BỨC TRANH CUỘC SỐNG NƠI PHỐ HUYỆN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỨC TRANH CUỘC SỐNG NƠI PHỐ HUYỆN":

Đề thi thử đại học môn Văn khối C,D - Vụ GD tuyển sinh đại học năm 2014 (P1)

Đề thi thử đại học môn Văn khối C,D - Vụ GD tuyển sinh đại học năm 2014 (P1)

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D - VỤ GD TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2014 - ĐỀ SỐ 1  PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH Câu I (2 điểm)     Tâp thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh được sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Hãy trình bày ngắn gọn những nội dung chính của tác phẩm này. . Câu II (5 điểm)      Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh đất nước được thể hiện qua đoạn thơ sau trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi : Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha   Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng  ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa   Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về.                        (Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2005, tr.86-87) PHẦN RIÊNG . Thí sinh chỉ được làm câu III.a hoặc III.b Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)      Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Câu III.b. Theo chương trình phân ban (3 điểm)      Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D - VỤ GD TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2014 - ĐỀ SỐ 1  PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH Câu I (2 điểm)     HS cần trình bày được :       - Hoàn cảnh sáng tác của tâp thơ Nhật kí trong tù :  Tháng 8 -1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường trở lại Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự viện trợ của thế giới. Sau nửa tháng trời đi bộ, đến Túc Vinh (Quảng tây, Trung Quốc), Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải đi gần 30 nhà lao của13 huyện Quảng Tây. Trong 13 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943),  Hồ Chí Minh đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán và đặt tên là Ngục trung nhật ký  tức Nhật ký trong tù.     - Những nội dung chính của tâp thơ Nhật kí trong tù :     + Phản ánh bộ mặt đen tối của chế độ nhà tù cũng như xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch      + Thể hiện tâm hồn phong phú và cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại (lòng nhân ái, tinh thần yêu nước, ý chí, nghị lực phi thường, phong thái ung dung tự tại, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm trước thiên nhiên …) Câu II (5 điểm)     Có thể trình bày bài làm theo nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo được một số ý chính sau : 1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Đình Thi, bài Đất nước , đoạn thơ :       - Nguyễn Đình Thi là một tác giả tài năng trên nhiều lĩnh vực, là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu, trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Đình Thi cũng là nhà thơ viết rất thành công về đề tài đất nước – đặc biệt đậm chất cảm xúc khi viết về đất nước đau thương mà anh dũng.       - Đất nước – là bài thơ được Nguyễn Đình Thi sáng tác trong một thời gian dài (1948 đến 1955), được rút ra từ  tập Người chiến sĩ. Mặc dù được kết hợp từ nhiều bài thơ nhưng Đất nước vẫn là một chỉnh thể nghệ thuật, là kết quả dồn nén cao độ những chiêm nghiệm nghệ thuật và những suy tư về đất nước.     - Đoạn thơ có một vị trí đặc biệt trong bài thơ, trong mạch vận động của thi tứ, thể hiện rõ những cảm xúc, tự hào và suy tư về đất nước. 2. Trình bày cảm nhận về hình ảnh đất nước được thể hiện qua đoạn thơ :   - Hình ảnh đất nước bắt đầu với bức tranh mùa thu ở chiến khu Việt Bắc (Mùa thu nay … thiết tha) : bao trùm lên tất cả là bức tranh mùa thu mới – mùa thu hiện tại ở chiến khu với gam màu sáng đẹp (Trời thu thay áo mới), với không gian rộng mở (Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi) ), hình ảnh sống động và khỏe khoắn (Gió thổi rừng tre phấp phới), âm thanh trong trẻo(Trong biếc nói cười thiết tha)      - Hình ảnh đất nước tươi đẹp, giàu có : (Trời xanh … nặng phù sa) : cái nhìn bao quát cả không gian bao la, rộng lớn của đất nước. Chú ý  việc sử dụng phép điệp (những, của chúng ta),  liệt kê ( Trời xanh, núi rừng, cánh đồng ngả đường, dòng sông), tính từ (thơm mát, bát ngát, đỏ nặng…) nhằm nhấn mạnh hình ảnh một đất nước vừa tươi đẹp hiền hòa vừa đầy tiềm năng, chan chứa niềm tự hào của con người khi được làm chủ đất nước.     - Đất nước với truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất (Nước chúng ta…vọng nói về) : đất nước với những người chưa bao giờ khuất được nhắc tới với niềm tự hào, trân trọng. Những câu thơ ( Những người chưa bao giờ khuất - Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất ) khơi gợi những đặc tính quí báu của con người, dân tộc Việt Nam - vừa chân chất, giản dị vừa bất khuất, anh hùng. Điểm đặc biệt là cái nhìn phát hiện các yếu tố truyền thống qua việc cảm nhận những âm thanh vô hình bằng thính giác (Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về). 3. Đánh giá chung :    - Hình ảnh đất nước vừa tươi đẹp vừa giàu truyền thống hiện ra qua niềm vui rạo rực, qua tâm trạng sảng khoái, qua cái nhìn tự hào của một con người đang ý thức rõ rêt về sự thay đổi lớn lao của đất nước cũng như những biến chuyển trong lòng mình. Cái tôi nhỏ bé đã chuyển thành cái ta chung rộng lớn, đang náo nức ngân vang ..    - Nhịp thơ có lúc nhanh mạnh, sôi nổi (2 khổ đầu), có lú trầm lắng, suy tư (khổ cuối), hình ảnh thơ dân dã khỏe khoắn, câu thơ tự do biến đổi linh hoạt, âm hưởng thơ hào sảng đậm chất sử thi … tất cả các yếu tố nghệ thuật này đã góp phần mang đến cho người đọc một bức tranh đất nước trong kháng chiến chống Pháp, ấn chứa niềm tự hào vô hạn của tác giả. PHẦN RIÊNG  Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)      HS cần trình bày được các ý chính sau : 1. Giới thiệu khái quát về tác giả Thạch Lam, về tác phẩm  Hai đứa trẻ :  - Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 -1945. Những truyện ngắn của Thạch Lam được đánh giá như những bài thơ trữ tình đượm buồn vì vừa đậm chất trữ tình vừa thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc. - Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, vừa tiêu biểu cho bút pháp của nhà văn, vừa thể hiện giá trị tư tưởng sâu sắc và mới mẻ. 2. Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ : * Giá trị nhân đạo : là một trong những phương diện quan trọng tạo nên giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, thể hiện thái độ của nhà văn trước hiện thực cuộc sống (sự thấu hiểu, cảm thương, trân trọng, bất bình .. ). Với Hai đứa trẻ, Thạch Lam đã cất lên tiếng nói nhân đạo mới mẻ, sâu sắc của mình từ một bức tranh cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu nơi phố huyện nghèo.  * Bức tranh cuộc sống nơi phố huyện nghèo :     -  Tác phẩm đưa người đọc vào một bức tranh liên hoàn (từ buổi chiều hoàng hôn chạng vạng đến đêm khuya) nhằm khắc họa cuộc sống buồn tẻ, tù đọng nơi phố huyện nghèo. Nơi ấy, hiện dần lên những hoạt động âm thầm, lặng lẽ của những kiếp người nhỏ bé, sống cuộc sống mờ mờ nhân ảnh. Đó là cảnh phiên chợ chiều đã vãn nghèo nàn, tiêu điều cùng hình ảnh mấy đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh. Đó là mẹ con chị Tí bán hàng nước, cứ bày ra rồi lại thu vào vì vắng khách.Đó gánh phở của bác Siêu - một thứ quà xa xỉ ở nơi này, đang ế khách. Đó là vợ chồng bác Xẩm có đứa con đang bò lê nghịch những rác bẩn ven đường …    - Nổi bật lên trong tác phẩm là chị em cô bé Liên với tâm trạng đợi tàu. Ngày này qua ngày khác, cuộc sống của chị em Liên trôi qua trong tẻ nhạt ở cửa hàng tạp hóa với những món hàng nhỏ nhoi không hề thay đổi… Bởi thế, việc đợi một chuyến tàu đêm – hoạt động khá nổi bật nơi này, dường như đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu, thành một biểu tượng cho những mong mỏi tội nghiệp được thay đổi cuộc sống (cảnh đợi tàu của chị em cô bé Liên được miêu tả khá tỉ mỉ : từ sự ngóng đợi, tâm trạng háo hức khi đoàn tàu đến, nỗi niếc nuối, dòng mơ tưởng về một Hà Nội xa xăm, một Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo khi đoàn tàu đi qua…)  * Khái quát lên giá trị nhân đạo của tác phẩm : Thạch Lam thể hiện tấm lòng cảm thông, xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé, vô danh ở phố huyện nghèo, nói rộng hơn là của những con người nhỏ bé sống trong xã hội cũ; trân trọng trước những ước mơ, khát vọng  muốn được thay đổi cuộc sống của những con người tưởng như bao giờ được biết đến niềm vui, ánh sáng và hạnh phúc. 3. Đánh giá chung :  Hai đứa trẻ thể hiện giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc của Thạch Lam. Đặt trong bối cảnh xã hội lúc ấy, tác phẩm không chỉ thể hiện mối quan tâm sâu sắc của nhà văn trước những mảnh đời nhỏ bé mà còn có tác dụng tích cực, góp phần làm lay  tỉnh những tâm hồn ể oải, đang lụi tàn.  Câu III.b. Theo chương trình phân ban (3 điểm)  Cần đáp ứng được một số ý chính sau : 1.Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Thi, truyện ngắn Những đứa con trong gia đình :    - Nguyễn Thi là nhà văn nổi tiếng trong thời kì chống Mĩ. Ông được coi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ bởi lẽ hình ảnh của họ luôn xuất hiện trong các trang viết của ông với tính cách hồn nhiên, sôi nổi, bộc trực, giàu tình nghĩa với quê hương và gia đình.     - Những đứa con trong gia đình là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, phản ánh vẻ đẹp tâm hồn người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ. Nhân vật Việt – nhân vật trung tâm của tác phẩm, thể hiện khá tập trung những đặc điểm tính cách nhân vật của nhà văn. 2. Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt : chủ yếu ở những phương diện sau :    - Trước hết là lối trần thuật độc đáo : trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu, dòng ý thức của nhân vật (Việt rơi vào tình huống đặc biệt, bị thương nặng, phải nằm lại ở chiến trường. Anh nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại). Dòng ý thức khi đứt (lúc nhân vật bị ngất) khi nối (khi nhân vật tỉnh lại) giúp người đọc hình dung về cuộc sống, suy nghĩ rất riêng của nhân vật này. Lối trần thuật này đòi hỏi khả năng nhập thân nhân vật một cách tài tình mà không phải nhà văn nào cũng làm được.   -  Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật mang đậm sắc thái Nam Bộ : Việt hiện lên trong dòng hồi tưởng là vừa mang những nét hồn nhiên, hiếu động ( thích lang thang bắn chim, bắt cá, lúc nào cũng có cái ná thun trong người ..), hiếu thắng (hay tranh phần hơn với chị, kể cả việc ghi tên nhập ngũ),   hay ỷ lại vào chị vì quen được chị chiều chuộng … vừa rất thẳng thắn, bộc trực, giàu tình cảm, ngùn ngụt căm thù, đặc biệt là rất dũng cảm với cách thể hiện rất Nam Bộ, của người Nam Bộ (chú ý chi tiết ở đơn vị, Việt giấu biệt chị đi vì sợ người ta lấy mất chị ; chiến trường, cách thể hiện tình cảm thích đáng nhất của Việt dành cho má, cho chú Năm. cho chị là đánh giặc). ChấtNam Bộ cũng thể hiện rõ trong hệ thống phương ngữNam Bộ mà nhân vật sử dụng.   -  Ngôn ngữ đối thoại xen lẫn với độc thoại nội tâm: trong tác phẩm, ngoài những đoạn đội thoại (dòng suy nghĩ của nhân vật), cần chú ý những đoạn đối thoại giữa hai chị em Việt và Chiến (Việc giành nhau đi bộ đội, bàn về việc nhà trước khi đi đánh giặc .. ) . Đây là những đoạn đối thoại hấp dẫn và cảm động, thể hiện rõ tính cách nhân vật.  3. Đánh giá chung :   - Nhân vật Việt được xây dựng bằng nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, tiêu biểu cho tính cách nhân vật Nguyễn Thi.   - Qua nhân vật Việt, Nguyễn Thi đã làm bật lên vẻ đẹp tâm hồn người dânNamBộ : giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. chan chứa tình cảm đối với gia đình. Chính những điều này đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ vững vàng, quyết chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mĩ.    Các em chú ý theo dõi các đề thi thử đại học môn Văn tiếp theo trên Tuyensinh247 Tuyensinh147 tổng hợp            
Xem thêm

Đọc thêm

Ôn thi bài Hai đứa trẻ

ÔN THI BÀI HAI ĐỨA TRẺ

ÔN THI BÀI – HAI ĐỨA TRẺ                                 Thạch Lam I. Tìm hiểu chung. 1. Tác giả Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân, sinh ra ở Hà Nội. Là em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo, cả ba đều là thành viên nhóm Tự lực văn đoàn. Thuở nhỏ sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.   2. Tác phẩm chính Truyện ngắn + Gió đầu mùa (1937) + Nắng trong vườn (1938) + Sợi tóc (1942) Tiểu thuyết: Ngày mới (1939) Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943) Tiểu luận: Theo dòng (1941) 3. Phong cách sáng tác Có biệt tài về truyện ngắn. Truyện của ông thường không có cốt truyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật và những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày. Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc. II. Tác phẩm ” Hai đứa trẻ” 1. Xuất xứ Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam. Rút ra từ tập Nắng trong vườn. 2. Thể loại Hai đứa trẻ là truyện ngắn đậm chất trữ tình. Đặc điểm truyện: + Không có cốt truyện với tình huống gay cấn, éo le, mâu thuẫn xung đột. + Không có những bước xoay chuyển số phận nhân vật. + Truyện giống như một bài thơ không vần đậm chất thơ, dễ tác động vào tình cảm. Kết cấu Theo sự vận động của thời gian: chiều ® đêm ® Theo diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên: buồn man mác ® buồn khắc khoải ® buồn thấm thía, lắng sâu. Đọc – hiểu văn bản Đọc: Giọng đọc chậm rãi, nhẹ nhàng, gợi được không khí làng quê toát ra từ các câu văn của Thạch Lam. Từ đó nêu cảm nhận về không khí nơi phố huyện: Đó là một không khí lụi tàn, mòn mỏi. Nó toát lên từ không gian đến thời gian, từ nhân vật đến các đồ vật hiện hữu xung quanh con người, từ giọng điệu đến nhịp điệu của thiên truyện này. Tóm tắt Hai đứa trẻ tên là Liên và An được mẹ giao trông coi một hàng quán nhỏ. Chiều nào cũng vậy, sau khi dọn hàng xong, hai đứa trẻ lại cố thức để đợi chuyến tàu đêm qua phố huyện. Phố huyện hiện lên trong tác phẩm qua ba thời điểm: chiều tối, đêm khuya và khi chuyến tàu đến rồi đi. Nhân vật chính: hai chị em Liên, nhất là Liên. Nhân vật phụ: mẹ con chị Tí, gia đình bác xẩm, bác Siêu, cụ Thi điên. 3.Tìm hiểu nội dung tác phẩm. a/ Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn. * Bức tranh cảnh vật Âm thanh: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve. Hình ảnh, màu sắc: phương tây đỏ rực như lửa cháy, những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng đen lại.. -> Buổi chiều quê êm ả, gần gũi, bình dị như bao buổi chiều quen thuộc ở làng quê Việt Nam. Tuy nhiên buổi chiều này cũng gợi lên chút gì hiu hắt. Mở rộng thêm: Trong câu: Chiều, chiều rồi, phải chăng Thạch Lam đã viết thừa một chữ chiều? Không. Vì: – Ngoài nội dung thông báo về thông tin: buổi chiều đã đến, thì còn có thông tin về tâm trạng mà nếu bỏ mất một chữ chiều thì câu văn sẽ chưa truyền tải được (do thiếu nhịp điệu). – Nếu không có chữ chiều tưởng như là thừa ra đó, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả hơn. – Hai chữ chiều lặp lại gợi lên một sự lặp lại quen thuộc, tẻ nhạt. Nghệ thuật: – Nhịp điệu câu văn: chậm rãi – Hình ảnh: giàu hình ảnh và nhạc điệu. – Câu văn mộc mạc, giản dị nhưng khơi dậy được cái hồn của cảnh vật, làm người đọc bị cuốn theo những cảm xúc lắng sâu của nhân vật. * Bức tranh con người – Cảnh chợ: người về hết, tiếng ồn ào cũng mất, trên mặt đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị… – Con người: lầm lũi trong bóng tối. – Bao quanh những con người này là những đồ vật tàn: một ngôi quán ọp ẹp, cái chõng sắp gãy, một cái đàn còm, manh chiếu rách… -> Cuộc sống tàn tạ, nghèo đói. * Nổi bật lên trong bức tranh phố huyện ấy là chị em Liên: – Lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. – Động lòng thương đối với lũ trẻ nhà nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng. – Xót thương cho mẹ con chị Tí (thể hiện qua lời văn, giọng văn: Ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này [..]. Để bán cho ai?[…]Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu….). -> Là người có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Thái độ, tình cảm của nhà văn: Tình cảm yêu mến, gắn bó đối với thiên nhiên, quê hương, đất nước. Niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ. b/ Phố huyện lúc đêm khuya. * Ý nghĩa biểu tượng của bóng tối và ánh sáng. Miêu tả bằng hai cách: + Miêu tả trực tiếp bóng tối; + Thông qua ánh sáng để nói về bóng tối. Bóng tối Ánh sáng –      Trong cửa hàng hơi tối –         Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần –      Những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối –       Trời nhá nhem tối –       Một đêm mùa hạ êm như nhung –       Đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối –        Tối hết cả, con đường thăm thẳm…, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa.   –         Đèn hoa kỳ leo lét –         Đèn dây sáng xanh –         Cửa hé một khe ánh sáng –         Vòm trời hàng ngàn ngôi sao  sáng lấp lánh –         Quầng sáng thân mật xung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tý. –         Một chấm lửa nhỏ, vàng lơ lửng đi trong đêm tối –       Ngọn đèn của Liên, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. ->Bóng tối đậm đặc dường như bao phủ toàn bộ không gian, nhìn đâu cũng thấy một màu tối. Không gian tối tăm nên càng trở nên tịch mịch. Các loại ánh sáng  + Thiên tạo: đom đóm, vì sao  + Nhân tạo: ánh sáng ngọn đèn nơi hàng nước chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn của Liên…  + Đoàn tàu Trong số ánh sáng được nói đến, nhà văn đặc biệt quan tâm đến hai loại ánh sáng:  + Ánh sáng ngọn đèn nơi hàng nước của chị Tý  + Ánh sáng đoàn tàu. Tương quan giữa ánh sáng và bóng tối:  + Bóng tối bao trùm cảnh vật.  + Ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt. -> Ánh sáng xuất hiện chỉ nhằm tô đậm thêm cho bóng tối. ->Biểu tượng cho những con người bé nhỏ, vô danh đang sống âm thầm, lặng lẽ trong đêm tối mênh mông của xã hội. * Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối. Hình ảnh mẹ con chị Tí: ;là nhân vật điển hình nhất cho cuộc sống lay lắt, ngoi ngóp, quẩn quanh của phố huyện. Ngày thì mò cua, bắt tép, tối đến lại đội cái chõng tre tàn ra sân ga bày hàng nước bán. Dẫu biết rằng cũng chẳng ăn thua gì những vẫn phải đi. -> Đó không phải là sống mà chỉ như một sự cầm chừng, cầm cự, một việc làm theo thói quen. Bác phở Siêu, gia đình bác xẩm: + Bác phở Siêu, lưng vốn có vẻ khá hơn, nhưng lại là mối hàng nhiều nguy cơ nhất, vì ở nơi phố huyện này món hàng của bác được coi như một món hàng xa xỉ mà chị em Liên cũng chỉ dám mơ tới. + Vợ chồng bác xẩm rách rưới, tiếng đàn run lên bần bật. Cụ Thi điên: + Cụ như là kết quả của cái hoàn cảnh sống tù đọng, quẩn quanh ở đây. Cụ là hiện thân của một kiếp người đã tàn lụi quá nhiều. + Con người ấy là người duy nhất có tiếng cười to trong phố huyện này. Những tưởng tiếng cười ấy sẽ đem lại hơi ấm và sinh khí cho phố huyện, nhưng đáng buồn thay đó chỉ là tiếng cười của một người hơi điên và hơi say. Do đó câu truyện chỉ càng thêm giá lạnh. Đối thoại giữa các nhân vật: + Hỏi: Em thắp đèn lên chị Liên nhé? Cái chõng này sắp gẫy rồi chị nhỉ? Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế? Còn cô chưa dọn hàng à? Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không? A, cô bé làm gì thế? Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ? Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ? -> Hỏi chỉ để hỏi, chứ không nhất thiết cần có câu trả lời, bởi lẽ ngay cả người hỏi và người được hỏi đều biết câu trả lời là gì. Hỏi chỉ nhằm phụ họa, thậm chí là chứng tỏ cho sự tồn tại của mình. + Người được hỏi thường là mãi rồi mới chép miệng trả lời, ngẫm nghĩ rồi đáp, mà có đáp cũng chỉ đáp vẩn vơ. -> Những mẩu đối thoại vừa cực kỳ thưa thớt, vừa gián đoạn, ngắt quãng. -> Ấn tượng buồn nản, xót thương thậm chí bực bội trước những câu hỏi tủn mủn, bâng quơ không cần thiết phải trả lời và những câu trả lời nhát gừng, nhạt nhẽo. Tiếng reo: + Kìa hàng phở của Bác Siêu đã đến kia rồi. + Đèn ghi đã ra kia rồi. -> Không những không vui, mà ngược lại nó càng hiu hắt và buồn hơn. Niềm vui vừa mới được nhen nhóm lên đã vội vàng bị dập tắt. Món phở đối với chị em Liên là một món hàng xa xỉ mà “hai chị em không bao giờ mua được”, còn đoàn tàu hôm nay thì kém sáng và ít người hơn mọi hôm. -> Mong đợi vẫn chỉ là mong đợi, reo lên để rồi chỉ thêm buồn và thất vọng. -> Nhịp sống của người dân nơi phố huyện: Nhịp sống quẩn quanh, tù đọng, lặp đi lặp lại một cách nhàm chán. c/ Hình ảnh đoàn tàu và tâm trạng của Liên lúc chuyến tàu đến và đi qua. * Hình ảnh đoàn tàu. Là hoạt động sống cuối cùng của phố huyện. Đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới khác, hoàn toàn tương phản với phố huyện. + Từ xa: tiếng dồn dập, tiếng rít mạnh vào ghi, một làn khói bừng sáng lên đằng xa, tiếng hành khách ồn ào, khe khẽ. + Đến gần: các toa đèn sáng trưng, chiếu cả xuống đường, các toa hạng sang đồng và kền lấp lánh, cửa kính sáng. + Lúc đoàn tàu đi qua: để lại những đốm than nhỏ bay tung trên đường sắt, chấm nhỏ của cái đèn xanh treo trên toa sau cùng. -> Chuyến tàu mang về một chút ánh sáng của một thế giới khác, ánh sáng của hoài niệm quá khứ và cũng là ánh sáng của niềm mong ước tương lai. Dù chỉ là trong ít phút ngắn ngủi nhưng phố huyện cũng đã có những giây phút tươi vui hơn. Đặc biệt với Liên, ánh sáng của đoàn tàu đã đem tới cho cô những khát vọng, mơ ước về sự thay đổi. * Cuộc sống của phố huyện sau khi đoàn tàu đi qua. Phố huyện: cả phố huyện giờ chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn. Con người: chị Tý sửa soạn đồ đạc, bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, vợ chồng bác Sẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ, An ngủ say, Liên cũng dần ngập vào giấc ngủ. -> Phố huyện yên tĩnh, tịch mịch đầy bóng tối khi đoàn tàu đã đi qua. * Tâm trạng của Liên khi đoàn tàu đến và đi qua. Đợi tàu như một nhu cầu bức thiết để hai chị em có thể tạm thoát ra khỏi cái không khí tịch mịch, u tối của phố huyện. Đợi tàu còn có ý nghĩa như một thú vui, một trò chơi tuổi nhỏ. Đợi tàu để được nhìn, được mơ tưởng, được nuôi dưỡng kỷ niệm đẹp và mơ một một thế giới khác, nhiều ánh sáng và niềm vui. *Diễn biến tâm trạng Liên – Tâm trạng của Liên khi đoàn tàu tới: + Hồi tưởng lại Hà Nội: một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. + Mơ ước về một thế giới khác: một thế giới tươi sáng hơn, hạnh phúc hơn, sôi động hơn cuộc sống bình lặng, ngày ngày lặp đi lặp lại nơi phố huyện này. Tâm trạng Liên khi đoàn tàu đi qua: + Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên. + Hình ảnh thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị. + Liên thấy mình sống giữa bao sự xa xôi không biết. -> Nỗi buồn thấm thía, sâu sắc. -> Tác giả muốn thức tỉnh những tâm hồn đang uể oải, đang lụi tàn dần đi trong một cuộc sống cũng đang cùn đi, đang gỉ ra, nhà văn mong họ hãy sống có hi vọng và ước mơ vì một khi còn những thứ đó thì còn sự sống. Tác giả cũng đã thể hiện niềm xót xa, thương cảm đối với những người dân nơi đây. III. Tổng kết Nội dung – Niềm xót thương đối với những con người nghèo đói, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng trước mong ước có một cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Nghệ thuật – Cốt truyện đơn giản. – Giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh; lời văn bình dị, tinh tế. – Có sự kết hợp giữa hiện thực và trữ tình. – Tập trung miêu tả nội tâm nhân vật.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Ấn tượng khi đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

ẤN TƯỢNG KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

Là một nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, Thạch Lam yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp. BÀI LÀM    Là một nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, Thạch Lam yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Thạch Lam là người chắt chiu cái đẹp và sáng tác của Thạch Lam chính là tìm kiếm cái đẹp đã bị đánh mất. Thạch Lam cho rằng một nhà văn thực sự có tài phải là người có thể cảm nhận được mọi vẻ đẹp man mác khắp vũ trụ. Ông viết: Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức.    Thạch Lam yêu cái đẹp nhưng với ông, văn chương không phải lấy cái đẹp làm cứu cánh, không phải ngợi ca cái đẹp mà xa rời hiện thực. Người nghệ sĩ không tìm đến văn chương như một thứ thoát li hiện thực. Trong bài tựa Gió đầu mùa, ông viết: Đôi với tôi, văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên. Trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lònq người được thêm trong sạch và phong phú hơn.    Hai đứa trẻ là truyện ngắn không có chuyện. Toàn bộ truyện là một mảnh đời nơi phố huyện nhỏ chầm chậm diễn ra xung quanh chị em Liên vào một buổi cuối mùa hè. không có phát triển và đỉnh điểm, thắt nút và mở nút như các bài học giáo khoa về lí luận văn học. Nhưng lạ thay, người đọc không vì thế mà dễ dàng quên đi sau khi đọc. Họ luôn nhớ về nó như một kỉ niệm êm đềm mà mỗi chi tiết đàu gây xúc động, gợi lại một thời đã qua.    Ấn tượng sâu đậm trước tiên đến với người đọc là tình người giữa những dân nghèo của phố huyện vào một thời khắc bình lặng của cuộc sống. Có người, khi nói tới Hai đứa trẻ, đã nhấn mạnh cuộc sống nghèo khổ, bế tắc được miêu tả trong truyện như một khía cạnh làm nên giá trị của truyện. Đúng là từ những chì tiết của câu chuyện bất cứ ai cũng có thể nhận ra không khó khãn gì cả: “ nghèo khổ, nhếch nhác của phố huyện, cũng như của từng gia đình. Chỉ cát thấy cảnh Liên xếp hàng họ vào hòm, cách tính tiền bán hàng của hai chị em cái ý nghĩa gánh phở bác Siêu là món quà xa xỉ không bao giờ chị em Liên có thể mua được, chúng ta cũng đủ hiểu gia đình và mức sống của gia đình Liên. Nhưng nếu coi đây là một khía cạnh làm nên giá trị của truyện thì chắc chắn sẽ phải đưa vào cảnh đó một vài định ngữ như cách nói xưa nay: Truyện tố cáo chưa mạnh mẽ, chưa gay gắt... Đặt cạnh Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí Phèo Vỡ đê.... thì việc thêm các định ngữ kia khi đánh giá truyện là hợp lẽ. Song điểm ấy lại không đúng với dụng ý của tác giả và không là giá trị thực của truyện. Cuộc sống nghèo nơi phố huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường.    Ân tượng thứ hai là sự tinh tế của ngòi bút Thạch Lam khi tả tình và tả cảnh Trong truyện ngắn này, Liên là một cô gái nghèo phố huyện. Liên có một tâm hồn thuần phác. Ngòi bút của tác giả đã hé mở những rung động nhỏ bé trong tâm hồn cô. Chỉ mới bắt gặp mùi âm âm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc Liên đã nghĩ đến mùi riêng của đất, của quê hương. Một chiếc xà ích, một chiếc khóa được mẹ giao cũng gợi lên trong lòng cô sự quỷ mến và hãnh điện vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang, ở nét tâm tư này Liên gắn với những con người con gái trong ca dao, người vợ chịu thương chịu khó trong thơ Tú Xương, người chị giàu đức tính hi sinh trong một số tiểu thuyết, truyện ngắn đương thời. Đây cũng là nét tâm lí được Thạch Lam miêu tả với thái độ nâng niu, trân trọng trong một số truyện chưa định hình hẳn trong tâm hồn Liên khi con tàu đêm lướt qua, ước mơ về Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn, đối với Liên khác hẳn với các vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tôi vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mông và yên tĩnh. Sự tương phản giữa ước mơ và thực tế không làm tan vỡ ước mơ, trái lại cái mênh mang và yên tĩnh trong đêm tối và đồng ruộng như kéo dài các ước mơ chập chờn kia khiến cho nó khó quên cả đốì với người trong truyện và người đọc truyện.    Khi tả cảnh, ngòi bút Thạch Lam tả ít, gợi nhiều và ẩn ở chiều sâu của câu, chữ là thái độ lâm trạng của tác giả. Nét đặc trưng bao trùm cả cảnh vật trong Hai đứa trẻ là sự êm ả nhưng đượm buồn. Thời gian trôi đi từ chiều đến đêm được miêu tả trong những nhận xét giàu cảm xúc: Chiều, chiều rồi, một chiều êm ả như ru văng văng tiếng ếch nhái kêu ngoài đồng theo gió nhẹ đưa vào. Trời đã bắt đầu đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát. Không gian phố ngày càng chìm sâu vào đêm khuya tĩnh mịch và đầy bóng tối. Màu sắc sinh vật nhòa đi trong ánh sáng chập chờn lúc chiều tà, hoặc sẫm lại trong bóng đêm nên không có màu nào sáng, màu nào chóe, màu nào rực rỡ. Cái màu Bè những đóm than bay tung trên đường sắt, cùng với màu sáng rực của ánh đèn trên những toa sang trọng, lấp lánh ánh kền xà cửa kính lướt qua sân ga, cũng không thay đổi được gam màu xám của cảnh vật. Trái lại sự xuất hiện thoáng qua của chúng lại làm tăng thêm độ sẫm, độ buồn của màu sắc xung quanh. Âm thanh động của con người trong khung cảnh thiên nhiên ấy cũng rời rạc, chậm rãi, khẽ khàng. Tóm lại sự miêu tả cảnh vật mà con người thống nhất trong sự êm ả, buồn đó tạo nên một vẻ riêng của truyện.    Hai đứa trẻ là một truyện ngắn hay của Thạch Lam. Không hấp dẫn người đọc bằng những tính cách sắc nét, những tình huống li kì hoặc ướt át. Nó lại hấp dẫn người đọc bằng chính vẻ đẹp của cuộc sống bình thường đã được khám phá cũng chính ngòi bút tinh tế và giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả. Truyện ngắn hai đứa trẻ không đi sâu vào những chuyện áp bức bóc lột, cũng không kể tỉ mỉ lại  cảnh ngộ thương tâm, mà chỉ lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng bức tranh đời sống nghèo trong truyện ngắn một mặt rất   mực chân thực, đồng thời chan chứa niềm cảm thương, chân thành của tác giả đối với những người lao động khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ VĂN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ VĂN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ VĂN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 I) HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam) Câu 1: Tại sao trong tác phẩm“Hai đứa trẻ”, hai chị em Liên đêm đêm lại thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về? Ýnghĩa? a. Hai chị em Liên đêm đêm lại thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về vì cuộc sống mà hai đứa trẻ sinh sống là một cuộc sống nghèo khổ,lãm lũ,tù đọng,đơn điệu,tẻ nhạt. Dường như ngày nào cũng vậy,từ chập tối cho đến nửa đêm,lúc nào Liên cũng chị thấy lặp đi lặp lại những hình ảnh quen thuộc (chị Tí,bác Siêu,bác Xẩm…). Chừng ấy người ngồi trong bóng tối dưới những thứ đèn leo lắt đang chờ đợi một cái gì đó tươi sang hơn sự sống nghèo khổ hang ngày củahọ. Tất cả những điều đó đã hối thúc chị em Liên tìm đến ánh sáng đoàn tàu từ Hà Nội về như một sự giải thoát. b. Ý nghĩa: Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với“các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc. Đó cũng là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật. Câu 2: Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam miêu tả đếnnhững loại ánh sáng nào? Ý nghĩa? a. Nhà văn miêu tả các loại ánh sáng: Ánh sáng từ “ngọn đèn con” của hàng nước mẹ con chị Tí; chấm lửa nhỏ từ gánh phở bác Siêu; ngọn đèn của Liên “thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa.” Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là loại ánh sáng rực rỡ nhất,được mọi người trông đợi nhất. b. Ý nghĩa: Ánh sáng ngọn đèn con của chị Tí trở đi trở lạinhiều lần và đi vào giấc ngủ của Liên như một ám ảnh tâm lí.Đó là ánh sáng biểutrưng cho cuộc sống thực tại,mòn mỏi,lay lắt,quẩn quanh, nhỏ nhoi đầy bế tắc,buồnchán của chị em Liên,..; cho kiếp người vô danh,vô nghĩa,sống lam lũ,vật vờ…trongcái đêm tối mênh mông của XH cũ. Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc. Đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật. Câu 3: Trong tác phẩm “Hai đứatrẻ”, Thạch Lam viết: “Chừng ấy người ngồi trong bóng tối đang trông đợi mộtcái gì đó tươi sáng hơn sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ.” “Chừng người ấy”là ai? Họ đang trông đợi điều gì? Ý nghĩa? a. “Chừng người ấy” là: hai chị em Liên và An, chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác Xẩm… b. Họ đang trông đợi: chuyến tàu đêm từ Hà Nội về ngang qua phố huyện với cái không khí ồn ào,náo nhiệt cùng các toa đèn sáng. c. Ý nghĩa: Ánh sáng của đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên và của người dân nghèo nơi phố huyện.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc.Đó là niềm khao khát được vượt ra khỏi sự tù túng,ngột ngạt để vươn tới cuộc sống khác tốt hơn. Đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của các nhân vật.Dù cuộc sống quẩn quanh,đơn điệu,bế tắc nhưng họ vẫn không ngừng hy vọng vào tương lai tươi sáng. Câu 4: Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí của Liên? Ý nghĩa? a. Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí của Liên là hình ảnh chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. b. Ý nghĩa: Ánh sáng ngọn đèn con của chị Tí trở đi trở lại nhiều lần và đi vào giấc ngủ của Liên như một ám ảnh tâm lý. Đó là ánh sáng biểu trưng cho cuộc sống thực tại:mòn mỏi,lay lắt,quẩn quanh,nhỏ nhoi đầy bế tắc,buồn chán nản của chị em Liên…;cho kiếp người vô danh,vô nghĩa,sống lam lũ,vật vờ…trong cái đêm tối mênh mông của XH cũ. Niềm đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với số phận con người,đặc biệt là số phận những người nông dân trước năm 1945. Đồng thời đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy và sức sống của nhân vật. Câu 5: Phân tích nhân vật Liên (Tâm trạng nhân vật Liên – tâm trạng chờ tàu) trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam. Hai đứa trẻ là tác phẩm xuất sắc của Thạch Lam được bạn đọc biết đến nhiều nhất. Tác phẩm được in trong tập Nắng trong vườn (1938). Truyện gây ấn tượng cho người đọc bởi văn phong nhẹ nhàng, giàu tình người tình đời. Ấn tượng khó quên trong lòng người đọc về thiên truyện ngắn này có lẽ là hình ảnh hai đứa trẻ mà cô bé Liên là nhân vật được nhà văn Thạch Lam tập trung khắc họa nhiều nhất. Liên là cô bé mới tám tuổi, cái tuổi mà theo như người xưa nói “biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Nói đúng hơn là tuổi vô lo. Nhưng mọi điều đều ngược lại. Dưới ngòi bút của Thạch Lam, Liên hiện lên với hình ảnh của một cô bé như già đi trước tuổi. Tuổi thơ chìm trong nỗi buồn của sự tàn tạ, héo úa của một cuộc sống đầy bóng tối, bế tắc không lối thoát. Đối với tâm hồn thơ bé ấy, đoàn tàu đêm từ Hà nội về chạy ngang qua phố huyện chính là niềm an ủi cuối cùng cho một niềm đau. Thầy Liên mất việc và đặt dấu chấm hết cho những tháng ngày sống ở Hà Nội. Con phố nhỏ Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương nơi đón chị em Liên về là một nơi đói nghèo trong rơm rạ với những kiếp người bé nhỏ, lay lắt. Bản thân gia đình Liên cũng chẳng khá giả gì hơn: mẹ làm hàng xáo, chị em Liên trông coi gian hàng tạp hóa nhỏ xíu với những thức hàng lặt vặt, ngày phiên mà chẳng bán được bao nhiêu? Liên là cô bé nhạy cảm, hay động lòng trắc ẩn trước những biến thiên của cuộc đời. Tâm trạng của Liên cũng diễn tiến theo thời gian: từ chiều hôm cho đến khi đoàn tàu ngang qua phố huyện. Truyện mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống thu không vang xa để gọi buổi chiều. Đó âm thanh báo hiệu ngày tàn và cũng là âm thanh chấm hết một ngày đầy ánh sáng mà thay vào đó là bóng tối và nỗi buồn. Thạch Lam mở đầu truyện rất hồn hậu, rất thơ với bức tranh quê bình dị, man mác hương đồng gió nội với Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Đó cũng là thời khắc mở ra thế giới tâm trạng của Liên, là lúc mà “Trong đôi mắt Liên bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị. Liên không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Buồn mà thấy “không hiểu sao” có nghĩa là cái buồn ghê ghớm lắm. Buồn mà không biết mình buồn vì cái gì thì thật là đau khổ không gì bằng. Thạch Lam đã để nhân vật tự nhận thức và tự bộc lộ tâm trạng chứ không cần
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ

Bài 1: “ Văn học là nhân học” ( M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con ngườI luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện vớI nhau. Để làm rõ điều vừa nói, “hai đứa trẻ” của Thạch Lam sẽ là một dẫn chứng. “ Hai đứa trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng ngườI đọc một nỗI buồn bâng khuângday dứt về đờI sống con người. Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lạI càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trờI đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trờI phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổI chiều êm như ru như bao chiều khác. Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lạI hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổI chiều chỉ còn lèo tèo vài ba ngườI bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong “gió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó vẫn nhuốm một nỗI buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”. Song bức trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tớI từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những ngườI mang trong mắt Liên dường như quá quen thuộc, mỗI ngườI đã có một thói quen. Như bác phở Siêu. chị Tí, bố con nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không thì đóng cửa quán mà đợI chờ. Hiện thực không làmta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo vớI những ngườI cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương. Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chấ văn lãng mạn.ThờI gian đi vào cuộc sống của phố huyện “ rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. ThờI gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nộI tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng : “Chiều, chiều rồI” cất lên trong lòng, rồI trờI nhá nhem tốI đến không gian đã khuya không còn những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trờI vớI ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”. MỗI thờI điểm lạI có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển. Có buổI chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ cón tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mớI có cái mượt mà đượm chất thơ như thế. Sự tài tình chính là ở chổ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. HIểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. “Liên mãi ngồI quên mất! Bây giờ Liên vộI vàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lạI”. “TrờI bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát”. Nhưng câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. PhảI chăng cảm nhận ấy xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt “Dõi theo những bóng ngườI về muộn từ từ trong đêm”. Nếu như đầu tốI phố huyện còn được “trang hoàng” bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẻ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lạI càng gợI buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “ chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của ngườI bút phác lên và đằm lạI trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi. Ánh đèn của chị Tí đủsoi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật vớI hai “gam màu” sáng tối. Khuônmặt ngườI phụ nữ chân quê chất phát đã trảI qua một ngày bươn bảI vớI cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sống gia đình bận rộn tốI tăm. Nhưng tốI nào chị cũng góp một ánh đèn như thế. Tuy để làm thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ. Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? PhảI chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là nơi để họ sống…Âm thanh của cuộc sống phát ra từ những lờI đốI thoạI, những hoạt động của con ngườI nơi đây. MỗI ngườI đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo. Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con ngườI có mặt đã làm nên tổng thể củacảnh vật cuộc sống. Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ vớI nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Nét bút của ông đã phát hoạ một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lý do để ngườI dân phảI lao vào cuộc bon chen giành dật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình ngườI và mỗI ngườI khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn. Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tyệt vờI của ông. Trở lạI vớI cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lạI ở cảnh bao quát mà đắm lạI ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởI nộI tâm sâu sắc, xuất phát từ một con ngườI đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợI lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏI chạnh niềm thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một ngườI chị còn bé hơn thế nữa, nỗI lòng buồn báo hiệu một sự “trưởng thành” về tâm sinh lí. Bức tranh phồ huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tốI hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đờI, cảnh sống của mỗI ngườI lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên. Cuộc sống của từng ngườI đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể ngườI dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đờI cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống , ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lạI ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán vớI những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con ngườI ấy” mà thôi. Nhưng ở Liên lạI có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợI tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó mớI chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợI tàu vớI một niềm háo hức rất trẻ con. Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏI, đợI chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một mỗI buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lạI chợt gợI thêm nỗI buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dáy đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồI lạI trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay nên buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuýên tàu vẫn là niềm mong mỏI của chị. Có ngườI nói “chờ đợI là một điều khủng khiếp”; song, không có gì để chờ đợI lạI càngkhủng khiếp hơn. VớI Liên điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợI tàu. Cảnh đợI tàu ở đây tuy có khác vớI cảnh đợI tàu trên sân ga nhưng lạI vẫn chung một nỗI niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đờI lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được nhiềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đờI. quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống vớI một niềm vui của chuyến tàu đem lại. “Liên” là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện. tạo nên bằng một cuộc đời. tạo nên như là ngườI dẫn chuyện. Thành công của thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn vớI xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗI tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tình ngườI của nhà văn vớI nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ : “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đờI còn là thơ nữa” thì truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và nhiều thiên truyện khác nữa của thạch lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lạI “cuộc đờI” thật nhiều sâu sắc. Bài 2: Mỗi lần đọc Thạch Lam trong trí tôi lại hiện lên hình ảnh cánh cổng gỗ của khu vườn êm ả được miêu tả trong truyện Dưới bóng hoàng lan. Phía ngoài cánh cổng là một thế giới ồn ào, phồn tạp, nắng nôi, nhưng bên trong là bầu không khí mát rười rượi thoảng mùi hương thật thích hợp cho tâm trạng suy tư và cảm nhận, lắng nghe những điều tế nhị của sự sống. Văn Thạch Lam cũng như khu vườn bên trong cánh cổng ấy, ít sự kiện, hành động nhưng đầy ắp những bâng khuâng. Nó cho ta cơ hội hiểu thấu sâu xa những cuộc đời giản dị, qua sự chiêm nghiệm lặng lẽ. "Hai đứa trẻ" là truyện ngắn rất Thạch Lam. Chất liệu của nó vẫn là cuộc sống tù đọng, mòn mỏi nơi những phố huyện nghèo nàn xơ xác. Nhưng từ thứ chất liệu rất "văn xuôi" đó, nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những trang viết hết sức thi vị, không có gì chung với sự thi vị hoá cuộc sống một cách tầm thường. Thi vị ( hay chất thơ) của tác phẩm gắn liền với dụng công của nhà văn muốn khêu gợi trí tưởng tượng nơi người đọc và đánh động khả năng cảm nhận của các giác quan bằng lối hành văn hoặc cách tổ chức lời văn khá riêng biệt. Đây chính là chiều sâu của một nghịch lý tưởng chừng khó giải thích : viết về các sự vật, sự việc tầm thường, đơn điệu mà văn vẫn lôi cuốn đến thế. Điều này phá vỡ một ngộ nhận (chí ít là của người đọc) về tính quyết định của vật liệu. Thực ra nghệ thuật chính là một sự chế ngự vật liệu, vật liệu thông qua những phương thức, phương tiện diễn tả đặc thù. Câu văn của Thạch Lam tả rất sát sự thật, sự việc. Nhưng điều đó không có nghĩa ở đây chỉ có sự khớp đúng đến nghẹt thở. Tiết điệu buông chùng của câu mở đầu thiên truyện chứng tỏ điều đó : " Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều". Cái lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau, nhưng sự cảm nhận của người đọc đã thực sự được khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Trong câu này cái đáng chú ý còn có từ "gọi". Nó xác lập một tương quan mới (dù vô hình) giữa các sự vật mà từ báo hiệu chẳng hạn không nói lên được. Dĩ nhiên câu văn vừa nêu không chỉ Thạch Lam mới viết nổi. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện có quy luật chứ không ngẫu nhiên, nhằm nhấn mạnh một điều gì khác hơn những sự kiện nổi trên bề mặt. Xin chú ý thêm hai câu văn khác đứng kề nhau: " Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào". Trong câu đầu dường như thừa một chữ "chiều", xét theo góc độ thông tin bình thường. Nhưng thực ra ở đây còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ "chiều rồi" chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác, nếu không có chữ chiều " thừa ra" ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng đọc giả đang bị dẫn dắt bởi văn chứ không phải cái gì khác. Suốt truyện ngắn , nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự "ngây thơ" của hai nhân vật chị em qua các nhận xét như: "Liên không hiểu sao...", "Liên tưởng là...", "tâm hồn Liên... có những cảm giác mơ hồ không hiểu", "vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ...","Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết...". Rất có thể nhân vật của truyện "không biết", không hiểu thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng nhân vật để ám thị người đọc. Các phủ định từ "không" đã "bẫy" họ sa vào một không khí bất định, mông lung. Độc giả cứ ngỡ mình đang cùng nhà văn theo dõi nhân vật, nhưng thật sự họ đã bị lây nhiễm chính cảm giác của nhân vật và không thôi thao thức. Càng cố gắng hiểu những điều nhân vật "không hiểu" để phân biệt với nó, anh ta càng rơi sâu vào không khí của truyện đến nỗi mất cả đường ra, trong khi tác giả vẫn không ngừng tả, kể để trói anh ta chặt hơn vào câu chuyện mà ông "bịa" ra. Truyện tuy rất ít hành động nhưng vẫn thấp thoáng những lời đối thoại. Chúng được phân bố rất đều trong tác phẩm và xuất hiện giữa những đoạn miêu tả cảnh vật - một khung cảnh lặng lẽ, êm đềm, có phần hiu hắt, buồn bã. Chính không khí ấy quy định sắc điệu của lời đối thoại, trong khi bản thân lời đối thoại cũng mang tính chất lơ lửng, không gây nên sự đột biến nào của mạch truyện. Những câu hỏi nêu ra có thể trả lời cũng được mà không cũng được. Nó không nhằm mục đích tìm biết mà chỉ chờ đợi một sự phụ hoạ, xác nhận điều người nói nghĩ và thậm chí cả sự hiện tồn mờ nhạt của họ nữa : - Em thắp đèn lên chị Liên nhé ! - Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ? - Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế ? - Còn cô chưa dọn hàng à? - Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không ? - A, cô bé làm gì thế ? - Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ ? - Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ ? Trước những câu hỏi ấy người đối thoại thường là "mãi rồi mới chép miệng trả lời", ngẫm nghĩ rồi đáp hoặc có đáp cũng "đáp vẩn vơ", thậm chí "không đáp", "không cần ngoảnh mặt ra". Một số người khi muốn chứng minh luận điểm nói rằng cảnh đời được miêu tả trong truyện thật nghèo nàn buồn tẻ, đã viện đến các chi tiết như đám trẻ con nhặt nhạnh những thứ rơi vãi trên nền chợ, chị Tý dọn hàng đến khuya mà không bán được bao nhiêu, hai chị em Liên xem phở bác Siêu như một thứ quà xa xỉ, một người mua hàng đến nửa bánh xà phòng cũng phải mua chịu... Thật ra cần chú ý hơn đến những mấu đối thoại rời rạc đã nói ở trên. Dụng công của Thạch Lam cũng như hồn văn của truyện chính toát lên từ đấy. Nó đưa tới cho người đọc không phải chuyện này chuyện nọ mà là một ấn tuợng buồn nản, xót thương, thậm chí bực bội trước các câu hỏi tủn mủn , bâng quơ, không cần thiết phải trả lời và những lời đáp quá chừng nhạt nhẽo, phẳng lặng. Những ấn tưọng đó khó gây dựng hơn nhiều so với các nhận xét kết luận "đóng bao"sẵn thường thấy ở nhiều truyện thừa giọng giáo huấn mà thiếu tính nghệ thuật. Trong truyện cũng vài lần nổi lên tiếng reo chứa đựng niềm hân hoan mong đợi : - Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi. - Đèn ghi đã ra kia rồi. Nhưng những tiếng reo đó đã nhanh chóng phô ra tính chất tội nghiệp của chúng, niềm vui mới nhóm lên đã bị triệt tiêu bởi lời kể nhẩn nha vô tình mà thật "ác nghiệt" : " An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền , hai chị em không bao giờ mua được " và "chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn". Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi, reo lên chỉ để rồi buồn tiếc và thất vọng hơn. Cảm giác thất vọng của nhân vật chắc chắn là sâu sắc. Nhưng đâu chỉ nhân vật, độc giả cũng thất vọng không kém. Bị trói chặt bởi nhịp cầu lê thê của câu chuyện, họ đã chờ đợi bao nhiêu ở những tiếng reo kia. Thật ra, niềm thất vọng này chính là hiệu quả nghệ thuật của truyện. Sau sự hụt hẫng này, độc giả sẽ vỡ ra những ý nghĩa của đời sống mà truyện muốn hướng tới. Nghệ thuật không phải là nói thẳng mà nói vòng, còn độc giả thì có được cảm giác thật như người trong truyện. Cùng với nhân vật, họ tự nghiệm sinh các giá trị của đời. Hình ảnh thiên nhiên trong truyện đã gây cho người đọc những ấn tượng sâu đậm. Sự êm ả đượm buồn mà ta nhận thấy một phần là của thiên nhiên với tư cách là chất liệu, vật liệu, một phần là của văn. Những bức tranh nho nhỏ được gài xen kẽ với nhũng mẫu đối thoại rời rạc, không hoàn chỉnh. Chúng lấp đầy những khoảng trống của lời nói và cầm giữ nhịp điệu của thiên truyện. Giả sử tác giả viết khác đi, dồn hẳn những đoạn miêu tả thiên nhiên về một phía, và phía kia là hình ảnh sinh hoạt của con người, hẳn giọng điệu điều hoà của truyện sẽ biến mất và chủ đề của truyện sẽ khác đi. Ở đây thiên nhiên không thu hút toàn bộ thần trí con người để họ mê man trong đó. Nó gần gũi, vỗ về, khơi gợi những cảm xúc dịu dàng và bâng khuâng. Nó trổi lên đánh lạc hướng tâm trạng buồn chán của nhân vật ( và của độc giả) thông qua mùi âm ẩm của đất bụi, vẻ lung lay của bóng đèn, bóng người, ánh nhấp nháy của ngàn sao và đom đóm, tiếng động mơ hồ, khe khẽ của loạt hoa bàng rụng xuống vai...Tuy nhiên, việc đánh lạc hướng kia chỉ diễn ra từng lúc một, và nhân vật của truyện lại trở về với thực tại túng thiếu, lam lũ, để tiếp đó rơi vào trạng thái chập chờn nửa mơ , nửa thức, khắc khoải chờ mong, hi vọng ( dẫu chẳng biết hi vọng ở cái gì). Truyện sở dĩ không rơi vào nhàm tẻ dù đối tượng hàm chứa sự tẻ nhàm, chính một phần nhờ lối tả, kể xen kẽ, chắp nối đó. Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu tính nghệ thuật. Tác giả đã rất ung dung, thoải mái khi xử lí chất liệu hiện thực. Tất cả chất liệu đã được tổ chức lại nhằm khơi dậy ở người đọc những cảm xúc nghệ thuật thuần khiết . Nhà văn đưa họ vào thế giới của ông, thôi miên họ, sau đó tự để họ ngẫm nghiệm và rút ra những bài học cần thiết. Ở trên có nhắc tới "khu vườn Thạch Lam". Thực ra "khu vườn"ấy không chỉ có nghĩa là đề tài. Đó là "khu vườn" của nghệ thuật - một nghệ thuật biết vượt thoát khỏi sự trói buộc của đề tài để làm vang dậy tiếng nói riêng của nhà văn.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : HAI ĐỨA TRẺ (THẠCH LAM)

HAI ĐỨA TRẺ                                                                              Thạch Lam I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Thạch Lam (1910 - 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân. Ông cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo là những cây bút chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn. Tác phẩm chính bao gồm các tập truyện ngắn: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc, tiểu thuyết Ngày mới, tiểu luận Theo dòng, tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường. Hai đứa trẻ là truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Tác phẩm thuộc loại truyện nagứn trữ tình, qua tâm trạng của hai đứa trẻ và cảnh sống nghèo cực của những người dân nơi phố huyện nhà văn đã thể hiện những tư tưởng nhân đạo sâu sắc về thân phận con người. Và vậy, tác phẩm vừa có giá trị hiện thực, vừa thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Vận dụng các thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản, nhà văn đã đặc tả được cảnh nghèo và tương lai không mấy sáng sủa của những người dân phố huyện. Hai đứa trẻ là câu chuyện về một ngày thường như bao ngày tháng khác ở một phố huyện. Nhà văn chọn bối cảnh là một ngày chợ phiên. Và thời điểm bắt đầu truyện là cảnh chợ chiều vừa tàn. Các tình tiết được kể tự nhiên theo chiều thời gian tuyến tính. Liên và An dọn hàng và bắt đầu ngồi chờ đợi chuyến tàu đêm. Cuộc sống của chị em Liên và những người dân nơi phố huyện như vợ chồng bác Xẩm, mẹ con chị Tý, bác phở Siêu đều chẳng có gì đặc biệt. Tất cả đều bàng bạc, lặng lẽ và lầm lụi. Chuyện chợ tàn, chuyện chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua với một chút hy vọng được nhìn thấy trong một khoảnh khắc rất ngắn thứ ánh sáng sang trọng trên những toa tầu, hồi ức về những ngày sống sung sướng ở Hà Nội của hai đứa trẻ và những suy nghĩ của cô bé Liên là tất cả tình tiết cơ bản của câu chuyện. Một câu chuyện dung dị, đời thường, không tô vẽ và một lối kể chuyện như tâm tình thủ thỉ với chính mình đã tạo nên thành công cho tác phẩm. Giá trị hiện thực thể hiện ở chỗ nhà văn đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống buồn tẻ nơi phố huyện qua đó phần nào phản ánh hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam trước cách mạng. Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, đó là sự cảm thông của nhà văn đối với những kiếp người nhỏ bé, nhà văn đã lên tiếng đòi quyền sống cho những thân phận vô danh đồng thời ckhẳng định sức sống mãnh liệt không gì có thể hủy diệt được của những những người dân nơi phố huyện. Qua diễn biến nội tâm của nhân vật nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc tấm bi kịch tinh thần của những con người nhỏ bé. Những kiếp người nhỏ bé vô danh nơi phố huyện nhỏ ấy rất dễ bị xã hội lãng quên. Tâm trạng của Liên cũng là tâm trạng chung của bao người đang phải sống trong bế tắc của những thân phận nhỏ bé, nghào hèn. Nhà văn đã thể hiện một niềm cảm thông sâu sắc và tình thương yêu đối với những người không may mắn ấy. II. RÈN KĨ NĂNG 1.    Bức tranh phố huyện được nhà văn miêu tả theo trình tự thời gian tuyến tính (trước – sau). Theo đó truyện ngắn Hai đứa trẻ có thể phần làm ba cảnh: cảnh chiều xuống (chợ tàn), cảnh đêm về và cảnh đêm khuya. Cảnh chiều xuống (đoạn 1, 2): Trong đoạn này nhà văn tập trung miêu tả cảnh chợ tàn nơi phố huyện, một phiên chợ nghèo của một vùng quê nghèo. Cảnh đêm về (đoạn 3) miêu tả phố huyện đêm về với một số hoạt động bán hàng, trò chuyện của các cư dân phố huyện.  Cảnh đêm khuya (đoạn 4, 5) tái hiện lại cảnh đoàn tàu đến và không gian tĩnh lặng của phố huyện khi con tàu đi qua. Toàn bộ bức tranh phố huyện được nhìn qua tâm trạng của cô bé Liên, một cô bé đảm đang, tốt bụng với một tâm hồn đa cảm. Điều này đã làm nên chất trữ tình cho câu chuyện. Tâm trạng của Liên được miêu tả gắn liền với không gian phố huyện: buồn man mác, mơ hồ khó hiểu trước bức tranh cuộc sống nghèo phố huyện lúc chiều xuống; buồn khắc khoải trong cảnh chờ đợi một điều gì tốt đẹp hơn; buồn thấm thía khi chuyến tàu đi qua. 2. Truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện, tác giả thường đi sâu vào miêu tả nội tâm nhân vật với những cảm xúc và cảm giác mơ hồ, mong manh. Miêu tả những diễn biến nội tâm tinh tế sâu sắc của nhân vật là biệt tài của Thạch Lam. Trong Hai đứa trẻ, nhà văn đã rất thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm trạng của cô bé Liên qua đó thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Là nhân vật trung tâm của truyện những hành động của Liên không được chú tâm miêu tả. Câu chuyện như một dòng tâm trạng của nhân vật, từ khi chứng kiến cảnh chiều xuống đến khi chuyến tàu đêm đi qua. Có thể nói nhân vật Liên thuộc loại nhân vật trữ tình trong văn xuôi. Qua những cảm nhận của Liên về cảnh vật và cuộc sống xung quanh nhà văn thể hiện một nỗi buồn thấm thía và sâu sắc về số phận con người. Nỗi buồn của cô bé Liên cứ tăng tiến dần theo sự muộn dần của đêm. Khi chợ tàn và khi nhìn cảnh chiều đến, một buổi chiều êm như ru của phố huyện, lòng Liên man mác buồn mà không rõ nguyên nhân. Khi bóng đêm bao trùm phố huyện, “một đêm mùa hạ êm như nhung”, lại càng đáng sợ hơn. Cuộc sống quá buồn tẻ. Chẳng hứa hẹn một điều gì thay đổi cả. Nỗi buồn của Liên không trực tiếp thể hiện qua ngôn ngữ mà thể hiện ở ánh mắt “trong mắt chị bóng tối ngập đầy dần”, qua tâm trạng chờ đợi chuyến tàu đêm. Chị em Liên cùng những người dân phố huyện đã hàng đêm miệt mài ngồi chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua với chút hy vọng vô cùng mong manh. Liên và An háo hức chờ đợi chuyến tàu để được gặp lại chút ánh sáng của những ngày còn được sống sung túc. Những người bán hàng chờ đợi khách xuống tàu dù họ vẫn biết chẳng mấy khi có khách xuống ở cái ga xép này. Chuyến tàu là nơi gửi gắm niềm hy vọng hàng đêm của họ và nó mang đến phố huyện một luồng ánh sáng mới dù chỉ trong chốc lát để họ có thể thoát ra khỏi sự yên ả đến ghê sợ của đêm. Đó là thời điểm vui nhất của chị em Liên bởi chuyến tàu là thứ ánh sáng tinh thần duy nhất để chị hồi ức lại những ngày đã qua. Qua dòng nội tâm của nhân vật có thể thấy rằng: khi miêu tả nội tâm nhân vật, Thạch Lam chú ý và có tài trong việc diễn tả những biến đổi tinh tế, những cảm nhận mơ hồ, sự pha trộn buồn vui lẫn lộn của nhân vật. Chuyến tàu mang đến chút sôi động trong chốc lát nhưng cũng lại làm tăng lên cái ảm đạm và tĩnh mịch của đêm phố huyện. Qua diễn biến nội tâm của nhân vật nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc tấm bi kịch tinh thần của những con người nhỏ bé. Những kiếp người nhỏ bé vô danh nơi phố huyện nhỏ ấy rất dễ bị xã hội lãng quên. Tâm trạng của Liên cũng là tâm trạng chung của bao người đang phải sống trong bế tắc của những thân phận nhỏ bé, nghào hèn. Nhà văn đã thể hiện một niềm cảm thông sâu sắc và tình thương yêu đối với những người không may mắn ấy. Nhà văn đã dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối, ánh sáng ngọn đèn dầu ở hàng nước chị Tý, ở gánh phở của bác phở Siêu làm nổi bật sự mênh mông của đêm tối ở làng quê. Nghệ thuật tương phản làm người đọc cảm nhận rõ hơn sự mênh mông của đêm tối.  Còn ánh sáng đoàn tầu vụt qua trong thoáng chốc với những ồn ào và sôi động của nó càng tăng thêm sự tĩnh mịch, tăm tối và buồn tẻ nơi phố huyện nghèo. Và ánh sáng ngọn đèn dầu của chị Tý chập chờn đi vào giấc ngủ của Liên – hình ảnh kết thúc câu chuyện- đã để lại một niềm day dứt, một dư âm cho tác phẩm. Nhà văn lặp lại nhiều lần chi tiết ngọn đèn con ở hàng nước chị Tý. ánh sáng ấy nhỏ nhoi yếu ớt nhưng đêm nào cũng sáng và sáng từ chập tối đến khi cả phố huyện chìm sâu vào giấc ngủ. Có thể ánh sáng nhỏ nhoi ấy là biểu tượng cho niềm tin, hy vọng, ước mơ của những người dân nghèo nơi đây. Dù cuộc sống có tẻ nhạt, có khó khăn đến đâu họ vẫn vượt lên và vẫn hy vọng. Giống như ngọn đèn của chị Tý hàng đêm vẫn leo lét sáng giữa đêm, dù nhỏ nhoi nhưng không bao giờ lụi tắt. 4. Chuyến tàu là nơi gửi gắm niềm hy vọng hàng đêm của người dân phố huyện và nó mang đến một luồng ánh sáng mới dù chỉ trong chốc lát để họ có thể thoát ra khỏi sự yên ả đến ghê sợ của đêm. Đó là thời điểm vui nhất của chị em Liên bởi chuyến tàu là thứ ánh sáng tinh thần duy nhất để chị hồi ức lại những ngày đã qua. Chuyến tàu mang đến chút sôi động trong chốc lát nhưng cũng lại làm tăng lên cái ảm đạm và tĩnh mịch của đêm phố huyện. Nhà văn đã miêu tả rất chi tiết hình ảnh đoàn tàu đêm đi qua phố huyện. Bắt đầu từ xa, khi xuất hiện ánh đèn ghi phía xa xa rồi đến âm thanh “tiếng còi” vọng lại... rồi con tàu vụt qua trong giây lát, chấm nhỏ của chiếc đèn xanh rồi đêm tối lại bao bọc xung quanh. Cách miêu tả này đã diễn tả được tâm trạng chờ đợi chuyến tàu của chị em Liên và những người dân nơi đây. Liên và An háo hức chờ đợi chuyến tàu để được sống lại những ngày quá khứ tươi đẹp và cũng là để thoát khỏi trong giây lát cuộc sống đơn điệu đến đáng sợ. Chuyến tàu là cứu cánh tinh thần cho những con người nơi đây. Chuyến tàu vụt qua rất nhanh và thường chẳng mang lại lợi ích vật chất cho con người nơi phố huyện nhưng họ vẫn cứ chờ. Sự sôi động, sang trọng của con tàu vụt qua càng làm tăng thêm sự tĩnh mịch buồn tẻ của đêm. Họ gửi gắm ước mơ vào chuyến tàu đêm với một luồng ánh sáng phù hoa tan biến rất nhanh.  5. Lời văn của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ rất bình dị nhưng luôn thấm đượm cảm xúc, tâm trạng, đó là chất trữ tình trong văn xuôi Thạch Lam. Chẳng hạn: - “Chiều, chiều rồi… đưa vào” - “Một mùi âm ẩm bốc lên… của quê hương này” - “Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên… tịch mịch và đầy bóng tối” v.v… 6. Qua bức tranh hiện thực phố huyện nghèo nhà văn thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với con người vô danh. Cuộc sống nghèo không đáng sợ bằng cuộc sống đơn điệu và tẻ nhạt, không ước mơ. Những con người nghèo khó nơi phố huyện ấy dù nhọc nhằn đến đâu cũng vẫn ước mơ và hy vọng. Họ vẫn dọn hàng, vẫn chờ khách dù biết bán hàng chẳng được bao nhiêu. Và họ đợi chuyến tàu với biết bao nhiêu hy vọng. Qua việc tả cảnh kiên trì hàng đêm chờ tàu qua rồi mới dọn hàng, mới đi ngủ của những con người ấy, nhà văn muốn thể hiện một tư tưởng nhân văn. Đó là khẳng định sự bất diệt của khát vọng, ước mơ. Cuộc sống dù nghèo khổ, tăm tối và bế tắc đến đâu cũng không thể dập tắt được hy vọng và khát vọng của con người. Tác phẩm đã thể hiện tình thương yêu vô bờ và sự trân trọng của nhà văn đối với những thân phận nhỏ bé trong xã hội III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả … “Trong văn hóa Việt Nam trước cách mạng 1945, Thạch Lam là một trong số những nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc. Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc. Dưới cái hình thức không những thoát ra khuôn sáo cũ của cách hành văn đương thời mà lại có rất nhiều đức tính sáng tạo ấy, văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị khác và thôn quê. Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học. Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính… … Nói đến nghệ thuật của Thạch Lam, tức là nói cụ thể đến nghệ thuật viết truyện ngắn của Thạch Lam. Một số truyện ngắn của Thạch Lam có thể coi như là mẫu mực được. Có những truyện ngắn Thạch Lam, ở cái thời bấy giờ, đọc xong thấy nó đọng lại trong người ta như một câu hỏi bức thiết của tác giả, như là một lời trách móc kín đáo của nhân vật truyện. Những vi phạm vào quyền sống của hạnh phúc tuổi trẻ, những nỗi cay đắng oan uổng của cảnh bị ép duyên, đâm đầu xuống sông mà không chết ngay được, để sau đó phải mòn chết oan trái trong chuyện Hai lần chết. Nhưng cuộc sống phụ nữ hết lo cho em lại đến lo cho chồng, cứ chìm chìm, xám xám như thế quanh một cái chợ. Những Cô hàng xén tuy không lên tiếng đòi quyền sống trong truyện, nhưng qua kẽ dòng truyện, vẫn như hỏi thầm người độc giả rằng ý nghĩa cuộc sống có phải là như thế không?...      Nguyễn Tuân             (Theo Tuyển tập Thạch Lam                Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.323-329)  2. Tập Gió đầu mùa. … “Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và mới lạ. Tôi đem tâm nghĩ ngợi đến những cơn gió đột khởi ở lòng người, báo trước những sự thay đổi trong cái bí mật của tâm hồn. Tôi lại nghĩ đến những người nghèo khổ đang lầm than trong cái đói rét cả một đời. Gió heo may sẽ làm cho họ buồn rầu lo sợ, vì mùa đông sắp tới, mùa đông giá lạnh và lầy lội phủ trên lưng họ cái màn lặng lẽ của sương mù.Và lòng tôi se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đủ nâng đỡ, an ủi những người khốn ấy. Đó là những ý nghĩ mà Gió đầu mùa đã gây nên trong trí tôi. Những câu chuyện trong quyển sách này tôi viết ra cũng như những cảm giác mới mẻ mà tôi đã thấy. Tôi hết sức diễn tả cho đúng tất cả sự thực rung động và thi vị của cuộc đời. Tôi không có ý muốn kể những truyện thần tiên hay lãng mạn nhưng những cảm tưởng của tôi với các đời sống kín đáo và giản dị quanh mình. Bởi vì đối với tôi, văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”. Thạch Lam  (Lời nói đầu tập Gió đầu mùa, Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.25)  3. Về tác phẩm … “Truyện Hai đứa trẻ có một hương vị thật là man mác. Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở trong tương lai. Đây là một mẫu sinh hoạt hàng ngày và kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một cái phố huyện, gần một cái ga xép. Đêm đêm có những bóng người bình thường lù mù đi qua trước gian hàng. Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiều chấm lửa ở những nguồn ánh sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong cái bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có những tiếng động mạnh và những luồng ánh sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em đứa trẻ ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua rồi mới chịu đóng cửa hàng. Nơi cái thế giới quan của đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã thành một thói quen của cảm xúc và của ước vọng. Đọc Hai đứa trẻ, thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín…” Nguyễn Tuân (Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.325)  … “Hai đứa trẻ là một truyện không có chuyện, nhưng lại có sức gợi thật sâu xa. Hai đứa trẻ, hai chị em có trách nhiệm trông nom một chõng hàng; việc bán buôn chắc lời lãi chẳng là bao, nhưng cũng là một khoản thu phụ thêm cho gia đình nghèo. Một chõng hàng nơi phố huyện có gì mà thành chuyện! Nhưng hoạt động của cái chõng hàng đó của hai chị em, đã thành một thói quen, theo lời dặn của mẹ, phải chờ cho đến khi chuyến tàu đêm cuối cùng từ Hà Nội về, xình xịch chạy qua, cho đến khi tiếng ầm ầm của bánh xe ngớt hẳn, rồi mới dọn hàng, tắt đèn đi ngủ, lại gợi một nỗi niềm gì thật xao xác, bâng khuâng. Cái tiếng động đêm khuya ấy lại vang vào truyện một vẻ quạnh hiu, xa vắng vô cùng. Chuyến tàu đầy ánh sáng, đi qua một ga xép, tuy có lưa thưa những ánh đèn dầu, nhưng khuất đầy bóng tối; chuyến tàu đến từ Hà Nội hoa lệ, với những khách sang và hai chị em con nhà nghèo nhìn lên cái ô cửa mà thấy con tàu mang theo đi cùng tiếng động, cả một nỗi niềm gì vừa bâng khuâng vừa sâu thẳm. Hai đứa trẻ, một truyện không có chuyện, mà ngập đầy không khí và tâm trạng. Không khí một cảnh quê, nơi có một ga xép nhờ một chuyến tàu đúng giờ ấy, khắc ấy chạy qua mà mang được chút dư âm, dư vị tỉnh thành… và từ dư âm, dư vị đó mà đưa con người vào một tâm trạng buồn vui lẫn lộn, trước một cái gì vừa thuộc về quá vãng, vừa hướng tới tương lai…”. Phong Lê                       (Lời giới thiệu Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.14 -15)
Xem thêm

8 Đọc thêm

Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

CẢM NHẬN CỦA ANH (CHỊ) VỀ HÌNH TƯỢNG BÓNG TỐI TRONG TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

Ít có nhà văn nào mà hình tượng bóng tối lại đi vào tác phẩm nhiều như Thạch Lam. Có thể đậm nhạt khác nhau, nhưng trong truyện ngắn của ông, từ Nhà mẹ Lê đến Cô hàng xén, Đêm ba mươi tết, … bóng tối ấy đều xuất hiện như những ám ảnh sâu sắc trong người đọc, tiêu biểu nhất là cái bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thành một ấn tượng không thể nào quên. Đúng vậy, ít có tác phẩm nào hình ảnh đêm tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại … như một ám ảnh không dứt như trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam: tác phẩm mở đầu bằng những dấu hiệu của một “ngày tàn và kết thục bằng một “đêm tịch mịch đầy bóng tối”, ở trong đó, màu đen, bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả; đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối, tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Một tiếng trống cầm canh ở huyện, đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi cùng chìm ngay vào bóng tối… Cả đoàn tàu từ Hà Nội mang ánh sáng lướt qua trong phút chốc rồi cũng “đi vào đêm tối” … Người đọc cảm nhận đây không chỉ là đêm tối của thiên nhiên, của không gian và thời gian, mà còn là bóng tối của cuộc đời, của những kiếp người nơi phố huyện. Một bức tranh thiên nhiên đầy ấn tượng, được vẽ lên bằng những nét bút tinh tế, lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong cái phông của khung cảnh bống tối dày đặc này, là những mảnh đời của những con người sông trong tăm tôi. Họ là những con người bình thường, chỉ xuất hiện thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng, từ hình ảnh mẹ con chị Tí với hắng nước tồi tàn đên một gia đình nhà xẩm sông lê la trên mặt đất, cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh tìm tòi … Tất cả họ không được Thạch Lam miêu tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân, sô phận … nhưng có lẽ nhờ thế mà sô" phận họ hiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ giống như những cải bóng lầm lũi, lặng lẽ trong cái bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả phố huyện. Bóng tối ấy bủa vây kín mít khiên cho ngọn đèn leo lét của hàng nước chị Tí “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” và ánh lửa từ thùng phở bác Siêu cũng chỉ hắt ra một vầng sáng con con. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh ngọn đèn chị Tí cứ trở đi trở. lại đến bảy lần trong mấy trang truyện ngắn như một biểu tượng đầy ám ảnh về những kiếp sông nhỏ nhoi leo lét, vô nghĩa giữa đêm tối mênh.mông của cuộc đời. “Ngọn đèn và ánh lửa cuộc đời” ấy thật yếu ớt và tội nghiệp gợi lên niềm xót xa thương cảm trong lòng người đọc trước một cảnh sống, mỏi mòn và ngưng đọng. Cảnh phô’ huyện chiều tối hôm nay cũng giống như hôm qua và sẽ lặp lại trong ngày mai: mẹ con chị Tí lại lễ mễ dọn hàng, bác phở Siêu lại gánh hàng ra và thổi lửa, bác xẩm lại rải chiếu và bày cái thau sắt… Nhịp sống ấy cứ lặp đi lặp lại ngày này sang tháng khác, đơn điệu, uể oải, buồn tẻ. Và càng đau xót, ám ảnh hơn khi cái bóng tối ấy đã len vào con người, hủy hoại cuộc sống con người, làm cho tâm hồn họ bị chai sạn và xơ cứng. Mà con người đó lại là những em bé mới lớn, còn ngây thơ trong trắng. Mở đầu tác phẩm ta bắt gặp hình ảnh Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều xuyến thấm vào tâm hồn ngây thơ của chị” và “chị thấy buồn man mác trước cái giờ khấc của ngày tàn”. Thạch Lam không miêu tả tỉ mỉ đời sống vật chất của Liên, nhà văn chủ yếu đi sâu thể hiện thế giới tinh thần của nhân vật với nỗi buồn man mác, mơ hồ của một cô bé không còn hoàn toàn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Tác giả gọi “chị” vì quả Liên là một người chị biết quan tâm săn sóc em, biết đảm đang tảo tần thay mẹ, nhưng tâm hồn Liên thì vẫn còn là tâm hồn trẻ dại với những khao khát hồn nhiên, thơ ngây, bình dị. Một tâm hồn như thế mà “buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn" thì thật thấm thía biết bao, đáng cho ta suy nghĩ biết bao về cảnh sống lúc bây giờ nơi phố huyện. Liên đã nhìn thấy những con người bé nhỏ, tội nghiệp lầm lũi đi vào bóng tối: mẹ con chị Tí bán hàng nước, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm và bà cụ Thi điên cười sằng sặc … Cuộc đời Liên cũng đã âm thầm đi vào bóng tối từ lúc nào, cô đã sống trong cái bóng tối dày đặc của phố huyện từ bao lâu … mà đến nay, “đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa”. “Không sợ nó nữa” nghĩa là đã từng sợ. Chỉ mấy từ “không sợ nó nữa” mà gợi ra bao liên tưởng. Hẳn là Liên đã từng sợ cái bóng tối dày đặc đã từng bao vây những ngày đầu mới dọn về đây. Còn bây giờ Liên đã “quen lắm”. Sống mãi trong bóng tối rồi cũng thành quen cũng như khổ mãi người ta cũng quen dần với nỗi khổ. Có một cái gì tội nghiệp, cam chịu qua hai từ “quen lắm” mà nhà văn đùng ở đây. Và người đọc cũng cảm thấy xót xa khi một tâm hồn thơ ngây non trẻ đã bị vùi sâu trong bóng tối của cuộc đời đến mức thành chai sạn. Một câu văn ngắn mà hàm chứa bao ý nghĩa, để lại nhiều dư vị, dư vang. Cuối cùng là những con người dường như đã chìm ngập trong cái bóng tối của cuộc đời không còn biết gì đến ánh sáng nữa như gia đình, bác xẩm lê la trên manh chiếu rách và “ngủ gục trong bóng tối tự bao giờ”, như bà cụ Thi lảo đảo đi vào bóng tối và mất hút trong cái bóng tối ấy. Những người khác còn lại chút ánh sáng thì mong manh yếu ớt biết bao: ngọn đèn trên chõng hàng nước chị Tí “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”, ánh lửa từ thùng phở bác Siêu cũng chỉ hắt ra một vầng sáng con con còn ngon đèn của “hai đứa trẻ” chỉ là “những hột sáng lưa thưa lọt qua phên nứa” … Bóng tối của phố huyện đã bủa vây mịt mùng, kín mít, ngự trị lên cuộc đời nghèo nàn, tăm tối của họ … Hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ chính là hiện thực cuộc đời lúc bấy giờ: cuộc đời của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và nói rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo. Hình tượng bóng tối là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam, gieo vào lòng ta một niềm xót thương vô hạn đối với những kiếp người như thế, và hơn bảy thập kỉ qua, nó vẫn là một ám ảnh sâu sắc không thôi đối với nhiều thế hệ người đọc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

LUYEN TAP ON THI HK1 2015 2016

LUYEN TAP ON THI HK1 2015 2016

cha mẹ. Có thể nói; tuổi thơ của một đứa trẻ nghèo như Liên chẳng còn,thật đáng cảm thông, thương xót.Thật đáng trân trọng là tình cảm của Liên giành cho những đứa trẻ nghèo ở phố huyện nhặt rác lúc chợ tàn…,lễ phép với cụ Thi hơi điên ; thông cảm với nỗi vất vả của mẹ con chị Tí phải kiếm sống mỗi ngày từ sáng sớmđến đêm khuya… Liên cảm nhận được cuộc sống vô vị, buồn tẻ, tăm tối của người dân nơi đây. Họ như nhữngcái bóng âm thầm trong đêm và bóng tối cuộc đời đang bao phủ họ.Đặc biệt, sống giữa cảnh đói nghèo , tăm tối nhưng Liên luôn là một cô bé có ước mơ và khát vọng: Điều ấyđược thể hiện ở việc Liên và em đêm đêm đợi tàu không phải để mong bán được thêm hàng mà là nỗi háo hứcđược nhìn một hình ảnh sống động, nhộn nhịp đầy ánh sáng …từ Hà Nội đi qua. Bởi lẽ, con tàu đối với Liên vàem còn là những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm…ở Hà Nội , để từ đó hướng đến tương laiTóm lại, có thể nói Liên là một nhân vật vừa đậm chất hiện thực vừa đậm chất trữ tình được xây dựng quangòi bút tài hoa của Thạch Lam. Hình ảnh cô gái mới lớn này mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ ViệtNam ( công ,dung, ngôn, hạnh) , để lại trong cảm xúc của người đọc những ấn tượng sâu đậm, ngọt ngào, dễthương của một thời Thạch Lam mà hôm nay vẫn còn trân trọng.*Đề 7: Phân tích bức tranh chiều tàn ở phố huyện nghèotrong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.------------Thạch Lam ( 1910-1942) ,là người đôn hậu, điềm đạm, rất đỗi tinh tế .Ông là một cây bút tài hoa, có biệt tài vềtruyện ngắn - truyện nhưng không có chuyện.Tác phẩm của ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật vớibiết bao cảm tưởng , cảm giác mơ hồ , mong manh …làm đọng lại trong lòng người đọc nhiều dư vi. Một trongnhững tác phẩm thể hiện sức hấp dẫn trong nghệ thuật viết văn ấy của Thạch Lam là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” .Ở đây, nhà văn đã thật thành công trong việc ghi lại bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người với bao cảmxúc vui buồn của con người vào lúc chiều tàn nơi phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.Trước hết là cảnh không gian, tạo vật khi chiều tàn hiện lên dưới ngòi bút : đẹp, nên thơ, bình dị, gần gũi,quen thuộc nhưng đượm buồn. được hiện lên với nhiều âm thanh, màu sắc, hình ảnh và đường nét ( Tiếngtrống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve; phương Tây đỏ rực, đám mây ánh hồng , dãy tre làngđen lại…) . Khung cảnh ấy được nhà văn thể hiện qua những câu văn êm dịu, uyển chuyển, tinh tế. Mỗi câu nhưmột nét vẽ đơn sơ , không cầu kỳ kiểu cách nhưng lại gợi được cái hồn của cảnh vật , cái thần thái của thiênnhiên …Mỗi câu văn như mở ra một cảnh : cảnh trước gọi cảnh sau rất độc đáo và ấn tượng… Có thể nói, khônggian phố huyện lúc chiều tàn hiện lên Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi , bình dị và gợi cảm , không
Xem thêm

39 Đọc thêm

Soạn bài : Bức tranh của em gái tôi

SOẠN BÀI : BỨC TRANH CỦA EM GÁI TÔI

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài BỨC TRANH CỦA EM GÁI TÔI (Tạ Duy Anh) I. VỀ TÁC GIẢ Nhà văn Tạ Duy Anh (các bút danh khác: Lão Tạ, Chu Quý, Bình Tâm) tên khai sinh là Tạ Viết Dãng, sinh năm 1959; quê quán: Hoàng Diệu, Chương Mĩ, Hà Tây; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hiện công tác tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tác phẩm đã xuất bản: Bước qua lời nguyền (tập truyện, 1990), Khúc dạo đầu (tiểu thuyết, 1991), Lão Khổ (tiểu thuyết, 1992), Hiệp sĩ áo cỏ (truyện vừa cho thiếu nhi, 1993), Luân hồi (tập truyện, 1994); ánh sáng nàng (tập truyện, 1997); Quả trứng vàng (tập truyện thiếu nhi, 1998); Vó ngựa trở về (tập truyện thiếu nhi, 2000)... Nhà văn đã được nhận: Giải thưởng truyện ngắn nông thôn (báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức); Giải thưởng truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ quân đội; Giải thưởng truyện ngắn trong cuộc thi viết "Tương lai vẫy gọi" của báo Thiếu niên Tiền phong; Hai giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng cho hai tập truyện: Quả trứng vàng và Vó ngựa trở về.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ] II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Có thể kể: Kiều Phương là cô bé hay lục lọi đồ vật và bôi bẩn mặt mình. Người anh trai đặc biệt hiện cho cô bé là Mèo. Nhờ bé Quỳnh mà chú Tiến Lê họa sĩ phát hiện ra Kiều Phương có tài năng hội họa. Cả nhà đều vui mừng. 2. a) Nhân vật trong truyện gồm có người anh, Kiều Phương, bố mẹ của hai anh em, bé Quỳnh, chú Tiến Lê. Nhân vật được nói đến nhiều nhất là người anh và Kiều Phương. Có thể khẳng định cả hai đều là nhân vật chính của truyện. Tuy nhiên, nhân vật người anh là nhân vật mà tác giả muốn thể hiện chủ đề thái độ và cách ứng xử trước tài năng và thành công của người khác. Nhân vật người anh là nhân vật quan trọng nhất trong câu chuyện. b) Truyện được kể theo lời của nhân vật người anh. Cách kể này có tác dụng: tạo ra sự gần gũi về tâm lí của nhân vật người anh và Kiều Phương. Mặt khác nó giúp cho nhân vật kể chuyện tự soi xét, đánh giá những tình cảm, ý nghĩ của mình, bộc lộ một cách chân thành những ý nghĩa thầm kín. 3. a) Diễn biến của tâm trạng người anh qua các thời điểm - Từ trước cho đến khi thấy em tự chế màu vẽ: Người anh tỏ ra người lớn, đặt tên em là Mèo, cho việc chế màn vẽ là chuyện trẻ con. - Khi tài năng hội họa của em được phát hiện thì anh có mặc cảm thua kém, và ghen tị. Việc lén xem những bức tranh của em vẽ và trút tiếng thở dài chứng tỏ người anh thực hiện tài năng của em và sự kém cỏi của mình. - Khi đứng trước bức tranh được giải của em thì người anh ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ". b) Người anh khi biết em gái có tài hội họa đã không thể thân với em gái như trước kia được vì mấy lẽ: - Anh cảm thấy mình bất tài, thua kém em. - Anh cảm thấy mọi người chỉ chú ý đến em gái, còn anh ta thì bị đẩy ra ngoài. - Anh cảm thấy ghen tị với em. Những lý do đó mà cho anh ta "gắt um lên", "khó chịu" hay quát vắng. Và những điều này lại làm cho anh ta thêm xa lánh em. c) Tâm trạng của người anh đứng trước bức tranh "Anh trai tôi". Thoạt tiên ngỡ ngàng vì anh không ngờ anh chàng hay cáu gắt với em, ghen tị với em, mà người em vẫn quý mến anh ta, chọn anh ta để vẽ. Anh còn ngỡ ngàng vì người đã vẽ anh rất đẹp một con người hoàn hảo, mơ mộng, suy tư, chứ không phải là người anh hay cáu gắt, mắng rủ, ghen tị. Người anh tự hào, hãnh diện vì anh được thể hiện rất đẹp, được bao hàm nhiều người chiêm ngưỡng. Cũng có phần hãnh diện vì đưa em gái có trí. Sau đó người anh xấu hổ: Anh xấu hổ vì đã cư xử không đúng với em gái. An xấu hổ vì con người thật của anh ta không xứng đáng với người ở trong tranh. 4. Đoạn kết của truyện, người anh muốn khóc và không thể thốt ra những suy nghĩ trong đầu: "Không phải con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy". Đoạn kết này cho thấy người anh đã nhận ra những điều không phải của mình. Anh thừa nhận anh chưa được đẹp như người ở trong tranh. Và điều quan trọng hơn, anh đã nhận ra tâm hồn và lòng nhân hậu của em gái. Trước đó chỉ là sự ghen tị, xa lánh, thì giờ đây, anh đã nhận ra được ver đẹp tâm hồn và sự nhân hậu của người em. Nhân vật người anh đã vượt lên chính mình, thấy sự kém cỏi trong nhân cách của mình và thừa nhận sự nhân hậu, tốt đẹp của người khác. Đó là một sự giác ngộ lớn. Nhân vật người anh do đó giành được sự cảm tình của mọi người. 5. Nhân vật Kiều Phương là một cô bé hồn nhiên. Phương tạo chế màn vẽ, ham học vẽ. Cái tên Mèo (lem nhem, xấu xí) do người anh đặt không hề làm cho Phương mếch lòng. Khi được phát hiện có tài năng hội họa, Phương vẫn đối xử bình thường với mọi người. Người anh dù xét nét gắt um lên, nhưng Phương vẫn yêu quý anh, vẫn chọn anh làm đối tượng vẽ tranh vì anh là "thân thuộc nhất". Kiều Phương là người độ lượng và nhân hậu. Và sự nhân hậu đó đã làm cho người anh có cái nhìn đúng hơn về mình và mọi người. III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt Câu chuyện kể về người anh và cô em gái có tài hội hoạ tên là Kiều Phương - thường gọi là Mèo. Khi tài năng hội hoạ của em gái được phát hiện, người anh thấy buồn, thất vọng vì mình không có tài năng và cảm thấy mình bị cả nhà lãng quên. Từ đó, cậu nảy sinh thái độ khó chịu, hay gắt gỏng với em gái và không thể thân với em như trước. Đứng trước bức tranh đạt giải nhất của em gái, cậu bất ngờ vì hình ảnh mình qua cái nhìn của em. Người anh nhận ra những yếu kém của mình và hiểu được tâm hồn và tấm lòng nhân hậu của cô em gái. 2. Lời kể Trên cơ sở các chặng phát triển tình huống truyện, có thể vào ngôi thứ nhất để thể hiện giọng tự truyện (vừa thể hiện diễn biến sự việc, vừa thể hiện diễn biến nội tâm của nhân vật người anh); cũng có thể sắm vai người em để kể lại chuyện (thể hiện cảm nghĩ của mình về người anh). 3. Viết một đoạn văn thuật lại tâm trạng của người anh trong truyện khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái. Gợi ý: Tham khảo đoạn văn sau. Người anh trai đứng xem bức tranh với bao tâm trạng. Anh vô cùng ngạc nhiên và xúc động vì chẳng bao giờ nghĩ người trong bức tranh kia chính là mình. Từ ngạc nhiên, người anh cảm thấy ngỡ ngàng vì người trong tranh kì diệu quá, đẹp hơn cả sức tưởng tượng của mình. Nhìn bức tranh, người anh hãnh diện vì mình có được một cô em gái vừa tài năng lại vừa có tâm hồn nhân hậu bao la. Nhưng cũng chính vào lúc ấy, góc khuất trong tâm hồn khiến người anh cũng vô cùng xấu hổ. Anh đã có những lúc cư xử không đúng với cô em gái nhỏ. Anh lại giận mình vì chẳng có một chút năng khiếu gì. Bao nhiêu những cảm giác xáo trộn trong lòng khiến người anh vừa ngất ngây lại vừa choáng váng. Đứng trước bức tranh của cô em gái, đứng trước phần tốt đẹp của mình, cái chưa toàn vẹn trong tâm hồn của người anh như bị thôi miên, thẫn thờ và câm lặng. 4. Giả định một thành viên trong lớp hoặc trong gia đình em đạt được thành tích xuất sắc nào đó. Thử hình dung và tả lại thái độ của những người xung quanh trước thành tích ấy. Gợi ý: Để viết được bài miêu tả, cần suy nghĩ về các trạng thái tình cảm trước (buồn, vui, hờn giận, ganh tị, ngạc nhiên, sung sướng, thấy đó là động lực,…). Có thể chọn một trạng thái để miêu tả hoặc khéo léo kết hợp hai hay nhiều trạng thái cảm xúc đã nêu trên. Học cách miêu tả trong bài hoặc trong đoạn văn trên.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bức tranh tứ bình về Việt Bắc

PHÂN TÍCH BỨC TRANH TỨ BÌNH VỀ VIỆT BẮC

Bài 1: I/Mở bài - Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình tha thiết về Việt Bắc, quê hương của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. - Ở đó, bên cạnh cách những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp: Ta về, mình có nhớ ta Ta vê, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. II/Thân bài : * Nhận xét chung : Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hoà quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của nhà thơ cách mạng. Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn tả tâm tình của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 năm gắn bó với bao tình cảm máu thịt. 1/Hai câu đầu : Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi: Ta về, mình có nhớ ta Nhưng thực ra, hỏi chỉ để mà hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ để giải bày nỗi lòng của mình: Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Câu thơ có nhịp điệu êm ái nhờ những điệp từ tạo và các thanh bằng (6/8) như một lời ru, một câu hát không chỉ diễn tả tâm trạng tha thiết của nhân vật trữ tình. Đây còn là lời ngợi ca về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Trong ngôn ngữ Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu trưng về thiên nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa bên cạnh người là sự tôn vinh về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Vả lại, hoa và người hoà quyện, gắn bó với nhau. Nói tới thiên nhiên không thể nói đến con người và ngược lại, những con người ấy đã ở trong một thiên nhiên đẹp, gần gũi. 2/ Tám câu thơ sau : - Nhận xét : Bốn câu thơ lục bát còn lại là một bức tranh liên hoàn về con người và thiên nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình (xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội hoạ cổ truyền của dân tộc trong khi miêu tả thiên nhiên. Mỗi một câu thơ khắc hoạ một bức tranh cụ thể nhưng cũng có thể ghép lại thành một bộ liên hoàn: - Bức tranh thứ nhất: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trên cái nền xanh bạt ngàn của rừng, nổi bật lên hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi. Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ cổ ( Cỏ non xanh rợn chân trời – cành lê trắng điểm một vài bông hoa; Nguyễn Du ) tỏ ra rất hữu hiệu. Giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan toả. Vì thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ; trái lại, gần gũi, thân thiết với con người: Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Cũng là cách điểm xuyết những hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh. Hơn nữa, cách điểm xuyết ấy rất độc đáo: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy (nắng ánh) của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyển động. Thơ ca là một nghê thuật của thời gian. Với những nghệ sĩ tài hoa đó, việc tạo dựng nên những lớp thời gian chồng lấp và không gian không bất động, bất biến mà ngang sức sống nhờ sự tái sinh của những lớp ngôn từ. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng là một câu thơ như thế. - Bức tranh thứ hai Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Khác bức tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian (Ngày xuân). Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian: Ngày xuân mở nở trắng rừng Cách điệp âm (mơ/nở; trắng/rừng) cùng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra một không gian vừa rộng lớn, vừa có sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánh) để diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực (tiềm ẩn) của thiên nhiên. Trên cái nền không gian rộng lớn và náo nức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt độnh có vẻ tỉ mỉ: …Người đan nón chuốt từng sợi giang. Nhiều người nói câu thơ ca ngợi “dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa” trong “công việc thầm lặng” của người Việt Bắc (1). Có người nói “dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh co gái Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng” (2). Câu thơ có hình ảnh ấy. Con người Việt Bắc trong hoài niệm của Tố Hữu là như thế. Nhưng đó là hình ảnh thực. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh kia chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhặt, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc ghi trong tâm khảm. - Bức tranh thứ ba Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Câu thơ mở đầu bằng âm thanh ( ve kêu ), nhưng cũng là cách định vị bằng thời gian (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn ràng, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên. Nếu nói thiên nhiên cũng có đời sống riêng của nó thi đây quả thực là ngày hội của cảnh vật. Vì vậy, trong “ngày hội” ấy hình ảnh cô em gái hái măng một mình không lẻ loi mà góp phần tạo nên bức tranh thơ hoàn chỉnh: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hoà quỵên, cùng tôn vinh lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca ngợi, tôn vinh sự hài hoà đó. Và chính sự hài hoà đó đã tạo nên chất thơ. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trưng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực. - Bức tranh thứ tư Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian (rừng thu). Đến đây, ta chú ý các kiểu định vị ở những câu thơ trên: Rừng xanh => không gian Ngày xuân => thời gian Ve kêu => âm thanh ( thời gian ) Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên (mùa thu). Nhưng có lẽ vì đó là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơn: Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông nhưng không lạnh lẽo. “Trăng rọi hoà bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình ấy, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp ấy, có biết bao nhiêu nghĩa tình sâu nặng. Thơ Tố Hữu là khúc hát của tự do, của ân tình cách mạng. Bản thân cuộc đời ân tình ấy, đối với nhà thơ, luôn là bài ca sâu nặng. Vì thế, nhà thơ không chỉ cảm, nghĩ về cuộc đời mà cất tiếng ca ngợi. Tiếng hát ân tình thuỷ chung trong bài thơ Việt Bắc là tiếng hát như thế. - Đánh giá : Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, nguời ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của quá khứ và thời gian càng lùi xa thì ấn tượng ấy càng trở nên tươi đẹp, huyền ảo hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ ( 5 từ ) trong một khổ thơ như là sự nối dài của lòng hoài niệm không dứt. III/ Kết bài - Việt Bắc là bài thơ hay của Tố Hữu. Ở đó, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca. Sự tài hoa ấy được dẫn dắt của một điệu tâm hồn đầy tình nghĩa của nhà thơ. - Đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh một nghệ thuật thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại trong một điệu tâm hồn say đắm. Bài 2: Phân tích đoạn thơ tả bức tranh tứ bình : Ta về mình có nhớ ta ……………………. Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung . I .Mở bài Tố Hữu ( 1920-2002) được đánh giá là lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam .Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú , giàu giá trị và một phong cách nghệ thuật độc đáo mang tính trữ tình-chính trị sâu sắc , đậm đà tính dân tộc . Rất tiêu biểu cho những tìm tòi sáng tạo không ngừng của nhà thơ là bài thơ Việt Bắc .Có thể nói , tinh hoa của tác phẩm lắng đọng trong mười câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc : “ Ta về mình có nhớ ta , Ta về , ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh , dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” II.Thân bài 1.Giới thiệu chung Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10-1954 , ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi , các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội . Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc , nay từ biệt chiến khu để về xuôi . Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó . Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt , đầy xúc động bâng khuâng . Tố Hữu đã vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống , sử dụng sáng tạo cặp đại từ nhân xưng mình-ta , lối đối đáp quen thuộc của ca dao , giọng thơ tâm tình ngọt ngào , lời thơ đậm sắc thái dân gian để mở ra bao nỗi niềm nhớ thương , bao kỉ niệm về một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng . Qua đó nghĩa tình gắn bó thắm thiết thuỷ chung của những người kháng chiến với nhân dân, với Việt Bắc , với đất nước được bộc lộ một cách thấm thía , chân thành , cảm động . Phần đầu của bài thơ , dưới hình thức đối đáp giữa mình và ta , đã tập trung khắc hoạ một khung cảnh tiễn đưa đầy thương nhớ , bịn rịn , bồn chồn , lưu luyến của kẻ ở người đi . Qua lời đối đáp ân tình , cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp . 2.Phân tích đoạn thơ Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là ấn tượng không phai về những người dân hoà quyện với thiên nhiên , núi rừng tươi đẹp : Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ , nhưng hỏi chỉ là cái cớ để bộc lộ chiều sâu tình cảm . Điệp từ “ta” và “nhớ” khẳng định , nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về thủ đô. Phép liệt kê “ những hoa cùng người” nêu lên đối tượng của nỗi nhớ . Đó là những gì tươi đẹp nhất của chiến khu . Hoa là kết tinh hương sắc của thiên nhiên còn người là kết tinh vẻ đẹp của đời sống xã hội . Xét cho cùng , người cũng là một loại hoa của đất . Hoa và người đặt cạnh nhau càng tôn tạo vẻ đẹp cho nhau , làm sáng lên cả không gian núi rừng Việt Bắc trùng điệp . Những câu thơ tiếp theo tập trung tái hiện cụ thể , chân thực vẻ đẹp bốn mùa của chiến khu . Cảnh và người hoà quyện , đan xen vào nhau , cứ câu thơ lục tả cảnh thì câu thơ bát tả người . Mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng tạo thành một bức tranh tứ bình tràn ngập ánh áng , màu sắc , đường nét , âm thanh vui tươi , ấm áp . Mở đầu cho bức tranh tứ bình là khung cảnh mùa đông : Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Nhớ về mùa đông Việt Bắc , nhà thơ không nhớ về cái giá rét âm u mà lại nhớ tới những ngày nắng đẹp rực rỡ . Biện pháp tiểu đối “ rừng xanh” với “hoa chuối đỏ tươi” đã tái hiện một không gian rừng núi mênh mông , bạt ngàn màu xanh tươi của cây cỏ , ẩn hiện trong sắc xanh sống động đó là những bông chuối rừng ngời ngời sắc đỏ như những ngọn đuốc . Hai gam màu ấm nóng kết hợp với nhau tạo cảm giác vui tươi , làm ấm cả không gian , tạo ám ảnh trong tâm hồn con người . Trong núi rừng ấy không chỉ có những bông chuối đỏ tươi mà còn có những con người vượt lên không gian , xuất hiện trên đỉnh đèo cao ở tư thế đầy kiêu hãnh , xuất hiện trong ánh sáng lấp lánh của mặt trời phản chiếu vào chiếc dao đi rừng gài ngang lưng . Hình bóng con người lồng lộng trong không gian , giữa núi và nắng, giữa trời và rừng xanh chính là kết tinh vẻ đẹp của núi rừng , là điểm nhấn của núi rừng . Hai câu thơ tiếp khắc hoạ cảnh mùa xuân : Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Hai động từ “nở trắng” đặt cạnh nhau vừa diễn tả bước đi của mùa xuân vừa nhấn mạnh vào màu sắc của Việt Bắc ngày xuân . Mùa xuân đến đem theo sức sống mới , làm cho từng cây , từng cây mơ nở hoa trắng rồi dần dần làm cho cả núi rừng tràn ngập sắc hoa trắng tinh khiết , dịu dàng , thơ mộng . Màu trắng của hoa mơ lấn át các màu sắc khác làm cả khu rừng như toả sáng , khiến cho lòng người không khỏi xao xuyến , bâng khuâng , nhung nhớ . Và nhà thơ đã nhớ đến những người đan nón . Hành động chuốt từng sợi giang là biểu hiện của sự cần mẫn , khéo léo , tài hoa trong tâm hồn , tính cách người dân Việt Bắc . Họ nhẫn nại , tỉ mỉ trong từng cử chỉ để tạo ra những sản phẩm đẹp cho đời . Câu thơ chứa đựng một thái độ trìu mến , thân thương , trân trọng những người lao động của nhà thơ Tố Hữu . Tiếp đến , mùa hè chiến khu hiện lên trong âm thanh và màu sắc không thể nào quên : Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Qua cách miêu tả của nhà thơ , tiếng ve râm ran như khúc nhạc rộn rã không chỉ làm cho núi rừng vang động mà còn làm cho màu sắc cây lá biến đổi . Động từ “đổ vàng” đã diễn tả tài tình sự thay màu đột ngột của rừng phách . Khi tiếng ve vang lên báo hiệu hè đến , cả rừng phách xanh tươi bỗng khai nở muôn nghìn cánh hoa màu vàng óng ả như được trộn bằng mật ong và nắng rừng ngọt ngào . Trong giàn nhạc và thảm hoa ấy , nhà thơ nhớ đến một người em gái . Cô sơn nữ một mình trong núi rừng không gợi ấn tượng buồn hiu hắt mà lại mang vẻ đẹp khoẻ khoắn vì cô hiện lên trong tư thế lao động vất vả , giản dị nhưng cũng rất thơ mộng , vui vẻ . Nhớ về mùa thu , nhà thơ không thể nào quên ánh trăng : Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung Câu thơ mở ra một không gian tràn ngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp núi rừng chiến khu . Ánh trăng ấy không chỉ mang vẻ đẹp tự nhiên mà nó còn gắn với niềm xúc động của những con người từng trải qua bao năm khốc liệt , gian khổ của chiến tranh . Trong khu rừng thấm đẫm ánh vàng ấy bỗng ngân nga lên tiếng hát ân tình làm rạo rực lòng người .Tiếng hát bộc lộ lòng người , bộc lộ tâm hồn thuỷ chung , tình nghĩa của con người Việt Bắc cũng chính là tấm lòng của người về xuôi với chiến khu . Thế nên dường như ánh trăng cũng ngời sáng hơn và tiếng hát cũng du dương và vang xa hơn. Như vậy , nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng VB với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa thơ mộng , thi vị , riêng biệt , độc đáo , khác hẳn những miền quê khác của Tổ quốc . Gắn liền với cảnh là những con người lao động bình dị nhưng chính họ đã gióp phần to lớn tạo nên chiến tháng vĩ đại của dân tộc . Chỉ những người gắn bó sâu nặng , coi VB là quê hương thân thiết mới có những xúc cảm , ấn tượng và nỗi nhớ da diêt như thế . Nỗi nhớ VB còn được tác giả khắc sâu và mở rộng trong những đoạn thơ sau của tác phẩm . Theo dòng hoài niệm , VB trong kháng chiến hiện lên vừa gian khổ vừa hào hùng với niềm tin vào Đảng , vào Bác Hồ vĩ đại , với cảm hứng ngợi ca đất nước sâu sắc . III. Kết bài . Đoạn thơ ngắn 10 dòng trên mang âm điệu ngọt ngào , từ ngữ trong sáng giản dị giàu sức gợi , in đậm phong cách thơ Tố Hữu đã bộc lộ sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với Việt Bắc . Qua nỗi nhớ , niềm trân trọng tha thiết của nhà thơ , cảnh và người VB hiện lên thật gần gũi , chân thực mà thơ mộng , trữ tình. Thông qua tình cảm riêng của mình , Tố Hữu đã nói lên tình cảm của cả một thế hệ với quê hương đất nước , đã ngợi ca tình nghĩa thuỷ chung ân tình của nhân dân ta . (Sưu tầm) . Bài 3hân tích bức tranh tứ bình về Việt Bắc Cuộc chia tay đầy lưu luyến nhờ thương giữa những người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc được nhà thơ Tố Hữu phản ánh trong bài thơ “Việt Bắc” như cuộc chia tay của một đôi bạn tình. Ta và mình đã sống với nhau mười lăm năm keo sơn gắn bó, giờ đây phải chia tay để làm nhiệm vụ mới. Bài thơ được kết cấu theo lối hát đối đáp dân tộc. Đoạn trích dưới đây là lời của người cán bộ kháng chiến nói lên nỗi yêu thương nhớ của mình đối với Việt Bắc, với thiên nhiên tươi đẹp và với con người Việt Bắc tình nghĩa” ”..Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Mở đầu đoạn thơ, người cán bộ kháng chiến hỏi Việt Bắc có nhớ “ta” không và diễn tả nỗi nhớ của mình với Việt Bắc một cách khái quát: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người” Điệp từ “Ta về” và “nhớ” tăng cường nhạc điệu êm ái hợp với tình cảm thương nhớ và nhấn mạnh tình cảm tha thiết giữa người đi kẻ ở. Trong nỗi nhớ của người ra về, ấn tượng sâu đậm nhất là “hoa” và “người”. “Hoa” là biểu tượng của thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp. Đặt “hoa” bên cạnh “người” làm tôn lên niềm yêu mến trân trọng của người đối với nhân dân các dân tộc Việt Bắc tình nghĩa. Đoạn thơ còn lại diễn tả nỗi nhớ dào dạt của người về xuôi đối với Việt Bắc. Nỗi nhớ hiện lên trong từng thời gian và không gian của Việt Bắc. Người ra về nhớ cả hình ảnh bốn mùa của Việt Bắc. Cũng là cái cớ để nhà thơ phác họa vẻ đẹp rực rỡ và thơ mộng của núi rừng và gợi hình ảnh của nhân dân Việt Bắc ân tình thủy chung. Đây là mùa đông với màu xanh tha thiết lại đột ngột bùng lên màu “hoa chuối đỏ tươi” như ngọn lửa của rừng, ấm áp tìn yêu: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao ánh nắg dao gài thắt lưng” Vẻ đẹp của màu sắc, của hoa lá, của ánh sáng, của hương hoa hòa quyện với vẻ đẹp của con người. Giữa “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” đã nổi bật lên hình ảnh người lao động miền núi: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Tố Hữu quan sát rất tinh. Người đi rừng bao giờ cũng có một con dao trần dắt lưng lấp lánh ánh sáng mặt trời. Hình ảnh “đèo cao ánh nắng”… ấy làm sao mà quên được? “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Bức tranh mùa xuân lại được chuyển sang gam màu lạnh. Ngày xuân rừng núi phủ một màu trắng tinh khiết của hoa mơ. Động từ “nở” khiến cho màu sắc như đang vận động, màu trắng càng có sức ám ảnh đối với người đọc. Dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái lao động Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Mùa hè, âm thanh của tiếng ve là đặc trưng của rừng núi Việt Bắc: “Ve kêu rừng phách đổ vàng” Tác giả đã sử dụng bút pháp ấn tượng . Tưởng chừng như tiếng “ve kêu” đậm đặc, rung chuyển cả cây rừng khiến cho lá “phách đổ vàng”, Ấn tượng ấy mang lại nét lạ cho phong cách thơ Tố Hữu. Giữa cảnh rừng mua hè, bất chợt gặp một cô gái “hái măng một mình”, phong cảnh thật là hữu tình. Cảnh thu Việt Bắc lại được miêu tả về đêm với bầu trời cao rộng và mảnh trăng thu thanh bình. “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Những đêm trăng thu nổi lên “tiếng hát ân tình thủy chung” như tạc vào trong dạ của người ra đi. Trong trí nhớ của họ, phong cảnh Việt Bắc đầy màu sắc như một cái nền để làm nổi bật hình ảnh người Việt Bắc đảm đang,tình nghĩa, thủy chung. Như vậy là màu sắc, đường nét, âm thanh của rừng núi Việt Bắc được miêu tả trong sự vận động của thời gian, không gian. Mùa nào, cảnh rừng Việt Bắc cũng đẹp, cũng nên thơ đáng yêu, đáng nhớ. Có thể coi đấy là bộ tranh tứ bình đặc sắc của cảnh rừng Việt Bắc kháng chiến in đậm trong tâm trí của người về. Đây là đoạn thơ đặc sắc trong bài thờ “Việt Bắc” nổi tiếng của Tố Hữu. Đoạn thơ đã diễn tả được tình cảm nhớ thương Việt Bắc sâu nặng của người cán bộ kháng chiến khi rời Việt Bắc để trở về thủ đô Hà Nội. Ngôn ngữ uyển chuyển, ngọt ngào. Những từ “ta”, “mình” được nhà thơ sử dụng có ý nghĩa mới. Những từ vón rất riêng được Tố Hữu dùng với nghĩa chung, khiến cho cái chung có sứ rung động lạ thường. Nhạc điệu của câu thơ lục bát êm đềm có sức ngân vang trong lòng người đọc như một khúc hát ru kỉ niệm. Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần với nhiều cấp độ khác nhau tăng cường nhạc điệu du dương của đoạn thơ và nhấn mạnh được nỗi lòng lưu luyến của tác giả với chiến khu, với cảnh, với người Việt Bắc. Đặc biệt hơn cả là trong tâm tưởng của người ra vè in sâu hình ảnh sắc màu của bức tranh tứ bình tươi sáng rực rỡ thơ mộng. Đoạn thơ đã diễn tả được một khía cạnh sâu sắc của chủ đề bài thơ “Việt Bắc” là tình cảm thủy chung – thủy chung với cách mạng. Mình sẽ post cho bạn thêm một bài nữa để bạn có được nhiều dẫn chứng cho bài văn của bạn thêm hay hơn. Chúc bạn làm bài tốt!!! Việt Bắc của Tố Hữu là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình chung thuỷ như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ đô kháng chiến”, thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương.Trong tâm trạng kẻ ở - người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức, với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay, những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của tình người lan toả : “ Ta về , mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợ giang Ve kêu rùng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng dọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Bài thơ được Tố Hữu viết về buổi chia tay của cán bộ kháng chiến với người dân Việt Bắc.Bằng tiếng nói ngọt ngào tha thiết của khúc hát giao duyên trong ca dao, nhà thơ đã ca ngợi tình cảm gắn bó thủy chung với cách mạng, với đất nước , với nhân dân.Khổ thơ được phân tích thuộc đoạn 2 của bài thơ.Đây được coi là 10 câu thơ hay nhất diễn tả nỗi nhớ thiên nhiên và con người VB của người ra đi.Qua nỗi nhớ ấy người đọc liên tưởng tới thiên nhiên VB giống như 1 bức tranh tứ bình. Hai câu thơ đầu tiên của khổ thơ đã thể hiện rõ tâm trạng của người ra đi: “ Ta về , mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Hai câu thơ sử dụng từ “mình” và “ta” quen thuộc trong ca dao, “ta” chỉ người ra đi và “mình “ chỉ người ở lại.Cụm từ “ta về”, “nhớ” được nhắc đi nhắc lại tới 2 lần ,trong câu thơ đầu tiên là người ra đi hỏi người ở lại,còn trong câu thơ thứ 2 là để bày tỏ tâm trạng của người ra đi: nỗi nhớ “hoa cùng người”. “Hoa” tượng trưng cho thiên nhiên VB, “người” là để chỉ nhân dân VB.Nỗi nhớ hoa và người đan xen hòa trộn trong tâm trạng của người ra đi.Trong 8 câu thơ tiếp theo nỗi nhớ ấy lần lượt hiện lên với tất cả những gì đẹp nhất,thơ mộng nhất. Mở đầu cho bức tranh tứ bình là khung cảnh muà đông,một mùa đông mang vẻ đẹp lạ lùng: “ Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Câu thơ tả những cánh rừng VB tràn ngập 1 màu xanh của cây lá,màu xanh của sự sống.Giữa màu xanh bạt ngàn bừng lên màu đỏ tươi của hoa chuối,màu đỏ tươi sáng ấm áp như xua đi không khí lạnh lẽo.hoang sơ của núi rừng .Hai màu xanh đỏ tương phản nhưng cùng tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm đẹp rực rỡ.Và giữa khung cảnh rừng núi thơ mộng ấy bỗng hiện lên bóng người trên đèo cao.Nhà thơ ko tả dáng người , ko tả gương mặt mà tả tư thế con người trong công việc, một tư thế khỏe khoắn của người làm chủ thiên nhiên.Trên trời cao ánh nắng hắt xuống lưng người , chiếu vào con dao làm ánh lên 1 màu sáng kì diệu.Cái nắng hiếm hoi của mùa đông đã tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm tươi tắn, mang 1 vẻ đẹp riêng độc đáo. Màu xanh vô tận của những cánh rừng bỗng thay đổi thành 1 màu trắng của hoa mơ: “Mùa xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợ giang”. Hai câu thơ trên miêu tả mùa xuân của VB. “Ngày xuân” là từ báo hiệu thời gian thay đổi,1 mùa đông qua đi 1 mùa xuân mới đến.Rừng VB vào xuân trên khắp núi rừng những bông hoa mơ thi nhau nở rộ khoa 1 màu trắng tinh khiết.Nghệ thuật đảo ngữ trong câu thơ “trắng rừng” có tác dụng nhấn mạnh rừng VB bạt ngàn 1 màu trắng.Màu trắng tinh khiết của hoa mơ như lấn át tất cả màu xanh của cây lá làm bừng sáng cả khu rừng .Câu thơ đem lại cho người đọc 1 cảm nhận không khí xuân lan tràn, không gian núi rừng mênh mông, thiên nhiên VB giàu sức sống.Trong sắc x ân của thiên nhiên nhiên đất trời hiện lên hình ảnh con người lao động làm việc chăm chỉ cần cù, miệt mài “chuốt từng sợi giang”. “Chuốt” là 1 từ chỉ động tác làm đi làm lại, người dân Việt Bắc tỉ mỉ cẩn thận trong công vịêc bằng đôi bàn tay khéo léo tạo nên những sản phẩm đẹp. Thế rồi, khoảnh khắc nhàn hạ của mùa xuân cũng qua mau, qua mau, con người tiếp tục sống cuộc sống của họ. “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình” Bức tranh gợi sự chú ý cho người đọc bằng thị giác, lẫn thính giác. Đầu tiên, cái độc đáo ở đây chính là âm thanh, âm thanh mùa hạ, tiếng “ve kêu”. Câu thơ tạo ra hình ảnh nhân hóa. Con ve là loài vật, vậy mà nó biết kêu, biết gọi, nó xui khiến rừng phách đổ vàng ở đây, chúng ta nên dành một ít thời gian để tìm hiểu cái rừng phách kì lạ này. Rừng phách là những cây lạ ở miền Bắc. Nó không mọc riêng rẽ mà mọc thành rừng, rất nhạy cảm với thời tiết. Tiếng ve kêu râm ran đây đó đã báo hiệu mùa hạ, nhưng lúc này đã là cuối hạ. Cái lạnh đang tràn ngập núi rừng, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cả rừng phách thay áo mới, chiếc áo vàng óng ánh dưới ánh nắng mặt trời. Cảnh thiên nhiên đẹp và rực rỡ thế lại càng lãng mạn hơn, vì trong cánh rừng bạt ngàn ấy có thêm bóng dáng của một sơn nữ ”hái măng một mình”. Đọc tới đây khiến ta liên tưởng đên một hình ảnh tương tự trong thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ của đồng quê: “Thơ thẩn đường chiều một khách thơ Say nhìn ra rặng núi xanh lơ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ” Đây là khổ thơ thứ nhất trong bài thơ”Cô hái mơ”. Ta thấy có sự giống nhau rất ngẫu nhiên: cũng là rừng núi và cô gái đang làm việc. Chỉ có điều ở đây là “hái mơ” chớ không phải “hái măng”. Từ “hái” ở đây dường như không thể thay thế bằng một động từ nào khác: bẻ, đốn… vì chỉ có nó mới phù hợp nét dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại của cô gái mà thôi. Ta hãy thử tưởng tượng bức tranh mùa hạ như thế này đẹp biết bao. Cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ như thế lại khảm chạm thêm vào hình ảnh một người thiếu nữ nhẹ nhàng làm việc. Quả thật bức tranh vừa đẹp vừa có thần nữ. Rõ ràng thiên nhiên và con người đã hòa quyện vào nhau, tô điểm cho nhau. Cuối cùng đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh mùa thu cũng không kém phần đẹp đẽ. ”Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Câu thơ đã xác định rõ, đây là mùa thu. Thiên nhiên mùa thu được miêu tả bằng ánh trăng. Việc sử dụng hình ảnh trăng thật ra cũng không có gì độc đáo và mới mẻ. Tuy nhiên đặt vào hoàn cảnh Việt Bắc lúc bấy giờ ta thấy được niềm mơ ước hòa bình của người cán bộ cũng như toàn dân Việt Bắc. Tất cả đều nói lên niềm tin tưởng chiến thắng sẽ đến với cách mạng với đất nước. Câu thơ thiếu cụ thể nên con người ở đây cũng thiếu cụ thể. Từ “ai” nhòa đi để tạo nền cho cả đoạn và cũng nhằm trả lời cho câu hỏi đầu tiên: “Mình về có nhớ ta chăng?”. Tuy hỏi thế nhưng trong lòng họ vẫn biết rằng con người ấy vẫn thủy chung, son sắt. Đây là lời đồng vọng trong tâm hồn của cả hai người yêu nhau cùng nhớ, cùng thương” “nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Qua đây ta thấy bao trùm cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết tiếp tục âm hưởng chung của nghệ thuật ca dao. Câu thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, ý nọ gợi ý kia cứ trào lên dào dạt trong lòng người ra đi và người ở lại. Đặc biệt là qua cách xưng hô “mình” với “ta”. Ở đây điệp từ nhớ dùng để xoáy sâu vào cảm hứng chủ đạo là hồi ức. Từ ”rừng” lặp lại là khoảng không gian cho nỗi nhớ tồn tại. Màu sắc cũng ảnh hưởng không ít tới bức tranh, đỏ lặng lẽ, nhưng có sức sống. Màu con dao thể hiện sự hoạt động. Màu trắng làm thanh thoát con người và màu vàng làm cho bức tranh rực rỡ trong hoàng hôn. Rõ ràng bức tranh đã có sự hòa điệu của màu sắc. Bên cạnh đó,nhạc đệu dịu dàng trầm bổng khiến cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng, êm êm như một khúc hát ru – khúc hát ru kỉ niệm. Có lẽ khúc hát ru này không của ai khác là của ”ta” và cho người nhận là “mình”. Cả ”ta” và “mình” đều cùng chung nỗi nhớ, cùng chung ”Tiếng hát ân tình “ và ân tình sâu nặng ấy mãi còn lưu luyến vấn vương trong những tâm hồn chung thủy. Chúng ta có thể thấy, ở đoạn thơ trên thiên nhiên VB hiện lên với bao vẻ đẹp đa dạng trong hững thời gian và ko gian khác nhau, thay đổi theo từng thời tiết,từng mùa . Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình dị, bằng những việc làm tưởng chừng như nhỏ bé của mình, họ đã góp phần ko nhỏ vào sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ,bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ cùng chung mọi gian khổ và niềm vui,cùng gánh vác những trách nhiệm nặng nề khó khăn ....càng làm cho “VB” ngời sáng lung linh trong ánh hào quang của kỉ niệm. Có thể nói đây là đoạn thơ hay và có giá trị nhất trong bài “Việt Bắc”. Cảnh thiên nhiên và con người trong đây được miêu tả hết sức tuyệt vời và tươi đẹp, tràn ngập sức sống. Và với giọng thơ ngọt ngào, tâm tình khiến đoạn thơ như một bản tình ca về lòng chung thủy sắt son của người cách mạng đối với cả nhân dân, quê hương Việt Bắc.
Xem thêm

10 Đọc thêm

BÀI 26 SỐNG CHẾT MẶC BAY

BÀI 26 SỐNG CHẾT MẶC BAY

GV: Em có nhận xét gì về cảnh dânphu hộ đê?=> Nhốn nháo, hỗn loạn, không khí khẩnGV: Chiếu bức tranh dân phu hộ đêtrương, căng thẳng, vất vả cực độ.Em có nhận xét gì về bức tranh trên?HS trả lờiGV bình: Bức tranh không chỉ phản ánhcuộc sống vất vả của người dân quêtrong xã hội cũ, họ phải gồng mìnhchống chọi với cuộc sống khó khăn, khắcnghiệt đồng thời cũng thể hiện sự xót xathương cảm của tác giả trước cảnh sốngkhốn cùng ấy.Qua đó, ta thấy được giátrị hiện thực, cũng như giá trị nhân đạosâu sắc của truyện ngắn.GV: Tìm những biện pháp nghệ thuậtGiáo viên: Đào Thị Bích_ THCS Khánh Hồngmà tác giả đã sử dụng để miêu tả conđê và cảnh dân phu hộ đê? Nêu tácdụng của nó?-Nghệ thuật:GV: Giải thích thêm về phép tăng cấp và+Tương phảnđối lập*Thiên nhiên dữ dội >*Sức người có hạn >+ Tăng cấp:
Xem thêm

7 Đọc thêm

NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ "CẢNH KHUYA" CỦA HỒ CHÍ MINH

NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ "CẢNH KHUYA" CỦA HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, nhà cách mạng tài ba, nhà văn hóa uyên thâm... Người còn là một nhà thơ kiệt xuất! "Cảnh khuya" là một trong số nhiều bài thơ ngẫu hứng của Người. Bài này Người ứng tác khi đang còn làm việc lúc đêm đã khuya. "Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng ***g cổ thụ, bóng ***g hoa. Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà." Ở một nơi nào đó trên miền rừng núi, đêm đã khuya rồi. Mọi thứ thanh âm hỗn tạp của ban ngày đã lắng lại. Nhưng không phải vì thế mà đêm yên lặng hoàn toàn. Có một thứ âm thanh rù rì từ xa vẳng lại nghe sâu lắng lạ thường, nó trong trẻo như một tiếng hát ru: tiếng suối! Cái tiếng róc rách của nước chảy nghe được vào ban đêm nó mới kỳ diệu làm sao: Tiếng suối trong như tiếng hát xa... Cái trầm lắng của ban đêm đã khiến các giác quan của con người có dịp "đua nhau" hoạt động. Nên từ "nghe xa", ta đã được "nhìn gần" để thấy được sự huyền ảo của ánh trăng. Thứ ánh sáng dát vàng lung linh lọt qua tán cổ thụ tạo nên những khoảng sáng tối đan xen làm nền cho một bức tranh sống động. Dưới tán cổ thụ, không phải chỉ có sự tương phản sáng tối, nơi ấy còn có những khóm hoa. Màu sắc của hoa ban đêm tuy không rực rỡ lắm, nhưng chúng đã nhuộm màu cho ánh trăng thêm kỳ diệu: Trăng ***g cổ thụ, bóng ***g hoa... Trăng, cổ thụ và hoa, tuy chỉ là những cái bóng, nhưng chúng không độc lập với nhau mà hòa quyện nhau hư hư thực thực làm ngây ngất con mắt thi nhân. Bức tranh thiên nhiên tuyệt vời ấy sẽ chưa thể hoàn hảo nếu thiếu một chi tiết đặc biệt: con người. Có một người đang ngồi ngắm bức tranh, nhưng người ấy không ở ngoài bức tranh. Người ấy chính là một phần của bức tranh! Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ... Rất may, có một người chưa ngủ đã "nhìn" thấy bức tranh tuyệt tác ấy. Nhưng "người chưa ngủ" không phải vì để ngắm bức tranh, mà vì người ấy còn đang suy tư nỗi nước nhà. Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy là phần thu nhỏ của đất nước mến yêu. Non sông thanh bình hoa lệ thế nhưng còn chưa độc lập. Dân tộc còn đang lao khổ bởi ngoại xâm. Chiến tranh còn đang đe dọa cuộc sống của đồng bào... Thế là từ một cảnh đẹp giản dị, tác giả đã dẫn người đọc đến với tình cảm yêu thương quê hương đất nước dường bao. Bài thơ tứ tuyệt gọn gàng, thi tứ chân phương với ngữ điệu nhẹ nhàng nhưng mang sắc thái của một thi nhân xuất chúng. Nếu không phải là tầm nhìn của một lãnh tụ, không phải là tình cảm của một vĩ nhân, dễ gì có được cảm quan bao quát và thi hứng tinh tế đến nhường ấy.
Xem thêm

1 Đọc thêm

GIÁO ÁN ĐỌC VĂN CẢNH NGÀY HÈ

GIÁO ÁN ĐỌC VĂN CẢNH NGÀY HÈ

Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới 43) Nguyễn Trãi A Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: Cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè. Qua bức tranh thiên nhiên là vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi với tình yêu thiên nhiên, yêu đời, nặng lòng với nhân dân, đất nước. Có kĩ năng phân tích một bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi: chú ý những câu thơ sáu chữ dồn nén cảm xúc, cách ngắt nhịp 34 trong câu bảy chữ có tác dụng nhấn mạnh. Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình cảm gắn bóa với cuộc sống của người dân. B Tiến trình dạy học: 1 ổn định tổ chức: 2 Kiểm tra bài cũ: ? Hào khí Đông A được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CỦA TÁC PHẨM “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA”

I. MỞ BÀI “Chiếc thuyền ngoài xa” là sáng tác tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Minh Châu thời kì đổi mới sau 1975. Tác phẩm rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Có thể nói, đây là một trong những tác phẩm chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc. II. THÂN BÀI1. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm kể về tình huống của nghệ sĩ Phùng khi anh về chụp bức tranh cảnh biển tại một bãi biển miền Trung. Tại đây anh phát hiện bức tranh thiên nhiên đẹp mà trong cuộc đời cầm máy ảnh anh chưa bao giờ được thấy. Nhưng đằng sau bức tranh đẹp ấy là cả một sự thật nghiệt ngã về cuộc sống của một gia đình hàng chài. Cảnh người chồng vì đói nghèo thất học đã xem việc đánh vợ là phương thức giải tỏa những khổ đau cho mình. Rồi ở tòa án huyện anh đã chứng kiến câu chuyện đầy cảm động của người đàn bà hàng chài khiến anh ngộ ra biết bao điều về cách tiếp cận cuộc sống. Tất cả được đều nhìn qua cái nhìn đầy nhân đạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu.Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của con người dù trong bất kỳ hòan cảnh nào của cuộc đời.2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”:a. Biểu hiện thứ nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” đó là sự đồng cảm của nhà văn đối với cuộc đời người lao động sau chiến tranh. Qua đó nhà văn lên án thói bạo hành trong cuộc sống gia đình đang diễn ra trong xã hội: nhà văn đã miêu tả cuộc sống ấy với bao nỗi nhọc nhằn của con người lao động thông qua hình tượng người đàn bà hàng chài. Nhà văn cảm thương cho số phận bất hạnh của chị (các em phân tích nỗi khổ của người đàn bà: xấu xí, nghèo khổ, nạn nhân của bạo hành gia đình).b. Biểu hiện thứ hai của giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” đó là sự phê phán, lên án hành động vũ phu thô bạo của người chồng trong đối xử với vợ, con (các em miêu tả cảnh người chồng đánh vợ) . Không những vậy, nhà văn còn thể hiện nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng nghèo cực, tối tăm của con người (cảnh đói nghèo, cơ cực, tình trạng bất ổn, bất trắc trong cuộc sống …là nguyên nhân sâu xa của sự bạo hành và sự nhịn nhục chịu đựng); đồng thời, Nguyễn Minh Châu cũng bày tỏ niềm trắc trở trước cuộc sống của thế hệ tương lai (qua cách nhìn của nhà văn đối với cậu bé Phác).c. Biểu hiện thứ ba của giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” đó là ở sự khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động mà tiêu biểu là người đàn bà hàng chài và đặt niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của họ: Đó là vẻ đẹp của lòng vị tha, sự thấu hiểu lẽ đời và tình mẫu tử sâu nặng (các em phân tích câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện). Trong hoàn cảnh đau khổ, nghèo khó, tăm tối vẫn ngời lên vẻ đẹp của tình yêu thương, của đức hi sinh thầm lặng.d. Biểu hiện thứ tư của giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” đó là tư tưởng nhân đạo mang tính triết lí của tác phẩm, còn được thể hiện ở việc nhà văn đặt ra vấn đề : làm thế nào để giải phóng con người khỏi những bi kịch gia đình, bi kịch cuộc sống con người muốn thoát khỏi đau khổ, tăm tối, man rợ cần những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ nhưng xa rời thực tiễn, cần rút ngắn khoảng cách giữa văn chương và hiện thực đời sống. (các em đưa thông điệp của nhà văn vào)III. KẾT BÀITóm lại, tinh thần nhân đạo trong “Chiếc thuyền ngoài xa” chính là tấm lòng yêu thương, thông cảm, băn khoăn , trăn trở của Nguyễn Minh Châu trong việc phát hiện đời sống và con người ở bình diện đạo đức thế sự. Qua đó tác phẩm thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn ở giai đọan sáng tác thứ hai : Văn học nghệ thuật phải gắn bó với cuộc sống, phải vì con người…Quan niệm ấy đã khiến tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở giai đọan này giàu nhân bản.Đọc tác phẩm của ông, người ta đau đớn, day dứt về thân phận con người và cùang tràn đầy khát vọng làm người cao đẹp Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chất lượng cuộc sống của dân cư Việt Nam

Chất lượng cuộc sống của dân cư Việt Nam

Vấn đề chất lượng cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người, đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan tâm. Trong chương trình Địa lí Việt Nam lớp 12, Chất lượng cuộc sống là một trong những nội dung quan trọng nằm trong phần Địa lí dân cư. Tuy nhiên, trong phạm vi một tiết học, những đặc điểm về chất lượng cuộc sống ở Việt Nam chưa thể được tái hiện một cách cụ thể, chi tiết. Xuất phát từ thực tế đó, tôi lựa chọn chuyên đề “Chất lượng cuộc sống của Việt Nam” nhằm truyền tải đến cho các em học sinh những nội dung chi tiết, cụ thể, sâu sắc hơn về bức tranh chất lượng cuộc sống ở nước ta.
Xem thêm

Đọc thêm

GI O N V O PH CH A TR NH

GI O N V O PH CH A TR NH

III. Tổng kết- Qua bài học, emhãy rút ra ý nghĩacủa đoạn trích?- GV hướng dẫnHS củng cố bàivà đọc phần ghinhớ.Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” manggiá trị hiện thực sâu sắc. Bằng quan sáttinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chânthực, sắc sảo, tác giả đã vẽ lại bức tranhsinh động về cuộc sống xa hoa, quyềnquý của chúa trịnh, đồng thời cũng bộclộ thái độ coi thường danh lợi.3.3. Hoạt động thực hành ứng dụngBài tập: Giá trị hiện thực đoạn trích “ Vào phủ chứa Trịnh”Trường THPT An PhướcGiáo viên: Dương Diệu HàGiáo án Ngữ VănNăm học: 2016 - 2017
Xem thêm

5 Đọc thêm

Giáo án dạy học tích hợp Mỹ thuật 7 Vẽ tranh đề tài cuộc sống quanh em

Giáo án dạy học tích hợp Mỹ thuật 7 Vẽ tranh đề tài cuộc sống quanh em

Giáo án dạy học tích hợp Mỹ thuật 7 Vẽ tranh đề tài cuộc sống quanh emGiáo án dạy học tích hợp Mỹ thuật 7 Vẽ tranh đề tài cuộc sống quanh emGiáo án dạy học tích hợp Mỹ thuật 7 Vẽ tranh đề tài cuộc sống quanh em PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN 1. Tên hồ sơ dạy học: Tích hợp liên môn vào giảng dạy (Tiết 12 ) – VẼ TRANH ĐỀ TÀI CUỘC SỐNG QUANH EM (Mĩ thuật lớp 7) 2. Mục tiêu dạy học: Về kiến thức: Qua môn Mĩ thuật: + Học sinh tập quan sát, nhận xét thiên nhiên và các hoạt động thường ngày của con người. + Tìm được đề tài phản ánh cuộc sống xung quanh và vẽ được một bức tranh theo ý thích. + Có ý thức làm đẹp cuộc sống xung quanh. Qua môn GDCD: Hiểu được ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường, và vẽ được tranh bảo vệ môi trường. Hiểu rõ hơn về trật tự an toang giao thông Năm bắt và vẽ tranh tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội. Qua môn sinh hoc: Quan sát và hiểu rõ hơn về rừng nguyên sinh và vẽ được tranh bảo vệ rừng, tài nguyên thiên nhiên. Qua môn Địa lý: Xác định được vị trí địa lí của Việt Nam cùng các tuyến đường giao thông: đượng bộ,đường thuỷ, ... Nắm bắt được nơi trên trái đất đã đang nóng dần lên do sự biến đổi khí hậu. Vẽ tranh tuyên truyền giũ gìn trai đất xanhsạchđẹp. Qua môn Lịch sử: Nắm được giai đoạn lịch sử những năm đất nước ta bị tàn phá rừng trong cuộc chiến tranh chông pháp.và vẽ được bức tranh khôi phục rừng. Qua môn Âm nhạc: Qua bài hát “Ngôi nhà của chúng ta” nhạc và lời Hình phước Liên học sinh thấy được sự giàu đẹp của trái đất, hiểu về vẻ đẹp của trái đất, của thiên nhiên và rất quan trọng trong cuộc sống con người, qua lời bài hat học sinh vẽ lên được tranh đẹp về trái đất mình giống như là một ngôi nhà chung càng ngày càng xanh sạch đẹp hơn. Qua môn toán: Sử dụng kiến thức toán học để vẽ hình. Về kỹ năng: Qua môn Lịch sử: Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu thông tin về lịch sử Việt Nam và vẽ được tranh bảo vệ rừng Qua môn GDCD: Tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường, tham gia trật tự an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội. Qua môn Địa lý: Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ để xác định vị trí tuyến đường giao thông, tìm hiểu được một số vấn đề sự nóng lên của trái đất... Qua môn Sinh: Hiểu và cảm nhận được, cảm hứng về thiên nhiên qua tranh ảnh. Qua môn Âm nhạc: Biết thưởng thức, cảm nhận được nội dung các tác phẩm âm nhạc để thể
Xem thêm

Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI CẢNH NGÀY HÈ SỐ 2

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI CẢNH NGÀY HÈ SỐ 2

CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – bài 43) NGUYỄN TRÃI I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông mất ngày 19 – 9 – 1442, tức 16 tháng Tám năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, trong vụ án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc Bắc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà văn hoá, nhà thơ lớn của dân tộc, người mở đầu cho sáng tác thơ Nôm ở Việt Nam. Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ đặc sắc trong tập Quốc âm thi tập, một tập thơ Nôm được xem là cổ nhất. 2. Về Quốc âm thi tập - Là tập thơ Nôm sớm nhất còn lại đến hôm nay. Nó là một “bông hoa nghệ thuật đầu mùa” của thơ ca Tiếng Việt. - Về nội dung, Quốc âm thi tập phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi (lí tưởng nhân nghĩa ; lòng yêu nước, thương dân ; tình yêu thiên nhiên, quê hương, con người, cuộc sống,…). - Về nghệ thuật, tác giả Quốc âm thi tập vận dụng một cách thành thục thể thơ thất ngôn đường luật của Trung Quốc. Tuy nhiên, có chỗ Nguyễn Trãi lại chen vào một số câu thơ lục ngôn thích hợp (một sự phá cách trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ). 2. Bài thơ Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn (sáu chữ) và bài thơ thất ngôn (bảy chữ). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Mạch cảm xúc của bài thơ : Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè. 2. Bức tranh mùa hè : Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động : tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi. 3. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ : Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác. Ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ : đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra ; từ phun gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu ; tiễn (ngát, nức) gợi tả sức lan toả của hương sen ; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước chợ cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người. 4. Nhịp điệu và tiết tấu giàu sức gợi tả : Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật : - Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường luật. - Đa dạng hơn về nhịp điệu : Câu 1 : 1 / 2 / 3 Câu 2 : 4 / 3 (hoặc 1 / 3 / 3 Câu 3 : 3 / 4 Câu 4 : 3 / 4 Câu 5 : 2 / 2 / 3 Câu 6 : 2 / 2 / 3 Câu 7 : 3 / 4 Câu 8 : 3 / 3. 5. Tâm sự của nhà thơ : Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về sự sống mùa hè đã cho thấy tâm trạng phấn chấn trước vẻ đẹp của cuộc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc lộ niềm quyến luyến, thiết tha lớn với cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, với cuộc sống nhân dân hiện ra rõ nét ở hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn bó với đời được cụ thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhập thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi. 6. Cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà. Tả cảnh ngày hè, bài thơ là một bức tranh tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật. Đọc thêm :  Hướng dẫn soạn bài Cảnh ngày hè 1
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

ĐỌC TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam lại đặt tên cho truyện ngắn của mình 1à Hai đứu trẻ.   Bài Làm    Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam lại đặt tên cho truyện ngắn của mình 1à Hai đứu trẻ. Hai đứa trẻ gợi lên một niềm thương cảm, gợi lên những mảnh đời như bao mảnh đời tăm tối trong phố huyện nhỏ nghèo nàn và dày đặc bóng tối. Không riêng gì Hai đứa trẻ các truyện ngắn khác của Thạch Lam khi viết về người nghèo đều gợi lên niềm thương cảm đặc biệt. Không cần những lời lẽ tả tình cảm, không lâm li khóc lóc, mà ẩn trong cách miêu tả, cách nhìn và thái độ của nhà văn chúng ta hình như đã nhận ra điều đó.    Truyện ngắn Hai đứa trẻ được viết bằng bút pháp lãng mạn, câu chuyện nhẹ nhàng như một bài thơ trữ tình. Kết hợp với nghệ thuật miêu tả không gian, thời gian tài tình, Thạch Lam đã làm nên cái phông nền cho sự xuất hiện của những con người cùng với cuộc sống tối tăm của họ trong phố huyện nhỏ, và để lại dư âm trong lòng người đọc.    Ở truyện ngắn Hai đứa trẻ, không gian và thời gian hầu như không tách bạch mà giao nhau, đan cài vào nhau đến khó có thể phân biệt. Tiếng trống thu không trên cái nền chòi của huyện nhỏ, từng tiếng vang xa để gọi buổi chiều. Phượng tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời... Chiều chiều rồi văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng... muỗi bắt đầu vo ve... Đó là lời đối thoại, nhịp điệu kéo dài, tất cả tạo nên một dòng cảm xúc trước thời khắc, đó không phải là cái vui, cái nhộn nhịp của con người trước thời khắcn ngày tàn mà đó là nỗi niềm, nỗi buồn man mác khó tả của lòng người như hòa vào cảnh vật, chìm đắm cùng với cảnh vật.    Thời gian, không gian đó còn là hình ảnh của phiên chợ đã vãn từ lâu, dư âm của nó chỉ còn lại mùi âm ẩm bốc lên, những vỏ mía, vỏ bưởi, vỏ thị và cũng trên cái nền ấy là những đứa trẻ con nhà nghèo hiện lên lấm lem, đi nhặt nhạnh những thứ rác rưởi có thể dùng được mang về nhà. An và Liên cũng không hơn gì chúng, bởi cũng không có thứ gì để cho chúng ngoài niềm thương cảm mà thôi    Có thể nói Thạch Lam rất tài tình khi miêu tả cảnh vật (mặc dù đó không còn là mới mẻ). Nhưng cái cảnh vật của ông, khác với cái không gian thoáng đãng mênh mông vời vợi của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến mà chật hẹp, tăm tối, hình như đến ngột ngạt khó thở. Thế nhưng cái khó ở đây không phải vì con người không có chỗ đứng để hoạt động mà chủ yếu gợi lên từ cuộc sống ngột ngạt bế tắc của họ. Cái cuộc sống không biết đâu là tương lai ngày mai nhưng vòng luẩn quẩn, như cái dây bị thắi nút mà con người bó tay không biết bắt đầu gỡ từ đâu. Hình ảnh chị Tý với gánh hàng nước, chờ một vài người, cái cách trả lời của chị sao mà buồn, sao mà mịt mù. “Ôi chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”. Hình ảnh hai chị em Liên tính những món hàng bán được cũng chẳng khác gì những cốc nước của chị Tý. Cái cửa hàng nhỏ xíu, cái gì của hai chị em cũng nhỏ xíu theo, đến có thể cầm nắm được. Nhất là cụ Thi, điên loạng choạng . bước trong đêm, vật vờ như một hóng ma với tiếng cười khanh khách, dễ sợ cái hành động cụ ngửa cổ ra đằng sau uống một hơi cạn sạch, rồi chép miệng thật đáng thương. đời của một con người không ra người mà là một kiếp phù du. Không biết trong cái phố huyện nghèo và nhỏ này có còn bao nhiêu bà điên như thế nữa? Hay hình ảnh vợ chồng bác xẩm với đứa con thơ bò ra nghịch đất cát, manh chiếu rách, tiếng đàn bầu vang lên bần bật? Thạch Lam không hề nói đó là hình ảnh của người đi ăn xin nhưng cách miêu tả và hình ảnh nó hiện lên thì có lẽ đúng là một gia đình đi ăn xin. Tiếng đàn bầu bần bật cũng như cuộc đời họ hơn bao giờ hết lúc này cũng đang run lên, mà lúc này không hề có một sự cứu cánh, không có con đường để giải thoát cho họ. Cái đáng nói của văn phong Thạch Lam là ở đó, ông không cần phải khắc họa phải miêu tả tỉ mỉ mà chỉ vài nét đi qua cũng đủ khái quát lên hình ảnh của cuộc đời một con người và cuộc sống của họ. Gánh phở cùa bác Siêu bốc lên một mùi thơm ngây ngất, thế nhưng không ai dám mơ, không dám ăn vì đó là thứ hàng quá xa xỉ với những con người đang hiện diện quanh gánh phở ấy. Gánh phở của bác như là tiếng đàn lạc điệu trong âm hưởng của nghèo nàn khổ sở. Đc cũng là lúc gợi lên nỗi nhớ của Liên về Hà Nọi huyên náo, no đủ với cuộc sống dư dật của một thời đã xa, một thời thuộc về quá vãng, một đi không trở lại để rồi trở về với thực tại càng thấy xót xa, bi đát hơn. Và bầu trời vẫn hàng nghìn ngôi sao ganh nhau lấp lánh. Vũ trụ thăm thẳm bao la càng làm tăng thêm sự đối lập với cái chật hẹp, không lối thoát của cuộc đời những con người trong phố huyện với cái không gian tối tãm, khó thở.    Đoàn tàu lâu nay nhiều người vẫn cho rằng đó là điểm sáng của cả câu chuyện, là tương lai và ước mơ vườn tới của hai đứa trẻ. Thiết nghĩ không phải như vậy, đoàn tàu - thứ ánh sáng tô điểm được một chút xíu rồi cũng qua đi như cơn gió thoảng.Thực tại nơi phố huyện vẫn tràn ngập trong bóng tối, sự huyên náo của con người, của đoàn tàu lại càng làm tăng thêm cái yên lặng tĩnh mịch của phố huyện và của cuộc đời con người ở đó. Thạch Lam đã thương, đã cảm thông cho họ nhưng có lẽ nhà văn chưa mở đường sáng cho họ, đó không phải hạn chế của thế giới quan nhà văn mà là một thực trạng xã hội lúc này. Thạch Lam mặc dù viết theo bút pháp lãng mạn nhưng ông đã không tô điểm cho cuộc sống nhân vật như nhiều nhà văn khác, ông đã dám nhìn thẳng vào sự thật cuộc đời nghiệt ngã để làm chỗ đứng cho những trang văn của mình, đó cũng là lí do để những truyện ngắn của ông mãi sống với cuộc đời.    Bất kì một tác phẩm văn học có giá trị và có sức sống lâu bền đều bắt nguồn cuộc sống, cuộc sống chính là mảnh đất tốt cho những trang văn được ươm mầm nảy lộc. Đọc Hai đứa trẻ cũng như các truyện ngắn khác của Thạch Lam chúng ta thấy rõ điều đó và nhất là chúng ta được có những phút giây suy ngẫm về cuộc đời, có sự thanh lọc về tâm hồn. Một lần nữa tấm lòng và niềm yêu thương của nhà văn đôi với con người, nhất là những con người nghèo khổ, luôn là điều làm nên sức sống vĩnh hằng của tác phẩm. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thuyết minh về một làng nghề truyền thống - Làng tranh Đông Hồ

THUYẾT MINH VỀ MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG - LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ

Đó là những câu ca gợi cảm về một làng nghề truyền thống từ lâu đã được người biết đến - Làng tranh Đông Hồ. Bài Làm  Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có ao tắm mát có nghề làm tranh Đó là những câu ca gợi cảm về một làng nghề truyền thống từ lâu đã được người biết đến - Làng tranh Đông Hồ. Đông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Đuống thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc cũ (nay là tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội chừng trên 35 km). Từ lâu tên làng đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc. Làng tranh Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái (đôi khi dân địa phương gọi là làng Hồ), là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian. Làng Đông Hồ nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bên đò Hồ, nay là cầu Hồ. Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ gần nhất là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 (đường đi Hải Phong đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km  các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) là đến phố Hồ - huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng có thể đi hết phố Hồ, lên đê rẽ gặp điểm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ đường xuống làng Đông Hồ. Tranh của làng Đông Hồ có từ thời Lê. Ở cái làng nghèo mà hào hoa như tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca "Làng Mái có lịch có 26 sông tắm mát, có nghề làm tranh". Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã quy về làng, vốn xưa tất cả đều làm tranh. Không khí sẩm uất vào cữ tháng một, tháng chạp, các thuyền từ xứ Đông, xứ Đoài ghé bên "ăn tranh". Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương nắng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ấn hiện la đà các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, sông chủ yếu bằng nghề làm. Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng. Ai có hoa tay, có thú chơi cấm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú ta của nhà nho xưa). Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam. Trước kia tranh được bán chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dung tranh mới. Tranh làng Đông không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người ta dùng ván để in. Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và nét (màu đen) in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được "sản xuất" với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường tờ tranh không lớn quá 50 cm mỗi chiều. Để có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mẫu và bản khắc ván hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in. Giấy dùng in tranh là loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Đông Hồ. Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường từ chất liệu thiên nhiên: màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy thân, rễ cây vang, màu son lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp... Xem tranh gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng họ; hợp tình. Tranh Đông Hồ còn hấp dẫn bởi vẻ rực rỡ, sắc màu tươi rói những bộ tứ binh, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa... Một nhà xứ Kinh Bắc đã viết: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong   Hồn dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Có thể nói, cái đặc biệt của tranh Đông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế... không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía tranh Đông Hồ, cũng không thể có nền giấy điệp quyến rũ đó. Người sành tranh Đông Hồ chính bởi chất dân gian chứa đụng trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vàng đỏ. Tranh Đông Hồ gồm các loại: Tranh thờ - bộ ngũ sự; tranh lịch sử: Hai Trưng, Bà Triệu...; truyện tranh: Thánh Gióng, Truyện Kiều, Thạch Sanh; phổ biến nhất là chúc tụng; ví như tranh Vinh hoa - Phú quý, Nghi xuân, Gà (xem thêm Bảy bức tranh gà); tranh sinh hoạt: Đánh Ghen, Chăn Trâu Thổi Sách. Nhà Nông, Đám cưới Chuột, Hái dừa... Tranh Đông Hổ có đặc điểm thường là những hình ảnh sung túc như đám cưới chuột, cảnh trai gái cùng nhau hái dừa, cảnh cá chép nhiều màu vẫy đuôi... thể hiện mong muốn về sự sung túc. Có một điều đặc biệt là người dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng bao giờ treo trong nhà mà đem bán hoặc cho hết. Hàng năm làng Hồ cơ hội làng vào rằm tháng ba âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Làng còn có các làn điệu dân ca như: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Theo thời gian làng tranh cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hòi Pháp thuộc, người ở nhà Bác Cổ thỉnh thoảng sẽ đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bàn khắc tranh nữa! Nhà cụ Lừ bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ lại mà tiếc! Còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên và cái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều. Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày... cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, Chính phủ e phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn. Đã một thời gian tranh dân gian Đông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Nhưng vài năm trở lại đây người Đông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc giản dị của tranh Đông Hồ là không thế thiếu được trong cuộc sống thường nhật, nhất là ngày Tết. Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm "cực thịnh", đã từng sáng giá trong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Không chỉ có người Hà Nội và dân một số tỉnh thành trong nước yêu thích tranh dân gian Tết Đông Hồ vẽ tham quan tìm hiểu và chọn mua, mà không ít du khách, những người trong lĩnh vực hội họa, mỹ thuật của nước ngoài cũng đến để nghiên cứu về nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng của làng Hồ. Bà con Việt kiều khi về nước cùng phải tìm mua bằng được những bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương, để khi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ, cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương. Loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề