CÁCH CHỮA BỆNH CÒI XƯƠNG Ở TRẺ SƠ SINH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁCH CHỮA BỆNH CÒI XƯƠNG Ở TRẺ SƠ SINH":

Trẻ thêm bệnh do tùy tiện tắm nước lá

TRẺ THÊM BỆNH DO TÙY TIỆN TẮM NƯỚC LÁ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tắm nước dừa khiến con viêm da nặng Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, mỗi ngày tại bệnh viện có trên 100 trẻ em vào khám với những tổn thương trên da. Điều đáng nói, có không ít trường hợp đã trở nặng do cha mẹ không biết cách phòng và điều trị cho trẻ mà tự ý sử dụng các loại lá, hoa quả theo truyền miệng để chữa trị. Điển hình là trường hợp của bé Trần Quang Minh, hơn 7 tháng tuổi, ở Thanh Oai, Hà Nội. Bé đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng mụn trên đầu rất dày đặc do mẹ bé đã lạm dụng nước dừa để tắm cho con. Chị Thanh Hương, mẹ của bé Minh cho biết, nghe mọi người mách tắm bằng nước dừa da trẻ sẽ mát mẻ, không bị rôm sảy nên chị thường xuyên mua nước dừa về tắm cho cháu. Nhưng sau một thời gian thì da đầu cháu mọc mụn rất nhiều. Sau khi cháu bị nổi mụn trên đầu, chị cũng rửa mặt cho bé rồi bôi thuốc mà chị tự ra hiệu hỏi mua rồi được nhà thuốc tư vấn và bán. Ngay sau đó, một số nốt mụn to thì xẹp xuống nhưng sau vài ngày các nốt mụn lại nổi lên nhiều hơn, chị đành phải cho con đến bệnh viện. Không riêng gì trường hợp của bé Minh, khá nhiều trẻ cũng đến viện trong tình trạng bệnh ở da đã nặng. Theo các bác sĩ, vì da là hệ thống phòng vệ ban đầu rất quan trọng của của cơ thể. Trên da luôn có tụ cầu và nhiều vi sinh vật khác. Vì vậy, các bệnh về da có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng ở trẻ em do sức đề kháng cơ thể chưa được hoàn thiện, cộng với làn da rất mỏng và mềm nên dễ bị tổn thương.   Không nên tuỳ tiện tắm nước lá cho trẻ kẻo bị viêm da (Ảnh minh họa) Chỉ tắm nước lá cho trẻ khi nào? Theo Bác sĩ, An Thị Kim Cúc, Nguyên phó chủ nhiệm Khoa Sức khỏe cộng đồng, Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội cho biết, có nhiều trường hợp gia đình dã dùng nước dừa để tắm cho trẻ sơ sinh và tắm trong vòng 1 tuần khiến bé bị viêm da rất nặng. Bởi vì, trong nước dừa có đường làm bít các lỗ chân lông, dẫn đến tình trạng viêm da. Da trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh còn rất mỏng, cấu trúc chưa ổn định nên rất dễ bị tổn thương, dị ứng và nhiễm trùng. Trong khi đó, các loại lá lại mọc ở bờ bụi nên rất dễ nhiễm khuẩn. Thậm chí có thuốc bảo vệ thực vật nên khó rửa sạch ngay cả khi đun sôi nên nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao. Do đó, chỉ nên tắm nước lá cho trẻ khi có chỉ định của bác sĩ Đông y và chỉ thực hiện với trẻ ngoài 1 tuổi. Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Mai Hương, Phòng khám Da liễu, Bệnh viện Nhi Trung ương cũng cho biết, chỉ khuyên dùng các bài thuốc làm từ cây lá cho trẻ trong trường hợp trẻ mới bị viêm da nhẹ. Và phải chú ý quá trình thu lượm, chế biến sản phẩm để thành một bài thuốc phải thực sự vô trùng. Tùy từng đặc tính da của trẻ mà tắm các loại lá khác nhau. Ngay cả lá bàng, lá chè xanh mà các bậc cha mẹ hay dùng để tắm cho con cũng có thể khiến trẻ mắc bệnh. Trong 2 loại lá này có chất tamin dễ làm cho da trẻ bị tổn thương. Hay như lá tre tuy không độc, nhưng cũng không nên dùng vì có lông nên dễ làm cho trẻ bị ngứa và dị ứng. Ngoài ra, có một số loại lá tuyệt đối không được dùng đẻ tắm cho trẻ như: lá trúc đào, lá than, lá bạch hoa xà thiệp thảo vì chúng có chứa chất độc có thể gây viêm da, nhiễm trùng nặng. Và điều đáng lưu ý là tuyệt đối không tuỳ tiện tắm lá cho trẻ khi trẻ có các bệnh ngoài da mà nên đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị đúng. Mong rằng những lời khuyên trên sẽ giúp các bậc cha mẹ có thêm kiến thức để hiểu hơn về việc dùng nước lá mà có sự lựa chọn phù hợp khi tắm cho trẻ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những trường hợp mẹ KHÔNG được cho trẻ ăn trứng

NHỮNG TRƯỜNG HỢP MẸ KHÔNG ĐƯỢC CHO TRẺ ĂN TRỨNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trứng gà là thức ăn giàu chất dinh dưỡng như protein, canxi, photpho, sắt, chất khoáng, các men, hormone và nhiều vitamin có lợi cho sự phát triển của trẻ. Với các chế biến đơn giản, mẹ dễ dàng có thể cho con một món ăn ngon từ trứng như trứng rán, trứng sốt cà chua.... Mặc dù trứng gà có nhiều tác dụng với trẻ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho con ăn trứng. Dưới đây là một số trường hợp các mẹ cần biết và tránh cho con ăn trứng tại những thời điểm này.   Trứng gà có rất nhiều tác dụng với trẻ nhỏ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho trẻ ăn trứng (Ảnh minh họa) 1. Trẻ dưới một tuổi Trường hợp không nên ăn trứng đầu tiên là khi trẻ dưới 1 tuổi.Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của trẻ sơ sinh, một số bà mẹ thường cho con cái của họ ăn trứng mỗi bữa ăn. Điều này có thể làm cho trẻ bị khó tiêu và thậm chí bị tiêu chảy. Bởi vì do chức năng tiêu hóa của trẻ sơ sinh, đường tiêu hóa chưa trưởng thành và sự bài tiết của các enzym tiêu hóa khác nhau là không đủ, vì vậy ăn trứng quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày và ruột của trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi không nên ăn lòng trắng trứng vì trong lòng trắng trứng có lượng protein khá cao có thể khiến bé bị dị ứng trong khi hệ miễn dịch và sức đề kháng của bé còn rất yếu. Khi bé được 9 tháng tuổi, mẹ mới cho bé ăn lòng đỏ trứng và nên cho ăn từng ít một. Tốt nhất mỗi tuần mẹ chỉ nên cho bé ăn 2 lòng đỏ trứng nấu chung với cháo hoặc bột, không nên luộc trứng rồi cho bé ăn lòng đỏ vì rất dễ khiến bé bị mắc nghẹn khi ăn. Khi cho bé ăn trứng, các mẹ nên chú ý các biểu hiện như phát ban da, nổi mề đay, nôn mửa và các hiện tượng dị ứng khác sau khi trẻ ăn lòng đỏ trứng. Bởi vì hệ thống miễn dịch của trẻ sơ sinh là tương đối yếu. Do đó, các phản ứng dị ứng có thể xảy ra sau khi ăn một số loại thức ăn mới.  2. Trẻ bị sốt, cảm Bình thường trứng là một thực phẩm rất bổ dưỡng cho sức khỏe trẻ con. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên rằng khi trẻ bị sốt thì không nên ăn trứng. Bởi trong trứng có rất nhiều protein nên sau khi ăn sẽ tạo ra một nhiệt lượng lớn. Những trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi.   Trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi (Ảnh minh họa) Trẻ nhỏ bị cảm cũng là đối tượng không được ăn trứng gà bởi trong trứng gà ẩn chứa rất nhiều vi khuẩn salmonella len lỏi qua những lỗ nhỏ li ti xâm nhập vào lòng đỏ quả trứng. Vi khuẩn này sẽ phá hủy hệ miễn dịch của trẻ nhỏ, kéo dài thời gian nhiễm bệnh cảm. Vì vậy, khi bị sốt, cảm bố mẹ không nên cho ăn trứng gà mà thay vào đó nên uống nhiều nước, rau quả tươi và hạn chế những thứ có chứa nhiều protein. 3. Trẻ vừa bị ốm dậy Trẻ vừa bị ốm dậy cũng là một trong những trường hợp không nên ăn trứng. Khi trẻ vừa mới ốm dậy, nhiều cha mẹ thường nấu cháo nóng và đánh trứng vào cho trẻ ăn để mau khỏi bệnh. Tuy nhiên với những trẻ vừa qua khỏi đợt sốt tuyệt đối không nên ăn trứng gà bởi lượng protein hoàn toàn trong trứng gà như anbumin và ovoglobumin khi hấp thu vào cơ thể còn chưa hồi phục của trẻ nhỏ sẽ làm tăng lượng nhiệt của cơ thể, kiến cơn ốm có thể quay trở lại hoặc bé lâu khỏi bệnh hơn. Tốt nhất nên cho trẻ ăn cháo thịt với hành hoa để phục hồi sức khỏe.  4. Trẻ bị tiêu chảy Rất nhiều mẹ nghĩ rằng khi con bị tiêu chảy sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng và cần phải bồi bổ cơ thể bằng cách ăn nhiều trứng gà. Tuy nhiên, suy nghĩ này của phụ huynh là hoàn toàn không đúng. Đối với trẻ bị tiêu chảy, do dịch tiêu hóa tiết ra ít hơn, hoạt tính men tiêu hóa bị giảm, việc chuyển hóa chất mỡ, chất đạm và đường bị rối loạn, chức năng tái hấp thu nước và chất dinh dưỡng ở ruột non gặp trở ngại, phần lớn các chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài qua đường tiêu hóa. Cho nên, việc bổ sung trứng gà (thực phẩm giàu đạm và chất béo) cho trẻ trong giai đoạn này không những sẽ làm mất đi tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mà ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh càng nặng thêm, làm gián đoạn quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng vào trong cơ thể, ảnh hưởng đến đường ruột. Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy, mẹ không nên cho trẻ ăn trứng gà.  5. Trẻ béo phì, thừa cân Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn. Tốt nhất cha mẹ cần cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin để giảm bớt lượng mỡ trong cơ thể.   Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì cũng là trường hợp không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn (Ảnh minh họa) 6. Trẻ nhỏ bị tiểu đường Ngày nay, trẻ nhỏ được làm quen nhiều với đồ ăn vặt hay những đồ ăn chiên béo ngậy hay có hàm lượng đường cao. Việc cha mẹ chiều chuộng cho trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt sẽ khiến trẻ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường mãn tính rất cao. Đây là căn bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ hiện nay. Khi trẻ bị bệnh tiểu đường ăn quá nhiều trứng, sẽ khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Bởi trứng là loại thực phẩm chứa nhiều chất béo omega-3, là nguồn cung cấp vitamin, protein và nhiều dưỡng chất khác có lợi sức khỏe nhưng chúng cũng chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa. Đây là những “thủ phạm” có thể gây ra bệnh tiểu đường loại 2.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thời tiết thay đổi, trẻ ồ ạt nhập viện vì bệnh hô hấp

THỜI TIẾT THAY ĐỔI, TRẺ Ồ ẠT NHẬP VIỆN VÌ BỆNH HÔ HẤP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cả khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) có 60 giường nhưng có đến 136 trẻ nhập viện, trong đó đến 60% là các bệnh đường hô hấp. Tương tự, tại Bệnh viện Nhi Trung ương, phòng khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp cũng tiếp nhận 70-100 bệnh nhân nhiễm khuẩn hô hấp mỗi ngày, trong đó một nửa là trẻ bị viêm tiểu phế quản hoặc viêm tiểu phế quản có kèm bội nhiễm. PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết, các tỉnh miền Bắc đang bước vào giai đoạn chuyển mùa từ thu sang đông; thời tiết trong ngày thay đổi thất thường - ngày nóng, khô đến đêm và sáng sớm lại se se lạnh. Sự thay đổi này tác động đến 2 yếu tố: nồng độ virus, vi khuẩn trong môi trường tăng lên và sức đề kháng của trẻ giảm xuống; điều này khiến số trẻ mắc các bệnh đường hô hấp có xu hướng tăng lên khoảng 20-30%.   Giường nằm ghép 2,3; nhiều cha mẹ tranh thủ buổi trưa đưa con ra ngoài hành lang nằm cho thoáng. Ảnh: Hà Linh. Tháng 9, 10 theo ông là mùa đỉnh điểm của các bệnh đường hô hấp như viêm phổi, viêm tiểu phế quản phổi, hen... Trẻ ho, sốt vào viện khám rất nhiều. Thậm chí có bé 15 tháng tuổi vừa nằm điều trị viêm phổi 1 tuần đang chuẩn bị xuất viện thì sốt lại, khám thì đã viêm tiểu phế quản phỏi. Đặc biệt, buổi tối nhiều khi các cha mẹ phải xếp hàng để khám cho con. Nếu trẻ mắc các bệnh đường hô hấp trên, chỉ ho, sốt do virus, cảm cúm thông thường thì cha mẹ không cần quá lo lắng, không nên tự ý dùng kháng sinh. Tuy nhiên nếu trẻ kèm theo biểu hiện thở nhanh, rút lõm lồng ngực, mệt mỏi, suy hô hấp, biến chứng phổi thì cần đến bệnh viện khám và điều trị kịp thời.  Phó giáo sư khuyến cáo, cha mẹ cần đặc biệt lưu ý với trẻ dưới 6 tháng tuổi. Do sức đề kháng yếu nếu không được điều trị kịp thời trẻ sẽ rất nhanh diễn biến nặng sang viêm phổi. Việc phát hiện bệnh khó nên cha mẹ cần lưu ý 3 dấu hiệu là: bú, ngủ và cách thở. Nếu thấy con bú ít hơn ngày thường, quấy khóc hoặc thấy bé thở nhanh, ngực lõm hơn bình thường, đầu gật gù thì cha mẹ cần đưa con đi khám sớm vì có thể bệnh đã diễn biến nặng. Ngay cả khi trẻ ngủ nhiều hơn bình thường, cũng có thể do bị bệnh. Ở trẻ sơ sinh, sốt và ho không phải là những dấu hiệu quan trọng. Để phòng bệnh, các gia đình cần giữ cho môi trường sống trong nhà sạch sẽ, thoáng mát, thông khí tốt. Trẻ con không phải là người lớn thu nhỏ, vì thế khi thấy mình lạnh người lớn không nên nghĩ rằng con cũng lạnh. Vào gần sáng và đêm lạnh nên cho con mặc quần áo ấm, trưa nóng có thể cởi bớt ra. Đồng thời chú ý tăng cường dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin để tăng cường sức đề kháng; giữ vệ sinh nhà cửa sạch sẽ...   Trẻ nhập viện điều trị chủ yếu dưới 2 tuổi. Ảnh: Hà Linh. Phó giáo sư Dũng đặc biệt khuyến cáo cảnh giác khi con sốt cao. Trẻ sốt virus thường khỏi bệnh trong vòng 7 ngày. Triệu chứng ban đầu cũng khá giống với sốt xuất huyết, viêm não… Do vậy, thấy trẻ sốt cao đột ngột và kéo dài phải đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được chẩn đoán, điều trị kịp thời. Đồng thời chú ý đến việc ăn uống nâng cao sức đề kháng cho trẻ. Đồng thời, cha mẹ không nên tự ý dùng thuốc cho trẻ, đặc biệt là kháng sinh; không phải cứ ho một chút là dùng kháng sinh. Việc xịt mũi cũng cần đúng cách, có thể xịt vào trước bữa ăn, trước khi đi ngủ giúp mũi thông thoáng để trẻ ngủ tốt hơn; chú ý xịt xong nên hút hết chất nhầy trong mũi. Với các trẻ bị hen, để tránh khởi phát cần hen cần tránh tiếp xúc các yếu tố kích thích như:: phấn hoa, bụi, khói, lông thú động vật... Tránh để trẻ bị nhiễm lạnh, chú ý đề phòng và chữa sớm những nhiễm khuẩn hô hấp như: viêm phế quản, viêm phổi, viêm mũi họng... Những bệnh nhiễm khuẩn này thường làm cơn hen tái phát. Ngoài ra, cần cho trẻ tránh xa khói thuốc lá. Nếu người lớn hút thuốc trong nhà sẽ khiến tình trạng hen của trẻ nghiêm trọng hơn, tránh dùng các loại thuốc xịt như nước hoa xịt phòng, thuốc xịt muỗi, côn trùng… Phòng ngủ của trẻ cần được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, không nên trải thảm; không nên cho trẻ chơi thú nhồi bông cũng như không cho thú vật vào nơi trẻ ngủ. Đặc biệt, cha mẹ cũng cần dự phòng hen cho trẻ, cụ thể đăng ký kiểm soát hen lâu dài cho bé tại một một cơ sở chuyên khoa (ít nhất là 18 tháng).
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH KHI TRẺ SƠ SINH BỊ BẸP ĐẦU

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH KHI TRẺ SƠ SINH BỊ BẸP ĐẦU

Cha mẹ chú ý, tuyệt đối không dùng tay xoa nắn đầu trẻ. Massage sẽ không manglại hiệu quả vì đây là sự biến dạng thuộc về cấu trúc xương của xương sọ.●Đưa bé đi khám bác sĩ: Tình trạng móp đầu bé có thể được cải thiện trongmột vài tháng khi vùng xương sọ và xương cổ của bé cứng cáp hơn và chịuđược nhiều áp lực từ bên ngoài môi trường. Một số bé khác, tình trạng mópđầu trở nên nghiêm trọng, bạn nên đưa bé đi khám bác sĩ. phụ huynh nên chobé khám chuyên khoa Vật lý trị liệu để phân biệt tình trạng lép đầu do tư thếgây ra hay là do một số bệnh lý khác như vẹo cổ do tật cơ, tình trạng giảmtrương lực cơ trẻ nhỏ,… Nếu bé bị các bệnh lý đó thì ngoài việc đặt tư thếđúng, bé cần phải được tập luyện vật lý trị liệu tích cực và theo dõi lâu dài sauđó.Trẻ sơ sinh rất yếu ớt vì vậy cha mẹ cần chú ý đến sự bất thường để bảo vệ bé thậttốt. Trẻ sơ sinh bị bẹp đầu là một vấn đề hết sức nguy hiểm, các bậc cha mẹ khôngnên chủ quan mà nên liên hệ ngay với bác sĩ nhé!VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh – Táo bón ở trẻ sơ sinh là một bệnh rất phổ biến ở nhiều trẻ nhỏ. Táo bón ở trẻ sơ sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bé, mặt khác cũng gây nhiều khó khăn và lo lắng cho cha mẹ. Vậy cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh như thế nào cho hiệu quả? Bạn hãy tham khảo cách tri táo bón cho trẻ sơ sinh nhé. http:wapmaster.vncachtritaobonchotresosinh.html http:wapmaster.vn

Đọc thêm

TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG CỦA TRẺ SƠ SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỤ TINH NHÂN TẠO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2013

TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG CỦA TRẺ SƠ SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỤ TINH NHÂN TẠO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2013

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trẻ thụ tinh nhân (IVF) sinh non. Tìm hiểu tình hình bệnh tật và tử vong ở nhóm trẻ này tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2013. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu: Trong tổng số trẻ IVF, trẻ đẻ non chiếm 40,03% và 2,45% trẻ tử vong. Trẻ có tuổi thai 3336 tuần chiếm tỷ lệ 67,7% , trẻ có cân nặng từ 1500 2499 (54,2%). Trẻ có bệnh lý chiếm 37,74% trong tổng số nhóm nghiên cứu. Trong nhóm trẻ bệnh lý tần xuất bệnh màng trong 88,75% , nhiễm khuẩn sơ sinh 71,87% , viêm ruột hoại tử 58,75%, xuất huyết não màng não (XHNMN ) 15,62% . Trong nhóm trẻ tử vong nguyên nhân do mắc từ hai bệnh lý chiếm tỷ lệ cao 80,77% , nhóm trẻ < 28 tuần và cân nặng < 1000gr có tỷ tử vong cao nhất. Yếu tố liên quan đến đẻ non, tử vong và bệnh lý là đa thai. Kết luận: Mô hình bệnh lý trẻ IVF đẻ non là: Màng trong, nhiễm khuẩn sơ sinh, viêm ruột hoại tử, XH NMN. Từ khóa: Bệnh lý và tử vong trẻ thụ tinh nhân tạo non tháng.
Xem thêm

Đọc thêm

Coi chừng biến chứng thủy đậu

COI CHỪNG BIẾN CHỨNG THỦY ĐẬU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cuối đông, đầu xuân là thời điểm thuận lợi cho bệnh thủy đậu bùng phát. Ở nhiều vùng quê, người dân áp dụng những phương pháp phản khoa học để chữa bệnh, dẫn tới bệnh nhân bị bội nhiễm, biến chứng. Dễ biến chứng Bà Phạm Thị Mùi (Châu Khê, Bắc Ninh) chăm sóc cháu ở khoa Nhi (Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư) đã được 8 ngày. Bà cho biết, cháu gái 15 tháng tuổi bị thủy đậu nặng. Lúc đầu, cơ thể bé chỉ nổi 1-2 nốt đỏ, sau đó phồng rộp nhiều chỗ. Gia đình mua thuốc xanh methylen bôi, sau đó vết phồng lan rộng, bị bội nhiễm lên mắt khiến mắt bé sưng húp, không mở được. Cháu bé lại bị sốt cao đến 40 độ C, nên gia đình phải đưa cháu đi cấp cứu. Bác sĩ Nguyễn Thanh Lê (khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư) cho biết, cháu bé bị bội nhiễm do gia đình chăm sóc, vệ sinh không đúng cách. Theo bác sĩ Lê, thủy đậu là bệnh do virus Varicella Zoster gây ra với các biểu hiện như trẻ quấy khóc, mệt mỏi, chán ăn, sốt nhẹ, sau 1-2 ngày xuất hiện các vết mụn rộp ở ngực, bụng, lưng, mặt, chân tay và vùng da đầu. Bệnh thủy đậu lây truyền qua tiếp xúc, qua hô hấp, ho, hắt hơi và qua dịch ở các mụn nước. Bệnh có thể tự khỏi sau 7-10 ngày. Nhưng nhiều trường hợp bị nặng, các bác sĩ cũng có thể kê thuốc đặc trị kìm hãm sự phát triển của virus. Các vết mụn cũng sẽ tự biến mất, không để lại sẹo.   Một ca thủy đậu ở khoa Nhi – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư Tuy nhiên, bác sĩ Lê cho biết, bệnh viện đã tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ bị bội nhiễm do thủy đậu với các biểu hiện như sốt cao, ho, viêm phổi, quấy khóc nhiều, mắt kết mủ không mở được, thậm chí co giật, rối loạn tinh thần. Các trường hợp này đều phải điều trị rất lâu, có bé còn bị viêm não, để lại hậu quả lâu dài. Cần chăm sóc đúng cách Tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư, những ngày này có tới hàng trăm ca bệnh nhi nhiễm thủy đậu tới khám. Theo tiến sĩ Bùi Vũ Huy – Phó Trưởng khoa Nhi (Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư), sai lầm của các bậc cha mẹ là khi con bị bệnh không vệ sinh thân thể cho con. Trẻ em nông thôn bị bệnh vẫn ra ngoài đường, nghịch bẩn, ngứa gãi, mất vệ sinh. Khi trẻ bị thủy đậu nên cách li khoảng 7-10 ngày, rửa tay tiệt trùng sau khi tiếp xúc với trẻ để tránh lây lan. Vệ sinh thân thể cho trẻ bằng nước sôi để nguội, rửa nhẹ bằng khăn mềm. Có thể đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế gần nhất nếu trẻ sốt cao, các vết rộp có hiện tượng đục (bình thường thì mụn nước trong). Ngoài ra, nhiều cha mẹ dùng các bài thuốc lá tự tắm, rửa cho con mà không quan tâm đến việc tiệt trùng khiến các vết loét bị bội nhiễm nhiều hơn. Lại có trường hợp mẹ bôi thuốc của ông lang không rõ nguồn gốc khiến các mụn rộp bị sưng tấy, trẻ bị nhiễm trùng máu, dẫn đến sốc, co giật. Cách duy nhất phòng tránh thủy đậu là tiêm phòng cho trẻ. Ngoài ra, cha mẹ cần đề phòng cả việc trẻ không thích ứng với vaccin, có thể vẫn bị bệnh thủy đậu, mặc dù bệnh có thể diễn tiến nhẹ hơn so với trẻ chưa tiêm. Tiến sĩ Huy cũng lưu ý, thuỷ đậu thường mắc ở trẻ dưới 10 tuổi, tuy nhiên người lớn cũng có thể mắc . Nếu phụ nữ mang thai bị thủy đậu trong nửa đầu thai kỳ sẽ có nguy cơ bị sẩy thai hoặc để lại dị tật cho thai nhi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Rối Loạn Tuần Hoàn Và Huyết Quản Chăn Nuôi Thú Y

Rối Loạn Tuần Hoàn Và Huyết Quản Chăn Nuôi Thú Y

rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn tai trong rối loạn tuần hoàn máu rối loạn tuần hoàn ngoại vi rối loạn tuần hoàn não và cách điều trị rối loạn tuần hoàn tại ổ viêm rối loạn tuần hoàn não là gì rối loạn tuần hoàn não nên uống thuốc gì rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì rối loạn tuần hoàn não uống thuốc gì rối loạn tuần hoàn não tiếng anh là gì rối loạn tuần hoàn nên ăn gì rối loạn tuần hoàn não và ngoại biên bệnh án rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm không rối loạn tuần hoàn máu não rối loạn tuần hoàn não triệu chứng rối loạn tuần hoàn não ở người trẻ tuổi bị rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì bệnh rối loạn tuần hoàn não nên ăn gì thức ăn cho người rối loạn tuần hoàn não ăn gì khi bị rối loạn tuần hoàn não thức ăn trị bệnh rối loạn tuần hoàn não chế độ ăn cho người rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn ngoại biên rối loạn tuần hoàn não bệnh học rối loạn tuần hoàn cục bộ rối loạn tuần hoàn não ngoại biên rối loạn tuần hoàn não là bệnh gì bệnh rối loạn tuần hoàn não bệnh rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm không bệnh rối loạn tuần hoàn não và cách điều trị bệnh rối loạn tuần hoàn tai trong rối loạn tuần hoàn não cấp rối loạn tuần hoàn não có nguy hiểm rối loạn tuần hoàn não có chữa khỏi được không chữa rối loạn tuần hoàn não chứng rối loạn tuần hoàn não chữa rối loạn tuần hoàn não bằng đông y dấu hiệu rối loạn tuần hoàn não dấu hiệu của rối loạn tuần hoàn não nguyên nhân dẫn đến rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não khám ở đâu chẩn đoán rối loạn tuần hoàn não đơn thuốc rối loạn tuần hoàn não đau đầu rối loạn tuần hoàn não điều trị rối loạn tuần hoàn rối loạn tiền đình tuần hoàn não thuốc điều trị rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn não english rối loạn tuần hoàn não ở trẻ em rối loạn tuần hoàn máu là gì rối loạn tuần hoàn não ở người già rối loạn tuần hoàn ngoại vi là gì bài giảng rối loạn tuần hoàn não rối loạn hệ tuần hoàn não rối loạn hệ tuần hoàn biểu hiện rối loạn tuần hoàn não hội chứng rối loạn tuần hoàn não biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não biểu hiện bệnh rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn khám rối loạn tuần hoàn não cách khám rối loạn tuần hoàn não bệnh án nội khoa rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn máu lên não rối loạn tuần hoàn não và rối loạn tiền đình rối loạn tiền đình rối loạn tuần hoàn não làm gì khi bị rối loạn tuần hoàn não bệnh rối loạn tuần hoàn máu não bệnh rối loạn tuần hoàn máu thuốc chữa rối loạn tuần hoàn máu não rối loạn tuần hoàn não ở người trẻ rối loạn tuần hoàn não ở người cao tuổi khám rối loạn tuần hoàn não ở đâu phòng bệnh rối loạn tuần hoàn não phòng trị rối loạn tuần hoàn não phòng chống rối loạn tuần hoàn não cách phòng bệnh rối loạn tuần hoàn não giải phẫu bệnh rối loạn tuần hoàn phác đồ điều trị rối loạn tuần hoàn não phương pháp điều trị rối loạn tuần hoàn não chăm sóc bệnh nhân rối loạn tuần hoàn não rối loạn tuần hoàn tim rối loạn tuần hoàn ốc tai thuốc rối loạn tuần hoàn não thuốc uống rối loạn tuần hoàn não rối loạn vi tuần hoàn thí nghiệm rối loạn tuần hoàn tại ổ viêm tìm hiểu về bệnh rối loạn tuần hoàn não rối loạn tiền đình và thiểu năng tuần hoàn não xử trí rối loạn tuần hoàn não xét nghiệm rối loạn tuần hoàn não đông y chữa rối loạn tuần hoàn não thuốc đông y chữa rối loạn tuần hoàn não
Xem thêm

Đọc thêm

CÓ CẦN CHO MẮM MUỐI VÀO CHÁO BỘTCỦA TRẺ DƯỚI 1 TUỔI

CÓ CẦN CHO MẮM MUỐI VÀO CHÁO BỘTCỦA TRẺ DƯỚI 1 TUỔI

Có cần cho mắm, muối vào cháo, bộtcủa trẻ dưới 1 tuổi?Quả thực nếu thêm một ít muối vào bột, cháo cho trẻ dưới 1 tuổi, có thể con bạnsẽ ăn ngon hơn. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Ninh, lượng muối có sẵntrong thực phẩm, gạo, sữa đã quá đủ cho trẻ. Ăn thừa muối sẽ tăng nguy cơ còixương, hại thân...Dưới đây là những khuyến cáo về cách chế biến bột, cháo cho trẻ dưới 1 tuổi của PGS.TS.Nguyễn Xuân Ninh – BV Đa khoa Medlatec – Nguyên Trưởng khoa Vi Chất Dinh dưỡng ViệnDinh dưỡng Quốc gia.Muối có sẵn trong gạo, sữa, rau, củ… là quá đủThực chất, bất cứ độ tuổi nào, con người cũng cần một lượng muối nhất định. Trẻ nhỏ cũngcần hàm lượng muối nhưng muối các thực phẩm tự nhiên đã đủ cho bé, bé không cần muối ởgia vị.Muối có công thức là NaCl, khi vào cơ thể tách ra thành Na và Cl. Cơ thể cần muối tức là cầnNatri. Mà Natri không chỉ có trong những thức ăn có vị mặn như muối tinh, nước mắm, bột canhmà trong những thực phẩm tưởng rằng rất nhạt như gạo, ngô, sữa, thịt… đã có một hàm lượngNatri nhất định rồi.Sữa có khoảng 240mg Natri/l, một bát bột cho trẻ có khoảng 75mg Natri…Trong khi đó nhu cầuNatri của trẻ dưới 1 tuổi chỉ cần khoảng 200mg/ngày nên trẻ chỉ dùng thực phẩm thông thường,không nêm thêm muối thì cũng đã đủ hoặc thừa Natri.Trong gạo, sữa, hoa quả, rau củ luôn có sẵn lượng Natri đủ cho trẻ. Các mẹ không cần phảithêm mắm, muối vào cháo bột cho trẻ dưới 1 tuổiThừa muối dễ còi xương, hại thậnỞ trẻ dưới 1 tuổi, cơ thể có thể tự xử lý lượng Natri thừa trong thực phẩm tự nhiên nhưng nếubạn bù thêm muối cho bé sẽ khiến cơ thể trẻ thêm gánh nặng, đặc biệt là thận.Khi dư thừa Natri, trẻ biếng ăn và mệt mỏi nhiều hơn vì làm mất cân bằng nước trong cơ thể.Lượng Natri dư thừa còn làm tăng nguy cơ đào thải canxi ra ngoài theo nước tiểu khiến bé cónguy cơ thiếu canxi, không thuận lợi cho quá trình phát triển chiều cao của bé.Quả thực nếu bỗng dưng bạn nêm thêm tí muối vào bột, có thể con bạn sẽ ăn ngon hơn vì vị lạ
Xem thêm

5 Đọc thêm

Những lầm tưởng tai hại về bệnh đau dạ dày

NHỮNG LẦM TƯỞNG TAI HẠI VỀ BỆNH ĐAU DẠ DÀY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Từ rất lâu trong dân gian, đã truyền tai nhau rất nhiều bài thuốc, những cách để điều trị bệnh đau dạ dày. Hầu hết mọi người đều tin tưởng tuyệt đối vào những phương pháp đó. Tuy nhiên, chính những quan niệm ấy lại là những sai lầm gây hại cho dạ dày của bạn. Ăn cháo luôn tốt nhất cho bệnh dạ dày Nhiều người vẫn cho rằng, cháo nhuyễn và mềm dễ tiêu hóa, sẽ có tác dụng làm giảm gánh nặng của dạ dày.   Ăn cháo không phải là tốt nhất cho người đau dạ dày. Ảnh minh họa.  Tuy nhiên, khi ăn cháo, thông thường bạn sẽ ăn rất nhanh, không nhai kỹ, hoặc cháo quá loãng sẽ không có phản xạ nhai, điều đó không kích thích dịch vị tiết ra. Thậm chí, nếu cháo nhiều nước thì sẽ làm loãng dịch vị, làm dạ dày giãn nở nhiều hơn nhưng co bóp ít hơn, chậm hơn, không tốt cho quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. Đặc biệt, đối với bạn thích ăn cháo nóng thì càng không tốt vì thực tế, độ nóng của cháo  không có lợi cho sự kích thích dạ dày. Vì thế, những người đau dạ dày không nên ăn cháo, nhất là cháo nóng thường xuyên, tốt nhất nên lựa chọn những thực phẩm dễ tiêu hóa, dễ hấp thụ. Uống sữa tươi thường xuyên tốt cho dạ dày Theo tin tức ghi trong cuốn Bệnh dạ dày và cách điều trị của Nhà xuất bản Lao động, rất nhiều người cho rằng, uống nhiều sữa tươi tốt cho dạ dày. Tuy vậy, tác dụng đó  chỉ dừng lại ở việc uống bổ sung. Nếu như bạn thường xuyên uống sữa tươi thì lại có tác dụng ngược đối với dạ dày.   Uống sữa thường xuyên không tốt cho dạ dày. Ảnh minh họa. Uống một ly sữa tươi nóng lúc dạ dày bị căng chướng sẽ giúp đẩy lùi cảm giác khó chịu này, bởi sữa có thể làm tiêu axit trong dạ dày, giúp tạm thời hình thành một lớp bảo vệ dạ dày, mang lại cảm giác dễ chịu. Nhưng khi uống quá nhiều, tác dụng của lượng axit trong sữa tươi mạnh hơn tác dụng của axit trong dạ dày, vì thế ko có lợi cho dạ dày. Sữa đậu nành là một lựa chọn không tồi cho bạn. Tưởng gừng cũng chữa dạ dày   Dùng nhiều gừng sẽ khiến bệnh dạ dày càng nặng hơn. Ảnh minh họa. Trong dan gian, gừng là một phương thuốc dân gian cổ truyền để chữa bệnh về tiêu hóa, vì thế mọi người thường cho rằng gừng cũng có thể chữa bệnh dạ dày. Tuy nhiên, cũng cần biết rằng, gừng chỉ có tính nóng và là thực phẩm có tính kích thích, nếu dùng quá nhiều sẽ gây kích thích axit dạ dày tiết ra làm bệnh dạ dày càng nặng hơn. Trẻ nhỏ không bị đau dạ dày Lâu nay, người ta thường nghĩ, bệnh đau dạ dày chỉ xảy ra ở người lớn. Tuy nhiên, thực tế rất nhiều trường hợp viêm loét dạ dày xảy ra ở những trẻ nhỏ.   Đừng nghĩ rằng trẻ nhỏ sẽ không bị đau dạ dày. Ảnh minh họa. Chia sẻ với báo Gia đình Xã hội, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai, cho biết, nhiều người cho rằng bệnh đau dạ dày chỉ xảy ra ở người lớn. Tuy nhiên, hiện nay bệnh này đang có xu hướng tăng nhiều ở đối tượng trẻ em, chiếm tỷ lệ khá cao trong các bệnh tiêu hóa nói chung. Bệnh đau dạ dày phổ biến nhất ở nhóm trẻ trong độ tuổi từ 10-14. Trước sự gia tăng của căn bệnh này ở trẻ em, các bác sĩ khuyến cáo cha mẹ cần xây dựng chế độ ăn hợp lý cho trẻ, không nên ép trẻ ăn bằng được mà cần khuyến khích để tạo cảm giác thèm ăn. Khi thấy trẻ bị đau bụng thường xuyên, cần đưa đến cơ sở y tế nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tránh xảy ra những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Rau ngót và những tác dụng bạn không ngờ

RAU NGÓT VÀ NHỮNG TÁC DỤNG BẠN KHÔNG NGỜ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo Sách Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, rau ngót có nhiều tác dụng chữa bệnh như: thanh nhiệt, trị cảm nhiệt gây ho suyễn, trị táo bón, giảm cân, hỗ trợ điều trị đái tháo đường hoặc trị chảy máu cam…  Sách này cũng cho biết, ở Ấn Độ rau ngót được coi là một cây rau đa sinh tố. Nước sắc rễ rau ngót chữa sốt, lá và rễ tươi giã nát đắp ngoài trị chứng viêm loét mũi. Trong rau ngót đặc biệt giàu chất dinh dưỡng, giàu đạm. Nó chứa nhiều vitamin, Kali, Canxi, Magiê, B1, B2, B6. Vì vậy, rau ngót đặc biệt rất tốt cho người già và trẻ nhỏ. Những tác dụng của rau ngót được dùng nhiều trong dân gian, đến nay rau ngót đa phần được sử dụng trong Đông y để điều trị một số loại bệnh.    Rau ngót không chỉ là là loại rau ăn giàu chất dinh dưỡng với hàm lượng protein cao mà đặc biệt loại rau này còn có nhiều tác dụng chữa bệnh (Ảnh: Internet) Theo BS. Nguyễn Khoa Nguyên, Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, nếu dùng rau ngót để điều trị bệnh thường người ta sử dụng loại rau ngót lớn hơn 2 năm tuổi, dùng lá và rễ. Rau ngót được dùng để chữa một số bệnh như:  - Chữa tưa lưỡi cho trẻ em: Lá rau ngót tươi 4 - 10 g, giã vắt lấy nước, thấm vào bông hay vải gạc đánh lên lưỡi lợi và vòm miệng. Sau 2 ngày trẻ sẽ bú được.  - Chữa sót nhau: Lá rau ngót tươi 40g, rửa sạch, giã nát, thêm nước đun sôi để nguội, gạn lấy 100 ml chia 2 lần, uống cách nhau 15 phút. Sau khoảng 10 - 15 phút, phần nhau còn sót lại sẽ bị tống ra.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Suýt hại con vì tắm nắng sai cách

SUÝT HẠI CON VÌ TẮM NẮNG SAI CÁCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Là một bà mẹ trẻ, lần đầu sinh con nên em còn thiếu nhiều kinh nghiệm và hiểu biết. Vì vậy, em rất tích cực lên mạng và các diễn đàn để tìm hiểu về chế độ dinh dưỡng, bổ sung các loại vitamin cho con với mong muốn con sinh ra thật khỏe mạnh và thông minh. Cũng giống như các loại vitamin khác, theo như em đọc trên một số bài báo và diễn đàn thì ngoài việc uống viên bổ sung vitamin D thì hầu hết các mẹ và các bài báo đều khuyên rằng cách bổ sung vitamin rẻ, tự nhiên mà hiệu quả đó là tắm nắng. Thật may, trước khi em lấy chồng em cũng là một người ham mê đi biển và luôn tận dụng mọi cơ hội đi biển để có thể thỏa mãn sở thích phơi mình trên bãi biển. Em có bầu lại đúng vào lúc mùa hè bắt đầu đến và em cảm thấy thật sự sung sướng khi vừa có thể thỏa mãn sở thích tắm nắng trên biển vừa cung cấp được vitamin D bằng cách tự nhiên cho con. Suýt hại con vì tắm nắng sai cách Nhà em cách biển cũng không xa lắm, vì thế thấy việc tắm nắng có lợi gấp đôi nên em thỏa thích và luôn tranh thủ, sắp xếp thời gian mỗi ngày ra biển phơi mình để nạp vitamin D từ ánh nắng mặt trời. Công việc của em lại rất thoải mái về thời gian nên mỗi ngày ngoài tranh thủ tắm nắng vào buổi sáng sớm (khoảng 6h đến 7h30), chiều đến (khoảng 15h đến 18h) em lại lang thang ra biển để cung cấp vitamin D chừng hơn 1 tiếng đến 2 tiếng mới về. Em được biết tắm nắng vào lúc trời nắng gắt rất có hại cho da, có thể dẫn đến ung thư da nên em cũng tránh những thời điểm như thế. Tuy nhiên, vào buổi chiều mặc dù không nắng gắt như buổi trưa nhưng có vẻ như những tia cực tím cũng không bỏ lỡ cơ hội để tha cho làn da của em. Do bầu bì nên em không dám dùng mỹ phẩm, kem chống nắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Dù cũng lo cứ tắm nắng đều đặn sáng chiều như thế da sẽ bị lão hóa và chẳng may ung thư da thì nguy nhưng lại nghĩ đến việc có thể cung cấp vitamin D tự nhiên, tốt cho sự phát triển của con nên em lại tặc lưỡi kệ đã. Đều đặn tắm nắng một tháng như thế, những vết nám, tàn nhang trên mặt em xuất hiện ngày càng nhiều và đậm nhưng em lại nghĩ rằng chắc do mình bầu bí, thay đổi nội tiết nên mới bị nám và chắc sau khi sinh xong những vết nám, tàn nhang đó sẽ hết. Tuy nhiên, sự thật thì không phải vậy. Em mải miết nạp vitamin D bằng việc tắm nắng trung bình 3 tiếng một ngày như thế được đến ngày thứ 3 của tháng thứ 2 thì tình cờ một hôm em đi tắm nắng cùng một người bạn. Hôm đó em đã kể về cái kỳ tích cung cấp vitamin D cho con bằng phơi nắng ngoài bãi biển và việc không hiểu sao em bị nám và tàn nhang nhiều như thế. Bạn em mới tá hỏa cảnh báo em rằng đều là do em tắm nắng mà ra, việc lạm dụng tắm nắng như kiểu của em lại vừa hại mẹ vừa hại con không chừng. Em nghe một hồi thấy có lý và bắt đầu lo lắng nên đã đi gặp bác sĩ để được tư vấn.   Em mải miết nạp vitamin D bằng việc tắm nắng trung bình 3 tiếng một ngày và không hề biết việc này nguy hại thế nào. (ảnh minh họa) Tắm nắng đúng cách khi mang thai Đi khám bác sĩ tư vấn cho em rằng: vitamin D có tác dụng rất quan trọng trong sự phát triển ở trẻ, nó có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh còi xương, hoặc làm mềm xương ở trẻ. Thiếu hụt vitamin D trong quá trình mang thai sẽ khiến bà bầu có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường, tiền sản giật (huyết áp cao và protein dư thừa trong nước tiểu), nhiễm trùng âm đạo và thậm chí là khiến sinh non hoặc thai nhi tử vong vì thiếu chất. Đối với bào thai trong bụng, khi bà mẹ bổ sung thiếu vitamin D, bé sau này có khả năng bị nhẹ cân, sâu răng, gia tăng bệnh hen suyễn và viêm nhiễm đường hô hấp, làm mềm hộp sọ ở trẻ sơ sinh. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt vitamin D ở người mẹ có thể ảnh hưởng đến điểm số phát triển trí tuệ thể chất của trẻ trong tương lai. Tuy nhiên nếu không biết cách tắm nắng hợp lý thì hại cả con và mẹ. Việc tiếp xúc với nhiệt độ cao trong ba tháng đầu có thể dẫn đến trẻ sơ sinh được sinh ra với trọng lượng sinh thấp hơn. Khi tắm nắng, thân nhiệt của mẹ sẽ tăng lên, gây nên hậu quả xấu, bởi nhiệt độ của bào thai cũng sẽ tăng theo bất thường. Đây có thể là nguyên nhân khiến cho não của thai nhi bị dị tật hoặc gây nên những dị tật bẩm sinh. Nghe đến đây em hốt hoảng vì em đang trong thời gian 3 tháng đầu đó. Em chưa kịp bình tĩnh bác sĩ lại nói tiếp: Ngoài ra, khi mang thai, cơ thể mẹ sẽ có sự thay đổi hàm lượng hormone cụ thể là oestrogen. Điều này lý giải vì sao trên mặt thai phụ thường xuất hiện nhiều đốm tàn nhang. Nếu mẹ tắm nắng quá nhiều trong thời gian mang thai thì những đốm nâu này sẽ khó mờ đi hơn, thậm chí là không thể biến mất sau khi sinh. Tuy nhiên sau thời kỳ này thì việc phơi nắng là cần thiết. Nên tắm nắng trong khoảng nửa giờ mỗi ngày và tránh khi nắng gắt. Vào mùa xuân và mùa thu có thể tắm nắng từ 8 - 10 giờ hoặc 15 - 17 giờ. Nếu là mùa hè tắm nắng lúc 6 giờ 30 đến 7 giờ 30, sau khi tắm nắng phải kịp thời lau khô mồ hôi và uống nước bổ sung. Để tránh hại da, các bà bầu nên tắm nắng vào buổi sáng (tốt nhất là từ 7-8 giờ sáng). Khi tắm nắng nên mặc ít quần áo, mỏng thoáng. Nghe tư vấn xong em run rẩy, lo lắng không biết con mình có bị ảnh hưởng gì không. Thật may là bác sĩ khám và đưa ra kết luận con vẫn khỏe mạnh, phát triển tốt. Bác sĩ nói may là em đi khám, được tư vấn kịp thời không thì hậu quả khôn lường, tuy nhiên bác sĩ cảnh báo em phải dừng ngay việc lạm dụng tắm nắng lại. Hóa ra, tắm nắng quá mức không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của con mà còn hại cả mẹ, may mà em dừng kịp thời chứ nếu không những vết nám và tàn nhang còn lan nhiều và thâm đen thì sau này có thuốc tiên chữa cũng không giảm. Các mẹ nào ham phơi nắng hoặc muốn bổ sung vitamin D bằng việc tắm nắng thì hãy lưu ý, có chế độ tắm nắng hợp lý đừng để như em nhé.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Không nên dùng mật ong điều trị nấm lưỡi

KHÔNG NÊN DÙNG MẬT ONG ĐIỀU TRỊ NẤM LƯỠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Con tôi bị nấm lưỡi, được mọi người mách dùng mật ong để điều trị. Xin chuyên mục giúp cho tôi biết cách làm này có nguy hại gì không? Mai Phương (Gia Lộc, Hải Dương) Trả lời: Nấm lưỡi được dân gian gọi là tưa lưỡi do nhiều loại nấm gây ra, nhưng chủ yếu vẫn là Candidas albicans. Bệnh hay gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ…   Trẻ cũng cần được vệ sinh răng miệng cẩn thận khi bị nấm lưỡi (Ảnh minh họa) Biểu hiện là những màng giả màu trắng ở niêm mạc miệng, đặc biệt là mặt trên của lưỡi. Nhiều người thường mách nhau cách dùng mật ong bôi vào lưỡi trẻ rồi dùng tay hoặc miếng gạc miết hết màng trắng. Tuy nhiên cách dùng mật ong điều trị nấm lưỡi có thể gây hại cho trẻ. Bởi trong mật ong thường có độc tố của loại vi khuẩn có tên là clostridium botulium tiết ra. Trong khi đó, nguồn gốc của mật ong hiện nay khó kiểm soát, nhiều loại kém chất lượng. Hơn nữa, màng giả bám chặt vào niêm mạc sẽ khiến trẻ bị đau rát khi đánh lưỡi. Trẻ có thể bỏ bú, biếng ăn vì đau rát. Tốt nhất khi trẻ bị nấm lưỡi nên cho trẻ uống nystatin – loại thuốc kháng nấm có tác dụng đặc hiệu với Candida albicans theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra, trẻ cũng cần được vệ sinh răng miệng cẩn thận. Hàng ngày nên vệ sinh miệng bằng dung dịch muối vài lần để giữ miệng sạch, phòng nhiễm khuẩn. Bên cạnh đó, cần có chế độ ăn uống tốt, đầy đủ chất dinh dưỡng. Tránh các thức ăn ngọt, dính hoặc cho trẻ ăn đêm…
Xem thêm

1 Đọc thêm

Báo động tỷ lệ trẻ em tự kỷ tăng nhanh

BÁO ĐỘNG TỶ LỆ TRẺ EM TỰ KỶ TĂNG NHANH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tự kỷ là một loại khuyết tật do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động não bộ. Tự kỷ có thể xuất hiện không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội. Hiện nay tự kỷ được coi là căn bệnh của thời đại. Tỷ lệ trẻ em bị tự kỷ tăng nhanh tại Mỹ Theo công bố của Cơ quan y tế và sức khỏe của Mỹ, báo cáo điều tra mới nhất cảnh báo về tỷ lệ trẻ em của nước này bị bệnh tự kỷ đang tăng khá nhanh, đặc biệt từ năm 2007. Những trẻ em bị bệnh tự kỷ thường có khó khăn trong hoạt động giao tiếp xã hội, phản xạ chậm và có hạn chế trong việc hòa nhập với bạn bè cùng lứa trong lớp học. Báo cáo điều tra của Trung tâm Thống kê y tế quốc gia (NCHS) thuộc Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh (CDC) cho biết, đến năm 2012, trung bình cứ 50 trẻ em Mỹ ở độ tuổi từ 6-17 có một trẻ bị bệnh tự kỷ ở các mức độ khác nhau.   Những trẻ em bị bệnh tự kỷ thường có khó khăn trong hoạt động giao tiếp xã hội, phản xạ chậm và có hạn chế trong việc hòa nhập với bạn bè cùng lứa trong lớp học (Ảnh: Internet) Theo báo cáo cách đây 5 năm của CDC, tỷ lệ này tăng mạnh từ mức trung bình 1/88 và cao hơn rất nhiều so với thời kỳ 2000-2002 khi tỷ lệ trẻ em mắc chứng tự kỷ mới chỉ ở mức 1/150. Trong đó, số những trẻ em tự kỷ, tỷ lệ bé trai cao gấp hơn 4 lần so với bé gái. Theo các nhà khoa học, một nguyên nhân khách quan dẫn tới tỷ lệ trẻ em tự kỷ tăng 6 là do thiết bị y tế chẩn đoán và phát hiện bệnh tự kỷ ngày càng hiệu quả hơn. Theo kết quả nghiên cứu trước đây, những bà mẹ ở độ tuổi ngoài 40 tuổi sinh con có tỷ lệ mắc chứng tự kỷ 50% so với những người mẹ ngoài 20 tuổi trong khi tỷ lệ sinh con bị bệnh tự kỷ ở các ông bố ngoài 40 tuổi là 36%. Việt Nam: Số trẻ tự kỷ tăng nhanh Tại hội thảo “Chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ: Thực trạng và triển vọng” mới đây, PGS - .TS Nguyễn Thị Hoàng Yến - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết, tuy chưa có số liệu cụ thể, nhưng nhiều bằng chứng cho thấy, tỷ lệ trẻ em mắc hội chứng tự kỷ ở Việt Nam đang tăng nhanh. Theo số liệu từ khoa Phục hồi chức năng (Bệnh viện Nhi Trung Ương), năm 2000 số trẻ tự kỷ tăng 122% so với năm trước, nhưng đến năm 2007 lại tăng đến 268%. Điều đang lo ngại là kiến thức của cha mẹ về việc chăm sóc trẻ tự kỷ cũng rất hạn chế. Trẻ tự kỷ có cơ hội phát triển bình thường nếu phát hiện sớm Theo các chuyên gia, nếu trẻ tự kỷ được can thiệp sớm trước 2 tuổi, cơ hội phát triển bình thường và hòa nhập với cộng đồng của trẻ là rất lớn (đến 80%), sau 2 tuổi hiệu quả can thiệp chỉ còn được 50% và giảm dần khi phát hiện bệnh muộn hơn nữa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trẻ tự kỷ được chẩn đoán bệnh khá muộn, gần một nửa trường hợp phát hiện bệnh sau 3 tuổi. Theo bác sĩ Nguyễn Mai Hương, Phó trưởng Khoa tâm bệnh (Bệnh viện Nhi Trung ương), tự kỷ là căn bệnh không thể chữa khỏi nhưng lại cần điều trị lâu dài để tránh những hậu quả đáng tiếc khi trẻ lớn lên. Thời gian gần đây số trẻ đến khám bệnh tự kỷ gia tăng đáng kể. Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do cha mẹ đã đọc được thông tin về bệnh nên quan tâm và đưa trẻ đi khám khi thấy biểu hiện nghi ngờ của bệnh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều trẻ được đưa đến khám khi bệnh đã nặng, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của trẻ và gia đình. Bác sĩ Hương cho biết những dấu hiệu của bệnh tự kỷ thường có thể phát hiện từ khi trẻ 7-8 tháng tuổi. Tuy nhiên, cần ít nhất 6 tháng khám, bao gồm các công đoạn như khai thác kỹ tình trạng và những biểu hiện của trẻ từ lúc mới sinh, theo dõi trẻ, thực hiện các bài test và khám kỹ nhiều lần thì bác sĩ mới có thể đưa ra. Hiện nay bệnh tự kỷ chưa có phương pháp nào chữa khỏi mà chỉ có thuốc điều trị rối loạn đi kèm như tăng động, hung tính, động kinh. Việc điều trị cho trẻ tự kỷ mang ý nghĩa nâng đỡ, giúp trẻ đa dạng hóa kỹ năng, tự chăm sóc bản thân và dễ hòa nhập hơn. Bác sĩ cũng có thể can thiệp sớm bằng những trị liệu hành vi, dạy ngôn ngữ và giao tiếp, trị liệu vận động và điều hòa cảm giác, tự phục vụ, chơi tương tác, kỹ năng xã hội, tư vấn gia đình. Các chuyên gia khuyến cáo, trẻ tự kỷ có kết quả tốt nếu được can thiệp bởi các chuyên gia với tần suất và sự tập trung cao. Nhưng cha mẹ có thể học được cách can thiệp và đạt kết quả tốt hơn bởi họ có thể can thiệp với cường độ thường xuyên hơn. Đặc biệt, cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người nhận thấy khi nào cần biện pháp can thiệp mới. Trường học ở nhà cũng là nơi tốt để thực hiện can thiệp. Dấu hiệu nhận biết sớm trẻ tự kỉ Trẻ từ 0- 6 tháng: Trẻ mắc tự kỷ là thờ ơ với âm thanh, hành vi bất thường như khó ngủ, khóc nhiều, đau quặn bụng do đầy hơi, khó chịu không lý do, không chú ý hoặc tập trung, ít hoặc không nhìn vào mặt người đang nói chuyện. Trẻ từ 6 đến 12 tháng: Trẻ phát triển các hành vi bất thường như chơi một mình, chơi với các ngón tay và bàn tay ở trước mặt, sử dụng đồ vật một cách bất thường như gãi, cào hay cọ xát, không phát âm hoặc rất ít... Trẻ trên 12 tháng: 5 dấu hiệu để nhận biết trẻ tự kỷ là mất hoặc không đáp ứng với âm thanh; không có kỹ năng giao tiếp bằng mắt, cử chỉ chân tay, biểu lộ cảm xúc; không hoặc ít phát ra âm thanh; không hoặc khó có khả năng chơi nhóm và thậm chí tự đánh mình, đánh người khác...".
Xem thêm

2 Đọc thêm

''''Quá tiếc'''' nếu không đẻ thường

''''QUÁ TIẾC'''' NẾU KHÔNG ĐẺ THƯỜNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hiện nay, y học hiện đại có rất nhiều phương pháp hỗ trợ chị em trong quá trình sinh nở để bớt đau đớn và giảm thiểu rủi ro như phương pháp đẻ mổ, đẻ thường không đau (gây tê ngoài màng cứng) hay thậm chí là sinh con dưới nước (phương pháp này phổ biến ở phương Tây). Tuy nhiên, theo cuộc khảo sát mới đây của chúng tôi, tỷ lệ các mẹ chọn đẻ thường tự nhiên để đón con yêu chào đời vẫn chiếm đa số (gần 70%). Cũng theo các chuyên gia khoa sản, nếu mẹ bầu có sức khỏe thai kỳ bình thường thì phương pháp sinh thường vẫn là tốt nhất cho cả bé và mẹ. Hãy cùng đi tìm hiểu những lợi ích tuyệt vời từ phương pháp này để lý giải tại sao đa số các mẹ vẫn muốn được đẻ thường nhé!   Gần 70% chị em bầu lựa chọn đẻ thường tự nhiên. Đẻ thường tự nhiên là phương pháp truyền thống được các bà, các mẹ từ nhiều thế kỷ qua áp dụng để đón con yêu chào đời. Ngày xưa, các mẹ chọn sinh thường bởi không có lựa chọn nào khác nhưng cho đến ngày hôm nay, phương pháp này vẫn được nhiều người lựa chọn mặc dù đã có thêm những cách sinh nở khác ưu thế hơn. Theo các chuyên gia khoa sản, sinh thường là cách an toàn và mang lại nhiều lợi ích nhất cho quá trình chuyển dạ cũng như cho mẹ và em bé sau khi chào đời. Lợi ích với bé Chào đời khi bé đã sẵn sàng Em bé được sinh ra theo phương pháp sinh thường là khi bé đã sẵn sàng chào đời mà không bị thúc ép bởi bất cứ loại thuốc hay bị mổ bắt con. Trong khi đó nếu mẹ sinh mổ thường được thực hiện trước ngày dự sinh khoảng 1-2 tuần. Tuy nhiên, với nhiều em bé phải đến tuần 41, 42 mới sẵn sáng chào đời, nếu mẹ chọn sinh mổ trước 2 tuần (so với ngày dự sinh tức là 40 tuần thai) thì em bé được cho là chào đời sớm hơn 4 tuần. Trường hợp này bé sẽ bị gọi là trẻ sinh non. Em bé sinh non sẽ dễ gặp các vấn đề về đường hô hấp do phổi của bé chưa phát triển hoàn thiện. Giảm nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp Trẻ sơ sinh được sinh ra bằng phương pháp sinh thường tự nhiên giảm thiểu tối đa nguy cơ mắc bệnh liên quan đến đường hô hấp. Trong quá trình sinh thường, em bé sẽ vẫn thở trong nước ối – điều này tạo điều kiện thuận lợi cho bé hít thở không khí khi vừa chào đời. Trẻ sinh bằng phương pháp đẻ mổ có nguy cơ cao bị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh và tăng nguy cơ bị hen suyễn. Tốt cho hệ thống tim mạch Sinh thường tự nhiên cũng giúp kích thích hệ thống tin mạch, làm tăng quá trình lưu thông máu trong cơ thể bé. Rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy, quá trình sinh thường cũng rất có lợi cho em bé về lâu dài. Tăng cường hệ thống miễn dịch Trẻ sơ sinh chào đời bằng phương pháp sinh thường tự nhiên được bảo vệ bởi các vi khuẩn có lợi trong ống sinh sản. Vi khuẩn này cư trú trong ruột, rất quan trọng cho việc phát triển một hệ thống miễn dịch cân bằng từ thời ấu thơ cho trẻ.   Trẻ được sinh ra bằng phương pháp đẻ thường tự nhiên ít nguy cơ mắc bệnh về đường hô hấp hơn. (ảnh minh họa) Dễ dàng kết nối với mẹ Trẻ sinh bằng phương pháp đẻ thường tự nhiên được hưởng lợi từ nội tiết tố tăng vọt của cơ thể mẹ trong quá trình chuyển dạ, giúp em bé dễ dàng kết nối được với mẹ ngay sau sinh. Ngoài ra, trong quá trình sinh con tự nhiên, endorphins (một loại thuốc giảm đau tự nhiên) được tiết ra từ chính cơ thể của thai phụ sẽ tác động tích cực tới khả năng thích nghi của bé với cuộc sống bên ngoài bụng mẹ. Và trẻ sơ sinh cũng cảm thấy thoải mái hơn khi được “hành trình” qua ống sinh. Dễ dàng bú mẹ Trẻ sinh thường được chứng minh là dễ dàng bú mẹ ngay sau sinh hơn những trẻ được sinh bằng phương pháp đẻ mổ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mẹ đẻ thường cũng sẽ đón sữa về sớm hơn mẹ đẻ mổ. Chị em cần biết rằng, sữa về sớm ngay sau sinh nở là vô cùng quan trọng vì sữa này rất có lợi cho bé. Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường Một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học ở châu Âu năm 2008 tiết lộ rằng trẻ sinh thường tự nhiên có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 1 thấp hơn trẻ sinh bằng phương pháp phẫu thuật đến 20%. Nghiên cứu cũng cho hay, trẻ sinh thường ít bị stress hơn trẻ sinh mổ. Không bị tác động của thuốc Trẻ sinh thường tự nhiên rất ít khi bị tác động bở các loại thuốc gây tê vì vậy mà bé cũng dễ “hòa đồng” với môi trường hơn. Trong khi trẻ đẻ mổ sẽ bị ảnh hưởng bởi khá nhiều loại thuốc trong quá trình phẫu thuật. Phát triển trí não Việc tiếp xúc da kề da giữa mẹ và bé trong quá trình sinh nở và ngay sau sinh mang lại rất nhiều lợi ích như bé dễ dàng bú mẹ, dễ dàng kết nối với mẹ, ngay cả việc não bé cũng phát triển tối ưu hơn.   Không chỉ có lợi cho bé, mẹ sinh thường cũng nhanh phục hồi hơn. (ảnh minh họa) Lợi ích với mẹ Sữa về sớm Thông thường, với mẹ sinh bằng phương pháp đẻ thường tự nhiên thì sữa sẽ về ngay sau sinh hoặc tối đa là 1,2 ngày sau đó. Với nhiều mẹ đẻ mổ, phải mất cả tuần sữa mới về. Phục hồi nhanh chóng Mẹ sinh thường dường như có thể phục hồi ngay sau đẻ. Nói chung là mẹ hoàn toàn có thể đúng lên và tự vệ sinh cá nhân mà không cần trợ giúp của người thân một vài giờ sau sinh. Chỉ vài ngày sau đó, sản phụ đã có thể chăm sóc bé và làm những việc nhẹ nhàng. Không mất nhiều thời gian ở bệnh viện Mẹ sinh thường thông thường chỉ ở lại bệnh viện khoảng 2-3 ngày là sức khỏe đã ổn định. Bớt chi phí Mẹ sinh thường sẽ mất ít chi phí hơn sinh mổ hoặc sinh thường bằng cách gây tê ngoài màng cứng đến 50%. Giảm tỷ lệ tử vong Mẹ sinh thường có nguy cơ tử vong thấp hơn sinh mổ, đồng thời cũng giảm biến chứng sau sinh hơn các phương pháp khác. Mẹ cũng không phải lo đến việc chăm sóc vết mổ đẻ và nguy cơ vết mổ bị nhiễm trùng. Cảm nhận được sức mạnh bản thân Rất nhiều phụ nữ cảm nhận được sức mạnh phi thường khi đẻ và cảm giác thành công sau khi sinh. Và bất chấp việc phải chịu đựng cơn đau, họ vẫn chọn sinh thường trong lần sau. Ngoài ra, trong quá trình sinh nở, mẹ sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý báu sau sinh để phục vụ cho lần sau. Những trải nghiệm này là vô cùng thú vị mà nếu bạn sinh con bằng cách sinh mổ sẽ không thể cảm nhận được.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phát hiện đột biến gen và kết quả điều trị cường insulin bẩm sinh ở trẻ em (TT)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phát hiện đột biến gen và kết quả điều trị cường insulin bẩm sinh ở trẻ em (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Cường insulin bẩm sinh (CIBS) là một bệnh di truyền gây nên do đột biến các gen định khu trên các NST thường, tham gia đi ều hòa bài tiết insulin. Khi các gen này bị đột biến gây lên tình trạng mất điều hòa bài tiết insulin của tế ào β tiểu đảo tụy, gây tăng bài tiết insulin dẫn đến hậu quả hạ glucose máu. Bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh, gây hạ glucose máu nặng kéo dài. Nguy cơ tổn thương não vĩnh vi ễn ở trẻ bú mẹ bị CIBS là 25% – 50% nếu chẩn đoán muộn và điều trị không hợp lý [1]. Chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tích cực, không trì hoãn là rất quan trọng, nhằm hạn chế tối đa những di chứng về thần kinh, thậm chí tử vong do hạ glucose máu tái phát và kéo dài [2-4]. Hiện nay các nghiên cứu cho thấy: bệnh CIBS là do đột biến gen. Các nhà khoa học đã phát hiện ra 11 gen liên quan đến bệnh CIBS là: ABCC8, KCNJ11, GLUD1, GCK, HADH, SLC16A1, HNF4A, HNF1A, UCP2, HK1, PGM1. Các gen này có vai trò điều hòa bài tiết insulin. Khi một trong các gen này bị đột biến sẽ gây ra mất điều hòa bài tiết insulin và gây hạ glucose máu dai dẳng, tái phát [1]. Trong đó, đột iến gen ABCC8 hoặc gen KCNJ11 (gen mã hóa kênh K ATP ) là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra CIBS (chiếm 82% các trường hợp CIBS do đột iến gen) [5]. Tuy nhiên, có khoảng 50% bệnh nhân CIBS không tìm thấy đột biến gen [6]. Chẩn đoán CIBS dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, các xét nghiệm hóa sinh. Sử dụng các phương pháp như xét nghi ệm giải trình tự gen để tìm đột biến gen và phương pháp chẩn đoán hình ảnh bằng 18 F-DOPA PET/CT để chẩn đoán chính xác thể bệnh (thể khu trú hay lan tỏa), nhằm lựa chọn phương pháp điều trị CIBS thích hợp [7]. Sau khi bệnh được chẩn đoán, quá trình điều trị hạ glucose máu nặng bao gồm: chế độ ăn nhiều glucose, truyền dung dịch glucose tốc độ cao, glucagon, diazoxide hoặc octreotide. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa, chỉ định phẫu thuật cắt tụy gần như toàn bộ (95% – 98%) với thể lan tỏa, hoặc cắt tụy có chọn lọc với thể khu trú là cần thiết giúp phòng hạ glucose máu tái phát và kéo dài [8]. Như thế việc xác định đột biến gen ở các bệnh nhân CIBS là rất quan trọng, giúp cho nhà lâm sàng định hướng chẩn đoán được thể lâm sàng (thể lan tỏa hay thể khu trú) từ đó đưa ra quyết định cắt gần như toàn ộ tụy hay một phần tụy trong trường hợp không đáp ứng với điều trị thuốc. Khi làm việc tại bệnh viện Nhi Trung ương, qua quan sát, theo dõi, chúng tôi nhận thấy: nhiều bệnh nhân được phát hiện ngay từ tuyến cơ sở là sinh ra có cân nặng lớn, có triệu chứng hạ glucose máu sau sinh thì được xử trí tạm thời bằng glucose tĩnh mạch và chuyển lên tuyến trung ương. Nhưng còn nhiều bệnh nhân, mặc dù có triệu chứng của hạ glucose máu sau sinh nhưng không được phát hiện do vậy không được bổ sung glucose hợp lý. Khi nhập viện nhiều trẻ có tình trạng hạ glucose máu rất nặng, chứng tỏ trẻ không được cung cấp glucose hợp lý trong quá trình vận chuyển, điều này có thể để lại những di chứng thần kinh cho trẻ. Ngoài ra, ở Việt Nam, vẫn chưa có nghiên cứu nào được công bố về các dấu hiệu lâm sàng, đánh giá mức độ ảnh hưởng lâu dài về thần kinh của hạ glucose máu trong giai đoạn sơ sinh và tỷ lệ đột biến gen trên những bệnh nhân CIBS. Xuất phát từ các lý do trên, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đột biến gen và kết quả điều trị CIBS ở trẻ em” ở bệnh viện Nhi Trung ương được tiến hành với những mục tiêu cụ thể sau: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh cường insulin bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. 2. Xác định đột biến một số gen thường gặp gây bệnh cường insulin bẩm sinh ở trẻ em. 3. Đánh giá kết quả điều trị bệnh cường insulin bẩm sinh ở trẻ em.
Xem thêm

Đọc thêm

Di chứng thần kinh và tăng trƣởng của trẻ non tháng xuất viện từ Đơn vị Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (FULL TEXT)

Di chứng thần kinh và tăng trƣởng của trẻ non tháng xuất viện từ Đơn vị Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới từ năm 2003 đến 2007 tỉ lệ trẻ sinh non trên toàn thế giới là 9,6%, trong đó tỉ lệ sinh non ở Đông Nam Á là 11,1% [35], [145]. Trong 10 trẻ được sinh ra có 1 trẻ non tháng, năm 2005 thế giới có 12,9 triệu trẻ non tháng được sinh ra, đến năm 2010 có 15 triệu trẻ non tháng, số trẻ sinh non ngày càng tăng đang trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu [162]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới tỉ lệ trẻ non tháng có tuổi thai từ 32-36 tuần là 80% và đa số trẻ nhóm này sống sót được chủ yếu nhờ sự chăm sóc của y tế, khoảng 20% còn lại trẻ có tuổi thai nhỏ hơn 32 tuần có tỉ lệ tử vong cao. Trẻ non tháng có thể bị suy hô hấp, hạ đường huyết, viêm ruột hoại tử, xuất huyết não, thiếu máu, còn ống động mạch, bệnh võng mạc non tháng, bệnh phổi mạn tính [56]. Hậu quả của non tháng gây tử vong cho 1,1 triệu trẻ mỗi năm, chiếm 27% trong các nguyên nhân tử vong sơ sinh [98]. Báo cáo của tổng cục dân số Việt Nam năm 2011 có 1,2 triệu trẻ được sinh ra [15], như vậy trung bình mỗi năm có thêm 120.000 trẻ non tháng là gánh nặng rất lớn cho Hồi sức sơ sinh. Nghiên cứu của Tăng Chí Thượng năm 2008 tại Bệnh viện Nhi đồng 1 non tháng chiếm 31,7% các bệnh lý của Hồi sức sơ sinh [11]. Từ năm 2000 đến nay, với sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực Hồi sức sơ sinh, tỉ lệ sống sót trẻ sơ sinh non tháng tăng lên. Tại Bệnh viện Từ Dũ tử vong chung của trẻ non tháng nhẹ cân năm 2009 là 5,6% [9]. Tỉ lệ tử vong của nhóm trẻ cân nặng 1500-1999g trong năm 2000 là 12,46%, giảm còn 2,09% vào năm 2009 [19]. Tuy nhiên cùng với tăng khả năng sống sót sau Hồi sức sơ sinh, số trẻ còn sống có các hậu quả muộn hay di chứng cũng tăng, đặc biệt là di chứng thần kinh. Các di chứng thần kinh bao gồm: di chứng thần kinh trung ương: bại não và não úng thủy; di chứng thần kinh cảm giác: điếc, mù và suy giảm thị lực; di chứng phát triển thần kinh: chậm phát tâm thần vận động, rối loạn hành vi, trí tuệ và học tập kém.Theo Goldenberg tỉ lệ di chứng thần kinh ở trẻ non tháng đến 50% [70]. Nếu mức độ di chứng nhẹ trẻ có thể phát triển trưởng thành nhưng có thể lực và trí tuệ kém. Nếu mức độ di chứng nặng, trẻ bị tàn tật và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Đơn vị Hồi sức sơ sinh thuộc khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là đơn vị Hồi sức sơ sinh cấp 2B có thể cứu sống trẻ non tháng có cân nặng lúc sinh trên 1000g và lớn hơn 28 tuần tuổi thai. Thống kê năm 2009 đơn vị Hồi sức sơ sinh tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang đã tiếp nhận điều trị cho 145 trẻ sơ sinh non tháng. Những trẻ non tháng sống sót xuất viện sau Hồi sức sơ sinh sẽ bị di chứng gì? Sẽ tăng trưởng phát triển như thế nào về thể chất, trí tuệ? Chúng ta cần làm gì để theo dõi và giúp đỡ cho các trẻ này? Để trả lời các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm theo dõi các di chứng thần kinh, sự phát triển và tăng trưởng của trẻ non tháng sau xuất viện cho đến 12 tháng tuổi (tuổi điều chỉnh), song song với nghiên cứu sẽ hướng dẫn can thiệp về dinh dưỡng và điều trị các di chứng. Từ kết quả nghiên cứu này sẽ bước đầu đưa ra những định hướng, kế hoạch khả thi và các yếu tố tiên lượng giúp quản lý, theo dõi trẻ non tháng sau xuất viện tốt hơn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỉ lệ các di chứng thần kinh: mắt, bại não, não úng thủy, điếc, chậm phát triển tâm thần vận động ở nhóm trẻ non tháng trong 12 tháng theo dõi. 2. Mô tả đặc điểm phát triển tâm thần vận động và xác định tỉ lệ chậm phát triển tâm thần vận động ở nhóm trẻ non tháng tại thời điểm 12 tháng tuổi điều chỉnh. 3. Mô tả đặc điểm tăng trưởng và xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng của nhóm trẻ non tháng cho đến 12 tháng tuổi điều chỉnh. 4. Xác định mối liên quan giữa mức độ non tháng với chậm phát triển tâm thần vận động và với suy dinh dưỡng của trẻ tại thời điểm 12 tháng tuổi điều chỉnh.
Xem thêm

Đọc thêm

LÀM SAO ĐỂ TẠO THÓI QUEN ĐÁNH RĂNG CHO TRẺ

LÀM SAO ĐỂ TẠO THÓI QUEN ĐÁNH RĂNG CHO TRẺ

cho trẻ (Báo cáo Viện đào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học Y Hà Nội, quý I/2010). Còn theo tiến sĩTâm lý học Huỳnh Văn Sơn, để tạo lập thói quen đánh răng cho con, phụ huynh nên biếnnhững buổi đánh răng trở thành niềm vui cho trẻ.Tức là tạo ra sự tương tác tích cực giữa cha mẹ và con cái. Cả gia đình cùng nói, cùng chơi,cùng đánh răng sẽ làm cho trẻ thấy thoải mái và hạnh phúc hơn.Ngoài ra, việc đánh răng cùng bé sẽ giúp bé thấy được cách bố mẹ đánh răng hoặc để bé xemcác băng, đĩa có anh chị lớn hoặc các bạn cùng tuổi đánh răng để kích thích bé. Đây cũng làmột trong những cách giúp cho bé có thói quen đánh răng đơn giản mà lại hiệu quả.Lưu ý: trong giai đoạn từ 2-4 tuổi này (giai đoạn bé mọc đầy đủ các răng), mẹ cũng cần chú ýtới chế độ dinh dưỡng của bé. Nên cho bé dùng thêm loại cốm có chứa Canxi nano, DHA, sữanon đặc biệt MK7 (thành phần điều chỉnh để Canxi đi tới đúng chỗ là xương giúp tăng cườngsức khỏe xương, phòng ngừa loãng xương) để bổ sung thêm canxi giúp việc mọc răng của bédiễn ra nhanh chóng hơn, bé không cảm thấy đau và khó chịu khi mọc răng, từ đó sẽ nghe lờimẹ hơn. Như vậy, chuyện tạo lập cho bé thói quen đánh răng sẽ trở nên thuận lợi và dễ dànghơn đấy nhé các mẹ.
Xem thêm

3 Đọc thêm

CÓ NÊN NHỎ SỮA MẸ VÀO MẮT TRẺ SƠ SINH ĐỂ CHỮA BỆNH

CÓ NÊN NHỎ SỮA MẸ VÀO MẮT TRẺ SƠ SINH ĐỂ CHỮA BỆNH

“Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh?”“Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa đau mắt đỏ cho trẻ không?” là thắc mắc của rất nhiều bà mẹTheo BS. Sơn, đau mắt đỏ là từ dân gian còn thuật ngữ chuyên môn gọi là viêm kết mạc cấp, là một bệnh lý phổ biến vViệc dùng sữa mẹ để nhỏ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh đau mắt đỏ là không có cơ sở khoa họcKhi bị bệnh, trẻ sẽ có những biểu hiện sưng nề, gỉ mắt ra nhiều và sưng rất nhanh, mắt đỏ, có thể thấy xuất huyết dướVới câu hỏi “Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh đau mắt đỏ của trẻ không?”, BS Sơn cho biết: “Ai cBS Sơn nhấn mạnh: Tuy trong sữa mẹ có nhiều dưỡng chất, kháng thể tốt cho cơ thể bé, nhưng nó chỉ phát huy hiệu qHơn nữa, sữa mẹ chứa nhiều dưỡng chất là môi trường “lý tưởng” giúp vi khuẩn sinh sôi, nảy nở nên nhỏ sữa vào mắBác sĩ cũng khuyến cáo các bậc phụ huynh nếu thấy bé có biểu hiện bất thường về mắt như: gỉ vàng, viêm đỏ, sưng tấ
Xem thêm

1 Đọc thêm

Rối Loạn Chuyễn Hóa Các Chất

Rối Loạn Chuyễn Hóa Các Chất

rối loạn chuyển hóa lipid rối loạn chuyển hóa lipid máu rối loạn chuyển hóa rối loạn chuyển hóa mỡ rối loạn chuyển hóa lipid máu là gì rối loạn chuyển hóa lipid là gì rối loạn chuyển hóa bẩm sinh rối loạn chuyển hóa glucid rối loạn chuyển hóa là gì rối loạn chuyển hóa porphyrin rối loạn chuyển hóa acid amin rối loạn chuyển hóa acid uric rối loạn chuyển hóa acid nucleic rối loạn chuyển hóa axit béo sơ đồ rối loạn chuyển hóa acid amin sơ đồ rối loạn chuyển hóa axit amin rối loạn chuyển hóa nước và điện giải sơ đồ về rối loạn chuyển hóa acid amin chế độ ăn rối loạn chuyển hóa rối loạn chuyển hóa tinh bột rối loạn chuyển hóa đường bẩm sinh rối loạn chuyển hóa tế bào cơ tim hội chứng rối loạn chuyển hóa bẩm sinh bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh bệnh rối loạn chuyển hóa là gì bệnh rối loạn chuyển hóa bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu rối loạn chuyển hóa canxi rối loạn chuyển hóa citrin rối loạn chuyển hóa chức năng gan rối loạn chuyển hóa cholesterol rối loạn chuyển hóa cơ thể rối loạn chuyển hóa chu trình ure rối loạn chuyển hóa chất rối loạn chuyển hóa nước và chất điện giải chữa rối loạn chuyển hóa tinh bột rối loạn chuyển hóa đường rối loạn chuyển hóa đồng rối loạn chuyển hóa đường huyết rối loạn chuyển hóa đường khi mang thai rối loạn chuyển hóa đạm rối loạn chuyển hóa đường galactose bệnh rối loạn chuyển hóa đường rối loạn chuyển hóa nước điện giải rối loạn chuyển hóa galactose rối loạn chuyển hóa glucose rối loạn chuyển hóa gluxit rối loạn chuyển hóa gan rối loạn chuyển hóa glucid thường gặp trẻ rối loạn chuyển hóa galactose bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen rối loạn chuyển hóa hemoglobin rối loạn chuyển hóa insulin rối loạn chuyển hóa porphyrin là gì rối loạn chuyển hóa mỡ là gì rối loạn chuyển hóa lipoprotein là gì rối loạn chuyển hóa lipoprotein rối loạn chuyển hóa kali rối loạn chuyển hóa kiềm toan không dùng cho trẻ rối loạn chuyển hóa galactose rối loạn chuyển hóa lipid trong máu rối loạn chuyển hóa năng lượng rối loạn chuyển hoá lipid là gì bệnh lý rối loạn chuyển hóa sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa glucid sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa lipid sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa protid rối loạn chuyển hóa mỡ máu rối loạn chuyển hóa muối nước rối loạn chuyển hóa mỡ nhẹ rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu bị rối loạn chuyển hóa mỡ rối loạn chuyển hóa natri rối loạn chuyển hóa nội tiết bệnh rối loạn chuyển hóa ở người là gì rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh rối loạn chuyển hóa ở trẻ bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ em rối loạn chuyển hóa sắt ở trẻ sơ sinh bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh rối loạn chuyển hóa protein rối loạn chuyển hóa protid rối loạn chuyển hóa purin rối loạn chuyển hóa propionic rối loạn chuyển hóa sắt rối loạn chuyển hóa sắc tố mật rối loạn chuyển hóa sphingolipid rối loạn chuyển hóa trẻ sơ sinh bệnh rối loạn chuyển hóa sắt rối loạn chuyển hóa ty thể rối loạn chuyển hoá ure rối loạn chuyển hóa vitamin rối loạn chuyển hóa xương tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề