ đẹp cho cuộc đời. Đoạn thơ gợi cho ta những suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. 6. Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả: - Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc. - Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao...) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao...). - Tứ thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước. Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải. - Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng của tác giả, biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết. 7. Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải. Nhiều nhà thơ đã viết về mùa xuân với những sắc thái khác nhau: mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), xuân ý, xuân lòng (Tố Hữu)... Trong bài thơ này, ý nguyện của tác giả là muốn làm một mùa xuân nhưng chỉ là một mùa xuân nho nhỏ - đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm đẹp thêm mùa xuân đất nước. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Thể hiện giọng đọc chậm, tình cảm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÌNH GIẢNG BÀI THƠ ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

BÌNH GIẢNG BÀI THƠ ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp thi sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Những năm 1970, 1971,… ông sống và hoạt động tại chiến trường Trị – Thiên; trường ca “Mặt đường khát vọng” được ông sáng tác vào thời gian ấy. Chương V “Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. “… Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoà thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”   “Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị – Thiên – một điểm nóng – trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân. Trong bài “Có một thời đại mới trong thi ca”, Trần Mạnh Hảo viết: “Vào đêm giao thừa  Tết âm lịch 1973 – 1974, dưới rừng Phước Long, chúng tôi xúc động nghe trích đoạn “Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm phát trên Đài phát thanh. Những suy nghĩ về đất nước, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hoá bằng chất suy tư lắng đọng và cảm xúc mãnh liệt”. “Đất Nước” – là chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dài 110 câu thơ (trong “Văn 12” chỉ trích 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về Đất Nước trong cội nguồn sâu xa văn hóa – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai, cảm hứng chủ đạo về Đất Nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện Đất Nước trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V “Đất Nước” là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc. Mười ba câu thơ dưới đây trích trong phần đầu chương “Đất nước” thể hiện cảm nhận: Đất Nước gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt nam: Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước (…) Làm nên Đất Nước muôn đời…”. Trong chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, hai từ Đất Nước và Nhân Dân đều được viết hoa, trở thành “mĩ tự” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân. Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào. Cấu trúc đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng – phân – hợp mà ta cảm nhận được tính chất chính luận của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điềm. 1. Hai câu thơ mở đoạn là sự thức nhận chân lý về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử,… Đất Nước gần gũi và gắn bó thân thiết với “anh và em”, với mọi người: “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước”. Chỉ “một phần” nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào. Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của Đất Nước” được diễn đạt một cách “mềm hóa” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em”. 2. Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay” đến “ngày mai” và muôn đời mai sau. “Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”. Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: “Đất Nước là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn – Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Và “khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng. Gia đình là “một phần” của Đất Nước. Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê hương Đất Nước. Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới. Ý tưởng ấy đã được Nguyễn Đình Thi thể hiện trong một tứ thơ sâu và đằm về nỗi “nhớ”: “Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”. Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu đất nước, mới có thể có tình nghĩa sâu nặng “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”, mới tìm thấy đất nước quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác: “Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm Có những lần trốn học bị đòn roi. Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi”.(Giang Nam) Nói về cội nguồn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích “Trăm trứng”: “Đất là nơi Chim về – Nước là nơi Rồng ở – Lạc Long Quân và Âu Cơ – Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng – Những ai đã khuất – Những ai bây giờ…”. Từ huyền thoại thiêng liêng ấy mới có ý thơ này: “Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn”Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên, là yêu thương. “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam. Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và đất nước. Đất Nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. Bốn câu thơ trên đây cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay”… “Khi chúng ta cầm tay mọi người”, “Đất Nước hài hoà nồng thắm…”. “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này. Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam. Đất nước “Nguồn thiêng ông cha”, đất nước “Trong anh và em hôm nay”, đất nước trong mai sau. Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời niềm tin: “Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng”. Nguyễn Thi, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Sơn Nam… đã tạo nên giọng điệu Nam Bộ hấp dẫn trong thơ ca và truyện của mình. Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải,… cũng có một giọng điệu riêng “rất Huế”, dễ thương dịu ngọt. Hai tiếng “mai này” là cách nói của bà con xứ Huế. Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước để lại” xây dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh). Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng. “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh. Điều mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần. Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào. Giọng thơ trở nên ngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: “Đất Nước là máu xương của mình”. Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “Đất Nước là máu xương của mình” nên Trần Vàng Sao đã viết: “Nuôi lớn người từ ngày mở đất, Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật Một tấc lòng cũng đẫy hồn Thánh Gióng”. (“Bài thơ của một người yêu nước mình” 19/12/1967) Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng. “Phải biết gắn bó và san sẻ… phải biết hóa thân…” thì mới có thể “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Điệp ngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động. Có biết trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thì mới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là tiếng nói tâm huyết “mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ” như một nhà ngôn ngữ học lừng danh đã nói. Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê hương đất nước được tô đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tác, những đoạn thơ hay, những câu thơ tuyệt cú. Cảm hứng về đất nước được diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đáo, mang phong cách sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Chất trữ tình thấm đẫm dư ba. Đất nước trong máu lửa mới mang cảm xúc sâu nặng thế. Đây là tiếng nói ở hai đầu đất nước: “Tôi yêu đất nước này chân thật Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi Và yêu tôi đã biết làm người Cứ trông đất nước mình thống nhất” (Trần Vàng Sao) “Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”. (Chế Lan Viên) Trở lại đoạn thơ trên đây của Nguyễn Khoa Điềm. Tứ thơ rất đẹp. Đất nước thân thương gắn bó với mọi người. Phải biết hiến dâng cho “Đất nước muôn đời”. Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất nước và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình hàm ẩn tính công dân của thời đại mới. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi. “Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình…” – một tứ thơ rất đẹp! Một tứ thơ lung linh mang vẻ đẹp trí tuệ! Lúc hòa bình phải biết đem “trí lực” để xây dựng Đất Nước, “làm nên Đất Nước muôn đời”, Đất nước “to đẹp hơn đàng hoàng hơn”. Lúc có chiến tranh phải đem xương máu để bảo toàn Sông núi. “Gắn bó, san sẻ, hóa thân” cho Đất Nước, ấy là nghĩa vụ cao cả thiêng liêng, ấy là tình yêu Đất Nước của “anh và em” hôm nay, của thế hệ Việt Nam “Mai này con ta lớn lên”… loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

5 Đọc thêm

KẾ HOẠCH LỒNG ghép van 9 chỉnh

KẾ HOẠCH LỒNG GHÉP VAN 9 CHỈNH

I.TRẮC NGHIỆM(3đ): Câu 1:Văn bản Cổng trường mở ra của Lí Lan là văn bản nhật dụng.Đúng hay sai? A.Đúng B.Sai Câu 2:Một số từ và cụm từ hay sử dụng như thương thay, thân em, trời ơi,…đã thể hiện được ý nghĩa gì của một trong những chùm ca dao đã học? A.Tình cảm gia đình. C..Tình yêu quê hương , đất nước, con người. B.Than thân. D.Châm biếm. Câu 3:Bài thơ Nam quốc sơn hà từng được coi là bản Tuyên ngôn Độc lập.Vậy Tuyên ngôn Độc lập là gì? A. Lời tuyên bố về sự chiến thắng kẻ thù xâm lược. B.Lời tuyên bố về hoà bình, độc lập. C. Lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào xâm phạm. Câu 4:Bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương được làm theo thể thơ gì? A. Lục bát. C.Thất ngôn bát cú Đường luật. B. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. D.Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật. Câu 5: Ai là nhà thơ được thi sĩ Xuân Diệu gọi là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”A. Nguyễn Trãi B. Bà Huyện Thanh QuanC. Hồ Xuân Hương D. Nguyễn KhuyếnCâu 6: Ý nghĩa văn bản văn bản của bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cảm nhận bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải

CẢM NHẬN BÀI THƠ MÙA XUÂN NHO NHỎ CỦA NHÀ THƠ THANH HẢI

Thanh hải là 1 cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở Miền Nam từ những ngày đầu Thơ ông thể hiện niêm yêu mến thiết tha của cuộc sống đất nước ước nguyện của tác giả . Và MXNN là 1 bài thơ như thế Bài thơ được sáng tác vào nhữung năm cúôi đời của thanh hải thế nhưng đặc biệt tràn ngập cả bài thơ là những cảm xúc của tác giả đi từ mùa xuân thiên nhiên đên mùa xuân đất nưuợc ocn người và cuối cùng đã bộc lộ khát vọng sống của con người . Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ Đã tạo nên 1 giọng điệu thơ sâu lắng trữ tình tha thiết Mở đâu bài thơ thanh hải đã fác hoạc cảnh mùa xuân tươi đẹp dang về trên xứ huế mọc giuẵ dòng sông xanh một bông hoa tím biếc ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trời khổ thơ là cảm nhận của thanh hải về mùa xuân thiên mùa xuân quê hương . Đâu có gì nhiều chỉ 1 bông hoa 1 dòng sông 1 tiếng chim hsot . Đơn giản thế nhưng vui và đẹp biết bao ! . Chỉ bằng vài nét fác họa chọn lọc hình ảnh màu sắc và âm thanh nhà thơ như vẽ ra cả 1 không gian cao rộng dòng sông mặt đất bầu trờ cả màu sắc thắm tuơi sông xanh thắm hoa tím biếc và âm thanh rộn rã Tiếng chim chiền chiện hót vang trờ . Truwocs đây cũng đã nhiều thi nhân mieue tả mùa xuân vơi những ítn hiệu bông hoa chim hót chim hót véo von liễu nở đầy Nhưng điểm đặc biệt trong thơ Tanh hải là cảnh màu xuân mang nét đẹp riêng cảu quê hương xứ huế . Dòng sông xanh đây là dòng sông hương thở mông của huế ko phải là sông hồng đỏ nặng phù sa cũng chẳng phải là Vàm cỏ đông tươi mát trên dòng sông hương giang thơ mộng ấy " mọc " lên l1 bông hoa tím biếc. có lẽ đó là họa lục bình . 1 lòai hoa ưa sông nuwocs ưa đồng nội bình dị thân th ương . Thi nhân xuă thường nói đến màu xuân với những loài hoa tiêu biểu kiêu saquí hiếm như hoa đào mai lan nhưng ở đây mùa xuân trong thơ thanh hại lại được báo hiêu băng 1 bông hoa lục binh tím biêc .Cái màu tím đặc trunưg của xứ huếy ngươi huế . Cách đảo ngữ đưa từ mọc lên đầu câu thơ . Mọc giữa dòng sông xanh gây ấn tuợng về sự vương lên đầy sức sống của bông hoa . 1 sức sống tràn trề tuơi trẻ Chỉ với 2 câu thơ mở đầu nhà thơ đa miêu tả đựoc cả 1 sắc xuân đằm thắm dịu dàng mà xao xuyến lòng người Thanh hải còn cảm nhận thêm 1 nét đẹp nữa của thiên nhiên xứ huế đó là tiếng xuân rộn rã reo vui qua âm thanh thánh thó của chim chiền chienẹ . 1 lòai chim sơn ca sống rất nhiều ở Huế Tiếng chim hót thánh thóe véo von vang vọng cả đâtd trờ Cã không gian cao rộng nghe tiếng chim hót nàh thơ thoế lên lời gọi của chim thậ thiết tha say đăm Ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trờ Hô ngữ Ơi kết hiưpự với cụm từ hót chi mà nghe sao mà dịu ngọt êm ái thân thương . 1 lần nữa qua cách thể hiện của TH ta bắt gạp các chât thơ ngọ ngào của xứ Huế qua tiếng thơ nhẹn nhang thân thương tràn đầy cảm xúc lẫn chất huế ấy đã thể hiện tình yêu tha thiêt của nàh thơ đối với quê hương ruột thịt của mình Thế ta mùa xuân đang đên ở xứ huế rất đẹp của hoa tím sông xanh ở sức sông của bông hoa và ở niềm vui trong tiếng chim chiền chiện hót. Tâm hồn nhà thơ rộng mỡ để đón nhận nâng niu trân trọng vẻ đẹp sứuc sống và niềm vui ấy Từng giọt long lanh rờ Tôi đưa tay tôi hứng Nhưng dòng thơ đã thể hiện cảm xúc của hôn thơ TH . bàk ca xứa huế vào xuân nghe tiếng hót trong trẻo véo von thánh thót của chim chiền chiện . Âm thanh đó được kết tinh lại đọng lại thanh từng giọt long lanh lấp lánh Và nhà thơ muốn đuă tay đón nhận từn ggiọt âm thẩ ấy . Rất sáng tạo và đầy gợi cảm . TH đã dùng hiện tượng chuyển đổi cảm giác để thể hiện cảm xúc của mình . Từ cái có tính thính giác chỉ có thê4r nghe được là âm thành của tiếng chim nhà thơ tưởng tnhư thấy được và có thể hứng đựoc cả tiếng chim trong tay . Cảm nhận nó bằng xúc giác nêu xuân diệu ddax có lần say sưa trược vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân . Thàng giêng ngon như 1 cặp 1 gần để ròi hào hứng thốt lên Hơi hồng ta muốn căn vào ngươi thì thanh hải cũng ngất ngây tưởng chứng hưng được cả tiếng xuân . giọt xuana trong tay. Hiện tưởng chueyen đổi cảm giác ấy hoàn toàn màng tính chủ quan có lẽ phi lí ko thực tết .Nhưng đã trở thành nghệ thật trong thơ ca bởi nó đã thể hiện được cái cảm xúc nồng nàn say đăm của nhà thơ . Cací đất trờ xứ huế vào xuân và nhà thơ khương tư dung cũng đã có lần thể hienẹ cảm xúc của mình trong âm thanh của tiếng chim bằng 1 câu thơ có hiện tuơng chuyển đổng cảm giác tương tự Một tiếng chim kêu sống cả rừng Rồi tờ đó nàh thơ tiếp túc trải dài cảm xúc của mình với mùa xuân đất nước con người Mùa xuân người cẩm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Ở đay chún gtả đã thây thanh hỉa đề cập đên 2 hình ảnh đó là người cầm súng và người ra đông . Vì sao vậy có pảhi cahưng học chinh alf nhưng người đã chiến đấu bào vệ tổ quốc họl à những người đổ mồ hôi cong sức để góp phần xây dunựg đất nược đocọ lập hạnh phúc cho mọi người . Như vây jchín hhọc là nhưng nguơiừ mang lại mùa xuân cho nguơiừ khác .Bên cạnh 2 hình ản hnày là lộc Nói đến Lộc là nói đến sự đama chồi của cây là . Nhưng trong văn cảnh này lộc mang hàm ý là mùa xuân là sự may mắn là hạnh phúc đến với người khác Và lộc của người cầm sùng đó là cành lá nguyện trang . Và lộc của người ra đồng là nương mạ xanh tốt . Như vaỵa lộc đã theo họ ra chiến trường ra ruộng đồng hay là chín họ đã mang lộc về cho đất nước cho mọi người Từ hình ảnh con người tác giả đề cập đến hình ảnh đất nước Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước Đất nước tả kể từ buổi đầu dựng nước là quá trình giữ nước hết cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác . Cha ông ta sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ nền văn hiến cha ông. Đây là 1 quy trình đầy gian lao vất vả nhưng cũng đầy tự hào Niềm tự hảo đó đã được tác giả so sánh bằng hình ảnh rất đẹp " như vì sao " Nói đến vì sao là nói đến các tinh tú lấpl ánh trên bầo trời . Vì sao cứ ngàn năm mãi vình hằng đối với cuộc sống con người và đối với đất nước như vì sao có nghĩa là đất nước ta rất đẹp đất nước ta từ 4000 năm đã đặc xây dựng và phát triển "cứ đi lên phía trước "Chính vì thế mà trước vẻ đẹp đó trước niềm tự hào Con người khi cảm nhận về đó như cảm thấy hối hả . Ở 2 câu này vuằ có điệp từ " tất cả " Lạp lại cùng với những hình ảnh đầy hình tượng như âm thanh >Nó gợi tả đươcọ không khi và khí thế rộn ràng vui vẻ cảnh đất nước vào xuân Mở đầu bài thơ . Nó đã giớ thiệu cảnh sắc mùa xuana thiên nhiên đẹp tươi ddang đến trên quê hương xứ huế thân thương . Nhưng khổ thơ của thanh hải là cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân đất nước . dân tộc . Và cũng từ mạch cảm xúc đó nhà thơ đã quay về với lòng mình . Suy nghĩ thật chân thành và lắng động bài 2 Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là bài thơ nói lên tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng. Đây là khổ thơ thứ tư và thứ năm của bài thơ. Đoạn thơ thể hiện tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời. Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến. Đó là khát vọng sống hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Tác giả mong muốn được làm bông hoa tỏa ngát hương, con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái, ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ riêng cho nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó thật sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh túy nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác: Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Thái độ "lặng lẽ dâng cho đời" nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng, một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên, đất nước. Điệp ngữ "dù là" ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ. Chính vì vậy, hình ảnh "mùa xuân nho nhỏ" ở cuối bài như ánh lên, tỏa sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ. Đoạn thơ là một tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnh sáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết. Nhà thơ ước nguyện làm một "mùa xuân" nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là "một mùa xuân nho nhỏ" góp vào "mùa xuân lớn" của đất nước của cuộc đời chung. Đoạn thơ đem đến cho chúng ta bao cảm xúc cao đẹp về mùa xuân, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của một tâm hồn trong sáng khiến ta cảm phục và tin yêu. Có tình yêu nào rộng lớn hơn tình yêu quê hương đất nước? Chúng ta muốn học thành tài để hiến dâng cho đất nước, góp phần công sức nhỏ bé để tô điểm cho mùa xuân cuộc đời thêm đẹp.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Đoạn Đất Nước trích gần chọn chương V của trường ca Mặt đường khát Vọng, thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc và có phần mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. BÀI LÀM    Đoạn Đất Nước trích gần chọn chương V của trường ca Mặt đường khát Vọng, thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc và có phần mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nếu không đọc kĩ trọn vẹn trường ca Mặt đường khát vọng dễ nhầm tưởng rằng dường như chương V này không đề cập trực tiếp đến các vấn đề của thanh niên trí thức miền Nam, không nói đến hiện thực sôi động trong cuộc chiến đấu trong các thành thị miền Nam thời Mỹ Nguỵ, do đó nó không thật gắn bó chặt chẽ với toàn bộ tác phẩm. Song, thực ra chương này lại là hạt nhân quan trọng nhất của tác phẩm: Sự ý thức về đất nước, về nhân dân đã dẫn đến sự ý thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ, cuộc chiến trạnh oanh liệt vì đất nước, vì nhân dân.    Trong văn học Việt Nam, đất nước vốn là một đề tài lớn. Điều đó có thể giải thích bằng đặc điểm quá trình lịch sử đấu tranh sinh tồn của dân lộc. Trải qua hàng ngàn năm phải liên tục chiến đấu gìn giữ đất nước, hơn ai hết, người Việt Nam luôn luôn gắn bó sâu nặng với đất nước, với đồng bào. Trong văn học viết thời phong kiến đã có những kiệt tác viết về đất nước như bài thơ Thần của Lí Thường Kiệt, Bài cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, để tài này thường xuyên suất hiện trong văn học: Nguyễn Đình Thi viết bài Đất nước nổi tiếng chủ yếu thời kì chống Pháp. Cùng thế hệ với Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh... đều có những tác phẩm thể hiện đề tài đất nước, ở đề tài này, các tác giả ghi nhận những thành công nhất định. Nhưng đoạn trích Đất Nước nói riêng, và trường ca Mặt đường khát vọng  nói chung vẫn chiếm được cảm tình của người đọc bởi nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho đề tài này một số nội dung có phần mới mẻ và một cách phô diễn khá độc đáo, hấp dẫn, không giông bất kì cây bút nào đi trước.    Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu thật bình dị. Dưới cách nhìn và cảm nhận của nhà thơ trẻ (khi viết trường ca này Nguyễn Khoa Điềm mới 28 tuổi, nhưng có học vấn cử nhân văn khoa), đất nước là những gì vô cùng gần gũi, binh dị, gắn bó thật sâu nặng với mỗi con người, mỗi gia đình. Đất nước hiện diện từng giây, từng phút trong cuộc sống thường nhật vừa là trừu tượng, song lại hết sức cụ thể đối với từng thành viên. Theo tác giả, đất nước không có gì xa lạ. Đất nước có trong những câu chuyện mà mỗi bà mẹ thường kể cho con nghe hay bắt đầu bằng câu "Ngày xửa ngày xưa...". Đất nước còn là tập quán lưu giữ từ ngàn đời nay, biểu hiện ở miếng trầu bà ta vẫn ăn, hay thói quen "bới tóc sau đầu" của mẹ. Đất nước còn là mối quan hệ thuỷ chung son sắt giữa người với người cùng sống trên dải đất Việt Nam này. Điều ấy, trước hết được chứng minh bằng quan hệ bền vững trước sau của mẹ với cha của vợ với chồng. Trong căn nhà đơn sơ, bao thế hệ người Việt Nam đã sinh con đẻ cái, cần mẫn, lam lũ sớm trưa không bao giờ thiếu mái rạ, cây tre. Trong nhà rất đỗi quen thân ấy, không thể thiếu cái kèo, cái cột... Đây cũng chính là đất nước!    Cái mới lạ, sức hấp dẫn ở đoạn thơ này chính là cách nói hết sức bình dị của nhà thơ. Điều này đã khơi dậy trong tiềm thức sâu xa của người đọc những kỉ niệm, những ấn lượng về một quê hương Việt Nam, con người Việi Nam quen thuộc gần gũi mà bất kì một người đọc nào cũng đã từng chứng kiến, khiến họ không khỏi bồi hồi xao xuyến nhận ra: Trong đất nước có một phần máu thịt của mình.    Tiếp tục mạch cảm hứng ở khổ đầu, đến khổ thơ tiếp theo, nhiều khi Nguyễn Khoa Điềm tách riêng hai yếu tố đất và nước. Đất nước chính là sự hợp thành hai yếu tố đất và nước. Nó luôn gần gũi với cuộc sống mỗi người: Đất là nơi anh đến trường,                                           Nước là nơi em tắm,                                                    Đất Nước là nơi ta hò hẹn,                                             Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc         Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi                    Tiếp theo, nhà thơ cảm nhận đất nước qua độ dài vô tận của "thời gian đằng đẵng" lẫn độ dài vô tận của "không gian mênh mông". Và thời gian không chỉ dài mà điều quan trọng hơn là trên nền thời gian ấy đã có bao biến thiên lịch sử vừa chân thực vừa phảng phất chất huyền thoại. Đồng bào ta vẫn tự hào là con Rồng cháu Tiên, cha là Lạc Long Quân và mẹ là bà Âu Cơ. Như vậy thời gian chủ yếu được cảm nhận trong chiều sâu của lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, của dân tộc. Không gian vừa là núi cao sông rộng, muôn trùng núi bạc, bát ngát biển khơi, lại vừa là nơi sinh sống của bao nhiêu người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác: Những ai đã khuất,                        Những ai bây giờ,                          Yêu nhau và sinh con đẻ cái,            Gánh vác phần người đi trước để lại, Dặn dò con cháu mai sau,               Hàng năm ăn đâu nằm đâu,             Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.       Đất nước gắn bó thân thiết với mỗi con người, khi tuổi ấu thơ ("Đất là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm") cũng như khi ta lớn hơn bước vào đời ("Yêu nhau và sinh con đẻ cái")    Bởi vậy, như một tất yếu, mỗi thành viên phải có nghĩa vụ đối với đất nước này. Nhờ sự dắt dẫn ở phần trên, nhờ xúc cảm chân thành, lời nhắn nhủ có vẻ như là "hô khẩu hiệu" của tác giả, ở phần sau được người đọc chấp nhận một cách khá tự nhiên, rất ít có cảm giác sống sượng: Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình. Phải biết gắn bó và san sẻ,                          Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở.         Làm nên Đất Nước muôn đời...                        Như vậy, đất nước được cảm nhận một cách khá phong phú, có sự kết hợp hài hoà trên nhiều lĩnh vực: những phong tục lâu đời, những truyền thống văn hoá, giữa không gian và thời gian, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái to lớn hùng vĩ với những sinh hoạt thường nhật của mỗi một con người. Nếu một số tác phẩm trước đây, đất nước được biểu hiện bằng một giọng điệu trang trọng, uy nghi, chủ yếu với những hình ảnh lớn lao, thì ở Mặt đường khát vọng đất nước được thể hiện bằng những hình ảnh gần gũi với một giọng thơ thiết tha lắng đọng, ý thơ được phát triển một cách khá tự do, tự nhiên: nhưng đoạn thơ vẫn đảm bảo được kết cấu hợp lí.     Điều đặc biệt đáng lưu ý là tác giả đã sử dụng một cách hết sức linh hoạt sáng tạo vốn hiểu biết phong phú về văn hoá dân gian. Chẳng hạn, muốn diễn đạt ý tưởng đất nước ta có từ lâu đời, tác giả cho người đọc liên tưởng đến kho tàng truyện cổ tích. Truyện cổ tích thường bắt đầu bằng lời kể Ngày xửa ngày xưa…. Tiếp đến nhà thơ giúp người đọc nhớ đến truyện Trầu cau bất hủ bằng câu: “ Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn". Và mấy ai không nghĩ đến truyền thuyết Thánh Gióng, khi đọc câu thơ "Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Còn câu "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” chính là sự vận dụng tuyệt vời câu ca dao từng làm rung động con tim bao người Việt Nam: Tay nâng chén muối đĩa gừng                  Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau.  cũng có lúc tác giả trích nguyên văn một số câu dân ca: Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc               Con cá ngư ông móng nước biển khơi...                        Cho dù chỉ sử dụng ý trong ca dao trong các truyện dân gian, hay là trích nguyên văn, nhìn chung Nguyễn Khoa Điềm đều tạo nên được những câu thơ mới, những ý thơ mới. Những ý thơ này gắn bó một cách khá chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, đang nói chuyện "ngày xửa ngày xưa"... nhà thơ chuyển đột ngột đến chuyện bây giờ (Đất là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm). Rồi từ đó, tác giả lại dẫn người đọc vào thế giới xa xưa với dân ca và truyền thuyết ( truyện Sự tích trăm trứng, dân ca xứ Huế...)    Cách diễn đạt ấy khá khêu gợi trí tưởng tượng người đọc. Các yếu tố văn hoá dân gian đã góp phần không nhỏ biểu hiện tư tưởng cốt lõi của tác phẩm Đất Nước của nhân dân. Đồng thời nó tạo được ở người đọc ấn tượng sâu sắc về một đất nước Việt Nam phong phú, sống động lạ thường, muôn màu muôn vẻ, trải dài theo không gian và thời gian, gần gũi thân thiết với từng con người Việt Nam.    Ngày nay đọc lại đoạn trích này, chúng ta càng thấy rõ phần nào những cống hiến của Nguyễn Khoa Điểm đối với sự phát triển của thơ ca thời chống Mĩ. Sự dồi dào trong xúc cảm và chiều sâu trí tuệ đã khiến cho đoạn thơ có chất chính luận trên đây ít bị cũ kĩ theo thời gian, có phần tránh được số phận của một số bài thơ cùng thời Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích “Đất Nước” của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng về đất nước của nhà thơ

PHÂN TÍCH “ĐẤT NƯỚC” CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI ĐỂ THẤY RÕ NHỮNG CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC CỦA NHÀ THƠ

Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi mayNgười ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng lá rơi đầyMùa thu nay khác rồiTôi đứng vui nghe giữa đất trờiGió thổi rừng tre phất phớiTrời thu thay áo mớiTrong biếc nói cười thiết thaRừng xanh đây là của chúng taNúi rừng đây là của chúng taNhững cánh đồng thơm mátNhững ngả đường bát ngátNhững dòng sông đỏ nặng phù saNước chúng taNước những người chưa bao giờ khuấtĐêm đêm rì rầm trong tiếng đấtNhững buổi ngày xưa vọng nói vềÔi những cánh đồng quê chảy máuDây thép gai đâm nát trời chiềuNhững đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồn chồn như nhớ mắt người yêuTừ những năm đau thương chiến đấuĐã ngời lên nét mặt quê hươngTừ gốc mía bờ tre hồn hậuĐã bật lên những tiếng căm hờnBát cơm chan đầy nước mắtBay còn giằng khỏi miệng taThằng giặc tây thằng chúa đấtĐứa đè cổ đứa lột daXiềng xích chúng bay không khoá đượcTrời đầy chìm và đất đầy hoaSúng đạn chúng bay không bắn đượcLòng dân ta yêu nước thương nhàKhói nhà máy cuộn trong sương núiKèn gọi quân văng vẳng cánh đồngÔm đất nước những người áo vảiĐã đứng lên thành những anh hùngNgày nắng đốt theo đêm mưa dộiMỗi bước đường mỗi bước hi sinhTrán cháy rực nghĩ trời đất mớiLòng ta bát ngát ánh bình minhSúng nổ tung trời giận dữNgười lên như nước vỡ bờNước Việt Nam như máu lửaRũ bùn đứng dậy sáng loà. Bài giải chi tiết | Viết cách giải khác của bạn Phân tích đề : - Nội dung : cảm hứng về đất nước của Nguyến Đình Thi trong bài thơ Đất nước. - Thể loại : Phân tích một tác phẩm trọn vẹn theo một chủ đề đã được định hướng. Tác phẩm ở đây là thơ trữ tình, vì thế khi phân tích cần hiểu rõ đặc trưng thể loại, chú trọng làm nổi bật cảm xúc, tình cảm, tư tưởng của tác giả. - Phạm vi : Tuy chỉ yêu cầu phân tích bài thơ của Nguyến Đình Thi, nhưng cần so sánh liên hệ với các bài thơ khác, nhất là những bài thơ cùng viết về đề tài đất nước trước và sau nó ( ví dụ : Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…) để thấy vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Gợi ý phân tích : 1. Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác của bài thơ để phân tích - Đất nước là bài thơ ngắn (49 dòng ) nhưng lại được sáng tác trong thời gian dài (1948- 1955) - Tiền thân là bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa (đăng báo Văn nghệ số 6, tháng 10 và 11/1948) và bài Đêm mít ting (Văn nghệ Xuân 1949). Cả hai bài thơ đều được viết tại Việt Bắc, trong tâm trạng nhớ về Hà Nội của tác giả. - Phần đầu từ Sáng mát trong… Trong biếc nói cười thiết tha được lấy từ bài thơ thứ nhất. Kế đến nối vào đoạn cuối bài thơ thứ hai và cả ý của bài đầu cho đến : Những buổi ngày xưa vọng nói về. Đoạn từ Ôi cánh đồng quê… cho đến hết bài được Nguyến Đình Thi viết vào năm 1955 Như vậy, bài thơ hình thành từ ba mảnh khác nhau, trong thời gian dài, nhưng vẫn là tác phẩm hoàn chình, liền mạch, nhất quán nhờ kết nối bởi mạnh cảm xúc về đất nước. 2. Lưu ý về kết cấu Đất nước là bài thơ có kết cấu độc đáo - Nhà thơ đưa người đọc vào thế giới cảm xúc của mình theo lối hứng của ca dao, dân ca. Khởi đầu là cảm xúc về một sáng mùa thu, mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Rồi từ mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu của đất nước, mùa thu của cách mạng với niềm xúc động đầy tự hào được làm chủ đất nước. Và, từ đó lại nghĩ về đất nước trong chiến tranh, giải phóng, về những con người từ trong đau thương căm hờn đứng lên chiến đấu – những anh hùng quần chúng. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh mang tính biểu tượng về sự vươn mình vĩ đại của đất nước và con người Việt Nam trong thời đại mới. - Sự vận động của tư tưởng – cảm xúc của bài thơ phát triển theo hướng cảm nhận và suy ngẫm của tác giả về đất nước. Bởi vậy : + Phần sau của bài thơ có nhiều hình ảnh khái quát, hình ảnh mang tính biểu tượng hoặc hình ảnh hiện thực nhưng đã được mở rộng ý nghĩa theo hướng khái quát. + Sự chuyển biến của nhịp điệu, âm hưởng theo dòng cảm xúc : Từ nhịp chậm với những âm cao và trong => trầm xuống khi lắng nghe mạch sống bất diệt của đất nước => dồn dập, cuộn sôi, tuôn chảy => hào sảng, bừng sáng. 3. Những nội dung chính cần phân tích - Cảm hứng của bài thơ : Như tựa đề, cảm hứng của bài thơ là cảm hứng về giang sơn, gấm vóc, cảm hứng về đất nước, Tổ quốc. Cảm hứng đó xuyên suốt bài thơ, là mạch ngầm kết nối từng mảng tưởng như rời rạc trong tác phẩm, tạo thành hình tượng thơ thống nhất. Do đó, khi phân tích phải luôn tập trung vào chủ đề này. - Khổ thơ đầu : Hoài niệm tươi sáng về mùa thu nay. Đây cũng là cảm hứng về một đất nước đổi mới, cảm hứng đầy chất tự hào của người làm chủ. Phát hiện mới mẻ của Nguyến Đình Thi ở đây là mối quan hệ về đất nước trong truyền thống – đất nước ở hiện tại - Phần còn lại của bài thơ : Tác giả tập trung thể hiện những cảm xúc và suy ngẫm của mình về đất nước từ đau thương trong chiến tranh đã trỗi dậy mạnh mẽ, ngời sáng. - Đánh giá chung : Đất nước là bài thơ hay của Nguyến Đình Thi và của nền thơ Việt Nam kháng chiến. Thành công lớn nhất của tác giả là đã thể hiện những tình cảm chân thực, xúc động của mình về đất nước Bài tham khảo Tiếng thơ hào sảng về đất nước Xưa nay, nhiều bài thơ hay lại được nhà thơ viết rất nhanh, có vẻ như “xuất thần”. Trái lại, có những bài thơ được nung nấu kỹ lưỡng khi hoàn thành chưa hẳn làm ưng ý tác giả, nhất là về cảm xúc, sự xộc xệch trong kết cấu… Đất nước của Nguyến Đình Thi có lẽ là trường hợp ngoại lệ. Nó được thai nghén từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1948,1949) và hoàn thành khi cuộc kháng chiến ấy đã kết thúc (năm 1955). Dĩ nhiên, đó phải là thành công của nhà thơ có tài. Nhưng điều quan trọng hơn chính là do tác phẩm ấy được tạo dựng nên từ những cảm xúc, suy nghĩ của Nguyến Đình Thi về một chủ đề lớn: Đất nước ! Khởi đầu bài thơ là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội :Sáng mát trong như sáng năm xưaGió thổi mùa thu hương cốm mớiĐó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội : không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới. Câu thơ gợi tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian và quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm.Hương cốm mới là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội. Dường như đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội. Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội : Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ.(Hà Nội băm sáu phố phường ) Sau này, hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn ( Nhớ mùa thu Hà Nội ) cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành : Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu / … Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua… Nguyến Đình Thi đã đưa vào thơ những gì đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội. Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội thấm thía xao xác khi ở xa trông về Nguyến Đình Thi kể, hồi nhỏ đi học trung học, ông thường lên vùng Hồ Tây ngồi ngắm bầu trời và những áng may bay. Cảm hứng về bầu trời thu, về những làn gió mát, về hương vị cốm xanh và những dòng sôn, ruộng đồng ở đoạn sau của nhà thơ “cũng chính là cảm hứng về đất nước” ( Nguyến Đình Thi – Bài thơ Đất nước ) Dòng thơ thứ ba : Tôi nhớ những ngày thu đã xa là một sự chuyển mạch. Thực ra, ở hai câu thơ đầu đã có hình ảnh mùa thu xưa rồi, nhưng đến đây có lẽ không kiềm được dòng hồi tưởng nên lời thơ như buột phát ra :Tôi còn nhớ những ngày thu đã xa Ở đây, còn có một lý do nữa : Trong bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa, vốn là vị trí của câu thơ có hình ảnh đẹp : Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em. Câu thơ mang dáng dấp suy nghĩ tình cảm và tình cảm của một trí thức Hà Nội. Thời ấy, có thể không hợp với suy nghĩ của nhiều người trong hoàn cảnh kháng chiến nên Nguyến Đình Thi đã thay đi. Song, dù sao thì sự chuyển mạch ấy cũng hợp lý, kết nối được hình ảnh toàn bài thơ. Bốn câu thơ kế tiếp miêu tả về mùa thu Hà Nội xưa : Sáng chớm lạnh trong lòng Hà NộiNhững phố dài xao xác hơi mayNgười ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng lá rơi đầy Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài ). Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng. Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động. Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyến Đình Thi vì thế mang vẻ đẹp của tâm trạng. Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được những phút giây kì diệu ấy của mùa thu. Ở đất nước, Nguyến Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có lẽ mùa thu ấy từ lâu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ. Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa. Thơ thu của Nguyến Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến :Người ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng là rơi đầy Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “ người ra đi” trong câu thơ trên. Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ thủ đô khi kháng chiến bùng nổ. Lại có ý kiến cho rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đo khi rút khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên. Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946. Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945. Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại ) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và lặng lẽ : Hình ảnh ấy gần với người ra đi của Thâm Tâm:Đưa người, ta chỉ đưa người ấyMột giã gia đình, một dửng dưng…-Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏChí lớn không về bàn tay không(Tống biệt hành )Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ : Người ra đi này cũng không phải tác giả hoặc một người cụ thể – người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nói mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ. Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bnj đọc,ngày 14.12.1983) Dù gì đi nữa thì khổ thơ trên vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ đất nước. Có những người nói đó là “những câu thơ thật mới mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng, Nhân Dân chủ nhật, ngày 11.8.1991) Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc :Mùa thu nay khác rồiTôi đứng vui nghe giữa núi đồiGió thổi rừng tre phất phớiTrời thu thay áo mớiTrong biếc nói cười thiết tha Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phất phới, áo mới ). Cảnh sắc thiên nhiên cũng có sự thay đổi. Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phất phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha. Tất cả sự thay đổi ấy hoà nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khoẻ mạnh và tươi sáng. Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới : âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn.Từ cảm xúc về mùa thu đất nước,Nguyến Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào :Trời xanh đây là của chúng taNúi rừng đây là của chúng taNhững cánh đồng thơm mátNhững ngả đường bát ngátNhững dòng sông đỏ nặng phù saNước chúng taNước những người chưa bao giờ khuấtĐêm đêm rì rầm trong tiếng đấtNhững buổi ngày xưa vọng nói về Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ của đất nước. Ngay cả sự liệt kê (một cách khái quát, bằng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ây. Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyến Đình Thi hết sức chú ý : Trời xanh đây là của chúng ta. Hình ảnh ấy vừa chân thực,lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người. Còn nhớ, trước năm 1945, Nguyến Đình Thi từng viết : Trời xanh ơi hỡi xanh không nói` Hồn tam muốn hiểu chẳng cùng cho Khi ấy, “trời xanh” là hình ảnh đẹp, nhưng ngoài tầm với và sự hiểu biết của con người. Trên cái nền không gian rộng mở, được miêu tả từ nhiều mặt, Nguyến Đình Thi chuyển sang chiều dài thời gian, nói lên đặc điểm, truyền thống và độ sâu lắng của đất nước và con người Việt Nam. Nước chúng taNước những người chưa bao giờ khuất Thực ra, quá khứ, truyển thống của dân tộc không chỉ có vậy. Nhưng có lẽ, trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến toàn dân lúc bấy giờ, Nguyến Đình Thi tập trung nói về truyền thống bốn nghìn năm kiên cường chống giặc ngoại xâm. Câu thơ có sự khái quát rất cao, nhưng lại gợi mở về những lớp người, những thế hệ đã anh dũng hy sinh, sẵn sàng hiến dân cho đất nước. Tất nhiên, cùng với nhiều truyền thống tốt đẹp khác, tinh thần bất khuất của dân tộc hợp thành tiếng nói bền bỉ, liên tục, tiếp sức cho hiện tại : Đêm đêm rì rầm trong tiếng đấtNhững buổi ngày xưa vọng nói về Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau. Nguyến Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại. Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về mối quan hệ ấy. Từ Huy Cận : Cha ông yêu mến thời xưa cũTrần trụi đau thương bỗng hoá gầnNhững bước mất đi trong thớ gỗVề đây, tười vạn dặm đường xuân(Các vị La Hán chùa Tây Phương) đến Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?), Lê Anh Xuân, Thu Bồn… rồi Nguyễn Khoa Điềm ở những năm tháng đánh Mỹ : Mai này con ta lớn lênCon sẽ mang đất nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngEm ơi em, đất nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hoá thân cho dáng hình xứ sởLàm nên đất nước muôn đời…(Mặt đường khát vọng) Phần hai bài thơ tập trung vào một ý lớn : đất nước từ trong đau thương căm hờn đứng lên ngời sáng Mở đầu là một hình ảnh về đất nước trong chiến tranh : Ôi những cánh đồng quê chảy máuDây thép gai đâm nát trời chiều Câu thơ giàu giá trị tạo hình, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bằng hình ảnh đập mạnh vào cảm giác. Nhiều người nói, Nguyễn Đình Thi sử dụng thủ pháp ngược sáng (contre soleil) của điện ảnh, trong ánh chiều tà, dây thép gai ở đồn giặc vươn lên tua tủa như đâm vào bầu trời. Nguyễn Đình Thi có dịp thổ lộ, ngày ấy “trên những chặng đường công tác mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, nhìn về những chân trời xa thấy đồn bốt giặc với những lô cốt, những hàng dây thép gai giăng đầy làm cho chân trời bị xé nát, nham nhở – gây một tức tối căm giận”. Nên nhớ rằng, đây là một buổi chiều thu, vốn đẹp và nên thơ. Hình ảnh ấy biểu hiện cái nhìn tinh tế và tình cảm chân thật của người viết : chiến tranh tàn phá tất cả, chiến tranh đồng nghĩa với sự huỷ hoại, với cái ác. Không ít nhà thơ cùng thời với Nguyễn Đình Thi cũng đã có những cái nhìn tinh tế và đau xót ấy : Có làng trung đoàn ta đi quaMáu đông in dấu giày đinh giặcNền tro, gạch sém, ngách buồng aiChiếc tả đầu giường đang cháy dở(Quang Dũng- Những làng đi qua,1947)Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tớiNgõ chùa cháy đỏ những thân cauMới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹnĐâu ngờ từ đó bặt tin nhau(Vũ Cao – Núi đôi, 1956) Trên cái nền của hiện thực ấy là tâm trạng của người chiến sĩ : Những đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu được đặt ở cùng khổ thơ, tạo thành kết cấu : ngoài/trong. Hai câu đầu là ngoại cảnh, hai câu sau là tâm trạng. Giữa dòng thơ còn có sự đối xứng khác:những / bỗngnung nấu/bồn chồnCách đối xứng đó làm bật lên phẩm chất ở người chiến sữ : tình cảm thường xuyên là căm thù giặc, ý chí giải phóng đất nước và tình cảm có vẻ đột xuất là nỗi nhớ thương người yêu dâu. Sự xử lý mang tính lịch sử của thời kỳ ấy : tình cảm chung nổi trội hơn tình cảm riêng, nhưng không vì thế mà không có tình cảm riêng. 5 khổ thơ tiếp tập trung thể hiện suy ngẫm của tác giả về đất nước từ trong đau thương, căm hờn đã đứng lên chiến đấu bất khuất, sẵn sàng hi sinh như những anh hùng của thời đại mới. Tứ thơ phát triển theo hướng suy tưởng nên hình tượng thiên về khái quát, tượng trưng, với những biểu tượng quen thuộc, bát cơm, nước mắt, xiềng xích, chim, hoa… Nhiều câu thơ nặng diễn dịch ý, mang tính chính luận. Ý thơ dựa vào các mảng cảm xúc, tâm trạng, mảng nọ đặt cạnh mảng kia để bộc lộ chủ đề, Nguyến Đình Thi không dùng các câu nối, trái lại là những hình ảnh rời làm thành khối. Chúng liên kết được với nhau là nhờ mạch cảm xúc, suy nghĩ của tác giả. Điều đáng nói ở những khổ thơ cuối của bài Đất nước là những hình ảnh, những ý mới :Ôm đất nước những người áo vảiĐã đứng lên thành những anh hùng…Trán cháy rực nghĩ trời đất mớiLòng ta bát ngát ánh bình minh Về nghệ thuật, đó là cách sử dụng nhiều động từ và trạng từ chỉ các hành động và trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, kèm theo là các trạng ngữ và việc mở rộng thành phần vị ngữ của các câu thơ làm cho trọng tâm câu thơ dồn vào phần vị ngữ :Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu…Đã ngời lên nét mặt quê hương…Đã bật lên những tiếng căm hờn…Bát cơm chan đầy nước mắtBay còn giằng khỏi miệng ta…Đứa đề cổ đứa lột da… Các câu thơ với hình ảnh tương phản ( xiềng xích / trời, súng đạn / lòng dân) khi trùng điệp, tiếp nối (khói nhà máy, kèn gọi quân, ngày nắng đốt, đêm mưa dội…) diễn tả những ý tưởng về đất nước được nhà thơ suy ngẫm trong thời gian dài. Bây giờ, những ý tưởng ấy đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi người, nhưng ở thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới hình thành, nhất là trong cuộc kháng chiến khốc liệt, đó lại là sự trải nghiệm phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng máu xương của hàng vạn, hàng triệu con người. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh tượng trưng cho sự đứng dậy hào hùng, chói lọi trong khói lửa chiến đấu, từ đau thương căm hờn của đất nước . Bốn câu thơ thể sáu chữ với cách ngắt nhịp đều đặn, dồn dập tạp âm hưởng dõng dạoc, hùng tráng. Hình ảnh này hình thành từ cảnh thực tác giả đã chứng kiến tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954. Nhà thơ giải thích những câu thơ “đã tiếp nhận được những âm vang mạnh mẽ của chiến trường khi hàng dàn đại bác cùng thi nhau bắn vào đầu giặc…Bài thơ đã kết thúc với âm hưởng chiến thắng của chiến trường Điện Biên Phủ”. Đất nước là bài thơ thành công hơn cả của Nguyễn Đình Thi khi ông viết về những chủ đề lớn hơn. Đó cũng là bài thơ hay của nền thơ Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm kết hợp được nhiều yếu tố : hình ảnh chân thực và chất suy tưởng, khái quát, cảm xúc, suy ngẫm của cá nhân với tình cảm, tư tưởng của cả dân tộc về đất nước . Có lẽ vì thế, trải qua nhiều năm tháng, Đất nước vẫn là tiếng thơ hào sảng trong tâm hồn người Việt Nam loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Phân tích "Đất Nước" của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng về đất nước của nhà thơ

PHÂN TÍCH "ĐẤT NƯỚC" CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI ĐỂ THẤY RÕ NHỮNG CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC CỦA NHÀ THƠ

Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa đất trời Gió thổi rừng tre phất phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Rừng xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn như nhớ mắt người yêu Từ những năm đau thương chiến đấu Đã ngời lên nét mặt quê hương Từ gốc mía bờ tre hồn hậu Đã bật lên những tiếng căm hờn Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta Thằng giặc tây thằng chúa đất Đứa đè cổ đứa lột da Xiềng xích chúng bay không khoá được Trời đầy chìm và đất đầy hoa Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước thương nhà Khói nhà máy cuộn trong sương núi Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh Súng nổ tung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam như máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà. Bài giải chi tiết | Viết cách giải khác của bạn Phân tích đề : - Nội dung : cảm hứng về đất nước của Nguyến Đình Thi trong bài thơ Đất nước. - Thể loại : Phân tích một tác phẩm trọn vẹn theo một chủ đề đã được định hướng. Tác phẩm ở đây là thơ trữ tình, vì thế khi phân tích cần hiểu rõ đặc trưng thể loại, chú trọng làm nổi bật cảm xúc, tình cảm, tư tưởng của tác giả. - Phạm vi : Tuy chỉ yêu cầu phân tích bài thơ của Nguyến Đình Thi, nhưng cần so sánh liên hệ với các bài thơ khác, nhất là những bài thơ cùng viết về đề tài đất nước trước và sau nó ( ví dụ : Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…) để thấy vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Gợi ý phân tích : 1. Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác của bài thơ để phân tích - Đất nước là bài thơ ngắn (49 dòng ) nhưng lại được sáng tác trong thời gian dài (1948- 1955) - Tiền thân là bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa (đăng báo Văn nghệ số 6, tháng 10 và 11/1948) và bài Đêm mít ting (Văn nghệ Xuân 1949). Cả hai bài thơ đều được viết tại Việt Bắc, trong tâm trạng nhớ về Hà Nội của tác giả. - Phần đầu từ Sáng mát trong… Trong biếc nói cười thiết tha được lấy từ bài thơ thứ nhất. Kế đến nối vào đoạn cuối bài thơ thứ hai và cả ý của bài đầu cho đến : Những buổi ngày xưa vọng nói về. Đoạn từ Ôi cánh đồng quê… cho đến hết bài được Nguyến Đình Thi viết vào năm 1955 Như vậy, bài thơ hình thành từ ba mảnh khác nhau, trong thời gian dài, nhưng vẫn là tác phẩm hoàn chình, liền mạch, nhất quán nhờ kết nối bởi mạnh cảm xúc về đất nước. 2. Lưu ý về kết cấu Đất nước là bài thơ có kết cấu độc đáo - Nhà thơ đưa người đọc vào thế giới cảm xúc của mình theo lối hứng của ca dao, dân ca. Khởi đầu là cảm xúc về một sáng mùa thu, mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Rồi từ mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu của đất nước, mùa thu của cách mạng với niềm xúc động đầy tự hào được làm chủ đất nước. Và, từ đó lại nghĩ về đất nước trong chiến tranh, giải phóng, về những con người từ trong đau thương căm hờn đứng lên chiến đấu - những anh hùng quần chúng. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh mang tính biểu tượng về sự vươn mình vĩ đại của đất nước và con người Việt Nam trong thời đại mới. - Sự vận động của tư tưởng - cảm xúc của bài thơ phát triển theo hướng cảm nhận và suy ngẫm của tác giả về đất nước. Bởi vậy : + Phần sau của bài thơ có nhiều hình ảnh khái quát, hình ảnh mang tính biểu tượng hoặc hình ảnh hiện thực nhưng đã được mở rộng ý nghĩa theo hướng khái quát. + Sự chuyển biến của nhịp điệu, âm hưởng theo dòng cảm xúc : Từ nhịp chậm với những âm cao và trong => trầm xuống khi lắng nghe mạch sống bất diệt của đất nước => dồn dập, cuộn sôi, tuôn chảy => hào sảng, bừng sáng. 3. Những nội dung chính cần phân tích - Cảm hứng của bài thơ : Như tựa đề, cảm hứng của bài thơ là cảm hứng về giang sơn, gấm vóc, cảm hứng về đất nước, Tổ quốc. Cảm hứng đó xuyên suốt bài thơ, là mạch ngầm kết nối từng mảng tưởng như rời rạc trong tác phẩm, tạo thành hình tượng thơ thống nhất. Do đó, khi phân tích phải luôn tập trung vào chủ đề này. - Khổ thơ đầu : Hoài niệm tươi sáng về mùa thu nay. Đây cũng là cảm hứng về một đất nước đổi mới, cảm hứng đầy chất tự hào của người làm chủ. Phát hiện mới mẻ của Nguyến Đình Thi ở đây là mối quan hệ về đất nước trong truyền thống – đất nước ở hiện tại - Phần còn lại của bài thơ : Tác giả tập trung thể hiện những cảm xúc và suy ngẫm của mình về đất nước từ đau thương trong chiến tranh đã trỗi dậy mạnh mẽ, ngời sáng. - Đánh giá chung : Đất nước là bài thơ hay của Nguyến Đình Thi và của nền thơ Việt Nam kháng chiến. Thành công lớn nhất của tác giả là đã thể hiện những tình cảm chân thực, xúc động của mình về đất nước Bài tham khảo Tiếng thơ hào sảng về đất nước Xưa nay, nhiều bài thơ hay lại được nhà thơ viết rất nhanh, có vẻ như “xuất thần”. Trái lại, có những bài thơ được nung nấu kỹ lưỡng khi hoàn thành chưa hẳn làm ưng ý tác giả, nhất là về cảm xúc, sự xộc xệch trong kết cấu… Đất nước của Nguyến Đình Thi có lẽ là trường hợp ngoại lệ. Nó được thai nghén từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1948,1949) và hoàn thành khi cuộc kháng chiến ấy đã kết thúc (năm 1955). Dĩ nhiên, đó phải là thành công của nhà thơ có tài. Nhưng điều quan trọng hơn chính là do tác phẩm ấy được tạo dựng nên từ những cảm xúc, suy nghĩ của Nguyến Đình Thi về một chủ đề lớn: Đất nước ! Khởi đầu bài thơ là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội : Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Đó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội : không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới. Câu thơ gợi tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian và quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm. Hương cốm mới là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội. Dường như đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội. Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội : Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ. (Hà Nội băm sáu phố phường ) Sau này, hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn ( Nhớ mùa thu Hà Nội ) cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành : Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu / … Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua… Nguyến Đình Thi đã đưa vào thơ những gì đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội. Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội thấm thía xao xác khi ở xa trông về Nguyến Đình Thi kể, hồi nhỏ đi học trung học, ông thường lên vùng Hồ Tây ngồi ngắm bầu trời và những áng may bay. Cảm hứng về bầu trời thu, về những làn gió mát, về hương vị cốm xanh và những dòng sôn, ruộng đồng ở đoạn sau của nhà thơ “cũng chính là cảm hứng về đất nước” ( Nguyến Đình Thi – Bài thơ Đất nước ) Dòng thơ thứ ba : Tôi nhớ những ngày thu đã xa là một sự chuyển mạch. Thực ra, ở hai câu thơ đầu đã có hình ảnh mùa thu xưa rồi, nhưng đến đây có lẽ không kiềm được dòng hồi tưởng nên lời thơ như buột phát ra : Tôi còn nhớ những ngày thu đã xa Ở đây, còn có một lý do nữa : Trong bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa, vốn là vị trí của câu thơ có hình ảnh đẹp : Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em. Câu thơ mang dáng dấp suy nghĩ tình cảm và tình cảm của một trí thức Hà Nội. Thời ấy, có thể không hợp với suy nghĩ của nhiều người trong hoàn cảnh kháng chiến nên Nguyến Đình Thi đã thay đi. Song, dù sao thì sự chuyển mạch ấy cũng hợp lý, kết nối được hình ảnh toàn bài thơ. Bốn câu thơ kế tiếp miêu tả về mùa thu Hà Nội xưa : Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài ). Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng. Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động. Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyến Đình Thi vì thế mang vẻ đẹp của tâm trạng. Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được những phút giây kì diệu ấy của mùa thu. Ở đất nước, Nguyến Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có lẽ mùa thu ấy từ lâu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ. Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa. Thơ thu của Nguyến Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến : Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng là rơi đầy Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “ người ra đi” trong câu thơ trên. Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ thủ đô khi kháng chiến bùng nổ. Lại có ý kiến cho rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đo khi rút khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên. Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946. Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945. Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại ) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và lặng lẽ : Hình ảnh ấy gần với người ra đi của Thâm Tâm: Đưa người, ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình, một dửng dưng… -Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏ Chí lớn không về bàn tay không (Tống biệt hành ) Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ : Người ra đi này cũng không phải tác giả hoặc một người cụ thể - người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nói mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ. Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bnj đọc,ngày 14.12.1983) Dù gì đi nữa thì khổ thơ trên vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ đất nước. Có những người nói đó là “những câu thơ thật mới mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng, Nhân Dân chủ nhật, ngày 11.8.1991) Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc : Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phất phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phất phới, áo mới ). Cảnh sắc thiên nhiên cũng có sự thay đổi. Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phất phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha. Tất cả sự thay đổi ấy hoà nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khoẻ mạnh và tươi sáng. Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới : âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn. Từ cảm xúc về mùa thu đất nước,Nguyến Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào : Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ của đất nước. Ngay cả sự liệt kê (một cách khái quát, bằng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ây. Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyến Đình Thi hết sức chú ý : Trời xanh đây là của chúng ta. Hình ảnh ấy vừa chân thực,lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người. Còn nhớ, trước năm 1945, Nguyến Đình Thi từng viết : Trời xanh ơi hỡi xanh không nói ` Hồn tam muốn hiểu chẳng cùng cho Khi ấy, “trời xanh” là hình ảnh đẹp, nhưng ngoài tầm với và sự hiểu biết của con người. Trên cái nền không gian rộng mở, được miêu tả từ nhiều mặt, Nguyến Đình Thi chuyển sang chiều dài thời gian, nói lên đặc điểm, truyền thống và độ sâu lắng của đất nước và con người Việt Nam. Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Thực ra, quá khứ, truyển thống của dân tộc không chỉ có vậy. Nhưng có lẽ, trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến toàn dân lúc bấy giờ, Nguyến Đình Thi tập trung nói về truyền thống bốn nghìn năm kiên cường chống giặc ngoại xâm. Câu thơ có sự khái quát rất cao, nhưng lại gợi mở về những lớp người, những thế hệ đã anh dũng hy sinh, sẵn sàng hiến dân cho đất nước. Tất nhiên, cùng với nhiều truyền thống tốt đẹp khác, tinh thần bất khuất của dân tộc hợp thành tiếng nói bền bỉ, liên tục, tiếp sức cho hiện tại : Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau. Nguyến Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại. Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về mối quan hệ ấy. Từ Huy Cận : Cha ông yêu mến thời xưa cũ Trần trụi đau thương bỗng hoá gần Những bước mất đi trong thớ gỗ Về đây, tười vạn dặm đường xuân (Các vị La Hán chùa Tây Phương) đến Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?), Lê Anh Xuân, Thu Bồn… rồi Nguyễn Khoa Điềm ở những năm tháng đánh Mỹ : Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em, đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời... (Mặt đường khát vọng) Phần hai bài thơ tập trung vào một ý lớn : đất nước từ trong đau thương căm hờn đứng lên ngời sáng Mở đầu là một hình ảnh về đất nước trong chiến tranh : Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Câu thơ giàu giá trị tạo hình, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bằng hình ảnh đập mạnh vào cảm giác. Nhiều người nói, Nguyễn Đình Thi sử dụng thủ pháp ngược sáng (contre soleil) của điện ảnh, trong ánh chiều tà, dây thép gai ở đồn giặc vươn lên tua tủa như đâm vào bầu trời. Nguyễn Đình Thi có dịp thổ lộ, ngày ấy “trên những chặng đường công tác mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, nhìn về những chân trời xa thấy đồn bốt giặc với những lô cốt, những hàng dây thép gai giăng đầy làm cho chân trời bị xé nát, nham nhở - gây một tức tối căm giận”. Nên nhớ rằng, đây là một buổi chiều thu, vốn đẹp và nên thơ. Hình ảnh ấy biểu hiện cái nhìn tinh tế và tình cảm chân thật của người viết : chiến tranh tàn phá tất cả, chiến tranh đồng nghĩa với sự huỷ hoại, với cái ác. Không ít nhà thơ cùng thời với Nguyễn Đình Thi cũng đã có những cái nhìn tinh tế và đau xót ấy : Có làng trung đoàn ta đi qua Máu đông in dấu giày đinh giặc Nền tro, gạch sém, ngách buồng ai Chiếc tả đầu giường đang cháy dở (Quang Dũng- Những làng đi qua,1947) Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau (Vũ Cao – Núi đôi, 1956) Trên cái nền của hiện thực ấy là tâm trạng của người chiến sĩ : Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu được đặt ở cùng khổ thơ, tạo thành kết cấu : ngoài/trong. Hai câu đầu là ngoại cảnh, hai câu sau là tâm trạng. Giữa dòng thơ còn có sự đối xứng khác: những / bỗng nung nấu/bồn chồn Cách đối xứng đó làm bật lên phẩm chất ở người chiến sữ : tình cảm thường xuyên là căm thù giặc, ý chí giải phóng đất nước và tình cảm có vẻ đột xuất là nỗi nhớ thương người yêu dâu. Sự xử lý mang tính lịch sử của thời kỳ ấy : tình cảm chung nổi trội hơn tình cảm riêng, nhưng không vì thế mà không có tình cảm riêng. 5 khổ thơ tiếp tập trung thể hiện suy ngẫm của tác giả về đất nước từ trong đau thương, căm hờn đã đứng lên chiến đấu bất khuất, sẵn sàng hi sinh như những anh hùng của thời đại mới. Tứ thơ phát triển theo hướng suy tưởng nên hình tượng thiên về khái quát, tượng trưng, với những biểu tượng quen thuộc, bát cơm, nước mắt, xiềng xích, chim, hoa… Nhiều câu thơ nặng diễn dịch ý, mang tính chính luận. Ý thơ dựa vào các mảng cảm xúc, tâm trạng, mảng nọ đặt cạnh mảng kia để bộc lộ chủ đề, Nguyến Đình Thi không dùng các câu nối, trái lại là những hình ảnh rời làm thành khối. Chúng liên kết được với nhau là nhờ mạch cảm xúc, suy nghĩ của tác giả. Điều đáng nói ở những khổ thơ cuối của bài Đất nước là những hình ảnh, những ý mới : Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng … Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh Về nghệ thuật, đó là cách sử dụng nhiều động từ và trạng từ chỉ các hành động và trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, kèm theo là các trạng ngữ và việc mở rộng thành phần vị ngữ của các câu thơ làm cho trọng tâm câu thơ dồn vào phần vị ngữ : Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu … Đã ngời lên nét mặt quê hương … Đã bật lên những tiếng căm hờn … Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta … Đứa đề cổ đứa lột da… Các câu thơ với hình ảnh tương phản ( xiềng xích / trời, súng đạn / lòng dân) khi trùng điệp, tiếp nối (khói nhà máy, kèn gọi quân, ngày nắng đốt, đêm mưa dội…) diễn tả những ý tưởng về đất nước được nhà thơ suy ngẫm trong thời gian dài. Bây giờ, những ý tưởng ấy đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi người, nhưng ở thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới hình thành, nhất là trong cuộc kháng chiến khốc liệt, đó lại là sự trải nghiệm phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng máu xương của hàng vạn, hàng triệu con người. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh tượng trưng cho sự đứng dậy hào hùng, chói lọi trong khói lửa chiến đấu, từ đau thương căm hờn của đất nước . Bốn câu thơ thể sáu chữ với cách ngắt nhịp đều đặn, dồn dập tạp âm hưởng dõng dạoc, hùng tráng. Hình ảnh này hình thành từ cảnh thực tác giả đã chứng kiến tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954. Nhà thơ giải thích những câu thơ “đã tiếp nhận được những âm vang mạnh mẽ của chiến trường khi hàng dàn đại bác cùng thi nhau bắn vào đầu giặc...Bài thơ đã kết thúc với âm hưởng chiến thắng của chiến trường Điện Biên Phủ”. Đất nước là bài thơ thành công hơn cả của Nguyễn Đình Thi khi ông viết về những chủ đề lớn hơn. Đó cũng là bài thơ hay của nền thơ Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm kết hợp được nhiều yếu tố : hình ảnh chân thực và chất suy tưởng, khái quát, cảm xúc, suy ngẫm của cá nhân với tình cảm, tư tưởng của cả dân tộc về đất nước . Có lẽ vì thế, trải qua nhiều năm tháng, Đất nước vẫn là tiếng thơ hào sảng trong tâm hồn người Việt Nam
Xem thêm

8 Đọc thêm

Giáo án Đạo đức lớp 5 kì 2

GIÁO ÁN ĐẠO ĐỨC LỚP 5 KÌ 2

KẾ HOẠCH DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5 Bài 9: Em yêu quê hương I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: Sau bài học , HS biết: Mọi người cần phải yêu quê hương Thể hiện tình yêu quê hương bằng những hành vi, việc làm phù hợp với khả năng của mình. 2. Kĩ năng: B¬ước đầu giỳp HS cú kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng đặt mục tiêu. 3. Thái độ: Yêu quý, tôn trọng những truyền thống tốt đẹp của quê hương. Đồng tình với những việc làm góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ quê hương. II. NHỮNG CHỨNG CỨ HỌC SINH CẦN ĐẠT TRONG CÁC NHẬN XÉT Ở MÔN ĐẠO ĐỨC: Nêu được một số việc làm thể hiện tình yêu quê hương ( Nhận xét 7: HS biết yêu quê hương, yêu đất nước Việt Nam). III. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC: 1. Giáo viên: Giấy, bút màu Tranh ảnh về quê hương ( địa phương nơi HS đang sống). 2. Học sinh: Giấy trắng, bút màu. Thẻ màu Sưu tầm các tranh ảnh, các bài thơ, bài hát nói về tình yêu quê hương, đất nước... IV. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY: Tiết 1 A. Ổn định tổ chức B. Các hoạt động dạy học: I.Kiểm tra bài cũ Giáo viên tiến hành kiểm tra bài cũ: Kể tên những công việc trong lớp em cần sự hợp tác? Vậy trong công việc chúng ta cần làm việc thế nào? Làm việc hợp tác có tác dụng gì? GV nhận xét, khen ngợi. II.Bài mới 1. Giới thiệu bài ( 3’ ) GV: Giới thiệu bài HS: Ghi đầu bài 2. Các hoạt động Hoạt động 1: Tìm hiểu truyện ( 7’ ) “ Truyện Cây đa làng em”
Xem thêm

34 Đọc thêm

Phân tích tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Phân tích tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành tựu quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Pháp.Bài thơ được Tố Hữu sáng tác vào tháng 20 năm 1954 nhân một sự kiện lịch sử.Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu về thủ đô Hà Nội.Từ điểm xuất phát ấy bài thơ thể hiện tình gắn bó thắm thiết giữa người ra đi và người ở lại,giữa miền xuôi và miền ngược,giữa người cán bộ với Việt Bắc quê hương của cách mạng,với đất nước và nhân dân,với Đảng và Bác Hồ,với cuộc kháng chiến đã thành kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn. Có thể nói,bài thơ Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nước,là truyền thống ân nghĩa,đạo lý thuỷ chung của dân tộc.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ BẾP LỬA

PHÂN TÍCH BÀI THƠ BẾP LỬA

Bố cục bài thơ chia làm 4 phần. Phần 1 là hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc về bà. Phần 2 gồm những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Phần 3 đã diễn tả thật cảm động dòng suy ngẫm về bà của đứa cháu xa nhà. Nỗi nhớ bà của người cháu được thể hiện rõ ràng trong phần 4. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Soạn bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi

SOẠN BÀI ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

-------------- bài khác I.GIỚI THIỆU : 1.Tác giả : - Nguyễn Đình Thi (Sinh năm 1924 tại Luông Phabăng-Lào ) - Quê quán : Hà Nội - Tham tham gia Hội Văn hoá cứu quốc khá sớm .Nguyễn đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên Cứu Quốc, 1943 tham gia Văn Hóa Cứu Quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại Hội Tân Trào, vào Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc Hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường Trực Quốc Hội, khóa I. - Từng giữ chức Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam .. - Là một nghệ sỹ đa tài . Không những là nhà thơ, nhà văn, ông còn là một nhà biên soạn kịch, là nhạc sỹ với nhiều ca khúc nổi tiến . Nhận giải thưởng HCM đợt đầu (1991 ) 2. Hoàn cảnh sáng tác : Tác phẩm viết trong khoảng thời gian từ 1948 -> 1955 . Bài thơ là sự tổng hợp của những sáng tác Sáng mát trong như sáng năm xưa (48 ), Đêm mít tinh (49 ) và Đất nước (55) . Đây là thời gian ông trải nghiệm , trưởng thành cùng Đất Nước trong kháng chiến chống Pháp lần 2 … II. BỐ CỤC :Bài chia làm hai phần : Đoạn 1 ( 5 khổ thơ đầu ) : Cảm nhận của tác giả về Quê hương Đất Nước Đoạn 2 ( Phần còn lại ) : Cảm nhận của tác giả về đất nước đau thương , anh dũng, quật cường . Tuy gồm nhiều khổ thơ nhưng toàn bài thơ thống nhất với nhau, chung một cảm hứng chủ đạo về Đất Nước ( Tên bài ) III. PHÂN TÍCH : 1. Đoạn 1: Cảm hứng cùa tác giả về mùa thu quê hương đất nước . a) 3 khổ đầu : Cảm xúc về mùa thu đất nước * Khổ 1: - Nhịp thơ nhẹ nhàng, êm dịu - Hình ảnh thơ chọn lọc, gợi cảm : “Sáng mát trong” “gió thổi ……….hương cốm mới” -> Cảm xúc dạt dào trước mùa thu đẹp của ĐN -> Mùa thu gợi nhớ HN đã xa * Khổ 2 : Hoài niệm về mùa thu HN : - Cảnh “Sáng chớm lanh ” (đầu thu) “những phố dài xao xàc hơi may” “thềm nắng lá rơi đầy" => Diễn tả trạng thái giao mùa dưới cái nhìn của nhà thơ (không gian, thời gian , cảnh vật, con người : mùa thu đẹp nhưng buồn (Vì đất nước có chiến tranh - Hình ảnh người ra đi : “đầu không ngoảnh lại” “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" => Người ra đi có vẻ cương quyết nhưng lòng còn quyến luyến. Đây là tâm trạng chung của TN bấy giờ : lý trí và tình cảm chưa hòa quyện với nhau => Mùa thu rong hoài niệm của nhà thơ : có cái gì buồn trong thời khắc chuyển mùa và thời khắc chia xa. * Khổ 3 : Cảm xúc về mùa thu kháng chiến - Cảnh thu VB : “núi đồi” , “rừng tre phấp phới” “áo mới ” -> cảnh thu mới mẻ, tươi đẹp, không gian rộng rãi tươi sáng - Tâm trạng : “vui, nghe”…”nói cươì thiết tha” -> phấn khởi , tin yêu -> Tâm trạng của nhà thơ hòa nhập vào niềm vui của cuộc đời và đất nước đổi thay * Khổ 4 : - Điệp từ : “đây” “những ” + liệt kê hình ảnh -> Gợi lên một đất nước giàu đẹp, mênh mông, rộng lớn. - Điệp ngữ :”của chúng ta” + âm hưởng rắn rõi, hào hùng -> khẳng định ý thức làm chủ đất nước và và niềm tự hào chính đáng của dân tộc. => Đoạn thơ mang cảm hứng sử thi tác giả nhân danh dân tộc, cộng đồng khẳng định quyền độc lập tự chủ của ĐN * Khổ 5 : - Nhịp thơ chậm, giọng thơ trầm lắng, suy tưởng. - “Nước những người chưa bao giờ khuất” -> truyền thống buất khuất của dân tộc. - “Đêm rì rầm …… ……..ngày xưa vọng nói về ” -> Không khí thiêng liêng, trang trọng -> Tiếng nói của lịch sử, của cha ông nhắc nhở con cháu mai sau. -> Mang cảm xúc của tác giả trở về quá khứ xa xăm đầy tự hào, có sự gặp gở giữa truyền thống và hiện tại. Sơ kết : Đoạn thơ thể hiện cảm xúc của tác giả về mùa thu ĐN và niềm tự hào về TQVN giàu đẹp, có truyền thống anh hùng buất khuất. 2. Đoạn 2 : Phần còn lại : ĐN trong kháng chiến a) Đất nước đau thương : “Những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều ” -> Ngôn ngữ tạo hình từ một ấn tượng có thật tác giả nâng thành biểu tượng ĐN đau thương, quằn quại trong chiến tranh - “Những đêm dài hành quân ….. Bỗng …….nhớ mắt người yêu ” -> Tình yêu đôi lứa và tình yêu ĐN, cái riêng và cái chung hòa nhập vào nhau trong tâm hồn người chiến sĩ . - “Bát cơm chan đầy nước mắt Đứa đè cổ đứa lột da ” -> Bạo lực hung tàn của kẻ thù. b) Đất nước anh hùng trong kháng chiến : * 3 khổ : “Từ……. Thương nhà ” - Đau thương trong chiến đấu > < ngời lên nét mặt quê hương - Gốc lúa bờ tre h.h > < bật lên ….căm hờn -> Hình ảnh có tính biểu tượng của một ĐN quật khởi khái quátsự chuyển biếntrong nhận thức của ND - Xiềng xích > < trời đầy chim - súng đạn > < lòng dân yêu nước thương nhà -> Bạo lực kẻ thù không thể hủy diệt được tình yêu cuộc sống hòa bình, lòng yêu nước thương nòi của ND * 2 khổ thơ : “Khói …..bình minh ” - Nhịp thơ càng lúc càng dồn dập sôi nổi - “Khói nhà máy cuộn lên …….” - “Kèn gọi quân văng vẳng……” -> Khí thế lớn mạnh của cuộc kháng chiến - Hình ảnh người chiến sĩ : “Ôm đất nước …..người áo vải….. thành những anh hùng ” -> người dân bình thường mà vĩ đại -> con người mới trong kháng chiến - “Ngày …… đêm ………… hy sinh ” > < ….. nghĩ trời đất mới – lòng bát ngát bình minh -> Sự chịu đựng gian khổ, hy sinh nhưng đầy lạc quan tin tưởng . -> Tác giả khắc họa hình ảnh con người VN kiên cường, dũng cảm trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. * Khổ cuối : Hình ảnh Đất Nước Việt Nam - Câu thơ 6 chữ – âm điệu dồn dập sôi nổi hoành tráng -> khí thế từ chiến thắng ĐBP - Hình ảnh : “Nước VN từ máu lửa ” - “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” => Hình ảnh tả thực và biểu tượng ĐNVN đứng lên từ những đau thương. Bức tranh hoành tráng mang tính sử thi. SK : Đây là đoạn thơ có tính chính luận thể hiện những cảm xúc của tác giả về ĐNVN đau thương nhưng buất khuất, anh hùng và chiến thắng vẻ vang trong kháng chiến chống Pháp. III. CHỦ ĐỀ : Bài thơ thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào sâu sắc về truyền thống anh hùng buất khuất của ĐN. IV. TỔNG KẾT : - Nội dung : Bài thơ thể hiên những cảm xúc sâu lắng tinh tế của tác giả vế ĐN trong kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng anh dũng, kiên cường và chiến thắng vẻ vang. - Nghệ thuật : Bài thơ thể hiện phong cách thơ của NĐT : + Hình ảnh, ngôn từ có sức khái quát cao + Có sự kết hợp giữa cảm xúc và suy tưởng + Nhà thơ chú ý điển tả sâu sắc, tinh tế tiếng nói nội tâm của nhân vật trữ tình.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Từ các bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên, Tràng giang, Chiều xuân…hãy viết bài văn trình bày quan niệm của anh (chị) về lòng yêu quê hương

TỪ CÁC BÀI THƠ ĐÂY THÔN VĨ DẠ, ĐÂY MÙA THU TỚI, THƠ DUYÊN, TRÀNG GIANG, CHIỀU XUÂN…HÃY VIẾT BÀI VĂN TRÌNH BÀY QUAN NIỆM CỦA ANH (CHỊ) VỀ LÒNG YÊU QUÊ HƯƠNG

Bài viết: Bài 1: Đã có thời trong xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản về lòng yêu quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Vì vậy những bài thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới được xem là tiếng nói tình cảm cá nhân ủy mị, tiêu cực. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả tác phẩm lãng mạn được đưa vào trong chương trình phổ thông. Tiếp xúc với các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, chúng ta chợt nhận ra lòng yêu quê hương có nội dung phong phú đa dạng hơn nhiều. Những bài thơ gắn với tiếng nói cá nhân vẫn ẩn bên trong một tình cảm yêu nước kín đáo, bộc lộ qua tình yêu với con người, cảnh vật, quê hương. Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong các bài thơ đem lại những cảm nhận rất riêng nhưng lại rung cảm bao thế hệ độc giả. Một địa danh thôn Vỹ đi vào nỗi nhớ, gắn kết ân tình với xứ Huế trong Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, làm ta yêu hơn cái trong trẻo nắng hàng cau, cái huyền ảo của bến sông Trăng, cái bâng khuâng sương khói mờ nhân ảnh của mảnh đất cố đô. Không gian của buổi chiều thu cho đôi lứa tìm đến nhau trong Thơ Duyên cũng khiến ta cảm nhận sắc thái thiên nhiên hoà hợp quấn quít trên cây cỏ, chim muông, trên con đường nhỏ nhỏ, sắc nắng trở chiều, màu mây biếc và bâng khuâng với “con cò trên ruộng cánh phân vân”. Ta ngỡ ngàng khi phát hiện những vui buồn của con người gửi cả vào trong sắc thái mùa thu ở Đây mùa thu tới, một rặng liễu, một sắc “áo mơ phai dệt lá vàng”, “nàng trăng tự ngẩn ngơ”, những hình ảnh mùa thu rất quen và rất lạ được nói lên qua hồn thơ say đắm của Xuân Diệu. Quê hương còn hiện lên qua nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ, của chàng thi sĩ Huy Cận đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy “thiếu quê hương”, chuyển tải bao tâm sự nỗi niềm của người dân mất nước, khi đối diện Tràng giang: nỗi “sầu trăm ngả” lan toả trên sóng nước, con thuyền, cành củi, cánh bèo, “sông dài trời rộng bến cô liêu” kết lại thành nỗi niềm “lòng quê dợn dợn vời con nước – không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi dậy tình yêu giang sơn Tổ quốc. Quê hương còn đẹp giản dị trong Chiều xuân của Anh Thơ, làng quê Việt Nam đẹp một cách nao lòng trong cỏ xanh, mưa xuân, đàn bò đủng đỉnh, cô yếm thắm…qua những rung cảm trong trẻo của tâm hồn thiếu nữ. Tất cả những bài thơ ấy viết về con người, cảnh vật, làng quê…đều gặp nhau ở một điểm: tình cảm yêu nước kín đáo. Từ những bài thơ ấy, ta chợt hiểu ra yêu quê hương trước hết phải là yêu thương gắn bó với mảnh đất – con người quê hương, biết rung động trước những vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, vui buồn với vận mệnh dân tộc. Tình yêu quê hương bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, tình yêu sự gắn bó với gia đình, làng quê, đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp phần làm thanh lọc tâm hồn con người. Đó cũng là tình cảm gắn kết cá nhân với cộng đồng, tạo nên sự đồng cảm, sự lắng đọng sâu sắc và thường trực trong trái tim con người. Chính sự gắn kết ấy làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, thành ý chí bất khuất, sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ đất nước, đánh đuổi ngoại xâm, ý thức xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Nếu chỉ hiểu đơn giản yêu quê hương là tình cảm công dân, với ý thức trách nhiệm đặt lên hàng đầu mà không quan tâm giáo dục tình yêu ấy bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt thì tâm hồn con người sẽ trở nên chai sạn biết bao. Chưa kể rằng, có những kẻ hô hào khẩu hiệu, nhưng thực tế lại sống giả tạo. Không thể yêu đất nước, yêu dân tộc mà không xuất phát từ tình cảm yêu mến, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình, làng xóm, yêu những con người gần gũi quanh ta. Đúng như Tố Hữu nói: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt – Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”, mở rộng ra tình cảm ấy còn là tình yêu đôi lứa, là cơ sở để “người yêu người, sống để yêu nhau”. Tình yêu ấy không hẳn chỉ thể hiện qua hành động đứng lên đánh lại kẻ thù, mà trước tiên phải xuất phát từ nỗi đau buồn khi nước mất nhà tan, nỗi uất nghẹn khi quê hương bị kẻ thù giày xéo. Không thể có tình yêu dân tộc chung chung nếu không xuất phát từ tình yêu con người cụ thể. Từ nhận thức đến tình cảm, từ suy nghĩ đến hành động luôn thường trực tình cảm yêu quê hương đất nước. Bản thân mỗi học sinh chúng ta cũng phải luôn xác định quan niệm đúng đắn về lòng yêu quê hương, bằng cách luôn trau dồi tu dưỡng những tình cảm nhân văn, phải sống đẹp với mọi người, biết rung động trước cái đẹp cuộc sống quanh ta. Khi còn là học sinh, biết yêu mến con người và mảnh đất mà ta đang sống, đang tiếp xúc hàng ngày, biến tình cảm thành hành vi ứng xử hàng ngày, có mục đích, có hoài bão vun trồng tài năng để sau này cống hiến cho đất nước, thiết tưởng cũng là ươm mầm cho lòng yêu quê hương đất nước ngày càng phát triển bền vững hơn. Bài 2:
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Bài ca phong cảnh Hương Sơn

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN

BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN                                                              Chu Mạnh Trinh I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chu Mạnh Trinh (1862-1905) tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân, quê làng Phú Thị, huyện Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (nay là Mễ Sở, huyện Văn Giang) tỉnh Hưng Yên. Ông là người tài hoa, thạo đủ cầm, kì, thi, hoạ, lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc, và đặc biệt say mê cảnh đẹp. 2. Hương Sơn phong cảnh ca là một trong ba bài thơ được Chu Mạnh Trinh viết vào dịp ông đứng trông coi việc trùng tu tôn tạo quần thể thắng cảnh Hương Sơn. Bài thơ viết theo thể hát nói. Bài thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên xinh đẹp và nên thơ về phong cảnh Hương Sơn. Đây là một bài thơ vịnh cảnh và thể hiện tâm sự. Đó là tâm sự yêu nước, tự hào với cảnh đẹp quê hương đất nước của nhà thơ.   II. RÈN KĨ NĂNG 1. Bài thơ có thể chia thành ba đoạn :     + Đoạn 1 (bốn dòng thơ đầu) : giới thiệu thắng cảnh Hương Sơn, nhận xét tổng quát về cảnh đẹp và thể hiện tình cảm. + Đoạn 2 ( Từ "Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái... Ghập ghềnh mấy lối uốn thang mây") : Tả cảnh đẹp Hương Sơn. Cảnh Hương Sơn mang vẻ đẹp của chốn tiên cảnh, như một bức tranh đẹp và nhiều sắc màu. + Đoạn 3 ( phần còn lại) : Suy nghĩ của nhà thơ về giang sơn đất nước. Đoạn thơ này có thể gắn với hiện thực đất nước để hiểu rộng và sâu hơn giá trị của bài thơ. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết qua một thắng cảnh của đất nước và tâm sự sâu kín của một nhà thơ về đất nước, cuộc đời. 2. Bốn câu thơ đầu giới thiệu bao quát toàn cảnh Hương Sơn và trực tiếp nêu cái thú ban đầu khi đến với Hương Sơn. Hai nhịp cân xứng xác định nét cơ bản bao trùm lên cảnh trí Hương Sơn bằng một nhận xét tinh tế: vừa là danh lam thắng cảnh do tạo hoá ban tặng vừa là công trình tôn giáo. Cảnh được dựng lên vừa mang nét bình dị, gần gũi, vừa thấm đượm không khí huyền diệu, linh thiêng. Đó là niềm "ao ước" không chỉ trong giây lát mà đã trở thành niềm khát khao "bấy lâu nay" của bao du khách. Câu thơ thứ ba có giá trị tạo hình đặc sắc nhờ cách hợp giữa hình thức điệp từ liệt kê và thủ pháp luyến láy "non non, nước nước, mây mây"… Vừa vẽ ra cảnh trí hùng vĩ của non nước, mây trời Hương Sơn như một bức tranh thuỷ mặc cổ điển vừa tạo được âm điệu ngân nga, bâng khuâng man mác như cảm xúc của du khách trước vẻ huyền ảo chốn bồng lai tiên cảnh. 3. Ba khổ giữa miêu tả cảnh đẹp cụ thể của Hương Sơn. Rừng mơ, suối Yến, tiếng chim  ca thỏ thẻ  "vườn hoa", dáng cá "lững lờ" dưới dòng nước trong veo, phẳng lặng, tiếng chuông chùa ngân nga... là những hình ảnh sinh động biến hoá như có hồn. Bức tranh phong cảnh vừa hiện thực vừa mang màu sắc huyền thoại lãng mạn được dệt nên bởi nghệ thuật ẩn dụ nhân hoá: "chim cúng trái", "cá nghe kinh", cách phối thanh, phối hình tài hoa tinh tế đã gợi lên được thần thái Hương Sơn. Âm điệu của "tiếng chày kình" (tiếng chuông chùa) như dẫn dụ du khách vào giấc mộng cõi tiên cảnh để tâm  hồn được cao khiết, thánh thiện hơn. Khung cảnh thiên nhiên đẹp như trong cõi mộng và không gian tĩnh lặng đã khiến cho “khách tang hải giật mình”. Cái giật mình ấy vừa làm nổi bật lên vẻ tĩnh lặng của không gian vừa diễn tả được sự say sưa của khách khi đứng trước cảnh đẹp Hương Sơn. Qua đoạn thơ, những lớp lang trập trùng cao thấp của thắng cảnh Hương Sơn lần lượt hiện lên như mời gọi, như mê hoặc. Sự lặp lại đại từ chỉ định “này” được lặp lại 4 lần để liệt kê 4 thắng cảnh tiêu biểu nổi tiếng gắn với những huyền thoại li kì về cửa phật đã nhân lên cảm xúc say sưa khoan khoái. Tiếp theo là những câu thơ giàu chất hoạ, chất nhạc với các từ láy gợi hình “long lanh”, “thăm thẳm”, “gập ghềnh” vẽ ra vẻ đẹp mộng ảo, thần tiên huyền bí của “Nam thiên đệ nhất động”. 4. Đoạn kết bài thơ là nơi tập trung thể hiện tư tưởng và cảm hứng về tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ. Câu hỏi “Chừng giang sơn còn đợi ai đây?” vừa kín đáo biểu lộ niềm tự hào của con người đã đóng góp nhiều công sức tôn tạo thêm vẻ đẹp huyền diệu của Hương Sơn vừa nhắc nhở mọi người cùng có trách nhiệm làm đẹp cho giang sơn đất nước. Bài ca kết lại trong sự hoà quyện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính trang nghiêm và tình yêu quê hương đất nước tha thiết. Điều đó góp phần làm cho Hương Sơn đẹp hơn, hấp dẫn hơn. wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU

a. Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc: bao trùm thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng,lẽ sống: lẽ sống CM,lẽ sống cộng sản,vì mục đích chung của đất nước.Đi liền với lẽ sống là tình cảm lớn,niềm vui lớn của con người CM đối với lãnh tụ,nhân dân,đất nước. b.    Thơ Tố Hữu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: nhà thơ chủ yếu quan tâm đến những vấn đề sống còn của đất nước.Cảm hứng của Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân tộc chứ không phải cảm hứng thế sự đời tư,với những con người mang phong cách tiêu biểu cho cả cộng đồng như: chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi… c.    Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình,ngọt ngào,đày tình thương mến: xuất phát từ quan niệm về thơ: “Thơ là tiếng nói đồng ý,đồng chí,đồng tình – Thơ là điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu.” Tuy nói về những vấn đề chính trị nhưng thơ Tố Hữu lại như “thơ của một tình nhân” đầy niềm say đắm.Điều này được thể hiện qua các hô ngữ, câu cảm thán,cách xưng hô: “anh em ơi”, “đồng bào ơi”… d.    Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện: điều này được thể hiện qua những thi liệu quen thuộc,gần gũi như phong cảnh quê hương đất nước,con người bình dân…và ngôn ngữ giản dị,dễ hiểu.Tính dân tộc còn được thể hiện ở thể thơ lục bát, thơ bảy chữ được biến hóa linh hoạt,cùng với nhiều biện pháp tu từ cổ điển được sử dụng nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại.Giọng thơ mang đầy tính nhạc điệu. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Những bài thơ tiêu biểu về quê hương đất nước giai đoạn 1945-1954

NHỮNG BÀI THƠ TIÊU BIỂU VỀ QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOẠN 1945-1954

Tình yêu quê hương đất nước là cảm hứng lớn của văn học mọi thời đại. Đó cũng là cảm hứng chủ đạo trong thơ giai đoạn 1945 - 1975. BÀI LÀM    Tình yêu quê hương đất nước là cảm hứng lớn của văn học mọi thời đại. Đó cũng là cảm hứng chủ đạo trong thơ giai đoạn 1945 - 1975. Tình yêu này thấm đượm từng ngòi bút, từng trang thơ. Một cô gái "Thăm lúa" nhớ chồng của Trần Hữu Thung, một ''Bài ca vỡ đất" của Hoàng Trung Thông, những anh lính "Tây Tiến" của Quang Dũng, những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu đến mối tình "Núi đôi" của Vũ Cao... Tất cả đều ấp ủ và chiếu sáng bằng tính cảm quê hương nước. Rồi "Bên kia sông Đuống" của Hoàng cầm, "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, “Việt Bắc” của Tố Hữu, sâu lắng thiết tha lay động lòng người cũng chính bằng tình quê hương đất nước.    “Thủa còn thơ ngày hai buổi đến trườngQuê hương đất nước là một luỹ tre làng, một giếng nước, gốc đa, một bát rau muống với quả cà dầm tương, một chùm khế ngọt, một cánh cò bay. Những hình ảnh đó có một sức mạnh tuyệt vời từ bao đời nay và in đậm trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Quê hương là nơi sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn. Nơi ta đã gửi gắm kỷ niệm của thời thơ ấu: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Ai bảo chăn trâu là khổ                     Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao" (Quê hương - Giang Nam)                 Tình quê làm ta nhớ lại những buổi chiều tà, đi trên cây cầu tre lắc lẻo, nghe giọng hò quen thuộc, thấy hiện tình những cảnh đẹp giản dị, cao quý gần gũi, dẫu ta đã trưởng thành, đã xa quê: "Quê ta là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bóng vàng bay" (Đỗ Trung Quân)                               Quê hương cho ta vẻ đẹp không nơi nào có được, sống giữa quê hương, ta chìm đắm trong ảo mộng được nghe tiếng sáo văng vẳng bên tai, với ng lời ru ngọt ngào tươi mát của bà, của mẹ. Những hình ảnh ấy càng làm ta thêm yêu Tổ quốc. Tình yêu ấy đã thôi thúc lớp lớp người lên đường quyết tâm bảo vệ, hi sinh cho đất nước. Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Cỏ một phần xương thịt của em tôi          (Giang Nam) Hình ảnh "Núi vẫn đôi mà anh mất em" (Núi đôi - Vũ Cao) là tình yêu lứa gắn với đất nước quê hương. Anh đi bộ đội sao trên mũ             Mãi mãi là sao sáng dẫn đường       Em sẽ là hoa trên đỉnh núi             Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm    Đất nước đã nuôi dưỡng chở che tâm hồn con người Việt Nam. Trước vận mệnh của Tổ quốc lâm nguy, con người đã từ giã quê hương lên đường giết giặc. Và tình yêu quê hương đất nước cứ lớn dần. Đó là niềm tự hào của đất nước " Rũ bùn đứng dậy sáng loà" mà thơ văn giai đoạn trước không thể có. Viết về mùa thu đất nước kháng chiến, tác giả của ca khúc nổi tiếng "Người Hà Nội", "Diệt phát xít” đã tạo một bài thơ có nhạc điệu thầm lắng, bâng khuâng mà rất hào hùng. Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi    Gió thổi rừng tre phấp phới         Trong biếc nói cười thiết tha        Trời xanh đây là của chúng ta      Núi rừng đây là của chúg ta         Những cánh đồng thơm mát         Những ngã đường bát ngát          Những dồng sông đỏ nặng phù sa (Đất nước)                                       Khác với Nguyễn Đình Thi, Hoàng cầm nói đến quê hương bằng những thơ xót xa căm giận. "Bên kia sông Đuống" viết về những ngày khủng khiếp nhất của vùng quê Kinh Bắc. Ruộng khô, nhà cháy, mẹ già bước thấp bước cao trên bờ tre "hun hút” chạy chốn lũ giặc. Em bé trong mơ cũng "thon thót mình" bởi "bóng giặc giầy vò những nét môi sinh". Đó là nổi đau khiến cho " gốc lúa bờ tre hồn hậu" cũng phải "bật lên những tiếng căm hờn". Và nổi đau ấy biến thành lời nguyền phẫn nộ: Đã có đất này chép tội            Chúng ta không biết nguôi hờn    Nhưng không chỉ có nỗi đâu uất ức căm giận. Cảm xúc của tác giả "hồn"  quê hương, hồn dân tộc đắm đuối suốt cả bài thơ. Từ hình ảnh đầm ấm thanh bình trong quá khứ: Bên kia sông Đuống                          Quê hương ta lúa nếp thơm nồng         Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong     Màu dân tộc sáng bừng - trên giấy điệp    Đến hình ảnh quê hương chìm đắm trong khói lửa chiến tranh: Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột đang từng bừng rộn rã     Bây giờ tan tác về đâu ?                           Nhà thơ đã dùng hình ảnh truyền thống để gợi rất sâu niềm thương nỗi nhớ, sự tiếc thương của con người trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá. "Bên kia sông Đuổng" viết về một vùng quê cổ kính với những truyền thống văn hoá lâu đời và những con người tiêu biểu cho quê hương dân tộc. Màu sắc dân tộc đậm đà trong cái thần thái, cái hồn của tranh Đồng Hồ, của cảnh vật và con người. Hình ảnh cô gái răng đen có " khuôn mặt búp sen" và miệng " cười như mùa thu toả nắng" vừa thể hiện nét riêng của cô gái vùng Quan họ Bắc Ninh vừa là khuôn mặt đáng nhớ đầy kỷ niệm trong ký ức của con người Việt Nam.    Có một tác giả cũng viết rất hay về quê hương đất nước. Đó là Tố Hữu qua “Việt Bắc". Toàn bài thơ là một khúc ân tình, một bài ca chiến thắng của một thời kỳ lịch sử và về một quê hương chung. Quê hương cách mạng trong những ngày "trứng nước" gian nan hiện lên qua "miếng cơm chấm muối" qua mái nhà “ hắt hiu lau xám" và nhất là qua hình ảnh "người mẹ nắng cháy lưng - Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô".    Tố Hữu đã đem cho ta một bức tranh tuyệt diệu về quê hương Cách mạng chan hòa màu sắc, đường nét, âm thanh và ánh sáng đẹp như cảnh đào nguyên: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung    Viết về quê hương, đất nước trong giai đoạn cách mạng kháng chiến không thể thiếu nhân dân. Nhân dân trở thành hình ảnh cao đẹp của bài thơ Đất nước hôm nay. Hoàng cầm nhớ về những người du kích của quê hương đất nước đã làm giặc Pháp điên, quay cuồng như xéo trên đống lửa và những bà mẹ chiến sĩ đón con đi bộ về trong đêm ấm áp tình quân dân kháng chiến .    Trong “ Đất nước" , Nguyễn Đình Thi lắng nghe được tiếng nói truyền thống bất khuất của cha ông: Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất         Những buổi ngày xưa vọng nói về          Tiếng nói của cha ông từ hào khí Đông A, hào khí Đồng Nai, hào khí Lam Sơn vọng về thúc giục chiến đấu, hi sinh: Ôm đất nước những người áo vải    Đã đứng lên thành những anh hùng    Những người anh hùng đã làm nên gương mặt của đất nước là những con người “ hồn hậu như gốc lúa bờ tre”. Những con người ấy đã giành lại đất nước từ tay kẻ thù để làm nên một hình tượng đất nước mới:    Súng nổ rung trời giận dữ      Người lên như nước vỡ bờ      Nước Việt Nam từ máu lửa    Rũ bùn đứng dậy sáng lòa      Hình ảnh đất nước như một thiên thần từ trong bùn đen đêm tối vươn ra ánh sáng huy hoàng.    Ở Việt Bắc, đất nước là quê hương cách mạng. Bài thơ là khúc ca tình con người kháng chiến với quê hương Cách mạng với nhân dân. Những tình cảm này đan xen, quyện chặt vào nhau mang đến cho nhà thơ sắc thái trữ tình - chính trị.    Tác giả đã sử dụng giọng điệu tâm tình ngọt ngào. Đó là lời của người yêu lời giao duyên để nói lên đạo lí dân tộc - tình nghĩa quân dân và cao hơn nữa là tình người.    Xuyên suốt cả bài thơ là lời nhắc nhở “ xin đừng quên! đừng quên!" . Đừng quên tấm lòng son sắc của nhân dân Việt Bắc đối với kháng chiến cách mạng. Xin đừng quên những mái nhà “ hắt hiu lau xám”. Đừng quên những ngày “ thươnq nhau chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. Nhất là đừng quên cuộc kháng chiến, chính những tháng năm này với củ khoai, củ sắn, đã nuôi nấng và xây đắp tâm hồn con người Việt Nam.    Cảm hứng về quê hương đất nước trong giai đoạn 1945 - 1954 được các nhà thơ thể hiện thật đậm nét. Mỗi nhà thơ đều cảm nhận bằng một nét riêng. Nhưng tất cả tượng hình lên một “ Đất nước" chung. Đất nước đã trưởng thành và tỏa sáng. Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với tình cảm Cách mạng, với niềm vui giải phóng, với ý thức tự hào dân tộc, của người làm chủ và quyết lâm bảo vệ đất nước. Đất nước này là đất nước của nhân dân, đất nước của Cách mạng.    Đề tài về quê hương đất nước rất đa dạng vì vậy mà mỗi nhà thơ chỉ cảm nhận được từ một góc độ nào đó. Đây là mảnh đất màu mỡ mà bao thế hệ nhà thơ khai thác cũng không bao giờ vơi. Nó như bầu sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn mỗi tâm hồn nhà thơ Việt Nam. Thơ ca 1945-19854 nhìn chung được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Trong thời gian khổ, trong mất mát vẫn yêu đời, yêu quê hương . Các nhà thơ làm thơ - trước hết là phục vụ chiến đấu, với một tình cảm chính trị chân thành nồng thắm. Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi        Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người    Mỗi người trong chúng ta chỉ có một quê hương duy nhất đó là nơi sinh ra và nuôi ta khôn lớn. Hình ảnh quê hương đất nước qua nhà thơ như những hành trang tinh thần sẽ theo ta đi suốt cuộc đời. Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Hà Trung - Thanh Hoá Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tìm hiểu cảm hứng về đất nước trong thơ ca thời kỳ kháng chiến pháp qua những bài thơ đã học

TÌM HIỂU CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ CA THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN PHÁP QUA NHỮNG BÀI THƠ ĐÃ HỌC

Đề bài: Tìm hiểu cảm hứng về đất nước trong thơ ca thời kỳ kháng chiến pháp qua những bài thơ đã học Bài làm “Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu” (Hoài Thanh). Văn học trong chín năm kháng chiến chống Pháp đã ghi nhận nhiều bài thơ trong sáng và tài hoa, mà nguồn cảm hứng sáng tác hàng đầu là cảm hứng về đất nước. Đọc những bài thơ ấy, chúng ta không thể không rung cảm sâu sắc với tâm hồn các nhà thơ, những người đã phác họa hình ảnh đất nước bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Trước tiên, chúng ta tìm hiểu nguyên do vì sao cảm hứng về đất nước lại là cảm hứng chủ đạo trong thơ ca thời kháng chiến chống Pháp. Yêu thơ là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Thơ ca luôn luôn gắn bó với cuộc sống đời thường cũng như trong chiến tranh gian khổ của nhân dân ta. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, thơ ca đã nối tiếp và phát huy truyền thống đó. Trong thực tế kháng chiến khẩn trương và gian khổ, thơ ca có ưu thế phát triển hơn bất cứ thể loại văn học nào khác. Nhà thơ đã sáng tác, góp phần cùng nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc. Hơn nữa cuộc kháng chiến xuất phát từ lòng yêu nước, nên cảm hứng về đất nước là cảm hứng lớn nhất, phong phú nhất về cuộc sống và chiến đấu của nhân nhaanta. Nguồn cảm hứng về đất nước được thấy rõ từ những dòng thơ thể hiện niềm vui và niềm tự hào về đất nước đã thuộc về ta: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa. (Nguyễn Đình Thi) Đó là niềm vui phơi phới khi đất nước vừa được giải phóng. Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt, Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyền phà rào rạt bến nước Bình Ca. (Tố Hữu) Và tự hào về truyền thống đất nước anh hùng: Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. (Nguyễn Đình Thi) Càng yêu đất nước quê hương, càng đau xót khi đất nước bị giặc xâm lược giày xéo. Là chứng nhân, nhà thơ đau xót trước cảnh tang tóc của quê hương: Ôi những cánh đồng chảy máy Dây thép gai đâm nát trời chiều (Nguyễn Đình Thi) Ai trong chúng ta không khỏi đau thương, kinh hoàng trước cảnh tiêu hủy, tàn phá của giặc thù? Hoàng Cầm đã viết những dòng thơ chân thành, đơn sơ mà thống thiết: Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Càng đau thương, căm thù, nhân dân ta càng anh dũng chiến đấu, hi sinh vì đất nước. Lớp lớp thanh niên lên đường chiến đấu. Nhà thơ đã xúc động trước hình ảnh người chiến sĩ hiến dâng tuổi trẻ cho đất nước: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. (Quang Dũng) Với ý chí kiên cường, họ vượt bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật để chiến đấu: Tay dao, tay súng, gạt đầy bao Chân cứng đạp rừng gai, đá sắc. (Tố Hữu) Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm (Quang Dũng) Nhà thơ Vũ Cao ở bài Núi Đôi lấy cảm hứng bi hùng từ hình ảnh cô du kích hậu phương giữ lòng chung thủy với người thương bằng hành động chiến đấu và hi sinh: Mới đến cầu ao, tin sét đánh Giặc giết em rồi, dưới gốc thông Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa Em sống trung thành, chết thủy chung! Ngoài ra, cảm hứng về đất nước xuất phát từ lòng yêu nước đã khơi dậy và phát triển thành những tình cảm tốt đẹp. Đó là tình quân dân thắm thiết: Các anh đi Bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong … Các anh về mái ấm cho vui Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ. (Hoàng Trung Thông) Đó là tình đồng chí gắn bó, cảm động: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỉ Đồng chí! (Chính Hữu) Nhìn chung, cảm hứng về đất nước đã đem lại cho thơ kháng chiến chống Pháp tính trữ tình – chiến đấu sâu sắc, có giá trị nghệ thuật cao. Những bài thơ ấy đã bồi dưỡng lòng yêu nước, động viên nhân dân kháng chiến và góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Nguồn cảm hứng này giúp ta cảm nhận sâu sắc tâm tình người thanh niên Việt Nam yêu nước kháng chiến (Tây Tiến – Quang Dũng), xúc động mãnh liệt về những nỗi đau thương mất mát của nhân dân ta khi xâm lược (Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm), tự hào về đất nước ta giàu đẹp, lịch sử ta vẻ vang, nhân dân ta anh hùng với truyền thống chiến đấu vì độc lập, tự do (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)… Tóm lại, cảm hứng về đất nước trong thơ kháng chiến chống Pháp là kết quả của những hứng khởi, xúc động sâu sắc trước hiện thực kháng chiến lớn lao, cao đẹp và vô cùng phong phú. Đồng thời đó cũng là kết quả của sự cảm nhận vừa cụ thể vừa khái quát, thể hiện sâu sắc trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ khi đất nước bị xâm lược. Cảm hứng về đất nước trong thơ ca kháng chiến chống Pháp tiếp tục được phát triển và nâng cao trong thơ ca thời kì chống Mĩ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ "Việt Bắc"

BÌNH GIẢNG 20 DÒNG ĐẦU CỦA BÀI THƠ "VIỆT BẮC"

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” đợc coi là kết tinh sở trờng nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu. Đó là khúc hát ân tình của ngời kháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủy chung của dân tộc. Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu, ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” không phải là ngoại lệ.Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước. Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa về thủ đô. Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách “Tâm tình hoá, là một đặc trng của lối thơ trữ tình chính trị Tố Hữu. 20 câu thơ đầu tiên của “Việt Bắc” thể hiện rất rõ đặc trưng nghệ thuật này.Đoạn thơ mở đầu bằng những câu thơ ngọt ngào:Mình về mình có nhớ taMời năm năm ấy thiết tha mặn nồng.Câu thơ mở ra cảnh giã biệt, một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữ tình dạt dào. Cảnh giã biệt vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển truyền thống đã được Tố Hữu khéo vận dụng để diễn tả tâm trạng mang tính thời đại. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi, cuộc chia tay đầy bịn rịn lưu luyến giữa những người đã từng gắn bó sâu nặng dài lâu:“Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lên cái sợi tơ lòng chung của những tấm lòng Việt”. Tất cả những yếu tố đó đã diễn tả thật xúc động tình cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đã nhớ, để chia mà không xa, cách màkhông biệt.Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ, riêng tư. Nhưng đến:“Mình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”thì không còn là chuyện của tình yêu lứa đôi mà đã là chuyện ân nghĩa thủy chung của đạo lý dân tộc. Câu thơ lục bát điệp hai lần từ “mình” nghe như lối tâm tình thương mến mà day dứt. Băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay là ân tình thủy chung. Cái độc đáo ở chỗ: một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian. Chỉ một khổ thơ đã gói gọn một thời cách mạng, một trời cách mạng. Tác giả đã chọn tình yêu một đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc với “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Từ thuở cách mạng còn trứng nước đến khi trưởng thành vững vàng đó là điểm nhìn nghệ thuật rất Tố Hữu- người thi sĩ luôn khơi nguồn cảm hứng từ những sự kiện lớn của cách mạng.Tiếp theo câu hỏi của ngời ở là tiếng lòng của người đi:Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nayNgười đi đã nghe câu hỏi, lòng tràn đầy bâng khuâng “bồn chồn” một tình cảm thương nhớ “thiết tha”. Tâm trạng lúc chia tay được diễn tả thật đắt qua sự luyến láy của ngôn từ và cả ở nhạc điệu của câu thơ: Hai câu đầu là nhịp 2/2 hối hoàn của lục bát đến đây đã vặn mình chuyển điệu 3/3:“Áo chàm đưa/ buổi phân lyCầm tay nhau/ biết nói gì / hôm nay"Cái xao xuyến bồi hồi của lòng người đã cồn cào nổi sóng trên câu thơ thể hiện cách thần tình chút ngập ngừng chứa chan tình thương mến, tạo ra một khoảng lặng đầy biểu cảm để chuỗi câu hỏi tiếp theo vang lên dồn dập, tha thiết hơn.Mười hai câu lục bát còn lại là lời của người ở, cấu tạo bằng sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỷ niệm. Mỗi câu hỏi đều gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mây mù, Những hình ảnh chọn lọc vừa chân thực vừa thơ mộng; “Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” Những câu thơ có khả năng diễn biến những khái niệm trừu tợng thành hình ảnh đầy cảm giác sống động cụ thể “mối thù nặng vai”. Nghệ thuật nhân hoá cũng tạo nên sự sống động cho hình ảnh thơ:“Mình về rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để già”Tình cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra đợc thể hiện sâu kín hơn cả trong câu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nên hoang vắng, trám không người nhặt, măng không ai hái, cả núi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ. Như một thông lệ trong cuộc chia tay giữa những người thân thiết, người ta thường đẩy thời gian về quá khứ để chưa xa đã nhớ, chưa biệt đã thương. Để trên nền xúc cảm này, dòng hồi tởng những kỉ niệm thân thương ùa về mãnh liệt.“Mình đi, mình có nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”Nhìn thoáng qua, tổ chức các câu thơ đều lặp lại ở phép láy đầu 6 câu: Mình đi, mình về. “Đi”, “Về” vốn ngợc chiều trái hướng, song ở đây lại đồng nhất một phương .Phải chăng niềm tin giản dị mà rất thực của cả người đi và người ở đã thổi vào câu chữ, làm nên chút choáng ngợp bối rối của ngôn từ, thể hiện mạch ngầm văn bản trong chiều sâu thơ ca: Ra đi để hẹn về. Việt Bắc đã trở thành quê hương thứ hai của ngời cán bộ kháng chiến.Những kỷ niệm được gợi nhớ đều là những kỷ niệm của cuộc sống chung, tình cán bộ với nhân dân chia ngọt sẻ bùi, chung gian lao, chung mối thù Nếu không khéo rất dễ sa vào cái gọi là “liệt kê kỉ niệm” câu thơ sẽ trôi tuột đi, không thể lưu đọng lại trong lòng người đọc. Cái làm nên chất thơ của bài “Việt Bắc” cũng như của đoạn thơ này chính là nhạc điệu. Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt, thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ.Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mùMiếng cơm / mối thùTrám / măngHắt / sonNhớ / mìnhTân / đaNhững hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra bởi sự thâm thúy, hàm súc:“Mình đi mình có nhớ mìnhTân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”Đại từ “mình”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đáp thơ ca dân gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mình là Ta, khi “ta” là “mình”, cái ngầm ý hai ta là một đã rõ. Nhng ở đây một câu lục mà tới ba lần lặp lại chữ mình: “Mình đi, mình có” là chỉ ngời về, “nhớ mình” là chỉ người ở. Câu hỏi đầy ý nhị mà sâu kín: Mình quên “ta” cũng là quên chính “mình” đó. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn theo lối bồi thấn trong câu thơ trả lời khẳng định sắt son.“Mình đi mình lại nhớ mìnhNguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”Nhà thơ đã khai thác rất đắt chữ “Mình” trong tiếng Việt. “Mình” vừa là bản thân vừa là ta, “Mình” cũng là ngời thân thiết có thể xem như chính mình vậy. Đại từ nhân xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoá khiến “Việt Bắc” cất lên như tiếng lòng đồng vọng bản hoà âm tâm hồn của kẻ ở người đi.Sự đổi chỗ trong tổ chức câu thơ: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được viết thành: “Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa” chứng tỏ tên riêng và danh từ chung đều đã đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa -Việt Bắc quê hương cách mạng. Nỗi nhớ về chiến khu Việt Bắc “Tân Trào, Hồng Thái”, đã chuyển hoá thành nỗi nhớ quê hương “Mái đình cây đa” những hình ảnh đã đi vào tâm thức người Việt từ ngàn đời. “Trong thơ Tố Hữu, cái riêng, cái chung như không còn ranh giới, cái cũ cái mới lồng vào nhau, (Nguyễn Văn Hạnh) mà đây là một trờng hợp điển hình.“Việt Bắc” là bài ca tâm tình, ngọt ngào đằm thắm rất tiêu biểu cho hồn thơ, cho phong cách thơ của Tố Hữu. Vẫn là tiếng nói của tình cảm tình yêu nhưng là tình yêu đối với quê hương đất nước, đối với cách mạng đối với nhân dân.Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp Tố Hữu tâm sự rằng: “mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Và đã nói về đất nước về nhân dân như nói về người mình yêu”. Cho nên tình yêu biến thành tình nghĩa “Việt Bắc” đã trở thành tiếng hát ân tình chung của những người kháng chiến, của cả dân tộc trong một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ.Có thể khẳng định rằng đoạn thơ trên là những câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc”.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ

PHÂN TÍCH BÀI THƠ KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ

Bài tham khảo 1Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, có nhiều bài viết về chủ đề quê hương, đất nước. Lòng yêu nước thể hiện ở mỗi bài mỗi khác, tùy theo cảm hứng của tác giả, song mỗi bài là một nốt nhạc trong bản giao hưởng ngợi ca Tổ quốc và nhân dân anh hùng.Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ chiến sĩ trưởng thành trong chiến khu tây Thừa Thiên gian khổ và ác liệt thời chống Mĩ. Trong những ngày mưa bom bão đạn ấy, bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ đã ra đời.Bài thơ kể về người mẹ dân tộc Tàôi vừa địu con trên lưng vừa giã gạo để nuôi bộ đội; tỉa bắp trên nương góp phần sản xuất lương thực cho kháng chiến và mơ ước sau này sẽ được thấy Bác Hồ, ước mong con mình khôn lớn được sống trong đất nước tự do. Qua đó, tác giả ca ngợi tình yêu con thiết tha, đằm thắm và tình yêu nước sâu nặng của bà mẹ Tàôi.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Cùng chủ đề